PDA

View Full Version : Thơ Ngân Giang


Thiên Sứ
05-08-2005, 10:08 PM
Đôi lời giới thiệu:
Nữ sĩ Ngân Giang sinh năm 1916 mất năm 2002. Bà là một nhà thơ vang bóng một thời với sở trường là Đường Thi. Sinh thời bà làm trên 4000 bài thơ, về số lượng có thể nói bà là một trong hai nhà thơ có tác phẩm thơ nhiều nhất Việt Nam. Bà nổi tiếng là một nhà thơ nữ thời Tiền chiến và để lại nhiều áng thơ bất hủ. Giáo sư - nhà thơ Đông Hồ đã xúc động trước vẻ đẹp mỹ lệ của thơ bà và chết trên bục giảng đường Đại học Văn khoa Sài Gòn khi đang bình giảng về thơ của bà.
Bài dưới đây là một trong những bài thơ hay được nhiều người truyền tung.
Xin hân hạnh giới thiệu.

CHÙA TRẦM
Hương nào ngát tỏa chơi vơi
Ở đây non nước cách vời phồn hoa;
Hươu nai thoáng bóng gần xa,
Ngự hài võng lọng nhạt nhòa dấu son.
Tử Trầm ngọn núi chon von
Tầng tầng hoa đại trắng mòn lối xưa…

Thoai thoải đường son lượn dưới đồi
Long châu thăm thẳm lối hoa rơi.
Đào giang bóng lẩn thuyền ngư phủ,
Tiên động rêu phong dấu ngự hài ;

Giọt nước sườn non rơi lã chả
Khói trầm vách đá tỏa chơi vơi .
Thơ xưa toan hỏi ai đề vịnh
Chuông mộ chùa bên đã đổ hồi…

Chuông mộ chùa bên đã đổ hồi
Hiên trong vẫn ngát chén hồng mai.
Dăm câu hồ bể say mưa nắng,
Mảnh áo nâu sồng xót nhạt phai.
Đằm thắm tâm tình thơ hội kiến
Phiêu phiêu bóng dáng Phật Như Lai
Khói hương tịch mịch xa làng mạc
Chim chóc bay về…tiếng lá rơi.

Chim chóc bay về… tiếng lá rơi,
Giang thôn hờ hững bóng quăng chài.
Cây trùm trước miếu bông hoa rớt,
Sông uốn quanh chùa cánh nhạn trôi.
Lối cỏ sân rêu từ độ ấy
Cồn dâu mặt sóng đã lâu rồi.
Xe loan cửa động không còn vết
Mà nẻo Trăm gian những cách vời.

Mà nẻo trăm gian những cách vời
Lối mòn hái thuốc dấu chân nai.
Khói bay lối xóm chừng cao thấp
Đá lở đầu thôn đến dập vùi;
Võng lọng chiều xưa còn phảng phất
Điện đài lối cũ đã phai phôi.
Nhà tranh giậu trúc đôi ba mái
Núi đứng chênh chênh một phía trời.

Núi đứng chênh chênh một phía trời
Cây đa bên núi ráng chiều phai
Rễ vương chân động đàn dơi liệng
Lá rợp sân chùa bóng nguyệt soi.
Bàng bạc sương khuya in dặm vắng
Chơ vơ tháp cổ lạnh ven đồi.
Đêm nay thắp nến xem kinh sách
Thoáng thấy đài sen Phật mỉm cười…

Thoáng thấy đài sen Phật mỉm cười :
Ở, đi lưu luyến mãi chưa thôi !
Lạnh lùng gió nổi , chiều như giục ,
Vi vút thông reo , hạc vắng rồi ;
Bên quán trà suông còn có bạn
Đầu non hoa rụng biết tìm ai ?
Hãy về , để lại thơ ngoài động
Vẳng tiếng gà thôn , hạt móc rơi .

Vẳng tiếng gà thôn , hạt móc rơi
Cỏ hoa mấy ngả lối trần ai !
Đều đều nhịp mõ như lưu khách,
Ríu rít lời chim có tiễn người…
Cửa động ngâm vang thơ tống biệt
Hiên chùa hẹn mãi buổi trùng lai.
Ân cần sư trưởng trao phần lộc
Kẻ bước lên am , kẻ xuống đồi.

Kẻ bước lên am , kẻ xuống đồi
Đường về Hà Nội thấy xa xôi !
Thẫn thờ ngoảnh lại : mây che núi,
Ngừng ngập trông ra : nước lẫn trời…
Cảnh đẹp trăm năm dù có khác
Tình ai muôn thuở vẫn không nguôi.
Tử Trầm chốn ấy bao hò hẹn
Hoa trắng đầu non chắc vẫn rơi ?

Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ giới thiệu

ChiDat
13-10-2005, 12:11 AM
Thiên Sứ ơi ! Chí-Đạt cần gặp bạn, có nhiều vấn đề hay hạy, mình quên số ĐT và địa chỉ của ban, mình hỏi anh Sơn-Hồng-Đăng cũng không biết. Nếu đọc tin này, bạn có thể liên lạc qua số ĐT : 5513969-9201568 hoặc 0908.218956.
Thân mến
Chí-Đạt

Thiên Sứ
13-10-2005, 01:47 AM
Xin chào anh Chí Đạt.
Tôi sẽ liên hệ số Dt trên.
Chúc anh vạn sự an lành.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
13-10-2005, 01:51 AM
TIẾNG VỌNG SÔNG NGÂN

…Gió lên chạm đường tơ,
Trăng lên hồn vào thơ .
Những ai qua xứ trăng vàng cũ
Có thấy muôn hương dậy trái mùa ?
Dương cầm dâng nửa khúc ,
Năm hướng hoa xô đến một bờ .
Tay ngà buông bắt ngẩn ngơ,
Con thuyền lạc nẻo bơ vơ sông Tần.
Trầm xây khói biếc ,
Mộng nhắc tiền thân .
Lối đào vô hạn mấy lần hoa rơi…
Tám nẻo sông Ngân sao lấp lánh,
Một vùng trăng nước sóng chơi vơi .
Hương xưa ngát đến tuyệt vời
Năm dây, một tiếng than dài nghìn thu…
Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
13-10-2005, 01:59 AM
HỌA
(tại chỗ)
Gian nan mấy độ , vẫn chưa thành :
Bốn bể vì không kẻ mắt xanh !
Đã rắp đem thân nương cửa Phật,
Nào đâu vô ý luỵ tình xanh.
Chuông vàng gọi tỉnh hồn dân dã,
Mõ ngọc khua tan mộng hậu sinh.
Thăm thẳm nghìn trùng soi xét nhỉ :
Co chân đạp quách ách tài danh !

Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
13-10-2005, 02:13 AM
TRƯNG NỮ VƯƠNG

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi.
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi.

Ngang dọc non sông đường kiếm mã,
Huy hoàng cung điện nếp cân đai.
Bốn phương gió bãi lùa chân ngựa,
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai.

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai !
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi.

Lạc tướng quên đâu lời huyết hận
Non Hồng quét sạch bụi trần ai.
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận,
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời…

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng , khăn trở lạnh đầu voi,
Chàng ơi ! Điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch. Ngôi trời bóng lẻ soi.

Ngân Giang nữ sĩ

Kính thưa quí vị!
Bài thơ Trưng Nữ Vương là một trong những bài thơ hay nhất của nữ sĩ Ngân Giang. Khi bình giảng bài thơ này trên giảng đường đại học Văn Khoa Sài Gòn vào năm 68, giáo sư Đông Hồ đã xúc động và từ trần ngay khi đọc xong hai câu cuối cùng của bài thơ trên. Cái chết vì sự xúc động nghệ thuật của giáo sư Đông Hồ với bài thơ của Nữ sĩ NGân Giang, đã thành một giai thoại nổi tiếng trong lịch sử thơ văn.
Xin chép lại để quí vị và anh em thưởng thức bài thơ này.
Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
21-04-2006, 07:52 PM
VƯƠNG TƯỜNG
Kính tặng Vương Chiêu Quân
“-Khơi đỉnh trầm lên ! Kìa thái giám !
Cho hương tỏa quyện điệu tỳ bà.
Nối thêm bạch lạp , chờ Thiên tử
Vườn ngự trăng về ngả bóng hoa.”

Thái giám cúi dâng đàn trước kỷ,
Rắc thêm trầm ngát xuống lư vàng .
Lung linh bạch lạp soi nhan sắc,
Mười ngón tay ngà nắn phím loan.

Líu cống xàng xang…buông nhạc điệu
Bổng , trầm , đêm vắng oán tương tư
Nước say lắng bóng bên hồ ngự,
Tùng ngẩn ngơ buồn bặt tiếng tơ .

Hồ xang cống xế hồ…đôi bóng
Vò võ phương trời đợi trẻ thơ.
“-Ngày bước chân ra con có tưởng
Là ngày vĩnh biệt chốn quê xưa !”

“-Dám bẩm Lệnh bà , trăng đã ngả
Vàng đương rụng xuống nẻo tây sang;
Quỳnh hoa thiêm thiếp say trường mộng
Đêm đã vơi canh , trống điểm tàn.”

“-Thái giám khá lui vào nội điện ,
Giờ này trầm ngát tỏa nghiêm cung;
Để ta với bóng trăng tàn lạnh
Nẩy tiếng tơ đồng phai nhớ nhung !”

Xang xế líu hồ…rơi oán hận,
Buông , cầm , bắt , lỏng…tiếng bơ vơ…
Mắt buồn theo bóng trăng cô tịch
-Mộng cũ quân vương nỡ hững hờ !

Đèn lồng rực rỡ đường Thiên tử ,
Kiệu ngọc uy nghiêm dáng Cửu trùng
Dưới bóng trăng ngà , buồn , tiếc mộng
Việt Châu phảng phất nét hoa dung.

“-Trăng ơi !Lòng thiếp như gương nước
Theo mộng tần phi đến chốn này.
Cốùng xế xang hồ…ôi , oán hận,
Tháng ngày giam hãm mãi nơi đây !”

Liu liu cộng…Trướng đào buông rủ
“-Nấp bóng xuân huyên giữa phủ đường,
Rồi một đêm ngà say luyến mộng…
Vô tình chi mấy , hỡi quân vương !”

“-Đâu đây như có người oan khổ ?
Trong tiếng tỳ bà lẫn tiếng than.
Trẫm thấy dường như trăng lạnh lạnh,
Tơ sầu kể lể chuyện hồng nhan !”

“-Cuối xin lượng thánh khoan dung đã:
Ở cuối trường thành vẳng tiếng tơ,
Gần một năm nay thường vọng lại
Những lời thương nhớ , ý bơ vơ.”

Hán vương rẽ lối trăng đưa bước
Lấp lánh hoa cài vạn mảnh sao.
“-Kià Giáng Tiên Nương !Hay Diễm ảo ?”
Ôm đàn rơi lệ …khói trầm cao.

Điện ngọc bâng khuâng son phấn thắm
Hoa đèn bừng tỏ mặt quân vương.
Đêm nay trướng gấm màn the rủ
Có tiếng hoa nồng hỏi ý hương:

“-Sáu cung từ buổi vàng son ấy,
Phấn đại đâu ngờ gặp Thánh quân…
Thiên tử say nhìn người quốc sắc
Kiệu vàng ta chậm đón giai nhân.”

Ngân Giang

Thiên Sứ
21-04-2006, 08:02 PM
Nữ Sĩ Ngân Giang nổi tiếng là một ngôi sao sáng trên bầu trời Đường thi Việt. Nhưng có lẽ ít ai biết đến tài làm phú của bà.
Xin giới thiệu với bạn yêu thích thơ văn một bài phú của nữ sĩ.

THU VỀ …
Hoa cúc gầy trôi, non vàng xa khơi.
Nắng hạ chóng tàn, hồ cũ muôn hương đã nhớ.
Tin thu đưa lại, ngô đồng một lá vừa rơi.
Rặng liễu bên đường, cái gió sang mùa heo hút
Dòng sông trước cửa, trận mưa đổi tiết đầy vơi
Sương thu lạnh áo, mây thu ngang trời.
Chốn đài trang bối rối ruột tằm, trăng thu muôn mảnh.
Ngoài quan ải xông pha vó ngựa , sầu thu đôi bờ.
Ai nhớ mỹ nhân xa, đâu một phương trời?
Ai nhớ cố nhân xa , chừng mấy ngàn khơi?
Ngọn cờ ai phấp phới?
Bóng thuyền ai chơi vơi?
Một kiếp giai nhân, sầu thu mấy độ?
Nghìn năm danh sĩ, cảm thu bao người?
Những gặp nhau bên dải Ngân Hà, duyên thượng giới
Rồi biệt nhau ngang cầu Ô Thước, lại trần gian.
Bến Tầm Dương trăng nước một con thuyền, thương tình ca nữ.
Thềm Nguyệt điện xiêm y bao người múa , tiếc mộng quân vương.
Sông Xích Bích , sóng Tiền Đường.
Hoa hương mấy chuyến lạc loài, ngọn triều gieo ngọc.
Danh sĩ hai lần cảm hứng, chén rượu pha sương.
Lời đâu cẩm tú? Khúc đâu đoạn trường?
Trăm năm sử sách. Nghìn thu phấn hương…

Phú Âu Dương ngâm xong mấy vận, thơ Thiếu Lăng viết trọn tám chương.
Lau lách đìu hiu, thu hứng cao dâng với khói .Trời mây bàng bạc, thu thanh đồng vọng trong sương.
Gió đến ngại ngùng bên lữ quán, người về lững thững dưới tà dương.
Lại nữa:Lợi danh vướng mắt, về thôi , vườn nở hoa vàng. Thơ rượu qua ngày , say đấy , hương bay lối trúc.
Chớm quạnh hơi thu, hồ rơi tiếng móc.
Người quốc sĩ canh gà đợi sáng, lưỡi thép mài trăng. Khách cung nhân vườn ngự chờ vua , hàng mi rơi ngọc.
Gấp hải hồ , ngọn gió vừa lên ! Vội kim chỉ , tin sương đã giục.
Thôn cũ thanh bình , trời xa ngang dọc.
Còn mãi kiếm cung , dám buồn tơ tóc.
Mây thu lạnh dòng nước Cấm Khê, bừng dòng chính khí. Khói thu mờ đáy hồ Lãng Bạc, ngát dòng hương liên.
Đền nghĩa chị, rời thềm khuê các.Trả thù chồng, thẳng đất Long Biên.
Chém tướng giặc, đuổi quân về ải Bắc. Mặc áo tang, rơi lệ ngự ngai vàng.
Rồi ba thu, cờ anh thư phấp phới đất Mê Linh cỏ cây hoan lạc; để một sớm gươm danh tướng ngang trời Giao Chỉ, non nước oan khiên.
Trùng trùng sông nước. U uất thuyền quyên.
Đã mấy thu rồi, trăng ngời tiết liệt. Còn bao nữa, sóng tỏa linh thiêng !

Trời Chiêm quốc bay hoa một cánh, hương gió còn vương.
Thôn Trữ La giũ lụa đôi chiều, ngựa xuôi ước.(*)
Thế mà:
Mắt phượng mày ngài, giang sơn tổ quốc.
Cầu chiết liễu bâng khuâng bóng việt, khu đình lận đận trời Ngô.
Kiệu ngọc đã xa, quan ải sầu lên tiếng điệu lòng còn vướng, sông hồ tình gửi hơi thu.
Mờ kinh cũ, lòng già khắc khoải; thẳm xứ xa phận trẻ bơ vơ.

Trận gió vấn danh, mấy dặm Ô Ly sính lễ. Con thuyền khứ quốc, một trời Nam Việt tiễn đưa.


Nhìn nhau thổn thức, xa nhau ngẩn ngơ.

Cánh chim thăm thẳm, bóng thuyền mịt mờ.
Người đi: tiếng chuông thu mộ.
Kẻ về: trận gió thu sơ…
Đang mùa lá rụng, gây trầm lên, nhớ lại chuyện xưa. Giữa lúc mưa bay, đặt bút xuống thương người ngày trước.
Khói trầm mỏng manh, nét thơ lả lướt.
Nơi thu-viện đâu chiều hoa gấm, trăng sáng đôi lòng. Chốn đài gương bạn với cổ nhân, sầu chung một cuộc.
Gửi vào thơ mấy điệu tâm tư, phổ vào gió chút tình non nước.
Thu năm trước vòng ngọc tay ngà khít hẳn; thu năm nay áo thêu vóc liễu chùng hơn.
Trăng soi bóng lẻ, bút giãi lòng đơn.
Ngẫm chiều thân thế, tưởng đến nguồn cơn…
Nghìn xưa ai có như ta, gió thu thấy lạnh?Nghìn sau những ai đó nhỉ, trăng thu có buồn?…

Hướng Dương thu Giáp Thân
1944
Ngân Giang nữ sĩ


* Đoạn này hình như thiếu một chữ hoặc sai chính tả. Thiên Sứ tôi sẽ sưu tầm và gửi lên sau. Xin chân thành cáo lỗi.

BachLong
22-04-2006, 01:17 PM
Nữ sĩ Ngân Giang thơ có phong thái sang trọng, đọc thơ người ta đoán bà cũng phải có nhan sắc lắm , và hẳn là con nhà quý tộc.
Cám ơn bác Thiên Sứ đã giới thiệu những bài thơ hay...
Kính ,

dienbatn
22-04-2006, 03:57 PM
Kính thưa các bạn .
dienbatn tui xin được bật mí một chuyện rất thú vị : Vị Sư Thiến tức Thiên Sứ - Tức Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Tức Nguyễn Vũ Diệu - Tức Ông Thày bói già gần Lăng Cha Cả là con ruột của cố Nữ Nghệ sĩ Ngân Giang . Sắp tới ngày giỗ của Bà , dienbatn xin có một nén Tâm nhang để tưởng nhớ một Nữ Sĩ tài hoa của đất Hà thành .
Thân ái . dienbatn .

chieuquan
22-04-2006, 04:18 PM
Kính chào chú Thiên Sứ!
Thật đáng kính trọng 1 văn nhân tài sắc - 1 kẻ sĩ trượng phu!
Xin gửi tới cố nghệ sĩ NGÂN GIANG lòng tưởng niệm!
Trân trọng!
Chiều thu


Cây bàng đã rụng lá vàng,
Cổng nhà ai đấy, có nàng nhìn xa...

Giàn hồng gió tạt là là,
Tóc nàng v­ương mấy cánh hoa sang mùa,
Bên trời bầy én lư­a thư­a,
Mây chiều bát ngát... mơ hồ... xa xôi...
Tiều phu gánh củi lên đồi,
Chuông chiều gần đấy dóng hồi thu không!
Quán đư­ờng heo hút lạnh lùng,
Có ngư­ời khép cửa thư­ phòng ngâm thơ






1942

chieuquan
22-04-2006, 04:23 PM
Ngân Giang (1916-2002) tên thật là Đỗ Thị Quế, là chắt ngoại của chúa Trịnh Sâm. Thiên tư bộc lộ nơi bà từ nhỏ.

