PDA

View Full Version : Hoàng Hạc Lâu


Chân Trân
01-08-2005, 10:55 PM
Hoàng Hạc Lâu
bài thơ cuốn hút nhiều nhà thơ danh tiếng


Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, là một trong những bài thơ hay trong hàng trăm vạn bài thơ Đường . Hoàng Hạc lâu, hay đến nỗi tài thơ như Lý Bạch, đến Hoàng Hạc lâu, thấy thơ của Thôi Hiệu đề trên vách, liền vứt bút, không dám đề thơ nữa . Giai thoại là thế, Lý Bạch là thi tiên của đời Đường, là người uống một đấu rượu làm một nghìn bài thơ (Lý Bạch, đấu tửu thi bách thiên) vậy mà phải vứt bút . Bài thơ Hoàng Hạc Lâu có ma lực, và cái hồn của nó hay đến nhường nào vậy ? Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu nguyên văn như sau:

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Dịch Nghĩa:

Lầu Hoàng Hạc

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi mất rồi
Lầu hạc vàng còn trơ lại đây
Hạc vàng một khi đã bay đi, không trở lại nữa
Mây trắng nghìn thu lởn vởn hoài ...
Mặt sông, lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi
Trời tối rồi đâu là quê hương mình
Trên sóng khói tỏa, sóng gợn, khiến người sinh buồn.

Lầu Hoàng Hạc ở góc tây nam thành Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc là một nơi sông núi kỳ vĩ, vời vợi, thời Thôi Hiệu làm thơ cũng là một nơi gần với cõi tiên hơn là cõi trần . Truyền thuyết cho rằng Phí Văn Vi tu luyên thành tiên, thường cưỡi hạc về nghỉ ở lầu Hoàng Hạc .Đó là nơi người trần thế đến bỗng thấy chênh vênh giữa cõi tiên và cõi tục .

Bài thơ Thôi Hiệu ghi được nỗi cảm hoài của một kẻ lãng du, lãng tử, phiêu diêu giang hồ xa quê hương, muốn tìm đến một nơi cách biệt với cõi đời, nhưng cõi tiên nào thấy . Tiên chỉ còn lại trong truyền thuyết, trong nỗi khát khao . Trời đất tự nhiên đẹp đến mênh mang, hồn hậu ... Lúc đó chính là lúc lòng nhớ quê bổng trở nên da diết nhất, và một nỗi buồn trẩm lặng thăm thẳng cứ ngày một đậm đà thêm ...

Bài thơ còn hay về sự hồn hậu tự nhiên của tình cảm, từ dáng lầu không, mây trắng phủ lòa xoà, từ con sông tạnh phía xa xa, bãi cỏ thơm xanh rởn phía trước . Và âm nhạc, điệp từ trong bài thơ tạo ra một nỗi buồn sâu lắng, không sao dứt nổi .

Tản Đà đã dịch và bài dịch cho đến nay vẫn được coi là hay nhất :

Lầu Hoàng Hạc

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Đã có rất nhiều bản dịch thơ bài này, xin giới thiệu 2 bản dịch chọn lọc sau đây:

1/
Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy ;
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.

(Bản dịch của Trần Trọng San)

2/
Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu,
Còn đấy Hoàng Hạc chỉ trơ lầu.
Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy,
Mây trắng lững lờ đứng mãi sau.
Sông tạnh Hán Dương cây lắng bóng,
Bãi thơm Anh Vũ cỏ tươi màu.
Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ,
Khói sóng trên sông giục khách sầu.

(Bản dịch của Nguyễn Khuê)

Khi đi sứ nhà Thanh, Nguyễn Du cũng qua lầu Hoàng Hạc . Hẳn là ông có biết giai thoại Lý Bạch từng vứt bút không làm thơ ở đây . Nhưng Nguyễn Du, trước lầu Hoàng Hạc, lại có cảm nghĩ khác . Ông viết :

Hoàng Hạc Lâu

Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì
Do lưu tiên tích thử giang mi
Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng,
Hạc khứ, lâu không Thôi Hiệu thi
Hạm ngoại yên ba không diểu diểu
Nhỡn trung thảo thụ thượng y y
Trụng tình vô hạn bằng thùy tố
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri ...

(Bắc Hành Thi Tập -Bài 64)

Dịch Thơ

Lầu Hoàng Hạc

Đâu chốn thần tiên trải mấy thì ?
Dấu tiên, bờ bến dấu còn ghi
Xưa qua, nay lại Lư sinh mộng,
Hạc cũ, lầu không Thôi Hiệu thi
Khói sóng ngoài hiên còn ngát ngút
Cỏ cây trước mắt vẫn nguyên y
Lấy ai bầy tỏ tình chan chứa
Gió mát trăng trong có biết gì!

(Bản dịch của Ngô Văn Phú)

Bài thơ của Nguyễn Du tỉnh hơn, nhưng đã bổ sung cùng Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu , một nỗi buồn khác . Một nỗi buồn không da diết bằng, tỉnh táo hơn, lạnh lùng hơn, nhưng sự chán nản với cuộc đòi xem ra lại đậm đặc hơn :

Xưa qua, nay lại Lư sinh mộng,
Hạc cũ, lầu không Thôi Hiệu thi.

Cảnh lầu Hoàng Hạc vẫn cứ mênh mang, vẫn cứ đẹp như thời Thôi Hiệu, mà nỗi cô đơn của Nguyễn Du, xem ra cũng đã tận cùng đỗi :

Lấy ai bầy tỏ tình chan chứa
Gió mát trăng trong có biết gì!

Buồn đến nỗi sông tạnh, cỏ thơm, trăng trong, gió mát cũng không hay biết nữa ...


Chân Trân

Chân Trân
18-08-2005, 04:45 AM
Xung quanh các bản dịch Hoàng Hạc Lâu


Nước Việt Nam ta đã du nhập thi ca của một số quốc gia như Pháp, Anh,...nhưng nhiều nhất là Trung Hoa. Ngoài những bài cổ phong, một số thơ Đường đã được ông cha ta xưa ngâm vịnh trong những lúc nhàn đàm, trà dư tửu hậu.

Riêng người Trung Hoa thì có thể nói không một thanh niên nam cũng như nữ đã học xong bậc trung học mà không biết đến bài thơ thất ngôn bát cú Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Tác giả bài thơ đậu tiến sĩ và làm quan đời Đường Huyền Tông thế kỷ thứ VIII .

Lầu Hoàng Hạc không rõ xây dựng từ năm nào, hiện còn ở trên ghềnh đá Hoàng Hạc thuộc huyện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc. Bài thơ được đề trên vách lầu. Tương truyền Phí Văn Vi, một tu sĩ đắc đạo thành tiên đã từ nơi đây cưỡi hạc vàng bay đi, do đó mà có cái tên là lầu Hoàng Hạc.

Lý Bạch đã có lần du ngoạn đến nơi đây, đọc bài thơ, không tiếc lời khen ngợi và chỉ đề hai câu thơ ở dưới:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

(trước mắt có cảnh đẹp mà không nói lên được. Thôi Hiệu đã đề thơ trên kia rồi- ngụ ý: thơ hay quá rồi còn gì mà nói nữa)

Người ta cũng kể rằng năm 1972 Tổng thống Mỹ Richard Nixon sang thăm Trung Quốc, được Mao Trạch Đông dẫn đi xem lầu Hoàng Hạc, và khi đứng trước cảnh đã ngâm bài Hoàng Hạc Lâu cho Mao sếnh sáng nghe. Âu cũng là mánh khoé của nhà ngoại giao không ngoài mục đích ve vãn. Qua câu chuyện này đủ biết người Trung Hoa trân trọng bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu biết là chừng nào.

Nguyên tác: Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lình lịch Hán dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Dịch Nghĩa:

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc:
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không
Lòng sông quang tạnh in rõ cây đất Đương Hán
Cỏ xanh mướt ở bãi sông Anh Vũ,
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến ai buồn sầu.

Bài dịch I Hoàng Hạc Lâu

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lần.
Hạc vàng đi mất từ lâu,
Ngàn năm mây trắng một mầu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ, cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói lan sóng vỗ, ủ ê nỗi sầu.

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Theo ý người viết bài này thì dịch giả nên chú tâm đến hai câu thực, gói ghém cái ý đối chiếu ''nhất khứ'' và ''thiên tảí', hay nói cách khác cái ''khoảnh khắc'' đối với cái ''miên trường''. Người đời, việc đời nói chung thì cái gì cũng mòn mỏi, cũng qua đi, cũng xoá nhoà ( Tout lasse, tout passe, tout s'efface).
'' Yên'' dịch là khói nhưng đừng hiểu như trong câu ''Không có lửa sao có khóí'. Đây chỉ là hơi nước bốc lên. Từ '' yên ba" thường gợi cái ý cô tịch. '' Lưa", tiếng cổ ít còn dùng, có nghiã như lưu lại.

Dưới đây cũng là một bài thơ dịch khác theo thể lục bát:

Bài dịch II Lầu Hoàng hạc

Người xưa cưỡi hạc bay đi,
Trơ lầu Hoàng Hạc còn gì nữa đâu!
Một đi hạc chẳng quay đầu,
Ngàn năm mây trắng một màu phiêu diêu.
Hán Dương cây cối mỹ miều,
Bãi xa Anh Vũ, bóng chiều cỏ xanh.
Hoàng hôn đâu bóng quê mình?
Khói lan sóng nước, buồn tênh ai người?

Bản dịch của Văn Toàn

Làm sao cắt nghiã được lời thơ? Một câu hỏi được đặt ra: ''Bài Hoàng hạc lâu vì sao được ca tụng và lưu truyền? Cái gì thì cũng có cái lý của nó.

Bạch-cư-dị, một nhà thơ cự phách đời Đường đã từng nói: ''văn viết phải hợp với mỗi thời đại, thi ca phải sát với đề tài"- nói cách khác là văn chương nói chung phải hiện thực (réel, concret). Thử xét xem bài Hoàng Hạc Lâu có những điểm chính yếu này không?

Cái chuyện người xưa đắc đạo cưỡi hạc về trời khỏi cần phải chứng minh vì muôn ngàn năm sau vẫn chỉ là truyền thuyết (une légende). Cái hiện ra trước mắt vẫn là lầu Hoàng Hạc. Mộng và thực quấn quít lấy nhaụ Thần thoại với vết tích gắn liền với nhau. Hạc vàng bay đi không hề trở lại trong khi đó mây trắng vẫn nổi trôi trên bầu trời trước như sau đâu khác.

