PDA

View Full Version : Tham khảo : thơ Đường


Tịnh Ngọc
02-08-2005, 11:13 PM
Các thể loại Thơ Đường

I.Thơ Cổ Phong Hay Cổ Thể

Cổ phong là lối thơ có từ những triều đại trước. Trong thơ cổ phong, người ta chia ra hai loại cho dễ nhớ: thơ cổ phong năm lời( ngũ ngôn) và bảy lời( thất ngôn).

Thơ cổ phong khác với thơ luật ở chỗ thơ chỉ cần vần chứ không cần phải theo luật bằng, trắc. Khác với thơ luật, thơ cổ phong có thể dài ngắn khác nhau, có loại bài ngắn(đoản thiên), và bài dài ( trường thiên).

Số câu trong cổ phong cũng không quy định cụ thể. Đoản thiên có thể bốn câu, sáu câu, tám câu hoặc trên mười câu… Trường thiên là những bài thơ dài, nghiêng về trần thuật, hoặc biểu cảm liên tục trước một đề tài không dứt, do đó cũng cần phải có từng phần, mạch lạc, có cấu trúc hợp lý…

Vần trong thơ cổ phong cũng tự do hơn. Có thể là bài thơ chỉ dùng một vần(độc vận) trong cả bài. Cũng có thể thay nhiều vần( hoán vận) trong lúc viết ( Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị). Vần bằng và vần trắc cũng có thể dùng riêng từng loại hay cả hai.

Về lời trong câu thì được phép dài, ngắn khác nhau không phải nhất thiết năm hay bảy chữ ( Tương Tiến Tửu của Lý Bạch)…

Trong ngũ ngôn trường thiên có bốn điều cốt yếu được các nhà thơ hay vận dụng, gọi là thủ pháp chung cũng được. Đó là:

Phân mạch: chia đoạn, chia tiết, chia câu trong bài.
Quá mạch: chuyển tiếp các ý của phần đầu.
Hồi chiếu: biểu hiện những tứ lạ, ý hay đã róng lên ở các phần trên, phát triển cho sâu sắc.
Tán thán: những ý nghĩ, suy tưởng, cảm nhận xen cài vào các đoạn trên.

Thất ngôn cổ phong thì các mạch đoạn cho rõ ràng, ý nghĩa càng thâm trầm, cao thoát. Nhiều ý vị ngoài bài thơ thì càng hay. So với thơ luật, thơ cổ phong phóng túng hơn, ít bị trói buộc trong niêm luật, câu chữ. Chính vì vậy mà tính hàm súc, cô đọng, những khe khắt đòi hỏi về đối ngẫu, luật thơ, âm nhạc không tập trung như thơ luật. Vả lại, thể cổ phong vốn cũng đã có từ các thời Hán, Tùy, trước, nên về sau lối thơ luật thịnh hành hơn cả…

II.Thơ Luật

Thơ luật có từ thời nhà Đường nên cũng gọi là Đường Luật. Luật dựa trên những thanh bằng và thanh trắc trong một câu và niêm giữa các câu với nhau, tạo thành cấu trúc bắt buộc của bài thơ.Thơ luật gồm tám câu, cấu trúc quy định như sau:

Phá: Câu mở đầu ( cũng gọi là Phá đề)
Thừa: Nhân ý câu phá mà chuyển tiếp
Thực: Gồm hai câu 3,4 phải đối nhau từng lời và ý, nói rõ chủ đề của bài thơ.
Luận: Gồm hai câu 5,6 cũng theo luật đối lời đối ý của các câu thực, nhằm tăng ý chính của bài.
Kết: hai câu cuối cùng, chuyến ý và thâu tóm ý tưởng của bài thơ hoặc có một tứ lạ gây thêm cảm xúc cho người đọc.

Thơ luật có thể năm lời (ngũ ngôn) và thể bảy lời( thất ngôn)

* Ví dụ thơ thể ngũ ngôn:

TỐNG HỮU NHÂN

Thanh sơn hoành Bắc quách,
Bạch thuỷ nhiễu Đông thành.
Thử địa nhất vi biệt,
Cô bồng vạn lý chinh.
Phù vân du tử ý,
Lạc nhật cố nhân tình.
Huy thủ tự tư khứ,
Tiêu tiêu ban mã minh.

Lý Bạch

TIỄN BẠN

Chạy dài cõi Bắc non xanh,
Thành Đông nước chảy quanh thành trắng phau.
Nước non này chỗ đưa nhau,
Một xa, muôn dặm biết đâu cánh bồng !
Chia phôi khác cả mối long,
Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.
Vẫy tay thôi đã rời xa,
Nhớ nhau tiếng ngựa nghe mà buồn teo.

TẢN ĐÀ dịch


* Ví dụ thể thất ngôn :

THU HỨNG

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Đỗ Phủ

HỨNG THU

Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu loà.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước,
Thành Bạch, chầy vang bóng ác tà.

NGUYỄN CÔNG TRỨ dịch

III.Thơ Tuyệt Cú

Tuyệt cú theo nghĩa đen là ngắt câu. Là một thể thơ bốn câu, có thể là cổ phong hoặc thơ luật, nhưng ý tứ, ý nghĩa phải trọn vẹn, sâu sắc. Cũng phải có mở có kết, có thể hiện nội dung chủ đề mình định nói. Chẳng hạn như bài Tự Quân Chi Xuất Hỹ của Trương Cửu Linh:

TỰ QUÂN CHI XUẤT HỸ

Tự quân chi xuất hĩ
Bất phục lý tàn ky.
Tư quân như nguyệt mãn,
Dạ dạ giảm thanh huy.

TỪ THUỞ CHÀNG ÐI

Từ ngày chàng bước chân đi,
Cái khung dệt cửi chưa hề dúng (nhúng) tay.
Nhớ chàng như mảnh trăng đầy,
Ðêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm.

NGÔ-TẤT-TỐ dịch

Bài thơ nói được cái tình của người vợ mà lối ví von, hình ảnh vừa đẹp, vừa sâu sắc. Lời, kết cấu, ý tứ thật trọn vẹn, súc tích.

Thơ tuyệt cú làm hay, thật khó. Nhưng trong thơ Đường, nhiều bài thơ tuyệt cú đã vượt được thử thách, lưu truyền sang nghìn năm, tính tư tưởng cao, hình ảnh đẹp và mãi mãi là những viên ngọc sáng giá.

Lối làm thơ tuyệt cú có thể tuân theo luật bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối của ngũ ngôn hoặc thất ngôn.Ở thể cổ phong, thơ tuyệt cú càng rộng rãi hơn, các câu thơ không cần đối, không phụ thuộc luật bằng trắc, miễn là ý tứ sâu sắc, lời đẹp, giầu âm điệu ...

Thơ tuyệt cú có bốn câu, do đó cũng gọi là tứ tuyệt. Thơ tuyệt cú đẹp như hoa một bông trên cành thắm, có thể nói trực diện, hoặc nói xa xôi mà ý tứ lại thâm trầm, đều được cả .