"Tàu về rồi tàu lại đi
Khối vô tình ấy nhớ gì sân ga"

Năm 16 tuổi, nữ sĩ tài thi phú bẩm sinh, sắc đẹp kiều diễm, đàn hay hoạ giỏi. Sợ con phá huỷ thuần phong của một dòng họ gia giáo, ông đồ Nho bắt con gái đọc quốc sử, không ngờ Quốc sử diễn ca đi vào hồn nữ sĩ như một tình yêu..

"Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi"

Khi mới 20 tuổi, bà đã viết về Trưng Trắc trong bài tráng ca Trưng Vương

"Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng, khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi"

Hình ảnh Trưng Nữ Vương ngồi đầu voi, giục vó ngựa để chống trả sự bất bình dường như luôn toả sáng trong lòng bà. Năm 23 tuổi, bà đã hoàn thành bài thơ Trưng Nữ Vương, vang dội trên thi đàn. Người đọc từ Nam chí Bắc đều biết đến bà.

Nhớ thuở hoa còn ủ ấp hương
Sắc tài hồ dễ mấy ai đương
Một cười trăng nước như nghiêng ngã
Thoáng bóng sông hồ bỗng nhớ thương
Những cánh bướm hồng bay trước ngõ
Có phong thư đẹp mở bên đường..

Thơ ca Ngân Giang có một thế giới mộng mơ sương khói, nhưng đậm nét nhất là những trường ca hùng tráng với công hầu khanh tướng, vua chúa, truân chuyên thành bại..

Công chúa Ngọc Hân mơ Nguyễn Huệ
Bởi say sự nghiệp khách anh hùng
Em cũng mơ người trai đất Việt
Sẽ là một bậc Nguyễn Quang Trung

Chiều 30 Tết năm 1946, bà đã nhờ người đem dâng tặng Hồ Chủ Tịch tấm vóc đại đồng, trên ấy nữ sĩ đã tự tay thêu bài thơ:

"Ta say uy vũ Trần Hưng Đạo
Ta say sự nghiệp Hồ Chí Minh
Nhật nguyệt chói ngời cung Thuý Lĩnh
Hương hoa châu ngát đất Mê Linh.."

Ngay chiều hôm đó, Hồ Chủ Tịch có thơ đáp lại nữ sĩ:

"Mấy lời cảm tạ Ngân Giang
Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu"

Và nhất là thân phận một người đàn bà vào buổi chiều hôm của cuộc đời thời đất nước thiếu ăn thiếu mặc..
Đời ta: sương phủ dặm hoè
Tình ta : Tiếng cuốc vọng về ải quan
Rượu ngon rót xuống cung đàn
Hãy chìm ý nhớ cho tàn nỗi thương
Hồn say, say rợn đêm trường
Bóng say, say khóc nhạc hương thanh bình
Chao ơi má phấn tuổi xanh
Thơ ra thiên hạ đời thành chiêm bao
"Đã buồn vì trận mưa rào
Lại đau vì nỗi ào ào gió đông"

8 giờ 30 phút ngày 17/8/2002, con tim của tài thơ Ngân Giang đã ngừng đập, như con rồng ấy đã trở về lại dãi Ngân Hà.
Bà đã từ giã cõi trần gian, nhưng hãy tin ao ước của bà trở thành hiện thực:

Rằng ngày xưa ấy Ngân Giang
Một dòng sông lạnh muôn ngàn sao rơi <!--IBF.ATTACHMENT_114033-->
<!-- THE POST -->

chieuquan
22-04-2006, 04:41 PM
<TABLE cellSpacing=2 cellPadding=0 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=main_title>Đầu Xuân nhớ về một “Giọt lệ xuân” </TD></TR><TR><TD class=author></TD></TR><TR><TD class=time_zone>7:28 AM, 08/03/2005 </TD></TR><TR><TD>http://vnca.cand.com.vn/Thumbnail/Uploaded_VNCA/anhtu/16-nusithoitre2_180x235.jpg

</TD></TR><TR><TD class=pic_explain>Nữ sĩ Ngân Giang (ảnh chụp năm 1954).


</TD></TR><TR><TD class=sapeau_box>Một lần bà cùng cha tiễn một người thân ra ga, cô bé Ngân Giang đã buột miệng: “Tàu về rồi tàu lại đi/ Khối vô tình ấy nhớ gì sân ga”. Năm 16 tuổi, Ngân Giang đã cho xuất bản tập Giọt lệ xuân đánh dấu những dự cảm chính xác của bà về cuộc đời mình. Bốn lần sang sông, cả bốn lần đều phải lội ngược dòng hạnh phúc trong những sầu muộn, tủi hờn, mà chỉ bà và thơ biết.


</TD></TR><TR><TD class=text_box>Trong kỷ niệm của nhiều người cùng thời, nữ sĩ Ngân Giang - Đỗ Thị Quế là một giai nhân của đất Hà Thành. Tuổi trẻ bà rất sôi nổi, da trắng, má hồng, mắt to và lóng lánh như nước hồ thu. Mỗi sáng nữ sĩ ra mở hộp thư trước cửa nhà. Thư nhiều đến nỗi đọc không sao kể, đành chọn những phong bì đẹp giở ra xem. Hằng đêm vẫn có những người đứng chờ qua đêm để được thoáng thấy bóng hồng bên ô cửa nhỏ (ngay cả khi bà đã yên bề gia thất).

Chính nữ sĩ Ngân Giang trong những lúc tuyệt vọng, bất lực trước vận mình cũng đã tự thán rằng: “Tài làm cho lụỵ mãi rồi/ Lại còn sắc nữa, hỡi trời ơi!”. Nhân gian có câu “Hồng nhan bạc phận” và “Tài mệnh tương đố”. Bà vừa nhan sắc, lại thơ hay, đàn giỏi, gia chánh đảm đang, tâm hồn thì mộng mơ, sương khói... thì làm sao thoát khỏi kiếp trầm luân ở đời.

Sinh thời, bà từng đấu cờ với nhà văn Nguyễn Tuân, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, đã có lần bà đánh đàn cho vua Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu nghe, tiếng tăm đã dậy cả một vùng. Bà cộng tác cùng lúc với nhiều báo như Tiểu thuyết thứ bảy, Phụ nữ thời đàm, Tân văn, Tri tân... Bạn văn của bà có ở khắp trong <ST1:place w:st="on"><?xml:namespace prefix = st1 /><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></ST1:place> ngoài Bắc đều hết sức yêu mến bởi sự tài hoa và phong cách sống phong lưu, khảng khái của bà.

Thật buồn vì nữ sĩ Ngân Giang lại sinh ra và lớn lên vào buổi xã hội Việt <st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region> còn chìm trong những quan niệm khắt khe, cổ hủ với giới nữ. Cha bà thấy bà hay thơ, sợ rằng con gái sẽ rơi vào những bể trầm luân khổ lụy của những Thúy Kiều, Hồ Xuân Hương, nên đã có ý định ngăn chặn bằng một cuộc hôn nhân sắp đặt, trong khi nữ sĩ lại đang mơ về một hình bóng khác.
<TABLE style="WIDTH: 20px; HEIGHT: 20px" cellSpacing=2 cellPadding=2 rules=none align=center border=0 frame=void><TBODY><TR><TD>http://vnca.cand.com.vn/Uploaded_VNCA/anhtu/Nu-si-Ngan-GIang.jpg</TD></TR><TR><TD>Nữ sĩ Ngân GIang tiếp bạn văn tại nhà riêng.</TD></TR></TBODY></TABLE>
Khi bà cưỡng lời, người cha nổi giận, đuổi đánh gãy nát cả một giàn tầm xuân khi bà chui vào đó trốn, khiến hàng xóm phải ra tay can ngăn. Bà đành phải thuận lòng cha mẹ về nhà chồng trong sự xót xa cho phận mình. Để rồi, một đêm mưa gió bão bùng, bụng mang dạ chửa, bà từ nhà chồng ra đi trong tiếng chì chiết của mẹ chồng, rằng “đúng là rước họa về nhà”. Quá buồn khổ, bà lại thêm một lần tự vẫn nhưng không thành.

Từ cái đêm mưa gió ấy, những bão giông trong cuộc đời bà dường như không lúc nào ngơi nghỉ. Đó là những lần chuyển nhà liên tiếp nhau. Mỗi lần bà đứt gánh, con cái đều đi theo bà, dọn đến những ngôi nhà mới, có thể rộng rãi hoặc chật chội hơn ngôi nhà cũ.

Con đông, những mười một người cả nam lẫn nữ, nhưng là của 4 dòng máu khác nhau, không thể tránh khỏi những khúc mắc, những va đập trong cuộc sống đời thường. Bài học suốt đời bà dạy các con là bài học về lòng nhân ái. Bà thường nói với các con: “Đừng thấy người ta xấu 9 phần mà vùi dập, phải đưa phần tốt lên”.

Có lẽ, hơn ai hết, nữ sĩ Ngân Giang là người có cơ duyên với thơ, vì thơ mà nên nông nỗi đoạn trường, mà nên những khổ lụy, buồn đau, những hờn ghen, sầu muộn sau ánh hào thơ chói lòa. Tuổi cầm bút của của bà có lẽ nhiều nhất trong số những nhà văn Việt <st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region> (hơn 70 năm), nhưng những truân chuyên của bà còn nhiều hơn cả tuổi đời và tuổi cầm bút.

Bà thường nói với bạn văn rằng, kiếp trước bà đã giết nhầm một nhà thơ, cho nên kiếp này bà phải trầm luân trả nợ. Có lần bà tâm sự: “Tôi sinh ra để làm thơ, ngày mệt nhọc toan lo cuộc sống để đêm nằm mơ lại bật dậy sáng tác thơ theo cảm hứng hoặc nghĩ ra tứ mới...”.

Thi nhân chật vật với gánh nặng áo cơm, không biết bao nhiêu là khó nhọc, nhưng hễ có bạn văn đến nhà, nữ sĩ lại vui ngay.

Bao năm, trải qua nhiều khó nhọc, nữ sĩ Ngân Giang vẫn luôn giữ một thói quen đài các là khi có khách văn đến là lại “khơi đỉnh trầm lên”, pha một ấm trà thơm. Trầm cứ lặng lẽ tỏa hương, trà cứ tỏa hương, thơ cứ âm vang và nhạc cứ nỉ non, thánh thót. Thói quen ấy vẫn giữ cho đến ngày ra ở quán lá bên bờ sông Hồng.

Thứ nam của nữ sĩ là ông Đặng Thế Quang kể lại rằng, nhà văn Nguyễn Tuân mỗi lần đến thăm bà ở đây, miệng đọc thơ từ cửa, tay gỡ cây tam thập lục treo trên tường xuống, trao vào tay bà. Có lần Nguyễn Tuân còn nói: “Đọc mỗi bài thơ Ngân Giang có thể vẽ được một bức tranh”. Bạn bè thân hữu đến chơi, thường mua hoa thay quà. Mỗi lần nhận hoa bà vui lắm.

Cho đến tận những năm tháng tuổi già, người ta vẫn không cảm nhận thấy năm tháng và tuổi tác đã đi qua trong tâm hồn. Mặc dù “Mười năm quét lá bên sông/ Hình hài để lại cái còng trên lưng”, nhưng bà vẫn trẻ, vẫn ý thức sâu sắc về cái đẹp, vẫn quan niệm việc làm đẹp là tôn trọng mình và tôn trọng mọi người.

Những người bạn của bà là nữ sĩ Cẩm Lai, Anh Thơ, Mộng Tuyết còn mê cách trang điểm, phong cách tân thời mà giản dị của bà. Không những thế, các bà còn thích ngắm nhìn cách Ngân Giang nữ sĩ cầm gương lược, thoa phấn hồng. Đó là những kỷ niệm đẹp không chỉ với bà mà với những người đã một lần gặp bà, nghe bà kể chuyện.

Những năm cuối đời, nữ sĩ Ngân Giang về bên sông Hồng, xin phép mở một quán nước chè với số vốn kinh doanh là 5 đồng, kiếm sống bằng những đồng tiền nhỏ lẻ và bầu bạn với gió trăng. Có lần, vì túng thiếu quá, mà phải bán đi một tấm gấm thêu thơ mà bà vẫn nâng niu, gìn giữ, mua được 5 yến gạo và may bộ quần áo cho mình.

Tình yêu lớn nhất và trọn vẹn, bà dành cho thơ, chỉ có thơ mới chia sẻ được nỗi buồn, nỗi cô đơn và lạnh giá trong lòng. Cho dù Sầu riêng riêng nỗi ngậm ngùi/ Sầu chung trĩu nặng một đời thi nhân, nữ sĩ Ngân Giang vẫn dùng thơ để chở gánh tình, gánh đời, xót xa cho phận mình, phận người. Trưng nữ vương là một bài thơ như thế: ải Bắc quân thù kinh vó ngựa/ Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi/ Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá/ Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi....

Có câu danh ngôn rằng: “Khi cười người ta có thể cười với nhiều người, nhưng khi khóc thường chỉ khóc một mình”. Nữ sĩ Ngân Giang dù buồn, nhưng không mấy ai nhìn thấy nước mắt bà. Bà khóc một mình trong lòng, trong đêm khuya, khóc trong thơ, chứ con cái không nhìn thấy bà khóc bao giờ (trừ khi phụ thân và mẫu thân bà mất, bà khóc nhiều và có làm hai bài thơ là Khóc phụ thân và Khóc mẫu thân rất thảm thiết).

Cuộc sống đã làm cho nước mắt bà cô đặc lại rồi chảy tràn trên các con chữ, thành nhạc và thơ. Bà để lại một gia tài khổng lồ là 4.000 bài thơ gồm nhiều thể, trong đó chủ yếu là thơ Đường. Nhưng hiện nay, gia đình nữ sĩ mới sưu tập được 1.720 bài. Bà là người xuất khẩu thành thơ, thơ được bà tặng cho rất nhiều bạn bè, tặng xong bà quên ngay, không còn nhớ nữa, nên việc sưu tầm lại mất khá nhiều thời gian, công sức.

Ước nguyện của nữ sĩ là xuất bản được một cuốn Thơ Ngân Giang toàn tập mà không thực hiện được. Các con trai, con gái của bà cũng mong muốn sẽ làm được phần việc này để mẹ vui lòng nơi chín suối, nhưng vì nhiều lý do, mà vẫn chưa thực hiện được.

Nữ sĩ Ngân Giang đã trả xong món nợ với kiếp hồng trần để về nơi cát bụi. Bà đang yên nghỉ ở quê nhà (làng Hướng Dương - Thường Tín - Hà Tây). Quanh mộ bà lúc nào cũng có hoa tươi của bà con quanh vùng đến viếng thăm đặt lên và trồng thêm xung quanh những bông hoa giản dị

</TD></TR><TR><TD class=source>
Việt Hà

</TD></TR></TBODY></TABLE>

conmatconlai
22-04-2006, 04:55 PM
Tên thật là Đỗ Thị Quế, sinh năm 1916, tại Hà Nội. Lên chín tuổi đã có thơ đăng báo. Mười sáu tuổi xuất bản tập thơ đầu Giọt lệ xuân (nxb Tân Dân 1932). Tập thứ hai Tiếng vọng sông Ngân (1944). Cách mang tháng Tám rồi toàn quốc kháng chiến, chống Pháp, chống Mỹ, bà sống ở Hà Nội, vẫn viết nhưng ít đăng. Mãi đến năm 1990, mới xuất bản tập Thơ Ngân Giang tuyển chọn 36 bài từ 1942 đến 1987. Năm 1994 lại một tập tuyển khác cũng tên là Thơ Ngân Giang tập hợp 57 bài cả thơ lẫn phú, bổ sung cho tập trước.

Ngân Giang có một giọng thơ rất cổ. Cổ hơn cả Tú Xương, Nguyễn Khuyến thời lều chõng. Giọng cổ ấy làm bằng thất ngôn bát cú của Đường thi và lục bát của Truyện Kiều. Cổ trong ngôn ngữ: nhiều chữ Hán, nhiều điển cố của truyện Tàu xưa (Tây Tử, Trữ La, Đường Minh Hoàng, Kinh Kha, Dịch Thủy, Đông Pha Xích Bích, sông Tần bến Sở...). Cổ trong hình ảnh: hình ảnh ước lệ, khêu gợi nhưng đã dùng nhiều trong cổ thi, thời nay phục chế thành ra sáo. Vào năm 1953, bà còn viết:

Má phấn sinh nhằm ngày loạn lạc
Tuổi xanh chưa trắng nợ can qua
Say! Ta say tình vạn thuở
Bóng hoa gần, ly rượu, ánh trăng xa!...

Nợ can qua rồi say vạn thuở, rồi rượu, rồi hoa trăng... Khung cảnh như trên sân khấu ca kịch. Đến năm 1987, viết bên sông Hồng bà vẫn như lạc vào các chất liệu của một thời xa lắc, trong thơ như còn có khói đài phong hỏa của quân Tần đốt trên Trường Thành vạn lý lẫn với lau sậy hiu hắt một bến vắng thời nào:

Lau sậy gió hiu hiu
Trống trường thành bằn bặt.