Bối cảnh cho chủ đề đầy màu sắc, đường nét, mây trắng bay, dòng sông lung linh, bóng cây trên bờ in rõ nét, cỏ xanh mướt một màu, có thể nói đường nét và màu sắc hoà điệu ( s'harmoniser) bao quát cả trời cao đất thấp.

Cũng nên nói thêm thời gian lặng lẽ trôi, thoáng một cái trời đã trở về chiều - nhật mộ - mà xưa nay cái cảnh chiều tà vẫn thường gieo vào lòng người một nỗi buồn xa vắng nhất là với kẻ tha hương.

Tiện đây xin chép thêm mấy bài thơ dịch khác gọi là ''đông có mây, tây có sao".

Bài dịch III Hoàng Hạc Lâu

Người xưa cưỡi hạc biết đi đâu?
Hoàng hạc trơ đây một mái lầu.
Biền biệt hạc vàng không trở lại,
Phiêu diêu mây trắng vẫn trên đầu.
Sông quang rõ nét Dương Hán thụ.
Cỏ mướt xanh màu Anh Vũ châu.
Quê cũ chiều tà đâu chẳng thấy.
Trên sông khói sóng khiến ai sầu.

Bản dịch của Văn Toàn

Bài dịch IV Lầu Hoàng hạc

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Ngô Tất Tố

Các cụ Trần Trọng Kim, Tản Đà, Ngô Tất Tố đều là những bậc thâm nho, lại sính dịch thơ Đường. Mình, hậu bối, cũng thử dịch chơi, mon men lên chiếu các cụ cũng là một ngạo mạn nhỉ?

Để kết luận, người viết nghĩ rằng mỗi bài thơ dịch có cái hay, cái khéo riêng. Đọc nguyên tác của Thôi Hiệu người viết cho rằng cái điều khiến mãi mãi về sau cảm động lòng người là cái ý rất mơ hồ, bàng bạc là ''thiên vẫn trường, địa vẫn cửu" mà chỉ con người, việc người xuất hiện trong khoảnh khắc rồi mất bóng thật đáng buồn. Kẻ tu hành đắc đạo lên tiên. Sao ta cứ lẩn quẩn với cuộc sống, cơ khổ với công danh sự nghiệp, quấn quít với vợ con, khổ lụy vì thương nhà nhớ nước? Nhưng thử hỏi đã mấy người tu dắc đạo hay chỉ có bề ngoài mà lòng trí vẫn ấn vương, vương vấn sự đời nhỉ?


Văn Toàn

Chân Trân
06-02-2006, 03:07 AM
Hoàng Hạc Lâu
(Lầu Thơ Vút Cánh Hạc Vàng)





Thơ Đường là một sản phẩm vô giá, một nghệ thuật trác tuyệt của nền văn hóa phương Đông, là một đỉnh cao sáng chói và thành tựu rực rỡ của nền văn học thi ca Trung Quốc. Thơ Đường chan chứa tình người, tình đời, tình đạo, có giá trị nhân bản cao, thấm đượm những tư duy thâm thúy và mẫn cảm của con người trước thế sự thăng trầm, thời cuộc điên đảo, tâm lý xã hội phức tạp. Những bài thơ Đường với những hình tượng sáng sủa, tình ý sâu sắc, đã biểu lộ những rung động chân thành của trái tim con người trước thiên nhiên vũ trụ, xã hội và gia đình, tình yêu, tình bạn v.v…


Một bài thơ Đường chỉ thu hẹp hạn chế trong một số chữ theo đúng niêm luật, nhưng đã tạo nên một sự hài hòa tương xứng về âm thanh, hình ảnh và nỗi lòng … đã có một sức truyền cảm tuyệt vời, tạo một sự quyến rũ vô cùng. Bước vào thế giới Đường Thi như đi lạc vào khu rừng trùng trùng điệp điệp đầy kỳ hoa dị thảo, hương sắc muôn màu, càng đọc, càng suy tư, càng thấm thía và say mê… Học giả Trần Trọng San đã viết rằng: "Tôi bước vào cảnh giới Đường Thi từ bến Phong Kiều qua lầu Hoàng Hạc. Phong Kiều Dạ Bạc và Hoàng Hạc Lâu là hai bài đã in trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất trong số những bài thơ Đường mà gia nghiêm đã dùng dạy tôi học chữ Hán trong lúc ấu thời.". Học giả Kiều Văn đã nhận xét rằng: "Nhiều câu thơ Đường đã trở thành câu nói cửa miệng nhân gian như:

- Mạc sử kim tôn không đối nguyệt
(Dưới vầng trăng đừng để chén không)
-Nhân sinh thất thập cổ lai hi
(Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm)
-Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng
(Trời sinh tài ta, tất được dùng)
-Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
(Hạc vàng một đi không trở lại)

" Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản" … Hạc Vàng đã bay đi về một khung trời miên viễn nào đó …. nhưng Hoàng Hạc Lâu mãi mãi đã để lại một âm vang kỳ diệu, một hình ảnh sống động, một suy tư trầm bổng khôn nguôi trong lòng người đọc …


NGUYÊN VĂN BÀI THƠ:

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!


Thôi Hiệu


ĐÔI GIÒNG VỀ THI SĨ THÔI HIỆU ( Ts'ui Hao , Cui Hao):


Thi sĩ Thôi Hiệu ( 704? – 754) người Biện Châu ( hiện nay là huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam), đậu Tiến Sĩ niên hiệu Khai Nguyên (725, đời Đường Huyền Tông), làm đến chức Tư-huân viên-ngoại-lang. Thi sĩ Thôi Hiệu có bản tính lãng mạn, nhiều lần kết hôn và ly dị. Cùng thời với Vương Duy, ông gia nhập nhóm văn đoàn Kỳ Vương Lý Phạm. Thơ Thôi Hiệu phóng khoáng, tao nhã. Hai bài nổi tiếng của ông là khúc nhạc phủ Trường Can Hành và bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã đưa ông lên đỉnh cao sáng chói của nghệ thuật thơ Đường.

GHI CHÚ CÁC ĐỊA DANH:


Hoàng Hạc Lâu: Lầu Hạc Vàng ở đầu cầu Vũ Xương, phía Tây Bắc phủ Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, bên sông Trường Giang.
Hán Dương: huyện Hán Dương thuộc tỉnh Hồ Bắc, ở phía nam sông Hán Thủy thành phố Vũ Hán ngày naỵ
Anh Vũ châu: cồn Anh Vũ giữa sông Trường Giang, phía bắc lầu Hoàng Hạc, phía Tây Nam thành phố Vũ Hán

TRUYỀN THUYẾT VÀ KIẾN TRÚC
LẦU HOÀNG HẠC:



Theo sách Hoàn Vũ Ký, Phí Hôi từ lầu nầy cưỡi hạc vàng đi tu tiên. Sách Tề Hài Chí thì ghi Vương Tử An thành tiên cưỡi hạc vàng bay ngang lầu nầy.

Sách Nguyên Hòa Chí thì ghi lầu nầy được dựng trên mỏm đá có tên Hạc Vàng.

Theo truyền thuyết, khu đất lầu Hoàng Hạc cổ xưa vốn là một quán rượu của một người tên Tân. Một hôm có một vị thiền sư theo Lão Giáo ghé quán nầy nghỉ chân, và được chủ quán mời rượu không tính tiền. Để đền ơn chủ quán, vị thiền sư vẽ hình một con hạc vàng lên bờ tường và khi vỗ tay khi con hạc nhảy múa rất đẹp mắt. Từ khi có hiện tượng kỳ lạ nầy, quán rượu thu hút rất nhiều khách thập phương và vị chủ quán trở nên giàu có. Khoảng 10 năm sau, vị thiền sư trở lại thăm quán rượu, lần nầy vị thiền sư thổi sáo và sau đó vỗ tay gọi cánh hạc bay ra và cưỡi lưng hạc về trời. Để ghi nhớ cảnh tượng kỳ lạ và cơ duyên trong việc gặp gỡ vị thiền sư huyền bí nầy, người chủ quán giàu có gọi nhân công xây một căn lầu gọi tên là Hoàng Hạc Lâu (lầu Hoàng Hạc).

Theo sử liệu ghi chép thì lầu Hoàng Hạc được xây vào năm 223 (AD) sau Công Nguyên . Sau khi hoàn thành xong thì lầu Hoàng Hạc là nơi các vị hoàng tộc triều đình và các văn thi sĩ, tao nhân mặc khách thường lui tới chốn nầy để ngắm cảnh và làm thơ. Theo tài liệu văn học Trung Quốc thì có khoảng 300 bài thơ tả cảnh lầu Hoàng Hạc, nhưng chỉ có bài thơ của Thi Sĩ Thôi Hiệu là xuất sắc nhất, phổ thông nhất, có giá trị nghệ thuật vượt không gian và thời gian, được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.

Lầu Hoàng Hạc nguyên thủy được làm bằng gỗ, sau khi bị hỏa hoạn nhiều lần, lầu được trùng tu lại nhiều lần. Công việc trùng tu được bắt đầu từ năm 1981, và hoàn thành năm 1985, và cũng trong năm này được mở ra cho công chúng vào thăm viếng. Hoàng Hạc Lâu nguyên thủy là một kiến trúc bằng gỗ chạm trổ gồm ba tầng, ở trên đỉnh bằng đồng. Lầu Hoàng Hạc ngày nay trông lộng lẫy hơn, gồm năm tầng, cao 51.4 mét (cao hơn kiến trúc cũ 20 mét). Tầng thấp nhất có kích thước 20 mét mỗi bề (lầu cũ chỉ có 15 mét), nên du-khách biết ngay đây là một kiến trúc xây lại hoàn toàn mới, chứ không phải tu bổ từ căn lầu cũ. Tuy lầu Hoàng Hạc mới được xây lại dựa trên quan điểm thẩm mỹ hiện đại và kỹ thuật kiến trúc tân thời, nhưng vẫn còn giữ lại những đặc tính văn hóa và nét đẹp cổ truyền của lầu Hoàng Hạc cổ xưa.

Lầu Hoàng Hạc đã được nhiều thi-văn-sĩ đến thăm viếng cảnh và đề thơ. Học giả Trần Trọng San đã ghi chép: "Trong số những câu đối đề lầu Hoàng Hacï, câu sau nầy được coi là hay nhất, vì có tình thú đậm đà, dùng được nhiều chữ trong thơ xưa liên hệ với lầu nầy, miền nầy:

Hà thời hoàng hạc trùng lai, thả cộng đảo kim tôn, kiêu châu chử thiên niên mậu thảo;
Đản kiến bạch vân phi khứ, dữ thùy xuy ngọc địch, lạc giang thành ngũ nguyệt mai hoa.

