PDA

View Full Version : Đường thi tuyển dịch


Pages : [1] 2

Chân Trân
30-07-2005, 03:58 AM
http://www.vuonghaida.com/duongthituyendich1/DTTD-jpg.jpg



1.BẠCH CƯ DỊ

Tiểu sử tác giả

Bạch Cư Dị (772-846) tự là Lạc Thiên, cuối đời hiệu là Hương Sơn cư sĩ, quê ở Hạ Khuê (nay thuộc tỉnh Thiêm Tây), đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên 16 (800), làm Hiệu Thư lang rồi được thăng làm Tả thập di, Hàn lâm học sĩ. Vì nhiều lần dâng tấu chương đề nghị cải cách nên bị bọn quyền thần bài xích, bị biếm làm Tư Mã Giang Châu, sau chuyển làm Thứ Sử Trung Châu, Hàng Châu, Tô Châu, thái tử thái phó (thầy dạy Thái Tử) trí sĩ với chức Hình Bộ Thượng Thư).

Bạch Cư Dị là nhà thơ hiện thực lớn thời Trung Quốc, đề xướng phong trào Tân Nhạc phủ. Thơ ông mang tính hiện thực sâu sắc, đồng thời thơ trữ tình cũng đạt thành tựu cao, trong đó tiêu biễu là Trường Hận ca và Tỳ bà hành.

Tác phẩm của ông hiện còn Bạch Thị Trường Khánh tập 71 quyển, 3000 bài. Trong các nhà thơ đời Đường, Bạch Cư Dị là người còn lại nhiều thơ nhất.

Chân Trân
30-07-2005, 04:00 AM
Bạch Vân tuyền

Thiên Bình Sơn thượng Bạch Vân tuyền
Vân tự vô tâm thủy tự nhàn
Hà tất bôn xung sơn hạ khứ ?
Cánh thiêm ba lãng hướng nhân gian.

Dịch Nghĩa

Trên núi Thiên Bình có suối Bạch Vân
Mây vốn vô tâm, nước vốn nhàn hạ
Bôn ba xuống núi làm chi gấp ?
Tạo nên sóng gió nơi nhân gian

Dịch Thơ

Suối Mây Trắng

Ngọn Thiên Bình, suối Bạch Vân
Mây hờ hững cuốn, nước nhàn nhã trôi
Xuống chi dưới núi réo sôi
Gây thêm những lớp sóng dồi nhân gian.

Chân Trân
30-07-2005, 04:01 AM
Ca vũ

Tần trung tuế vân mộ,
Đại tuyết mãn hoàng châu.
Tuyết trung thoái triều giả,
Chu tử tận công hầu.
Quí hữu phong tuyết hứng,
Phú vô cơ hàn ưu.
Sở doanh duy đệ trạch,
Sở vụ tại truy du.
Chu môn xa mã khách.
Hồng chúc ca vũ lâu.
Hoan hàm xúc mật tọa.
Tuý noãn thoát trùng cừu.
Thu quan vi chủ nhân,
Đinh uý cư thượng đầu.
Nhật trung vi lạc ẩm,
Dạ bán bất năng hưu.
Khởi trí Văn Hương ngục,
Trung hữu đống tử tù.

Dịch Thơ:

Ca Múa

Đất Tần hồi này năm đã cuối,
Giữa chốn hoàng đô tuyết như giội,
Đang cơn mưa tuyết, tan chầu về,
CÁc cụ đại thần áo đỏ chói!
Sang gặp gió tuyết, hứng càng cao,
Giàu chẳng lo gì rét hay đói.
Có lo là lo xây lâu đài,
Có nghĩ là nghĩ lúc rong ruổi.
Cửa son xe ngựa khách dập dìu,
Lầu hồng múa hát đèn chói lọi.
Vui, nồng xúm xít ngồi quanh nhau,
Mấy lớp áo cừu, rượu nực, cởi
Ai là chủ tiệc? Cụ thương hình
Ai ngồi đầu trên? Ngài đình uý.
Cuộc vui bắt đầu từ giữa trưa,
Kéo đến nửa đêm vẫn đang mải.
Biết đâu trong ngục Văn Hương kia,
Thân tù rét cóng, chết vô khối!

Chân Trân
30-07-2005, 04:05 AM
Cảm cố Trương bộc dịch chư kỹ

Hoàng kim bất tích mãi nga mi
Giản đắc như hoa tam tứ chi
Ca vũ giáo thành tâm lực tận
Nhất triêu thân khứ bất tương tuỳ !

Dịch Nghĩa

Không tiếc vàng,bỏ ra mua gái mày ngài,
Chọn được ba bốn cô nàng đẹp như hoa.
Dạy cho họ biết hát múa,hơi sức ông kiệt quệ,
Một sớm đem thân ra đi,chẳng cô nào theo!

Dịch Thơ

Cảm nghĩ về các kỹ nữ của ông Trương bộc dịch đã mất

Mua gái mày xanh chẳng tiếc vàng,
Như hoa khéo chọn mấy cô nàng.
Dạy cho múa hát bao công sức,
Một sớm về âm chẳng kẻ màng!

Chân Trân
30-07-2005, 04:07 AM
Cỏ

Li li nguyên thượng thảo
Nhất tuế nhất khô, vinh.
Dã hỏa thiêu bất tận,
Xuân phong xuy hựu sinh.
Viễn phương xâm cổ đạo,
Tình thúy tiếp hoang thành.
Hựu tống vương tôn khứ,
Thê thê mãn biệt tình.

Dịch Thơ:

Cỏ

Đồng cao cỏ mọc như chen.
Khô tươi thay đổi hai phen năm tròn.
Lửa đồng thiêu cháy vẫn còn,
Gió xuân thổi tới mầm non lại trồi.
Xa xa thơm ngát dặm dài,
Thành hoang láng biếc khí trời tạnh mưa.
Vương tôn đi lại tiễn đưa,
Biết bao tình biệt đầm đìa lướt theo.

Chân Trân
30-07-2005, 04:08 AM
Chiêu Quân từ

Hán sứ khước hồi bằng ký ngữ
Hoàng kim hà nhật thục nga mi?
Quân vương nhược vấn thiếp nhan sắc
Mạc đạo bất như cung lý thì!

Dịch Thơ

Bài hát Chiêu Quân

Sứ về xin nhắn đôi lời
Bạc vàng đổi lại mặt người bao lâu
Quân Vương hỏi thiếp thế nào ?
Thưa hương sắc thuở cung sâu vẫn còn.

Chân Trân
30-07-2005, 04:09 AM
Chu trung dạ vũ

Giang vân ám du du
Giang phong lãnh tu tu!
Dạ vũ trích thuyền bối
Dạ lãng đả thuyền đầu
Thuyền trung hữu bệnh khách
Tả giáng hướng Giang Châu.

Dịch Nghĩa:

Mây trên sông đen nghìn nghịt
Gió trên sông lạnh ngăn ngắt
Mưa đêm nhỏ giọt trên mui thuyền
Sóng đêm vỗ mạnh vào mui thuyền
Trong thuyền có người khách đang ốm
Bị giáng chức đổi đi Giang Châu (1)

Dịch Thơ

Trong thuyền đêm mưa
Mây sông kéo đến đùn đùn
Gió sông thổi lạnh ghê hồn khách ông
Mưa đêm nhỏ xuống nan bồng
Sóng đêm dồn vỗ long đong mạn thuyền
Trong thuyền có bác ốm rên
Giáng quan thằng lối ra miền Giang Châu.

Chân Trân
30-07-2005, 04:11 AM
Dạ vũ

Tảo cùng đề phục yết,
Tàn đăng diệt hựu minh.
Cách song tri dạ vũ,
Ba tiêu tiên hữu thanh.

Dịch nghĩa:

Trùn sớm kêu rồi ngừng ,
Đèn tàn lụi lại sáng ,
Cách cửa sổ biết có đêm mưa ,
Vì vừa mới nghe tiếng lộp độp trên tàu lá chuối.

Dịch thơ:

Mưa đêm

Dế giun rên mỏi lại ngừng ,
Đèn tàn muốn tắt lại bừng sáng ra.
Cách song đêm biết mưa sa ,
Tiếng nghe lộp độp chăng là tàu tiêu .

Chân Trân
30-07-2005, 04:13 AM
Du Tiểu Động Đình

Hồ thượng sơn đầu biệt hữu hồ
Kỵ hà hương khí chiếm tiên đo
Dạ hàm tinh đẩu phân càn tượng
Hiểu ánh vân lôi tác hoạ đồ
Phong động lục tần thiên thượng lãng
Điểu thê hàn chiếu nguyệt trung ô
Nhược phi linh vật đa linh tích
Tranh đắc trường niên đông bất khô.

Dịch Nghĩa

Đầu núi trên hồ lại có riêng một hồ
Mùi thơm sen ấu ngào ngạt cõi tiên
Đêm đầy sao phân chia các vùng trời
Sáng sớm,mây chớp vẽ nên bức tranh
Gió xao động cõi tần biếc như sóng trên trời
Chim đậu trong ánh sáng lạnh như quạ trong trăng
Nếu không có vật thiêng,sao nhiều vết thiêng ?
Suốt năm dài đến mùa đông cũng không khô cạn.

Dịch Thơ:

Chơi hồ Động Đình nhỏ

Đỉnh núi trên hồ lại một hồ
ấu sen thơm nức cõi tiên đô
Sao đầy đêm tối chia càn tượng
Chớp loé ban mai vẽ hoạ đồ
Sóng giữa trời xanh,tần gió gợn
Quạ trong trăng sáng ánh chim nhô
Vật thiêng để dấu thiêng đầy khắp
Dằng dặc quanh năm nước chẳng khô.

Chân Trân
30-07-2005, 04:14 AM
Hàm Đan đông chí dạ tư gia

Hàm Đan dịch lý phùng đông chí
Bão tất đăng tiền ảnh bạn thân
Tưởng đắc gia trung thâm dạ tọa
Hoàn ưng thuyết trước viễn hành nhân.

Dịch Nghĩa

Trong nhà trạm ở Hàm Đan,gặp tiết đông chí
Ôm gối trước đèn,bóng làm bạn với thân
Tưởng đến cả nhà ngồi trong đêm khuya
Ai nấy đang bàn tán nhắc nhở người đi xa.

Dịch Thơ:

Đêm đông chí ở Hàm Đan nhớ nhà

Hàm Đan ở trạm ngày đông chí
Bó gối bên đèn bóng với ta.
Tưởng lúc đêm khuya nhà họp mặt
Còn đang nhắc nhở người đi xa.

Chân Trân
30-07-2005, 04:15 AM
Hạo ca hành

Thiên truờng địa cửu vô chung tất,
Tạc da kim triêu hựu minh nhật.
Mấn phát thương lương nha sử sơ,
Bất giác thân niên tứ thập thất.
Tiên khứ ngũ thập hữu kỉ niên,
Bả kính chiếu diện tâm mang nhiên.
Kí vô trường thằng hề bạch nhật,
Hựu vô đại được trú chu nhan.
Chu nhan nhật tiệm bất như cố,
Thanh sử công danh tại hà xứ?
Dục lục niên thiếu đãi phú quí,
Phú quí bất lai niên thiếu khứ.
Khứ phục khứ hề như trường hà,
Bôn lưu phó hải vô hồi ba.
Hiền ngu quí tiện đồng qui tận,
Bác Mang trủng mộ cao ta nga,
Cổ lai như thử phi độc ngã,
Vị tử hữu tửu thả cao ca
Nhan Hồi đoản mệnh, Bá Di ngã,
Ngã kim sở đắc diệc dĩ đa.
Công danh phú quí tu đãi mệnh.
Mệnh nhược bất lai, tranh nại hà!

Dịch Thơ:

Khúc Hát Hùng Hồn

Đất trời dằng dặc lâu dài,
Đêm qua, nay lại ngày mai không cùng.
Tóc đà râm mái, răng long,
Bốn mươi bảy tuổi, hãi hùng lòng ta!
Năm mươi, mấy nữa mà già,
Lấy gương soi mặt, xót xa bùi ngùi.
Không dây mà buộc mặt trời,
Cũng không có thuốc mà nhồi mặt son.
Mặt son lần nữa không còn,
Sử xanh, chưa thấy vẹn tròn công danh.
Tuổi xanh muốn đợi hiển vinh,
Hiển vinh chưa tới, tuổi xanh qua rồi.
Tuổi xanh như nước sông trôi,
Sông ra Đông Hải chảy xuôi một chiều.
Hiền ngu, quí tiện cũng phèo,
Bắc Mang cao ngất bao nhiêu nấm mồ!
Xưa nay hết thảy hư vô,
Còn ta, tay hãy say sưa hát cười.
Ấy ai chết trẻ: Nhan Hồi;
Ấy ai chết đói; ấy người Bá Di.
Ta nay được thế còn gì,
Công danh, phú quí đều suy mệnh trời.
Mệnh trời không lại, đành thôi!

Chân Trân
30-07-2005, 04:17 AM
Hậu cung từ

Lệ tận la cân mộng bất thành
Dạ thâm tiền điện án ca thanh
Hồng nhan vị lão ân tiên đoạn
Tà ỷ huân lung toạ đáo minh.

Dịch Thơ:

Bài hát hậu cung

Mộng không thành lệ miên man
Ðêm sâu điện vắng tiếng vàng ngọc rơi
Ân thiên chưa trọn một đời
Ðốt lò hương đợi sáng trời chưa hay.

Chân Trân
30-07-2005, 04:18 AM
Hắc Đàm long

Hắc đàm thủy thâm, sắc như mặc,
Truyền hữu thần long, nhân bất thức,
Đàm thượng giá ốc, quan lập từ,
Long bất năng thần, nhân thần chi!
Tai hung, thủy, hạn dữ tật dịch,
Hương lí giai ngôn long sở vi!
Gia gia dưỡng đồn, lộc thanh tửu
Triêu kì mộ trại, y vu khẩu.
Thần chi lai hề, phong phiêu phiêu,
Chỉ tiền động hề, cẩm tản dao.
Thần chi khứ hề, phong diệc tĩnh,
Hương hỏa diệt hề, bôi bàn lãnh.
Nhục đôi đàm ngạn thạch.
Tửu bát miếu tiền thảo.
Bất tri long thần hưởng kỉ đa,
Lâm thử, sơn hồ trường túy bão!
Hồ hà hạnh! Đồn hà cô!
Niên niên sát đồn tương ổi hồ.
Hồ giả long thần thực đồn tận,
Cửu trùng tuyền để long tri vô?

Dịch Thơ:

Con Rồng Đầm Đen

Đầm đen, nước như mực đen kịt,
Đồn có rồng thiêng chẳng ai biết.
Trên đầm quan cất ngôi đền thờ,
Rồng thiêng bởi miệng người thêu dệt.
Mất mùa hạn úng hay ốm đau,
Làng xóm bảo rồng gây ra hết.
Nghe lời thầy bói sớm lại chiều,
Lợn béo, rượu ngon, cúng la liệt.
Ngài đã về hưởng đấy!
Làn gió đang hây hẩy,
Tiền giấy cứ bay bay,
Tàn gấm cũng động đậy!

Ngài hưởng rồi ngài đi,
Trời im không chút gió.
Đèn hương cũng tắt dần,
Mâm bát nguội lạnh bỏ!
Bờ đầm, đống đá thịt vứt đầy,
Trước miếu rượu lan đầm đìa cỏ.
Chẳng hay rồng thiêng hưởng bao nhiêu?
Cáo núi, chuột rừng chén thả cửa.

Cáo sao may? Lợn sao khổ?
Năm năm giết lợn khao cáo nọ.
Cáo mượn oai rồng xơi lợn hoài,
Thăm thẳm đáy đầm, rồng có rõ?

Chân Trân
30-07-2005, 04:19 AM
Hữu mộc...

Hữu mộc danh lăng tiêu,
Trạc tú phi cô tiêu
Ngẫu y nhất châu thụ,
Toại trừu bách xích điều.
Thác căn phụ thụ thân.
Khai hoa kí thụ sao.
Tự vị đắc kì thế,
Vô nhân hữu động dao
Nhất đán thụ tồi đảo,
Độc lập tạm phiêu dao.
Tật phong tòng đông khởi,
Xuy chiết bất chung triêu.
Triêu vi phất vân hoa,
Mộ vi ủy địa tiều.
Kí ngôn lập thân giả,
Vật học nhu nhược miêu!

Dịch Thơ:

Có Thứ Cây...

Có thứ cây lăng tiêu (1)
Dây leo khoe mĩ miều,
May gặp nhờ cây lớn,
Vươn mình trăm thước cao.
Rễ bám nhờ thân cứng,
Hoa nở gửi cành đầu.
Tự cho mình đắc thế,
Không gì lay nổi đâu!
Một sớm cây lớn đổ,
Riêng mình tạm phiêu dao.
Gió mạnh từ đông thổi,
Cành gãy chẳng bao lâu,
Sớm, hoa còn mây lướt,
Chiều, củi đất tiêu điều.
Nhắn ai người lập chí:
Đừng học giống hoa leo.

Chú Thích:
(1) Loại cây leo thường leo vào cây khác mà sống, hoa nở về mùa hạ và mùa thu, sắc hoa vàng thắm rất đẹp.

Chân Trân
30-07-2005, 04:20 AM
Hữu nhân dạ phỏng

Thiềm gian thanh phong đạm
Tùng gian minh nguyệt bôi
U ý chinh như thử
Huống nãi cố nhân lai!

Dịch Thơ:

Bạn Lại Thăm Đêm

Thềm cao gió mát chiếu đan
Chén soi bóng nguyệt bàn hoàn dưới thông.
Lòng riêng đương thú với lòng
Lại đâu người cũ lạ lùng đến thăm...

Chân Trân
30-07-2005, 04:22 AM
Hoa Phi Hoa

Hoa phi hoa, vụ phi vụ,
Dạ bán lai, thiên minh khứ.
Lai như xuân mộng kỷ đa thì,
Khứ tự triêu vân vô mịch xứ.

Dịch Nghĩa:

Hoa chẳng phải hoa, sương chẳng phải sương,
Nửa đêm rồi, trời đã sáng.
Đến như giấc mộng xuân chẳng mấy hồi,
Đi như mây sớm chẳng biết đâu mà tìm.

Dịch Thơ:

Hoa Chẳng Phải Hoa

Hoa chẳng phải hoa, sương cũng chẳng,
Đêm nửa đêm rồi, trời đã sáng.
Đến như xuân mộng chẳng bao lâu,
Đi như mây sớm không tăm dạng.

Chân Trân
30-07-2005, 04:23 AM
Kí Vi Chi

Giang Châu vọng Thông Châu,
Thiên nhai dữ địa mạt.
Hữu sơn vạn trượng cao.
Hữu giang thiên lí khoát.
Gián chi dĩ vân vụ,
Phi điểu bất khả việt
Thùy tri thiên cổ hiểm,
Vị ngã lưỡng nhân thiết?
Thông Châu quân sơ đáo,
Uất uất sầu như kết.
Giang Châu ngã phương khứ,
Thiều thiều hành vị yết.
Đạo lộ nhật quai cách,
âm tin nhật đoạn tuyệt,
Nhân phong dục kí ngữ,
Địa viễn thanh bất triệt.
Sinh đương phục tương phùng,
Tử đương tòng thử biệt!

Dịch Thơ:

Gửi Vi Châu (1)

Châu Giang mà ngóng châu Thông, (2)
Chân trời cuối đất mênh mông thấy nào
Núi đâu muôn trượng kìa cao,
Sông đâu ngàn dặm, rộng sao rộng mà!
Mây che mù tỏa bao la,
Chim bay cũng chẳng vượt qua khỏi tầm.
Hiểm xưa còn đó ngàn năm,
Ai hay trời để chơi khăm đôi người.
Châu Thông bác mới tới nơi,
Mối sầu như thắt, ngậm ngùi chiếc thân.
Châu Giang tôi mới đi dần,
Nẻo đi xa lắc chưa phần đã ngơi.
Quan hà ngày một chia khơi,
Tăm hơi ngày bẵng tăm hơi một ngày.
Gió đưa muốn gửi câu này,
Tiếng không suốt đến vì mày đất xa!
Sống còn gặp gỡ đôi ta,
Ví chăng, chết mất, thôi đà biệt nhau!

Chú thích:
(1) Tức Nguyên Chẩn, bạn thân Bạch Cư Dị.
(2) Hai địa danh nơi hai người ở (Bạch Cư Dị bị giáng chức ra Châu Giang).

Chân Trân
30-07-2005, 04:25 AM
Khách Trung Nguyệt

Khách tòng Giang Nam lai,
Lai thì nguyệt thượng huyền.
Du du hành lữ trung,
Tam kiến thanh quang viên,
Hiểu tùy tàn nguyệt hành.
Tịch dữ tân nguyệt túc.
Thuỳ vị nguyệt vô tình?
Thiên lí viễn tương trục.
Triêu phát Vị Thủy kiều,
Mộ nhập Trường An mạch.
Bất tri kim dạ nguyệt,
Hựu tác thùy gia khách.

Dịch Thơ:

Trăng Đất Khách

Khách từ Giang Nam đến,
Đến vào lúc trăng non.
Trong bước đường vời vợi,
Ba bận thấy trăng tròn.
Sớm theo trăng lặn đi,
Tối cùng trăng lên nghỉ,
Ai bảo trăng vô tình?
Nghìn dặm theo nhau mãi.
Vị Thủy sáng dời chân,
Trường An chiều đến cửa.
Chẳng biết trăng đêm nay,
Làm khách nhà ai nữa?

Chân Trân
30-07-2005, 04:26 AM
Khúc giang ức Nguyên Cửu

Xuân lai vô bạn nhàn du thiểu
Hành lạc tam phân giảm nhị phân
Hà huống kim triêu hạnh viên lý
Nhàn nhân phùng tân bất phùng quân.

Dịch Nghĩa:

Xuân tới không bạn nên ít rong chơi
Ba phần vui thú,bớt đi hai phần
Huống chi sáng nay trong vườn hạnh
Gặp đủ mọi người nhàn hạ mà chẳng gặp anh.

Dịch Thơ:

Ở sông Khúc,nhớ Nguyên Cửu

Xuân về vắng bạn ít dông dài
Vui thú ba phần giảm mất hai.
Huống nữa sớm nay trong vườn hạnh
Bạn mình chẳng gặp,gặp ai ai...

Chân Trân
30-07-2005, 04:28 AM
Khinh, phì

Ỷ khí kiêu mãn lộ,
Yên mã quang chiếu trần.
Tá vấn hà vi giả?
Nhân xưng thị nội thần:
Chu phất giai đại phu,
Tử thụ hoặc tướng quân.
Khoa phó quân trung yến,
Tẩu mã khứ như vân.
Tôn, lôi dật cửu uấn,
Thủy lục la bát trân.
Quả phách Động Đình quất,
Khoái thiết Thiên Trì lân.
Thực bão tâm tự nhược,
Tửu hàm khí ích chân.
Thị tuế Giang Nam hạn,
Cồ Châu nhân thực nhân!

Dịch Thơ:

Nhẹ, béo (1)

1.(Tản Đà dịch)
Đây đường dáng bộ con cưng,
Ngựa yên bóng ngoáng, sáng trưng bụi hồng.
Hỏi: làm chi đó những ông?
Người ta rằng lũ quan trong đó mà.
Giải điều đều đại phu ta,
Mà đeo giải tía, hoặc là tuớng quân.
Khuânh khoang đi chén trong quân,
Rộn ràng vó ngựa chạy vần như mây.
Vò, ang chín thứ rượu đầy,
Hải sơn tám bát cỗ bầy linh tinh,
Quả dâng, quít hái Động Đình,
Cá Thiên Trì thái, đơm thành gỏi ngon.
Ăn no khoan khoái tâm hồn,
Rượu say ý khí hùng hồn càng thêm.
Năm nay hạn hán Giang Nam,
Cồ châu người mổ người làm thức ăn.

2.(Khương Hữu Dụng dịch)
Đầy đường oai phách nổi
Yên ngựa trông sáng trưng.
Thử hỏi là ai đó?
Người rằng: bọn nội thần.
Dải điều: toàn đại phu,
Dải tía là tướng quân,
Khoa vào dinh dự tiệc
Ngựa chạy như mây vần.
Uống toàn là rượu quí,
Ăn bày đủ món ngon.
Quít Động Đình trái ngọt
Cá Thiên Trì gỏi thơm.
Ních no lòng thấy khoái!
Chén khướt, khí thêm oai!
Năm ấy Giang Nam hạn
Cồ Châu: người ăn người.

Chú thích:
(1) Áo cừu nhẹ, ngựa béo: bọn quan lớn xa xỉ.

còn tiếp

Kỳ Đức
30-07-2005, 09:08 AM
Hoa Phi Hoa

Hoa phi hoa, vụ phi vụ,
Dạ bán lai, thiên minh khứ.
Lai như xuân mộng kỷ đa thì,
Khứ tự triêu vân vô mịch xứ.
...

Chị Chân Trân à,

Bài này có thấy trong tác phẩm Thuyền (Trôi theo Dòng Đời?) của bà Quỳnh Dao, Liêu Quốc Nhĩ dịch như sau:

Chẳng phải là sương, chẳng phải hoa,
Nửa đêm em đến, sáng em về.
Đến như giấc mộng, không mong đợi,
Đi tựa mây trời, không định nơi.


Bùn wá, híc híc/~\!

Dala
30-07-2005, 06:44 PM
Em rất thích thơ Đường, cảm ơn chị Trân nhé...

Hư không ngàn thước suốt vắt dây
Ầm ầm lao thẳng xuống sông này
Tựa dải lụa đào bay muôn kiếp
Núi sông ngăn cách một đường mây

Chân Trân
30-07-2005, 08:02 PM
Lâm Giang Tống Hạ Chiêm

Bi quân lão biệt , lệ triêm cân ,
Thất thập vô gia vạn lý thân .
Sầu kiến chu hành phong hựu khởi
Bạch đầu lãng lý , bạch đầu nhân !