Rồi gà sang canh, sương nặng hạt. Bến thì phải vắng, bóng thì phải gầy... Hồn thơ Ngân Giang đòi một chất liệu xưa như vậy. Bà xúc cảm trong không gian của thơ cổ. Dấu vết phong phú của đời sống hiện thực rất ít, cảnh đời trong thơ Ngân Giang do vậy nghèo đi rất nhiều. Cách cảm cách nghĩ có phần đơn điệu. Hành xử của nhân vật trữ tình thường là ngâm thơ, uống rượu, đôi khi múa kiếm(!). Nghe nói Ngân Giang có tới 4000 bài thơ, nhưng nếu cứ ước lệ và thù tạc như vậy, sợ cái muôn mặt của đời chỉ vì một tạng cảm xúc sẽ bị lược đi, tiếc lắm! Cuộc đời bà cũng nhiều dâu bể mà đọc vào thơ không thấy. Quan niệm thẩm mỹ, quan niệm cái nên thơ của bà e bị tụt lại, không như những biến động tâm hồn của con người hiện tại. Bù lại, là sự chín trong bút pháp cổ thi của thơ Ngân Giang: niêm luật, đối ứng, thanh điệu... bao giờ cũng chuẩn mực, tạo nên những câu thơ gợi cảm, đẹp như tạc

Người về ngõ cũ đầy hoa rụng
Ai ở thềm xưa quạnh bóng người

Ở bài thơ Trưng nữ vương, một cốt cách hào hùng bi tráng đầy nữ tính dấy lên từ âm điệu, từ ngôn ngữ, hình ảnh. Không gian thơ hơi ca kịch nhưng rất có hồn, gợi cảm. Đặc biệt Ngân Giang thể hiện khía cạnh góa bụa của bà vua họ Trưng mới mẻ và tinh tế:

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng, khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi


Cảm hứng lịch sử cũng là một mạch thơ của Ngân Giang: bà Trưng, bà Triệu, Bạch Đằng, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Thành Thái, Đồ Chiểu... nhiều lần vang vọng, sôi nổi hào hùng hoặc bi trầm cảm khái trong thơ bà. Cách khai thác lịch sử của Ngân Giang gần với thơ vịnh sử của các nhà Nho xưa. Thơ bình theo nhận định của sử, phần thêm của Ngân Giang là tạo lại không khí xưa cho cảnh và hồn khí phách cho nhân vật. Sức gợi cảm là một ưu điểm nổi bật của thơ Ngân Giang. Nhiều khi nó lấn cả ý và không cần đến tứ. Bài thơ bốn câu sau đây, câu nào cũng gợi, cả bài như bức tranh phong cảnh thanh đạm không biết ở về thời nào, nước nào. Câu cuối chim kêu trong bụi... sức gợi càng cao, làm ta, dù trong lục bát, cũng như đang nếm vị Đường thi:

Bến mưa vắng chuyến đò về
Quán hàng đứng đó, con đê không người
Thôn ai dâu biếc tơi bời
Chim kêu trong bụi, hoa rơi trắng ngần

Đôi khi ở những bài thơ bộc lộ cảnh sống của chính mình, sức mạnh của hiện thực hàng ngày sống đã giúp Ngân Giang tìm được chất thơ từ đời thực. Bài thơ có được sự ấm áp của đời sống, người đọc dễ đồng cảm, một nỗi đồng cảm thấm thía hơn nhiều những ước lệ đẹp nhưng mòn:

Sớm tối vài ba đồng vốn liếng
Tháng ngày dăm bảy khách văn chương
Ôi năm cứ hết, xuân không hẹn
Vực cát, chân cầu, bỗng xót thương


Ngân Giang có thâm niên làm thơ ba phần tư thế kỷ. Bà có may mắn sống trên đất thủ đô liên tục gần trọn thế kỷ thứ XX và trùm cả sang thế kỷ XXI. Dẫu cuộc đời thơ không phải lúc nào cũng êm chèo mát mái, nhưng trong tình thế nào bà cũng thủy chung với thơ, thậm chí thủy chung với một bút pháp thơ, chấp nhận mọi dở hay vốn có của riêng mình. Đó cũng là một bản lĩnh. Thơ bà là thơ tình cảm nhưng bà rất kín đáo khi bộc lộ nỗi niềm riêng. Kín đáo do tính ước lệ của bút pháp, không nói cụ thể. Hay do sự lặng lẽ vốn có của lối sống. Có lẽ cả hai. Năm nay (2001), bà đã ngót 90, sức lực đã mong manh lắm, những điều bà nói thêm chắc không nhiều nữa. Tôi đọc thơ bà và lần tìm những thốn tâm tư bà lưu lại. Đọc xong, ngồi lặng, xót thương người tài tử:

Nhà tôi nghèo lắm lắm
Gia tài mấy cuốn thơ
Trước cửa vài khóm trúc
Gió về bay phất phơ...
Soi gương thấy tóc sang mùa
Ngắm mình bóng dáng cũng vừa chiều hôm.


HÀ NỘI 4-9-2001
VŨ QUẦN PHƯƠNG

conmatconlai
22-04-2006, 05:03 PM
Nhân ngày giỗ lần thứ hai nữ sĩ Ngân Giang, một trong số các nữ sĩ rất hiếm hoi trong phong trào Thơ Mới, tôi xin ghi lại một kỷ niệm, một lần may mắn được gặp gỡ và trò chuyện thân mật với nữ sĩ tại TP Sài Gòn. Tình cờ, đó cũng là dịp nữ sĩ lên tuổi thượng thọ!

Thật ngẫu nhiên, trong lúc làm giám khảo một cuộc thi ngâm - đọc thơ ở TP, một cô thí sinh đến báo với tôi rằng: "Mẹ em vừa từ Hà Nội vào thành phố !". Hoá ra cô gái trẻ ấy là con út của nữ sĩ Ngân Giang.
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=3 width=1 align=left border=0><TBODY><TR><TD>http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/dataimages/normal/images316625_ngangiangnusi.jpg (http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/dataimages/original/images316625_ngangiangnusi.jpg) </TD></TR><TR><TD class=Image>Ngân Giang nữ sĩ
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Một buổi chiều cuối tuần đầu tháng sáu tôi dò tìm đến thăm người nữ sĩ lừng lẫy một thời. Đón tôi là một bà cụ người Bắc, vui vẻ, dáng thấp và trông da dẻ còn khoẻ mạnh lắm. Đó là người nữ sĩ mà những ai yêu thơ Việt Nam từ tiền chiến đến nay hẳn đều biết tiếng. Hai mẹ con nữ sĩ Ngân Giang quên cả thì giờ, mẹ đọc thơ, con ngâm thơ cho khách nghe rất hào hứng.
Nhà thơ Ngân Giang (Đỗ Thị Quế) sinh năm 1916 tại Hà Nội, gia đình dòng dõi nho học, bên Nội gốc nhà nho, bên ngoại trực hệ với Chúa Trịnh. Nếu tính theo âm lịch, năm nay (tức 1995) nữ sĩ vừa tròn 80, tuổi thượng thọ! Trên văn đàn Việt Nam hiện đại, Ngân Giang nữ sĩ là một hiện tượng, trong phong trào Thơ Mới, bà lại rất nổi tiếng về... thơ Đường! Những tác phẩm chính của bà: "Giọt lệ xuân" (nhật ký và thơ dưới bút danh Hạnh Liên) - NXB Tân Dân 1932. "Tiếng vọng sông Ngân" - NXB Lê Cường 1944. "Những ngày trong hiến binh Nhật" - NXB Đức Trí 1946. "Những người sống mãi" - NXB Sự Thật 1973. Ba tập "Thơ Ngân Giang" - NXB Phụ Nữ 1989 - NXB Trẻ 1991 - NXB Phụ Nữ 1994. Bà vào Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957.
Tôi đã trao đổi với nữ sĩ:
- Thưa bác Ngân Giang, bài thơ đầu tiên của bác được viết vào năm nào?
- À, lâu quá rồi... Anh cho tôi nhớ lại một chút... Đấy là bài thơ "Vịnh Kiều" được đăng trên báo Đông Pháp lúc tôi vừa 8 tuổi.
- Vậy là... đã hơn 70 năm! Thưa bác, bác vô Sài Gòn lần này là lần thứ mấy?
- Mới lần thứ ba thôi anh ạ! Lần đầu tiên tôi đặt chân lên đất Sài Gòn là vào tháng 5 năm 1937. Hồi đó, cũng như bây giờ, tôi có thói quen làm những câu thơ để lại nơi đang ở trước lúc ra đi. Năm 1937, trước khi vào Sài Gòn, tôi đã để lại Hà Nội hai câu thơ: "Đi cho biết đó biết đây. Sông kia biết mặt, núi này biết tên". Hồi ấy báo giới Sài Gòn tiếp đón tôi rất trọng vọng. Anh chị văn nghệ sĩ, báo chí Sài Gòn thấy tôi trẻ tuổi mà dáng người lại nhỏ nên hay gọi tôi là "nữ sĩ tí hon". Lần ấy tôi ở lại Sài Gòn được khoảng nửa năm. Trước khi rời Sài Gòn trở về Hà Nội, tôi cũng đã để lại hai câu thơ: "Ta về bỏ cảnh lại đây. Sông kia ngơ ngác, núi này bâng khuâng". Bốn mươi ba năm sau, năm 1980 - 1981 được lời mời của nhiều thi hữu, thân hữu Sài Gòn tôi lại vào lần thứ hai.
- Thưa bác Ngân Giang, xin phép được hỏi bài thơ đầu tiên bác đăng trên báo chí ở Sài Gòn là vào năm nào?
- Đó là bài thơ "Lạc nhà" đăng trên tuần báo Mai dưới bút danh Hạnh Liên, đăng ngay khi đặt chân đến Sài Gòn vào năm 1937. Sau đó, báo Điện Tín đăng liên tiếp mười bài thơ Đường của tôi. Thời gian sau, nhuận bút được gởi ra Hà Nội cho tôi là hai mươi đồng. Hai muơi đồng lớn lắm đấy anh ạ, còn nhớ lúc ấy một tạ gạo chỉ có năm đồng!
- Nhà thơ hẳn phải có tâm trạng gì chứ làm sao vô Sài Gòn được đón tiếp nồng nhiệt mà lại gọi "lạc nhà"?
- À, thế này anh ạ, lúc ấy phong trào thanh niên của chúng tôi bị đàn áp nhiều, tôi mới bôn ba vào Nam lánh nạn, chẳng "lạc nhà" thì cũng tha hương !
- Bác là nữ sĩ nổi tiếng về thơ Đường luật cổ phong, vậy bác thấy thơ Đường ngày nay ra sao? Còn sống nổi không?
- Thơ Đường bây giờ à? Tôi nghĩ đã là thơ Đường thì phải chuẩn xác về niêm luật. Bây giờ nhiều người sáng tác loại "thơ Đường" kỳ cục lắm, quên hết nghệ thuật vốn có của thể thơ này. Làm sao thơ Đường có thể chết được nhỉ ! Đấy là thể thơ luôn khơi gợi tình cảm dân tộc đậm đà, rất Á Đông. Anh biết không, những năm tháng trước đây ở Hà Nội, tôi chẳng có được lương hưu đâu, tôi sống bằng thơ Đường đấy. Nghĩa là tôi biên tập, sửa thơ, dạy thơ Đường cho nhiều người, thậm chí, nói anh đừng cười, từng có lúc tôi làm thơ giúp cho người khác. Thế đấy, thơ Đường đã nuôi tôi và tôi lại làm thơ Đường. Tôi nhớ có lần anh Nguyễn Tuân nói: "Đọc mỗi bài thơ Ngân Giang có thể vẽ được một bức tranh!".
- Thưa nhà thơ, vậy là bác chỉ có làm thơ Đường...
- Ấy, tôi cũng làm nhiều ca dao. Trước khi về hưu, tôi làm công tác cổ động ở Sở Văn hoá Hà Nội, mỗi ngày phải viết hàng trăm câu ca dao, tôi ký tên là Ánh Quê. Anh nghe thử vài câu cho vui:
Ai làm cho vỏ nhớ trầu
Cho thuyền nhớ bến cho cầu nhớ ao
Ai làm nắng nhớ mưa rào
Rượu thơ nhớ bạn hoa đào nhớ xuân
Hay là:
Đi gặt nhớ hái chàng ơi
Ra vườn nhớ cuốc, về xuôi nhớ đò
Ngày nắng hãy nhớ ngày mưa
Phơi rơm gẫy rạ cho vừa lòng nhau
Ngõ gần chẳng đợi trăng thâu
Nhà thôn mát sạch thương nhau thì về
- Ca dao của bác Ngân Giang rất tình cảm!
- Vào năm 1950 tôi còn là người phụ trách mục nói chuyện với nhi đồng trên nhật báo Công Tội (Hà Nội) và ký bút danh là "Chị Mến".
- À bác vào lần này, thấy Sài Gòn ra sao?
- Trước khi vào, ở Hà Nội tôi bị ngả bảy bậc thang gác, gảy xương sườn, may mà lại lành lặn. Vào đây lại bị cúm, chưa đi đâu nhiều. Sài Gòn thay đổi nhiều, nhưng thú thật với anh, tôi là con người của quê hương, nên rất nhớ Hà Nội . À mà thế này nhé, để cháu Hoài Anh ngâm thơ cho chúng ta nghe...
Buổi chiều tối giữa mùa hè Sài Gòn trời chuyển mưa vần vũ, trong một ngôi nhà nhỏ kề khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, một nữ sĩ "thượng thọ" và hai người trẻ ngồi ngâm thơ bên cốc rượu quý của nữ sĩ vừa rót ra đãi khách. Cô gái út cất giọng ngâm bài thơ "Cung đàn hai ngả" mà mẹ cô viết từ năm 1945, khi cô chưa ra đời:
Gối kiếm đêm dài khách nhớ quê
Ngừng kim chinh phụ thấy ai về
Chao ôi ! Cũng tiếng đàn mưa gió
Cả bốn phương trời khóc biệt ly
Tháng 6.1995 – 8.2004
HỒ THI CA
<TABLE id=table2 width="100%" bgColor=#dbdbdb border=0><TBODY><TR><TD>Nữ sĩ Ngân Giang tự bạch
</TD></TR></TBODY></TABLE><TABLE id=table1 width="100%" bgColor=#00caca border=0><TBODY><TR><TD><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=3 width=1 align=left border=0><TBODY><TR><TD>http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/dataimages/normal/images316615_ngangiang.jpg </TD></TR><TR><TD class=Image></TD></TR></TBODY></TABLE>
Tuổi cầm bút của tôi gần bằng tuổi đời. Những truân chuyên, điêu đứng của tôi lại hơn cả tuổi đời và tuổi cầm bút. Tôi yêu nhân dân, dân tộc và xã hội vô cùng. Tôi thường có suy nghĩ: nếu đã là nhà thơ, nhà văn, nhà sáng tác... thì khi cầm bút phải biết phục vụ cho dân tộc, cho xã hội, sẵn sàng quật khởi chống lại giai cấp thống trị và bạo lực; tha thiết hy sinh cho xã hội, dân tộc và hòa bình nhân loại. Chính vì vậy, khi một bài thơ, một sáng tác ra đời đó chính là tiếng nói từ tình cảm từ tâm huyết của chính mình trong từng giai đoạn. Do đó phải được chuẩn xác từng từ, từng điển tích, điển cố phải được chọn lọc. Bài thơ, bài văn phải có một bố cục chặt chẽ như một bức tranh có chủ đề rõ ràng để người đọc, người xem có một cảm xúc thật bất ngờ; để mãi mãi được lưu giữ trong kho tàng văn học của dân tộc và của cả nhân loại.
Nếu vậy nhà thơ, nhà văn, các nghệ sĩ phải biết tránh xa quyền và lợi. Chỉ có vậy nhà văn, nhà nghệ sĩ mới đạt được mục đích làm đẹp cho dân tộc và nhân loại.
</TD></TR></TBODY></TABLE><TABLE id=table3 width="100%" bgColor=#dbdbdb border=0><TBODY><TR><TD>Nhận định
</TD></TR></TBODY></TABLE><TABLE id=table4 width="100%" bgColor=#00caca border=0><TBODY><TR><TD>Làm sao có thể quên được một dòng sông Ngân đầy khát vọng ấy trong văn học Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám với những bài thơ thành công về nhiều mặt, đặc biệt là đề cao tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của Ngân Giang? Vẻ như nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã có phần "bất công" khi không xếp Ngân Giang vào "Thi nhân Việt Nam" trong khi cả Mộng Tuyết, Vân Đài, Hằng Phương được lựa chọn... Âu đó cũng là số phận của Ngân Giang vì nửa đời phía sau của bà còn gặp nhiều bất hạnh hơn nữa. Suốt mấy chục năm bà sống bằng nghề bán chè chén bên căn nhà lụp xụp ngoài bãi sông Hồng nhưng bà vẫn sống với một niềm tin mãnh liệt vào thơ ca. Quả thật nói như một câu thơ Phùng Quán, bà cũng luôn phải "vịn vào thơ để đứng dậy". (báo Lao Động)
</TD></TR></TBODY></TABLE>

Thiên Sứ
22-04-2006, 09:05 PM
Xin chân thành cảm ơn quí vị và anh em có tấm lòng ưu ái với thi tài của mẹ tôi Nữ Sĩ Ngân Giang
Thiên Sứ

Thiên Sứ
23-05-2006, 10:47 PM
THÔN LẠ ĐÊM TRĂNG
Tôi trở về đây với tịch liêu
Hoa vàng nở muộn , gió hiu hiu
Ngõ đầy lá rụng , sân rêu nhạt
Giậu trúc lưa thưa giắt bóng chiều.

Ngoảnh lại kinh thành tràn khói lửa
Chim dồn tiếng oán khóc nhà ai ?
Mây buồn không định , bay phơ phất
Mà gió tha hương cũng thở dài .

Bến vắng trông vời thêm nỗi vắng
Thuyền ai vội vội trở về đâu ?
Sông xa bọt nước bao nên nổi
Tàu ngược còi đêm , rợn nhịp cầu .

Tôi biết giờ này muôn tiếng khóc
Trong muôn lặng lẽ của người đi,
Trong muôn thao thức , muôn tan hợp
Giữa bốn phương mờ bóng lọan ly.

Chiều lại chiều , rồi đêm lại đêm
Buồn nghe lá rụng gió lay rèm ,
Trăng cài vách lạ nơi thôn lạ
Văng vẳng canh gà trở gối êm…

Nào phải điền viên vui tuế nguyệt
Hay lòng ẩn sĩ chán công danh,
Máu loang hoa gấm , đau thời thế
Về mải chăn tằm dưới mái tranh .

Gió hắt mưa phùn tươi khóm cúc
Hoa bừng cánh trắng đẹp vườn chanh ;
Trong thôn rộn rã người qua lại
Chạnh nghĩ bâng khuâng … hận nỗi mình.

Sự ngiệp chưa thành , thân lận đận
Tình nhà buộc mãi chí bôn ba,
Nét thơ chưa ráo dòng ly hận
Đã vội sang mùa cúc nở hoa !
Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
23-05-2006, 10:53 PM
HƯƠNG QUÊ

Chiều về lòng thấy hoang mang
Buồn trông mấy đám mây vàng mênh mông.
Nơi đây khuất nẻo bụi hồng
Hương Sơn một dải trập trùng bao la …
Nơi đây đồng vắng thôn xa
Mái tranh lẫn bòng tre già sớm khuya .
Nén lòng quên hết biệt ly
Đường muôn dặm ấy , đi , về là ai ?
Từng phen bặt tiếng thở dài,
Từng phen gượng những nụ cười héo hon.
Lạnh lùng với áng vàng son,
Đắm say với rặng tre cồn hắt hiu.
Lòng mơ tiếng cửi dặt diù ,
Đôi bàn tay nhỏ chiều chiều gieo thoi.
“Đường đi ra tỉnh xa xôi
Ai ra mà gửi mấy lời thơ quê !”
Lối xưa man mác dặm hoè
Bóng dâu chưa xế , hoa lê đã tàn.
Bốn phương gấm lỡ vàng tan,
Trường đình còn vẳng cung đàn tiễn đưa…
Về đây nhặt những ngày thừa
Đã mòn con mắt trông chờ âm hao !
Đêm đêm má lệ hoen đào,
Mái đầu vương sáng ngàn sao rọi trời .
Dám đâu nói chuyện sắc tài
Những buồn thân thế , nên ngồi chép thơ.
Sông Ngân lạnh cả đôi bờ
Cầu Ô ai bắt mà chờ ai sang ?
Nhắc làm gì hẹn Liêu Dương,
Hai đường tơ mảnh , một tràng áo xanh.
Hoa lan rụng trắng sân đình
Chiều nay không nhớ thị thành nữa đâu !
Nhặt hoa toan giắt mái đầu ,
Mây vàng lớp lớp gợi sầu xa xôi…
Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
23-05-2006, 11:06 PM
BẠCH ĐẰNG GIANG


Bạch Đằng Giang ! Bạch Đằng Giang !


Máu đỏ quân thù bao giờ tan ?
Kể chi ngựa đá hai lần nhọc
Đây sóng reo vang khúc khải hoàn .