Phong Kiều Dạ Bạc

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền


Trương Kế

Tịnh Ngọc
02-08-2005, 11:22 PM
Đường Luật

Các Cổ Thể trong Đường Thi

Trong thơ Đường Luật ở VN được lưu hành ngàn năm nên cũng có đóng góp thêm khá phong phú đó là lối thơ độc đáo , thể thơ nầy văn ngôn không có lưu truyền lại nhưng trong thơ Nôm lại được ghi nhận là một tài hoạ Thơ nầy phù hợp với tính vui nhộn nghịch ngợm của các thầy nho VN trong các cuộc thù tạc , gặp mặt thi tài nhau , một số lưu lại có tên tuổi , nhưng đa số là khuyết danh.

1) Thủ Vĩ Ngâm

Loại thơ nầy ở Chổ câu đầu và câu cuối là một để nhấn mạnh ý tứ bài thơ ...

TD:

Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắc đem , hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi , giá còn kiêu
Bánh đường sắp gói ,e nồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành tết khác
Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo

Trần Tế Xương

THU CẢM

Thu của năm nay khác thuở nào
Mây trời lơ lững núi đồi cao
Thuyền xưa cô quạnh cây trơ bóng
Bến cũ đìu hiu lá ũ màu
Ngõ nhánh làng thôn người lác đác
Sông đầu chợ bãi gió lao xao
Chiều hoang giá lạnh sầu cô khách
Thu của năm nay khác thuở nào

Tịnh Ngọc
02-08-2005, 11:27 PM
2)Thể Thơ Bỏ Lững

Thể nầy gọi là Tiệt Hạ (bỏ lững câu cuối), mỗi câu thơ ở phần cuối dùng từ lấp lững không tròn nghĩa để người đọc tự đoán lấy mà hiểu ...
TD:

Người Đâu

Thác bức rèm châu chợt thấy Mà ...
Chẳng hay người ấy có hay Là...
Nét Thu dợn sóng hình như Thể...
Cung Nguyệt quang mây nhác ngỡ Là...
Khuôn khổ ra chiều người ở Chốn...
Nết na xem phải thói con Nhà...
Dở dang nhắn gửi xin thời Hãy...
Tình ngắn tình dài chút nữa Ta...

Khuyết Danh


NHẮN AI

Tơ đồng réo rắt điệu NHƯ ĐANG...
Thánh thoát du dương đến TỪ ĐÀNG...
Khi bổng khi trầm như SẮP ĐẢ...
Lúc buồn lúc oán giống DƯỜNG MANG...
Bi ai thống thiết nghe MÀ MUỐN...
Thảm nảo thê lương ngỡ PHẢI CHĂNG ...
Lỡ phận gởi người xin ĐÓ HÃY...
Tình đà dang dỡ có CÒN THAN...

Tịnh Ngọc
02-08-2005, 11:30 PM
3)Thể chữ Cuối Gợi Âm ( Vĩ Tam Thanh)

Thể nầy gọi Là Vĩ Tam Thanh , cuối câu có ba âm thanh , thuộc thể nghịch ngợm ...

TD:

Buổi Sớm

Tai nghe gà gáy Tẻ Tè Te
Bông cúc vừa lên Hé Hẻ Hè
Non một chồng cao Von Vót Vót
Hoa năm sắc nở Loẻ Loè Loe
Chim tình bầu bạn Kia Kìa Kỉa
Ong nghĩa vua tôi Nhẹ Nhẻ Nhè
Danh lợi mặc người Ti Tỉ Tỉ
Ngũ trưa trưa dậy Khoẻ Khoè Khoe

Khuyết Danh

MÙA GẶT

Ai đang nhẩy múa LÁ LÀ LA
Mùa gặt thu mua CẢ CÁ CÀ
Tay bắt mặt mừng KHOE KHOẺ KHOẺ
Miệng cười môi hát HÁ HÀ HA
Sương chiều lộng gió VI VI VÚT
Nắng xế che mây NGÃ NGÃ NGÀ
Bướm lượn vườn hoa NHƠN NHỠN NHỠN
Sắc hương nồng thắm XÃ XÀ XA

còn tiếp

Tịnh Ngọc
06-08-2005, 12:01 AM
4)THỂ CẶP TỪ TRÙNG

Thể nầy gọi là Song Điệp ( cặp từ trùng nhau) ,còn gọi là thể Điệp Từ

TD:

SỰ ĐỜI

Vất Vất , Vơ Vơ cũng nực cười
Căm Căm , Cúi Cúi có hơn ai
Nay còn Chị Chị ,Anh Anh đó
Mai đả Ông Ông , Cụ Cụ rồi
Có Có , Không Không lo hết kiếp
Khôn Khôn , Dại Dại chết xong đời
Chi bằng Láo Láo ,Lơ Lơ vậy
Ngủ Ngủ ,Ăn Ăn nói chuyện chơi

Khuyết Danh

THÓI ĐỜI

Lơ lơ, lững lững cứ thầm say
Chán chán , chê chê những chuỗi ngày
Thẩn thẩn , thờ thờ câu thế sự
Ngơ ngơ , ngác ngác chuyện trần ai
Còn tiền đệ đệ , huynh huynh viếng
Hết bạc ông ông , tớ tớ bay
Hững hững ,hờ hờ cho hết kiếp
Cười cười , nói nói thói đời nay

Tịnh Ngọc
06-08-2005, 12:07 AM
5)THỂ LIÊN HOÀN

Thể nầy thường gồm nhiều bài , câu cuối của bài đầu thành câu đầu của bài sau .thể nầy có thể dùng hai chữ cuối bài đầu làm hai chữ đầu của bài sau , hoặc dùng 3, 4,5, 7 chữ ....

TD:

HỦ NHO TỰ TRÀO

Ngán nổi nhà nho bọn hủ ta
Hủ sao hủ gớm hủ ghê mà
Thơ suông nước ốc còn ngâm váng
Rượu bự non chai vẫn chén khà
Múa mép rõ ra văn chú chiệc
Dài lưng quen những thói con nhà
Phen nầy cái hủ xua đi hết
Cứ để hù nhau hủ mãi a

Cứ để hù nhau hủ mãi a
Cười ta ta cũng biết rằng ta
Trót quen nho nhã đầu khăn lượt
Hoà kém văn minh cổ áo là
Khó vậy làm em ,giàu đả chị
No thì nên bụt ,đói ra ma
Nay đương buổi học ganh đua mới
Còn giử lề xưa mãi thế mà

Còn giử lề xưa mãi thế mà
Trông gương ta lại tức cho ta
Ngâm câu giả dã , đùi rung nẩy
Ngó chữ a, b mắt quáng loà
Tai mắt cũng vui đình đám hội
Mày râu riêng thẹn nước non nhà
Ai ơi ! giấc ngủ sao mê quá
Mưa gió năm châu rộn tiếng gà

Mưa gió năm châu rộn tiếng gà
Cái hồn văn tự tỉnh dần ra
Trống khua giáo dục kêu vang nước
Đuốc rọi văn minh sáng rực nhà
Khai hoá đả đành thay lối cũ
Cải lương còn phải tính đường xa
Anh em nghĩ lại sao không cố
Ngán nổi nhà nho bọn hủ ta.