Dịch nghĩa:

Thương anh tuổi già vẫn phải ly biệt , tôi rơi lệ , thấm ướt cả khăn,
Xa xôi muôn dặm , tấm thân bảy mươi tuổi không nhà .
Buồn thấy thuyền vừa đi , trời lại nổi gió ,
Giữa đám sóng bạc đầu , có con người đầu bạc .

Dịch thơ:

Ra Bên Sông Tiễn Hạ Chiêm

I

Muôn dặm thương anh , lệ biệt sầu ,
Bảy mươi tuổi tác , cửa nhà đâu ?
Buồn trông trận gió theo thuyền nổi ,
Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu .
(Bản dịch của Tản Đà)

II

Bảy chục không nhà , muôn dặm đâu ?
Thương anh già biệt , lệ tuôn sầu .
Buồn trông thuyền chạy , dông ùn tới ,
Người bạc đầu trong sóng bạc đầu .
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Chân Trân
30-07-2005, 08:03 PM
Lập bi

Huân đức kí hạ suy,
Văn chương diệc lăng di,
Đãn kiến sơn trung thạch,
Lập tác lộ bàng bi.
Minh huấn tất Thái công,
Tự đức giai Khổng Ni.
Phục dĩ đa vi quí,
Thiên ngôn trị vạn si.
Vi văn bỉ hà nhân?
Tưởng kiến hạ bút thì.
Đãn dục ngu giả duyệt,
Bất tư hiền giả xuy.
Khởi độc hiền giả xuy,
Nhưng truyền hậu đại nghi,
Cổ thạch thương đài tự.
An tri thị quí từ!
Ngã văn Vọng Giang huyện,
Cúc lệnh phủ quỳnh li.
Tại quan hữu nhân chính,
Danh bất văn kinh sư.
Thân một dục qui táng.
Bách tính già đạo kì.
Phan viên bất đắc qui,
Lưu táng thử giang mi.
Chí kim đạo kì danh,
Nam, nữ thế giai thuỳ.
Vô nhân lập bị kiệt,
Duy hữu ấp nhân tri.

Dịch Thơ:

Dựng Bia

Đức nghiệp ngày mỗi kém,
Văn chương cũng dần suy.
Chỉ thấy phiến đá núi,
Bên đường dựng thành bia.
Kể tài, đều "Thái công"
Kể đức, thảy "Khổng Ni".
Lại cốt nói cho lắm,
Nghìn chữ, vạn đồng thuê!
Viết văn, ai đó tá?
Tưởng lúc cầm bút đề
Cốt sao kẻ ngốc thích,
Không dè người biết chê!
Há những người biết chê,
Còn truyền một mối nghi:
Ai ngờ văn bia cổ,
Lời lẽ chẳng ra gì!
Nghe ông Cúc, huyện Vọng,
Thương quả phụ, cô nhi.
Làm quan có nhân chính,
Tiếng chẳng đến vua nghe.
Chết đưa về quê táng,
Trăm họ đón đường đi.
Cùng níu xe giữ lại,
Chôn ở mé sông kìa!
Đến nay nhắc tên họ,
Trai gái lệ đầm đìa.
Chẳng ai lập bia cả.
Người huyện nhớ như ghi!

Chân Trân
30-07-2005, 08:05 PM
Luy tuấn

Hoa lưu thất kì chủ,
Luy ngã vô nhân mục.
Hướng phong tê nhất thanh,
Mãng thương Hoàng Hà khúc.
Tháp băng thủy bạn lập,
Ngoạ tuyết trủng gian túc.
Tuế mộ điền dã không,
Hàn thảo bất mãn phúc.
Khởi vô thị tuấn giả,
Tẫn thị phàm nhân mục!
Tướng mã thất ư sấu.
Toại di thiên lí túc.
Thôn trung hà nhiễu nhiễu
Hữu lại trưng xô túc.
Thâu bỉ quân khái trung,
Hóa tác nô thai nhục!

Dịch Thơ:

Con Tuấn Mã Gầy

Con tuấn mã mất chủ,
Gầy đói đi lang thang.
Từng tiếng dài hí gió,
Bên Hoàng Hà mênh mang.
Chân lội tuyết bờ nước,
Thân nằm mả trong sương.
Trời đông, đồng quạnh quẽ,
Cỏ lụi, bụng đói nhàng!
Vẫn có kẻ kén ngựa,
Nhưng mắt lại tầm thường,
Chẳng biết tài nghìn dặm,
Chỉ chê gầy giơ xương!
Trong xóm đang nhộn nhịp,
Nha lại thu thóc lương.
Tải về tàu quân trại,
Nuôi ngựa thồ béo chương!

Chân Trân
30-07-2005, 08:06 PM
Mãi hoa

Đế thành xuân dục mộ,
Huyên huyên xa mã độ,
Cộng đạo mẫu đơn thì,
Tương tuỳ mãi hoa khứ
Quí tiện vô thường giá,
Thù trị khán hoa số.
Chước chước bách đóa hồng,
Tiên tiên ngũ thúc tố.
Thượng trương ác mạc tí,
Bàng chức ba li hộ.
Thuỷ sái phục nê phong,
Di lai sắc như cố.
Gia gia tập vi tục,
Nhân nhân mê bất ngộ.
Hữu nhất điền xá ông,
Ngẫu lai mãi hoa xứ.
Đê đầu độc trường thán,
Thử thán vô nhân dụ:
Nhất tùng thâm sắc hoa,
Thập hộ trung nhân phú.

Dịch Thơ:

Mua Hoa

Đế kinh xuân hầu cuối.
Đường xe ngựa ran ran.
Rằng mùa mẫu đơn nở.
Người mua hoa rộn ràng.
Đắt rẻ không nhất định,
Tuỳ hoa nhiều, ít hơn.
Độ trăm bông đèm đẹp,
Tơ năm bó còn hờm!
Trên che màn cẩn thận,
Dưới quây phên kĩ càng.
Rẩy nước lại đắp đất,
Về trồng tươi tốt luôn.
Mọi người đã quen nếp,
Chẳng ai còn suy lường.
Chợt có ông làm ruộng,
Thấy bán hoa, bước sang.
Cúi đầu, ông than thở,
Lời than ai biết chăng?
"Một chùm hoa sắc thắm
Thuế mười hộ bậc thường!".

Chân Trân
30-07-2005, 08:07 PM
Mại thán ông

Mại thán ông!
Phạt tân, thiên thán Nam Sơn trung,
Mãn diện trần hôi yên hỏa sắc,
Lưỡng mấn thương thương, thập chỉ hắc,
Mại thán đắc tiền hà sở doanh?
Thân thượng y thường, khẩu trung thực,
Khả liên thân thượng y chính đan.
Tâm ưu thán tiện nguyện thiên hàn.
Dạ lai thành ngoại nhất xích tuyết,
Hiểu giá thán xa triển băng triệt.
Ngưu khốn, nhân cơ, nhật dĩ cao,
Thị nam môn ngoại nê trung yết.
Lưỡng kị phiên phiên lai thị thuỳ?
Hoàng y sứ giả bạch sam nhi.
Thủ bả văn thư, khẩu xưng: "sắc"!
Hồi xa sất ngưu khiên hướng Bắc.
Nhất xa thán trọng thiên dư cân,
Cung sứ khu tương tích bất đắc.
Bán thất hồng sa, nhất trượng lăng
Hệ hướng ngưu đầu sung thán trị.

Dịch Thơ:

Ông Bán Than

Ông bán than!
Đốt củi đốt than trong núi Nam,
Mặt mày tro bụi khói lửa ám,
Mái tóc hoa râm tay đen ngòm!
Bán than được tiền ông tính toán:
Phần sắm quần áo, phần gạo cơm.
Thương thay! Trên mình áo mỏng dính,
Lòng lo than rẻ, mong trời lạnh!
Đêm qua ngoài thành tuyết hàng thước,
Sớm đánh xe than, rãnh băng ướt,
Trâu mỏi, người đói, mặt trời cao,
Bùn lầy cửa Nam tạm nghỉ bước.
Băng băng đôi ngựa, kìa ai nhỉ?
Áo vàng, áo trắng hai quan thị.
Tay giơ giấy tờ, mồm quát: "Sắc!"
Quay xe hò trâu kéo về bắc.
Một xe than nặng hơn nghìn cân,
Người nhà vua lấy, tiếc chẳng được.
Nửa tấm lụa hồng, một trượng the,
Buộc lên sừng trâu, không lấy? Mặc!

Chân Trân
30-07-2005, 08:10 PM
Phóng lữ nhạn

Nguyên Hoà thập niên đông đại tuyết ,
Giang thuỷ sinh băng thụ chi chiết .
Bách điểu vô thực đông tây phi,
Trung hữu lữ nhạn thanh tối ky.
Tuyết trung trác thảo băng thượng túc ,
Sí lãnh đằng không phi động trì .
Giang đồng trì võng bộ thương khứ ,
Thủ hoà nhập thị , sinh mại chi .
Ngã bản bắc nhân kim khiển trích ,
Nhân điểu tuy thù đồng thị khách .
Kiến thử khách điểu thương khách nhân ,
Thục nhữ , phóng nhữ phi nhập vân .
Nhạn ! Nhạn ! Nhữ phi hướng hà xứ ?
Đệ nhất mạc phi tây bắc khứ !
Hoài Tây hữu tặc thảo vị bình ,
Bách vạn giáp binh cửu đồn tụ .
Quan quân , tặc quân , tương thủ lão ,
Thực tận bình cùng tương cập nhữ .
Kiện nhi cơ ngã xạ nhữ khiết .
Bạt nhữ sí linh vi tiễn vũ.

Dịch Nghĩa:

Mùa đông năm Nguyên Hoà(1) thứ mười , mưa tuyết lớn ,
Nước sông thành băng , cành cây gẫy lả tả .
Các loài chim không kiếm được ăn , bay khắp đông tây,
Trong đó có con nhạn lạc tiếng kêu nghe rất đói ,
Ăn , rỉa cỏ trong tuyết , nằm trên mặt băng .
Lông cánh rét cóng bay lên chậm chạp ,
Chú bé ven sông bủa lưới bắt được ,
Xách luôn ra chợ bán sống .
Mình vốn người phương bắc bị đày đến đây(2).
Người và chim tuy khác nhau , song cũng là khách ,
Thấy chim khách , người khách động lòng thương,
Chuộc mày , thả cho mày bay lên mây thẳm .
Nhạn ơi ! Nhạn ! Mày bay về phương nào ?
Thứ nhất chớ bay về tây bắc !
Ở Hoài Tây có giặc dẹp chưa xong (3)
Trăm vạn quân lính đóng mãi ở đó .
Quân triều , quân giặc cầm cự nhau mãi ,
Lương cạn , quân mỏi sẽ tính đến mày.
Bọn chiến sĩ đói mèm sẽ bắn mày để ăn thịt ,
Sẽ nhổ lông mày để làm cánh tên.

Dịch Thơ:

Nguyên Hoà năm thứ mười tuyết lớn ,
Cây cối gãy cành sông giá đóng,
Trăm chim kiếm ăn bay thất thơ,
Có tiếng con nhạn đói xác xơ .
Mổ cỏ trong tuyết , ngủ trên giá,
Cánh lạnh trên không bay lờ đờ .
Trẻ chài chăng lưới bắt sống nhạn,
Xách ngay vào chợ bán tươi đi .
Ta , người phương bắc quan bị trích,
Người chim tuy khác , cũng là khách .
Thấy cảnh khách chim thương khách người,
Mua mày , thả mày bay lên khơi.
Phương nào , nhạn ơi , nhạn bay hỡi ?
Nhất là tây bắc , đừng bay tới !
Hoài Tây có giặc dẹp chưa yên,
Trăm vạn quân binh còn đóng mãi.
Quân ta quân giặc cứ giằng co,
Lương hết binh cùng , đến mày khổ .
Lính kia đói lử , bắn mày ăn ,
Lông mày họ nhổ làm tên đó !

Chú thích:

(1) : Niên hiệu của Đường Hiến Tông (815)
(2) : Chỉ việc Bạch Cư Dị bị biếm ra làm tư mã quận Cửu Giang (815)
(3) : Chỉ bọn Ngô Nguyên Tế ở Hoài Tây nổi dậy chống lại Đường Hiến Tông , năm Nguyên Hoà thứ chín (814).

Chân Trân
30-07-2005, 08:11 PM
Phọc nhung nhân

Phọc nhung nhân! Phọc nhung nhân!
Nhĩ xuyên, diện phá, khu nhập Tần,
Thiên tử căng liên bất nhẫn sát
Chiếu tỉ đông nam Ngô dữ Việt.
Hoàng y tiểu sứ lục tính danh,
Lĩnh xuất Trường An thừa đệ hành.
Thân bị kim sang, diện đa tích,
Phù bệnh đồ hành nhật nhất dịch.
Triêu xan cơ khát phí bôi bàn,
Dạ ngọa tinh táo ô sàng tịch.
Hốt phùng Giang thủy ức Giao Hà,
Thùy thủ tề thanh ô yết ca.
Kì trung nhất lỗ ngữ chư lỗ:
Nhĩ khổ phi đa, ngã khổ đa.
Đồng bạn hành nhân nhân tá vấn,
Dục thuyết hầu trung khí phẫn phẫn,
Tự vân hương quản bản Lương Nguyên,
Đại Lịch niên trung một lạc Phiên.
Nhất lạc Phiên trung tứ thập hải,
Thân trước bì cừu hệ mao đới.
Duy hứa chinh triêu phục Hán nghi,
Liễm y chỉnh cân tiềm lệ thùy,
Thệ tâm mật định qui hương kế,
Bất tử phiên trung thê tử tri.
Ám tư hạnh hữu tàn cân cốt,
Cánh khủng niên suy qui bất đắc.
Phiên hậu nghiêm binh điểu bất phi,
Thoát thân mạo tử bôn đào qui.
Trú phục tiêu hành kinh đại mạc.
Vân âm nguyệt hắc, phong sa ác,
Kinh tàng thanh trủng hàn thảo sơ,
Thâu độ Hoàng Hà dạ băng bạc.
Hốt văn Hán quân bề cổ thanh,
Lộ bàng tẩu xuất tái bái nghênh,
Du kị bất thính năng Hán ngữ,
Tướng quân toại phọc tác Phiên sinh.
Phối hướng Giang Nam ti thấp địa,
Định vô tồn tuất không phòng bị,
Niệm thử thôn thanh ngưỡng tố thiên,
Nhược vi tân khổ độ tàn niên.
Lương Nguyên hương tỉnh bất đắc kiến,
Hồ địa thê nhi hư khí quyên.
Một Phiên bị tù tư Hán thổ,
Qui Hán bị hiếp vi phiên lỗ.
Tảo tri như thử hối qui lai,
Lưỡng địa ninh như nhất xứ khổ.
Phọc nhung nhân!
Nhung nhân chi trung ngã khổ tân.
Tự cổ thử oan ứng vị hữu,
Hán tâm Hán ngữ thổ Phồn thân!

Dịch Thơ:

Người Tù Binh Phồn Bị Trói

Trói tù Phồn! Trói tù Phồn!
Tai thủng rách mặt dắt về Tần.
Vua thấy thương tình, không nỡ giết,
Lệnh truyền đem giải sang Ngô, Việt.
Sổ bộ ghi xong, cai áo vàng
Cho xe chở họ khỏi Trường An.
Mình mẩy bị thương mặt đầy vết,
Mang bệnh, mỗi ngày một trạm, lết.
Sớm ăn đói khát, bát mâm chi,
Tối ngủ máu me giường chiếu bết.
Gặp dòng sông bỗng nhớ Giao Hà,
Buông xuôi tay cùng nghẹ tiếng ca.
Một bác tù than cùng cả bọn:
Khổ anh đâu sánh khổ tôi mà!
Anh em xúm hỏi thăm nguồn ngọn,
Toan nói, uất cồn lên cổ họng.
Rằng: tôi quê vốn ở Lương Ngươn,
Đại Lịch sa chân đến Thổ Phồn.
Thổ Phồn bốc chục năm trôi nổi,
Mặc áo da cừu lông thắt dải.
Được mang Hán phục buổi đầu năm,
Khoác áo chít khăn lệ ứa thầm.
Định lẻ vợ con nơi đất Thổ,
Quê nhà tìm cách trốn về thăm.
Nghĩ bụng may còn đôi chút sức,
E nữa tuổi già về chẳng được.
Trời Phồn chim khó lọt vòng canh,
Trốn về liều chết thoát thân mình.
Đêm đi ngày nghỉ qua sa mạc,
Trăng tối mây mù đầy gió cát.
Nấp liều cỏ lạnh mộ Chiêu Quân,
Lẻn vượt sông Hoàng băng đóng lớp.
Bỗng nghe quân Hán trống chiêng dồn;
Chạy ra vái lịa đón bên đường.
Quân kị chẳng thèm nghe tiếng Hán,
Tướng truyền trói lại: "Mày quân Phồn!"
Đày đến Giang Nam miền nước độc,
Ma nào thăm hỏi, ai săn sóc!
Xót thân ngửa mặt lặng kêu trời,
Cay đắng ngày tàn bóp bụng thôi!
Quê cũ Lương Ngươn không được thấy,
Đất Hồ luống bỏ vợ con rồi!
Qua Phồn bị tù, nhớ đất Hán,
Về Hán làm tù Phồn mới chán!
Biết nông nỗi ấy nỏ về chi,
Khổ cả hai bên thà một chốn.
Trói tù Phồn!
Trong bọn, riêng tôi khổ quá chừng!
Từ trước oan này e chửa có:
Lòng Hán, tiếng Hán, lại thân Phồn!

Chân Trân
30-07-2005, 08:13 PM
Quan nghệ mạch

Điền gia thiểu nhàn nguyệt,
Ngũ nguyệt nhân bội mang.
Dạ lai nam phong khởi,
Tiểu mạch phú lũng hoàng.
Phu cô hạ đan tự,
Đồng trĩ huề hổ tương.
Tương tùy hướng điển khứ
Đinh tráng tại nam cương
Túc chưng thử thổ khí,
Bối chước viêm thiên quang.
Lực tận bất tri nhiệt,
Đãn tích hạ nhật trường.
Phục hữu bần phụ nhân,
Bão tử tại kì bàng.
Hữu thủ bỉnh di tuệ,
Tả tí huyền tệ khuông.
Thính kì tương cố ngôn,
Văn giả vị bi thương.
Gia điền thâu thuế tận,
Thập thử sung cơ trường.
Kim ngã hà công đức,
Tằng bất sự nông tang?
Lại lộc tam bách thạch,
Tuế án hữu dư lương.
Niệm thử tư tự quí,
Tận nhật bất năng vương.

Dịch Thơ:

Xem Gặt Lúa

Nhà nông ít tháng rỗi,
Tháng năm càng rộn ràng.
Đêm qua gió nam thổi,
Lúa chín lợp bờ vàng.
Thúng cơm các bà đội,
Bầu nước trẻ con mang.
Theo đem cơm ra ruộng
Trai tráng trên gò nam.
Chân bỏng sôi hơn đất,
Cật cháy ánh mặt trời.
Mải miết không biết nóng,
Chỉ tiếc ngày hè dài.
Lại có một bà nghèo,
Ôm con đứng bên cạnh,
Tay phải nhặt bông rơi,
Tay trái đeo giỏ rách.
Thoáng chuyện bà mới góp,
Người nghe thấy bồi hồi:
"Ruộng nhà bán nộp thuế,
Mót chút để cầm hơi!"

Nay mình công cán gì?
Việc nông tang chẳng biết,
Lương hưởng ba trăm phương,
Cuối năm ăn chẳng hết.
Nghĩ lại thấy thẹn thùng,
Suốt ngày lòng bứt rứt.

Chân Trân
30-07-2005, 08:15 PM
Sinh ly biệt

Thực bá bất dị , thực mai nan,
Bá năng khổ hề , mai năng toan .
Vị như sinh biệt chi vi nan ,
Khổ tại tâm hề , toại tại can !
Thần kê tái minh tàn nguyệt một ,
Chinh mã liên tê hành nhân xuất .
Hồi khan cốt nhục khốc nhất thanh ,
Mai toan , bá khổ , cam như mật !
Hoàng Hà thuỷ bạch hoàng vân thu .
Hành nhân hà biên tương đối sầu ,
Thiên hàn , dã khoáng , hà xứ túc ?
Đường lê diệp chiến phong sưu sưu.
Sinh ly biệt ! Sinh ly biệt !
Ưu tòng trung lai vô đoạn tuyệt ,
Ưu cực tâm lai huyết khí suy ,
Vị niên tam thập sinh bạch phát .

Dịch Nghĩa:

Ăn sung(*1) không dễ , ăn mơ khó .
Sung chát làm sao !mơ , ôi ! chua .
Nhưng chưa khó bằng cảnh sinh ly ,
Chát ngấm trong tim , chua xé gan !
Gà gáy sớm hai lần , trăng tà đang lặn ,
Ngựa trẩy hí ran , khách ra đi lên đường .
Ngoảnh lại , nghe một tiếng khóc của người ruột thịt ,
Thì chát như sung , chua như mơ , coi còn ngọt tựa mật !
Nước sông Hoàng trắng phau , mây thu vàng khé .
Khách ra đi , bên sông rầu rầu nhìn nhau .
Trời rét đồng không , nơi nao yên nghỉ
Lá đường lê(*2) chạm nhau trước gió rào rào !
Cảnh sinh ly ! Cảnh sinh ly !
Nỗi lo âu , bởi tự đáy lòng , bao giờ cho dứt !
Lo âu sâu sắc , khí huyết hao mòn ,
Tuổi chưa ba mươi , tóc đã nhuốm bạc !

Dịch Thơ:

Cảnh sinh ly

I/

Sung , mơ ăn khó , ai ơi !
Sung ăn thời chát , mơ thời chua sao !
Chưa bằng sống biệt ly nhau ,
Ruột gan chua chát lại đau bội phần .
Lần trăng gà gáy hai lần ,
Hét luôn tiếng ngựa giục dần khách ra .
Trông nhau một tiếng khóc oà ,
Mơ chua sung chát , như là mật ngon .
Nước sông trắng , mây vàng tuôn ,
Kẻ đi người ở , cơn buồn bên sông .
Ngủ đâu ? Trời lạnh , đồng không !
Đìu hiu ngọn gió loạn rung lá đường !
Biệt ly lúc ấy lạ nhường !
Mối lo chẳng dứt từ phương hướng nào ?
Quá lo , huyết khí tiêu hao ,
Chưa ba mươi tuổi , tóc sao trắng rồi ?
(Bản dịch của Tản Đà)

II/

Khôn ngậm bồ hòn , khó nuốt mơ ,
Bồ hòn thì đắng , mơ thì chua.
Chưa gay bằng sống mà ly biệt,
Chua đắng trong lòng nói chẳng ra !
Trở giục canh gà , trăng xế khuất ,
Hí râng ngựa chiến , người xa tếch .
Quay nhìn ruột thịt , khóc oà lên ,
Đắng ấy chua kia ngọt như mật .
Trắng sông nước ,
Vàng may thu .
Người đi sông bến ngó nhau sầu .
Đường xa trời lạnh nơi nao nghỉ ?
Cành lê lá đập gió vi vu.
Sống ly biệt !
Sống ly biệt !
Lo từ đâu đến xua không hết ?
Lòng nhọc lo hoàn khí huyết suy ,
Chưa ba mươi tuổi đầu pha tuyết .
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Chú thích:

*1: Nguyên văn là bá , loại cây vỏ có chất vàng , có thể dùng làm thuốc nhuộm , quả ăn đắng , vì không thường thấy ở nước ta nên tạm dịch là cây sung để dễ tưởng tượng được vị chát , và do đó hội được ý nghĩa của câu thơ hơn
*2: Loại cây giống cây lê, hoa trắng , quả nhỏ như quả xoan , ăn được .

Chân Trân
30-07-2005, 08:17 PM
Sơn giá cô

Sơn giá cô!
Triêu triêu mộ mộ, đề phục đề.
Đề thời lộ bạch phong thê thê.
Hoàng mao cương đâầ thu nhật vãn,
Khổ trúc lĩnh hạ hàn nguyệt đê.
Dư điền hữu túc hà bất trác?
Thạch nam hữu chi hà bất thê?
Thiều thiều bất hoãn phục bất cấp,
Lâu thượng chu trung thanh ảm nhập.
Mộng hương thiên khách triển chuyển ngoạ.
Bão nhi quả phụ bàng hoàng lập.
Sơn giá cô!
Nhĩ bản thử hương điểu,
Sinh bất từ sào, bất biệt quần.
Hà khổ thanh thanh đề đáo hiểu?
Đề đáo hiểu,
Duy năng sầu bắc nhân,
Nam nhân quán văn như bất văn.

Dịch Thơ:

Con Đa Đa Núi (1)

Ơi chim đa đa núi,
Sớm sớm chiều chiều kêu, kêu mãi.
Khi sương trắng xóa, gió não nề.
Vàng vọt đồi tranh chiều thu muộn,
Lạnh lùng trăng xế núi trúc tre.

Cây núi có cành, sao không đỗ?
Ruộng cày có thóc sao không ăn?
Văng vẳng đưa chẳng khoan chẳng nhặt
Vào lòng thuyền, nơi gác vắng, tiếng buồn tênh!
Khách lưu đày nằm nhớ quê trằn trọc,
Bồng con thơ, gái góa đứng bàng hoàng.

Ơi đa đa,
Mi ở nơi đất mẹ
Sống không rời tổ, chẳng lìa đàn,
Cớ sao khổ, ra rả kêu tới sáng?
Kêu tới sáng
Cho người phương bắc sầu lai láng,
Chỉ người nam, nghe quen mãi, dửng dưng...

Chú thích:

(1) con gà gô, gà rừng.