Thuyền giặc liền san sát
Quân ta dáng hiên ngang
Ngọn triều lên cuồn cuộn
Khói sóng tỏa mênh mang …
Nào chiến thuyền của Ô Mã Nhi ,Phàn Tiếp
Nào thuỷ đội của Thái tử Thoát Hoan
Cái uy phong đoàn viễn chinh phương Bắc
Toan trốn ngọn cờ Nam .
Ngọn cờ Nam ! Ngọn cờ Nam !
Phơi phới dâng lên màu huy hoàng
Phơi phới trăm nghìn con sóng bạc
Thét to trời đất muôn tiếng vang ,
Phơi phới trăm nghìn miệng anh dũng
Hô chung lời nói của giang san ,
Phơi phới trăm nghìn lòng chiến sĩ
Say chung uy võ Hưng Đạo Vương.
Đây không có ngọn lửa đốt giặc ,
Cũng không cần đàn gió đông nam
Mà nước triều một rút ,
Thuyền giặc ngỗn ngang .
Chiều tà đỗ bóng hoàng hôn xuống ,
Sóng bạc pha màu máu đỏ loang …



Thái Bình Diên Yến nâng ly ngọc ,
Thăng Long ba ngày rượu ngự ban
Quân ta say vỗ gươm mà hát
Hát rằng : “ Vạn cố thử giang san “

Biển dâu lịch sử bao nhiêu độ
Mà vẫn còn đây Bạch Đằng Giang .
Buông chèo du khách nhìn sông nước
Có nhớ ngày xưa Hưng Đạo Vương …


Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
23-05-2006, 11:14 PM
HOÀI ÂM HẬN

Ngồi câu trên sông Hoài
Nước trong soi chí lớn ,
Một sớm động lòng trai
Ra đi mây gió rợn .

Vó câu ruổi theo Sở
Giận thân Chấp Kích Lang ;
Hạng Vương ví xanh mắt
Đâu còn nghiệp Lưu Bang !


Đường Thục gian nan quá
Lặn suối với rtèo non ;
Mộng trùm ngang thiên hạ
Lòng bền như sắt son


Đeo gươm vào xứ lạ
Nằm khàn đất Bao Trung ,
Nhìn non cao trùng điệp
Nghe chim kêu não nùng .


Cho hay lòng tri kỷ
Đời có được bao nhiêu !
Bụui bay mờ mắt tục ,
Quán trọ sớm lại chiều .


Bến xa mình một ngựa
Bóng đổ dưới trăng khuya ,
Cuối rừng ào lá rụng
Một đoàn bóng ngựa phi .


Sông nước ngăn vó Ký
Chín bệ thỏa chờ mong ,
Rồi đăng đàn bái tướng
Thân đeo ấn nguyên nhung.


Ba tháng luyện binh mã
Tôn Ngô,Hán Bái Công ;
Một sớm lệnh truyền xuống
-Bỏ Thục,nhằm phía Đông !


Một ra ngoài thiên hạ
Định ngay được Tam Tần ,
Thành Hàm Dương cung điện
Nhìn thấy mặt cố nhân


. Gươm đo nửa thiên hạ
Ngựa ruổi khắp non sông ,
Diệt Tề ,yên Nguỵ ,Triệu,
Khói lữa chen bụi hồng .


Trải hai phen Tề Sở,
Đỉnh chung: mấy tước Vương ,
Rở ràng nơi điện ngọc
Ngôi cao nhìn bốn phương


Giữa lúc yên chung đỉnh ,
Nói gì thuyết tam phân !
“-Hởi ơi ! Người Khoái Triệt .
Ta nỡ phụ Hoàng ân ! “


Cửu lĩnh mây trùng điệp
Ô giang nước mênh mông ,
Quân Hán khắp bốn mặt
Vây một người anh hùng .


Dồn quân đất Cai Hạ .
Địch Trương Lương não nùng !
( Nước Ô giang chảy xiết
Cuồn cuộn và mênh mông )


Trượng phu dầu thất thế
Đâu tính chuyện sang sông .
Việc lớn đã lỡ cả ,
Làm gì mảnh Giang Đông !


Bốn phương khói lửa hết
Cung kiếm vô dụng rồi ;
Tái cao đành gác lại
Nhìn ánh mây giời trôi …


Đất Tề Sở trả lại ,
Đỉnh chung : một tước hầu !
Bên vàng son cung điện
Hàm Dương ! Cố nhân đâu


Buộc lỏng nơi kinh khuyết
Cánh bằng vạn dặm khơi .
Nhớ lại ngày bái tướng
Chuyện Thục đã xa rồi !


Ai dâng gươm nguyên suý ?
Ai hẹn ước non sông ?
Vị Ương ngày lâm nạn
Người xưa đâu Tử Phòng ?


Nồi kê trong quán trọ,
Canh gà vừa giục mau .
Bừng dậy :hai tay trắng .
Khanh tướng huy hoàng đâu ?


Than ôi ! Gươm Lã Hậu
Mây gió mờ không gian !
Thôi rồi người quốc sĩ
Máu rỏ lạnh Trường An…


( Năm hồ thuyền Phạm Lãi ,
Trăm động dép Trương Lương ,
Lòng sao buồn phú quý .
Mây trời tản mười phương )


Nghiệp Hán hoa xuân ấm
Vị Ương mây mùa thu
Xuân sang hoa rực rỡ.
Mấy mùa thu bơ vơ …


Tình đời buồn lắm nhỉ ,
Than ôi,Hoài âm hầu !
“-Trời đất còn khi hết ,
Hận này đến nghìn thâu ,”

Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
23-05-2006, 11:30 PM
SAU PHÚT BIỆT LY /II/

Trời ở đâu, mà nước ở đâu ?
Mây bay tám hướng lạnh chân cầu.
Tôi đi, đi mãi tìm trăng rụng,
Loáng thoáng hoa rừng vướng vó câu.


Nhà ở đây, và tôi ở đây,
Nửa khung cửa nhỏ, cánh thơ đầy.
Từng chiều nhẹ nhẹ vương theo gió
Có cả trăng về với bóng mây.


Thôi nhé !Người đi cứ việc đi,
Nhìn nhau lần chót nữa mà chi?
Có hồn nghệ sĩ lang thang đấy
Tiếng hát vang đường khóc biệt ly.


Tôi mơ hoa đăng đêm Giang Châu
Bốn mắt ngời sao…Họ hiểu nhau.
Họ hiểu nhau rồi, sau buổi ấy
Đôi lòng cùng nặng trĩu thương đau.

Bờ suối kìa ai soi võ vàng,
Nét gầy hằn rõ vẻ hiên ngang.
Tôi về khép kín dư âm lại
Cho đọng tơ lòng những tiếng vang.


Đấy một người đi tìm một người.
Sa trường ghê lạnh máu tanh hôi,
Sa trường có cả vầng trăng đẹp
Tôi nhớ đêm nào giọt lệ rơi…


Có tiếng chân người bước ở đâu,
Mênh mang cồn vắng trắng ngang đầu.
Sang Tần buổi ấy chia cành liễu
Sông Dịch trầm trầm nhạc nhớ nhau.

Kìa đôi chim én đã bay về
Mà cánh chim bằng vẫn cứ đi.
Lá rụng, cành rơi cành thấp thoáng,
Trăng vàng gầy gõ tiếng tử quy.


Thôi, không nhạc nữa, không thơ nữa,
Không khóc, mà không một tiếng cười.
Tôi nhất định không, không tất cả
Khi người ấy vẫn ở xa xôi…


Một đêm trăng


Mùa hoa đào nở 1946


Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
24-05-2006, 11:06 PM
CHIỀU CÁT BỤI

Tặng các bạn đồng điệu Hà Nội
Giờ đây gió lộng sa trường

Xiêm y danh tướng còn vương mảnh đời .

Xác ở đây mà hồn ở đâu ?
Cỏ cây năm cũ đã phai màu ,
Đất lầm gió loạn dồn thương nhớ
Bọn chúng ta về giữa bể dâu !

Ngừng ngập đôi chiều câu chuyện cũ
Bẽ bàng vạn thuở mảnh trăng thâu ;
Có bầy chim nhỏ rời biên cảnh
Cánh bạt kinh thành ,xót lẫn nhau .

Để những đêm dài chuông Trấn Quốc
Vẫn đều dều rót điệu thê lương ,
Để những đêm vàng trăng Tháp cũ
Vẫn rầu rầu nhớ nẻo biên cương …

Tới đây, cười, khóc tôi như bạn
Cơm áo qua ngày, thẹn nắng sương ;
Bút dẫu tô ngời thành quách cũ
Tình còn giữ mãi ở muôn phương .

Cai Hạ vẫn ngờ hồn chiến bại
Giờ nào còn nhớ địch Trương Lương ?
Trắng đêm thuở ấy người danh tướng
Có trắng mái đầu của bốn phương ?

Nàng trở gót ,cười say cát bụi
Cuốc kêu ngày vắng lạnh sông hồ ;
Bóng hình dẫu tạm chia hai lối
Tâm sự cũng là dệt gấm thơ !

Riêng buồn ngọc ,đá xô nghiêng ngả
Danh sĩ, giai nhân lỡ sống còn ;
Máu lửa khoan reo,ngừng chút đã !
Thuở thanh bình hỡi !Nẻo hoàng hôn…

Ở đây đất loạn người thua vật
Cuối ải đầu thành sống lắt lây .
Có chốn bên đèn mươi giọt lệ
Lại nơi lữ quán nửa chiều say


Ngân Giang nữ sĩ

VoTri
25-05-2006, 12:09 AM
Thơ hay , thật là những bài thơ tuyệt. Vô Tri lớn lên bên Mỹ nên không có cơ hội ngưỡng mộ được những lời thơ hay này. Đây là lần đầu tiên được đọc những bài thơ hay nầy. Cám ơn anh Thiên Sứ đã chia sẽ những bài thơ quý giá nầy cho em được mở mang trí thức.
Vô Tri

Thiên Sứ
26-05-2006, 03:45 PM
Xin chân thành cảm tạ Votri đã có lời khen ngợi.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
26-05-2006, 03:49 PM
KHÓC THÀNH THÁI
Kính viếng những linh hồn vì nước
Đất Việt từ Vương biệt dặm hồng
Cung vàng điện ngọc cũng là không !
Cười nheo mắt lệ trên hoang đảo
Khóc héo thân tàn giữa bể đông…
U uất bước lần ven Bắc Hải
Căm hờn lặng nắm đốc thanh long.
Hỡi ơi !Quốc biến, dân lâm nạn
Tóc trắng, giang san…nát cõi lòng.
Mùa hè 1953
Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
26-05-2006, 04:00 PM
MÙA THƯƠNG NHỚ
Gió thu đưa lá bao nhành biệt ly
Tản Đà
Heo hút quan hà lạnh cuối thu
Non xa mờ nhạt nhớ sông hồ,
Thơ trăm ý hướng mây Hoàng Hạc
Lòng mấy phương buồn gió Bích Ngô;
Rặng chuối quê nhà mưa lất phất
Con đò bến lạ sóng lô xô.
Mười năm Tề, Sở, ôi thân thế
Ai thấu tình ai giữa cố đô?

Cố đô năm tháng lạnh lùng trôi
Câu chuyện dâng thơ dĩ vãng rồi.
Cảnh cũ còn đây tình cũ nhỉ?
Gió thu về đấy lá thu ơi !
Mảnh trăng muôn dặm sao lành lạnh
Nét bút ba canh thấy rã rời,
Một lại kinh kỳ vương quốc hận
Giữa chiều hoang phế nhớ xa xôi !

Xa xôi ai có nhớ ai không:
Xứ Bắc chiều nay chắc lạnh lùng?
Canh vắng thép rung hồn Chiến Quốc
Đường khuya trăng dõi bóng anh hùng;
Bông lau biên ải bay phơ phất
Vó ngựa quan san bước trập trùng,
Hẳn cũng ngùi thương người bạn cũ
Viết thôi lại viết mảnh thư phong !

Mảnh thư phong lại gửi về đâu?
Mây nước hai phương, một mối sầu !
Úa ngập bên đường muôn xác lá
Đẫm tràn dưới gối mấy hàng châu;
Sông xa khói núi mờ thu ảnh
Rừng vắng hoa ngàn lạnh vó câu !
Đêm lắng khuya dần vào tịch mịch
Muôn trùng trời biển có cao sâu?

Trời chẳng cao, mà biển chẳng sâu !
Than ôi ! Vạn vật có gì đâu?
Sông bồi bến lở đôi dòng nước
Gió táp mưa sa mấy nhịp cầu;
Hờ hững luân hồi qua kiếp sống
Ngẩn ngơ định mệnh suốt đêm thâu.
Xác trần thế trả cho trần thế
Còn mảnh tâm hồn nhớ đến nhau !

Có nhớ nhau chăng khách bốn phương
Mỗi khi dừng lại quán bên đường?
Vách giong đèn lặng đôi chiều gió
Đêm xuống chuông rền một nẻo sương !
Thôn vắng bâng khuâng hồn viễn xứ
Dặm về dằng dặc mộng tha hương.
Thơ đề thả lá theo dòng đấy
Ai sẽ vì ai sẻ đoạn trường?

Đoạn trường nào biết ngỏ cùng ai !
Thành cấm ba quân … gió lạc loài.
Kim trúc đường tơ sao bối rối
Tay ngà mặt ngọc lắm pha phôi;
Aó đan cánh nhạn chừng ngơ ngác
Tranh vẽ con thuyền đến nổi trôi
Buồn lắng xa xa hồi súng trận
Càng thương thân thế, lệ đầy vơi…

Đầy vơi ai chuốc chén quan hà
Giá ngắt thu chiều hạt móc sa !
Núi cách sông ngăn bao chí lớn
Mưa vùi gió dập một đời hoa;
Người đi biên ải trời đương sáng
Ta tới giang thôn bóng đã tà.
Dừng bước nơi đây ngày lại tháng
Gái thời ly loạn oán can qua.

Can qua trống thúc bốn chân thành
Quân lệnh ai nào xót tuổi xanh !
Rừng núi còn mong ngày hội kiến
Đất trời đâu tính chuyện tương tranh?
Xác phơi chiến địa: mây mờ thấp
Trăng dõi sa trường: cảnh vắng tanh !
Họ ngã bên nhau tình chủng tộc
Thu về lá rụng nẻo sông Gianh…

Sông Gianh! Sông Gianh! Ôi sông Gianh!
U uất đôi bờ khóc nổi nênh
Bến vắng…Đò ơi! Trời bát ngát
Quán chiều…Người hỡi! Sóng mông mênh.
Chèo đưa khôn rẽ đôi dòng nước
Trăng chếch buồn soi nửa cổng thành?
Say dốc ly bôi trong gió loạn
Bể hồ tê tái mộng ngày xanh !
-----------Ngân Giang nữ sĩ

Chính Ấn
26-05-2006, 04:08 PM
Thơ hay quá, người viết không chỉ giỏi thơ phú mà còn biết nhiều hiểu rộng, song thơ buồn man mác nên có lẽ đời người gặp nhiều gian truân.

Thiên Sứ
26-05-2006, 04:19 PM
KHOẢNG TRÊN DỪNG BÚT

Tố Như ơi , hỡi Tố Như !
Hai trăm năm ấy , hoa vừa dậy hương ,
Tơ đàn bỗng nổi cung thương
Nghe đâu nửa khúc đoạn trường mới gieo .

Khóc mình qua tiếng khóc Kiều
Muốn chi Lê , Nguyễn hai triều một thân !
Tài hoa giữa lớp bụi trần
Non xa bóng ngả , quán gần trăng soi .
Buồn nghe tiếng hạc lưng trời
Cảo thơm lần giở , khóc người thuở xưa .
“Kiều nhi phận mỏng như tờ “
Mà ai thân thế đã thừa long đong ;
Bút hoa rỏ máu ròng ròng
“Trăm năm để một tấm lòng từ đây “
Tung hoành khi bó hai tay
Hùm thiêng ngã xuống , những ngày sa cơ …

Tố Như ơi , hỡi Tố Như !
Đã đành tài trí , có thừa kinh luân ,
“Bắt phong trần , phải phong trần “
Từ thơ ấu đã mấy lần được vui ?
Thung huyền đôi lá vàng rơi
Nỗi mình xa cách , nỗi người điêu linh.
Quan nha đây đó hoành hành
Lê dân ngơ ngác , triều đình thê lương .
Dễ buồn là khách văn chương
Một ngày gác bút , đoạn trường bao năm !
Thì làm cái việc con tằm
Dù cho ngọc trắng cát lầm phôi pha .
Riêng chi Lý , Đỗ không nhà
“Lênh đênh đâu nửa cũng là lênh đênh “
Trăng soi chếch nửa cổng thành
Trời khuya ngăn ngắt , một mình với thân .

Tố Như ơi , hỡi Tố Như !
Mưòi năm đèn sách , một giờ khoa danh !
Vừa treo mảnh áo thí sinh
Lại nhằm phải lúc triều đình đổi thay !
Ngai vàng ấy , tấm son này
Mỉm cười khôn nhẽ , cau mày khó coi !
“Người yêu ta xấu với người “
Thành xưa rêu phủ , bồi hồi rẽ cương .
Thế rồi từ đấy tha phương
Áo dài xẻ vạt , ý hương càng nồng .
Lệnh trên hạ ngục bỗng dưng
Hình hài khác thưở băng chừng lai kinh ;
Còn đương u uất sự mình
May người thân thuộc xót tình cứu ra .
Trăng gần lại chếch non xa
Thác ghềnh là bạn , không nhà là thơ !

Tố Như ơi , hỡi Tố Như !
Ai cùng lỡ chuyến sang đò mới hay ,
Nói chi tài , mệnh xưa nay
Dầu hao vẻ ngọc , bấc gầy ý thơ .
“Tưởng bây giờ là bao giờ “
Tâm tư người trước , những ngờ người sau .
Chênh vênh , ôi mấy nhịp cầu
Nữa mai ví có vì nhau khóc thầm !
Đêm nay khơi lại lư trầm
Đọc Kim Kiều , giọt lệ đầm khăn thêu ;
Ấy ai mặt nưóc cánh bèo
Mà ai lụy giữa hai triều vua quan !
Sông Tiền Đường để riêng oan
Huyện Nghi Xuân gánh gươm đàn bơ vơ .

Tố Như ơi , hỡi Tố Như !
Trông gương , còn ngấn lệ thừa đầy vơi .

Cuối thu 1965
Ngân Giang nữ sĩ

chieuquan
02-08-2006, 04:59 PM
Nhân kỷ niệm ngày giỗ nữ sĩ Ngân Giang (mùng 9, tháng 7, AL), chieuquan mạn phép tặng chú Thiên Sứ và nữ sĩ Ngân Giang vài lời thơ tưởng niệm bậc tài nhân.

Kính mong Nữ sĩ ở nơi xa được hưởng trọn vẹn bình an và hạnh phúc!
Chieuquan kính cẩn cúi đầu tỏ lòng kính!


* KÍNH MẸ!

Thi tài một thủa thi tài ơi,
Nợ với nhân gian, nợ với đời
Thăm thắm hồng nhan như ánh ngọc
Rầu rầu biếc mắt những lệ rơi.
Xuân tình một chữ không cho vẹn
Ái nước thiên thu, biết- mấy người?
Trăm năm còn lại riêng tình Mẹ
Gửi khắp cho con khắp nẻo đời.
Ngân Giang nữ sĩ danh một thủa
Với con một chữ: “MẸ HIỀN” thôi!
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
<o:p>* VÔ ĐỀ</o:p>
<o:p></o:p>
<o:p>Cuối hạ một ngày,
Ngùi ngùi khói cháy
Thương mẹ
Ngàn ngày
Đắng cay .
</o:p>

* TRÍCH MỘT NHỮNG BÀI THƠ VANG TIẾNG MỘT THỜI của nữ sĩ Ngân Giang _ Cũng là bài thơ chieuquan thích nhất.