Tình Si Tử


CẢNH SẮC BA MIỀN

Ngâm hát vài câu tỏ chút lòng
Cố hương yêu dấu mãi nghìn trông
Nam Quan đất mẹ khơi niềm nhớ
Bắc Ải quê cha gợi nổi mong
Lịch sử oai hùng tô gấm vóc
Văn chương thanh nhã điểm non sông
Ít dòng tha thiết về bên ấy
Lưu luyến ngậm ngùi lệ mãi đong

Mãi đong hình bóng một quê hương
Nam tú , Huế thanh ,Bắc phú cường
Thiên Mụ đôi bờ xanh bóng Liễu
Vân Lâu dọc bến mát hàng Dương
Chiều trông núi Ngự mây vờn gió
Xế ngắm Sông Hương khói quyện sương
Vĩ Dạ thôn nghèo Cau thẳng tấp
Trường Tiền mấy nhịp mấy ngàn thương

Ngàn thương sông Cửu đất quê ta
Ruộng lúa phì nhiêu thắm mặn mà
Đồng Tháp, Cà Mau tôm vối cá
Hậu giang ,Châu Đốc trái cùng hoa
Tiền Giang, Mỹ Thuận người đều ghé
Rạch Giá , Long Xuyên khách phải qua
Dạo núi Thất Sơn cao chót vót
Bao quê cảnh đẹp đả mờ xa

Xa cách quê làng lại ghé thăm
Xác xơ vàng úa cỏ nghiêng nằm
Nhà hiên mái dột Bìm giăng kín
Ngỏ trước thềm loang Dậu phủ dăm
Tha thướt bóng dừa hàng nối thẳng
Ngã nghiêng cành Trúc dãy liền tâm
Tà chiều quyện khói mờ thôn xóm
Xa vọng khoan hò ai hát ngâm


còn tiếp

Tịnh Ngọc
11-10-2005, 11:15 PM
6)THỂ XUÔI NGƯỢC

Còn gọi là Thuận Nghịch Đọc nghĩa là đọc xuôi cũng đuọc hay dọc ngược cũng được,ddọc từ trên xuống và ngược từ dưới lên trên đều được cả .còn có thể bỏ 2, 3 ,4 chữ đọc ngược xuôi tuỳ ý

TD:

Đền Ngọc Sơn ( đọc xuôi)

Linh uy nổi tiếng thật là đây
Nước chắn , hoa rào một khoá mây
Xanh biếc , nước soi hồ lộng bóng
Tím bầm rêu mọc đá tròn xoay
Canh tàn lúc đánh chuông ầm tiếng
Khách vắng khi đưa ,xạ ngát bay
Thành thị, tiếng vang dồn thích thú
Rành rành nọ bút với nghiên nầy

Đền Ngọc Sơn ( đọc ngược )

Nầy nghiên với bút nọ rành rành
Thú thích dồn vang tiếng thị thành
Bay ngát xạ đưa khi vắng khách
Tiếng ầm chuông đánh lúc tàn canh
Xoay tròn đá mọc rêu bầm tím
Bóng lộng hồ soi nước biếc xanh
Mây khoá một rào hoa chắn nước
Đây là thật tiếng nổi uy linh

Vô Danh

Cảnh làng quê (đọc xuôi )

Xinh xinh mái lá phủ quê nhà
Nắng nhạt chiều tà bóng thướt tha
In rõ đỉnh đồi cao lộng gió
Hút hun chân núi mịt mù sa ( cát )
Linh lung dáng ngã cây nằm lướt
Rớt rụng tàng rơi lá thổi xa
Đình bến cạnh ao hồ gợn sóng
Rinh rung cánh liễu rợp vườn hoa

Cảnh làng quê (Đọc ngược)

Hoa vườn rợp liễu cánh rung rinh
Sóng gợn hồ ao cạnh bến đình
Xa thổi lá rơi tàng rụng rớt
Lướt nằm cây ngã dáng lung linh
Sa mù mịt núi chân hun hút
Gió lộng cao đồi đỉnh rõ in
Tha thướt bóng tà chiều nhạt nắng
Nhà quê phủ lá mái xinh xinh

Tịnh Ngọc
11-10-2005, 11:17 PM
7)THỂ YẾT HẬU

Lối thơ câu cuối chỉ có một lời , gây ra cảm giác đột ngột ...

TD:

Lươn

Cứ nghĩ rằng mình ngắn
Ai ngờ cũng dài đườn
Thế mà còn chê trạch
LƯƠN !

Khuyết Danh

TRĂNG

Lấp lánh sáng hơn đèn
Ngõ nào cũng lách chen
Tên Nàng ai cũng gọi
TRĂNG !


8) Liên Ngâm hoặc Liên Khúc

Thể nầy gồm nhiều người làm chung nhau một bài thơ theo một chủ đề nào đó , thường người mở bài cũng là người kết thúc , Các nguòi khác lo nội dung phát triển Ý của bài. nên nhớ thể này làm theo luật TNTT nhưng các câu liên hoàn phải đối nhau ...

TD:

Hồ Tây

Liễu :
Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời

Lý :
Bát ngát tư mùa rộng mắt coi
Cõi ngọc xanh xanh làng phía cạnh

Phùng :
Trâu vàng biên biếc nước vành khơi ;
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ

Ngô :
Chèo gió ao bơi một chiếc chài
Giậu thủng chó đùa đàn sủa tiếng

Lý :
Trời hôm bếp thổi gió tuôn hơi
Mơn mơn tay lái con chèo quế

Phùng :
Xào xạt mình đeo chiếc áo tơi
..................................
..................................

Liễu:
Trăng tròn soi một bóng tiên thôi

(Bà Liễu Hạnh , Trạng Bùng ,hai ông Ngô , Lý)

Tịnh Ngọc
11-10-2005, 11:19 PM
9) Thơ Xướng Hoạ

Xướng Hoạ là thể thơ khá phổ biến trong thơ Đường Luật , người kia Xướng một bài , người sau hoạ theo
Cách hoạ là phải giữ nguyên vần của người Xướng , nhưng từ đứng trước vần không được lập lại từ trước vần của bài Xướng

TD:

(Bài Xướng )

TÔN PHU NHÂN QUI THỤC

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn Thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm râu bạc
Về Hán trao tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam đầy gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh được bụng chồng

Tôn Thọ Tường

(Bài Hoạ )

Cài trâm xốc áo vẹn câu tòng
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông
Ngút toả trời Ngô un sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh cương thường nặng núi sông
Anh hởi Tôn Quyền, anh cobiết
Trai ngay thờ chúa , gái thờ chồng

Phan Văn Trị

(Bài Xướng)

Bớ nầy cái gã bán thi ca
Có được bấy nhiêu phú tự cà
Chẳng lẽ luỵ mình nơi bóng sắc
Hay là vùi xác dưới cành hoa
Non sông hiểm hoạ tràn binh biến
Đất nước nguy nàn dấy động qua
Chẵng lẻ thơ tình thay kiếm thép
Đuổi quân xăm lược cứu quê nhà