Chân Trân
30-07-2005, 08:18 PM
Sơn hạ túc

Độc chí sơn hạ túc
Tình hướng nguyệt trung hành
Hà xứ thủy biên đôi,
Dạ thung vân mẫu thanh.

Dịch Thơ:

Ngủ đỗ dưới núi

Một mình tới ngủ non xanh,
Lặng êm dưới bóng trăng thanh bước nhìn.
Suối đâu cối nước liền bên,
Chày đâm vân mẫu (1) kìn kìn tiếng đêm.

Chú thích:

(1) đá vân mẫu, dùng làm cối.

Chân Trân
30-07-2005, 08:21 PM
Tam niên biệt

Du du nhất biệt dĩ tam niên ,
Tương vọng tương tư , minh nguyệt thiên .
Trường đoạn thanh thiên vọng minh nguyệt,
Biệt lai tam thập lục hồi viên .

Dịch nghĩa :

Một lần từ biệt,ba năm đằng đẵng ,
Những đêm sáng trăng là những đêm mong nhớ .
Đau lòng khi nhìn vầng trăng sáng trên nền trời xanh ,
Tính lại xa nhau đã ba mươi sáu lần tròn.

Dịch thơ:

Ba năm xa cách

Xa nhau một chuyến ba năm ,
Ngóng nhau chung bóng trăng rằm nhớ nhau .
Trời xanh , trăng sáng , lòng đau,
Ba mươi sáu độ trước sau trăng tròn .

Chân Trân
30-07-2005, 08:22 PM
Tân chế bố cừu

Quế bố bạch tự tuyết,
Ngô miên nhuyễn ư vân.
Bố trọng miên thả hậu,
Vi cừu hữu dư ôn.
Triêu ủng toạ chí mộ,
Dạ phú miên đạt thần.
Thùy tri nghiêm đông nguyệt,
Chi thể noãn như xuân?
Trung dạ hốt hữu niệm
Phủ cừu khởi thuân tuần.
Trượng phu quí kiêm tế
Khởi độc thiện nhất thân?
An đắc vạn lí cừu,
Cái khỏa chu tứ ngân.
Ổn noãn giai như ngã,
Thiên hạ vô hàn nhân!

Dịch Thơ:

Áo Mền Mới May

Vải đất Quế trắng phau như tuyết
Bông miền Ngô mềm tuyệt như mây.
Vải đã mịn, bông lại dày
Đem may làm áo mặc rầy ấm ghê!
Buổi sáng khoác ngồi lì đến tối
Ban đêm trùm ngủ tới sáng ngày
Mùa đông tháng giá rét gay
Riêng mình lại ấm như ngày mùa xuân.
Nửa đêm bỗng băn khoăn nghĩ ngợi
Vỗ áo cừu bối rối khôn nguôi
Trượng phu quí ở giúp đời
Phải đâu cốt sướng con người mình thôi,
Mong có áo rộng dài vạn dặm
Khắp bốn bề đều đắp rộng ra
Thảy đều yên ấm như ta
Không còn ai phải kêu ca lạnh lùng.

Chân Trân
30-07-2005, 08:24 PM
Tân Phong chiết tí ông

Tân Phong lão ông bát thập bát,
Đầu mấn mi tu giai tự tuyết.
Huyền tôn phù hướng điếm tiền hành,
Tả tí bằng kiên, hữu tí chiết.
Vấn ông: "Tí chiết lai kỉ niên?"
Kiêm vấn: "Trí chiết hà nhân duyên?"
Ông vân: "Quán thuộc Tân Phong huyện,
Sinh phùng thánh đại vô chinh chiến;
Quán thính lê viên ca quản thanh.
Bất thức kì, thương dữ cung, tiễn.
Vô hà, Thiên Bảo đại trưng binh,
Hộ hữu tam đinh, điểm nhất đinh;
Điểm đắc khu tương hà xứ khứ.
Ngũ nguyệt vạn lí Vân Nam hành.
Văn đạo Vân Nam hữu Lô Thủy,
Tiêu hoa lạc thì, chướng yên khởi.
Đại quân đồ thiệp thủy như thang.
Vị quá, thập nhân nhị, tam tử.
Thôn nam, thôn bắc khốc thanh ai,
Nhi biệt gia nương, phu biệt thê;
Giai vân tiền hậu chinh Man giả
Thiên vạn nhân hành vô nhất hồi.
Thị thì ông niên nhị thập tứ,
Binh bộ điệp trung hữu danh tự;
Dạ thâm bất cảm sử nhân tri,
Thâu tương đại thạch chuỳ chiết tí.
Trương cung bả kì câu bất kham,
Tòng tư sử miễn chinh Vân Nam.
Cốt toái, cân thương phi bất khổ,
Thả đồ giản thoái quy hương thổ.
Thử tí chíêt lai lục thập niên.
Nhất chi tuy phế, nhất thân tuyền.
Chí kim phong vũ âm hàn dạ,
Trực đáo thiên minh thống bất miên.
Thống bất miên, chung bất hối,
Thả hỉ lão thân kim độc tại.
Bất nhiên đương thời Lô Thuỷ đầu,
Thân tử, hồn cô, cốt bất thu.
Ưng tác Vân Nam vọng hương quỉ,
Vạn nhân trủng thượng khốc u "
Lão nhân ngôn, quân thính thủ,
Quân bất văn Khai Nguyên tể tướng Tống Khai Phủ
Bất thưởng biên công phòng độc vũ?
Hựu bất văn Thiên Bảo tể tướng Dương Quốc Trung
Dục cầu ân hạnh, lập biên công?
Biên công vi lập sinh dân oán,
Thỉnh vấn Tân Phong chiết tí ông!

Dịch Thơ:

Cụ Cụt Tay Ở Tân Phong

Ông lão Tân Phong (1) tám tám tuổi,
Đầu tóc râu mày bạc trắng toát.
Đứa chít dìu qua trước quán làng,
Tay trái vịn vai, tay phải cụt.
Hỏi ông: tay cụt bao năm nay?
Và hoi: Vì sao bị cụt tay?
- Rằng: "Huyện Tân Phong, quê lão ở,
Sinh gặp thánh triều không giặc giã.
Quen nghe tiếng hát ở trong cung,
Chẳng biết cầm thương và bắn nỏ.

Nào hay Thiên Bảo bỗng trưng binh,
Nhà ba đinh, bắt một tòng chinh.
Bắt rồi đem đầy đi đâu đó?
Tháng năm, Vân Nam tếch dặm nghìn.
Nghe nói Vân Nam có Lô Thuỷ,
Mùa hoa tiêu rụng đầy chướng khí,
Quân kéo qua sông, nước bỏng sôi,
Chưa qua, mười mạng, vài tiêu huỷ!

Xóm bắc thôn nam khóc não nề,
Lìa cha lìa mẹ, biệt thê nhi.
Rằng bao lần dẹp quân man rợ,
Nghìn vạn người đi chẳng một về.

Bấy giờ lão lứa hăm tư tuổi,
Tên sổ bộ Binh không lọt khỏi.
Lẻn lúc đêm khuya giấu mọi người,
Lấy hòn đá đập nát tay phải.
Giương cung, phất cờ đều chẳng kham,
Từ đấy được miễn trẩy Vân Nam.
Xương nát gân dần đâu chẳng khổ,
Chỉ mưu được thải về quê cũ.

Tay này bị cụt sáu mươi năm,
Mất một tay mà vẹn một thân.
Nay cứ gió mưa đêm giá rét.
Đầu hôm đến sáng nhức khôn nằm.
Nhứ khôn nằm!
Trọn đời đâu hối tiếc,
Mừng cái thân già riêng sống sót.
Nếu không, thuở ấy đầu sông Lô,
Chết bỏ Vân Nam nắm cốt khô.
Vất vưởng hồn ma nơi đất khách,
"Mồ muôn người đó", khóc hu hu.

Hãy ghi lấy lời ông cụ:
Há chẳng nghe, triều Khai Nguyên tể tướng Tống Khai Phủ,
Biên công chẳng thưởng, ngừa hăng máu?
Lại chẳng nghe triều Thiên Bảo tể tướng Dương Quốc Trung,
Muốn cầu tước vị lập biên công?
Công chẳng thấy đâu, dân oán dậy,
Hỏi ông ty cụt huyện Tân Phong.

Chú thích:
(1) Thuộc Thiểm Tây.

Chân Trân
30-07-2005, 08:26 PM
Tùng thanh

Nguyệt hảo , hảo độc toạ ,
Song tùng tại tiền hiên .
Tây nam vi phong lai ,
Tiềm nhập chi diệp gian .
Tiêu liêu phát vi thanh ,
Bán dạ minh nguyệt tiền .
Hàn sơn táp táp vũ ,
Thu cầm lãnh lãnh huyền .
Nhất văn địch viêm thử ,
Tán thính phá hôn phiền .
Cánh tịch toại bất mị ,
Tâm thể câu diểu nhiên !
Nam mạch xa mã động ,
Tây lân ca xuy phồn .
Thuỳ tri tư thiềm hạ ,
Mãn nhĩ bất vi huyên .

Dịch Nghĩa:

Trăng đẹp ngồi một mình rất thú ,
Hai cây thông đứng trước hiên .
Gió tây nam hây hẩy ,
Luồn vào đám lá cành .
Vi vút reo thành tiếng ,
Nửa đêm dưới vầng trăng thanh.
Núi lạnh , mưa sầm sập !
Cung đàn thu điệu réo rắt !
Thoạt nghe , giội hết cơn nồng ,
Nghe lâu phá tan phiền muộn ,
Suốt buổi tối không ngủ ,
Tâm hồn , thân thể đều thấy lâng lâng .
Đường nam xe ngựa rầm rộ ,
Xóm bắc đàn hát rộn ràng .
Có ai hay : dưới mái hiên này
(Tiếng động) đầy bên tai mà không cho là huyên náo ?

Dịch Thơ:

Tiếng thông reo

Trăng trong , ngồi mát một mình ,
Hai cây thông đứng hữu tình trước hiên .
Nhẹ nhàng cơn gió đưa lên ,
Luồn cành lá , đến tự miền tây nam.
Bóng trăng sáng nửa chừng đêm ,
Lào rào nghe tiếng gió làn tuôn đưa .
Ào ào núi rét sa mưa ,
Đàn cầm thu nẩy dây tơ lạnh lùng .
Một nghe rửa sạch cơn nồng ,
Hai nghe bức bối trong lòng phá tan .
Thâu đêm thức mãi bàn hoàn ,
Dạ người khoan khoái , dạ mình khoan minh .
Đường nam xe ngựa rình rình .
Xóm tây tiếng hát , tiếng sênh rộn ràng .
Ai hay này chỗ hành lang ,
Đầy tai nghe vẫn êm thường như không.

Chân Trân
30-07-2005, 08:28 PM
Túc Huỳnh Dương

Sinh trưởng tại Huỳnh Dương,
Thiếu tiểu từ hương khúc,
Thiều thiều tứ thập tải,
Phục đáo Huỳnh Dương túc.
Khứ thời thập nhất, nhị,
Kim niên ngũ thập lục,
Truy tư nhi hí thì,
Uyển nhiên do tại mục.
Cựu cư thất xứ sở,
Cố lí vô thân tộc.
Khởi duy biến triều thị,
Kiêm diệc thiên lăng cốc.
Độc hữu Trăn, Vĩ thủy,
Vô tình y cựu lục.

Dịch Thơ:

Ngũ Đỗ Ở Huỳnh Dương

Sinh trưởng ở Huỳnh Dương,
Tấm bé đã xa làng.
Bốn mươi năm đằng đẵng,
Nay về ngủ quê hương.
Đi mười một, mười hai,
Nay năm sáu tuyết sương,
Nhớ trò chơi thuở nhỏ,
Trước mắt còn rõ ràng.
Nhưng đâu, nơi nhà cũ?
Còn ai là họ hàng?
Phải đâu chỉ đô thị,
Gò, hốc cũng tang thương.
Vô tình dòng Trăn, Vĩ
Vẫn màu xanh mênh mang!

Chân Trân
30-07-2005, 08:29 PM
Tảo thu độc dạ

Tỉnh ngô lương diệp động
Lân chử thu thanh phát
Độc hướng thiềm hạ miên
Giác lai bán sàng nguyệt

Dịch Nghĩa

Lá cây ngô đồng trên bờ giếng, lạnh lùng lay động
Chày bên hàng xóm, vang lên tiếng thu
Một mình ngủ dưới mái hiên
Tỉnh dậy trăng rọi sáng nửa giường

Dịch Thơ

Đầu thu, đêm ngủ một mình

Giếng vàng lay động lá ngô
Mỏ chày hàng xóm tiếng thu đã truyền
Một mình ngủ dưới mái hiên
Tỉnh ra trăng sáng nửa bên giường nằm

Chân Trân
30-07-2005, 08:30 PM
Tự Giang Lăng chi Từ Châu lộ thượng kí huynh đệ

Kì lộ Nam tương Bắc,
Li ưu đệ dữ huynh,
Quan hà thiên lí biệt,
Phong tuyết nhất thân hành.
Tịch túc lao hương mộng,
Thần trang thảm lữ tình!
Gia bần ưu hậu sự.
Nhật đoản niệm tiền trình.
Yên nhạn phiên hàn chử,
Sương ô tụ cổ thành.
Thùy liên trắc cương giả,
Tây Sở vọng Nam Kinh.

Dịch Thơ:

Từ Giang Lăng Sang Từ Châu, Dọc Đường Gửi Anh Em

Đường kia sắp Bắc từ Nam,
Mối lo li biệt anh em càng sầu.
Quan hà ngàn dặm xa nhau,
Người đi gió tuyết dãi dầu một thân.
Hồn quê nhọc giấc đêm xuân,
Sắm sanh hành lí tần ngần sớm mai.
Nhà nghèo lo tính xa xôi,
Đường xa nghĩ nỗi ngày thời ngắn không.
Nhạn sa bến lạnh khói hồng,
Thành xưa lũ quạ họp trong sương mờ.
Ai thương kẻ bước lên gò?
Sở Tây trông ngóng bây giờ Kinh Nam!

Chân Trân
30-07-2005, 08:34 PM
Tỳ bà hành

Tự

Nguyên Hòa thập niên, dư tả thiên Cửu Giang quận Tư mã, minh niên thu tống khách Bồn hồ khẩu, văn chu trung dạ đầu tỳ bà giả, thính kỳ âm tranh tranh thiên, hữu kinh đô thanh. Vấn kỳ nhân, bản Trường An xướng nữ, thường học tì bà vu Mục, Tào nhị thiện tài. Niên trưởng sắc suy, uỷ thân vi cổ nhân phu. Toại mệnh tửu, sử khoái đàn sổ khuc khúc bãi, mẫn nhiên tự tự thiếu tiểu thời hoan lạc sự, kim phiêu luân tiều tụy, chuyển tỉ vu giang hồ gian. Dư xuất quan nhị niên, điềm nhiên tự an, cảm từ nhân ngôn, thị tịch thỉ giác hữu thiên trích ý, tự vi trường cú ca dĩ tặng chi, phàm lục bách nhị thập ngôn, mệnh viết Tỳ bà hành.

Tầm dương giang đầu dạ tống khách
Phong diệp dịch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân há mã khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Túy bất thành hoan, thảm tương biệt
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh
Chủ nhân vong qui, khách bất phát
Tầm thanh ám vấn đàn giả thùy ?
Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai
Do bão tỳ bà bán già diện
Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh
Vị thành khúc điệu, tiên hữu tình
Huyền huyền yểm ức, thanh thanh tứ
Tự tố bình sinh bất đắc chí
Đê mi tín thủ tục tục đàn
Thuyết tận tâm trung vô hạn sự
Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu
Sơ vi " Nghê thường", hậu "Lục yêu"
Đại huyền tào tào như cấp vũ
Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ
Tao tao thiết thiết thác tạp đàn
Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn
Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt
U yết tuyền lưu thủy hạ than
Thủy tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt
Ngưng tuyệt bất thông thanh tạm yết
Biệt hữu u sầu ám hận sinh
Thử thời vô thanh thắng hữu thanh
Ngân bình sạ phá thủy tương bỉnh
Thiết kỵ đột xuất đao thương minh
Khúc chung thu bát đương tâm hoạch
Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch
Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung
Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung
Tự ngôn: " Bản thị kinh thành nữ
"Gia tại Hà mô lăng hạ trú
"Thập tam học đắc tỳ bà thành
"Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ
"Khúc bãi tằng giao Thiện tài phục
"Trang thành mỗi bị Thu nương đố
"Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu
"Nhất khúc hồng tiêu bất tri số
"Điền đầu ngân tì kích tiết toái
"Huyết sắc la quần phiên tửu ố
"Kim niên hoan tiếu phục minh niên
"Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ
"Đệ tẩu tòng quân, a di tử
"Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố
"Môn tiền lãnh lạc xa mã hi
"Lão đại giá tác thương nhân phụ
"Thương nhân trọng lợi, khinh biệt ly
"Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ
"Khứ lại giang khẩu thủ không thuyền
"Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thủy hàn
"Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự
"Mộng đề trang lệ hồng lan can "
Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức
Hựu văn thử ngữ trùng tức tức
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức
"Ngã tòng khứ niên từ đế kinh
"Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương thành
"Tầm Dương địa tịch vô âm nhạc
"Chung tuế bất văn ty trúc thanh
"Trú cận Bồn Giang địa đê thấp
"Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sinh
"Kỳ gian đán mộ văn hà vật
"Đỗ quyên đề huyết viên ai minh
"Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ
"Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh
"Khởi vô sơn ca dữ thôn địch
"Ẩu á trào triết nan vi thính
"Kim dạ văn quân Tỳ bà ngữ
"Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh
"Mạc từ cánh tọa đàn nhất khúc
"Vị quân phiên tác tỳ bà hành"
Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập
Khước tọa xúc huyền huyền chuyển cấp
Thê thê bất tự hướng tiền thanh
Mãn tọa trùng văn giai yểm khấp
Tọa trung khấp hạ thùy tối đa?
Giang châu tư mã thanh sam thấp!

Dịch Nghĩa:

Bến Tầm Dương(1) ban đêm tiễn khách
Lá phong, hoa lau hơi thu xào xạc
Chủ nhân xuống ngựa, khách ở trong thuyền
Nâng chén định uống trong cảnh không đàn, không sáo
(Nhưng) say mà không thành cuộc vui, lại buồn sắp phải từ biệt
Lúc từ biệt trăng dầm trong lòng sông mênh mang
Chợt nghe có tiếng tỳ bà văng vẳng trên mặt nước
Chủ nhân quên về, khách không rời bến
Lần đến nơi có tiếng đàn sẽ hỏi: "ai đàn tá?"
Tiếng đàn ngừng lại, ý muốn thưa, nhưng lại tần ngần
Dời thuyền đến gần, mời cho được gặp mặt
Rót thêm rượu, giong lại đèn, tiệc vui mở tiếp
Hết lời mời mọc mới chịu bước ra
Còn ôm cây tỳ bà che khuất nửa mặt
Vặn trục lên dây, dạo qua đôi ba tiếng
Tuy chưa thành khúc điệu nhưng nghe đã có tình
Mỗi dây ngân lên là những lời ấm ức, mỗi tiếng thoát ra bao nhiêu tình tứ
Nhường như kẻ hết nỗi bất bình trong đời mình
Nhẹ cúi đôi mày, thuận tay đều đều gẩy
Nỗi niềm tâm sự, giãi hết nguồn cơn
Nắn nhe, bắt khoan vê rồi lại dạo
Hết khúa Nghê Thường(2) đến khúc Lục Yêu(3)
Dây to rào rạt như mưa sầm sập tới
dây nhỏ tỉ tê như kể lể niềm riêng
Rào rạt, tỉ tê, gẩy xen thành nhịp
Như bao hạt châu lớn nhỏ rắc xuống mâm ngọc
Ca oanh trơn giọng, líu lo trong hoa
Nhịp suối ngập ngừng, nước dội xuống thác
Suối bỗng rét đọng lại, dây đàn ngừng bặt
Dây ngừng bặt, tiếng tạm im
Lại hiện ra vẻ sầu hận thầm kín khác
Lúc này lặng lẽ lại tình tứ hơn lúc có tiếng đàn
Bỗng như bình bạc vỡ tan, nước tuôn tung tóe
Đoàn thiết kỵ xung đột, gươm đao đang gầm
Khúc vừa xong, giữa mặt đàn, phẩy một nhát mạnh
Cả bốn dây như một tiếng xé lụa vang lên
Thuyền mảng đông tây, im lặng phăng phắt
Chỉ thấy vầng trăng thu trắng xóa giữa dòng sông
Lặng lẽ gài chiếc que gẩy vào dây đàn
Xốc áo khép nép đứng dậy
Kể lể: " Em vốn là người kinh thành
Nhà ở dưới làng Hà Mô
Mười ba tuổi đã học thạo ngón tì bà
Tên đứng vào hàng nhất trong phường hát
Sau mỗi khúc đàn, thường bọn thiện tài phải phục
Trang điểm xong từng bị ả Thu phát ghen
Bọn thiếu niên ở Ngũ Lăng tranh nhau tặng thưởng
Một khúc đàn, điếm không xuể những tấm lụa đào
Vành lược bạc, cành hoa vàng gãy tan nhịp gõ
Bức quần rượu hồng, hoen ố những vết rượu rơi
Cuộc truy hoan qua năm này sang năm khác
Trăng thu trong, gió xuân mát, thờ ơ trôi qua
Bỗng đứa em trai phải tòng quân, dì lại chết
Sớm lại, chiều qua, nhan sắc kém sút
Trước cửa vắng tanh, xe ngựa thưa
Trở về già gá nghĩa cùng một người lái buôn
Người lái buôn chỉ tham lợi, coi thường biệt ly
Bỏ đi Phù Lương buôn chè từ tháng trước
Từ đấy, một mình với chiếc thuyền không
Trăng rọi quanh thuyền, nước sông lạnh ngắt
Đêm khuya bỗng mơ lại cuộc đời lúc tuổi xuân
Lệ hồng trong mơ ngổn ngang trên má phấn "
Ta nghe tiếng tỳ bà đã ngậm ngùi thay
Lại nghe câu chuyện càng thêm nức nở:
" Cùng là khách lưu lạc nơi chân trời
Gặp nhau đây, cừ gì phải là quen biết sẵn?
Ta từ năm ngoái từ giã kinh đô(4)
Bị giáng trích ốm nằm ở thành Tầm Dương
Tầm Dương là nơi hẻo lánh, làm gì có âm nhạc
Suốt năm không hề được nghe tiếng sáo, tiếng đàn
Nhà lại ở gần sông Bồn, nơi ẩm trũng
Lau úm, trúc gầy mọc quanh nhà
Ở đấy nghe thấy gì lúa sớm tối?
Quyên kêu khắc khoải, vượn hót nỉ non
Trước những cảnh sông xuân hoa sớm, đêm thu trăng tròn
Thường thường chỉ một mình dốc chén
Há phải không có tiếng hát núi, tiếng sáo đồng
Khốn nỗi líu lo, líu lường, nghe thêm khó chịu
Đêm nay mới được nghe tiếng tỳ bà của nàng
Chẳng khác được nghe nhạc tiên, tai bỗng khoan khoái
Hãy vui lòng ngồi lại đàn chơi khúc nữa
Ta sẽ vì nàng chuyển thành một thiên Tỳ Bà Hành!
Cảm lời ta nàng tần ngân đứng lặng
Rồi ngồi xuống lên dây, tiếng dây nhộn nhịp
Rầu rầu khác hẳn tiếng đàn vừa qua
Khiến cả đám tiệc đều bưng mặc khóc
Trong đó ai khóc nhiều hơn?
Quan Tư mã Giang Châu vạt áo xanh ướt đẫm

Dịch Thơ:

Lời tựa

Năm Nguyên Hoà thứ 10, ta về giữ chức Tư Mã ở quận Cửu Giang. Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn Tỳ bà vọng lại. Nghe trong tiến đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn bà trả lời rằng " Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn Tỳ Bà với hai danh sư Mục va Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn(thường theo thuyền buôn đi đây đi đó)". Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Đàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm thanh thản yên ổn. Hôm nay nghe nàng nầy nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đầy! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 lời, gọi là Tỳ Bà Hành.