Trưng Nữ Vương

http://macdinhchireunion.net/pictures/DenHungVuong.jpg

"Mây thu lạnh
Dòng nước Cẩm Khê bừng dâng chính khí
Khói thu mờ
Ðáy hồ Lãng Bạc ngát động khuông liên
Ðền Nghĩa Trị rời thềm khuê các
Trả thù chồng thẳng đất Long Biên
Chém tướng giặc, đuổi quân về ải bắc
Mặc aó tang, rơi lệ ngự ngai vàng
Rồi ba thu cờ anh thư phất phới,
Ðất Mê Linh cỏ cây hoan lạc
Ðể một sớm gươm danh tướng
ngang tàng trời Giao Chỉ
Non nước oan khiên
Trùng trùng sóng nước
U uất thuyền quyên
Ðã mất thu rồi trăng ngời tiết liệt
Còn bao thu nữa sóng tỏa linh thiêng
Thù hận đôi lần chau khóe hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khõi
Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chi'n suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non hồng quét sạch buổi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời
Aỉ bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi".

Chieuquan kính!

Thiên Sứ
02-08-2006, 11:23 PM
Xin chân thành cảm tạ Chiêu Quân.
Thiên Sứ

dienbatn
03-08-2006, 12:51 AM
Xin cho dienbatn thắp một nén hương muộn lên bàn thờ cố Nghệ sĩ Ngân giang .
dienbatn .

VoTri
03-08-2006, 01:03 AM
Trong ngày giỗ của phụ mẫu của anh, em xin chép và tụng bài nầy cho nữ sĩ

Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,
Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc.
Ðại Thánh Ðịa Tạng Vương Bồ Tát,
Bố từ bi tế bạt vong hồn.

Cứu khổ nàn Thái Ất Thiên Tôn,
Miền Âm cảnh ngục môn khai giải.
Ơn Ðông Nhạc Ðế Quân quảng đại,
Ðộ kẻ lành chế cải tai ương.

Chốn Dạ đài Thập Ðiện Từ Vương,
Thấy hình khổ lòng thương thảm thiết.
Giảm hình phạt, bớt đường luy tiết.
Xá linh quang tiêu diệt tiền khiên.

Ðặng nhẹ nhàng thẳng đến Cung Tiên,
Nơi phước địa ở yên tu luyện
Xin Trời Phật chứng lòng sở nguyện,
Hộ thương sanh u hiển khương ninh.

Kính mến

Thiên Sứ
05-08-2006, 02:23 PM
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của anh Dienbatn và Vô Tri nhân ngày giỗ của mẹ tôi.
Thiên Sứ

Đại Chủ
05-08-2006, 05:20 PM
HOÀI ÂM HẬN

Ngồi câu trên sông Hoài
Nước trong soi chí lớn ,
Một sớm động lòng trai
Ra đi mây gió rợn .

Vó câu ruổi theo Sở
Giận thân Chấp Kích Lang ;
Hạng Vương ví xanh mắt
Đâu còn nghiệp Lưu Bang !

Đường Thục gian nan quá
Lặn suối với rtèo non ;
Mộng trùm ngang thiên hạ
Lòng bền như sắt son

Đeo gươm vào xứ lạ
Nằm khàn đất Bao Trung ,
Nhìn non cao trùng điệp
Nghe chim kêu não nùng .

Cho hay lòng tri kỷ
Đời có được bao nhiêu !
Bụui bay mờ mắt tục ,
Quán trọ sớm lại chiều .

Bến xa mình một ngựa
Bóng đổ dưới trăng khuya ,
Cuối rừng ào lá rụng
Một đoàn bóng ngựa phi .

Sông nước ngăn vó Ký
Chín bệ thỏa chờ mong ,
Rồi đăng đàn bái tướng
Thân đeo ấn nguyên nhung.

Ba tháng luyện binh mã
Tôn Ngô,Hán Bái Công ;
Một sớm lệnh truyền xuống
-Bỏ Thục,nhằm phía Đông !

Một ra ngoài thiên hạ
Định ngay được Tam Tần ,
Thành Hàm Dương cung điện
Nhìn thấy mặt cố nhân

. Gươm đo nửa thiên hạ
Ngựa ruổi khắp non sông ,
Diệt Tề ,yên Nguỵ ,Triệu,
Khói lữa chen bụi hồng .

Trải hai phen Tề Sở,
Đỉnh chung: mấy tước Vương ,
Rở ràng nơi điện ngọc
Ngôi cao nhìn bốn phương

Giữa lúc yên chung đỉnh ,
Nói gì thuyết tam phân !
“-Hởi ơi ! Người Khoái Triệt .
Ta nỡ phụ Hoàng ân ! “

Cửu lĩnh mây trùng điệp
Ô giang nước mênh mông ,
Quân Hán khắp bốn mặt
Vây một người anh hùng .

Dồn quân đất Cai Hạ .
Dịch Trương Lương não nùng !
( Nước Ô giang chảy xiết
Cuồn cuộn và mênh mông }

Trượng phu dầu thất thế
Đâu tính chuyện sang sông .
Việc lớn đã lỡ cả ,
Làm gì mảnh Giang Đông !

Bốn phương khói lửa hết
Cung kiếm vô dụng rồi ;
Tái cao đành gác lại
Nhìn ánh mây giời trôi …

Đất Tề Sở trả lại ,
Đỉnh chung : một tước hầu !
Bên vàng son cung điện
Hàm Dương ! Cố nhân đâu


Buộc lỏng nơi kinh khuyết
Cánh bằng vạn dặm khơi .
Nhớ lại ngày bái tướng
Chuyện Thục đã xa rồi !

Ai dâng gươm nguyên suý ?
Ai hẹn ước non sông ?
Vị Ương ngày lâm nạn
Người xưa đâu Tử Phòng ?

Nồi kê trong quán trọ,
Canh gà vừa giục mau .
Bừng dậy :hai tay trắng .
Khanh tướng huy hoàng đâu ?

Than ôi ! Gươm Lã Hậu
Mây gió mờ không gian !
Thôi rồi người quốc sĩ
Máu rỏ lạnh Trường An…

( Năm hồ thuyền Phạm Lãi ,
Trăm động dép Trương Lương ,
Lòng sao buồn phú quý .
Mây trời tản mười phương )

Nghiệp Hán hoa xuân ấm
Vị Ương mây mùa thu
Xuân sang hoa rực rỡ.
Mấy mùa thu bơ vơ …

Tình đời buồn lắm nhỉ ,
Than ôi,Hoài âm hầu !
“-Trời đất còn khi hết ,
Hận này đến nghìn thâu ,”

Ngân Giang nữ sĩ

Đúng là không ai hiểu Hoài Âm như Nữ Sĩ.... đọc bài thơ này xong mà tôi thấy thật cảm khái.... không những đây là một tiếng nói tri kỷ cho Hoài Âm Hầu , mà nó còn nói lên cả nỗi lòng của Đào Chu Công, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Văn Thành.... than ôi người xưa có nói : Với quan lại tướng lĩnh có 3 tội đáng chết : Công cao quá, Vua không biết lấy gì để thưởng cho nên phải giết đi. Uy tín lớn quá khiến Vua phải ganh tỵ đó là thứ 2; uy quyền lớn quá khiến Vua phải lo sợ đó là thứ 3.
Ngẫm lại đúng lắm thay, xin được thắp nén hương muộn màng cho nữ sỹ Ngân Giang, xin được cùng bà tỏ nỗi hận của Hoài Âm.

Thiên Sứ
06-08-2006, 07:11 PM
Nồi kê trong quán trọ,
Canh gà vừa giục mau .
Bừng dậy: Hai tay trắng .
Khanh tướng huy hoàng đâu ?
Xin cảm ơn Đại Tướng Chủ.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
09-09-2006, 09:03 PM
LÁ RỤNG


Kính viếng hương hồn bạn Lê Thanh
Trời không lạnh lắm nhưng buồn
Tre rơi vài lá bên cồn hiu hiu …
Bóng xưa khuất với mây chiều,
Giờ đây thôi hẳn nước bèo xa nhau
Giờ đây dưới ngọn đèn dầu
Trông ra mây trắng rũ màu tóc tang .
( Hay gì đời lắm đau thương ,
Mà toan chuốc mãi đoạn trường vào thân )
Nhưng than ôi ! Đã bao lần
Bút run run viết những vần chia ly .
Soi gương thêm tủi dung nghi ,
Thu về còn dấu ,xuân đí không lời.
Muôn hoa héo một nụ cười ;
Bên tôi đang có một ngưòi ra đi.
Ra đi không hẹn ngày về ,
Xe tang chầm chậm…bốn bề mông mênh ..
Mười năm sống giữa kinh thành ,
Trà thơm thế sự ,ngọc lành văn chương .
Bạn,tôi lòng sáng như gương
Nghĩa ngang sơn hải,tình thường bèo mây
Dặm xa in bóng hoa gầy
Chia tay năm ấy vào ngày mộ thu
Sang nam cánh nhạn mịt mờ ,
Non cao ,biển rộng ,mây hờ hững trôi …
Từ tôi lận đận bên trời
Mảnh thư thường ký tên người gửi thăm.
Ngày về tìm đến cố nhân
Lầu thơ hoa rụng mấy lần rêu phong ;
Hài thêu rén bước ngại ngùng
Cánh song chợt hé…vô cùng bâng khuâng ;
“-Than ôi ! Dằng dặc đường trần.
Chị đi ,đâu ngỡ một lần về đây ! “
Vội mời trở gót lầu tây
Chia ngôi chủ khách ,hỏi ngày ra đi .
“-Phiêu linh đời có vui gì
Bao nhiêu lờ lãi đem về là đây
Gió sương với tập thơ này ,
-Trần ai ghi những bóng mây hững hờ “
Mỉm cười ,bạn đở tập thơ;
“-Nhiều tài hoa lắm nên thừa đắng cay
Riêng buồn ngày chị về đây
Than ôi ! Lại chính là ngày tôi đi .”
Tim đành gạch vết chia ly
Bạn nơi khách địa ,tôi về cô thôn .
Sông hồ vó ngựa đã chồn
Chiều xuân muộn ấy vừa tròn nữa nơi
Trở về ,bạn vội đến thăm
Giữa khi tâm sự bội phần xót xa ,
Rằng : “-Nên trân trọng thần (Mất một chữ/ Thiên Sứ)
Quá ra khi nữa biết là làm sao ? “
Gượng vui ,thầm gạt lệ trào
Mặc cho năm tháng trôi vào tịch biên
(Tình ai như quán chợ chiều
Tình tôi vườn quạnh lại nhiều gió mây
Cành lan thoang thoảng hương thơm
Khói trầm cho ngát mà chờ trăng cao
Có khi trông dõi ngàn sao
Buồn nghe tám nẻo xạc xào lá rơi
Có khi thức trắng đêm dài,
Nước cờ thua ,phải vô tài mà thua
Có khi họp mấy bạn thơ ,
Nhắp trà nghe khách so tơ não nùng
Mảng vui nghĩa bạn mênh mông
Nét thơ chưa ráo mà lòng đã say
Đâu ngờ khói lữa mờ bay
Tôi về thôn cũ đếm ngày tháng qua
Vui xưa khuất bóng tre già ,
Đêm đêm ngắm dải Ngân Hà sầu thêm

* * *
Chim kêu ba tiếng ngoài thềm ,
Sớm mai tiếp được một tin chả lành ;
Bạn nơi bệnh viện bỏ mình .
Hỡi ơi ! Mây trắng hóa thành màu tang !
Đau thương ngờ trước bẽ bàng ,
Có linh ! Nhận lấy hai hàng lệ tuôn…


* *
*
Tre rơi vài lá bên cồn ,
Trời không lạnh lắm, nhưng buồn hiu hiu !

Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
09-09-2006, 09:11 PM
MƯỜI BÀI TÂM SỰ
I
Bồng con đêm vắng ngán bơ vơ,
Tẻ ngắt vườn mai bóng nguyệt mờ
Nến lạnh lùng rơi từng giọt lệ
Bút âm thầm chép những dòng thơ;
Tháng ngày hằng nhớ ơn sinh dưỡng
Hôm sớm thêm buồn nghĩa tóc tơ.
Mây trắng xa vời đâu cố quận?
Đêm dài nghe trống điểm thờ ơ…
II
Thờ ơ hương phấn , xót lênh đênh,
Thân thế buồn như lá mặt duềnh.
Cũng bởi trời già trao phận bạc,
Cho nên tuổi trẻ ngán ngày xanh !
Ba mươi sáu tiếng tơ ai oán
Bảy tám năm trời phận nổi nênh.
Gió vút dương cầm dây trở lạnh,
Buông đàn lững thững dưới trăng thanh.
III
Trăng thanh như gợi nỗi hàn ôn
Vài tiếng chuông chùa vọng héo hon,
Gió lắng gieo vào hồn tục lụy,
Người về lạc giữa nẻo cô thôn;
Ý hoa một sớm đau duyên bạc
Cửa Phật trăm năm gửi tấc son.
Đã tưởng nắng mưa yên kiếp hận
Nào ngờ nghĩa nước với tình non.
IV
Tình non nghĩa nước dạ không rời
Từ giã quê hương dõi tuyệt vời,
Bến vắng ca lên vang tịch mịch
Sông dài thuyền chở đến xa xôi;
Trông nhau sẽ ngỏ lời tâm huyết
Đặt bút cùng ngâm khúc nổi trôi.
Nhưng bỗng một chiều dâng sóng gió
Hải tần nuốt lệ hát chia phôi.
V
Chia phôi từ đấy gió mây sầu,
Khôn giãi lòng son với bể dâu
Mộng đã tan bao niềm ướt vọng
Đời còn trơ lại vết thương đau;
Từng làn gió tạt qua song cửa
Mấy cánh hoa rơi vướng mái lầu.
Khêu ngọn đèn mờ bên án vắng
Đêm sâu ngồi chép lại tình sâu.
VI
Tình sâu thôi đã lỗi muôn vàn
Vẫn gượng vui cười với thế gian.
Quyên gọi đầu cành tim chớm rạn
Hoa bay trước gió sắc chưa tàn;
Bên sông giọng hát âm còn vẳng
Mặt nước con thuyền bóng đã tan.
Bạn bốn phương trời âm tín bặt
Chén thề đành phụ hẹn giang san…
VII
Giang san một nghĩ một chau mày
Men rượu quan hà lắm đắng cay.
Dồn dập canh gà đêm muốn sáng
Mơ màng quán khách mộng còn say;
Thôi bâng khuâng ngắm vừng trăng xế
Lại ngẩn ngơ nhìn chiếc lá bay.
Ven bến vời trông về cố quận
Một đường thăm thẳm bốn trời mây.
VIII
Trời mây ngan ngát núi sông xa
Tâm sự đôi dòng , ai biết ta ?
Nam phố mấy đường chia vó ký
Ly đình nửa khúc não lòng hoa;
Bụi bay còn vướng theo chân ngựa
Phím lỏng thêm đau những ngón ngà.
Đêm đã dâng lên màu ảo ảnh
Gió về còn vẳng tiếng ngân nga…
IX
Ngân nga dìu dặt bảng dương cầm
Mờ nhạt trăng khuya lộng khói trầm.
Đời bạc đã toan liều mệnh bạc
Nghĩa thâm khôn dứt với tình thâm;
Ví còn một tiếng cười hoan lạc
Là gọi nghìn xưa giãi khổ tâm.
Hương tỏa , tơ say , ngây ngất điệu
Trời mây , sông nước lắng thanh âm.
X
Thanh âm huyền ảo rót thê lương…
Xuân đến vui gì hỡi phấn hương !
Áo mỏng dịu dàng bay trước gió
Hoa đào thấp thoáng rụng trong sương.
Lời Tinh Vệ , hồn chim tinh vệ
Người Hướng Dương , lòng hoa hướng dương.
Để đến đêm nay trăng nước lạnh
Ngại ngùng muôn ý gửi muôn phương.
Nhớ Hướng Dương quê nhà, một đêm trăng.
1944
Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
09-09-2006, 09:16 PM
HIU QUẠNH TRỜI KHUYA

Chốn bản thôn cây ngàn gió nổi
Cánh liễu nào che nổi giá băng,
Trưa còn sương phủ giăng giăng
Chiều lên rét lắm mấy tầng lá rơi.
Tiết đông lạnh, núi đồi thêm lạnh
Đêm càng khuya gió đánh càng mau,
Aâm u núi trước rừng sau
Dưới chân gió lọt, trên đầu mưa rơi.
Tiếng súng nổ, tiếng người rú lạnh
Tiếng đạn bay, gió đánh, mưa dồn…
Cũng trong giờ ấy, ôi buồn !
Kinh thành vất vưởng bao hồn đau thương…
Trông thăm thẳm bốn phương mưa gió
Oâm trẻ thơ, ly phụ ngậm ngùi:
“Thôi con, con ngủ cho rồi
Cha con chinh chiến bên trời, vì đâu?
Cũng giờ ấy, đèn dầu mờ tỏ
Cụ bà ngồi vò võ tàn canh:
“Nước nhà từ đấy lửa binh
Con ra ngoài ấy có lành mạnh không?
Lạy trời được thành công mau chóng
Con chưa từng phải sống gian nan.
Đêm nay mưa xuống chan chan
Ai nào cản được gió ngàn , con ơi !”
Cũng giờ ấy, thân côi tàn tạ
Mất mẹ cha, buồn bã kém hèn
Bé ngồi dưới mái hiên quen
Tủi thân đói rét, tiếng rên nghẹn ngào.
Cũng giờ ấy, ngục nào u tối
Thân sa cơ chịu nỗi gông cùm,
Mấy đầu chụm lại gần hơn
Run run nghe gió đang luồn trong mưa…
Bóng chiều xuống xanh mờ cây cỏ
Mùa đông về trong gió heo may,
Sương dần dần phủ đó đây
Mà vườn xưa vắng dấu giày người xưa.
Trông thấy cảnh thờ ơ với cảnh
Cất bút đề Hiu Quạnh Trời Khuya:
Những từ địa giới phân chia
Sông Gianh thổn thức đôi bờ khóc than !

Canh khuya mưa gió cuối châu thành
Năm Sửu, Mùa Đông, Đỗ Quế Anh
Cuối năm 1949

Thiên Sứ
09-09-2006, 09:41 PM
VỀ ĐÂY

Em khóc mà say một dáng quen
Trong ngàn chiến sĩ có chồng em:
Rừng chiều mở rộng biên khu ấy
Lúc súng ngừng tay, mộng rất hiền…

Về đây, chiều lại qua chiều,
Rừng lau ,bãi sậy đã nhiều nhớ thương!
Đâu rồi cồn lạnh biên cương?
Tiếng cồng vọng giữa Bình Dương mịt mờ…
Ải quan mây trắng lơ thơ ,
Đôi bờ xa , bởi ngọn cờ phân tranh!
Đặt gươm ,ném bút chưa đành,
Vó câu dừng lại kinh thành chiều nay.
Quán đường nửa chén mà say,
Sầu nghiêng thiên hạ, hận đầy non sông.