PhiVân


(Bài Hoạ)

Ngồi bán thơ tình chẳng hát ca
Văn chương nào có bấy nhiêu cà
Buồn nhưng không luỵ vì hương sắc
Nhớ chẵng phải hèn bởi bóng hoa
Chua xót quê hương đang lửa loạn
Nghẹn ngào tổ quốc động can qua
Vần thi yếu ớt nên nào dám
Cởi sóng trào Nam hổ nước nhà

Tôn Thọ Tường

Tịnh Ngọc
11-10-2005, 11:22 PM
10) Các Thể Thơ Mới:

Thể LUÕNG ĐẦU XÀ NGHỊCH THIỆT .Thể nầy dùng HAI CHỮ ĐẦU LÁY LẠI THÀNH HAI CHỮ CUỐI CỦA CÂU THƠ

TD:


LƯỠNG THƠ LỠ THƯƠNG


Lưỡng thơ gửi bậu bỡi lỡ thương
Thường tấu nàng ơi xin thấu tường
Nuốt rạt trái mơ nên nát ruột
Tương hầm khổ quả mới tâm hường
Tạm thương qua thử đừng tham tượng
Mương lếch đừng nha chớ mếch lương (1)
Thỏ, nhím chung nhà làm thím nhỏ
Nường than chi hỡ bớ nàng thương ?
------------------------------
(1) mếch = yêu

CH


Vô Danh Khúc


Hoàng hôn thơ thẩn thả hồn hoang
Đàn vọng buồn ngân khúc động vàng
Óng mượt tơ rung lời ước mộng
Tràn ngâm phiếm hoạ tiếng trầm ngang
Giản đơn cung hận như đang giỡn
Than lắm điệu buồn lại thắm lan
Để lộ nổi lòng nên đổ lệ
Tàn buông xế lịm khó buồn tan

TTT...

THỂ NGẮT TỪ:


Thể nầy ngắt từ cuối của câu , gây đột ngột cho người đọc , và đặt biệt là cho dù bỏ đi chữ cuối thì bài thơ vẫn còn nghĩa :

CÂU THƠ CUỘC RƯỢU I

Quế lộ thơm râu, ấm giọng: ngon
Cạn ly thắm nghĩa, đệ huynh: tròn
Thi nhân ấy khách tài hoa: quý
Hào kiệt vốn người nghia khí: tôn
Danh lợi mặc đời , ai hỏi : bán
Thảnh thơi, tôi bạn dốc bầu : tuôn
Rượu thơ rủng rỉnh, tình chan: chứa
Xướng hoạ đôi câu, Quên hết buồn

CH

Bài hoạ


Rượu vừa mới nếm gật đầu : ngon
Bạn đó tôi đây nghĩa thắm : tròn
Tứ hải tao phùng hào kiệt : quý
Ngũ hồ tri ngộ sĩ nhân : tôn
Bán mua danh lợi tuỳ người : bán
Say xỉn sự đời mặc tớ : tuôn
Ca phú thi từ vui hát : hoạ
Vùi chôn ký ức nổi đau : buồn

TTT...


THƠ KHOÁN THỦ:

Thể thơ được viết bằng các chữ Khởi Đầu là một câu thơ :

TD:


Em Ơi Nếu Mộng Không Thành Thì Sao


EM vui duyên mới lệ anh vương
ƠI cảnh trần gian lắm đoạn trường
NẾU cuối thu vàng sầu cách biệt
MỘNG đầu đông biếc khóc ly hương
KHÔNG gian trầm lắng mờ mây khói
THÀNH phố im lìm quyện gió sương
THÌ gởi tiếng lòng thêm tủi thẹn
SAO khuya buồn rụng cuối sông Tương

Tuấn Sơn

Bài hoạ

THÌ TA HAI ĐỨA CÁCH XA TRỌN ĐỜI


THÌ rồi hai ngã khỏi còn vương
TA nhớ mà chi để đoạn trường
HAI lối một mình xem Cẩm Chướng
ĐỨA về đơn lẽ ngắm THiên Hương
CÁCH chia giữa lúc chiều phai nắng
XA biệt trong mùa xế lộng sương
TRỌN kiếp không thành thôi lở hẹn
ĐỜI đời ôm ấp mộng sầu tương


Hết

Tịnh Ngọc
11-10-2005, 11:29 PM
Tìm hiểu thơ đường

LUẬT :

Thơ đường luật

Đường Thi hay thơ Ddường là tiếng dùng để nói về những bài thơ do các thi sĩ đời Đường Trung Hoa như Lý Bạch, Đổ Phủ.....vân vân. Các bài thơ này đa số theo thể thất ngôn bát cú nhưng cũng có các bài làm theo thể khác như ngũ ngôn cũng được liệt vào Đường Thi.

Đường Thi tự thân nó nguyên bản là tiếng Trung Hoa, một số được viết lại theo tiếng Hán Việt để phổ biến cho người Việt chúng tạ.Như vậy danh từ Đường Thi dùng để chỉ về một thời đại thơ chứ không nhất thiết là thể thơ nào, mặc dù phổ biến nhất là các thể thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt hay ngũ ngôn.

Không những các bài thơ làm bây giờ mà ngay cả thơ làm cách đây cả trăm năm (thí dụ như thơ của Bà Huyện Thanh Quan rất nghiêm túc về vần luật) nên gọi là thơ Đường Luật, nghĩa là thơ tiếng Việt làm theo thể luật thơ Đường, thì đúng hơn.

Part 1


Luật bằng vần bằng

b B t T t B B(v)
t T b B t T B(v)
t T b B b T T
b B t T t B B(v)
b B t T b B T
t T b B t T B(v)
t T b B b T T
b B t T t B B(v)

(v) = vần
B: Bằng, T=Trắc, b or t = don't care


Lời thơm như mía, ngọt như đường
Mứt bí ai ngào ngát tỏa hương
Khoai mật vàng ươm nhìn đến thích
Chuôí chiên óng ả thâý mà thương
Mạch nha mềm dẻo như mè xửng
Kẹo kéo cứng dòn giống kẹo gương
Ngọt quá như vầy sao lại bảo
Người ta không biết viết thơ đường.


hay là

Làm thơ đường luật thế mà gay
Chẳng biết làm sao khó thế này
Mỗi chữ mỗi câu là phải chỉnh
Vần bằng vần trắc đúng cho hay
Thân ta kém cỏi xin làm đệ
Ngươì khác tài hoa gọi chữ thầy
Rặn mãi mơí ra, thôi mặc kệ
Mong sao nghe lọt lổ tai cây

_________________________________________

Part 2

Luật trắc vần bằng

t T b B t T B(v)
b B t T t B B(v)
b B t T b B T
t T b B t T B(v)
t T b B b T T
b B t T t B B(v)
b B t T b B T
t T b B t T B(v)

Có khó gì đâu cái luật đường
Viết sao cho ngọt đến tận xương
Chuột sa hủ kẹo tha hồ gặm
Mật chết con ruôì chẳng đáng thương
Trái mít ngon như cây vú sữa
Nanh chồn thơm sánh gạo nàng hương
Cần chi đôí đáp từng câu thế
Mang mía ép ra lại có đường


hay là

Cái luật Đường thi khó quá trơì
Bằng bằng trắc trắc thật lôi thôi
Câu ba , câu bốn cần cân đôí
Hàng sáu, hàng năm bắt xứng đôi
Có lẽ thanh niên đều dở hết
Cầm bằng các cụ vẫn tài thôi
Dừng tay đọc lại cườì ha hả
Cả tám câu thơ viết được rôì .