Tỳ bà hành

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa, khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty

Say những luống ngại khi chia rẽ
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong
Đàn ai nghe vẳng bên sông
Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi

Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá ?
Dừng dây tơ nấn nà làm thinh
Đời thuyền ghé lại thăm tình
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui

Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua
Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay

Nghe não ruột mấy dây buồn bực
Dường than niềm tấm tức bấy lâu
Mày chau tay gẩy khúc sầu
Giải bày hết nỗi trước sau muôn vàn

Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt
Trước Nghê Thường, sau thoắt Lục Yêu
Dây to nhường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng

Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy
Mâm ngọc đâu bỗng nẩy hạt châu
Trong hoa oanh ríu rít nhau
Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh

Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt
Ngừng đứt nên phút bật tiếng tơ
Ôm sầu, mang giận ngẩn ngơ
Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay

Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao
Cung đàn trọn khúc thanh tao
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây

Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một vầng trăng trong vắt lòng sông
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong
Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời

Rằng "xưa vốn là người kẻ chợ
Cồn Hà Mô trú ở lân la
Học đàn từ thuở mười ba
Giáo phường đệ nhất sổ đà chép tên

Gã Thiện tài sợ phen dừng khúc
Ả Thu nương ghen lúc điểm tô
Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn

Vành lược bạc gãy tan nhịp gõ
Bức quần hồng hoen ố rượu oi
Năm năm lần lữa vui cười
Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu

Buồn em trảy lại lo dì thác
Sầu hôm mai đổi khác hình dung
Cửa ngoài xe ngựa vắng không
Thân già mới kết duyên cùng khách thương

Khách trọng lợi, khinh đường ly cách
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi
Thuyền không, đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng giãi, nước trôi lạnh lùng

Đêm khua, sực nhớ vòng tuổi trẻ
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen
Nghe đàn ta đã chạnh buồn
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời

Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
Từ xa Kinh khuyết bấy lâu
Tầm dương đất trích gối sầu hôm mai

Chốn cùng tịch lấy ai vui thích
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm
Sông Bồn gần chốn cát lầm
Lau vàng, trúc võ, âm thầm quanh hiên

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối
Cuốc kêu sầu, vượn hót véo von
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn
Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng

Há chẳng có ca rừng, địch nội ?
Giọng líu lo, buồn nỗi khó nghe
Tỳ bà nghe dạo canh khuya
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai

Hãy ngồi lại gẩy chơi khúc nữa
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca "
Đứng lâu dường cảm lời ta
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây

Nghe não ruột khác tay đàn trước
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
Lệ ai chan chứa hơn người ?
Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh

(Bản dịch của Phan Huy Vịnh)

Chú thích:
(1)Tầm Dương: Khúc sông Trường Giang chảy qua tỉnh Giang Tây, thị trấn Cửu Giang
(2)Nghê Thường: tức là khúc "Nghê thường vũ y"
(3)Lục Yêu: tên một khúc nhạc
(4)Tháng mười năm Nguyên Hòa thứ 10(815) Bạch Cư Dị bị đổi ra làm tư mã ở Giang Châu

còn tiếp

Chân Trân
31-07-2005, 04:16 AM
Thanh thạch

Thanh thạch xuất tự Lam Điền sơn,
Kiêm xa vận tải lai Trường An.
Công nhân ma trác dục hà dụng?
Thạch bất năng ngôn ngã đại ngôn.
Bất nguyên tác nhân gia mộ tiền thần đạo kiệt,
Phần thổ vị can danh dĩ diệt.
Bất nguỵen tác quan gia đạo bàng đức chính bi,
Bất tuyên thực lục tuyên hư từ.
Nguyện vi Nhan thị, Đoàn thị bi.
điêu lậu thái úy dữ thái sư
Khắc thử lưỡng phiến kiên trinh chất,
Trạng bỉ nhị nhân trung liệt tư.
Nghĩa tâm nhược thạch ngật bất chuyển,
Tử tiết danh lưu xác bất di.
Như quan phấn kích Chu Thỉ nhật,
Tự kiến sất kha Hi Liệt thì.
Các ư kì thượng đề danh thuỵ,
Nhất trí cao sơn nhất trầm thủy.
Lăng cốt tuy thiên bi độc tồn,
Cốt hóa vi trần danh bất tử.
Trường sử bất trung bất liệt thần,
Quan bi cải tiết mộ vi nhân.
Mộ vi nhân,
Khuyết sự quân.

Dịch Thơ:

Tảng Đá Xanh

Tảng đá xanh kia ở núi Lam,
Được xe chuyên chở đến Trường An.
Công nhân mài giũa làm nên vật,
Thay đá vô tri ta nói năng.
Không muốn khắc nên bia thần đạo,
Mồ chưa khô đất, tên đà quên.
Chẳng màng đứng cạnh đường quan lớn,
Sự thật không ghi, chỉ hão huyền.
Muốn làm bia khắc họ Nhan, Đoàn,
Khắc những ông quan đáng mặt quan.
Hai tấm kiên trinh bền vững mãi,
Hình dung muôn thủa bậc trung thần.
Nghĩa tâm như đá vững khôn lay,
Tử tiết tên còn mãi chẳng phai.
Xông đánh giặc Chu, gương vẫn sáng;
Mắng người Hi Liệt, tiếng còn oai.
Đề trên mình đá hai tên thuỵ,
Đặt tại núi cao, dìm đáy sông.
Xương dẫu dời đi, bia chẳng chuyển,
Xương thành cát bụi, tên hãy còn.
Khiến bọn bất trung, phường bất liệt,
Xem bia đổi tiết, mộ làm người.
Mộ làm người,
Khuyên thờ vua hết phận làm tôi.

Chân Trân
31-07-2005, 04:18 AM
Thái Hàng lộ

Thái Hàng chi lộ năng tồi xa
Nhược tỉ quân tâm thị thản đồ
Vu Giáp chi thủy năng phúc chu
Nhược tỉ quân tâm thị an lưu.
Quân tâm hiếu ố khổ bất thường
Hiếu sinh mao vũ,ố sinh sang
Dữ quân kết phát vị ngũ tải
Khởi kỳ Ngưu Nữ vi Sâm Thương !
Cổ xưng sắc suy tương khí bội,
Đương thì mĩ nhân do oán hối
Hà huống như kim loan kính trung
Thiếp tâm vị cải,quân tâm cải !
Vị quân huân y thường,
Quân văn lan xạ bất hinh hương.
Vị quân thịnh dung sức,
Quân khan châu thúy vô nhan sắc.
Hành lộ nan ! Nan trùng trần.
Nhân sinh mạc tác phụ nhân thân
Bách niên khổ lạc do tha nhân.
Hành lộ nan ! Nan ư sơn,nan ư thủy.
Bất độc nhân gia phu dữ thê,
Cận đại quân thần diệc như thử !
Quân bất kiến :
Tả nạp ngôn,hữu nạp sử,
Triêu thừa ân,mộ tứ tử.
Hành lộ nan !
Bất tại thủy,
Bất tại sơn,
Bất tại nhân tình phản phúc gian !

Dịch Nghĩa:

Đường núi Thái Hàng có thể làm đổ gãy xe
So với lòng chàng,vẫn là đường bằng phẳng.
Dòng nước Vu Giáp có thể lật chìm thuyền
So với lòng chàng,vẫn là dòng sông êm ả.
Lòng chàng yêu ghét khốn nỗi không thường
Yêu,coi như lông cánh;ghét,coi như ghẻ lở.
Kết tóc cùng chàng chưa được năm năm,
Sao đã đến lúc Ngưu Nữ thành ra Sâm Thương ?
Người xưa nói khi sắc đẹp tàn phai thì rẫy bỏ,
Huống chi ngày nay trong tấm gương loan
Lòng em chưa mà lòng chàng thay đổi !
Vì chàng xông hương quần áo,
Chàng nghe lan xạ chẳng thơm tho gì !
Vì chàng chải chuốt hình dung,
Chàng trông châu thúy chẳng đẹp đẽ gì !
Đường đi khó ! Khó tỏ bày !
Trong đời chớ làm thân đàn bà,
Sướng khổ trăm năm đều do tay người khác.
Đường đi khó !Khó hơn núi!Khó hơn nước!
Chẳng riêng gì vợ chồng ở trong nhà
Mà vua tôi gần đây cũng thế thôi !
Anh chẳng thấy :
Trái dâng lời,phải dâng sử,
Sớm ban ơn,chiều bắt chết.
Đường đi khó : Không ở nước,không ở núi,
Không ở chỗ lòng người tráo trở...

Dịch Thơ:

Đường núi Thái Hàng

Đường Thái Hàng lật gãy được xe
So lòng chàng đường còn bằng phẳng.
Nước Vu Giáp đánh đắm được thuyền
So lòng chàng sông còn bình lặng.
Lòng chàng yêu ghét thật khôn lường
Yêu cho sung sướng,ghét tai ương
Lấy chàng chưa được năm năm trọn
Đâu ngờ Ngưu Nữ hóa Sâm Thương !
Xưa bảo sắc tàn thì bỏ chối
Bấy giờ người đẹp còn hờn dỗi.
Huống chi bây giờ ngó gương loan
Lòng em chưa đổi,lòng chàng đổi.
Vì chàng xông y thường
Chàng nghe lan xạ chẳng mùi hương.
Vì chàng lo trang điểm
Chàng chê thúy châu không kiều diễm.
Đường đi khó ! Khó tỏ bày !
Chớ làm phận gái trên đời này
Sướng khổ trăm năm kẻ khác xoay !
Đường đi khó ! Khó hơn non ! Khó hơn nước !
Chẳng cứ vợ chồng chốn buồng the
Bây giờ vua tôi cũng một bè
Anh chẳng thấy :
Trái dâng lời,phải chép sử.
Sáng ban ơn,chiều xử tử.
Đường đi khó ! Không ở nước ! Không ở non
Không ở lòng người hay tráo trở.

Chân Trân
31-07-2005, 04:19 AM
Thái liên khúc

Lăng diệp oanh ba hà chiểm phong
Hà hoa thâm xứ tiểu thuyền thông
Phùng lang dục ngữ đê đầu tiếu
Bích ngọc tao đầu lạc thủy trung

Dịch Thơ:

Khúc hát hái sen

Sóng lao xao lá xanh rờn
Giữa rừng hoa chiếc thuyền con nhẹ nhàng
Cúi đầu muốn ngỏ cùng chàng
Ô hay trâm ngọc ngỡ ngàng nước trong

Chân Trân
31-07-2005, 04:20 AM
Thái địa hoàng giả


Mạch tử xuân bất vũ.
Hòa tổn thu tảo sương.
Tuế án vô khẩu thực,
Điền trung thái địa hoàng.
Thái chi tương hà dụng?
Trì dĩ dịch hầu lương.
Lãng thần hạ sừ khứ,
Bạc mộ bất doanh khuông.
Huề lai chu môn gia,
Mại dữ bạch diện lang.
Dữ quân đạm phì mã,
Khả sử chiếu địa quang.
Nguyện dịch mã tàn túc,
Cứu thử khổ cơ trường!

Dịch Thơ:

Người Kiếm Củ Địa Hoàng

Xuân không mưa, chiêm hỏng,
Thu sương sớm, mùa vàng.
Năm cuối không hạt gạo,
Ra đồng kiếm địa hoàng!
Kiếm được để làm gì?
Đem đổi lấy chút lương.
Tinh sương vác cuốc chạy,
Chiều tối chẳng đầy lường.
Mang đến cửa son nọ,
Bán cho cậu trai sang
Để cậu nuôi ngựa béo,
Lông mượt tỏa hào quang.
Đổi thóc thừa của ngựa
Cứu cái bụng đói nhàng!

Chân Trân
31-07-2005, 04:22 AM
Thính biên hồng


Kinh phong xuy khởi tái hồng quần
Bán nhập bình sa bán nhập vân
Vị vấn Chiêu Quân nguyệt hạ thính ?
Hà như Tô Vũ tuyết trung văn ?

Dịch Nghĩa

Cơn gió dữ thổi bạt đàn chim hồng ngoài ải
Một nửa sà xuống bãi cát bằng,một nửa vào mây
Hỏi thử Chiêu Quân nghe thấy gì dưới trăng ?
Và Tô Vũ nghe ra sao ở trong xứ tuyết ?

Dịch Thơ:

Nghe tiếng chim hồng nơi biên giới

Gió bạt chim hồng phía ải bay
Nửa sa bãi cát,nửa vào mây
Chiêu Quân dưới trăng nghĩ sao nhỉ ?
Tô Vũ nghe trong tuyết có hay ?

Chân Trân
31-07-2005, 04:24 AM
Thôn cư khổ hàn


Bát niên thập nhị nguyệt,
Ngũ nhật tuyết phân phân.
Trúc bách giai đống tử,
Huống bỉ vô y dân!
Hồi khan thôn lư gian
Thập thất bát cửu bần.
Bắc phong lợi như kiếm,
Bố nhứ bất tế thân.
Duy thiêu cao cức hỏa,
Sầu toạ dạ đãi thần.
Nãi tri đại hàn tuế,
Nông giả đa khổ tân.
Cố ngã đương thử nhật,
Thảo đường thâm yểm môn.
Cát cừu phú thi bị,
Toạ ngoạ hữu dư ôn.
Hạnh miễn cơ đống khổ,
Hựu vô lũng mẫu cần.
Niệm bỉ thâm khả quí,
Tự vấn thị hà nhân?

Dịch Thơ:

Khổ Rét Ở Nông Thôn

Trời tháng chạp vào năm thứ tám
Suốt năm ngày tuyết xuống tơi bời.
Trúc, thông cũng chết cóng rồi,
Huống chi không áo bao người dân kia.
Trong thôn xóm một khi ngó đến,
Mười nhà thì tám, chín xác xơ,
Như gươm, gió bấc sắc ghê
Vải bông không đủ để che kín mình.
Rong gai kiếm mấy cành củi đốt
Ngồi thâu đêm ủ dột đợi ngày
Đại hàn như thể năm nay,
Mới hay nông nỗi dân cày xót xa.
Rồi ngắm lại mình ta buổi đó,
Nơi thảo đường đóng cửa như bưng.
Áo mền lại phủ chăn bông,
Có thừa ấm cúng thung dung nằm ngồi.
May chẳng phải như ai đói rét,
Lại không chăm công việc ngoài đồng,
Nghĩ ra lòng những thẹn lòng,
Tự mình mình hỏi: như ông thá gì?

Chân Trân
31-07-2005, 04:26 AM
Thảo


Ly ly nguyên thượng thảo
Nhất tuế nhất khô vinh
Dã hoả thiêu bất tận
Xuân phong xuy hựu sinh
Viễn phương xâm cổ đạo
Tình thuý tiếp hoang thành
Hựu tống Vương Tôn khứ
Thê thê mãn biệt tình.

Dịch Nghĩa:

Cỏ trên cánh đồng bời bời
Mỗi năm một lần úa một lần tươi
Lửa đồng đốt không bao giờ cháy hết
Khi gió xuân thổi lại sinh sôi nảy nở
Mùi thơm lan xa đến lối thành cũ
Màu biếc tươi thắm kề thành hoang
Lại đưa Vương Tôn ra đi
Rườm rà chứa chan tình ly biệt

Dịch Thơ:

Cỏ

Trên đồng cỏ bời bời
Hàng năm úa lại tươi
Lửa đồng đốt không xuể
Gió xuân lại sinh sôi.
Lối xưa hương cỏ ngát
Hoang thành màu biếc tươi
Tiễn Vương Tôn lần nữa
Biệt ly dạ tơi bời...

Chân Trân
31-07-2005, 04:27 AM
Thu giang tống khách


Thu hồng thứ đệ quá
Ai viên triêu tịch văn
Thị nhật cô chu khách
Thử địa diệc ly quần
Mông mông nhuận y vũ
Mịch mịch mạo phàm vân
Bất túy Tầm Dương tửu
Yên ba sầu sát nhân.

Dịch Nghĩa:

Mùa thu, chim hồng lần lượt bay qua
Vượn hôm mai kêu thảm thiết
Ngày ấy, khách trên thuyền trơ trọi
Nơi đây cũng là nơi chia đàn
Mưa ướt át thấm vào áo
Mây man mác chắn cánh buồm
Rượu Tầm Dương chẳng thấy say
Khói sóng buồn chết người

Dịch Thơ:

Sông thu tiễn khách

Nhạn thu lần lượt bay qua
Thảm thương tiếng vượn hôm đà lại mai
Ngày nào một chiếc thuyền ai
Nước non này cũng chia phôi cánh đàn
Mưa dầm vạt áo như chan
Buồm ai man mác mây ngàn đón ngang
Chẳng say chén rượu Tầm Dương
Khỏi sao sóng khói sầu thương chết người.

Chân Trân
31-07-2005, 04:28 AM
Thu sơn


Cửu bệnh khoáng tâm thưởng
Kim triêu nhất đăng sơn
Sơn thu vân vât lãnh
Xứng ngã thanh luy nhan
Bạch thạch ngạo khả chẩm
Thanh la hành khả phan
Ý trung như hữu đắc
Tận nhật bất dục hoàn
Nhân sinh vô kỷ hà
Như ký thiên địa gian
Tâm hữu thiên tải ưu
Thân vô nhất nhât nhàn
Hà thì giải trần võng
Thử địa lai yểm quan.

Dịch Thơ:

Trên đỉnh mùa thu

Bao ngày lây lất ốm đau
Sáng nay thức giấc non cao đăng trình
Núi thu mây biếc lung linh
Xanh xao vàng võ dung hình ta đây
Gối đầu đá trắng nơi nầy
Dây xanh vương bước đẹp thay cảnh tình
Lòng ta vui lấy riêng mình
Ngày tàn phiêu phất bóng hình về đâu
Sinh ra nào sống bao lâu
Gởi thân trần thế cùng nhau tạm thời
Âu lo suốt cả nghìn đòi
Tâm thân chẳng được vui chơi một ngày
Bao giờ giũ sạch trần ai
Lên non cửa đóng then gài an nhiên.

Chân Trân
31-07-2005, 04:29 AM
Thu tứ


Tịch dương hồng vu thiếu
Tình không bích thắng lam
Thú hình vân bất nhất
Cung thế nguyệt sơ tam
Nhạn tứ lai thiên bắc
Châm sầu mãn thuỷ nam
Tiêu điều thu khí vị
Vị lão dĩ thâm an.

Dịch Nghĩa

Nắng chiều đỏ rực hơn lửa nung
Bầu trời tạnh ráo biếc xanh hơn màu lam
Mây có dạng thú vật không xác định
Trăng mùng ba hình vành cung
Chim nhạn nhớ về trời bắc
Tiếng chày đá buồn vang sông nam
Khí vị mùa thu thật não nùng
Tuy chưa già mà đã từng trải nhiều.

Dịch Thơ

Ý nghĩ mùa thu

Nắng xế hồng như lửa
Trời trong biếc mịt mùng
Mây thay hình thú vật
Trăng mới dạng vành cung
Trời bắc nhạn mong nhớ
Sông nam chày não nùng
Màu thu xơ xác thế
Còn trẻ đã lao lung

Chân Trân
31-07-2005, 04:30 AM
Thu trùng


Thiết thiết ảm song hạ,
Yêu yêu thâm thảo lí.
Thu thiên tư phụ tâm,
Vũ dạ sầu nhân nhĩ.

Dịch Nghĩa:

Cứ ri rỉ ngoài cửa sổ tối tăm
Rền rền trong đám cỏ rậm rì.
Gợi niềm nhớ vợ giữa trời thu,
Đêm mưa rầu rĩ cả tai người.

Dịch Thơ:

Rỉ rỉ ngoài song tối
Ran ran trong cỏ rối.
Trời thu nhớ vợ nhà
Buồn bã mưa đêm dội.

Chân Trân
31-07-2005, 04:32 AM
Thượng Dương nhân


Thượng Dương nhân! Thượng Dương nhân!
Hồng nhan ám lão, bạch phát tân.
Lục y giám sử thủ cung môn,
Nhất bế Thượng Dương đa thiểu xuân?
Huyền tông mạt tuế sơ tuyển nhập
Nhập thời thập lục, kim lục thập,
Đồng thời thái trạch bách dư nhân,
Linh lạc niên thâm tàn thử thân.
Ức tích thôn bi biệt thân tộc,
Phù nhập xa trung bất giao khốc.
Giai vân nhập nội tiện thừa ân,
Kiểm tự phù dung, hung tự ngọc
Vị dung quân vương đắc kiến diện,
Dĩ bị Dương phi dao trắc mục
Đố linh tiềm phối Thượng Dương cung,
Nhất sinh toại hướng không phòng túc.
Túc không phòng, thu dạ trường,
Dạ trường vô mỵ thiên bất minh.
Cảnh cảnh tàn đăng bối bích ảnh,
Tiêu tiêu ám vũ đả song thanh.
Xuân nhật trì,
Nhật trì độc toạ thiên nan mộ,
Cung oanh bách chuyển sầu yếm văn
Lương yến song thê lão hưu đố,
Oanh quy yến khứ trường tiễu nhiên,
Xuân vãng thu lai bất ký niên,
Duy hướng thâm cung vọng minh nguyệt.
Đông tây tú ngũ bách hồi viên.
Kim nhật cung trung niên tối lão,
Đại gia dao tứ thượng thư hiệu,
Tiểu đầu hài lý trách y thường,
Thanh đại điểm mi, mi tế trường.
Ngoại nhân bất kiến, kiến ưng tiếu,
Thiên Bảo mạt niên thời thế trang!
Thượng Dương nhân, khổ tối đa,
Thiếu diệc khổ, lão diệc khổ,
Thiếu khổ, lão khổ lưỡng như hà?
Quân bất kiến,
Tích thời Lã Thượng mỹ nhân phú,
Hựu bất kiến.
Kim nhật Thượng Dương cung nhân bạch phát ca.

Dịch Nghĩa:

Người cung Thượng Dương! Người cung Thượng Dương!
Má hồng âm thầm già, tóc ngày bạc thêm.
Quan thái giám áo xanh, cắt cho việc canh cửa cung.
Từ khi giam vào cung Thượng Dương, đến nay trải đã bao xuân
Cuối đời Huyền Tông (2) bắt đầu tuyển vào,
Lúc vào mười sáu, nay sáu mươi tuổi.
Cùng một lớp tuyển có hơn trăm người,
Lâu năm rơi rụng, nay còn thân tàn này sót lại.
Nhớ khi nuốt sầu từ biệt thân thích, họ hàng,
Bị dìu lên xe, không cho khóc
Ai cũng bào vào cung là được nhờ ơn ngay,
Má đỏ như hoa sen, ngực trắng như ngọc.
Chưa được vua trông thấy mặt,
Đã bị nàng Dương (3) lườm tự đằng xa.
Vì ghen nên ngầm sai đầy vào cung Thượng Dương,
Thế là cả đời nằm suông trong buồng vắng.
Nằm buồng vắng, đêm thu dài.
Đêm dài không ngủ, trời mãi chẳng sáng.
Lẻ loi đèn tàn, bóng in trên vách,
Mưa đêm rả rích, tiếng đập ngoài song,
Ngày xuân trôi chầm chậm
Ngày chầm chậm, ngồi một mình, trời mãi chẳng chiều.
Oanh trong cung líu lo trăm giọng, buồn nghe đã chán tai.
Én đậu sóng đôi trên giường nọ, tuổi già không còn ghen tị.
Oanh về, én tếch, cảnh vẫn im lìm.
Xuân lại thu quan, bao năm không nhớ,
Duy ở chốn cung sâu, ngắm nhìn trăng sáng.
Đông rồi lại tây, từng đã bốn năm trăm độ tròn (4)
Ngày nay trong cung, tuổi mình già nhất.
Mọi người đặt xa xôi cho cái tên : cụ Thượng.
Đôi hài nhọn mũi, áo quần hẹp bó,
Sáp đen lánh vẽ đôi mày nhỏ và dài.
Người ngoài trông thấy, trông thấy hẳn cười:
"Đấy! Lối điểm trang cuối đời Thiên Bảo!" (5)
Người cung Thượng Dương khổ rất nhiều,
Trẻ cũng khổ, già cũng khổ.
Trẻ khổ già khổ, hai đường biết sao?
Người há chẳng thấy bài phú "Người đẹp" của Lã Thượng (6) ngày trước ?
Lại há chẳng thấy khúc hát "Đầu bạc" của người cung Thượng Dương ngày nay?

Dịch Thơ:

Người cung Thượng Dương

Người Thượng Dương
Má phấn phai hồng mái tóc sương,
Thái giám cắt vào việc giữ cửa,
Đã mấy mươi xuân chịu bẽ bàng.
Năm ngoái Huyền Tông mới kén vào,
Khi vào mười sáu, nay sáu mươi
Trăm người kén vào cung một lúc,
Mòn mỏi xuân xanh suốt cả đời.
Nhớ lúc ra đi biệt họ hàng,
Dìu lên xe tiễn cấm buồn thương,
Bảo vào cung cấm, được sung sướng,
Mày mặt tươi hồng, ngực nở nang.
Chưa được đức vua nhìn thấy mặt,
Đã bị Dương Phi để ý ngầm.
Ghen bắt đầy vào cung Thượng Dương,
Phòng không từ đó sống âm thầm.
Đêm thu dài,
Đêm dài không ngủ giời tối hoài.
Bên ngọn đèn tàn ngơ ngẩn bóng,
Tí tách mưa đêm dội cửa ngoài.
Ngày xuân chẩy,
Ngày chẩy, võ võ trời lâu tối,
Oanh vàng hát mãi chẳng buồn nghe,
Trông én đậu đôi già chẳng ngơi
Oanh đi én lại bao âm thầm
Xuân tới thu qua chẳng nhớ năm
Cung sâu chỉ biết nhìn trăng sáng
Tình tuần trăng đã bốn năm trăm
Ngay nay trong cung tuổi già nhất
Ai nấy gọi đùa cụ Thượng thư
Giày dép đi chật, áo quần hẹp
Sáp xanh tô mày, mày nhỏ sẹp,
Người ngoài không nhìn, nhìn phải cười,
Cuối đời Thiên Bảo thế mới đẹp.
Người Thượng Dương khổ rất nhiều,
Trẻ cũng khổ, già cũng khổ,
Trẻ khổ già khổ đều ra sao ?
Anh không thấy bài phú "Mỹ nhân" xưa kia của Lã Thượng,
Lại không thấy bài ca "người Thượng Dương tóc bạc" ngày nay ru?

(Bản dịch của Doãn Kế Thiện)

Chú thích:
(1): Thượng Dương cung : Một trong những cung dành cho những cung phi bị Đường Minh Hoàng bỏ sau khi Dương Quí Phi vào cung
(2) Huyền Tông:Đường Minh Hoàng
(3)Nàng Dương : Dương quí phi
(4)Thời gian độ bốn mươi năm
(5)Thiên Bảo: niên hiệu Đường Minh Hoàng
(6) Cuối năm Thiên Bảo, Minh Hoàng ngầm sai người đi tìm gái đẹp. Người ta gọi bọn này là hoa điểu sứ. Thủa ấy có Lã Thượng làm bài Mỹ nhân phú ngụ ý chê Đường Minh Hoàng

Chân Trân
31-07-2005, 04:34 AM
Thương trạch


Thùy gia khởi giáp đệ,
Chu môn đại đạo biên.
Phong ốc trung tiết tỉ,
Cao tường ngoại hồi hoàn.
Lũy luỹ lục thất đường,
Thiềm vũ tương liên diên.
Nhất đường phí bách vạn,
Uất uất khởi thanh yên.
Động phòng ôn, thả thanh,
Hàn thử bất năng can.
Cao đình hư thả quýnh,
Tọa ngọa kiến Nam san.
Nhiễu lang tử đằng giá,
Giáp thế hồng dược lan.
Phan chi trích anh đào,
Đới hoa di mẫu đan.
Chủ nhân thử trung toạ,
Thập tải vi đại quan.
Trù hữu sú bại nhục,
Khổ hữu quán hủ tiền,
Thùy năng tương ngã ngữ,
Vấn nhĩ cốt nhục gian.
Khởi vô cùng tiện giả,
Nhẫn bất cứu cơ hàn.
Như hà phụng nhất thân,
Trực dục bảo thiên niên.
Bất kiến Mã gia trạch
Kim tác phục thành viên.