THU TỬU.
Đưa nhau ngừng ngập dưới ly đình
Những đoạn thơ say khóc viễn tình,
Hãy nhận cho nhau muôn vạn ý
Bốn trời cát bụi, mộng trường chinh.
Gió sao mà lạnh,
................bóng hoa gầy còn nhớ lối Thiên Thai
Nàng đã về đây,
..................đường trăng cũ hãy say tình viễn xứ
Mùa thu ơi ,ai gợi sầu thứ lữ?
Nẻo hoàng thành châu ngọc dựng biên cương.
Hỡi cố nhân lại đây ta dâng rượu
Mặc ngựa hồ cho gã nhớ ngàn phương!
Uống ,uống đi ,những mảnh trăng niên thiếu
Cho say ,say ,vút gió lại lên đường.
Này thù!
Này bạn!
Ồ kiếm!
Ồ thơ!
Rượu ngon rơi ngả sông hồ,
Cố nhân uống nữa! Ơ hờ… say đâu!
Đoàn lữ nhạc hãy cùng ta hợp tấu
Khúc tương phùng để tặng kẻ đường xa.
Ồ, không say!
Mơ kinh thành Phật Thệ ,ánh cung ngà;
Vì lũ mình là những kẻ tài hoa
Hài Hán dạo trên vườn đàn muôn điệu.
Không say đâu.
Ta không say! Ai hiểu?
Đấy xa trường gió thét lộng gươm đao,
Để nhào rơi xương máu ,giữa chiêm bao.
Và ta ngã… Cố nhân! Kìa, cũng ngã?
Ta say đâu? Các anh sao mà đã
Vai rung rung lạnh lẽo tiếng ma cười…
Ai múa gươm trên một lối hoa rơi?
Phải các anh băng mình ra trận địa?
Chân không võ hài,
Vai không giáp trụ
Mà trán lồng hồ bể dáng hiên ngang,
Mắt căm hờn lóe rộn những hào quang!
Rồi ngựa hí.
Rồi quân say.
Rồi đất chuyển.
Rồi máu hồng lần nữa xuống Hàn giang…
Cười đi, vỡ ngọc rơi vàng,
Giậu thưa ngấp nghé, phải chàng văn nhân?
Đêm trước mưa giá ngắt nấm thu phần
Hoa cúc nở, rượu ngon ai một hội?
Lá vẫn rụng!
Quán đường nghe gió nổi,
Gái tha hương, vai nặng ý phong trần!
Ai chờ đợi nơi sông Tần bến Sở ,
Ta chau mày khi lỡ hẹn Giang Châu !
Cuối thu rồi ,mảnh quạt gửi chi nhau ?
Lối trăng rụng ,hài thêu nghe bỡ ngỡ …
Say ,say ,say !
Quanh ta muôn nẻo gió ?
Hay khúc cầm thân thế vọng thiên thâu ?
Bến Ô Giang sóng nước cuốn về đâu ?
Phía Thạch Động nhịp tiêu buồn réo rắt .
Nơi suối trắng ,chốn ngàn xanh hiu hắt
Kẻ mài gươm một tối ngắm sao trời .
Ôi quốc hờn chủng tộc lệ đầy vơi
Hát rằng :máu đổ nhiểu rồi
Ta yêu ngọn cỏ,rặng đồi của ta ;
Lúa vàng cửa ải xót xa
Người dân còn ngã?Thép?À còn đây !
Yêu Ly hỡi ! Chàng không say nhạc tấu
Của Ngô Triều, nơi gấm lụa vàng son;
Chàng đã về ,về mãi với hoàng hôn …
Này cố nhân !Ngự viên nghe thổn thức
Phải phi tần đêm lạnh oán quân vương ?
Xuống thuyền ,ngoảnh lại Liêu Dương
Một trời lá rụng ,hai hàng lệ sa…
Vào thu ta nhớ nàng Tây Tử
Giũ lụa chiều chiều bến Trữ La
Đêm ấy trăng lên vời vợi sáng
Đường Minh Hoàng thơ thẩn ngắm Thường Nga
Bâng khuâng khoé mắt
Hờ hững tay ngà,
Cung Hồ dìu dặt
Chiêu Quân buồn nhớ lúc bước chân ra !
Tầm Dương bến cũ trong lau lách
Nửa mái thuyền bồng mấy nhịp ca.
Người xuống ngựa … nhìn đôi khóe hạnh,
Kẻ ôm đàn… che nửa mày hoa.
Lệ rơi hòa tiệc ngọc
Sầu phổ khúc Tỳ Bà !
Một lưỡi gươm thần quên Dịch Thủy
Ngàn sau mãi mãi nhớ Kinh Kha.
Mười năm áo vải tình thiên hạ
Ai xót triều Lê khóc nước nhà?
Trăng xuống dòng thu trời Xích Bích
Đò ơi !Đâu bóng gã Đông Pha?
Huyền Trân đêm vắng sầu ly quốc
Năm xứ Hời nghe lá rụng sương sa !
Má phấn sinh nhằm ngày loạn lạc
Tuổi xanh chưa trắng nợ can qua…
Say !
.........Say !
.................Say !
Ta say tình vạn thuở
Bóng ai gần,
...............ly rượu ánh trăng tan.
Ngân Giang nữ sĩ

Thiên Sứ
13-09-2006, 11:32 PM
LƯU , NGUYỄN VÀO THIÊN THAI

I – LƯU , NGUYỄN VÀO NÚI THIÊN THAI
Lần theo đường đá tới Thiên Thai
Cỏ lặng mây êm sạch bụi đời,
Ráng khói lãng quên câu chuyện trước
Núi rừng những ngỡ giấc mơ thôi,
Dưới trăng vẳng tiếng gà xa gáy
Trong động xuân chừng chó sủa chơi
Chẳng rõ xứ này đâu ấy nhỉ
Chủ nhân vườn hạnh biết là ai ?
Thiên Thai đường đá men lần
Mây êm cỏ lặng bụi trần không vương,
Ráng in khói tỏa mơ màng
Việc mình quên hẳn , ngỡ ngàng chiêm bao,
Canh gà dưới nguyệt xôn xao
Động xuân tiếng chó nơi nào mau thưa
Đất này xứ lạ bơ vơ
Chủ nhân vườn hạnh bây giờ hỏi ai ?

II – LƯU , NGUYỄN GẶP TIÊN Ở TRONG ĐỘNG
Biêng biếc ngàn cây lẫn sắc trời
Hang khe sương khói tỏa chơi vơi
Mây giăng đầu núi chim không đậu
Suối chảy lưng ghềnh ngỡ nhạc rơi,
Riêng động cát xanh trời đất thẳm
Bên hàng cây đỏ tháng năm dài,
Trong hoa ước có người ra đón
Để chó nhà tiên khỏi sủa người.
Trời xanh cây biếc trập trùng
Lối vào cửa động mịt mùng khói sương ,
Chim vắng bóng , mây đầy hang
Suối reo tiếng sắt tiếng vàng rơi rơi ,
Cát xanh động biếc riêng trời
Bên hàng cây đỏ những dài tháng năm,
Trong hoa ai đấy ra chăng ?
Giữ sao chó khỏi sủa nhằm chàng Lưu .

III – NÀNG TIÊN TIỄN LƯU , NGUYỄN RA KHỎI ĐỘNG
Aân cần ra khỏi lối Thiên Thai
Tiên cảnh khôn mong trở lại rồi,
Chén rượu ngày về nên gắn uống
Phong thư khi rảnh chớ thường coi.
Hoa nương cửa động hoa thơm mãi
Nước xuống trần gian nước cứ trôi
Theo tiễn bâng khuâng bên suối lạnh
Rêu ngàn non quạnh bóng trăng soi .
Aân cần nâng chén tiễn đưa
Thiên Thai thôi chẳng bao giờ thấy đâu,
Rượu thơm gượng uống khuây sầu
Khi không sách quý chớ hầu mở xem,
Động đào thơm mãi hoa tiên
Xuống trần nước chảy triền miên không về,
Ngại ngùng tiễn bạn đầu khê
Từ đây cửa động trăng khuya lạnh lùng !

IV – NÀNG TIÊN TRONG ĐỘNG NHỚ LƯU , NGUYỄN
Bặt khúc nghê thường nhạc lứùa đôi
Mộng trần nào biết mộng tiên dài ,
Trời riêng vòm động xuân thanh vắng
Lối cách đường đời nguyệt rõi soi,
Bên lạch cỏ nghiêng chen cát lắng
Giữa dòng nước chảy ngát hoa trôi ,
Chập chờn đèn gió hơi sương sớm
Thôi kiếp này không được thấy người .
Nghê thường đã bặt tiếng tơ
Mộng trần nào có bao giờ dài lâu,
Hang xuân vắng vẻ canh thâu
Nhân gian thăm thẳm , trăng sầu mông mênh.
Ơû đây ngọc cát , cỏ ghềnh
Hoa đào nước suối lênh đênh hương trời,
Chập chờn đèn gió sương mai
Kiếp này thôi đã cách vời chàng Lưu .

V – LƯU , NGUYỄN TRỞ LẠI THIÊN THAI KHÔNG GẶP TIÊN NỮA
Hai chàng trở lại chốn Thiên Thai
Đá trắng rêu xanh bụi phủ rồi ,
Động bặt tiếng tơ lời hát vắng
Xóm đâu chim hạc bóng mây trôi ,
Cỏ cây thuở ấy không như trước
Ráng khói xuân chừng cũng nhạt phai ,
Chỉ thấy suối hoa nguyên cảnh cũ
Bây giờ rượu chuốc hỏi nào ai ?
Tìm nàng trở lại Thiên Thai
Rêu mờ lối cũ , đá phơi bụi trần
Hang sâu đã bặt tiếng ngân
Láng giềng đâu mất , hạc thần bơ vơ,
Cỏ cây thôi chẳng như xưa
Mà sương khói cũng vật vờ buồn tênh !
Đào hoa vẫn ngát khe ghềnh
Còn đâu bạn cũ mời mình rượu ngon ?

Ngân Giang Nữ sĩ

Thiên Sứ
13-09-2006, 11:37 PM
KHI GIÓ HEO MAY VỀ
Mây trắng lang thang mãi cuối trời
Gió chiều heo hút khắp nơi nơi,
Cung đàn biết mấy dây chùng hẳn
Mái tóc bao nhiêu sợi lạnh rồi !
Chốn ấy tờ hoa đành lẻ ý
Mùa này chim nhạn có chung đôi ?
Thương thay trên quãng đường chia ngả
Thì ngả nào không có lá rơi !…

CHIỀU THU
Cây bàng đã rụng lá bàng
Cổng nhà ai đấy , có nàng nhìn xa…
Giàn hồng gió tạt là là …
Tóc nàng vướng mấy cánh hoa sang mùa ;
Bên trời bầy én lưa thưa ,
Mây chiều bát ngát…mơ hồ…xa xôi…
Tiều phu gánh củi lên đồi ,
Chuông chùa gần đấy gióng hồi thu không !
Quán đường heo hút lạnh lùng,
Có người khép cửa thư phòng ngâm thơ.

TRÔNG ĐỢI
Gió mưa sao chẳng đến tìm nhau ?
Nỡ để sông Ngân lạnh nhịp cầu !
Lận đận ví thương tình bốn bể,
Não nùng ngoảnh lại một trời thâu ;
Ôi hoa rơi xuống lòng riêng hận
Mà gió bay lên khách bỗng sầu .
Thuyền dẫu có đi không tính lại
Lặng nhìn nước chảy , chảy về đâu ?

Ngân Giang Nữ sĩ

Thiên Sứ
13-09-2006, 11:42 PM
THÔN LẠ ĐÊM TRĂNG

Tôi trở về đây với tịch liêu
Hoa vàng nở muộn , gió hiu hiu
Ngõ đầy lá rụng , sân rêu nhạt
Giậu trúc lưa thưa giắt bóng chiều.
Ngoảnh lại kinh thành tràn khói lửa
Chim dồn tiếng oán khóc nhà ai ?
Mây buồn không định , bay phơ phất
Mà gió tha hương cũng thở dài .
Bến vắng trông vời thêm nỗi vắng
Thuyền ai vội vội trở về đâu ?
Sông xa bọt nước bao nên nổi
Tàu ngược còi đêm , rợn nhịp cầu .

Tôi biết giờ này muôn tiếng khóc
Trong muôn lặng lẽ của người đi,
Trong muôn thao thức , muôn tan hợp
Giữa bốn phương mờ bóng lọan ly.
Chiều lại chiều , rồi đêm lại đêm
Buồn nghe lá rụng gió lay rèm ,
Trăng cài vách lạ nơi thôn lạ
Văng vẳng canh gà trở gối êm…
Nào phải điền viên vui tuế nguyệt
Hay lòng ẩn sĩ chán công danh,
Máu loang hoa gấm , đau thời thế
Về mải chăn tằm dưới mái tranh .
Gió hắt mưa phùn tươi khóm cúc
Hoa bừng cánh trắng đẹp vườn chanh ;
Trong thôn rộn rã người qua lại
Chạnh nghĩ bâng khuâng … hận nỗi mình.
Sự ngiệp chưa thành , thân lận đận
Tình nhà buộc mãi chí bôn ba,
Nét thơ chưa ráo dòng ly hận
Đã vội sang mùa cúc nở hoa !

HƯƠNG QUÊ
Chiều về lòng thấy hoang mang
Buồn trông mấy đám mây vàng mênh mông.
Nơi đây khuất nẻo bụi hồng
Hương Sơn một dải trập trùng bao la …
Nơi đây đồng vắng thôn xa
Mái tranh lẫn bóng tre già sớm khuya .
Nén lòng quên hết biệt ly
Đường muôn dặm ấy , đi , về là ai ?
Từng phen bặt tiếng thở dài,
Từng phen gượng những nụ cười héo hon.
Lạnh lùng với áng vàng son,
Đắm say với rặng tre cồn hắt hiu.
Lòng mơ tiếng cửi dặt diù ,
Đôi bàn tay nhỏ chiều chiều gieo thoi.
“Đường đi ra tỉnh xa xôi
Ai ra mà gửi mấy lời thơ quê !”
Lối xưa man mác dặm hoè
Bóng dâu chưa xế , hoa lê đã tàn.
Bốn phương gấm lỡ vàng tan,
Trường đình còn vẳng cung đàn tiễn đưa…
Về đây nhặt những ngày thừa
Đã mòn con mắt trông chờ âm hao !
Đêm đêm má lệ hoen đào,
Mái đầu vương sáng ngàn sao rọi trời .
Dám đâu nói chuyện sắc tài
Những buồn thân thế , nên ngồi chép thơ.
Sông Ngân lạnh cả đôi bờ
Cầu Ô ai bắt mà chờ ai sang ?
Nhắc làm gì hẹn Liêu Dương,
Hai đường tơ mảnh , một tràng áo xanh.
Hoa lan rụng trắng sân đình
Chiều nay không nhớ thị thành nữa đâu !
Nhặt hoa toan giắt mái đầu ,
Mây vàng lớp lớp gợi sầu xa xôi…

Ngân Giang Nữ sĩ

Thiên Sứ
30-10-2006, 12:25 AM
Tự họa bài
MỘT PHƯƠNG TRỜI ẤY

Đã đành cuộc thế sắc là không
Non nước còn chăng – một tấm lòng .
Thưở ấy thơ vừa gieo mấy vận
Hiên nào hoa đã rụng từng bông ;
Sách đèn chung bóng tình khôn hẹn
Mây nước đôi nơi ý vẫn nồng .
Hãy tới gốc đào nâng chén rượu
Đừng chờ , đừng đợi chút ân mông .

Nghiên bút bao giờ lại gặp nhau
Dù không mến tự lúc ban đầu ,
Chép thơ muôn nét trao người ấy
Ngắt đóa hoa ngàn gửi gió thâu !
Trời đất âm thầm khi xuống núi
Nắng mưa lận đận lúc sang cầu .
Não nùng tâm sự qua năm tháng
Khôn giãi cùng ai nỗi trước sau.

Chuyện cũ đành như dĩ vàng rồi
Trăm phần nào có một phần tươi !
Ngày đi chưa hết năm còn đứng
Bút chửa thành thơ , lệ đã rơi …
Mây chập chừng bay trời nhớ gió
Đò ngơ ngác chuyến , bạn chờ ai ?
Núi sông mãi phụ đời thư kiếm
Sầu khó tan mà hận khó vơi .

Từ độ hoa còn ủ ấp hương
Sắc tài hồ dễ mấy ai đương !
Một cười , trăng nước như nghiêng ngã
Thoáng bóng , sông hồ bỗng nhớ thương ;
Những cánh bướm hồng bay trước ngõ
Có phong thư đẹp mở bên đường.
Nhưng thôi , uổng cả tài Ban , Tạ
Ngày bước chân ra , ấy hận trường.

Người xưa ví chẳng ham thành lũy
Sao nỡ đem trao ngọc họ Hòa ?
Nhạc lửng lơ chìm … ngơ ngẩn bóng
Gió ào ạt thổi … vật vờ hoa!
Mười lăm thành ấy dù khôn đổi
Một tấm lòng này há ngại xa .
Kim cổ tài tình bao thống hận
Lênh dênh mấy độ sống không nhà .

Gió nỗi trong khuya những tiếng lòng
Cung đàn chưa dứt tiếng sao bong ?
Thấy như bến Hán bao nhiêu bến
Ai biết dòng Thương có mấy dòng ?
Lác đác hoa rơi về cuối xóm
Aøo ào mưa xuống phía bên sông !
Thanh âm như vọng niềm thân thế
Còn ngỡ đêm dài bản nhạc thông .

Rồi sau hôm ấy chia tay bạn
Một bước bâng khuâng , một bước nhìn .
Chiều xuống ngập ngừng đôi hướng gió
Người về lẽo đẽo một niềm tin;
Chuyện trao ngọc bích ai dù nhớ
Ta gửi tâm thư, bạn hãy gìn !
Ngõ vắng đêm tà còn lững thững
Trăng cài giếng nước bóng hoa in .

Giăng mắc tâm tư chừng khó hiểu :
Cái điều muốn tránh lại là mong!
Cung Hời sương phủ bao đêm lạnh
Đất Việt hoa bay một đóa hồng ;
Rồi có khi nao về bến Hán
Cũng đừng quên đấy , khách non Nùng !
Ôi , chiều thương nhớ , chiều thao thức
Ánh nến vơi đầy giọt lệ đong.

Thân mình chưa ổn , còn thân nước :
Một nửa buồn và một nửa vui!
Đất Bắc nơi nơi cành liễu rủ
Trời Nam đây đó nắm xương vùi !
Đây cung hợp tấu tưng bừng nỗi
Mà lệ oan thù lặng lẽ rơi …
Đêm xuống , bút thề đang xuống chữ
Tâm tư , ý nguyện dễ bày phơi?