Bao giờ hạc vàng trở lại, hãy cùng rót chén vàng, tưới cỏ tươi ngàn năm trên bãi;
Chỉ thấy mây trắng bay đi, với ai thổi sáo ngọc, mai tháng năm rụng xuống thành sông.

Chân Trân
06-02-2006, 03:10 AM
DỊCH NGHĨA BÀI HOÀNG HẠC LÂU CỦA THÔI HIỆU:

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay mất rồi
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hạc vàng hoang vắng
Hạc vàng một lần bay đi không thấy trở về
Mây trắng ngàn năm cứ mãi trôi hoài
Bên sông tạnh cây cối miền Hán Dương tươi sáng
Bãi Anh Vũ cỏ tươi mơn mởn ngát thơm hương
Chiều tối không biết quê nhà ở đâu?
Khói sóng trên sông làm lòng người sầu vương

DỊCH THƠ:

Bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã được rất nhiều nhà chuyên khảo Hán Học uyên bác, các học giả tiền bối Việt Nam, và các thi sĩ say mê Đường Thi dịch với những bản dịch trác tuyệt, phong phú và tài hoa. Mỗi dịch giả có một phong cách sáng tạo và cách dịch thâm thúy khác nhau dưới các khía cạnh thưởng ngoạn đa dạng với những nhận thức tinh tế, những cảm xúc nghệ thuật và rung động thẩm mỹ muôn chiều khi đọc, ngâm, vịnh một bài thơ Đường. Các bản dịch của các học giả và thi-sĩ muôn phương đã được ghi chép ở cuối bài… đó chính là những tài liệu tham khảo quí giá, là khuôn vàng thước ngọc cho bài sưu khảo nầy… Sau đây là hai bản dịch của tác giả:

Lầu Hạc Vàng


1-
Người xưa cưỡi hạc vút xa đây
Hoàng Hạc lầu trơ quạnh chốn nầy
Một thuở hạc vàng hun hút khuất
Ngàn năm mây trắng lững lờ bay
Hán Dương sông tạnh cây tươi thắm
Anh Vũ đồng thơm cỏ mịn dày
Chiều phủ quê xa mù mịt bóng
Sông vờn khói sóng não nề thay!


2-
Người xưa theo cánh hạc vàng
Vút bay thăm thẳm, bẽ bàng lầu thơ
Thoắt đi cánh hạc xa mờ
Mênh mang mây trắng thẫn thờ luyến thương
Cây xanh vờn bãi Hán Dương
Cỏ thơm Anh Vũ lộng hương bốn bề
Chiều buông phủ lạnh bóng quê
Chập chùng khói sóng thảm thê khách sầu

Hải Đà phỏng dịch

Chân Trân
06-02-2006, 03:13 AM
VÀI CẢM NGHĨ VỀ BÀI HOÀNG HẠC LÂU:


Hoàng Hạc Lâu là một bài thơ vịnh cảnh đặc sắc phong phú, man mác một vẻ hoài cổ ung dung tự tại, mang lại một mối sầu tiếc luyến thương bâng khuâng, cho người đọc cảm thức một vũ trụ huyền vi với những hình ảnh quyến rũ tuyệt vời, xen lẫn những chiêm nghiệm về cuộc sống đời thường trong một vũ trụ mênh mang bát ngát. Vũ trụ trong bài thơ được xem như một căn bản, một nền tảng tồn tại cho một tâm thức cá thể, để con người phải suy tư trầm ngâm đi tìm nguồn cội, nơi chốn để trở về, điểm cuối cùng của đời người: một quê cha đất tổ muôn vàn yêu dấu …

Theo sách "Thương lang thi thoại", Nghiêm Vũ đời Nam Tống đã nói rằng " Đường nhân thất ngôn luật thi, đương dĩ Thôi Hiệu Hoàng Hạc Lâu đệ nhất" (Thơ niêm luật đời Đường bảy chữ, phải xếp bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu vào hạng nhất). Hoàng Hạc Lâu đã đưa Thôi Hiệu lên đỉnh cao sáng chói của thi-văn-đàn Trung Quốc. Đó là một bài thơ đã nói lên cái ý thức gia-tộc, quê hương rất xúc tích tràn trề, đã đưa cảm quan con người từ một sinh vật nhỏ bé, ở một nơi chốn không gian thu hẹp: từ một lầu cao có tên Hoàng Hạc phóng tầm mắt ra xa vạn dặm đến tận độ vô cùng vô thủy vô chung … từ nơi đó đưa trí tưởng con người về một khung trời vạn cổ xa xăm: vũ trụ đã trở thành biểu trưng của tâm hồn người thơ …

Từ nơi chốn miên viễn đó đã tạo nên một truyền thuyết mang sắc thái huyền bí, một khung cảnh thần tiên, một ý niệm thiêng liêng … Lầu Hoàng Hạc được xây trên một địa điểm cao có thể nhìn chung quanh bốn phương trời lồng lộng và nhìn xuống dưới là dòng sông Dương Tử trong tỉnh Hồ Bắc. Nước sông cuồn cuộn chảy theo hướng đông để nhập vào biển cả bao la … gây một cảm giác chia ly ngăn cách … cái cảm giác đó đã được nhà thơ biểu lộ trong hai câu đầu tiên:

Người xưa cưỡi hạc vút xa đây
Hoàng Hạc lầu trơ quạnh chốn nầy

Người Thơ đã tự nhìn mình như một người khách lạ, một cõi riêng ta, dưới cái cái cảm quan của một khách thể, đưa bản ngã hòa đồng vào đại ngã của một vũ trụ mênh mông bát ngát, một cõi hư vô bàng bạc …

Người xưa đã cưỡi hạc bay về đâu, ở nơi chốn nào, người thơ chỉ cảm nhận điều đó ở trong nội tâm thầm kín và thăm thẳm, mà không tìm hiểu, và chỉ biết cái hiện hữu là lầu cao nơi người thơ đang phóng tầm mắt nhìn bốn phương trời vô định chỉ còn là sự trống trãi trơ trọi bơ vơ giữa vũ trụ muôn trùng.

Hạc vàng đã bay đi khuất rồi, nhìn lên bầu trời quang tạnh chỉ còn thấy vầng mây trắng lững lờ lặng lẽ trôi mãi ngàn năm … một cảm giác lênh đênh, một nỗi cảm khái dâng tràn, một cảm quan xao xuyến bồn chồn ngập tràn tâm hồn của người thơ, để từ cái nơi chốn không gian bao la đó, bỗng chiêm nghiệm và cảm thụ rằng có một mối liên quan mật thiết giữa con người – một sinh vật yếu đuối nhỏ bé – với một không gian mênh mông trùng điệp trong vũ trụ huyền vi biến hóa khôn lường… để từ đó cảm nhận được sự tương giao, tương hợp giữa tiên hạc trên trời và chuyện con người, sự sống, và đời thường:

Một thuở hạc vàng hun hút khuất
Ngàn năm mây trắng lững lờ bay

Hạc vàng và mây trắng: hai hình ảnh và màu sắc tương phản. Hạc trắng tượng trưng cho thiền nhân ẩn sĩ, triết lý vô vi, và hình tượng bất tử. Mây trắng là biểu tượng của trinh bạch, tinh khiết, thư thái và yên tĩnh, và là cảm hứng thôi thúc cho con người trầm mặc, suy tư và thiền định . Hạc là loài chim có ý thức bay đi, còn mây là vật vô tri lơ lửng trong không gian mà hướng đi không chủ định. Bài thơ đã gợi ý vầng mây trắng bay đi vào quá khứ vô tận, có lẽ vì sự "bất tử" không còn hiện hữu ở nơi chốn đó nữa, hoặc có lẽ sẽ không có một sự "bất tử" nào khác có thể thay thế được . Hạc và mây gợi nên một ý tưởng ly biệt, phân cách, cánh hạc sẽ bay đi bay mãi bỏ lại vầng mây trắng huyền ảo lơ lửng giữa bầu trời thăm thẳm …

Từ cái sự ly biệt đó, nhà thơ đã đưa người đọc về lại cái thực tế hiện hữu của con người, đó là cái không gian có cuộc sống, có không khí, hơi thở của con người, có sự tồn tại của thiên nhiên, cây cỏ, sông núi, của những nơi chốn ngập tràn ánh dương và ngào ngạt hương sắc, đã tạo ra một hình ảnh sống động tương giao trong vũ trụ, đem lại sức mạnh lâng lâng gợi cảm vô hình …

Hán Dương sông tạnh cây tươi thắm
Anh Vũ đồng thơm cỏ mịn dày


Cái hình ảnh tươi mát "cỏ thơm mịn dày" = "phương thảo thê thê" = fragrant grass rich-thick , ở bãi Anh Vũ, đã giống ý từ trong một bài nhạc phủ Trung Hoa, Chiêu ẩn sĩ trong Sở từ có nội dung " khi chàng đi chơi xa chưa về, trời đã sang xuân cỏ thơm mơn mởn và xanh ngát …" (Vương tôn du hề bất quy, xuân thảo sinh hề thê thê ) đó là hình ảnh cụ thể có màu sắc tươi mát và sống động, nhưng hình ảnh đó lại trớ trêu, lạ lùng không đúng chỗ và không hài hòa với những đặc điểm chung quanh, vì cỏ xanh biểu tượng cho một mùa xuân vui tươi hạnh phúc, mà nhà thơ lại gợi nhớ đến sự chia ly .. (It is customary to associate apparently incongruous description of scenery with narrative lines in Chinese to achieve greater colour and concreteness, but there can be irony in the association as there is here when spring, a glad time, recalls parting - Wayne Schlepp).

Tuy nhiên chúng ta nên nhớ rằng cùng một từ ngữ Trung-Hoa, phát âm giống nhau nhưng lúc viết khác nhau và cũng có hai nghĩa khác biệt (đồng âm dị nghĩa), như chữ "thê thê" có nghĩa là xanh tươi, mơn mởn, nhưng còn có nghĩa là lạnh buốt, buồn bã (khi phát âm)

Từ những hình ảnh mơ ảo xa vời của mây trắng ngàn năm phiêu lãng, hờ hững cuồn cuộn trôi " du du " đến những hình ảnh rất thực tế và sống động chứng minh sự hiện hữu của con người trong đó có nhà thơ đang đứng thầm lặng trên lầu Hoàng Hạc: cây cối tươi sáng rõ mồn một "lịch lịch" và cỏ thơm xanh mát mơn mởn "thê thê" ….