Theo thiển ý không nên gò bó luật quá làm chi để hồn thơ thanh thoát.
Bốn bài trên tuy khá chỉnh vềluật mà không thể gọi là thơ hay được. Quan trọng là ý, lơì và âm điệu thơ thôi, nhất là luật đôí hai câu 3,4 và 5,6 thường làm gượng ép ý tưởng và sự dùng chữ, vì các chữ bắt buộc cùng tự loại ở mỗi vị trí trong câu.

Hơn nữa sự đôí chọi của các câu 3,4 và 5,6 làm bài thơ nghe cổ xưa lắm, không thích hợp vơí thơì naỵ

Thiết nghĩ ta không cần phải theo luật đôí này và gọi nó là thất ngôn bát cú thôi chứ không gọi là "thơ Đường luật".

Chẳng thà hơi sai luật mà có hồn thơ còn hơn.

Một thí dụ nghiêm chỉnh của thất ngôn bát cú (không phải thơ đường vì không có dối câu ở 3&4 và 5&6) bài thơ này kết hợp cả 2 luật phía trên, đoạn đầu là luật bằng vần bằng, còn đoạn sau là luật trắc vần bằng


Áo mỏng, làn da mịn trắng ngần
Chiều nay gió nhẹ chuyển hơi lành
Giọt nắng đùa trong khóm lá xanh
Nắng hạ nồng trên làn tóc xõa
Hương thơm quyện lấy cả hồn anh
Em nằm ôm gối, vờ như ngủ
Anh hát đồng dao điệu dỗ dành
Nói khẻ bên tai lời trăng gió
Thẹn thùng em dụi sát vào anh


Trời đất cũng dường như lắng đọng
Đưa tình nhân đến với tình nhân
Ngất ngây anh cúi gần thêm nữa
Chạm nhẹ môi thơm tựa cánh hồng
Đẹp quá, ôi bờ môi hé mở
Áo mỏng, làn da mịn trắng ngần
Gò ngực nhấp nhô theo nhịp thở
Gợi niềm khao khát mộng phong vân .


----------------------------

Bố cục của một bài thơ

hai câu đầu (1,2) là đề bàị câu 1 là phá đề, câu hai là thừa đề (chữ thừa có nghĩa là nối theo câu phá để vào bài).

hai câu 3,4 còn gọi là Thực hay Trạng dùng để giải thích đầu bài cho rõ ràng. hoặc cũng có thể dùng để đưa thêm chi tiết bổ nghĩạ

hai câu 4,6 (Luận) bàn bạc hay bàn luận cho rộng nghĩạ cũng có thể dùng như câu 3,4 đưa thêm chi tiết.

hai câu cuối 7,8 (Kết) tóm ý nghĩa của toàn bài và thắt ý lại

theo thiển ý của tôi, người viết khi cứ bo bo theo niêm luật thơ Đường rất dễ bị chi phối, dùng chữ gượng ép, và đễ bị hỏng ý thơ.

Bổ túc về luật bằng trắc trong thơ Đường:

"Nhất tam ngũ bất luận,
Nhị tứ lục phân minh"

Tức là trong 1 câu thất ngôn thì các chữ 1,3,5 không cần chú ý đến bằng hay trắc còn các chữ 2,4,6 thì phải tuân theo luật bằng trắc.

Còn chữ thứ bảy thì theo luật sau:

Chữ thứ bảy của câu 1,2,4,6,8 nếu là vần bằng, thìở các câu 3,5,7 là trắc và ngược lại (Trường hợp ngược lại ít thông dụng hơn).

Tóm lại thì ta có thể viết lại luật bằng trắc như sau

Trường hợp 1:


Vần bằng (chữ thứ 7) thanh trắc (chữ thứ 2)

(x = không kể bă `ng hay trắc, nhưng chủ yếu phải hài hòa âm điệu cho câu đó)

1 2 3 4 5 6 7

câu 1 x T x B x T B(vần)
câu 2 x B x T x B B(vần)
câu 3 x B x T x B T
câu 4 x T x B x T B(vần)

câu 5 x T x B x T T
câu 6 x B x T x B B(vần)
câu 7 x B x T x B T
câu 8 x T x B x T B(vần)

Nhận xét 1:

là các chữ Nhị, Tứ, Lục không bao giờ có hai âm liên tiếp giống nhau, nghĩa là
"bằng, trắc, bằng" hay
"trắc, bằng, trắc)

Nhận xét 2:

hai câu số 1&4 và 2&3 có cấu trúc y hệt nhau từ chữ 1 đến chữ 6.

Nhận xét 3:

Ta nhận thấy 2 đoạn tứ tuyệt câu 1-4 và câu 5-8 cấu trúc giống nhau y hệt trừ chữ thứ 7 trong câu 1 và câu 5. Nếu bỏ sự khác biệt này thì ta sẽ có

1 2 3 4 5 6 7

câu 1 x T x B x T T
câu 2 x B x T x B B(vần)
câu 3 x B x T x B T
câu 4 x T x B x T B(vần)

câu 5 x T x B x T T
câu 6 x B x T x B B(vần)
câu 7 x B x T x B T
câu 8 x T x B x T B(vần)

2 đoạn sẽ giống hệt nhau, vàta chỉ cần học 1 đoạn ti*? dụ câu 1 đến câu 4.
Trường hợp ngoại lệ này vẫn được chấp nhận

Qua 3 nhận xét trên thì luật bằng trắc chỉ còn rút lại thành 2 câu theo nhận xét 1 :

câu 1 x T x B x T B(vần)
câu 2 x B x T x B B(vần)

áp dụng nhận xét 2 để làm câu 3, 4 (câu 3 giống câu 2, câu 4 giống câu 1, trừ chữ thứ bảy có luật riêng) :

câu 1 x T x B x T B(vần)
câu 2 x B x T x B B(vần)
câu 3 x B x T x B T
câu 4 x T x B x T B(vần)

áp dụng nhận xét 3 để làm đoạn tứ tuyệt câu 5 đến 8 (giống đoạn câu 1 đến 4, trừ chữ thứ bảy có luật riêng)

câu 1 x T x B x T B(vần)
câu 2 x B x T x B B(vần)
câu 3 x B x T x B T
câu 4 x T x B x T B(vần)

câu 5 x T x B x T T
câu 6 x B x T x B B(vần)
câu 7 x B x T x B T
câu 8 x T x B x T B(vần)


Trường hợp 2:


Vần bằng (chữ thứ 7) thanh bằng (chữ thứ 2)

1 2 3 4 5 6 7

câu 1 x B x T x B B(vần)
câu 2 x T x B x T B(vần)
câu 3 x T x B x T T
câu 4 x B x T x B B(vần)
câu 5 x B x T x B T
câu 6 x T x B x T B(vần)
câu 7 x T x B x T T
câu 8 x B x T x B B(vần)


Để viết ta chỉ cần đảo ngược hai câu 1&2 của trường hợp 1

1 2 3 4 5 6 7

câu 1 x B x T x B B(vần)
câu 2 x T x B x T B(vần)

rồi áp dụng các nhận xét 2 và 3 như trên

Tóm lại chỉ cần nhớ cấu trúc của hai câu đầu cùng nhận xét 2 và3; và luật cho chữ thứ bảy là đủ:

Chữ thứ bảy của câu 1,2,4,6,8 = vần bằng, câu 3,5,7 = trắc.