Nước non chung lòng ngày giao hội
Người có bao giờ nhớ đến ta ?
Hương gió chơi vơi , hương để lộng
Bốn mùa rực rỡ , bốn mùa hoa .
Nghiêng bình rượu quý trao ai đấy ?
Thảo bức thư hồng gửi bạn xa !
Nâng chén trà thơm qua vũ nhạc
Trời xuân đầm ấm , nắng chưa tà.
1963
Ngân Giang nữ sĩ

khanhchan
30-11-2006, 11:38 PM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 align=center border=0><TBODY><TR><TD class=contents>Người xưa
</TD></TR><TR><TD class=contents>Nguyễn Khánh Chân (http://trinhnu.net/n/nguyenkhanhchan/index.php) </TD></TR><TR><TD class=contents>


Người xưa đã trở lại vườn hồng
Một thoáng ngỡ ngàng lẫn ngóng trông
Hải ngoại ai đi từ dạo ấy
Quê nhà ta đợi đến tàn đông
Sương sa đỉnh núi mờ biên ải
Sầu khỏa đáy lòng vọng cố hương
Lặng lẽ chiều nao lời tiễn biệt
Bâng khuâng tấc dạ mộng tương phùng

</TD></TR></TBODY></TABLE>

bcbc
11-07-2007, 07:51 PM
Tâm trạng cá thể trong thơ Đường luật Ngân Giang



Ngân Giang (1916 - 2002), nữ sĩ quê ở thôn Hướng Dương, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, được coi là nữ hoàng của thơ Đường luật vì trong ngót 4.000 bài thơ bà để lại thì đa phần là thơ Đường luật.





Thơ Đường luật vốn là thể thơ được sử dụng nhiều nhất trong thơ trung đại, nền thơ đã sản sinh ra nhiều thi tài kiệt xuất ở Trung Quốc, Việt Nam... Đó cũng là nền thơ có thi pháp riêng được quy định bởi vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan và thẩm mỹ quan của thời đại phong kiến Á Đông. Thi pháp đó có nhiều đặc điểm như sự tôn sùng thiên nhiên, tính quy phạm, tính ước lệ, tính phi dân chủ và tính phi ngã.





Trong các đặc điểm trên thì tính phi ngã gây nhiều tranh cãi nhất. Trong thời trung đại, ý thức cá nhân, do nhiều lý do xã hội và triết học, còn chưa phát triển, cái tôi của nhà thơ chưa được bộc lộ và khẳng định một cách quyết liệt. Tuy nhiên do đặc trưng của thơ, “sự thống nhất giữa cuộc đời nhà thơ và cái tôi trữ tình trong sáng tác là một hiện tượng khá phổ biến với thơ”[1 (http://evan.com.vn/News/phe-binh/phe-binh/2006/10/3B9AD40E/#061030092329_01)] và tất nhiên cùng đi với cái tôi trữ tình ấy là cá tính sáng tạo của nhà thơ biểu hiện trong phong cách, hình thức nghệ thuật.





Tất nhiên những biểu hiện của cái tôi trong thơ trữ tình trung đại còn bị hạn chế bởi chính ý thức của nhà thơ và chịu sự ràng buộc, gò bó của hình thức thơ, trong đó có các phương tiện hình thức như kết cấu, niêm luật, cấu trúc ngôn ngữ...





Thời đại thay đổi, thơ và thi pháp cũng thay đổi theo, ý thức cá nhân và cái tôi trữ tình thời hiện đại đòi hỏi phải phá vỡ thi pháp cũ, hình thức cũ. Tuy nhiên, có một số nhà thơ thời hiện đại vẫn cứ dùng phương tiện hình thức cũ của thơ Trung đại (thơ luật Đường) để sáng tác thơ. Vậy phương tiện hình thức thơ cũ ấy có hạn chế họ biểu hiện những tư tưởng tình cảm mới, có ràng buộc sự bộc lộ của cái tôi thi sĩ (cái tôi đời tư và cá tính sáng tạo) không? Đó là điều mà các nhà nghiên cứu phê bình văn học và cả những người thưởng thức thơ đã đặt ra và đã giải đáp được phần nào.







Không hề khiên cưỡng khi Hoài Thanh, Hoài Chân xếp Quách Tấn vào làng thơ mới và chọn tới 9 bài thơ (6 Đường luật thất ngôn bát cú và 2 tứ tuyệt) đưa vào tuyển tập Thi nhân Việt Nam, chỉ đứng sau Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư về số lượng bài, hơn cả người mở đầu thơ mới Thế Lữ. Như vậy nhà thơ đường luật Quách Tấn đích thực là nhà thơ mới mà đã là thơ mới, hẳn thi pháp của ông phải là thi pháp mới, nghĩa là cũng in đậm cái tôi. Nhà thơ Ngân Giang vì lý do nào đó chưa có mặt trong Thi nhân Việt Nam. Nhưng nay đọc gần 30 bài thơ của Ngân Giang sáng tác trước 1945 trong tập Lấp lánh sông trời, ta thấy có thể đem lời nhận xét của Hoài Thanh về Quách Tấn vận dụng vào thơ Ngân Giang: “(Người) đã tìm được những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấm thía. Người đã thoát hẳn lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ”.








Thật vậy, ngay từ bài thơ đầu tiên của Tuyển tập Ngân Giang, sáng tác năm 1936, tôi đã thấy một nét rất riêng của đời tư nữ thi sĩ được đưa vào thơ một cách tự nhiên, chân thật: “Con lên hai, mẹ hai mươi/ Ngơ ngác buồn tênh giữa cuộc đời/ Gió táp, mưa lầm... ôi gió lạnh/ Đường về biết sẽ hỏi thăm ai?” (Đường về), rồi Lỡ hận (1939): “Có những đêm trăng, những buổi chiều/ Vách mờ in bóng chiếc xiêu xiêu”. Rồi Đợi tuy còn một số từ, một số câu ước lệ như: “Sợi tơ gẩy mãi rung cầm lạnh”, nhưng câu kết đã là một tứ thơ, một tâm thế trữ tình có nét riêng và nghệ thuật có sáng tạo riêng. “Ngoài thềm lạnh lẽo chim lên tiếng/ Vội kéo rèm hoa xuống nửa vời”. Kéo rèm hoa xuống nửa vời vì nửa muốn nghe tiếng chim biểu hiện của sự sống, nửa không muốn nghe vì tiếng chim như gợi nỗi cô đơn... Bài Khi gió heo may về có thể coi là một ví dụ về “bình cũ rượu mới”: “Chiều ấy tờ hoa đành lẻ ý/ Mùa này chim nhạn có chung đôi”.





Tờ hoa, chim nhạn là những hình ảnh cũ nhưng “lẻ ý, lẻ đôi” là tình thực, cảnh thực của hai con người. Bài Tâm trạng thì hoàn toàn mới cả ý lẫn lời “ngày chưa sang thu đã thấy buồn/ Tình chưa ngời sáng đã hoàng hôn”. Có những bài viết về nhân vật lịch sử mà cũng có tâm trạng cá thể, tâm trạng của chính nhân vật lịch sử đó đã được “tôi hóa”. Đó là tâm trạng của Trưng Trắc khi thắng giặc, lên ngôi: “Chàng ơi/ Điện ngọc bơ vơ quá/Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi”. Tác giả đã hóa thân vào nhân vật đến mức tạo ra câu thơ rung động lòng người mãnh liệt.




Chẳng thế mà nhà thơ, nhà giáo Đông Hồ khi giảng đến câu này đã xúc động đến đột quỵ! Cả đến Hán Vương trong Vương Tường cũng là một nhân vật ít nhiều có cá tính biểu hiện ở sự rung động trước nhan sắc cùng sự bất hạnh của cung nhân Vương Tường: “Trẫm thấy dường như trăng lạnh lạnh/ Tơ sầu kể lể chuyện hồng nhan/ Thiên tử say nhìn người quốc sắc/ Kiệu vàng ta chậm đón giai nhân”, không chỉ Vương Tường mà cả Hán vương cũng là nhân vật của thơ mới.
Từ Cách mạng tháng 8 trở đi, thơ Ngân Giang có 2 dòng: một dòng trữ tình công dân, một dòng trữ tình đời tư, trong đó dòng đời tư đậm hơn và có quan hệ chút ít, ở những mức độ khác nhau, với dòng công dân.




Chính đặc điểm này làm cho thơ Đường luật của Ngân Giang không rơi vào tình trạng hòa tan mất cái tôi (dĩ nhiên với những bài thơ công dân thành công trong thơ 1945 - 1975, cái tôi nhà thơ cũng hòa vào cái ta công dân mà không mất đi, nhưng đó là với những bài thành công còn ở những bài không thành công, người ta chỉ thấy cái ta chung chung, khái niệm, thuần lý trí, đặc biệt ở những bài mà tác giả của nó dùng thể thơ cũ Đường luật thì sự thiếu cá tính, thiếu tâm trạng cá thể càng lộ rõ trong những khuôn ngôn ngữ sáo mòn). Ngân Giang không rơi vào tình trạng đó trong những bài thơ công dân như những lời chào cách mạng. Ví dụ Kính dâng các bậc anh hùng dân tộc mở đầu là sự phá cách: “Ta say uy vũ Trần Hưng Đạo/ Ta say sự nghiệp Hồ Chí Minh” và câu kết là dấu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai: “Mấy thuở không phai hồn chủng tộc/ Muôn năm cờ đỏ dựng thanh bình”. Tuy nhiên, sòng phẳng mà nói thơ trữ tình chính trị của Ngân Giang còn ít và không mới. Bài Xuân chiến địa có tình, nhưng lãng mạn quá, thơ mộng quá như phủ một màn trướng văn hóa tráng sĩ xưa lên cuộc kháng chiến và người chiến sĩ vệ quốc.





Bài Khuya 1 cũng chưa theo kịp hiện thực sôi động quyết liệt của năm 1965. Những bài hướng về kháng chiến, Ngân Giang viết trong thành, lại hay hơn, thực hơn, có dư ba hơn: “Gác hẹp mơ màng tin quốc sự/ Ngày về mãi mãi nhớ lời nhau/... Ai lên xứ Bắc cho ta nhắc/ Những mảnh trăng vàng theo vó câu” (Gác hẹp).





Đặc biệt bài An phận bộc lộ nỗi lòng của một người bị buộc phải tạm thu mình lại đợi thời. Ta hiểu vì sao tác giả lại phải dùng ẩn dụ: “Cá xám thu vây chờ vượt sóng/ Rồng vàng uốn khúc đợi tung mây/ Sống giữa lòng đêm tìm khối sáng/ Tim sầu nào biết gửi ai đây”... Tâm trạng chủ thể trữ tình được cá thể hóa đến cao độ: “Một vùng đất cũ say mà tỉnh/ Năm ngả thành xưa tỉnh mà say”.
Hình thức, ngôn từ cũ có khi lại trở thành bức màn nghi trang cho những tư tưởng thực của tác giả lúc này đang ở trong lòng địch: “Một lại kinh kỳ vương quốc hận/ Giữa chiều hoang phế nhớ xa xôi/ Xa xôi ai có nhớ ai không? Xứ Bắc chiều nay chắc lạnh lùng?/ Canh vắng thép rung hồn Chiến quốc/ Đường khuya trăng dõi bóng anh hùng” (Mùa thương nhớ).





Những bài thơ đời tư của Ngân Giang nhiều bài rất chân thực, quá thực đến mức tác giả dùng lời nói trần: “Càng thương phận mỏng, thương em dại/ Lại xót con thơ, xót mẹ già” (Tình vạn dặm) hoặc: “Hỡi ơi, sinh kế từ muôn thuở/ Buộc chết nhân tài đến thế ư!” (Thân thế) và khi tác giả nói cụ thể hơn thì ta không thể cầm lòng được: “Mẹ theo chồng mới, cười như mếu/ Con nhớ cha xưa, khóc ngỡ đùa/ Mẹ con ngơ ngác lặng nhìn nhau/ Khung thêu, chỉ hết, tiền không có/ Giường mọt, nan thưa, ruột bỗng rầu” (Cùng đường). Đây là những câu thơ hiện thực nhất, đời nhất, riêng nhất trong thơ Đường luật Ngân Giang. Nó khẳng định tính vạn năng, tính linh hoạt của chính thể thơ quy phạm này trong tay người thơ tài hoa. Tuy nhiên ở một số bài, một số câu, cái thực chưa cất cánh được (Thơ trả nợ, Cùng đường). Ta vẫn thích hơn những câu bóng gió, Đường hơn mà không kém se lòng: “Cơm áo không thương đời bút mực/ Nắng mưa để táp đóa hoa mai/ Niềm tin còn chút duyên văn ấy/ Nghe khói trầm bay ấm dấu hài”.





Thơ Đường luật thất ngôn bát cú là thể thơ khó làm nhất mà vào tay Ngân Giang bỗng trở nên “dễ dàng” như bất cứ thể thơ nào khác, thì tất nhiên càng dễ dàng hơn với Ngân Giang, các bài thơ dài gồm nhiều khổ 4 câu thất ngôn. Điều này ta đã gặp trong Xuân chiến địa (1946) sau lại gặp trong Ướm hỏi: “Lành lạnh bên sông một quán nghèo. Đèn lay dáng trúc gió hiu hiu/ Hướng dương trà vẫn thơm như cũ/ Khóa tỏa tương tư đượm ít nhiều? Nào ai hay biết quên là khó/ Chợt gặp lời thơ lại khó quên.../ Nửa kiếp tìm quê vẫn gió mưa/ Quán chiều, bến trúc hỏi đường xưa”. Đó là tình cảm của Ngân Giang đối với bạn, một chủ đề thấm đượm nhiều vần thơ của Ngân Giang, ngay cả trong những lúc khó khăn nhất.








Sẽ là thiếu sót nếu không nói tới một tình cảm thiết tha trong thơ Ngân Giang cho đến phút cuối đời, đó là tình cảm đối với quê hương Hướng Dương, Thường Tín, Hà Tây mà hơn một lần bà đã nói đến trong thơ ở đó có cái quán trà nhỏ cũng là nơi tụ họp bạn muôn phương. Trong chùm thơ 10 bài họa thơ của một bạn thơ Việt kiều đã có 3 bài nói về quê hương Hướng Dương của mình: “Tôi ở Hà Tây quê Hướng Dương/ Là nơi dừng bước của muôn phương/ Sánh với thiên nhiên trăm vẻ đẹp/ Góp cùng sông núi vạn mùa hương/ Quanh vùng làng mạc xa thành thị/Ga Vũ Lăng xưa liễu rợp đường”. Tình yêu quê hương đất nước trong sự chia sẻ với người thơ xa xứ càng tràn chảy thành thơ.





Bài viết đã dài mà nguồn văn chưa muốn ngừng bởi con đang day dứt một nỗi tiếc: người nữ sĩ tài hoa ấy có thể lớn hơn nếu có một đời riêng thuận chiều hơn và được sự quan tâm nhiều hơn của cộng đồng - cộng đồng xã hội, cộng đồng thơ . Nhưng tất cả đã qua rồi, chỉ có thơ còn lại và thơ tự nó có một sự sống tự thân, sự sống trường tồn bởi nó chính là tiếng lòng của một con người yêu nước, yêu quê hương, con người ấy đã đi hết bản thân mình và đã gặp đồng loại.





Người thơ ấy, tài thơ ấy đã bất chấp tất cả, bất chấp sự éo leo của số phận phức tạp của tình thế, và bất chấp cả sự bó buộc, sự quá thời của phương tiện hình thức để cho ta những bài thơ, những câu thơ tuyệt tác. Nàng thơ khoác tấm áo của quá khứ vẫn đồng hành với hiện tại và tương lai.





9/9/2006 - Đặng Hiển



[1] Nguyễn Hữu Sơn - vấn đề con người cá nhân trong VH cổ nhìn từ góc độ lý thuyết. Sách: "Về con người cá nhân trong VH cổ Việt Nam: - Nhiều tác giả - NXB Giáo dục 1997.

bcbc
11-07-2007, 07:53 PM
Hội thảo khoa học về thơ của nữ thi sĩ Ngân Giang


Sáng 30.06.2007 , tại lễ đường nhà Thái học Văn miếu Quốc Tử Giám, Hội thảo khoa học giới thiệu thân thế sự nghiệp thơ văn của cố thi sĩ Ngân Giang đã diễn ra long trọng và tràn đầy tình cảm.



<table align="right" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="1"><tbody><tr><td>http://www.toquoc.gov.vn/chuyenmuc/vanhocquenha/images/News/20070702YBWM215.jpg</td></tr><tr><td align="center">Khung cảnh buổi hội thảo</td></tr></tbody></table>Tới dự có các GS.TS, các nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, các bậc cao niên trong làng thơ Đường Việt Nam và các bạn yêu thơ Đường nói chung và yêu thơ của nữ thi sĩ Ngân Giang nói riêng.



Ban Tổ chức đã được nhận được hơn 60 bài tham luận của các danh sĩ, nhiều nhất từ trước tới nay. Các bài tham luận tập trung vào bốn chủ đề chính là nội dung, nghệ thuật, thể tài và hoài niệm trong thơ Ngân Giang.



Hội thảo bắt đầu bằng lễ dâng hương, tưởng nhớ cố nữ sĩ. Sau lễ dâng hương, đúng lúc Ban tổ chức tuyên bố bắt đầu hội thảo thì trời bắt đầu âm u nổi gió. Và khi đọc bài “Xuân chiến địa” là lúc trời đất rùng mình đem đến một cơn gió lạnh như thể hồn bà đang về cùng nghe. Kết thúc bài thơ này thì những giọt mưa đầu tiên rơi xuống sân rồng của Văn miếu. Không khí, trời đất như hòa với lòng người, tình thơ cùng tưởng nhớ về người nữ sĩ tài danh.

<table align="left" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="1"><tbody><tr><td>http://www.toquoc.gov.vn/chuyenmuc/vanhocquenha/images/News/20070702UBGO219.jpg</td></tr><tr><td align="center">Các nhà văn nhà thơ dâng hương tưởng nhớ cố nữ sĩ</td></tr></tbody></table>Cố thi sĩ Ngân Giang tên thật là Đỗ Thị Quế, sinh và mất tại Hà Nội. Bà đã để lại cho kho tàng văn hóa Việt Nam trên 4000 bài thơ và được coi là nữ hoàng của thơ Đường. Trong thơ bà, từ đối từ, ý đối ý, hình đối hình, nổi lên nét hào hoa của người nghệ sĩ. Đọc thơ Ngân Giang, ta thấy tâm hồn mình như trẻ lại, thoáng đãng hơn.



Ngân Giang là một nữ sĩ tài hoa. Từ năm lên 9 tuổi, bà đã có bài Vịnh Kiều và được gọi là “nữ sĩ tí hon”. Đến năm 16 tuổi, tác phẩm Giọt lệ xuân đã đưa bà vào góp mặt các tác gia bề thế. Ngót gần thế kỷ đi qua, bà đã để lại cho thơ Đường Việt Nam một kho tàng quý báu gồm hơn 4000 bài thơ với những Hướng dương, Mây trắng, Xuân chiến địa, Trưng nữ Vương, Mùa thương nhớ, Tiếng vọng sông ngân....còn vang mãi.