Thôi Hiệu đã vẽ nên một bức tranh thủy mạc tuyệt vời. Thêm vào đó là hai địa danh cụ thể bất di bất dịch: Hán Dương và Anh Vũ đã tạo ra "thiên tính" của thơ cụ thể, dễ làm cho người đọc cảm nhận một cách dễ dàng, theo như quan điểm của một nhà phê bình văn học phương Tây: "Thơ không phải là thứ ngôn ngữ máy tính, cơ giới mà là thứ ngôn ngữ cụ thể có thể cảm nhận được … ý tượng của thơ không chỉ là sự óng ả trau chuốt , mài dũa mà còn là tinh hoa mẫn tuệ của ngôn ngữ trực quan (Hulme)".

Hán Dương là thành phố dân cư ở phía Nam con sông và Anh Vũ, là một hòn đảo nhỏ giữa sông Trường Giang. Anh Vũ còn gọi là Cồn Vẹt (một loài chim ở lại đối lại với cánh hạc đã bay đi), tương truyền rằng cuối đời Đông Hán con trai của vị Thái Thú ở đây có mở tiệc ăn mừng, có một vị tân khách dâng chim vẹt, có người làm bài phú kể lại chuyện nầy, và từ đó bãi Anh Vũ được gọi là cồn Vẹt.

Thi sĩ Thôi Đồ (không phải Thôi Hiệu) cũng đã nói về bãi Anh Vũ nầy qua bài thơ cảm hứng "Anh Vũ Châu Xuân Vọng" (Ngắm cảnh xuân trên bãi Anh Vũ) có hai câu thơ tả cảnh và tình rất đẹp:

U đảo noãn văn Yên nhạn khứ
Hiểu giang tình giác Thục ba lai

(Thôi Đồ)

(Trên đảo vắng –Anh Vũ- thoảng nghe tiếng chim nhạn Yên bay đi
Trên sông tạnh buổi sớm mai biết rằng sóng Thục đã xô về)

Đảo vắng nhạn Yên tung cánh vỗ
Sông mai sóng Thục dập dềnh xô

(Hải Đà)

Như vậy bãi Anh Vũ là một phong cảnh đẹp, có nắng ấm, có tiếng chim bay, có sóng vỗ, nhưng buồn vắng quạnh hiu, đã gợi tình cho tao nhân mặc khách đề thơ. Bãi Anh Vũ cũng đã được Lý Bạch đưa vào một bài thơ sẽ đề cập sau.

Từ cái cảnh tượng sống động thực tế trước mắt (nhãn quan) đó, nhà thơ đã đưa chúng ta đến cái cảm quan khi nhìn thấy sương khói mù mịt lãng đãng bao phủ bầu trời trên sông, để cảm thấy nỗi buồn vời vợi khi nghĩ đến quê hương xa cách nghìn trùng không biết ở đâu mà tìm "Nhật mộ hương quan hà xứ thị ? " (Chiều tối rồi, không biết quê nhà ở đâu nhỉ) ….

Nếu phân tích cho kỹ, chúng ta không hiểu có phải sự vô tình hay cố ý mà tác giả bài thơ đã dẫn giải cho chúng ta thấy cái nguyên lý âm dương của tạo hóa vô hình … Cái sáng sủa của cây cỏ tốt tươi biểu tượng cái "dương" tính, trong khi cảnh hoàng hôn, chiều buông, mặt trời tắt báo hiệu một ngày đã hết biểu tượng cái "âm" tính. Đó là cái định luật vô thường của thiên nhiên tạo hóa.
Theo Lão Tử thì muôn sự vật trên đời rất đa dạng, và sự vật nào cũng muốn quay về nguồn cội của nó, và khi trở về căn nguyên nguồn cội tức là về trạng thái tĩnh (Phù vật vân vân, các phục quy kỳ căn, quy căn viết tĩnh). Hai câu thơ cuối trong bài Hoàng Hạc Lâu đã nói lên cái tâm trạng hoài hương của người lữ thứ xa nhà, xa quê biền biệt.

Cái trạng thái tĩnh đó chính là cảnh hoàng hôn buồn vời vợi khi nắng chiều đã tắt, lại thêm khói sóng chập chùng trên sông đã tạo nên cái buồn não nuột cho khách đường xa mà bóng quê thì mờ mịt xa lắc xa lơ … ai mà chẳng nao nức muốn quay về nguồn cội là nơi quê nhà cũ của mình, đó chính là cái khát vọng sâu xa và thầm kín của con người muốn hòa nhập với thiên nhiên, và thiên nhiên cảnh vật chung quanh như muốn chia xẻ với người thơ nỗi ngậm ngùi xót xa, bồi hồi nhớ nhung quê cha đất tổ:

Chiều phủ quê xa mù mịt bóng
Sông vờn khói sóng não nề thay

Chân Trân
06-02-2006, 03:16 AM
PHÉP ĐỐI NGẪU VÀ CẤU TRÚC CỦA BÀI THƠ:


Theo luật thi, trong một bài thơ Đường bảy chữ (thất ngôn bát cú), theo nguyên tắc luật niêm vận phải chặt chẽ, phải tuân theo luật đối ngẫu, hai liên ở giữa phải đối nhau hài hoà cả thanh lẫn ý . Phép đối ngẫu (parallelism) là một phương thức kỹ thuật dùng chữ rất đặc trưng của các thi-sĩ Trung Hoa, có thể so sánh với pháp "ẩn dụ" (metaphor) của các thi sĩ phương Tây (một ví dụ về "pháp ẩn dụ" của phương Tây như: She has a heart of stone – Cô ta có trái tim bằng đá).

Tuy nhiên bài thơ Hoàng Hạc Lâu là một ngoại lệ. Bốn câu thơ đầu không theo đúng qui luật bằng trắc, làm ta tưởng chừng như đó là một bài thơ cổ phong.

Phép đối ngẫu chỉ thành công khi nó diễn tả và lột xác được cái nội dung thâm thúy và ý tứ sâu sắc của bài thơ mà thôi. Nhờ những câu thơ đối nhau tuyệt tác tài tình mà người đọc có thể hiểu được và cảm nhận cái tinh hoa của bài thơ …Trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu, ngay hai câu thơ đầu tiên (liên 1) đã thấy có đối nhau (mặc dầu luật thi không bắt buộc), người ta nói đây là phá thể của thơ Đường:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Con chim hoàng hạc (một động vật di động) để đối lại với lầu Hoàng Hạc (một tĩnh vật bất động), người thơ đã đi ra ngoài khuôn cách gò bó của thể thơ Đường, người thơ đã "phá" cái cấu trúc thông lệ … và chính cái sự bất thường ngoại lệ đó đã làm nổi bật sáng tỏ hai sự vật tương phản, giữa cái động (chim) và cái tĩnh (lầu), giữa cái đi (chim đã bay mất rồi) và cái ở (lầu còn đó trơ trọi), đó chính là điểm phân biệt giữa cái hư vô và hiện hữu. Trong liên 2 (hai câu thơ 3 và 4) luật đối không chỉnh:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du

"bất phục phản" (không trở lại) không đối chỉnh với "không du du"
(vẫn bay bay, hững hờ trôi)

Những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã phân tách và gọi hiện tượng nầy là "song hành phi đối xứng" (asymmetric parallelism). Nhà thơ đã phóng bút một mạch để ý thơ lai láng tuôn tràn tự nhiên mà tạo ra cái gọi là "tự đối tự phi đối", làm cho bài thơ tự nó có một sự lôi cuốn hấp dẫn lạ lùng.

Ngôn ngữ Đường Thi Trung Quốc là một sự giao hòa của các biểu tượng nhạc tính và âm tiết, nên khó diễn tả một cách tương ứng trong các bài thơ dịch ra ngôn ngữ ngoại quốc. Cái đặc trưng của ngôn ngữ thơ Đường là bao gồm "Từ tượng" (Onomatopoeia) nghĩa là sự kết hợp âm thanh trong một từ bắt chước giống nhau như "phì phì" (hiss), "cúc cu" (cuckoo), "thùm thụp" (thud); kế đến là "Trùng Âm" (assonance), và "sự lặp lại kế tiếp nhau của cùng một chữ hoặc một âm" (alliteration, ex: "sing a song of sixpence" – hát một bài hát về sáu xu) (The Chinese language provides a vast range of musical and rhythmic devices, none of which can adequately be shown in translation.

Onomatopoeia, assonance and alliteration work in a way familiar to us but their use for conscious effect in Chinese is more often confined to pairs of words which sound typically poetic to a Chinese - Wayne Schlepp)

Những điệp-ngữ-thể (dùng hai chữ lắp làm một, "double-compound) là một xảo kỹ trong ngôn ngữ Đường thi, như qua bài Hoàng Hạc Lâu chúng ta đã thấy các chữ "du du, lịch lịch, thê thê", đã gây một sự lôi cuốn và quyến rũ vô cùng. Đây là một đặc điểm khó tìm thấy trong thi văn của phương Tây.

Chúng ta cũng đã thấy trong Bài thơ Hoàng Hạc Lâu 4 câu thơ đầu mà đã có 3 lần lặp chữ, trùng ý "hoàng hạc" (câu 1,2,3) và 2 lần chữ "không" (câu 2 và 4), đây là những điểm tối kỵ trong luật thơ Đường rất cô đọng vỏn vẹn trong 8 câu và 56 chữ . Nhưng không vì thế mà bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã trở thành tầm thường gượng ép, trái lại ý thơ tuôn trào một cách tự nhiên mạch lạc …

Điểm khác biệt nầy chính là điểm sáng của bài thơ …Tác giả đã không ngần ngại phơi bày hình ảnh "hạc vàng" ba lần trong một bài thơ ngắn gọn chắc hẳn phải có một dụng ý thâm thúy … điều đó tác giả chỉ muốn gây một ấn tượng mạnh vào tâm hồn người đọc, vì hình ảnh "hạc vàng" tượng trưng cho sự tao nhã, cao quí, cho một cái gì vĩnh hằng và vô thường …

Người ta thường nói rằng "cưỡi hạc qui tiên" phải chăng "hạc vàng" là phương tiện cao siêu huyền bí để dẫn dắt và chuyên chở con người đến một thế giới khác vô nhai vô thủy vô chung, một nơi chốn vĩnh cửu tu tâm đắc đạo, đạt được chân lý vi diệu của đạo pháp, để thấy rằng cuộc đời chỉ là một giấc mơ ngắn ngủi tạm bợ, công danh sự nghiệp chỉ là màn vân cẩu ảo hóa, phù du.

Trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng, Lâm Đại Ngọc đã phát biểu "Quả thật nếu có những câu thơ kỳ lạ, thì dù không cần theo đúng bằng trắc, hư thực và không cần đối chỉnh cũng đều được cả" (Nhược thị quả hữu kỳ cú, liên bằng trắc hư thực bất đối đô sử đắc đích) . Để diễn đạt được ý thơ tuyệt tác, Thôi Hiệu đã không ngần ngại phóng bút như vậy, cái tài tình của nhà thơ đã không làm cho "từ" hại "ý" là vậy.

Tác giả đã phá cách thể thơ như vậy, nhưng chỉ trong 4 câu đầu, và tác giả đã mau chóng trở lại với niêm luật và đối khổ trong 4 câu thơ sau để còn giữ cái phong cách an nhiên tự tại và sắc thái tao nhã lịch lãm của bài thơ Đường luật. Đây là một nghệ thuật chuyển ý tuyệt vời, nghệ thuật tài tình đó như một chất keo pha lê gắn liền hai nửa khác nhau, không để lại dấu vết ranh giới, để chuyển hợp hài hòa thành một bài thơ Đường có cấu trúc hoàn mỹ và tinh vi …

Chân Trân
06-02-2006, 03:21 AM
LÝ BẠCH VÀ HOÀNG HẠC LÂU


Thi sĩ Lý Bạch là một ngôi sao Bắc Đẩu sáng chói của thời Thịnh Đường (713-846), thi ca được phát triễn rực rỡ, đa dạng, phong phú đủ mọi đề tài, là nhờ sự yêu chuộng văn nghệ và quí trọng thi nhân của vua Đường Minh Hoàng. Lý Bạch là một đại thụ sừng sững nổi bật nhất trong thời kỳ thịnh đạt của Đường Thi. Ông là người tiền phong khai sinh trường phái lãng mạn, mang tinh thần tự do, phóng túng, phối hợp hiện thực với huyền thoại.

Tương truyền rằng có lần thi-sĩ Lý Bạch đến viếng thăm lầu Hoàng Hạc, định làm một bài thơ tả cảnh lầu nầy, có đọc được bài thơ của Thôi Hiệu thấy quá hay nên ông ta không làm thơ nữa, và đề lên tường hai câu sau:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
(Cảnh đẹp trước mắt, tả không được
Vì thơ Thôi Hiệu đề ở trên)

Theo một bài tham khảo của giáo sư Wei Shang trường đại học Columbia về đề tài "Sự kiện ám ảnh thi sĩ Lý Bạch về Hoàng Hạc Lâu" (History of an Obsession: Li Bai and Yellow Crane Tower). Theo Wei Shang, Lý Bạch là một nhà thơ rất nổi tiếng đời Đường, ám ảnh bởi bài thơ tuyệt tác của Thôi Hiệu ở lầu Hoàng Hạc mà đành im lặng, mặc dầu không nói ra sự bất mãn nhưng Lý Bạch đã không thể bình tâm trước sự kiện nầy, và Ông đã gián tiếp ngấm ngầm tạo ra một cuộc đối thoại với Thôi Hiệu qua những bài thơ tương tự đề cập đến lầu Hoàng Hạc và những cảnh trí khác với chủ đề và tình ý tương tự Hoàng Hạc Lâu, điển hình là bài "Lầu Phượng Hoàng" (Phoenix Tower at Jinling) và bài Anh Vũ Châu . Theo bài tham luận của giáo sư Wei Shang, đại học Columbia, đã nêu ra hai vấn đề:

1- sự chính xác của tài liệu gốc và sự đua tranh giữa các nhà thơ Đường nổi tiếng.

2- các điều kiện hoàn cảnh thực sự hoặc tưởng tượng khi những bài thơ nầy được sáng tác vào thời gian nào, giai đoạn nào, đã được lưu hành và đáp ứng như thế nào . Trong một bài thơ, Lý Bạch đã mơ tưởng đến sự phá tan Lầu Hoàng Hạc ra từng mảnh. Trong một bài thơ khác Lý Bạch cũng tưởng tượng đến việc xây dựng trùng tu lại lầu Hoàng Hạc… với một bờ tường có lớp sơn mới để như mời mọc Lý Bạch đề một bài thơ mới do Lý Bạch sáng tác lên đó.

Việc xây một bờ tường với lớp sơn mới để xóa đi hoặc che phủ bài thơ cũ của Thôi Hiệu đã mở ra một trí tưởng tượng sáng tạo của Lý Bạch ..

Dù đây có phải là một truyền thuyết hay không giữa Lý Bạch và Thôi Hiệu với Hoàng Hạc Lâu cũng không phải là vấn đề quan trọng cho hậu thế. Nhưng điều đó chứng tỏ cái tuyệt vời đặc sắc của một bài thơ Đường. Dù là truyền thuyết đi chăng nữa, qua những bài thơ của Lý Bạch viết có nhắc đến địa danh Hoàng Hạc Lâu (dẫn chứng dưới đây) chứng tỏ Lý Bạch rất quan tâm về địa-danh và bài thơ nầy của Thôi Hiệu. Những bài thơ của Lý Bạch có đề cập đến lầu Hoàng Hạc như:

Hoàng Hạc Lâu văn địch


Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa
Tây vọng Tràng An bất kiến gia
Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch
Giang thành ngũ nguyệt Lạc mai hoa

Lý Bạch

Nghe tiếng sáo ở lầu Hạc Vàng


Làm thân ly khách tận Trường Sa
Nhìn lại Tràng An chẳng thấy nhà
Hoàng Hạc lầu thơ vi vút sáo
Giang Thành réo rắt khúc Mai hoa

Hải Đà dịch

(Lạc mai hoa = tên một điệu nhạc sáo thổi)

hoặc một bài thơ khác của Lý Bạch cũng nhắc đến địa danh nầy, như bài

Hoàng Hạc Lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tân
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu

Lý Bạch

Giã từ Hoàng Hạc bạn về tây
Cảnh tiết thành Dương hoa khói bay
Nhòa nhạt trời xanh buồm khuất bóng
Trường Giang cuồn cuộn tận chân mây

Hải Đà dịch

At Yellow Crane Terrace Farewell to Meng Hao-jan, Leaving for Kuang-ling


From Yellow Crane Tower you sail
the river west as mist flowers bloom.
A solitary sail, far shadow, green mountains at the empty end of vision
And now, just the Yangtze river touching the sky.

(Translated by Tony Barnstone, Willis Barnstone, and Chou Ping)


Một bài thơ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của bài Hoàng Hạc Lâu phải nói là bài Anh Vũ Châu, ý tình thắm thiết, từ điệu phong phú, tiết tấu nhẹ nhàng, cũng là một danh tác bất hủ:

Anh Vũ Châu

Anh Vũ lai quá Ngô giang thủy
Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh
Anh Vũ tây phi lũng Sơn khứ
Phương châu chi thụ hà thanh thanh
Yên khai lan diệp hương phong khởi
Ngạn giáp đào hoa cẩm lãng sinh
Thiên khách thử thời đồ cực mục
Trường châu cô nguyệt hướng thùy minh

Lý Bạch

Bãi Anh Vũ

Sông Ngô anh vũ lướt bay qua
Anh Vũ thành xưa vẫn gọi là
Núi Lũng trời tây anh vũ khuất
Bãi thơm cây biếc chập chờn xa
Lá lan thoang thoảng lừng hương gió
Sóng gấm bập bềnh lượn sát hoa
Lữ khách hoài trông trời tít tắp
Tình ai trăng dọi sáng đêm tà ?

Hải Đà dịch

Anh Vũ Châu cũng là một là một bài thơ tuyệt tác … Đọc qua bài thơ Anh Vũ Châu của Lý Bạch, ta thấy lối cấu trúc và tình ý hơi từa tựa giống như bài Hoàng Hạc Lâu, nghĩa là 4 câu đầu cũng phá cách, có sự lặp chữ "anh vũ" 3 lần (câu 1,2,3), hai chữ "châu" ở câu 2 và 4.

Thấy có sự liên hệ về ý nghĩa chủ đề cũng như sự biến đổi nhịp nhàng của ý từ, khởi đầu là sự ly biệt của một truyền thuyết (anh vũ thay vì chim hạc bay đi), để lại một nơi chốn mang tên của loài chim đó (hoàng hạc, anh vũ), loài chim đã bay đi xa (còn lại mây trắng vẫn lững lờ bay, hoặc cây cối vẫn xanh tươi biếc ngọc), rồi tác giả đã phơi bày ra những cảnh đẹp thiên nhiên trước mắt chứng tỏ sự hiện hữu của cuộc sống đời thường, rồi đến hai câu kết nói lên tâm trạng thầm kín của con người, một nỗi buồn nẫu nuột nhớ quê hương mịt mùng xa tít ….

Lý Bạch đã thành công khi sáng tác một bài thơ có tầm vóc như bài Hoàng Hạc Lâu.

Lý Bạch cũng có sáng tác một bài thơ khác, có nội dung tương tự chịu ảnh hưởng nhiều của bài thơ Hoàng Hạc Lâu, đó là bài Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài, tương tự như bài Hoàng Hạc Lâu về ý từ và nội dung.

Chắc rằng Lý Bạch đã đắc ý và cảm thấy thỏa mãn tự ái khi sáng tác xong bài Phượng Hoàng Đài, bài thơ nầy cũng mang những nét đẹp pha trộn tư tưởng uyên bác và siêu việt của Thiền học Phật Giáo và triết lý Lão Trang .. Sự "ghé đến, đi qua, và bay vút" là những thoáng thi-vị phù du chập chờn mờ ảo trong vũ trụ vô thường nầy. Nhà thơ đã muốn đưa tâm hồn người đọc bay bổng vượt thoát ra khỏi cái thế giới ta bà vốn giăng mắc ngụp lặn trong vũng lầy tham, sân, si của thất tình lục dục, nghiệp chướng, phiền não và khổ lụy nầy trong cõi tạm nầy.

Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài

Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du
Phượng khứ đài không giang tự lưu
Ngô cung hoa thảo mai u kính
Tấn đại y quan thành cổ khâu
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
Nhị thủy trung phân bạch lộ châu
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến sử nhân sầu

Lý Bạch

Lên Đài Phương Hoàng ở Kim Lăng

Đài cũ Phượng Hoàng tạm ghé chơi
Phượng bay đài vắng nước im trôi
Cung Ngô hoa cỏ đường đi phủ
Triều Tấn khăn đai hóa mộ đồi
Tận đỉnh Tam Sơn trời khuất nửa
Cuối sông Nhị Thủy bãi chia rời
Ánh dương mây nổi vờn che kín
Hút bóng Trường An xót lệ rơi

Hải Đà dịch

On Climbing in Nan-king to the Terrace of Phoenixes

Phoenixes that play here once, so that the place was named for them,
Have abandoned it now to this desolated river;
The paths of Wu Palace are crooked with weeds;
The garments of Chin are ancient dust.
Like this green horizon halving the Three Peaks,
Like this Island of White Egrets dividing the river,
A cloud has risen between the Light of Heaven and me,
To hide his city from my melancholy heart

(unknown)

Chân Trân
06-02-2006, 03:40 AM
NGUYỄN DU
VỊNH HOÀNG HẠC LÂU



Niên hiệu Gia Long thứ 12, Nguyễn Du được thăng hàm Cần Chánh điện Học Sỹ, được cử đi sứ sang Trung Quốc, từ mùa xuân năm 1813 đến mùa xuân 1814. Trong thời gian nầy Nguyễn Du có sáng tác một tập thơ chữ Hán có tên là Bắc Hành Tạp Lục, trong đó có bài thơ Hoàng Hạc Lâu khi Nguyễn Du đến viếng thăm lầu Hoàng Hạc như sau:

Hoàng Hạc Lâu


Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì?
Do lưu tiên tích thử giang mi
Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng
Hạc khứ lầu không Thôi Hiệu thi
Hạm ngoại yên ba chung diếu diếu
Nhãn trung thảo thụ thượng y y
Trung tình vô hạn bằng thùy tố
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri

Nguyễn Du (Bắc Hành Tạp Lục)

Lầu Hoàng Hạc


Tiên đến rồi đi tự chốn đây
Dấu tiên còn mãi bến sông nầy
Lư Sinh tỉnh mộng đời qua vút
Thôi Hiệu đề thơ hạc thoắt bay
Khói sóng ngoài hiên mờ mịt phủ
Cỏ cây trước mắt mướt xanh đầy
Tình thâm ấp ủ nào ai tỏ?
Gió núi trăng ngàn chẳng thấu hay

Hải Đà phỏng dịch

Lư Sinh mộng = còn gọi là hoàng lương mộng, Lư Sinh đời Đường đi thi hỏng, đến quán trọ nghỉ tạm, chợp mắt ngủ mơ màng trong lúc chủ nhà đang nấu một nồi kê (hoàng lương). Lư Sinh nằm mộng thấy mình lấy con gái đẹp họ Thôi làm vợ, rồi thi đỗ Tiến Sĩ, được bổ làm quan, và được vua thăng đến chức Tễ Tướng, sống cuộc đời vinh hoa phú quí, con cháu đầy đàn. Chẳng may bị tội hình và sắp bị đưa đi chém, thì Lư Sinh giật mình tỉnh dậy … mà nồi kê chủ nhà đang nấu vẫn chưa chín. Thi-sĩ Nguyễn Du đã cho thấy cái thiền tính bàng bạc trong bài thơ rằng cuộc đời cũng chỉ là bóng câu bên khung cửa, thoáng mây trôi cuối trời, như chiếc lá rụng ngoài sân …

Trong cơn chấp nhất mê mê sảng...
Tỉnh giấc hoàng lương ... một kiếp đời!


Bài thơ của Nguyễn Du trầm lặng trong vẻ đẹp của bức tranh sơn thủy hữu tình, mang một phong cách thanh tao, nhàn dật, chan chứa khí vị Đạo Học êm đềm, đượm mùi Thiền thanh đạm, mang tư tưởng "cầu tiên phỏng đạo" của đạo sĩ và "khinh thế ngạo vật" của đạo gia.

Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy cái triết lý vô thường trên cuộc đời nầy, có đó rồi mất đó, đến và đi thật tình cờ, cái bản lai diện mục của muôn sự, đã đưa tâm hồn người đọc dạo bước thênh thang trên con đường đi tìm nguồn chân nguyên Bát Nhã trong Ánh Đạo Vàng lung linh huyền diệu … Vạn vật trong vũ trụ nầy hễ sinh tất diệt, quay mãi trong vòng luân hồi như một dòng nước triền miên chảy mãi về khung trời vô tận hư không …

Cái cảnh trí của Hoàng hạc Lâu đã làm cho nhà thơ phải tư duy, phân tích, suy gẫm về Ý Niệm và Cuộc Đời, về Động và Tĩnh, về Âm Dương và Sắc Không … mà đôi khi con người không hiểu được cái căn nguyên của khổ lụy vòng vo lẩn quẩn trong giấc mộng "hoàng lương", cái ray rứt bần thần và tha thiết của một tâm thức hoài hương, cái nỗi niềm u uất ẩn mật trong niềm đau xa xứ, cái trầm thống của tình đời, thế sự để rồi tự đắm chìm vào cái tĩnh mịch của chân không, và thiên nhiên để tự hỏi:

Tình thâm ấp ủ nào ai tỏ?
Gió núi trăng ngàn chẳng thấu hay…


Cũng nói về cảnh Hán Dương trong câu thơ của Thôi Hộ "Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ " (Bên sông tạnh cây cối miền Hán Dương tươi sáng), Nguyễn Du trong tác phẩm "Bắc Hành Tạp Lục", cũng có bài thơ "Hán Dương Vãn Diếu" trong đó Nguyễn Du đã mượn ý thơ của Thôi Hộ "Nhật mộ hương quan cộng nhất sầu" (chiều nhớ quê hương, ai ai cũng chung một mối sầu):

Hán Dương Vãn Diếu

Bá Vương trần tích thuộc du du (1)
Hán Thủy thao thao trú dạ lưu
Qui Hạc lưỡng sơn tương đối ngạn
Thần tiên nhất khứ chỉ không lâu (2)
Thi thành thảo thụ giai thiên cổ
Nhật mộ hương quan cộng nhất sầu
Tưởng tượng đương niên xuy địch dạ
Bạch tần hồng liệu mãn đinh châu

Nguyễn Du (Bắc Hành Tạp Lục)

(1) Bá Vương : Hán Dương cũng là nơi tranh bá đồ vương thời trước
(2) Không lâu : lầu trống, tức là Hoàng Hạc Lâu

Chiều Ngắm Cảnh Hán Dương


Mịt mùng xa cách dấu cung vương
Cuồn cuộn đêm ngày nước Hán Dương
Qui Hạc đôi bờ phô dáng núi
Thần tiên khuất bóng bỏ lầu không
Thơ thơm cỏ biếc nghìn thu thắm
Sầu nhớ chiều quê quyến luyến thương
Tưởng nhớ đêm vàng ngân tiếng sáo
Lục hồng tần trắng ngát thơm hương

Hải Đà phỏng dịch


Một bài thơ Anh Ngữ bắt chước ý từ bài thơ Hoàng Hạc Lâu:


Thi-sĩ Wayne Schlepp rất thích thú khi đọc bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã có hai bản dịch Anh Ngữ ghi chép ở dưới, ông ta cũng bắt chước ý từ và nội dung của bài Hoàng Hạc Lâu để sáng tác bài thơ Anh Ngữ dưới đây (thay vì "hạc vàng", ông ta dùng chữ "ngựa con"..), bài thơ cũng gợi cảnh nhớ nhà của người khách tha hương khi chiều buông xuống ..

Once the Sioux rode his pony here,
Now no-one watches from Saddle Horn Peak.
The pony gone will never return,
The prairie rolls, a hundred years idle.
Heat shimmers over the Moreau Valley trees,
The grass has dried at Rattlesnake Butte*.
The sun sets, when will I get home?
Drifting dust over the road makes me lonely.

(by Wayne Schlepp)

* Read to rhyme with "mute".

Ngày xưa khi chàng Sioux phi chú ngựa con lại đây
Bây giờ chẳng còn ai nhìn thấy từ đỉnh đồi cao Saddle Horn
Chú ngựa con đã đi và không còn trở lại
Đồng cỏ xanh mướt vẫn trải dài, trăm năm mòn mỏi ngu ngơ
Ánh sáng lung linh sưởi ấm trên cành cây trong thung lũng Moreau
Cỏ đã héo tàn bên bờ Rattlesnake Butte
Hoàng hôn buông xuống, khi nào ta trở về nhà ?
Bụi đường mịt mù đã làm cho ta sầu thảm luyến thương



KẾT LUẬN:

Hoàng Hạc Lâu là một bài thơ tả cảnh, bàng bạc tình yêu quê hương da diết và man mác hương vị Thiền, ẩn hiện cái lý chân không, vô thường và vô ngã, mạch thơ tự nhiên uyển chuyển và biến hóa, không gò bó câu nệ trong khuôn khổ đối ngẫu niêm luật của thể thơ Đường, lời thơ siêu thoát rung động tâm hồn người đọc.

Mặc dầu biết rằng một bài thơ là do ngôn ngữ tạo thành, "dùng từ để biểu đạt cái nội dung là điều ắt có và phải cần… nhưng còn có điều quan trọng hơn nữa đó là phương thức và phong cách để hình tạo nội dung đó …" Cái phương thức mà thi-sĩ Thôi Hiệu dùng trong bài Hoàng Hạc Lâu là tất cả một kỹ thuật hàm xúc, tinh vi, độc đáo, một thế giới đặc thù riêng biệt và mới lạ của thứ ngôn ngữ hiền triết, đã kết nối được tất cả hình ảnh, ý niệm, tâm thức, cảm nhận, và giác quan một cách tài tình và hài hòa trong vũ trụ, con người, thời gian và không gian.

Ngôn ngữ thi ca đã bay bổng tự nhiên một cách phóng khoáng, không dụng công đẽo gọt. Thôi Hiệu đã thành công chuyển đạt được nghệ thuật tinh vi, thâm thúy, đầy hình tượng sáng sủa và âm thanh đãi lọc, có sức thuyết phục lôi cuốn được sự chú ý và tạo được cảm xúc mạnh mẽ nơi người đọc. Hoàng Hạc Lâu đúng là một bông hoa diễm tuyệt, một viên ngọc vô giá trong rừng thơ Đường, là bài thơ tuyệt tác bất hủ, sống mãi mãi muôn đời. …

... Bài sưu khảo nếu có gì thiếu sót và bất cẩn, kính mong sự lượng thứ và thông cảm của quí bậc túc nho trưởng thượng và quí bạn đọc yêu thơ.