Dịch Thơ:

Thương Nhà

Kìa ai dựng nhà lớn,
Cửa son đường thênh thênh.
Trong là nhà chi chít,
Ngoài là tường lượn quanh.
Sáu bảy tòa trùng điệp,
Mái nhà nối tiếp nhau.
Mỗi tòa tốn trăm vạn,
Khói xanh tỏa lên cao.
Động phòng sạch và ấm:
Nắng rét không sờn lòng.
Cao đình xa và rộng:
Ngồi trông thấy Nam Sơn,
Lượn hiên giàn hoa tím,
Bên thềm giậu dược hồng.
Vin cành bái anh đào,
Đeo hoa, đời mẫu đơn.
Ông chủ ngồi trong đó,
Mười năm làm quan to.
Thịt ôi nực trong bếp,
Tiền nát chất trong kho.
Ai đem lời ta hỏi:
Trong ruột thịt tình thân,
Há không ai khốn quẫn,
Nỡ không cứu cơ hàn?
Sao chi chút một thân,
Gìn giữ đến ngàn năm.
Thấy chăng nhà họ Mã,
Nay thành vườn cỏ hoang?

Chân Trân
31-07-2005, 04:35 AM
Thương xuân khúc


Thâm thiển thiềm hoa thiên vạn chi
Bích sa song ngoại chuyển hoàng ly
Tàn trang hoà lệ há liêm toạ
Tận nhật thương xuân xuân bất tri.

Dịch Nghĩa:

Hoa bên thềm đậm nhạt nở nghìn muôn cành
Ngoài cửa sổ căng lụa biêc,oanh vàng hót
Phấn son trang điểm nhoà lệ,buông mành ngồi
Suốt ngày tiếc thương xuân,xuân chẳng biết cho !

Dịch Thơ:

Bài hát tiếc thương xuân

Bên thềm đậm nhạt nở muôn hoa
Ngoài cửa màn xanh oanh hát ca
Lệ ứa buông mành ngồi lặng lẽ
Thương xuân,xuân có biết thân ta ?

Chân Trân
31-07-2005, 04:36 AM
Trì bạn


Kết cấu trì tây lang
Sơ lí trì đông thụ.
Thử ý nhân bất tri
Dục vi đãi nguyệt xứ.

Dịch Nghĩa:

Bên bờ ao
Bờ tây ao dựng một nếp nhà
Bờ đông ao trồng một cây thân gỗ.
ý đó người ta không biết được đâu !

Dịch Thơ:

Tây ao dựng mái nhà
đông bến trồng cây gỗ.
ý ấy có ai hay ?
Chờ trăng làm sẵn chỗ.

Chân Trân
31-07-2005, 04:37 AM
Trì thượng


Tiểu oa sanh tiểu đỉnh
Thâu thái bạch liên hồi
Bất giải tàng tung tích
Phù bình nhất đạo khai.

Dịch Nghĩa:

Cô gái nhỏ bơi chiếc thuyền nhỏ
Hái hoa sen trắng đem về
Không biết che lấp dấu vết của mình,
để một lối mở ra giữa đám bèo nổi.

Dịch Thơ:

Trên ao

I/

Gái nhỏ bơi thuyền nhỏ
Hái sen trắng trở theo
Biết gì che dấu vết
Mở lối giữa ao bèo.

II/

Người xinh bơi chiếc thúng xinh,
Bông sen trắng nõn trắng tinh hái về.
Hớ hênh dấu vết không che,
Trên ao để một luồng chia mặt bèo.

Chân Trân
31-07-2005, 04:38 AM
Trùng Dương tịch thượng phú bạch cúc


Mãn viên hoa cúc uất kim hoàng,
Trung hữu cô tùng sắc tự sương.
Hoàn tự kim triêu ca tửu tịch,
Bạch đầu ông nhập thiếu niên trường.

Dịch Nghĩa:

Trên bàn tiệc ngày Trùng Dương,vịnh hoa cúc trắng

Đầy vườn cúc nở hoa vàng màu nghệ,
Trong đó có một chòm lẻ loi trắng như sương.
Cũng giống như sáng nay trên bàn tiệc hát và rượu
Ông già tóc bạc chen vào đám tuổi trẻ.

Dịch Thơ:

Cúc nở đầy vườn tựa nghệ pha,
Trắng như sương sớm một chòm hoa
Khác gì buổi sáng trên bàn tiệc,
Giữa đám thanh niên một lão già !

Chân Trân
31-07-2005, 04:41 AM
Trọng thú


Hậu địa thực tang ma,
Sở yếu tế sinh dân.
Sinh dân lí bố bạch,
Sở cầu hoạt nhất thân.
Thân ngoại sung chinh phú,
Thượng dĩ phụng quân thân.
Quốc gia định lưỡng thuế.
Bản ý tại ái nhân.
Quyết sơ phòng kì dâm,
Minh sắc nội ngoại thần:
Thuế ngoại gia nhất vật,
Giai dĩ uổng pháp luân,
Nại hà tuế nguyệt cửu,
Tham lại đắc nhân tuần.
Tuấn ngã dĩ cầu sủng,
Liễm sách vô đông, xuân?
Chức quyên vị thành thất,
Thao ti vị doanh cân,
Lí tư bách ngã nạp,
Bất hứa tam thuân tuần.
Tuế mộ thiên địa bế,
Âm phong sinh phá thôn.
Dạ thâm yên hỏa tận,
Tiển tuyết bạch phân phân.
Âu giả hình bất tế,
Lão giả thể vô ôn.
Bi xuyễn dữ hàn khí.
Tính nhập tị trung tân.
Tạc nhật thâu tàn thuế,
Nhân khuy quan khố môn,
Tắng bạch như sơn tích,
Ti nhứ như vân đồn.
Hiệu vi tiển dư vật,
Tùy nguyệt hiến chí tôn.
Đoạt ngã thân thượng noãn,
Mãi nhĩ nhãn tiền ân.
Tiến nhập Quỳnh Lâm khố,
Tuế cửu hóa vi trần.

Dịch Thơ:

Thuế Nặng

Dâu, đay trồng đất tốt,
Cốt giúp đời sống dân.
Người dân chế vải lụa
Cũng cầu nuôi sống thân.
Ngoài ra đủ thuế khóa,
Đóng góp lên vua cha,
Nhà nước định hai thuế,
Có ý thương dân ta.
Trước kia ngừa hà lạm,
Nghiêm sức quan gần xa:
Một chút thu ngoài thuế,
Pháp luật trị, không tha!
Sao năm qua tháng tới,
Bọn tham lại dần dần
Khoét ta để lấy tiếng,
Yên sách đông liền xuân!
Lụa dệt chưa đủ tấm,
Tơ ươm chưa đầy cân.
Lí hương đã thúc giục:
Cấm không được lần chần!
Trời đông cảnh ủm thũm,
Gió lạnh làng xác xơ!
Canh khuya củi lửa hết,
Tuyết bay trắng mịt mờ!
Trẻ, thân hình trần trụi,
Già, áo chả ấm người.
Phì phò thở hơi lạnh,
Cay mũi cứ sụt sùi.
Hôm qua nộp nốt thuế,
Nhân nhòm trong kho quan:
Vải lụa, như núi chất.
Tơ bông như mây đùn!
Rằng của dư hàng tháng,
Dâng lên đấng chí tôn!
Bốc áo trên mình ta,
Mua chút ơn cho mày.
Đem chất vào kho đụn,
Lâu ngày thành bụi bay!

Chân Trân
31-07-2005, 04:42 AM
Triệu thôn hồng hạnh


Triệu thôn hồng hạnh mỗi niên khai
Thập ngũ niên trung khán kỷ hồi
Thất thập tam nhân nan tái đáo
Kim niên lai thị biệt hoa lai.

Dịch Nghĩa:

Hoa hạnh đỏ xóm Triệu năm nào cũng nở
Trong mười lăm năm, đã ngắm bao lần
Năm bảy mươi ba tuổi khó có thể lại đến đây
Năm nay đến đây, là để từ biệt hoa

Dịch Thơ:

Hoa hồng hạnh thôn Triệu

Triệu thôn hạnh đỏ nở năm năm
Hơn chục năm nay ngắm mấy lần
Ông lão bảy ba khôn trở lại
Nay cùng hoa biệt đến đây thăm

Chân Trân
31-07-2005, 04:44 AM
Trung thu nguyệt


Vạn lý thanh quang bất khả ty
Thiên sầu ích hận nhiễu thiên nhai
Thuỳ nhân lũng ngoại cửu chinh thú
Hà xứ đình tiền tận biệt ly
Thất sủng cố cơ quy viện dạ
Một phiên lão tướng thướng lâu thì
Chiếu tha kỉ thử nhân trường đoạn
Ngọc thố ngân thiềm viễn bất tri.

Dịch Nghĩa:

Ánh sáng muôn dặm trong trẻo không thể tưởng
Nỗi buồn tăng thêm,nỗi giận chồng chất đầy trời.
Ngoài cõi gò bãi,ai người đi lính lâu ngày ?
Trước sân nơi nào cũng là chốn ly biệt.
Đây là đêm nàng cung nữ hết được yêu về viện
Cũng là lúc ông tướng già thua trận mất đất lên lầu.
Ánh trăng soi làm cho họ xót xa đứt ruột
Thỏ ngọc cóc bạc ở nơi tít mù có biết gì đâu !

Dịch Thơ:

Trăng mùa thu

Muôn dặm trăng trong sáng tuyệt vời
Sầu chan hận chứa khắp muôn nơi
Đồn xa đóng giữ kìa bao kẻ
Sân trước chia ly ấy mấy nơi.
Lão tướng lên lầu khi thất trận
Cung phi về viện lúc vua lơi
Soi cho đứt ruột bao người thế
Cóc thỏ mù xa há biết đời !

Chân Trân
31-07-2005, 04:47 AM
Trường hận ca


Hán hoàng vị sắc tư khuynh quốc
Ngự vũ đa niên cầu bất đắc
Dương gia hữu nữ sơ trưởng thành
Dưỡng tại thâm khuê nhân vị thức
Thiên sinh lệ chất nan tự khí
Nhất chiêu tuyển tại quân vương trắc
Hồi đầu nhất tiếu bách mị sinh
Lục cung phấn đại vô nhan sắc
Xuân hàn tứ dục Thanh Hoa trì
Ôn tuyền thủy hoạt tẩy ngưng chi
Thị nhi phù khởi kiều vô lực
Thủy thị tân thừa ân trạch thì
Vân mấn hoa nhan kim bộ dao
Phù dung trướng noãn độ xuân tiêu
Xuân tiêu khổ đoản nhật cao khởi
Tòng thử quân vương bất tảo triều
Thừa hoan thị yến vô nhàn hạ
Xuân tòng xuân du dạ chuyển dạ
Hậu cung giai lệ tam thiên nhân
Tam thiên sủng ái tại nhất nhân
Kim ốc trang thành kiều thị dạ
Ngọc lâu yến bãi túy hòa xuân
Tỷ muội huynh đệ giai liệt thổ
Khả liên quang thái sinh môn hộ
Toại linh thiên hạ phụ mẫu tâm
Bất trọng sinh nam trọng sinh nữ
Ly cung cao xứ nhập thanh vân
Tiên nhạc phong phiêu xứ xứ văn
Hoãn ca mạn vũ ngưng ty trúc
Tận nhật quân vương khan bất túc
Ngư Dương bề cổ động địa lai
Kinh phá Nghê thường vũ y khúc
Cửu trùng thành khuyết yên trần sinh
Thiên thặng vạn kỵ tây nam hành
Thúy hoa dao dao hành phục chỉ
Tây xuất đô môn bách dư lý
Lục quân bất phát vô nại hà
Uyển chuyển nga mi mã tiền tử
Hoa điền ủy địa vô nhân thu
Thúy kiều, kim tước, ngọc tao đầu
Quân vương yểm diện cứu bất đắc
Hồi khan huyết lệ tương hòa lưu
Hoàng ai tản mạn phong tiêu tác
Vân sạn oanh vu đăng Kiếm Các
Nga My sơn hạ thiểu nhân hành
Tinh kỳ vô quang nhật sắc bạc
Thục giang thủy bích Thục sơn thanh
Thánh chủ trieu triêu mộ mộ tình
Hành cung kiến nguyệt thương tâm sắc
Dạ vũ văn linh trường đoạn thanh
Thiên tuyền địa chuyển hồi long ngự
Đáo thử trừ trừ bất nhẫn khứ
Mã Ngôi pha hạ nê thổ trung
Bất kiến ngọc nhan không tử xứ
Quân thần tương cố tận triêm y
Đông vọng đô môn tín mã quy
Quy lai trì uyển giai y cựu
Thái Dịch phù dung Vỵ Ương liễu;
Phù dung như diện liễu như mi
Đối thử như hà bất lệ thùy
Xuân phong đào lý hoa khai nhật
Thu vũ ngô đồng diệp lạc thì
Tây cung nam nội đa thu thảo
Lạc diệp mãn giai hồng bất tảo
Lê viên đệ tử bạch phát tân
Tiêu phòng a giám thanh nga lão
Tịch điện huỳnh phi tứ tiễu nhiên
Cô đăng khiêu tận vị thành miên
Trì trì chung cổ sơ trường dạ
Cảnh cảnh tinh hà dục thự thiên
Uyên ương ngõa lãnh sương hoa trọng
Phỉ thủy khâm hàn thùy dữ cộng
Du du sinh tử biệt kinh niên
Hồn phách bất tằng lai nhập mộng
Lâm Cùng đạo sĩ Hồng Đô khách
Năng dĩ tinh thành trí hồn phách
Vị cảm quân vương triển chuyển tư
Toại giao phương sĩ ân cần mịch
Bài không ngự khí bôn như điện
Thăng thiên nhập địa cầu chi biến
Thượng cùng bích lạc hạ hoàng tuyền
Lưỡng xứ mang mang giai bất kiến
Hốt văn hải thượng hữu tiên sơn
Sơn tại hư vô phiếu diểu gian
Lâu các linh lung ngũ vân khởi
Kỳ trung xước ước đa tiên tử
Trung hữu nhất nhân tự Thái Chân
Tuyết phu hoa mạo sâm si thị
Kim khuyết tây sương khấu ngọc quynh
Chuyển giao Tiểu Ngọc báo Song Thành
Văn đạo Hán gia thiên tử sứ
Cửu hoa trướng lý mộng hồn kinh
Lãm y thôi chẩm khởi bồi hồi
Châu bạc ngân bình di lý khai
Vân kết bán thiên tân thụy giác
Hoa quan bất chỉnh há đường lai
Phong xuy tiên duệ phiêu phiêu cử
Do tự Nghê Thường vũ y vũ
Ngọc dung tịch mịch lệ lan can
Lê hoa nhất chi xuân đới vũ
Hàm tình ngưng thế tạ quân vương
Nhất biệt tâm dung lưỡng diểu mang!
Chiêu Dương điện lý ân ái tuyệt
Bồng Lai cung trung nhật nguyệt trường
Hồi đầu hạ vọng nhân hoàn xứ
Bất kiến Trường An kiến trần vụ
Duy tương cựu vật biểu thâm tình
Điến hạp kim hoa ký tương khứ
Thoa lưu nhất cổ, hạp nhất phiến
Thoa tích hoàng kim hạp phân điến
Đãn giao tâm tự kim điến kiên
Thiên thượng nhân gian hội tương kiến
Lâm biệt ân cần trung ký từ
Từ trung hữu thệ lưỡng tâm tri:
Thất nguyệt thất nhật Trường Sinh điện
Dạ bán vô nhân tư ngữ thì
"Tại thiên nguyệt tác tỵ dực điểu
Tại địa nguyện vi liên lý chi"
Thiên trường địa cửu hữu thì tận
Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ.

Dịch Nghĩa:

Vua Hán (1) trọng sắc đẹp, muốn có một người nghiêng nước nghiêng thành
Ở ngôi bao năm tìm kiếm không được
Họ Dương có cô gái mới lớn lên
Nuôi dạy ở nơi buồng the, người ngoài chưa ai biết
Vẻ đẹp trời sinh khó tự bỏ hoài,
Một sớm được tuyển vào bên vua
Mỗi lần ngoành mặt, nhoẻn cười lộ ra trăm vẻ đáng yêu
Sáu cung (2) son phấn không còn ai đáng gọi là có nhan sắc nữa
Tiết xuân lạnh, được tắm ở hồ Hoa Thanh (3)
Suối ấm, nước trơn dội trên da trắng mịn như mỡ đông
Thị tỳ nâng dậy, yếu mềm như không còn sức nữa
Ấy là lần đầu tiên được thấm nhuần ơn vua
Tóc mây, mặt hoa, những chuỗi ngọc trên đầu rung rinh
Trướng phù dung ấm trải qua đêm xuân
Bực nỗi đêm xuân ngắn ngủi, mặt trời lên cao rồi mới dậy
Từ đấy vua không ra coi chầu sớm nữa
Khi mua vui, khi hầu tiệc, chẳng lúc nào ngơi
Mùa xuân theo đi chơi xuân, đêm nào cũng là đêm riêng của nàng với vua
Gái đẹp nơi hậu cung hàng ba ngìn người,
Tình yêu thương đối với ba ngìn người ấy nay trút cả vào mình nàng
Nơi nhà vàng, trang hoàng xong, là chỗ của những đêm hầu hạ nũng nịu
Tiệc lầu ngọc, tan rồi là buổi say sưa với cả chiều xuân êm ái!
Chị em, anh em đều đước cắt đất phong quan
Thương thay! Một mình làm vẻ vang cho cả nhà cả họ!!
Khiến cho lòng những người làm cha mẹ trong thiên hạ
Quý sinh con gái hơn sinh trai
Cung điện trên núi Ly Sơn (4)cao vút mây xanh
Khúc nhạc tiên theo gió đưa đi, nơi nơi nghe tiếng
Giọng ca trầm trầm, điệu múa khoan hòa với tiếng đàn tiếng sáo
Suốt ngày vua xem không xuể
Tiếng trống trận Ngư Dương (5) bỗng dậy đất kéo đến
Làm cho điệu múa " Nghê thường vũ y " (6) tan tác kinh hoàng
Chín lần thành khuyết, khói bụi mịt mù
Ngìn cỗ xe, muôn cỗ ngựa chạy về tây nam
Tàn thắm, cờ hoa ngả nghiêng dùng dằng
Đi ra phía tây, khỏi cổng thành được hơn trăm dặm
Bỗng sáu quân không chịu tiến, tình thế khó xong
Gái mày ngày phải quằn quại chết trước đầu ngựa
Bông hoa vàng, cành thúy kiều, hình kim tước và trâm ngọc cài đầu
Rơi rắc trên mặt đất chẳng còn ai nhặt
Cứu không nổi, vua đành bưng mặt
Khi nhìn lại , máu pha nước mắt đã chảy ròng ròng
Bụi vàng tản mát bay, gió hiu hắt thổi
Những đợt thang mây vẫn uốn khúc cheo leo tren núi Kiếm Các
Dưới chân núi Nga My ( ở tỉnh Tứ Xuyên ngày nay) thưa thớt người đi
Bóng cờ ủ rũ, ánh mặt trời bạc phếch
Sông đất Thục ( nay là tỉnh Tứ Xuyên) biếc, núi đất Thục xanh
Tình vua nhớ nhung hết sớm lại chiều
Ánh trăng nơi hành cung, trông những đau lòng
Tiếng kiểng lúc đêm mưa, nghe càng đứt ruột
Trời xoay đất chuyển, xe rồng ( xe của vua) lại trở về
Tới đó ( chỉ bãi Mã Ngôi, nơi Dương Quí Phi chết ) dùng dằng không nỡ dời chân
Trong đống đất bùn, trên bãi Mã Ngôi
Mặt ngọc nào thấy đâu, còn trơ chỗ thác uổng!
Vua tôi nhìn nhau, ai nấy lệ rơi thấm áo
Hướng về phương đông, phía cổng thành mặc cho vó ngựa quen đường lững thững bước về
Tới nơi, ao vườn vẫn nguyên như cũ
Sen hồ Thái Dịch, liễu cung Vị Ương,
Thấy hoa sen, nhớ đến mặt nàng, thấy lá liễu, nhớ lông mày nàng
Trước cảnh ấy, cầm sao được giọt lệ !
Những buổi gió xuân, đào lý nở hoa
Những lúc mưa thu, ngô đồng rụng lá
Đền Tây cung (7) điện Nam Nội (8) cỏ thu mọc đầy
Lá rụng tơi bời, đỏ thềm không ai quét
Bọn con em nơi lê viên tóc đà nhuốm bạc
Lũ thái giám, thị tỳ chốn Tiêu Phòng cũng đã già rồi
Trước điện, buổi tối, cái đóm bay, cảnh tình lặng ngắt
Ngọn đèn vò võ khêu đã hết bấc, giấc mộng vẫn chưa thành
Tiếng trống cầm canh chầm chậm của đêm mới bắt đầu dài
Ánh sao lấp lánh trên sông Ngân lúc trời sắp sáng
Lớp sương nặng phủ trên mái ngói uyên ương (10) giá ngắt
Tấm chăn cánh trả, lạnh như tiền, chung đắp cùng ai ?
Kẻ khuất người còn xa nhau đã hơn năm trời đằng đẵng
Hồn phách chưa từng gặp nhau trong giấc chiêm bao
Một đạo sĩ ở Lâm Cùng (11) , đến chơi Hồng đô (12 )
Có phép thuật tinh thành gọi được hồn phách người chết
Vì cảm nỗi lòng vua nhớ nhung trằn trọc
Mới sai phương sĩ ( đạo sĩ) hết lòng tìm kiếm :
Xé tầng mây, cưỡi làn gió, đi nhanh như chớp
Lên trời, xuống đất, tìm khắp mọi nơi
Trên từ mây biếc, dưới đến suối vàng
Cả hai nơi đều mênh mang không thấy
Chợt nghe ở ngoài bể cổ có ngọn núi tiên
Núi rập rờn trong khoảng hư vô huyền ảo
Lầu gác lộng lẫy, năm thức mây lồng
Có bao nàng tiên thướt tha yểu điệu
Trong đó, một nàng tên gọi Thái Chân
Da tuyết, mặt hoa na ná giống
Gõ cửa ngọc mái tây nơi kim khuyết
Nhờ Tiểu Ngọc, truyền bảo đến Song Thành ( tên hai tiên nữ)
Nghe có sứ vua Hán tới
Trong màn cửa hoa giật mình tỉnh giấc
Khép áo, đẩy gối, bồi hồi trở dậy
Cánh rèm châu, bức mành bạc từ từ mở ra
Bối tóc mây hơi lệch, vẻ còn ngái ngủ
Mũ hoa đội chưa ngay, vội bước xuống thềm
Gió thổi, vạt áo nhẹ nhẹ bay
Hệt như lúc đang múa khúc " Nghê Thường Y Vũ "
Vẻ ngọc âm thầm, vắn dài hàng lệ,
Một cành hoa lệ đẫm hạt mưa xuân
Đăm đăm khoé mắt, nghẹn ngào " Đa tạ lòng quân vương"
"Một lần từ biệt đôi ngả cách mặt khuất lời
"Tình ân ái ở Chiêu Dương thế là đoạn tuyệt
"Ngày tháng trong cung Bồng Lai dài đằng đẵng
"Ngoảnh mặt nhìn xuống cõi đời
"Không ktháy Trường An, chỉ thấy bụi trần mù mịt
"Nay xin mượn vật cũ để tỏ chút tình thâm
"Chiếc hộp khảm, cành kim thoa, gửi mang về giúp
"Thoa để lại một nhành, hộp để lại một mảnh
Thoa bẻ nhánh vàng , hộp chia mảnh khảm
Chỉ nguyệt tấm lòng bền như vàng như khảm
"Kẻ trên đời, người trần thế sẽ còn gặp nhau!
Lúc sắp từ biệt còn ân cần nhắc gửi mấy lời
Trong đó có lời thề riêng, chỉ hai tấm lòng được biết
Đó là đêm mồng bảy tháng bày, tại điện Trường Sinh ( một điện trong cung Hoa Thanh đời Đường)
Nửa đêm , người vắng, thề riêng với nhau:
"Ở trên trời nguyện làm chim liền cánh,
"Ở dưới đất nguyện làm cây liền cành "
Trời đất dài lâu cũng có lúc hết
Hận này đằng dặc, không thủa nào cùng!