“Những ai qua xứ trăng vàng ấy<o:p></o:p>
Có thấy muôn hương dậy trái mùa”.




<o:p></o:p>
Đến tham dự hội thảo, khách thơ đã có cơ hội cùng nhau nhớ lại những dấu mốc chính trong cuộc đời nữ sĩ, cùng nhau nghe lại những bài thơ sống mãi với thời gian và những nhận định về thơ bà.



Mưa càng lúc càng to như để làm dịu đi cái nóng tháng 6, giúp người yêu thơ Ngân Giang được chìm trong một không khí thơ Đường, đắm trong một dòng sông ngân sao lấp lánh.

<table align="right" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="1"><tbody><tr><td>http://www.toquoc.gov.vn/chuyenmuc/vanhocquenha/images/News/20070702AQYQ2418.jpg</td></tr><tr><td align="center">Con gái cả của nữ sĩ ngâm thơ mẹ


</td></tr></tbody></table>Tham gia hội thảo còn có Đoàn nghệ thuật Tiếng vọng sông ngân là một đoàn nghệ thuật của đại gia đình nữ sĩ, gồm em trai của bà là Đỗ Hữu Minh (đàn nguyệt), hai cháu trai Đỗ Hữu Phúc (đàn bầu) và Đỗ Hữu Sơn (đàn nhị), bộ gõ của nhạc sĩ Xuân Hùng, trống văn của nhạc sĩ Xuân Hợp. Đặc biệt, có cả cháu nội của ông Đỗ Hữu Minh là Ngọc Đăng.



Ban Tổ chức đã chọn Nhà thái học, Văn miếu Quốc Tử Giám, nơi được coi là trái tim văn hóa của Việt Nam, như để gợi lại kỷ niệm gắn với bóng cũ, người xưa.



Việc tổ chức hội thảo về Ngân Giang không chỉ là nơi để cùng ngâm thơ, cùng tưởng nhớ về bà mà còn là vì công lao lớn của nữ sĩ với Đường thi. Hơn thế, song hành với thơ ca là những cống hiến của bà với nhiều thành tích trong kháng chiến và cho xã hội. Chính vì thế, Ban tổ chức đã đề nghị nên đặt tên Ngân Giang cho một đường phố hoặc trường học ở Hà Nội.

Hội thảo được tổ chức với sự phối hợp của Hội Di sản Văn hóa Việt Nam, Hội nhà văn Việt Nam, Viện Văn học Việt Nam, Hội nhà văn Hà Nội, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hà Tây, Trung tâm nghiên cứu và phát triển văn hóa Lạc Việt, CLB UNESCO Thơ Đường, Hội đồng hương huyện Thường Tín cùng những người con trong gia đình cố thi sĩ. Đây là một trong nhiều hoạt động nhân kỷ niệm 5 năm ngày mất của bà (2002-2007), được coi là một cách để gìn giữ kho tàng văn học thơ Đường quý giá của một tài hoa đất Việt.



Tiếp sau hội thảo này, Trung tâm nghiên cứu và phát triển văn hóa Lạc Việt phối hợp với CLB UNESCO thơ Đường Việt Nam và Đoàn nghệ thuật Tiếng vọng Sông ngân cùng tổ chức một chương trình thơ - vũ - nhạc tại Nhà hát Chèo Hà Nội. Chương trình sẽ diễn ra ngày 2/7 tới nhằm giới thiệu những thi phẩm nổi tiếng và những ca khúc được phổ từ thơ của cố nữ sĩ Ngân Giang.



Các bạn yêu thơ Ngân Giang và thơ Đường nói chung sẽ lại có một buổi tối đắm mình trong những “dòng sông ngân sao trời lấp lánh”.




theo BẠCH DƯƠNG - Van Hoc que nha

Thiên Sứ
25-07-2007, 07:40 AM
Trích đoạn:
BẢN THAM LUẬN CỦA THIÊN SỨ ĐỌC TRONG HỘI THẢO KHOA HỌC VỀ THƠ NGÂN GIANG.
*
..."Trong 4 khổ thơ đầu, người cảm thụ thơ đã thấy tài hoa của Nữ Sĩ Ngân Giang qua những hình tượng đối nhau tưởng như không thể dung hòa khi đặt cạnh nhau, nhưng chúng lại hòa vào nhau một cách nhuần nhuyễn, tài hoa: Đó chính là những hình ảnh của chiến tranh sắt máu, sự đau thương, lòng tự hào và bất khuất của dân tộc Việt, bên cảnh vẻ đẹp, kiêu sa đài các của người nhi nữ với tình yêu con người. Vượt trội lên hoàn cảnh lịch sử đau thương đó, là tính chính nghĩa và chất nhân bản của cuộc kháng chiến, được thể hiện qua những hình tượng miêu tả nỗi đau riêng của Bà Trưng Trắc – Người anh hùng liệt nữ đầu tiên trong sử Việt và cả nhân loại. Trong bài thơ Trưng Nữ Vương của Nữ sĩ Ngân Giang, thì 4 khổ thơ đầu chỉ là sự chuẩn bị cho khổ thơ tứ tuyệt cuối cùng và cũng là đoạn kết để đưa bài thơ vào cõi bất tử trong nền thi ca Việt.
Có thể nói rằng chỉ đến khổ thơ thứ 5 thì sự thăng hoa của một tài hoa thơ, cùng với những gía trị nhân bản và tình yêu con người mới lên đến tận cùng. Tính minh triết sâu sắc qua hình tượng đặc thù của nghệ thuật thi ca cũng thể hiện một cách rất sắc sảo ở khổ thơ này.

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng, khăn trở lạnh đầu voi,

Chỉ với hai câu thơ với hình tượng thật là đắt giá. Ngựa vốn là loại động vật vô ý thức mà phải “kinh vó” trước uy danh và chiến công hiển hách của Hai Bà, đủ thấy được sự tàn khốc và sự thành công của cuộc kháng chiến do Hai Bà lãnh đạo. Nhưng trong cái uy dũng chung của cả một dân tộc thì vẫn ẩn chứa nỗi thương đau rất nhân bản và một mục đích chính nghĩa của cuộc kháng chiến– thông qua hình tương bi thương rất riêng của Bà Trưng Trắc:

Giáp vàng, khăn trở lạnh đầu voi,

Tài tình quá! Chỉ một câu thơ và chỉ bằng hình tượng, đã không thể trộn lẫn hình ảnh một liệt nữ anh hùng nào trong lịch sử thế giới. Vì đó chính là hình tượng đặc trưng của Hai Bà Trưng. Sự bi thương đến mức “lạnh” cả đầu voi thì thật là một từ rất đắt và không thể thay thế. Với hai câu thơ này – qua hình tượng song đối “voi”, “ngựa” - thì sự hào hùng bi tráng không chỉ dừng lại ở hành vi con người mà đã lan đến cả cõi vô tri.
*

Cả bài thơ đã là sự tuyệt vời trong thi ca Việt. Nhưng chính hai câu kết mới là nguyên nhân để bài thơ Trưng Nữ Vương đi vào cõi bất tử của thi ca Việt Nam. Chính hai câu kết mới để tất cả mọi diễn biến dồn dập, hoành tráng bi hùng của cuộc kháng chiến Hai Bà Trưng, được miêu tả trong bài thơ trước đó, như hòa nhập với hư vô, vươn đến tận cõi bất tử.

Chàng ơi ! Điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch. Ngôi trời bóng lẻ soi.

Đọc đến hai câu này, những hình tượng khốc liệt, bi tráng trong cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng trong thơ, như đọng lại và nhường cho một không gian khác: Không gian nội tâm của con người. Và chính trong không gian nội tâm này là đoạn kết cho cả bài thơ, là sự thăng hoa của tài hoa và tư duy thơ của Nữ Sĩ Ngân Giang. Ở đây những hình tương đối nhau không chỉ ở đối câu, đối chữ mà còn đối về cả ý, cả tình, cả tư duy và làm nổi bật tính minh triết của nó, ngay trong một câu:

Chàng ơi ! Điện ngọc bơ vơ quá!

Nỗi bơ vơ của con người trong đời sống thế nhân vốn chỉ là lẽ thường tình. Nhưng cái nội tâm “bơ vơ” thường nhân ấy, khi đặt cạnh “Điện Ngọc” – một hình tượng của tột đỉnh phù hoa - thì đó lại là cái nền cao ngất để đưa sự “bơ vơ” lên đến tận cùng không còn nơi bấu víu.

Chàng ơi ! Điện ngọc bơ vơ quá!

Có thể nhận xét rằng: Một câu thơ thuộc hàng huyền thoại thi ca, khi nó miêu tả và cô lập được một trạng thái trừu tượng: Trạng thái tâm tư đau khổ tận cùng của con người.
Nhưng đáp lại trạng thái đau khổ tận cùng đó, thì lại là sự lãnh cảm của ngoại cảnh, qua câu:

Trăng chếch. Ngôi trời bóng lẻ soi.

Cả một không gian mênh mông, im ắng bao trùm lên một hình tượng của quyền lực tối hậu, nhưng bất lực trước khoảng trồng trong không gian nội tâm của tình yêu con người.
Hai câu đối nhau, hòa quyện, tiếp nối liên hoàn với nhau và cùng đưa đến một chủ đích: Sư cô đơn tận cùng trong tâm hồn con người và không tìm được sự đồng cảm. Nhưng tất cả hình tượng trong hai câu này, lại toát lên tính minh triết rất nhân bản, làm nên đoạn kết vô tiền khoáng hậu của bài thơ, để hồn thơ thăng hoa đến tận cõi vĩnh hằng. Đó chính là sự ca ngợi tình yêu con người vượt lên trên tất cả.
“Điện Ngọc” – Đó là đỉnh cao của sự phú túc vật chất mà thế nhân hằng mơ ước. “Ngôi trời” – Đó là quyền lực tối hậu thống trị cõi nhân gian. Nếu như những khổ đau nơi trần thế đến từ tham vọng của chính con người vì quyền lực và của cải – Thì ở đây - Trong thơ Ngân Giang – cụ thể trong bài Trưng Nữ Vương này - ”Điện Ngọc” cũng bơ vơ, “Ngôi Trời” còn lẻ bóng. Ở đây, chính tình yêu con người mới là những gía trị đích thực vượt lên mọi tham vọng của tha nhân. Mà chính quyền lực tối hậu và của cải phù hoa chất ngất ấy, chỉ là cái nền cho tình yêu con người bay bổng trong cõi vĩnh hằng.
Hai câu cuối đề cao tính nhân bản và tình yêu con người, bên cạnh những hình ảnh hào hùng, bi tráng của cuộc chiến, đã làm nên một sức năng qua hình tượng thi ca trở thành một đối trọng của cả bài thơ, khiến bài thơ trở nên bất tử.
Hình ảnh con người bơ vơ bên “Điện Ngọc” và sự vô cảm của ánh trăng suông trong cõi mênh mông vô tận, soi một “ngôi trời” lẻ bóng , như một nét khắc họa tuyệt diệu đến huyền vĩ của nghệ thuật thi ca, khi miêu tả nỗi cô đơn tận cùng và khẳng định tình yêu con người chính là ước vọng cuối cùng cao quý nhất trong kiếp tha nhân.
Cùng với sự hào hùng bi tráng của cuộc kháng chiến Hai Bà Trưng trong sử Việt, vẻ đẹp tuyệt mỹ của bài thơ Trưng Nữ Vương mang đầy tình minh triết và nhân bản về tình yêu con người, sẽ vĩnh viện là ngôi sao sáng lấp lánh trên dòng Ngân Giang. ....

Thiên Sứ

*

TRƯNG NỮ VƯƠNG
Ngân giang nữ sĩ

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi.
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi.

Ngang dọc non sông đường kiếm mã,
Huy hoàng cung điện nếp cân đai.
Bốn phương gió bãi lùa chân ngựa,
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai.

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai !
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi.

Lạc tướng quên đâu lời huyết hận
Non Hồng quét sạch bụi trần ai.
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận,
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời…

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng , khăn trở lạnh đầu voi,
Chàng ơi ! Điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch. Ngôi trời bóng lẻ soi.


Ngân Giang nữ sĩ

Kính thưa quí vị!
Bài thơ Trưng Nữ Vương là một trong những bài thơ hay nhất của nữ sĩ Ngân Giang. Khi bình giảng bài thơ này trên giảng đường đại học Văn Khoa Sài Gòn vào năm 68, giáo sư Đông Hồ đã xúc động và từ trần ngay khi đọc xong hai câu cuối cùng của bài thơ trên. Cái chết vì sự xúc động nghệ thuật của giáo sư Đông Hồ với bài thơ của Nữ sĩ NGân Giang, đã thành một giai thoại nổi tiếng trong lịch sử thơ văn Việt Nam và Thế giới.

ganda
27-07-2007, 06:56 PM
BẠCH ĐẰNG GIANG


Bạch Đằng Giang ! Bạch Đằng Giang !


Máu đỏ quân thù bao giờ tan ?
Kể chi ngựa đá hai lần nhọc
Đây sóng reo vang khúc khải hoàn .




Thuyền giặc liền san sát
Quân ta dáng hiên ngang
Ngọn triều lên cuồn cuộn
Khói sóng tỏa mênh mang …
Nào chiến thuyền của Ô Mã Nhi ,Phàn Tiếp
Nào thuỷ đội của Thái tử Thoát Hoan
Cái uy phong đoàn viễn chinh phương Bắc
Toan trốn ngọn cờ Nam .
Ngọn cờ Nam ! Ngọn cờ Nam !
Phơi phới dâng lên màu huy hoàng
Phơi phới trăm nghìn con sóng bạc
Thét to trời đất muôn tiếng vang ,
Phơi phới trăm nghìn miệng anh dũng
Hô chung lời nói của giang san ,
Phơi phới trăm nghìn lòng chiến sĩ
Say chung uy võ Hưng Đạo Vương.
Đây không có ngọn lửa đốt giặc ,
Cũng không cần đàn gió đông nam
Mà nước triều một rút ,
Thuyền giặc ngỗn ngang .
Chiều tà đỗ bóng hoàng hôn xuống ,
Sóng bạc pha màu máu đỏ loang …



Thái Bình Diên Yến nâng ly ngọc ,
Thăng Long ba ngày rượu ngự ban
Quân ta say vỗ gươm mà hát
Hát rằng : “ Vạn cố thử giang san “

Biển dâu lịch sử bao nhiêu độ
Mà vẫn còn đây Bạch Đằng Giang .
Buông chèo du khách nhìn sông nước
Có nhớ ngày xưa Hưng Đạo Vương …


Ngân Giang nữ sĩ


Cháu không có năng khiếu về thơ văn, nhưng hôm nay đọc bài này của mẹ chú thấy trận Bạch Đằng như diễn trứoc mắt thật hùng tráng. Đúng hào khí nhà Trần.
Bài thơ ngân vang như tiếng thét oai hùng, tạc vào không gian một hình ảnh Đại Việt anh dũng quật cường bất khuất.
Ôi tinh thần ấy ngày nay đâu nhỉ?
xin thăp cho bà một nén hương.

Thiên Sứ
21-08-2007, 08:08 PM
Xin cảm ơn Ganda, những sự ngưỡng mộ đã dành cho Nữ sĩ Ngân Giang.
9 - 8 - Đinh Hợi.
Thiên Sứ

Đại Chủ
27-08-2007, 05:54 AM
Lúc còn bé, Đại Chủ hay được nghe kể chuyện về Hai Bà Trưng, vì từ quê lên đến Hát Môn nơi có đền thờ 2 Bà chỉ có 4 km. Lúc biết đọc đã biết bài thơ tả Hai Bà Trưng trong Đại Nam Quốc Sử diễn ca
Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác sơn hà
Một là báo phục hai là bá vương
Uy danh động đến bắc phương
Hán sai MãViện lên đường tấn công
Hồ Tây đua sức vẫy vùng
Nữ nhi chống với anh hùng được sao
Cẩm Khê đến đất hiểm nghèo
Chị em thất thế phải liều với sông
Phục Ba liền dựng cột đồng
Ải quan quyền dấu biên công cõi ngoài
Hình ảnh Hai Bà Trưng hiện lên hiên ngang hùng dũng, bất khuất cho khí phách của Đại Việt. Nhưng quả thật phải đến nữ sĩ Ngân Giang, hình ảnh Hai Bà Trưng mới được lột tả hết cái thần một cách hết sức độc đáo và đặc sắc. Với ngòi bút của nữ sĩ Ngân Giang, Hai Bà Trưng anh hùng oai phong lẫm liệt mới được trả về đúng với nét đẹp đặc trưng của một phụ nữ Việt Nam rất mạnh liệt anh hùng nhưng cũng thật mềm yếu, nhẹ nhàng, thật đời thường và gần gũi
TRƯNG NỮ VƯƠNG
Mây thu lạnh, dòng nước Cẩm Khê bừng bừng chính khí,
Khói thu mờ, đáy hồ Lãng Bạc ngát động hương liên.
Đền nghĩa chị, lời thềm khuê các,
Trả thù chồng, thặng đất Long Biên.
Chém tướng giặc đuổi quân về ải Bắc,
Mặc áo tang rơi lệ ngự ngai vàng.
Rồi ba thu, cờ anh thư phất phới, đất Mê Linh cỏ cây hoan lạc,
Để một sớm, gươm danh tướng ngang tàng, trời Giao Chỉ non nước oan khiên.
Trùng trùng sóng nước, u uất thuyền quyên,
Đã mấy thu rồi, trăng ngời tiết liệt,
Còn bao thu nửa sóng toả linh thiêng.
Thù hận đôi lần chau khoé hạnh
Một trời loáng thoáng ánh sao rơi.
Dồn gươm vó ngựa xa non thẳm,
Gạt gió chim bằng vạn dặm khơi.
Máu đỏ cốt xương thù vạn cổ,
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai.
Hồn người chín suối cười an ủi,
Lệ nếm năm canh gió ngậm ngùi.
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận,
Non hồng quét sạch bụi trần ai.
Cờ tang điểm tướng nghiêng hàng chẩm.
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời.
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa,
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi.
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch ngôi trời bóng lẽ soi!


Bên trong cái vẻ oai hùng, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh lại là một người phụ nữ thật dịu dàng. Ngồi trên Ngai vàng, địa vị tột đỉnh quyền uy nhưng tận cùng bên trong lại vẫn chỉ là một người Vợ. Cảm ơn nữ sĩ Ngân Giang đã cho độc giả thấy được hình ảnh thật sự của Hai Bà Trưng, một hình ảnh tiêu biểu cho nét đẹp của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Phương Đông. Hai câu kết của bài thơ "Hai Bà Trưng" thật sự làm cho cá nhân tôi thật bồi hồi xúc động...
Nữ sĩ đã cho cá nhân tôi thấy Phụ nữ Việt Nam mình đúng là đẹp nhất, đẹp từ dung mạo đến tận sâu thẳm tâm hồn.
Xin được kính cẩn thắp một nén hương dâng lên cho nữ sĩ Ngân Giang.

Thái-Âm
27-08-2007, 09:39 PM
Nữ sĩ Ngân Giang là một trong số ít các nhà thơ có thể điều khiển được cảm xúc của người đọc. Xin kính cẩn dâng lên Bà một nén nhang.