HẢI ĐÀ Vương Ngọc Long
Chân Trân trình bày

Trịnh Phong
24-02-2006, 07:41 PM
Đọc các Bản dịch Hoàng Hạc Lâu Chân Trân đã dầy công post lên cho chúng ta thưởng thức, TP xin được tạm quên mình là hậu sinh đóng góp một bản dịch, xin được xem là một thử nghiệm tiếp cận tác phẩm.

Đề lầu Hoàng Hạc
(Nguyên tác Thôi Hiệu)


NGười xưa đem hạc đi rồi,
Bỏ lầu Hoàng Hạc bên trời xa xăm.
Hạc vàng thôi mãi biệt tăm,
Riêng làn mây trắng nghìn năm đợi chờ.
Hán Dương lồng bóng cây bờ,
Cỏ thơm Anh Vũ hương đưa gió ngàn.
Quê xưa ngập bóng chiều tàn.
Mịt mờ khói sóng, ngổn ngang nỗi buồn.

Trịnh Phong

Trịnh Phong
31-08-2006, 11:34 PM
CÁNH HẠC XƯA

Mỗi lúc trông lên trời biếc ấy
Lòng tôi thương nhớ mãi không nguôi.
Có gì sau lớp xanh vô tận
Thu hút hồn tôi suốt cuộc đời.


Thoáng qua ngày tháng như màu khói
Không vợi trong lòng nỗi nhớ mong.
Chỉ thấy mây về muôn dậm trắng,
Cánh hạc vàng xưa mỏi mắt trông!

Trịnh Phong
31-08-2006, 11:42 PM
ĐỀ LẦU HOÀNG HẠC

Tiên cưỡi hạc vàng về viễn xứ
Bỏ lầu Hoàng Hạc đứng trơ vơ.
Hạc vàng một đi không trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn lững lờ.
Ngày nắng Hán Dương cây lẫn sóng,
Cỏ thơm Anh Vũ ngát xanh bờ.
Ngày tàn ngoảnh lại, đâu quê cũ.
Khói sóng vương buồn khách ngẩn ngơ.

TP

Thiên Sứ
16-09-2006, 09:58 AM
HOÀNG HẠC LÂU
Bản dịch nghĩa
Chân Trân giới thiệu
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi mất rồi
Lầu hạc vàng còn trơ lại đây
Hạc vàng một khi đã bay đi, không trở lại nữa
Mây trắng nghìn thu lởn vởn hoài ...
Mặt sông, lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi
Trời tối rồi đâu là quê hương mình
Trên sóng khói tỏa, sóng gợn, khiến người sinh buồn.

ĐỀ LẦU HOÀNG HẠC
Trịnh Phong
Tiên cưỡi hạc vàng về viễn xứ
Bỏ lầu Hoàng Hạc đứng trơ vơ.
Hạc vàng một đi không trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn lững lờ.
Ngày nắng Hán Dương cây lẫn sóng,
Cỏ thơm Anh Vũ ngát xanh bờ.
Ngày tàn ngoảnh lại, đâu quê cũ.
Khói sóng vương buồn khách ngẩn ngơ.


CẢM TÁC
HOÀNG HẠC LÂU
Thiên Sứ
Ráng chiều ôm cánh hạc bay.
Nước trời thu cũng như say một màu.
Người xưa cưỡi hạc đi đâu?
Ngàn thu Hoàng Hạc mái lầu bơ vơ..
Lưng trời mây trắng hững hờ...
Xanh xanh cỏ Vũ ngát bờ sông xưa
Hàn Dương - cây, sóng đong đưa
Như rung cánh nắng, say sưa hồn người...
*
*..............*
Bâng khuâng về giữa mây trời.
Hắt hiu chiều tím, buồn đời tha hương.
Về đây, sông nước vấn vương.
Mang mang sương khói, đoạn trường ngẩn ngơ....

thichmactien
12-11-2006, 06:05 PM
<TABLE cellSpacing=2 cellPadding=0 width="98%" align=center border=0><TBODY><TR><TD>Bài thơ làm thi tiên Lý Bạch phải buông bút




</TD></TR><TR><TD><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=3 width=1 align=left border=0><TBODY><TR><TD class=pic_explain align=left>http://vnca.cand.com.vn/Uploaded_VNCA/hoabt/21_41.jpg</TD></TR><TR><TD>Thi tiên Lý Bạch</TD></TR></TBODY></TABLE>
Đó là bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu (? - 754), người Biện Châu, (tỉnh Hà <?xml:namespace prefix = st1 /><st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region>, Trung Quốc), đậu Tiến sĩ đời Đường Huyền Tông, làm đến chức Tư huân viên ngoại lang, đề ở Lầu Hạc Vàng.


Lầu này ở trên ghềnh đá Hoàng Hộc, huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc. Theo truyền thuyết, Phí Văn Thư sau khi lên tiên, cưỡi hạc vàng trở về nghỉ tại đây. Khi Lý Bạch (701 - 762) tự là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, người huyện Chương Minh (tỉnh Tứ Xuyên) đời Đường Huyền Tông, làm chức Cung phụng trong Hàn lâm viện đi qua thấy bài thơ của Thôi Hiệu đã phải thốt lên: “Trước mắt có cảnh nói không được, Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu” mà không làm thơ vịnh lầu nữa.

Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ đặc biệt đó của Thôi Hiệu với lời bình tuyệt diệu của nhà phê bình văn chương nổi tiếng Kim Thánh Thán, người Trường Châu (tỉnh Giang Tô), không rõ sinh năm nào, mất trong một vụ án oan khuất đời Thanh Thế Tổ (1661).

Hoàng Hạc lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhất mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Thôi Hiệu


Dịch nghĩa

Lầu Hạc Vàng

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hạc Vàng
Hạc đã đi rồi thì không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn man
mác trôi
Dòng sông quang tạnh rực rỡ hàng cây đất Hán Dương
Cỏ thơm mọc tươi tốt trên bãi Anh Vũ
Lúc chiều tối quê nhà ở nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến người
buồn bã.

Bản dịch thơ của thi sĩ Tản Đà:

Lầu Hạc Vàng

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ vẫn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn
lòng ai…

Lời bình của Kim Thánh Thán:

(1 - 4) Tiền giải: Đây chính là bài thơ huyên truyền ngàn năm nay. Có bản chép “Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ” thực là lầm lớn! Không biết rằng bài thơ này dùng bút lớn lao là tả liền ba chữ “Hoàng Hạc lâu”, chỗ kỳ lạ là ở đó. Giả sử người xưa mà cưỡi “bạch vân” thì lầu này tại sao lại có tên là “Hoàng Hạc”? Lý này thật rõ ràng! Còn như câu 4 chợt thêm vào “bạch vân”, diệu ở chỗ là “có ý không ý, có nói không nói” (hữu ý vô ý, hữu vị vô vị). Nếu thoạt tiên chưa tả “Hoàng Hạc” mà trước đã tả “bạch vân”, thế là “hoàng hạc”, “bạch vân” đối chọi nhau; “hoàng hạc” vốn là tên lầu, còn “bạch vân” thì do điển nào mà ra? “Bạch vân” đã được người xưa cưỡi đi, mà đến nay hãy còn “du du”, trên đời này há có “thiên tải bạch vân” sao? Thực không đủ đáng một cái cười! Làm thơ không nhiều mà có thể khiến Thái Bạch công phải gác bút, thì đúng là bậc đại trượng phu trong rừng bút mực vậy. Hãy xem bọn nho mọn ô uế, suốt đời bịt mũi rền rĩ khổ ngâm, đến cái ngày đậy nắp áo quan, người ta góp nhặt lại cũng được đến hơn mấy trăm ngàn vạn lời, thế nhưng không từng được đến một đứa trẻ nít trong xóm làng tạm thời để mắt vào, thực đáng đau xót lắm!

Xét kỹ ra thì ông (Thôi Hiệu) đâu có từng làm thơ, mà chỉ hướng phía trên phía dưới, phóng mắt nhìn xa, thấy đạo lý là như vậy, liền tức thì đứng dậy, cầm bút thấm mực, tiến đến vách lầu vôi trắng, mặc ý viết lên một hàng chữ lớn, viết xong lại ngắm xem, tuyệt nhiên không biết là có hay không, mà chỉ thấy rằng sửa chẳng nên sửa, chữa chẳng nên chữa, thêm không thể thêm, bớt không thể bớt, thế rồi trong lòng thỏa mãn, liền lưu lại đây, thực không liệu rằng sau này có người trông thấy, lại không vượt ra khỏi cái khuôn khổ ấy; vả chăng người sau không vượt ra nổi, mà cũng chỉ sửa chữa, thêm bớt đều chẳng ích gì, thế rồi lại giấu vào tay áo mà đi, không bảo là cả tự pháp, cú pháp, chương pháp đều đã chiếm hết rồi, không còn tranh đoạt nổi nữa.

Thái Bạch Công phê bình bài thơ này cũng chỉ nói rằng:
“Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”
(Trước mắt có cảnh nói không được
Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu)

Ôi, trước lầu Hoàng Hạc, đá sông hiểm trở, Hạ Khẩu nhô cao, trông miền Miện Hán, ứng tiếp xung yếu, cảnh trạng ấy đâu chỉ tả hết trong mấy chữ “tình xuyên phương thảo, nhật mộ yên ba” của thơ họ Thôi mà thôi đâu! Thế mà Thái Bạch Công lại không chịu nói nữa, cúi đầu nhún nhường ra đi, thế không phải là vì cảnh đã nói hết, không nói được nữa mà vốn là cảnh thực không nói hết được, đúng ra không nói được nữa. Thái Bạch Công thực là vì bài thơ đề của Thôi Hiệu là một bài Luật thi, nên nay nếu muốn đề nữa thì tất yếu cũng phải làm luật thi. Nhưng ông lại tự nghĩ rằng: về luật thi, từ trước đến nay hẳn phải là chưa đề thơ, trước hết phải mệnh ý, mệnh ý rồi thì phải lo thẩm cách, sau khi thẩm cách lại phải bận tranh phát bút.
Còn như về cảnh, thì chẳng qua là sau khi mệnh ý, thẩm cách, phát bút, đầy đủ ở bên rồi, chỉ còn lặng chờ được sử dụng mà thôi. Bây giờ nếu muốn mệnh ý thì họ Thôi đã mệnh ý hết rồi, nếu muốn thẩm cách thì họ Thôi thẩm cách đã xong rồi, nếu lại muốn tranh phát bút thì họ Thôi phát bút đã là không tiền khoáng hậu, không chiếu cố đến kẻ khác; dù cho mình có cảnh đẹp đầy mắt, có thể soạn được mấy trăm ngàn liên đi chăng nữa, thì cũng chỉ là tự nhả tâm huyết ra uổng phí thôi, chớ có đặt tay vào đâu được, vì thế bất giác cúi mình sát đất, thổ lộ thực rằng: “Có cảnh nói không được”.