Dịch Thơ:

Trường hận ca

I/

Đức vua Hán mến người khuynh quốc
Trải bao năm tìm chuốc công tai
Nhà Dương có gái mới choai
Buồn xuân khóa kín chưa ai bạn cùng
Lạ gì của tuyết đông ngọc đúc
Chốn ngai vàng phút chốc ngồi bên
Một cười trăm vẻ thiên nhiên
Sáu cung nhan sắc thua hờn phấn son
Trời xuân lạnh suối tuôn mạch ấm
Da mỡ đông kỳ tắm ao Hoa
Vua yêu bận ấy mới là
Con hầu nâng dậy coi đà mệt thay
Vàng nhẹ bước lung lay tóc mái
Màn phù dung êm ái đêm xuân
Đêm xuân vắn vủn có ngần
Ngai rồng từ đấy chậm phần vua ra
Suốt ngày tháng tiệc hoa vui mãi
Đêm xuân tàn, xuân lại còn đêm
Ba ngìn xinh đẹp chị em
Ba ngìn yêu quí chất nêm một mình
Nhà vàng đúc, đêm thanh ấm áp
Lầu ngọc cao, say ắp mầu xuân
Anh em sướng đủ mọi phần
Mà cho thiên hạ có lần rẻ trai
Vẳng tiên nhạc khắp nơi nghe biết
Làn gió đưa cao tít Ly cung
Suốt ngày múa hát thung dung
Tiếng tơ, tiếng trúc say lòng quân vương
Ầm tiếng trống Ngư Dương kéo đến
Khúc Nghê Thường tan biến như không
Chín lần thành khuyết bị tung
Nghìn xe, muôn ngựa qua vùng Tây Nam
Đi lại đứng hơn trăm dậm đất
Cờ thúy hoa bóng phất lung lay
Sáu quân rúng rắng làm rầy
Mày ngài trước ngựa lúc này thương ôi!
Ai người nhặt thoa rơi bỏ đất
Ôi! Thúy Kiều ngọc nát vàng phai
Quân vương bưng mặt cho rồi
Quay đầu trông lại, máu trôi lệ dàn
Gió tung bụi mê man tản mác
Đường thang mây Kiếm Các lần đi
Vắng tanh, dưới núi Nga My
Mặt trời nhạt thếch , tinh kỳ buồn tênh
Đát Ba Thục non xanh nước biếc
Lòng vua cha thương tiếc hôm mai
Thấy trăng luống những đau người
Đêm mưa đứt ruột, canh dài tiếng chuông
Phút trời đất quay cuồng vận số
Bánh xe rồng đến chỗ ngày xưa
Đất bùn chỗ chết còn trơ
Thấy đâu mặt ngọc ! Bây giờ Mã Ngôi!
Đầm vạt áo, vua tôi giọt lệ
Gióng dây cương, ngựa tế về đông
Cảnh xua dương liễu, phù dung
Vị Ương, Thái Dịch hồ cung vẹn mười
Phù dung đó, mặt ai đâu tá ?
Mày liễu đâu ? Cho lá còn như
Càng trông hoa liễu năm xưa
Càng xui nước mắt như mưa ướt đầm
Xuân đào lý gió đêm huê nở
Thu khi mưa rụng lá ngô đồng
Kìa Nam Uyển, nọ Tây Cung
Đầy thềm ai quét lá hồng thu rơi ?
Vườn lê cũ những ai con hát ?
Mái tóc coi trắng phớt lạ lùng
Những ai coi giữ tiêu phòng ?
Mày xanh thuở ấy nay cùng già nhăn
Trước cung điện nhìn sân đêm tối
Đom đóm bay gợi mối u sầu
Ngọn đền khêu đã cạn dầu
Khó thay, giấc ngủ dễ hầu ngủ xong !
Tiếng canh tối tùng tùng điểm trống
Năm canh dài chẳng giống đêm xưa
Sông Ngân lấp lánh sao thưa
Trời như muốn sáng, sao chưa sáng trời ?
Tren mái ngói sương rơi ướt lạnh
Trong chăn nằm bên cạnh nào ai ?
Cách năm sống thác đôi nơi
Thấy đâu hồn phách vãng lai giấc nồng ?
Khách đạo sĩ Lâm Cùng có gã
Chơi Hồng Đô phép lạ thần thông
Xót vì vua chúa nhớ nhung
Mới sai phương sĩ hết lòng ra tay
Cưỡi luồng gió như bay như biến
Tren trời xanh, dưới đến đất đen
Hai nơi bích lạc, hoàng tuyền
Dưới tren tìm khắp mơ huyền thấy chi !
Sực nghe nói tìm đi mé bể,
Có non tiên ngoài phía hư không
Rỡ ràng cugn điện linh lung
Xa trông năm sắc mây lồng đẹp sao!
Trong tha thướt biết bao tiên tử
Một nàng tiên tên chữ Ngọc Chân
Mặt hoa da tuyết trắng ngần
Dáng như người ấy có phần phải chăng ?
Mái tây gõ cửa vàng then ngọc
Cậy đưa tin Tiểu Ngọc, Song Thành
Nghe tin sứ giả Hán Đình
Cửa hoa trong trướng giật mình giấc mơ
Cầm áo dậy, thẩn thơ buồn bực,
Mở rèm châu, bình bạc lần ra
Bâng khoâng nửa mái mây tà
Thềm cao xuống chiếc mũ hoa lệch đầu
Phớt tay áo bay màu ngọn gió
Giống Nghê Thường khúc múa năm xưa
Lệ dàn mặt ngọc lưa thưa
Cành lê hoa trĩu hạt mưa xuân đầm
Ngừng nước mắt âm thầm buồn bã
Đội ơn lòng, xin tạ quân vương
Từ ngày cách trở đôi phương
Vắng tanh tăm tiếng, mơ màng hình dong
Nơi đế điện dứt vòng ân ái
Chốn tiên cugn thư thái hàng ngày
Cõi trần ngoảnh lại mà hay
Tràng An chẳng thấy, thấy đầy bụi nhơ!
Lấy chi tỏ tình xưa thăm thú ?
Gửi cành hoa vật cũ cầm xuôi
Thoa vàng hộp khảm phân đôi
Nửa xin để lại nửa thời đem đi
Chỉ xin nguyện lòng ghi dạ tạc
Tựa hoa vàng bền chắc không phai
Thời cho cách trở đôi nơi
Nhân gian rồi với trên trời gặp nhau
Ân cần dặn mấy câu lâm biệt
Lời thề xưa lòng biết với lòng
Là đêm trùng thất ngồi chung
Trường Sinh sẵn điện vắng không bóng người
Xin kết nguyện chim trời liền cánh
Xin làm cây cành nhánh liền nhau
Thấm chi trời đất dài lâu
Giận này dặc dặc dễ hầu có nguôi ...

(Bản dịch của Tản Đà)

II/

Vua Hán ước mơ người quốc sắc,
Bao năm tìm kiếm luống công toi.
Họ Dương có gái hoa đương nở,
Khóa kín buồng xuân, hận lẻ loi.
Sắc đẹp trời sinh khôn bỏ phí,
Ngai vàng một sớm được ngồi chung.
Một cười khêu gợi trăm mê luyến,
Xóa mất hồng nhan ở sáu cung.
Xuân lạnh, Hoa thanh hồ sẵn đó,
Suối tuôn dòng ấm tắm hoa khôi,
Vua ban ân trạch, con hầu nịnh
Sáng dậy phò nâng ẻo lả ngồi.
Ngày dạo sen vàng bay tóc mượt,
Đêm xuân trướng ấm ủ hoa đào.
Mặt trời lên vội, đêm xuân ngắn,
Từ đấy nhà vua nhãng thị trào.
Yến ẩm vui vầy thôi chẳng ngớt;
Đêm đêm xuân tứ lại xuân tình.
Ba ngàn cung nữ, ba ngàn mối,
Sủng ái từ đây thanh hầu thánh chúa,
Anh em nhuần gội ơn mưa móc,
Nhà cửa hàn vi rạng rỡ lây.
Thiên hạ đem lòng mơ phú quý,
Khinh trai trọng gái kể từ đây.
Ly Cung cao tít lồng mây biếc,
Tiên nhạc mê hồn vẳng bốn phương.
Sớm tối ca êm hòa múa dịu
Não nùng tơ trúc đắm quân vương.
Ầm ầm chiêng trống Ngư Dương dấy,
Khúc hát Nghê Thường hoảng vỡ tan.
Thành khuyết xôn xao mù khói bụi,
Xe rồng rong ruổi hướng tây nam.
Khi đi khi nghỉ, cờ phơ phất.
Trăm dặm đường Tây bước gập ghềnh.
Quân sĩ căm hờn, không chịu tiến:
Mày ngài trước ngựa phải hy sinh!
Hoa tai bỏ đất, không người nhặt,
Trăm ngọc thoa vàng lả tả rơi.
Đứt ruột quân vương đành giấu mặt.
Ngoảnh nhìn máu chảy lệ ràn trôi.
Bụi vàng tản mác đìu hiu gió,
Kiếm Các cheo leo sạn đạo dài.
Chân núi Nga Mi buồn bã vắng;
tinh kỳ nhợt thếch, mặt trời phai.
Nước non Ba Thục xanh xanh biếc,
Sớm tối nhà vua trĩu nhớ nhung.
Quạnh quẽ hành cung, trăng gợi thảm,
Đêm mưa chuông vắng tiếng đau lòng.
Trời xoay đất chuyển quày long ngự,
Chốn cũ ngừng thăm dạ ngẩn ngơ.
Mặt ngọc giờ đâu? trơ tử địa,
Mã ngôi ảm đảm đất bùn nhơ,
Vua tôi nhỏ lệ đầm bâu áo,
Kinh khuyết vời trông tế ngựa về,
Về tới, vườn ao như thuở trước.
Vị ương lá liễu giống mày ai,
Phù dung Thái dịch trông như mặt.
Cảnh cũ tình xưa giọt lệ rơi!
Đào lý nở hoa xuân gió thoảng,
Mưa thu đổ rụng lá ngô đồng.
Tây cung Nam nội đầy thu thảo,
Phủ kín thềm hoang lá úa hồng.
Con hát Lê viên sầu tóc bạc,
Tiêu phòng thái giam hận răng long.
Tối nhìn đom đóm bay le lói.
Khêu cạn đèn khuya giấc chửa an.
Dằng dặc năm canh rền trống điểm,
Sông Ngân lấp lánh báo đêm tàn.
Mái lầu thánh thót rơi sương lạnh,
Đắp chiếc mền đơn, nhớ độ nào...
Sống thác bao năm đằng đẵng biệt,
Hương hồn sao chẳng hiển chiêm bao!
Lâm Cùng may có tay phương sĩ,
Một phép chiêu hồn dậy tiếng tăm,
Thương cảm quân vương trằn trọc nhớ,
Mới sai đạo sĩ cố truy tầm.
Cỡi mây lướt gió nhanh như chớp,
Lên tận trời cao xuống đất sâu.
Bích Lạ, Hoàng Thuyền đi khắp chỗ,
Mênh mông nào thấy bóng ai đâu!
Chợt nghe ngoài biển nơi không ảo,
Lơ lửng mơ hồ có núi tiên.
Cung điện chập chờn mây ngũ sắc.
Tiên nga tha thướt dạo trong đền,
Mặt hoa da tuyết riêng nàng nọ,
Phảng phất hình dung, tợ Thái Chân.
Gõ cửa hiên tây vàng rực rỡ,
Báo tin Tiểu Ngọc, nhắn Song Thành.
Nghe tin sứ giả đời vua Hán
Trướng gấm hồn mơ bỗng giựt mình.
Dã dượi ngồi lên, thu vạt áo,
Rèm châu bình lạc, mở lần ra.
Tóc mây lệch nửa, nghiêng nghiêng mũ
Bước xuống thềm loan, dáng thẫn thờ.
Tay áo gió lay bay phất phới,
Tưởng như đang múa Nghê Thường xưa.
Âm thầm mặt ngọc lưa thưa lệ,
In một cành lê điểm điểm mưa.
Ngầm sầu ngưng lệ, tạ quân vương,
Từ thuở âm dương biệt mỗi phương.
Trong điện Chiêu Dương, ân ái tuyệt,
Bồng lai tiên cảnh, tháng năm trường.
Ngoảnh đầu trông xuống nơi trần thế,
Chẳng thấy Trường An, thấy bụi mù.
Gởi tỏ tình tâm trong vật cũ,
Thoa vàng hộp đá kính dâng vua.
Hộp đá thoa vàng đem bẻ nửa,
Nửa thì giữ lại, nửa đưa trao,
Lòng sao chỉ nguyện như vàng đá,
Hạ giới thiên đình sẽ gặp nhau.
Lúc sắp lui về còn nhắn nhủ,
Nhắc lời thệ ước giữa đôi bên.
Năm xưa, trùng thất, Trường Sinh điện.
Vắng vẻ đêm khuya thủ thỉ truyền:
"Trên trời nguyện hóa chim liền cánh,
Dưới đất làm cây nhánh dính liền".
Trời đất lâu bền rồi sẽ tận,
Hận này muôn thuở vẫn miên miên.

(Bản dịch của Trịnh Nguyên)

Chú thích:

(1) Vua Hán: chỉ Đường Minh Hoàng
(2) Sáu cung: chỉ những nơi vợ vua ở
(3) Hồ Hoa Thanh: Một hồ trên núi Ly Sơn, có suối nước ấm . Đường Minh Hoàng sai xây cung điện ở đấy làm nơi nghỉ, chơi
(4)Núi Ly Sơn : tức núi Ly Nhung, ở tỉnh Thiểm Tây ngày nay
(5)Ngư Dương : nơi An Lộc Sơn trấn thủ, thuộc tỉnh Hà Bắc ngày nay
(6) Nghê Thường y vũ : Một điệu múa gốc từ Ấn Độ, truyền sang Trung Quốc, Đường Minh
Hoàng sửa đổi lại thành một điệu ca vũ trong hoàng cung
(7) Đền Tây Cung , (8) điện Nam nội : tên hai cung, Đường Minh Hoàng sau khi chạy loạn trở về truyền ngôi cho con, làm thái thượng hoàng và lần lượt ở hai cung này
(9) Tiêu Phòng : tên một điện trong cung Vỵ Ương đời Hán, nơi vợ vua ở
(10) Ngói uyên ương : Thụy Văn Đế nằm mơ thấy hai phiến ngói rơi xuống đất, hóa
đôi uyên ương, về sau người ta gọi thứ ngói cứ ghép thành hai phiến một để lợp nhà là ngói uyên ương .
(11) Lâm Cùng :nay là huyện Cùng Lai, tỉnh Tứ Xuyên
(12) Hồng Đô :Nguyên là cửa một cung điện đời Hán ; nay dùng để chỉ nơi kinh đô.

Chân Trân
31-07-2005, 04:50 AM
Trường Tương Tư


Biện thủy lưu,
Tứ thủy lưu,
Lưu đáo Qua Châu cổ độ đầu.
Ngô sơn điểm điểm sầu.
Tứ du du,
Hận du du,
Hận đáo quy thời phương thủy hưu.
Nguyệt minh nhân ỷ lâu.

Dịch Nghĩa:

Sông Biện (1) trôi,
Sông Tứ (2) trôi,
Trôi đến bến đò cũ Qua Châu (3).
Núi Ngô (4) từng ngọn từng ngọn buồn.
Nỗi niềm mênh mông,
Oán hận mênh mông,
Hận đến khi (chàng) về mới thôi.
Trăng sáng, người tựa lầu.

Dịch Thơ:

Bài Từ Theo Điệu "Trường Tương Tư" (5)

Sông Biện trôi,
Sông Tứ trôi,
Về bến Qua Châu nước chảy xuôi.
Non Ngô mấy ngậm ngùi.
Nhớ chơi vơi,
Hận chơi vơi,
Hận đến ngày về mới tạm nguôi.
Tựa lầu, trăng sáng soi.

Chú thích:

1/. Bài từ này được ghi trong "Bạch Cư Dị tập".
2,3,4/: Sông Biện, phát nguyên từ Hà Nam, sông Tứ phát nguyên từ Sơn Đông, hai sông hội lưu ở Bành Thành (Từ Châu) cùng chảy về bến Qua Châu (thuộc Dương Châu, Giang Tô) thì thông với Trường Giang.
5/. Ngô: tên miền đất thuộc nước Ngô thời Xuân Thu, nay thuộc tỉnh Giang Tô; Ý trung nhân của khuê phụ đang lãng du miền đó.

Chân Trân
31-07-2005, 04:52 AM
Tư phụ mi


Xuân phong dao đãng tự đông lai
Chiết tận anh đào trán tận mai
Duy dư tư phụ sầu mi kết
Vô hạn xuân phong xuy bất khai !

Dịch Thơ:

Hàng mi thiếu phụ u sầu

Phương đông xao xuyến gió xuân
Anh đào rụng cánh đón mừng hoàng mai
Sầu riêng thiếu phụ cau mày
Gió xuân thổi mãi bao ngày chưa tan.

Chân Trân
31-07-2005, 04:53 AM
Vấn hữu


Chủng lan bất chủng ngãi
Lan sinh ngãi diệc sinh
Căn cai tương giao trưởng
Hành diệp tương phụ vinh
Hương hành dữ xú diệp
Nhật dạ câu trưởng đại
Sừ ngãi khủng thương lan
Khái lan chủng tư ngãi
Lan diệc vị năng khái
Ngãi diệc vị năng trừ
Trầm ngâm ý bất quyết
Vấn quân: "hợp hà như ?"

Dịch Nghĩa:

Trồng lan chứ không trồng ngãi
Thế mà lan mọc,ngãi cũng mọc
Rễ và mầm bám nhau lớn lên
Giò và lá tựa vào nhau tươi tốt
Giò thơm cùng lá hôi
Ngày đêm đều nảy nở
Dẫy ngãi đi thì sợ lan chột
Tưới cho lan thì sợ ngãi tốt
Thế rồi lan cũng chưa tưới được
Mà ngãi cũng chưa dẫy đi
Ngẫm nghĩ hoài không thể quyết định
Hỏi bạn: "Nên làm thế nào cho phải ?"

Dịch Thơ:

Hỏi bạn

Trồng lan chẳng trồng ngãi
Lan lên,ngãi cũng lên
Rễ mầm chằng chịt lớn
Giò lá tốt tươi chen
Giò thơm lẫn lá hôi
Cùng lớn từng ngày một
Dẫy lan sợ ngãi hư
Tưới lan e ngãi tốt
Lan kia chưa thể tưới
Ngãi nọ cũng khôn đào
Ngẫm nghĩ phân vân mãi
Hỏi anh: "Phải thế nào ?"

Chân Trân
31-07-2005, 04:54 AM
Vọng nguyệt hoài cảm


Thời nạn niên hoang, thế nghiệp không,
Đệ huynh ky lữ các tây đông.
Điền viên liêu lạc can qua hậu
Cốt nhục lưu ly đạo lộ trung.
Điếu ảnh phân vi thiên lý nhạn,
Từ căn tán tác cửu thu bồng.
Công khan minh nguyệt ưng thùy lệ,
Nhất dạ hương tâm ngũ xứ đồng.

Dịch Thơ:

Nỗi nhớ khi ngắm trăng

Giặc, đói tràn lan, sản nghiệp không,
Anh em trôi giạt nẻo tây đông.
Ruộng vườn xơ xác sau cơn loạn,
Ruột thịt lìa tan giữa chặng đường.
Nghìn dặm lạc đàn thương bóng nhạn,
Chín thu lìa gốc thảm thân bồng.
Nằm nơi lặng ngẩng nhìn trăng sáng,
Một khối tình quê, lệ mấy dòng!

Chân Trân
31-07-2005, 05:06 AM
Văn dạ châm


Thuỳ gia tư phụ thu đảo bạch
Nguyệt khổ phong thê châm thử bi
Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ
Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì
Ưng đáo thiên minh đầu tân bạch
Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ti.

Dịch Thơ:

Thu đến nhớ chồng ai đập lụa
Gió trăng não lắm đá chày ơi
Tháng tám tháng chín đêm dài bấy
Ngàn tiếng muôn tiếng không hề nguôi
Mỗi tiếng trắng thêm tơ một sợi
Sáng ra e bạc cả đầu ai.

Chân Trân
31-07-2005, 05:08 AM
Văn khốc giả


Tạc văn nam lân khốc,
Khốc thanh nhất hà khổ,
Vân thị thê khốc phu,
Phu niên nhị thập ngũ.
Kim triêu bắc lí khốc,
Khốc thanh hựu hà thiết.
Vân thị mẫu khốc nhi,
Nhi niên thập thất, bát.
Tứ lân thượng như thử,
Thiên hạ đa yểu chiết;
Nãi tri phù thế nhân,
Thiểu đắc thuỳ bạch phát.
Dư kim quá tứ thập,
Niệm bỉ liểu tự duyệt.
Tòng thử minh kính trung
Bất hiềm đầu tự tuyết.

Dịch Thơ:

Nghe Người Khóc

I/

Mới hôm nọ, xóm Nam người khóc,
Tiếng khóc sao đau độc nỗi lòng?
Rằng: đâu là vợ khóc chồng,
Chồng hai nhăm tuổi khuất vòng nhân gian.
Sớm nay lại khóc than: xóm Bắc,
Tiếng khóc sao ruột thắt từng cơn.
Rằng: đâu là mẹ khóc con,
Con mười bảy, tám, chết còn tuổi xanh.
Bốn hàng xóm chung quanh như thế,
Khắp thế gian chết trẻ còn nhiều,
Mới hay người thế bao nhiêu,
Trắng phơ mái tóc dễ nào mấy ai?
Ta nay tuổi có ngoài bốn chục,
Nghĩ ai kia, thôi cũng vui lòng.
Từ đây trong bức gương trong,
Đầu ta ngỡ tuyết, ta không quản gì.

(Bản dịch của Tản Đà)


II/

Hôm qua xóm Nam khóc,
Tiếng khóc bao thương đau:
Rằng vợ khóc chồng đó,
Chồng hai nhăm tuổi đầu.

Sớm nay thôn Bắc khóc,
Tiếng khóc bao thê thảm!
Rằng đây mẹ khóc con,
Con mười bảy, mười tám.

Quanh xóm còn như thế.
Thiên hạ chết non nhiều.
Mới hay người cõi tục,
Bạc đầu được bao nhiêu.

Ta đã ngoài bốn chục,
Thấy thế cũng nguôi sầu.
Từ nay gương ngắm bóng,
Không e tuyết nhuộm đầu.

(Bản dịch của Hoàng Tạo)

Chân Trân
31-07-2005, 05:09 AM
Xuân đề hồ thượng


Hồ thượng xuân lai tự họa đồ
Loạn phong vi nhiễu thủy bình phô
Tùng bài sơn diện thiên trùng thúy
Nguyệt điểm ba tâm nhất khỏa châu
Bích thảm tuyết đầu trừu tảo đạo
Thanh la quần đái triển tân bồ
Vi năng phao đắc Hàng Châu khứ
Nhất bán câu lưu thị thử hồ.

Dịch Nghĩa:

Xuân về, cảnh hồ như một bức tranh
Núi lô nhô vây quanh mặt nước phẳng lặng
Những hàng thông trên mặt núi trập trùng xanh ngắt
Ánh trăng rọi vào lòng sóng thành hạt ngọc châu
Lúa sớm trổ bông, như những sợi trên tấm thảm biếc
Lá bồ mới nảy, như những dải quần lụa xanh
(Ta) chưa bỏ Hàng Châu đi ngay được
Một nửa vì bịn rịnh cảnh hồ này

Dịch Thơ:

Mùa xuân, đề thơ trên hồ

Xuân đến trên hồ tựa bức tranh,
Nước êm phăng phẳng núi vòng quanh
Sườn non bích trải: tùng muôn cụm
Đáy nước châu gieo : nguyệt một vành
Lúa mới dập dờn vuông đệm biếc,
Bồ non phơ phất dải là xanh
Hàng Châu chưa bỏ đi cho dứt
Một nửa vì đây vướng vít tình.

Chân Trân
31-07-2005, 05:11 AM
Đông dạ văn trùng


Trùng thanh đông tứ khổ ư thu,
Bất giải sầu nhân văn diệc sầu.
Ngã thị lão nhân thính bất uý,
Thiếu niên mạc thính bạch đầu quân.

Dịch Nghĩa:

Tiếng dế đêm đông ý tứ não nùng hơn mùa thu
Kẻ không biết buồn nghe cũng phải buồn
Ta đã già rồi,nghe chẳng sợ gì
Tuổi trẻ đừng nghe vì nghe thì sẽ bạc đầu.

Dịch Thơ:

Đêm đông nghe tiếng dế

Dế đông sầu gấp mấy thu dồn
Người dửng dưng nghe cũng chạnh buồn.
Già cả như ta nghe chả sợ
Tuổi xanh e sẽ bạc đầu luôn.

Chân Trân
31-07-2005, 05:12 AM
Đại lân tấu ngôn hoài


Nhân sinh hà sự tâm vô định?
Túc tích như kim ý bất đồng.
Túc tích sầu thân bất đắc lão,
Như kim hận tác bạch đầu ông!

Dịch nghĩa:

Người ta ở đời , tại sao tâm trí không nhất định ?
Ngày trước với bây giờ ý nghĩ khác nhau.
Ngày trước thì buồn mình không được lên cụ,
Bây giờ lại bực mình phải làm ông lão bạc đầu !

Dịch thơ:

Thay ông hàng xóm nói tâm sự

Người đời sao nghĩ vẩn vơ ?
Tấm lòng khi trước bây giờ khác nhau .
Trước buồn chẳng được sống lâu ,
Nay làm ông lão bạc đầu lại chê !

Chân Trân
31-07-2005, 05:14 AM
Đại mãi tân nữ tặng chư kỹ


Loạn bồng vi mấn,bố vi cân
Hiểu đạp Hàn sơn tự phụ tân
Nhất chủng Tiền Đường giang bạn nữ
Trước hồng kỵ mã thị hà nhân ?

Dịch Nghĩa:

Tóc như cỏ bồng rối bù,khăn bằng vải thô
Sáng sớm dẫm chân trên núi Hàn gánh củi
Một loại gái ở bên bờ sông Tiền Đường
Mặc áo đỏ cỡi ngựa,ấy là loại người gì ?

Dịch Thơ:

Thay lời gái bán củi tặng kỹ nữ

Đầu bù như rạ quấn khăn thô
Sớm dẫm non Hàn gánh củi khô
Gái bến Tiền Đường ai đó nhỉ?
Quần hồng cỡi ngựa biết bao cô!