Hết

Tịnh Ngọc
04-01-2006, 01:11 AM
Vài nhận định về sự đối câu trong thơ Đường Luật

Có những ý kiến cho rằng 2 cặp câu 3,4 và 5,6 của thơ Đường Luật phải đối một cách tuyệt đối, nghĩa là từng chữ câu trên thuộc tự loại nào thì chữ cùng vị trí trong câu dưới cũng phải đúng tự loại đó .


Nhiều tác giả chú trọng quá nhiều vào hình thức đối của thơ Đường nên gò từng chữ miễn sao cho đúng luật hiểu theo cái nhìn chật hẹp, nên viết những câu đối thật chặt chẽ về hình thức mà trống rỗng về nội dung cũng như gượng ép trong cách dùng chữ.
Họ có thể cho những câu như sau là hay vì chỉnh trong vấn đề đối:

Chàng trai trước cửa đứng lau xe
Cô gái sau sân ngồi rửa bát

Đối trong thơ Đường Luật là đối ý trước tiên rồi mới đến đối tự loại. Và đối từng cụm từ chứ không phải từng chữ. Ý tưởng nghèo nàn, chữ dùng thô thiển thì dù có đối chỉnh cách mấy cũng không có chút giá trị nào, loại Đường Luật nặng về hình thức này giống như 1 chiếc hộp gỗ thật vuông vức thật thẳng góc cạnh nhưng gỗ là gỗ tạp và chứa đựng trong lòng nó nội dung nghèo nàn. Sao bằng được một chiếc hộp gỗ góc cạnh có thể không thẳng hoàn toàn nhưng là gỗ quý và chứa đựng món hay vật lạ.

Ngay cả trước đây hơn một thế kỷ các nhà Nho nổi tiếng như Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến sống trong thời đại từ chương, gò bó về luật thơ, đi thi chỉ cần sai một chút là hỏng mà cụ đậu đầu cả 3 kỳ thi Hương, Hội và Đình. Bậc Trạng Nguyên như thế mà còn không cố chấp về luật đối trong thơ ĐL thì chúng ta trong quan niệm phóng khoáng ngày nay lại cố bám vào từng chữ hay sao. Có khi còn bắt lỗi là cùng là động từ nhưng transitive verb (cần túc từ) không được đối với intransitive verb (không cần túc từ) hay trạng từ chỉ thời gian không đi với trạng từ chỉ không gian, 1 câu là câu hỏi thì câu kia cũng phải là câu hỏi.

Sau đây là các thí dụ của bất chấp luật đối cứng ngắc của Yên Đổ Nguyễn Khuyến, ông bất chấp chứ không phải ông không biết luật.

Thu Vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc ánh trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào ?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Với những ý kiến chấp nê thì năm ngoái,không đối với nước nào ?

"flower of yesteryear" không đối với "goose of which country"?

Thu Điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo,
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được.
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Nếu "hơi" đi với làn là danh từ kép thì khác với "sẽ" là trạng từ, còn nếu hơi là trạng từ để đối thì chữ làn đứng trơ trọi.
Rõ ràng ở đây là đấu ý, đối cả câu chứ không phải từng chữ. (1)

Tự Thuật Tháng ngày thấm thoát tựa chim bay,
Ông ngẫm mình ông, nghĩ cũng hay.
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ ?
Răng long ngày trước hãy còn đây.
Câu thơ được chửa, thưa rằng được,
Chén rượu say rồi, nói chửa say.
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông này.

Tịnh Ngọc
04-01-2006, 01:14 AM
Tương tự như thế ngay cả 2 cụm từ màu xanh ở trên cũng không cùng tự loại đừng nói gì từng chữ trong nó.

Vịnh Tiến Sĩ Giấy

Rõ chú hoa man (1) khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu ?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.

Ví dụ này càng cho thấy cái "không đối" theo như những lập trường cố chấp, Bán và mua trong câu trên là động từ còn Bảng và bia là danh từ; ngay cả tiếng và danh là danh từ cũng không đối với vàng và đá là tĩnh từ. Nhưng đối là đối cả ý, cả câu chứ làm sao mà Nguyễn Khuyến không biết luật được. Cái luật mà người ta khăng khăng bám vào chỉ là cái cố chấp vô lối thôi. Dĩ nhiên là nếu mình muốn đối tuyệt đối thì cũng không sao, nhưng mang lập trường đó mà phê bình thơ người khác một cách hàm hồ thì thật là thiển cận biết bao.

Ở đây không phải là người không làm nổi câu đối nên nguỵ biện, chỉ là thấy những người học được một số luật rồi bám vào đó coi như là kinh điển tuyệt đối đúng là biết một mà chẳng biết hai. Chính họ là những người hay sửa sai và chê bai người khác là làm thơ sai luật vì đối không chỉnh.

Không phải chỉ mình Nguyễn Khuyến mới "thất luật", 2 câu sau đây của Tú Xương cũng sẽ không làm vừa lòng các vị bảo hoàng hơn vua:

Chí cha chí chát khua giày dép,
Ðen thủi đen thui cũng lụa là.

Khua là động từ có đi với cũng là trạng từ không? Thưa được vì
đối ý, đối câu mà hay thì từng chữ một không cần đúng.

Ra đường đáng giá người trinh thục
Trong bụng sao mà những gió trăng,

Người và những trong con mắt của người cố chấp thì chắc chắn là không đối rồi.

Và hãy đọc Nguyễn công Trứ

Tự cao

Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
Dở duyên với rượu khôn từng chén
Trót nợ làm thơ phải thuộc bài
Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó
Ðàn còn phiếm trúc tính tình đây
Ai say ai tỉnh ai thua được
Ta mặc ta mà ai mặc ai

(Nguyễn Công Trứ)

Cả hai cặp 3,4 và 5,6 đều không đối từng chữ . Nếu khăng khăng thì hoá Nguyễn công Trứ không biết luật sao ?, "từng chén" chắc chắn không đối với "thuộc bài" và "xe ngựa" không cùng tự loại với "tính tình" , đó là chưa kể "với" versus "làm" . Nhà Nho như Nguyễn công Trứ há lại phạm 3 lần lỗi trong bốn câu hay sao ?