Có cảnh nói không được cũng như nói rằng tiếc thay trước mắt có vô số cảnh đẹp, mà đến một chữ cũng không đặt được vào bài luật thi. Than ôi! Thái Bạch Công sở dĩ hư tâm phục thiện như thế, chỉ vì chính mình hiểu rõ luật thi cam khổ. Còn các ông đời sau thì bất chấp có người nào đề thơ rồi, chẳng ngại ngần gì mà không tức thì lại đề tám câu.

Giải I: Thấy ông (Thôi Hiệu) diệu ở chỗ chỉ có một câu tả “lầu”, còn ba câu kia đều là tả “người xưa”. Ba câu kia đều là tả “người xưa” như thế là một lòng tưởng nghĩ chỉ là tưởng nghĩ “người xưa”, đôi mắt ngóng trông chỉ là ngóng trông “người xưa”, thực là không còn lòng nào rảnh rỗi mà nghĩ đến lầu này, không còn mắt nào rảnh rỗi mà ngó đến lầu này. Thử nghĩ xem, ông đầy bụng có tâm kỳ như thế nào, khắp mình có khí khái như thế nào chớ đâu từng có các chuyện thị phi đắc thất, vinh nhục hưng táng làm nhơ bẩn nổi ngòi bút! Câu 1 là tả “người xưa”, câu 3 là nghĩ “người xưa”, tuyệt nhiên không từng để mắt đến “lầu”.

Phàm cổ nhân mà có một lời, một hàng, một câu, một chữ đủ để bước một mình trong một thời, chiếm cứ cả ngàn năm, thì ta cần phải tin rằng không có gì là không đều do ở đọc sách, dưỡng khí mà ra. Như giải thơ này, ta phải tin rằng rõ ràng là do đọc sách. Các câu 1, 2: chính là ông đọc trong thiên Thiên đạo, sách Trang Tử, lời của Luân Biện nói với Tể Hoàn Công: “Cổ nhân chi bất khả truyền giả tử hỹ, quận chi sở độc, nãi cổ nhân chi tao phách dĩ phù” (Cái điều không thể truyền lại được của cổ nhân thì đã chết rồi, điều mà ông đọc ngày nay chỉ là cặn bã của cổ nhân mà thôi); ông liền thuận tay sửa bớt, dùng rất thích đáng. Các câu 3,4: chính là ông đọc được câu ca Dịch thủy trong Kinh Kha liệt truyện, sách Sử Ký:

“Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn”
(Gió hiu hiu hề sông Dịch lạnh lùng
Tráng sĩ một ra đi không hề trở lại)

ông liền thuận tay chuyển đổi lại, dùng được rất thích đáng.
Còn như với cuốn sách mà ai ai cũng đọc, thế mà chỉ ông riêng có sự sản đối cảnh liền dùng, ngay cả chính mình rốt cuộc cũng không biết nữa, thế thì rõ ràng cần phải tin đó là cái sức dưỡng khí, không phải là vu vậy.

Người đời sau lại có câu “Dục tùy toái Hoàng Hạc lâu” (Muốn đập tan lầu Hoàng Hạc); nếu biết rằng bài thơ này không hề tả đến “lầu” thì đúng là chỉ uổng công đập phá. Từ xưa đến nay đều là lấy ngoa truyền ngoa, không đủ cung cấp một tiếng cười, đúng thay!
(5 - 8) Tiền giải tả “người xưa”, hậu giải tả “người nay” tuyệt nhiên không tả đến “lầu”. Giải này lại diệu ở chỗ không dính liền gì với đoạn trên, chỉ nhất ý tựa cao trông xa, riêng thổ lộ hoài bão của mình, mặc cho người đời sau muốn hiểu ra sao thì hiểu, thực đúng là quy mô của bậc đại gia vậy!

Các câu 5, 6: chỉ đặt 5 chữ “hương quan hà xứ thị”, nói rằng ở nơi này cây thì “lịch lịch” (in rõ), bãi thì “thê thê (tươi tốt)”, riêng có mắt ngóng “hương quan” là không biết “hà xứ” (nơi nào). Ông chỉ đặt ngang hai chữ “nhật mộ” lên câu đó, là liền khiến cho 28 chữ trong 4 câu tiền giải chữ nào cũng nhất tề dao động vào, đó là bút pháp tuyệt kỳ vậy

</TD></TR></TBODY></TABLE>

Nguyên Quỳnh Thư

Thiên Sứ
26-01-2007, 12:06 AM
NHỮNG BÀI THƠ VỀ HOÀNG HẠC LÂU
CỦA CÁC THI SĨ VIỆT Đặng Tiến

Hạc vàng người trước cưỡi đi rồi,
Lầu trống còn tên Hoàng Hạc thôi.
Một thuở hạc vàng không trở lại,
Nghìn năm mây trắng vẫn đang trôi.
Hán Dương cây đứng soi sông sáng,
Anh Vũ cỏ non biếc bãi bồi.
Chiều tối quê hương nhìn chẳng thấy,
Trên sông khói sóng dạ bồi hồi.
*
Vũ Hoàng Chương
Xưa hạc vàng bay vút bóng người,
Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mất,
Trắng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!
*
Trần Trọng Kim

Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.
*


Trần Trọng San

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời, mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy,
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.
*


Nguyễn Khuê

Cưỡi hạc người xưa đi đã lâu,
Còn đây Hoàng Hạc chỉ trơ lầu.
Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy,
Mây trắng lững lờ đứng mãi sau.
Sông tạnh Hán Dương cây lắng bóng,
Bãi thơm Anh Vũ cỏ tươi màu.
Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ?
Khói sóng trên sông giục khách sầu.
*


Khương Hữu Dụng

Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi!
Hạc vàng một đi đã đi biệt,
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá ?
Khói sóng trên sông não dạ người.
*
Tản Đà

Người tiên xưa cưỡi hạc vàng cút,
Ở đây chỉ những lầu hạc trơ.
Hạc vàng đã cút chẳng về nữa,
Mây trắng nghìn năm còn phất phơ.
Sông bọc Hán Dương cây xát xát,
Cỏ liền Anh Vũ bãi xa xa.
Ngày chiều làng cũ đâu chăng tá?
Mây nước trên sông khách thẫn thờ!
*
Ngô Tất Tố

Người xưa cưỡi hạc đã cao bay,
Lầu hạc còn suông với chốn này.
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay.
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày.
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.


Thiên Sứ giới thiệu

Trịnh Phong
18-05-2007, 11:14 PM
TP vẫn muốn dùng lục bát chuyển tải "Hoàng Hạc Lâu".
Hôm nay xin thử nghiệm đưa ra hai bản dịch để các bạn đọc giải trí.


HOÀNG HẠC LÂU
<!--[if !supportEmptyParas]--> <o:p></o:p><!--[endif]-->
I
<!--[if !supportEmptyParas]--> <o:p></o:p><!--[endif]-->
Hạc theo tiên nữ xa vời
Bỏ lầu Hoàng Hạc bên trời tàn hoang.
Một xa, xa mãi Hạc vàng,
Nghìn năm mây trắng lang thang chập trùng.
Hán Dương sông nắng cây lồng,
Bãi xanh Anh Vũ hương đồng gió mang.
Quê xưa khuất bóng chiều vàng
Đầy sông khói sóng buồn lan khách thuyền.
<!--[if !supportEmptyParas]--> <o:p></o:p><!--[endif]-->
<!--[if !supportEmptyParas]--> <o:p></o:p><!--[endif]-->
<!--[if !supportEmptyParas]--> <o:p></o:p><!--[endif]-->
<!--[if !supportEmptyParas]--> <o:p></o:p><!--[endif]-->
II
<!--[if !supportEmptyParas]--> <o:p></o:p><!--[endif]-->
Hạc theo tiên nữ về đâu
Bên trời để lại mái lầu đơn côi.
Một đi, đi mãi hạc ơi,
Nghìn năm mây trắng lưng trời lang thang.
Sông in cây nắng Hán Dương
Bãi xanh Anh Vũ hoa hương dạt dào
Chiều tàn, quê cũ phương nào
Buồn dâng khói sóng nao nao cõi lòng




TP

<!--[if !supportEmptyParas]--><!--[endif]--><o:p></o:p>

thichmactien
18-05-2007, 11:24 PM
TMT thấy version 2 đọc hay hơn, công nhận đọc lục bát nó có vần có điệu vẫn thấy gần gũi dễ cảm hơn.

TauThu
20-05-2007, 12:20 AM
Công nhận ko có bản dịch nào địch nổi, vì trong bài thơ gốc có những 3 câu dùng 3 từ láy , ...

Trịnh Phong
30-09-2007, 07:50 PM
Hạc đã theo tiên về viễn xứ
Mặc lầu Hoàng hạc đứng trơ vơ.
Hạc vàng một đi xa mãi mãi
Mây trắng ngàn năm bay phất phơ.
Hán Dương sông nắng cây lồng sóng,
Anh Vũ hoa thơm cỏ ngập bờ.
Chiều tàn man mác quê đâu thấy.
Khói sóng vương buồn khách ngẩn ngơ.

TP
<!--[endif]-->

Trịnh Phong
26-02-2008, 03:31 AM
NHỚ THÔI HIỆU

Gặp nhau trong một ý thơ,
Nghìn năm thu lại một giờ tỉnh say.
Người cùng hoàng hạc về đây,
Ta theo mây trắng một ngày lang thang.
Nghìn năm nữa sẽ phai tàn,
Vẫn còn mãi ánh chiều vàng trong Thơ.
Vì ai mây trắng lững lờ.
Bên lầu Hoàng hạc ai chờ đón ai.

TP

Trịnh Phong
17-03-2008, 07:28 AM
NHỚ THÔI HIỆU

Gặp nhau trong mấy ý thơ,
Nghìn năm thu lại một giờ tỉnh say.
Người theo cánh hạc về đây,
Ta cùng mây trắng có ngày lang thang.
Nghìn sau rồi cũng phai tàn,
Còn ta với buổi chiều vàng nghìn xưa.
Ta đi người có đợi chờ,
Vắng làn mây trắng đừng ngờ quên nhau.

TP