Chân Trân
31-07-2005, 05:15 AM
Đỗ Lăng tẩu


Đỗ Lăng tẩu, Đỗ Lăng cư,
Tuế chủng bạc điền nhất khoảnh dư.
Tam nguyệt vô vũ hạn phong khởi,
Mạch miêu bất tú đa hoàng tử.
Cửu nguyệt giáng sương thu tảo hàn,
Hòa tuệ vị thục giai thanh can.
Trưởng lại minh tri bất thân phá,
Cấp liễm bạo trung cầu khảo khóa.
Điển tang mại địa nạp quán tô,
Minh niên y thực tương hà như?
Bác ngã thân thượng bạch,
Đoạt ngã khẩu trung túc
Ngược nhân hại vật tức sài làng,
Hà tất câu trảo cứ nha thực nhân nhục?
Bất tri hà nhân tấu hoàng đế,
Đế tâm trắc ẩn tri nhân tệ.
Bạch ma chỉ thượng thư đức âm:
Kinh kì tận phóng kim niên thuế.
Tạc nhật lí tư phương đáo môn,
Thủ trì sắc điệp bảng hương thôn.
Thập gia tô thuế cửu gia tất,
Hư thụ ngô hoàng quyên miễn ân.

Dịch Thơ:

Ông Già Đỗ Lăng (1)

Ông già Đỗ Lăng, quê Đỗ Lăng,
Mấy thửa ruộng xấu cấy quanh năm.
Tháng bak hông mưa, lại gió nóng,
Mạ không lên được đều chết bỏng.
Tháng chín lạnh sớm, sương xuống nhiều,
Gié lúa chưa chín đều héo queo.
Quan trên biết rõ mà không xét,
Thúc lấy đủ tô cầu lập công.
Bán đất, cầm dâu nộp cho đủ.
Cơm áo sang năm trông vào đâu?
Lột áo trên mình ta,
Cướp cơm trong miệng ta.
Hại người hại vật là hùm sói,
Cứ gì cào móng, nghiến răng ăn thịt người!
Không biết người nào tâu hoàng đế,
Vua thương bíêt được người tác tệ.
Chiếu thư nói rõ sự ban ơn;
Kinh kì năm nay tha hết thuế.
Lí dịch mới đến ngày hôm qua,
Tay cầm sắc điện dán thôn nhà.
Mười nhà chịu thuế, chín đã đóng,
Ơn vua tha thuế cũng bằng thừa!


Chú thích:
(1) Đỗ Phủ.

Chân Trân
31-07-2005, 05:16 AM
Độc Lão Tử


Ngôn giả bất tri, tri giả mặc
Thử ngữ ngô văn vu Lão quân
Nhược đạo Lão quân thị tri giả
Duyên hà tự nhược ngũ thiên văn.

Dịch Nghĩa:

Người nói ra thì không biết, mà người biết thì im lặng
Lời đó ta nghe được của Lão quân
Nếu nói rằng Lão quân là người biết (đạo)
Thì vì sao còn viết ra những năm nghìn chữ?

Dịch Thơ:

Lão quân từng có huấn ngôn
Kẻ ngu lắm tiếng, người khôn ít lời
Nếu như Người hiểu lẽ đời
Năm ngàn chữ ấy há Trời viết chăng?

còn tiếp

Chân Trân
02-08-2005, 05:10 AM
KHUYẾN TỬU


Khuyến quân nhất bôi, quân mạc từ
Khuyến quân lưỡng bôi, quân mạc nghi
Khuyến quân tam bôi, quân thủy tri :
Diện thượng kim nhật lão tạc nhật
Tâm trung túy thì thắng tỉnh thì
Thiên địa thiều thiều tự trường cửu
Bạch thố xích ô tương sấn tẩu
Thân hận đôi kim trụ Bắc Đẩu
Bất như sinh tiền nhất tôn tửu
Quân bất kiến :
Xuân Minh môn ngoại thiên dục minh
Huyên huyên ca khốc bán tử sinh
Du nhân trú mã xuất bất đắc
Bạch dư tử xa tranh lộ hành
Quy khứ lai, đầu dĩ bạch
Điển tiền tương dụng mãi tửu khiết.

Dịch nghĩa:

Mời anh một chén, anh chớ từ chối
Mời anh hai chén, anh chớ ngần ngại
Mời anh ba chén, anh mới biết rằng:
Nét mặt hôm nay già hơn hôm qua
Khi say trong lòng sáng hơn lúc tỉnh
Trời đất thăm thẳm còn dài dằng dặc
Thỏ trắng và quạ đỏ cứ chạy đuổi theo nhau
Chết rồi, dù có núi vàng chất cao đến sao Bắc Đẩu
Cũng không bằng một chén rượu khi còn sống
Anh chẳng thấy:
Ngoài cửa Xuân Minh trời sắp sáng
Tiếng hát tiếng khóc rộn ràng, nửa chết nửa sống
Người đi chơi dừng ngựa, không len qua được
Xe trắng xe tía chen nhau đường đi
Về đi thôi ! Đầu đã bạc rồi
Cầm đồ đi, lấy tiền mua rượu uống


Dịch thơ:

Mời rượu

Mời anh một chén chớ từ ngay
Mời anh hai chén chớ ngại này
Mời anh ba chén anh mới hay:
Vẻ mặt nay già hơn bữa trước
Trong lòng khi tỉnh chẳng bằng say
Thăm thẳm trời dài cùng đất rộng
Quạ vàng thỏ trắng theo nhau phóng
Đã chết dù vàng cao chất đống
Sao bằng một chén khi còn sống
Anh chẳng thấy:
Ngoài cửa Xuân Minh sắp sáng ra
Rộn ràng chết sống khóc xen ca
Dạo chơi dừng ngựa không len nổi
Xe đám xe quan cướp lối qua
Về đi thôi ! Đầu đã trắng !
Cầm đồ mua rượu mà uống gắng...

Chân Trân
11-08-2005, 10:28 PM
2. LÝ BẠCH

Tiểu sử tác giả

Lý Bạch (701 - 762) tự là Thái Bạch, quê quán ở Thánh Kỷ, Lũng Tây (nay ở Thiên Thủy, Can Túc), tổ tiên cuối đời Tùy bị đày đi Tây Vực nên Lý Bạch được sinh ở Trung Á, 5 tuổi mới theo cha về Miên Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Thời trẻ Lý Bạch học ở Thục, 25 tuổi thì rời Thục, chống kiếm viễn du. Đầu thời Thiên Bảo, ông ứng chiếu về Trường An, được Đường Minh Hoàng phong làm "Hàn lâm cung phụng sứ".

Năm Thiên Bảo thứ 3 (744), Lý Bạch từ quan và lại du lịch khắp đất nước. Trong loạn An-Sử, ông giúp Vĩnh vương Lý Lân. Lý Lân bị quân đội của Túc Tông đánh tan, ông bị bắt và đày đi Dạ Lang, trên đường gặp đại xá nên ông trở về, bị bệnh mất ở Đương Đồ (nay thuộc tỉnh An Huy). Người đời yêu mến Lý Bạch nên truyền rằng: Một hôm ông đi thuyền trên sông Thái Thạch, nhìn thấy vầng trăng trên mặt nước liền nhảy xuống để ôm trăng, sau đó ông cưỡi cá kình lên trời.

Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn vĩ đại của Trung Quốc. Ông bất phục quyền quí, coi thường vương hầu, ngạo mạn phóng túng. Thơ ông tràn đầy tình cảm chủ quan, khoa trương táo bạo, tưởng tượng độc đáo, ngôn ngữ hào phóng, ý cảnh phiêu dật... cấu thành một cá tính sáng tạo đặc biệt. Tác phẩm của ông hiện còn hơn một ngàn bài, tập hợp trong "Lý Thái Bạch toàn tập".

Chân Trân
11-08-2005, 10:31 PM
Anh Vũ châu


Anh Vũ lai quá Ngô giang thuỷ,
Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh
Anh Vũ tây phi Lũng sơn khứ
Phương châu chi thụ hà thanh thanh
Yên khai lan diệp hương phong khởi,
Ngạn giáp đào hoa cẩm lãng sinh
Thiên khách thử thời đồ cực mục
Trường châu cô nguyệt hướng thuỳ minh.

Dịch Nghĩa:

Chim Anh vũ xưa bay đến sông Ngô
Bãi trên sông mới truyền lại tên Anh Vũ
Chim anh vũ đã bay về Tây qua núi Lũng
Bãi thơm cây xanh biếc làm sao !
Khói toả ra từ lá cây lan làm gió thơm nổi dậy
Bờ liền với hoa đào, sóng gấm sinh
Lúc ấy người đi đày trông hoài cõi xa
Trên bãi dài mảnh trăng cô đơn còn soi sáng cho ai

Dịch Thơ:

Bãi Anh Vũ

Sông Ngô anh vũ xưa qua đó
Anh vũ thành tên gọi đến giờ
Anh vũ về đây qua núi Lũng
Bãi thơm cây cối những xanh mờ !
Mùi hương lan diệp lừng trong khói
Sóng gấm đào hoa gợn sát bờ
Thiên khách trông vời thôi cũng uổng
Đợi ai trăng bãi luống bơ vơ !...

Chân Trân
11-08-2005, 10:33 PM
Ô dạ đề


Hoàng vân thành biên ô dục thê
Qui phi á á chi thượng đề
Cơ trung chức cẩm Tần Xuyên nữ
Bích sa như yên cách song ngữ
Đình thoa trướng nhiên tư viễn nhân
Độc túc cô phòng lệ như vũ...

Dịch Nghĩa:

Đám mây vàng bên thành, quạ muốn đậu
Bay về rền rĩ trên cành cây
Cô gái Tần Xuyên dệt gấm bên khung cửi
Vải biếc như làn khói ngoài song cửa, cùng với tiếng nói.
Dừng thoi, thẫn thờ nhớ người đi xa
Trong phòng không một mình, lệ như mưa.

Dịch Thơ:

Quạ kêu đêm

Mây vàng chiếc quạ bên thành
Nó bay tìm ngủ trên cành nó kêu
Tần Xuyên cô gái buồng thêu
Song sa khói toả như khêu chuyện ngoài
Dừng thoi buồn bã nhớ ai
Phòng không gối chiếc giọt dài tuôn rơi.

Chân Trân
11-08-2005, 10:35 PM
Ô thê khúc


Cô Tô đài thượng ô thê thì
Ngô vương cung lý tuý Tây Thi
Ngô ca Sở vũ hoan vị tất
Thanh sơn dục hàm bán biên nhật
Ngân tiễn kim hồ lậu thuỷ đa
Khởi khan thu nguyệt truỵ giang ba
Đông phương tiệm cao nại lạc hà.

Dịch Nghĩa:

Vào lúc quạ đậu trên đài Cô Tô
Vua Ngô trong cung đang say với Tây Thi
Bài hát Ngô,điệu múa Sở,cuộc vui chưa dứt
Núi xanh sắp ngậm một nửa vầng mặt trời
Mũi tên bạc trong bình vàng,nước giọt đã nhiều
Ngẩng trông vầng trăng thu rơi xuống làn sóng sông
Phương đông mặt trời lên cao dần,sao vui mãi được ?

Dịch Thơ:

Khúc hát quạ đậu

Khi đàn quạ đậu mái Cô Tô
Vua với Tây Thi ở điện Ngô
Múa Sở,ca Ngô vui chửa tắt
Mặt trời ngậm nửa non xanh ngắt
Bình vàng tên bạc nước dần hao
Trông ánh trăng thu toả sóng xao
Bóng nắng cao rồi,vui mãi sao ?

Chân Trân
11-08-2005, 10:37 PM
Ức Đông Sơn


Bất hướng Đông Sơn cửu
Tường vi kỷ độ hoa
Bạch vân hoàn tự thán
Minh nguyệt lạc thùy gia.

Dịch Thơ:

Nhớ núi Đông

Đông Sơn xa cách bao xuân
Tường vi đã trải mấy lần nở hoa
Mây kia bạc xóa tan ra,
Vầng trăng khuất sáng, bóng sa nhà nào.

(Bản dịch của Trần Trọng Kim)


Non Đông xa cách bao xuân
Cây tường vi đã bao lần nở hoa
Mây xưa hẳn vẫn bay xa?
Trăng xưa biết rụng xuống nhà ai nao?

(Bàn dịch của Ngô Tất Tố)

Chân Trân
11-08-2005, 10:40 PM
Bạch đầu ngâm


Cẩm thuỷ đông bắc lưu
Ba đãng song uyên ương
Hùng sào Hán cung thụ
Thư lộng Tần thảo phương.

Ninh đồng vạn tử toái ỷ dực
Bất nhẫn phân gian lưỡng phân trương
Thử thời A Kiều chính kiều đố
Độc toạ Trường Môn sầu nhật mộ

Đãn nguyện quân ân cố thiếp thâm
Khởi tích hoàng kim mãi từ phú
Tương Như tác phú đắc hoàng kim
Trượng phu hiếu tân đa dị tâm

Nhất triêu tương sính Mậu Lăng nữ
Văn Quân nhân tặng Bạch đầu ngâm
Đông lưu bất tác tây quy thuỷ
Lạc hoa từ điều tu cố lâm.

Thố ti cố vô tình
Tuỳ phong nhiệm khuynh đảo
Thuỳ sử nữ la chi
Nhi lai cưỡng oanh bão

Lưỡng thảo do nhất tâm
Nhân tâm bất như thảo
Mạc quyển long tu tịch
Tòng tha sinh võng ti

Thả lưu hổ phách chẩm
Hoặc hữu mộng lai thì.
Phúc thuỷ tái thu khởi mãn bôi
Khí thiếp dĩ khứ nan trùng hồi

Cổ lai đắc ý bất tương phụ
Chỉ kim duy kiến Thanh Lăng đài.

Dịch Thơ:

Bạch Đầu Ngâm

Sông Gấm theo dòng đông bắc trôi
Uyên ­ương sóng vỗ giạt đôi trời
Cung Hán chim chồng mê xây tổ
Cỏ Tần chim vợ nhởn nhơ chơi

Dù chết muôn lần tan nát cánh
Chẳng lìa đôi ngả giữa tầng mây

A Kiều thuở xư­a mang hận tình
Tr­ường Môn vò võ mái đầu xanh
L­ưu quân không vấn vư­ơng tình cũ
Tao khang hai chữ tiếc chi vàng.

T­ương Nh­ư nhờ phú đ­ợc tiếng tăm
Nam nhân tâm bạc dễ thay lòng
Mậu Lăng thiếu nữ sinh tình ý
Văn Quân nâng bút Bạch đầu ngâm.

Nư­ớc trôi đông không về tây nữa
Hoa lìa cành thẹn với rừng x­ưa

Dây tơ hồng vô tình
Mặc gió lay nghiêng ngả
Xui chi cành nữ la
Mải bên nhau quấn quýt
Cây cỏ còn tình chung
Sao con ng­ười lại không
Đừng cuốn chiếc chiếu long
Nhện giăng chẳng bận lòng
Ghìn giữ gối hổ phách
Hẹn trong mộng t­ương phùng.

Bát nư­ớc đổ hớt sao cho trọn
Ng­ười đi rồi không dễ hồi tâm
Từ xưa đắc ý không phụ nghĩa
Thanh Lăng trần thế có bao lần.

Chân Trân
12-08-2005, 09:52 PM
Cổ ý

Quân vị nữ la thảo
Thiếp tác thố ti hoa
Khinh điều bất tự hành
Vị trục xuân phong tà
Bách trượng thác viễn tùng
Triền miên thành nhất gia
Thuỳ ngôn hội diệc dị
Các tại thanh sơn nha
Nữ la phát hinh hương
Thố ti đoạn nhân trường
Chi chi tương củ kết
Diệp diệp cánh phiêu dương
Sinh tử bất tri căn
Nhân thuỳ cộng phân phương
Trung sào song phỉ thuý
Thượng túc tử uyên ương
Nhược thức nhị thảo tâm
Hải triều diệc khả lường.

Dịch Nghĩa:

Chàng là loài cỏ nữ la
Thiếp là loài hoa thố ti
Cành nhỏ nhắn không thể tự đi
Nghiêng ngả theo gió xuân
Gởi thân nơi cây tùng trăm trượng xa xôi
Lâu ngày thành chung một nhà
Ai bảo gặp nhau đã dễ
Mỗi bên ở một bên sườn núi xanh
Cỏ nữ la toả mùi thơm ngát
Hoa thố ti làm người ta đứt ruột
Cành cành kết lại với nhau chằng chịt
Lá lá phất phơ theo gió
Sinh con chẳng biết đến rễ
Nhờ ai mà cùng thơm
Bên trong là tổ phỉ thuý
Bên trên đôi uyên ương đậu
Ví như biết được tấm lòng của hai loài cỏ ấy
Thì có thể đo được nước triều ở biển.

Dịch Thơ:

Cổ ý

Chàng là cỏ nữ la
Còn thiếp, thố ti hoa
Cành mềm không tự chuyển
Nghiêng ngả gió xuân qua
Gửi nhánh thông trăm thước
Vấn vương hoá một nhà
Ai rằng thường gặp gỡ
Mỗi kẻ một sườn xa !
Nữ la cứ toả hương
Thố ti gợi đoạn trường
Cành cành chằng chịt kết
Lá lá phất phơ giương
Sinh con không biết rễ
Ai để ngát mùi hương
Trong nương đôi phỉ thuý
Trên đậu cặp uyên ương
Ví biết lòng hai cỏ
Triều kia cũng dễ lường.

Chân Trân
12-08-2005, 09:53 PM
Cổ phong

Đăng cao vọng tứ hải
Thiên địa hà man man
Sương bị vật quần thu
Phong phiêu đại hoang hàn
Vinh hoa đông lưu thuỷ
Vạn sự giai ba lan
Bạch nhật yểm tồ huy
Phù vân vô định đoan.
Ngô đồng sào yến tước
Chỉ cức thê uyên loan
Thả phục qui khứ lai
Kiếm ca hành lộ nan.

Dịch Nghĩa:

Lên cao trông ra bốn bể
Trời đất sao mà mênh mông !
Muôn vật nhuộm màu sương thu
Gió lùa hơi lạnh đến miền hoan vu
Vinh hoa như nước chảy về đông
Vạn sư như là làn sóng
Mặt trời bị che thì ánh sáng loé ra
Đám mây nổi không biết bay về đâu
Cây ngô đồng thì chim sẻ và chim én làm tổ
Uyên loan thì đậu trong bụi cỏ gai
Hãy về đi thôi
Ôm kiếm mà ca bài " đường đi khó"

Dịch Thơ:

Cổ phong

Lên cao nhìn bốn bể
Trời đất mênh mông thế
Cảnh vật nhuốm sương thu
Gió lùa nơi vắng lạnh
Vinh hoa nước về đông
Muôn sự làn sóng gợn
Le lói ánh tà dương
Mây buồn không chốn dựa
Ngô đồng nơi én sẻ
Cỏ gai tổ uyên loan
Thà về nơi chốn cũ
Ca bài "hành lộ nan".

Chân Trân
12-08-2005, 09:54 PM
Cửu biệt ly


Biệt ly kỷ xuân vị hoàn gia
Ngọc song ngũ kiến anh đào hoa
Huống hữu cẩm tự thư
Khai giam sử nhân ta
Chí thử trường đoạn bỉ tâm tuyệt
Vân hoàn lục mấn bãi sơ kết
Sầu như hồi phiêu loạn bạch tuết
Khứ niên ký thư báo Dương Đài
Kim niên ký thư trùng tương thôi
Đông phong hề đông phong
Vị ngã xuy hành vân sử tây lai
Đãi lai cánh bất lai !
Lạc hoa tịch tịch uỷ thương đài...

Dịch Nghĩa:

Từ ra đi đến nay,đã mấy mùa xuân chưa về nhà
Trước cửa sổ,năm lần thấy anh đào nở hoa
Huống nữa lại có bức thư chữ gấm
Mở phong bì ra khiến người thở than,
Đến nỗi ruột ấy đứt,lòng này cắt
Cuộn tóc mây và mớ tóc mai thôi chải và thắt
Buồn như cơn gió lốc thổi tan tuyết trắng.
Năm trước đã gửi thư nhắn tới Dương Đài
Năm nay lại gửi thư giục giã lần nữa
Gió đông chừ gió đông !
Hãy vì ta thổi đám mây trôi bay về phía tây.
Đợi người mà chưa thấy người về
Hoa rơi lặng lẽ phủ lên rêu xanh...

Dịch Thơ:

Xa cách lâu dài

Mấy xuân xa cách chửa về nhà
Năm lần cửa ngọc thấy đào hoa
Huống còn thư chữ gấm
Mở xem dạ xót xa
Quặn lòng đứt ruột đau khôn xiết
Tóc mây biếng chải,mai thôi kết
Sầu tựa gió về tung bạch tuyết
Năm trước gửi thư nhắn Dương Đài
Năm nay đưa thư giục giã hoài...
Gió đông chừ gió đông !
Hãy thổi mây bay về tây cho ai
Hẹn về sao cứ sai ?
Hoa rơi lặng lẽ lớp rêu phai...

Chân Trân
12-08-2005, 09:55 PM
Chiến thành nam


Khứ niên chiến, Tang Càn nguyên,
Kim niên chiến, Thông Hà đạo.
Tẩy binh Điều Chi hải thượng ba,
Phóng mã Thiên Sơn tuyết trung thảo.
Vạn lý trường chinh chiến,
Tam quân tận suy lão.
Hung nô dĩ sát lục vi canh tác ;
Cổ lai duy kiến bạch cốt hoàng sa điền.
Tần gia trúc thành bị Hồ Xứ,
Hán gia hoàn hữu phong hỏa nhiên.
Phong hỏa nhiên bất tức,
Chinh chiến vô dĩ thì.
Dã chiến cách đấu tử,
Bại mã hào minh hướng thiên bi.
Ô diên trác nhân trường,
Hàm phi thướng quải khô thụ chi.
Sĩ tốt đồ thảo mãng,
Tướng quân không nhĩ vi.
Nãi tri binh giả thị hung khí,
Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi.

Dịch Thơ:

Chiến thành Nam

Năm ngoái trên sông Tang đánh nhau,
Năm nay dọc sông Thông chém giết.
Điều Chi, gươm rửa sóng ngoài khơi,
Thiên Sơn, ngựa ăn cỏ ngập tuyết.
Muôn dặm chinh chiến hoài,
Ba quân già ốm hết.
Hung Nô giết chóc thay cấy cày,
Cát vàng xương trắng xưa nay đấy !
Này dãy thành, Tần đắp ngự Hồ,
Kia lửa trận, Hán đốt đang cháy !
Lửa trận cháy chẳng tắt,
Chiến tranh mãi không thôi !
Sa trường đâm nhau chết,
Ngựa ai ngơ ngác nhìn hý trời !
Diều quạ rỉa ruột người,
Tha treo cành khô trông tả tơi.
Binh lính thây bón cỏ,
Tướng quân bó tay rồi.
Mới hay : Gươm đao là vật gở,
Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng thôi !

Chân Trân
12-08-2005, 09:56 PM
Dạ túc sơn tự


Nguy lâu cao bách xích
Thủ khả trích tinh thần
Bất cảm cao thanh ngữ
Khủng kinh thiên thượng nhân.

Dịch Nghĩa:

Lầu cao vòi vọi trăm thước
Tay có thể hái được trăng sao tinh tú
Không dám nói lớn tiếng
Sợ làm kinh động đến người trên trời.

Dịch Thơ:

Đêm ở chùa trên núi

Vòi vọi lầu trăm thước
Với tay hái được sao
Chỉ e nói lớn tiếng
Kinh đông tiên trên cao.

Bản dịch của "Khuyết danh"

Chân Trân
12-08-2005, 09:57 PM
Dữ Sử lang trung ẩm thính Hoàng Hạc lâu thượng xuy địch


Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa
Tây vọng Trường An bất kiến gia
Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch
Giang thành ngũ nguyệt "Lạc mai hoa".

Dịch Nghĩa:

Thân là một người khách đến tận Trường Sa xa vạn dặm
Trông ngóng sang phía Tây về thành Trường An mà không thấy nhà
Ở trên lầu Hoàng Hạc, tiếng sáo ngọc thổi
Giữa tháng năm, (sáo thổi) vang lên khúc "Lạc Mai Hoa" trên sông nước dưới chân thành

Dịch Thơ:

Cùng Sử lang trung uống rượu nghe thổi sáo trên lầu Hoàng Hạc

Một làm khách biếm tận Trường Sa
Tây ngóng Trường An chẳng thấy nhà
Sáo ngọc trên lầu Hoàng Hạc lộng
Tháng năm thành quạnh "Lạc mai hoa".

Chú thích:

Lạc mai hoa: tên một khúc địch (loại sáo thổi ngang), âm điệu não nề gợi niềm lữ thứ tha hương .
http://www.luongsonbac.de/thidan/images/spacer.gif

Chân Trân
12-08-2005, 09:58 PM
Giang thượng ngâm


Mộc lan chi duệ sa đường châu
Ngọc tiêu kim quản tọa lưỡng đầu
Mỹ tửu tôn trung trí thiên hộc
Tái kỹ tùy ba nhiệm khứ lưu
Tiên nhân hữu đãi thừa hoàng hạc
Hải khách vô tâm tùy bạch âu
Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt
Sở vương đài tạ không sơn khâu
Hứng hàm lạc bút dao ngũ nhạc
Thi thành tiếu ngạo lăng thương châu
Công danh phú quí nhược trường tại
Hán thủy diệc ưng tây bắc lưu.