Ra đường đáng giá người trinh thục
Trong bụng sao mà những gió trăng,

"Người" và "những" trong con mắt của người cố chấp thì chắc chắn là không đối rồi.

Hay là bài thơ nổi tiếng của vua Lê Thánh Tông

Đề Miếu Bà Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng...

Tịnh Ngọc
04-01-2006, 01:15 AM
Chúng ta thấy rõ ràng là trong hai cặp đối nhau, không phải tất cả các chữ cùng vị trí đều cùng tự loại cả, (tắt / cho), (đừng / lụy) , (nghe / đến) , (đôi / mượn), (vầng / đến) ngay cả (nhật nguyệt / đàn tràng) hay (trẻ / nàng) đều không đối theo quan niệm cứng ngắt hẹp hòi. Nếu bắt lỗi thì 4 câu của vua Lê Thánh Tông trong bài thơ truyền tụng lại đã phạm 6, 7 lỗi. Nhà vua là người uyên bác lại đứng đầu một thi đàn chẳng lẽ không biết luật.

Những sự phóng khoáng không để bị quy luật hạn hẹp của sự đối gò bó mình được thấy trong rất nhiều nhà thơ cổ xưa và hiện đại.

Những người hay phán xét thơ người khác qua lăng kính đó thì chỉ tìm xem đối từng chữ mà không thấy được những vần thơ có giá trị.

Tóm lại đối chỉ là 1 khía cạnh hình thức của thơ ĐL, mà ý tưởng, vần điệu và từ ngữ là những khía cạnh khác. Đáng giá một bài thơ ĐL không phải là trước tiên nhìn coi từng chữ có đúng tự loại hay không mà là âm điệu có êm đềm, thánh thót hay trầm bỗng, ý tưởng đặc sắc và từ ngữ trong sáng hay độc đáo và nhất là cả bài thơ có để lại cho người đọc một ấn tượng một rung động nào không.

Không lẽ

Ban ngày chó sủa trên đầu phố
Buổi tối mèo kêu dưới cuối phường

ngày/tối chó/mèo sủa/kêu trên/dưới phố/phường

là câu đối tuyệt hảo hay sao?

Đại cương về các thể thơ thường gặp (2) / Thơ Đường Luật

Luật Thơ Đường Đơn Giản hóa

Thơ đường luật về hình thức thì có thể nói đơn giản như sau:

Luật (1.) 8 câu, bảy chữ mỗi câu ("Thất ngôn bát cú")

Luật (2.) Chữ cuối câu 1,2,4,6,8 (câu đầu và tất cả câu chẳn) phải cùng một vần nhưng là 5 chữ khác nhau trừ khi cùng chữ nhưng khác nghĩa (thí dụ: trái mơ và giấc mơ).

(2.1) Chữ cuối câu 1,2,4,6,8 có cùng thanh bằng hay trắc nhưng thường thì thanh bằng dễ nghe hơn.
(2.2) Chữ cuối câu 3,5,7 là trắc nếu chữ cuối câu 1,2,4,6,8 là bằng và ngược lại .
.
Luật (3.) Chữ 2,4,6 trong mỗi câu phải đúng luật bằng trắc, chữ 1,3,5 sao cũng được cốt là nghe hoà hợp trong cả câu .

"Nhất tam ngũ bất luận,
Nhị tứ lục phân minh"

Luật (4.) Luật bằng trắc rất dễ, chỉ cần nhớ là trong hai câu đầu các chữ 2,4,6 thay đổi nhau

(4.1)

B,T,B
T,B,T

(4.2) rồi mirror 2 câu, sẽ có luật của 4 câu

B,T,B
T,B,T
------ mirror
T,B,T
B,T,B

(4.3) xong mirror 4 câu sẽ có luật của cả bài 8 câu B,T,B
T,B,T
T,B,T
B,T,B
------ mirror
B,T,B
T,B,T
T,B,T
B,T,B

Tịnh Ngọc
04-01-2006, 01:16 AM
Đây là luật cho các chữ 2,4,6. Như đã nói chữ 1,3,5 sao cũng được và chữ 7 thì theo luật số (1).

Thí dụ

Chiều tĩnh tâm

Ngôi chùa mái đỏ ngự trên đồi
Nhìn xuống dòng sông nước chảy xuôi
Bến vắng thuyền neo, neo đợi khách
Sông sâu sóng vỗ, vỗ ru đời
Thiền sư tĩnh tọa suy tiền hậu
Cư sĩ trầm ngâm nghiệm khứ hồi
Mây trắng giăng giăng chiều nắng nhạt
Hồi chuông xoa dịu kiếp con người .

Pham Doanh
___________________________________________

Cảm Tác

Chiều nay gió lạnh mờ hơi sương
Run rẩy cành trơ tuyết ngập đường
Nhớ thuở cơ hàn nơi xứ lạ
Thương thời lận đận lúc tha hương
Mây bay gió thoảng khơi tâm sự
Tuyết phủ sương mờ gợi vấn vương
Đất khách quê người xin gởi gắm
Nửa hồn còn lại kiếp lưu phương .

Gia Phong
___________________________________________

Ải Nam Quan

Hết rồi ơi hỡi ải Nam Quan
Lệ đổ lòng đau hận ngút ngàn
Gió Bắc vênh vang cười chiến thắng
Rừng Nam thổn thức khóc suy tàn
Buôn dân một Đảng mê quyền vị
Bán đất dăm tên hám bạc vàng
Chưa đánh đã nhường ôi nhục nhã
Tủi hờn Sông Núi kiếp nô bang

ThôngGià


Luật (5.) nếu lật ngược câu 2 và câu 1 trong luật (4.1) và áp dụng (4.2) và (4.3)
thì sẽ có như sau

(5.1)

T,B,T
B,T,B

(5.2)

T,B,T
B,T,B
---------- mirror
B,T,B
T,B,T

(5.3)

T,B,T
B,T,B
B,T,B
T,B,T
---------- mirror
T,B,T
B,T,B
B,T,B
T,B,T

Thí dụ

Vết tử thương

Người chiến binh kia ngã xuống rồi
Vết thương trên ngực máu còn tươi
Thù nhà trả hết tròn câu hứa
Nợ nước đền xong cả cuộc đời
Nhìn lá quốc kỳ bay phất phới
Biết quân kháng chiến thắng nơi nơi
Một hơi thở cuối trong lồng ngực
Mắt nhắm, lòng yên, nhẹ nét cười .

Luật (6.) các câu 3,4 và 5,6 phải đối nhau về ý và về tự loại
(chữ nào câu trên là verb/noun/adjective thì chữ ở vị trí đó của câu dưới cũng là verb/noun/adjectiv ...)

Thí dụ

Thù nhà trả hết tròn câu hứa
Nợ nước đền xong cả cuộc đời

Thù nhà ---> nợ nước (compound noun)
trả ---> đền (verb)
hết ---> xong (adverb)
tròn ---> cả (adverb)
câu hứa ---> cuộc đời (compound noun)


Bến vắng thuyền neo, neo đợi khách
Sông sâu sóng vỗ, vỗ ru đời


Bến ---> Sông (noun)
vắng ---> sâu (adjective)
thuyền ---> sóng (noun)
neo, neo ---> vỗ, vỗ (verb, repeated)
đơị ----> ru (present participle)
khách ----> đời (noun)


Thơ thí dụ

Thoảng Ngát Tri Âm

Bạn hãy cùng ta cạn chén đầy
Hàn huyên tâm sự mấy lời say
Thả trôi cay đắng đầy bi lụy
Buông lỏng ngậm ngùi lúc quắt quay
Muợn nguyệt đề thơ ngày hội ngộ
Nhờ mây vẽ cảnh phút men cay
Lỡ mai tóc bạc không về cội
Vẫn ngát tri âm những chuỗi ngày Triệu Minh

Tịnh Ngọc
04-01-2006, 01:18 AM
TẮT LỬA LÒNG
(NỖI LÒNG LAN)

Ai xui đôi lứa lỡ duyên đầu
Chàng thiếp tơ tình đã khắc sâu
Cứ ngỡ trần gian là cõi phúc
Nào hay dương thế chốn đa sầu
Mượn câu kinh Phật vui mùi đạo
Cậy bóng từ bi lấp biển dâu
Xác bướm nhành lan vùi một mộ
Dây chuông núm ruột cắt lòng đau

Chu Hà

________________________________________________

Giấc Mơ Buồn

Đêm qua mơ ngủ thấy Quê Hương
Thăm lại trường xưa với phố phường
Cây Điệp đầu làng còn tắm nắng
Gốc Bàng cuối ngõ vẫn phơi sương
Dạo nhìn lớp học, lòng xao xuyến
Đứng ngắm sân cờ , dạ vấn vương
Bè bạn Thầy Cô tìm chẳng gặp
Giật mình tỉnh giấc, lệ sầu thương

Minh Long

_____________________________________________

Thi Khách

Rượu phá thành sầu tri kỷ say
Mây mưa tuyết nắng ướp lời hay
Trăng ngang cánh liễu tình thơ nhả
Gió gợn hồ sương ý trút bày
Giai điệu tơ đan hồn tưởng vọng
Hồ trường giọt ấm chí ngời bay
Gom hương vẫy bút nghìn âm điệu
Nối bước người xưa lộng gió mây

Cát Biển

_____________________________________________

Không bắt buộc phải từng chữ đối chọi với nhau, mà cả nhóm chữ thành 1 loại cũng được, như ba chữ tạo thành nhóm danh từ thì đối với 3 chữ câu kế cũng tạo thành nhóm danh từ, chứ không bắt buộc từng chữ trong nhóm phải đối chọi nhau . Cần nhất là đối ý thôi. Dĩ nhiên là hoàn chỉnh tất cả là hay nhất, nhưng như đã nói, bình đẹp không bằng rượu ngon.

__________________________________________________ __

Trong bố cục của thơ Đường Luật, mỗi một câu đều có chức năng của nó:
hai câu đầu (1,2) là đề bài . Câu 1 là phá đề, câu hai là thừa đề (chữ thừa có nghĩa là nối theo câu phá để vào bài).
hai câu 3,4 còn gọi là Thực hay Trạng dùng để giải thích đầu bài cho rõ ràng. hoặc cũng có thể dùng để đưa thêm chi tiết bổ nghĩa .
hai câu 5,6 (Luận) bàn bạc hay bàn luận cho rộng nghĩạ cũng có thể dùng như câu 3,4 đưa thêm chi tiết.
hai câu cuối 7,8 (Kết) tóm ý nghĩa của toàn bài và thắt ý lại .

Thí Dụ

Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng vì chưng một tấm chồng,
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông. Nguyễn Khuyến

Tịnh Ngọc
04-01-2006, 01:21 AM
Có 8 câu bảy chữ nhưng các cụ xưa đã bày thêm rất nhiều thể loại (hơn 20) như

Thủ nhất thanh ( nhất đồng )
Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhaụ

Tám Mừng

Mừng đón xuân về, muôn sắc hoa,
Mừng xuân,xuân mới, mới thêm rạ
Mừng nghe nhựa sống, như còn trẻ,
Mừng thấy đời tươi, chửa muốn già.
Mừng khỏe đôi chân, đi đứng vững,
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xạ
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi,
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa

Lạc Nam
---------------------------------------------------------------
Song điệp

Tất cả 8 câu đều có 2 điệp từ :

Chuyện Đời

Vất vất vơ vơ, cũng nực cười,
Căm căm cúi cúi có hơn ai .
Nay còn chị chị anh anh đó ,
Mai đã ông ông mụ mụ rồị
Có có không không, lo hết kiếp
Khôn khôn dại dại, chết xong đờị
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy,
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơị
Nguyễn Công Trứ

Tính danh

Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh. Giống như Điển Thi, câu nào cũng dẫn 1 điển ở bên Tàu. Xưa kia các cụ đồ nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học, rộng kiến thức.

Lỗi Thề

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Đường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành(2) rở nhớ thương.
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương(4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8) mưa gió nẻo cầu sương.
Toại Khang

Láy ba (Vĩ Tam Thanh): Sạch sành sanh-dửng dừng dưng - sát sàn sạt . . .

Ngẫu Hứng

Tiếng gà bên gối tẻ tè te,
Bóng ác trông lên hé hẻ hè.
Cây một chồi cao von vót vót,
Hoa năm sắc nở lóe lòe loẹ
Chim tình bè lứa kia kìa kịa,
Ong, nhĩa vua tôi nhé nhẻ nhè.
Danh lợi mặc người ti tí tị,
Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe
Vô Danh

Tựu trung là những xảo thuật để chứng tỏ người viết giỏi về từ ngữ. Theo thiển ý chỉ có tính cách lạ, như Sơn Đông mãi võ trong làng thơ, còn về giá trị thơ thì không có bao nhiêu." (http://www.vietnet.com.au/tusach/)

Từ thơ Đường Luật ta có thể chuyển sang thơ Thất Ngôn Bát Cú một cách dễ dàng. Thơ TNBC có thể gọi là thơ Đường Luật theo hình thức về luật bằng trắc nhưng không gò bó về đối câu .

Đa số thơ hay của thời đại mới sau 1930 đều là TNBC, chứ Đường Luật chính cống vì quy luật về bố cục đối câu có tính cách gò bó làm cho câu thơ trở nên tù túng, khó mà phát huy cái tính phóng khoáng của thơ .

Một dạng khác của thơ TNBC là Thất Ngôn Tứ Tuyệt là 1 bài có 4 câu hay có nhiều đoạn, mỗi đoạn 4 câu . Nếu bài thơ có trên dưới 10 đoạn thì gọi là Thất Ngôn Tứ Tuyệt Trường Thiên. Điển hình là các bài thơ của TTKH.

Loại thơ Tứ Tuyệt Trường Thiên chủ yếu để diễn đạt một tâm tình dài hay kể chuyện .

Nhưng phổ thông nhất vẫn là Thất Ngôn Bát Cú, gói trọn một ý thơ vào 8 câu, không dài không ngắn.




Hết