Dịch Nghĩa:

Con thuyền bằng gỗ sa đường, lái bằng gỗ mộc lan
Có tiêu ngọc sáo vàng ở hai đầu
Với ngàn hộc rượu ngon đặt bên trên
Thuyền chở kỹ nữ , theo sóng tự do trôi đi
Xưa kia có vị tiên chờ cưỡi hạc vàng bay đi,
Lại có người khách biển vô tâm theo chim âu trắng
Còn lâu đài của vua Sở ngày nay chỉ còn là núi gò
Khi cảm hứng sau sưa hạ ngọn bút làm rung chuyển năm ngọn núi lớn
Lúc thơ làm xong tiếng cười cợt ngạo nghễ vượt qua Thương Châu
Nếu như công danh, phú quí mà còn tồn tại lâu dài
Thì dòng sông Hán thủy hẳn phải chạy lên phía Tây bắc .

Dịch Thơ:

Khúc ngâm trên sông

Chèo lan thuyền gỗ sa đường
Hai đầu sáo ngọc tiêu vàng giúp vui
Ngàn bình rượu đã sẵn rồi
Chở theo kỹ nữ mặc trôi con thuyền
Có người cỡi hạc lên tiên
Vô tâm khách biển theo chim quên đời
Khuất Bình văn rực gương trời
Lâu đài vua Sở chôn vùi cổ khâu
Hứng say bút chuyển núi cao
Thơ xong cười cợt rạt rào bãi sông
Giàu sang còn mãi không cùng
Thì sông Hán hẳn ngược dòng mà trôi.

Chân Trân
12-08-2005, 09:58 PM
Hành lộ nan kỳ I


Kim tôn thanh tửu đẩu thập thiên
Ngọc bàn trân tu trị vạn tiền
Đình bôi đầu trợ bất năng thực
Bạt kiếm tứ cố tâm mang nhiên
Dục độ Hoàng Hà băng tắc xuyên
Tương đăng Thái Hàng tuyết ám thiên
Nhàn lai thuỷ điếu toạ khê thượng
Hốt phục thừa chu mộng nhật biên
Hành lộ nan! Hành lộ nan
Đa kỳ lộ, kim an tại?
Trường phong phá lãng hôi hữu thì
Trực quải vân phàm tế thượng hải.

Dịch Thơ:

Đũa vàng chén ngọc vạn một đấu
Thức ngon nhắm quí giá mười ngàn
Dừng chén,ném đũa,nuốt không được
Tuốt kiếm nhìn quanh lòng mênh mang

Muốn vượt Hoàng Hà sông băng đóng
Toan lên Thái Hàng núi tuyết phơi
Rảnh rỗi buông câu bờ khe biếc
Bỗng mơ thuyền lướt cạnh mặt trời.

Đường đi khó ! Đường đi khó !
Nay ở đâu ? Đường bao ngả ?
Cưỡi gió phá sóng hẳn có ngày
Treo thẳng buồm mây vượt biển cả

Chân Trân
12-08-2005, 10:00 PM
Há Giang Lăng


Triêu từ Bạch Đế thái vân gian
Thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trụ
Khinh chu dĩ quá vạn trùng san.

Dịch Nghĩa:

Sớm từ thành Bạch Đế trong làn mây rực rỡ
Qua vạn dặm đến Giang Lăng trong một ngày
Hai bên bờ nghe tiếng vượn kêu không dứt
Chiếc thuyền nhẹ đã đi qua vạn dặm núi non.

Dịch Thơ:

Sáng ra đi từ thành Bạch Đế

Sớm từ Bạch Đế rực ngàn mây
Muôn dặm Giang Lăng tới một ngày
Vượn hót ven sông nghe rỉ rả
Thuyền qua muôn núi nhẹ như bay

Bản dịch của Tương Như

-----

Sáng từ Bạch Đế giữa ngàn mây
Muôn dặm Giang Lăng tới một ngày
Tiếng vượn đôi bờ kêu không dứt
Ngàn non thuyền nhẹ đã qua ngay.

Bản dịch trong Lịch sử văn học Trung Quốc, tập I Nxb Giáo dục, 1987


Chú thích:

- Thành Bạch Đế xây bằng đá ong, ở trên núi Bạch Đế, thuộc huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên, thường có mây bao phủ.
- Giang Lăng: một địa danh ở tỉnh Hồ Bắc, cách thành Bạch Đế 220 dặm (có tài liệu nói chỉ có 1200 dặm).
- Ba chữ cuối câu thứ 3 ở nguyên bản, có chỗ chép: "đề bất trú" (cũng có nghĩa là "kêu không dứt", "kêu mãi không thôi").

Chân Trân
12-08-2005, 10:01 PM
Hiệp khách hành


Triệu khách mạn hồ anh
Ngô câu sương tuyết minh
Ngân an chiếu bạch mã
Táp nạp như lưu tinh
Thập bộ sát nhất nhân
Thiên lý bất lưu hành
Sự liễu phất y khứ
Thâm tàng thân dữ danh
Nhàn quá Tín lăng ẩm
Thất kiếm tất tiền hoành
Tương chích đạm Châu Hợi
Trì Trường khuyến Hầu Doanh
Tam bôi thổ nhiên nặc
Ngũ nhạc đảo vi khinh
Nhãn hoa nhĩ nhiệt hậu
Ý khí tố nghê sinh
Cứu Triệu huy kim chùy
Hàm Đan tiên chấn kinh
Thiên thu nhị tráng sĩ
Huyên hách Đại Lương thành
Túng tử hiệp cốt hương
Bất tàm thế thượng anh
Thùy năng thư các hạ
Bạch thủ Thái huyền kinh.

Dịch Thơ:

Bài hành hiệp khách

Khách nước Triệu phất phơ giải mũ
Gươm Ngô câu rực rỡ tuyết sương
Long lanh yên bạc trên đường
Chập chờn như thể muôn ngàn sao bay
Trong mười bước giết người bén nhạy
Nghìn dặm xa vùng vẫy mà chi
Việc xong rũ áo ra đi
Xoá nhòa thân thế, kể gì tiếng tăm
Rảnh rang tới Tín Lăng uống rượu
Tuốt gươm ra, kề gối mà say
Chả kia với chén rượu này,
Đưa cho Châu Hợi, chuốc mời Hầu Doanh.
Ba chén cạn, thân mình xá kể !
Năm núi cao, xem nhẹ lông hồng
Bừng tai, hoa mắt chập chùng,
Mống tuôn hào khí mịt mùng trời mây
Chùy cứu Triệu vung tay khảng khái,
Thành Hàm Đan run rẩy, kinh hoàng
Nghìn thu tráng sĩ hai chàng
Tiếng tăm hiển hách, rỡ ràng Đại Lương.
Thân dù thác, thơm xương nghĩa hiệp;
Thẹn chi ai hào kiệt trên đời.
Hiệu thư dưới gác nào ai ?
Thái huyền, trắng xoá đầu người chép kinh.

Chân Trân
15-08-2005, 10:40 PM
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tuế lâu.

Dịch Nghĩa:

Bạn cũ ra đi từ phía Tây lầu Hoàng Hạc
Giữa mùa hoa khói tháng ba xuống Dương Châu
Xa xa, bóng hình cánh buồm đơn độc lẫn vào mây biếc đã khuất
Từ trên lầu chỉ còn thấy sông Trường Giang bên trời xuôi mãi đâu

Dịch Thơ:

Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng

Bạn từ lầu Hạc lên đường,
Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng.
Bóng buồm đã khuất bầu không,
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.

Chân Trân
15-08-2005, 10:41 PM
Hoành Giang từ

Hoành Giang quán tiền tân lại nghinh
Hướng dư đông hải chỉ vân sinh
Lang kim dục độ duyên hà sự
Như thử phong ba bất khả hành.

Dịch Nghĩa:

Trước quán Hoành Giang,lính gác đến đón tiếp
Nhìn ta,trỏ về đông nơi mây biển đùn lên
Nay ông muốn qua sông để làm gì thế ?
Sóng gió như thế này thì không thể đi được !

Dịch Thơ:

Bài hát Hoành Giang

Trước quán Hoành Giang lính đón ta
Phía đông tay trỏ biển mây nhoà
Sang sông nay bác làm chi đó ?
Sóng gió dường này khó nỗi qua !

Chân Trân
15-08-2005, 10:41 PM
Kết miệt tử

Yên Nam tráng sĩ Ngô môn hào
Trúc trung trí duyên,ngư ẩn đao
Cảm quân ân trong hứa quân mệnh
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao

Dịch Nghĩa:

Tráng sĩ Yên Nam vốn dòng hào kiệt họ Ngô
Trong đàn trúc chứa đầy chì,bụng cá chứa dao
Cảm cái ơn nặng của vua nên hiến thân cho vua
Ném núi Thái Sơn nhẹ như ném lông chim hồng

Dịch Thơ:

Gã đan tất

Yên Nam tráng sĩ Ngô anh hào
Đàn trúc đầy chì,cá giấu dao
Liều chết báo đền ơn chúa nặng
Thái Sơn gieo nhẹ tựa hồng mao.

Chân Trân
15-08-2005, 10:42 PM
Ký viễn

Mỹ nhân tại thời hoa mãn đường
Mỹ nhân khứ hậu dư không sàng
Sàng trung tú bị quyển bất tẩm
Chi kim tam tải văn dư hương
Hương diệc cánh bất diệc
Nhân diệc cánh bất lai
Tương tư hoàng diệp tận
Bạch lộ thấp thanh đài.

Dịch Thơ:

Gửi Phương Xa

Người đẹp còn đây, hoa thắm tươi
Người đi, giường trống, lá hoa rơi
Trên giường chăn gấm y nguyên nếp
Xuân Hạ ba lần hương chửa phai
Hương thơm phảng phất còn đây mãi
Người đẹp đi xa chẳng trở về
Móc trắng, rêu canh cùng đẫm ướt
Lá vàng lác đác nhớ thương hoài...

Bản dịch của Chi Điền

-----

Em còn ở đầy nhà hoa ngát
Em đi rồi ngơ ngác giường xưa
Chăn khâu nếp nếp hững hờ
Ba năm hương mãi bây giờ còn bay
Thơm nào nghe quyện đâu đây
Người đi bữa đấy mai này còn sang
Nhớ nhau cho rụng lá vàng
Cho sương lạnh trắng mấy làn rêu xanh.

Bản dịch của Nguyễn Bính

Chân Trân
15-08-2005, 10:43 PM
Khách trung tác

Lan Lăng mỹ tửu uất kim hương
Ngọc uyển thinh lai hổ phách quang
Đản sử chủ nhân năng túy khách
Bất tri hà xứ thị tha hương.

Dịch Nghĩa:

Rượu ngon đất Lan Lăng thơm mùi hoa uất kim, đựng trong chén ngọc sáng màu hổ phách. Nếu như chủ nhân biết làm cho khách say, thì còn biết nơi nào là tha hương.

Dịch Thơ:

Thơ làm nơi đất khách

Trong quán Lan Lăng rượu ngát hương
Đựng đầy chén ngọc rực hào quang
Chủ nhân ví biết mời say khách
Non nước đâu là chẳng cố hương.

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
15-08-2005, 10:43 PM
Kim Lăng tửu tứ lưu biệt

Phong xuy liễu hoa mãn điếm hương,
Ngô cơ áp tửu hoán khách thường.
Kim Lăng tử đệ lai tương tống,
Dục hành bất hành, các tận trường.
Thỉnh quân thí vấn đông lưu thuỷ,
Biệt ý dữ chi thùy đoản trường?

Dịch Thơ:

Lưu biệt quán rượu ở Kim Lăng

Quán ngạt ngào hương gió liễu bay,
Cô hàng rượu đẹp ép người say.
Kim Lăng bạn trẻ ra đưa tiễn,
Kẻ ở người đi cạn chén đầy.
Nhờ ai hỏi nước Trường Giang thử,
Nước ấy tình kia ai vắn dài ?

Chân Trân
15-08-2005, 10:44 PM
Lao Lao đình

Thiên hạ thương tâm xứ,
Lao Lao tống khách đình.
Xuân phong tri biệt khổ,
Bất khiển liễu điều thanh.

Dịch Thơ:

Đình Lao Lao

Người đời đau khổ dường bao,
Là nơi tiễn khách Lao Lao đình này.
Gió xuân như cũng thấu hay,
Không cho cành liễu điểm đầy xanh non.

Chân Trân
15-08-2005, 10:45 PM
Lục thủy khúc

Lục thủy minh thu nguyệt
Nam hồ thái bạch tần
Hà hoa kiều dục ngữ
Sầu sát đãng chu nhân.

Dịch Nghĩa:

Dòng nước trong (*) sáng ánh trăng thu
Ở hồ nam hái rau tần trắng
Hoa sen xinh đẹp như muốn nói
[Làm] người đi thuyền buồn chết cả người.

Dịch Thơ:

Khúc hát nước trong

Nước trong sáng tỏ trăng thu
Hái rau tần trắng, đến hồ nam chơi
Hoa sen như muốn ngỏ lời
Vẻ xinh buồn chết người bơi con thuyền.


Chú thích:

(*) Lục thủy: có nghĩ là nước trong. Cũng có ý kiến cho rằng Lục thủy là tên riêng. Nếu vậy, câu thơ này phải được hiểu là "Dòng sông Lục thủy sáng ánh trăng thu".

Chân Trân
15-08-2005, 10:46 PM
Mạch thượng tặng mỹ nhân

Tuấn mã kiêu hành đạp lạc hoa
Thùy tiên trực phất ngũ vân xa
Mỹ nhân nhất tiếu niêm châu bạc
Dao chỉ hồng lâu thị thiếp gia.

Dịch Thơ:

Tặng người đẹp trên đường

Nghênh ngang ngựa giẫm hoa rơi;
Buông roi, chạm phải xe hoa năm màu
Mỹ nhân cười hé rèm châu
Chỉ xa: nhà thiếp là lầu hồng kia.


Nga Mi sơn nguyệt ca

Nga Mi sơn nguyệt bán luân thu
Ảnh nhập Bình Khương giang thủy lưu
Dạ phát Thanh Khê hướng Tam giáp
Tư quân bất kiến há Du Châu.


Dịch Nghĩa:


Núi Nga Mi nửa vầng trăng thu
Chiếu bóng xuống sông Bình Khương theo nước chảy
Đêm ra đi từ Thanh Khê đến Tam giáp
Nhớ anh nhưng không thấy xuống Du Châu


Dịch thơ:


Bài ca trăng núi Nga Mi


Nga Mi trăng núi nửa vầng thu
Bóng dọi Bình Khang nước cuốn mù
Đêm tự Thanh Khê về Thục Giáp
Mong anh chẳng thấy xuống Du Châu.


Ngô vương vũ nhân bán tuý

Phong động hà hoa thủy điện hương
Cô Tô đài thượng yến Ngô vương
Tây Thi túy vũ kiều vô lực
Tiếu ỷ đông song bạch ngọc sàng.

Dịch Nghĩa:

Gió rung động hoa sen, làm cho điện nước ngạt ngào thơm
Trên đài Cô Tô, vua Ngô mở tiệc
Nàng Tây Thi say sưa múa, ẻo lả như không có sức
Rồi ngã xuống giường ngọc trắng bên cửa sổ phía đông

Dịch Thơ:

Vũ nữ của Ngô vương trong cơn say

Gió động bông sen, ngát điện hương
Cô Tô vui mở tiệc Ngô vương
Tây Thi ẻo lả, say sưa múa
Cười đến bên song, ngã xuống giường.



Ngọc giai oán

Ngọc giai sinh bạch lộ
Dạ cửu xâm la việt
Dục hạ thủy tinh liêm
Linh lung vọng thu nguyệt.

Dịch Nghĩa:

Sương trắng rơi bên thền ngọc;
Đêm khuya, sương lan ướt bít tất lụa .
Toan buông tấm rèm trong suốt như thủy tinh xuống
Để ngắm bóng trăng thu trong trẻo .

Dịch Thơ:

Nỗi oán nơi thềm ngọc

Sương trắng phơi trên thềm
Đêm khuya lan dép lụa
Toan rủ bức rèm thưa
Ngắm trăng thu sáng tỏ.

Dala
16-08-2005, 12:19 AM
Thác Núi Lư - Lý Bạch

Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên
Phi lưu trực há tam thiên xích
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên

Dịch nghĩa:

Mặt trời chiếu xuống sông Lô sinh ra khói tía
Từ xa nhìn dòng thác chảy xuống con sông trước mặt
Nước như bay xuống từ trên cao ba ngàn thước
Cứ tưởng như là sông Ngân Hà rớt khỏi chín tầng trời

Dịch thơ:

Nắng chiếu sông Lô khói tía bay
Xa trông dòng thác trước sông này
Nước đổ trên cao ba ngàn thước
Tưởng dải Ngân Hà lọt khỏi mây



Nghĩ cổ

Sinh giả vi quá khách
Tử giả vi quy nhân
Thiên địa nhất nghịch lữ
Đồng bi vạn cổ trần
Nguyệt thố không đảo dược
Phù tang dĩ thành tân
Bạch cốt tịch vô ngôn
Thanh tùng khởi tri xuân
Tiền hậu cánh thán ức
Phù vinh hà túc trân !

Dịch Nghĩa:

Sống là người đi qua đường
Chết là kẻ trở về nhà
Trời đất là một quán trọ
Cùng xót thương cát bụi muôn đời
Con thỏ trong trăng nghiền thuốc mãi
Cây dâu nổi đã thành ra củi rồi
Xương trắng lặng lẽ không nói gì
Thông xanh nào biết đến mùa xuân
Việc trước,việc sau đều đáng thở than
Cái sang quí không bền có đáng gì đâu !

Dịch Thơ:

Bắt chước ý xưa

Sống là khách qua ngõ
Chết là kẻ về nhà
Trời đất là quán trọ
Muôn đời bụi xót xa
Thỏ ngọc nghiền thuốc mãi
Dâu xanh hoá củi già
Xương trắng không buồn nói
Thông xanh mặc xuân qua
Việc đời luôn than thở
Bền chi sự vinh hoa !


Nguyệt hạ độc chước kỳ I

Hoa gian nhất hồ tửu,
Độc chước vô tương thân.
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam nhân.
Nguyệt ký bất giải ẩm,
Ảnh đồ tùy ngã thân.
Tạm bạn nguyệt tương ảnh,
Hành lạc tu cập xuân.
Ngã ca nguyệt bồi hồi ;
Ngã vũ ảnh linh loạn.
Tỉnh thì đồng giao hoan,
Tuý hậu các phân tán.
Vĩnh kết vô tình du,
Tương kỳ diểu Vân Hán.

Dịch Thơ:

Một mình uống rượu dưới trăng

Có rượu không có bạn,
Một mình chuốc dưới hoa.
Cất chén mời Trăng sáng,
Mình với Bóng là ba.
Trăng đã không biết uống,
Bóng chỉ quấn theo ta.
Tạm cùng Trăng với Bóng,
Chơi xuân cho kịp mà !
Ta hát, Trăng bồi hồi,
Ta múa, Bóng rối loạn.
Lúc tỉnh cùng nhau vui,
Say rồi đều phân tán.
Gắn bó cuộc vong tình,
Hẹn nhau tít Vân Hán.



Nguyệt hạ độc chước kỳ II

Thiên nhược bất ái tửu
Tửu tinh bất tại thiên
Địa nhược bất ái tửu
Địa ưng vô tửu tuyền
Thiên địa ký ái tửu
Ái tửu bất quý thiên
Dĩ văn thanh tỷ thánh
Phục đạo trọc như hiền
Hiền thánh ký dĩ ẩm
Hà tất cầu thần tiên
Tam bôi thông đại đạo
Nhất đấu hợp tự nhiên
Đản đắc túy trung thú
Vật vi tỉnh giả truyền.

Dịch Nghĩa:

Nếu trời mà không thích rượu, thì sao rượu không có ở trên trời. Nếu đất mà không thích rượu, thì suối rượu hẳn phải không có ở dưới đất. Trời đất kia đã thích rượu, thì ta thích rượu là không hổ thẹn với trời.
Đã nghe nói rằng người uống rượu mà trong thì được ví với bậc thánh. Lại nghe nói rằng người uống rượu mà đục thì giống như bậc hiền. Các bậc thánh hiền đều đã uống rượu, thì ta hà tất phải cầu thần tiên?
Uống ba chén thì thông hiểu đạo lớn, uống một đấu thì hợp với tự nhiên. Chỉ mong có được cái thú trong lúc say, chứ không muốn để lại tiếng tăm là người tỉnh.

Dịch Thơ:

Uống rượu một mình dưới trăng

Nếu trời không thích rượu
Sao Rượu ở chi trời?
Nếu đất không thích rượu
Suối rượu ở chi đời?
Trời đất đã thích rượu
Thích rượu không thẹn trời.
Đã nghe trong tựa thánh
Lại nói đục như hiền
Thánh hiền đều uống rượu
Cầu mà chi thần tiên?
Ba ly hiểu đạo lớn
Một đấu hợp tự nhiên
Chỉ mong được thú say
Kẻ tỉnh mặc ai khen.

Dala
16-08-2005, 12:36 AM
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tuế lâu.

Dịch Nghĩa:

Bạn cũ ra đi từ phía Tây lầu Hoàng Hạc
Giữa mùa hoa khói tháng ba xuống Dương Châu
Xa xa, bóng hình cánh buồm đơn độc lẫn vào mây biếc đã khuất
Từ trên lầu chỉ còn thấy sông Trường Giang bên trời xuôi mãi đâu

Dịch Thơ:

Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng

Bạn từ lầu Hạc lên đường,
Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng.
Bóng buồm đã khuất bầu không,
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.

Bài thơ này là bài em rất thích chị Trân ạ, bởi vì năm lớp 10 học Văn viết về nó chẳng hiểu thế nào được điểm 10... hi hi con 10 Văn duy nhất trong cuộc đời-hihi-

Dala
16-08-2005, 12:52 AM
Có thể nói Trương Nhược Hư không nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ nhưng bài thơ "Xuân giang hoa nguyệt dạ" của ông lại là một trong những bài thơ Đường nổi tiếng nhất, cùng với "Đằng Vương Các" của Vương Bột, "Hoàng hạc lâu" của Thôi Hiệu ba bài thơ này nhận được sự khâm phục vô hạn của Thi Thánh và Thi Tiên trở thành "Thiên cổ kỳ bút".

Xuân giang hoa nguyệt dạ


Xuân giang triều thủy liên hải bình
Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh
Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý
Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh

Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện
Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiển
Không lý lưu sương bất giác phi
Đính thượng bạch sa khan bất kiến

Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần
Hạo hạo không trung cô nguyệt luân
Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt ?
Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân ?

Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ
Giang nguyệt niên niên vọng tương tự
Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân
Đãn kiến trường giang tống lưu thủy

Bạch vân nhất phiến khứ du du
Thanh phong giang thượng bất thăng sầu
Thùy gia kim dạ biên chu tử
Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu ?

Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi
Ưng chiếu ly nhân trang kính đài
Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ
Đảo y châm thượng phất hoàn lai

Thử thời tương vọng bất tương văn
Nguyện trục nguyệt hoa lưu chiếu quân
Hồng nhạn trường phi quang bất độ
Ngư long tiềm dược thủy thành văn

Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa
Khả liên xuân bán bất hoàn gia
Giang thủy lưu xuân khứ dục tận
Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà

Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ
Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ
Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân qui
Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ


Dịch Nghĩa

Thủy triều lên, mặt sông xuân ngang mặt bể,
Trên bể, trăng sáng cùng lên với thủy triều .
Lấp loáng theo sóng trôi muôn ngàn dặm,
Có nơi nào trên sông xuân là không sáng trăng ?

Dòng sông lượn vòng khu cồn hương thơm,
Trăng chiếu rừng hoa ngời như hạt tuyết .
Trên sông sương trôi tưởng như không bay
Bãi sông cát trắng, nhìn chẳng nhận ra

Sông và trời, một màu không mảy bụi,
Ngời sáng trong không, vầng trăng trơ trọi
Người bên sông,ai kẻ đầu tiên thấy trăng ?
Trăng trên sông, năm nào đầu tiên rọi xuống người ?

Người sinh đời đời không bao giờ ngừng
Trăng trên sông năm năm ngắm vẵn y nguyên
Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng những ai
Chỉ thấy sông dài đưa dòng nước chảy

Mây trắng một dải, vẩn vơ bay
Cây phong biếc xanh trên bờ buồn khôn xiết
Người nhà ai đêm nay dong con thuyền nhỏ
Người nơi nao trên lầu trăng sáng đương tương tư ?

Đáng thương cho trên lầu vầng trăng bồi hồi
Phải chiếu sáng đài gương người biệt ly
Rèm nhà ngọc cuốn lên rồi, trăng vẫn không đi
Phiến đá đập áo lau đi rồi, trăng vẫn cứ lại

Giờ đây cùng ngắm trăng mà không cùng nghe tiếng nhau
Nguyện theo ánh đẹp vầng trăng trôi tới chiếu sáng bên người
Chim hồng nhạn bay dài không thể mang trăng đi
Cá rồng lặn nhảy, chỉ khiến làn nước gợn sóng

Đêm qua thanh vắng, mơ thấy hoa rơi,
Đáng thương cho người đã nửa mùa xuân chưa về nhà
Nước sông trôi xuôi, xuân đi sắp hết
Trăng lặn trên bãi sông, trăng xế về tây

Trăng xế chìm dần lẩn trong sương mù mặt bể
Núi Kiệt Thạch, sông Tiêu Tương đường thẳm không cùng
Chẳng biết nhân ánh trăng đã mấy người về
Trăng lặn, rung rinh mối tình, những cây đầy sông

Dala
16-08-2005, 01:05 AM
Dịch thơ :

Đêm trăng trên sông xuân


Trăng lên với nước triều dâng
Sông xuân lai láng dâng cùng biển khơi
Sóng đưa muốn dặm xa trôi
Trên sông đâu cũng ngợp đầy ánh trăng

Cồn thơm sông uốn lượn quanh
Rừng hoa tợ tuyết lung linh bóng Hằng
Sương đêm như đọng trong không
Sáng loà cát bãi trắng ngần dưới trăng

Trời trong nước cũng trong ngần
Giữa trời vằng vặc cô đơn bóng Hằng
Ban sơ ai đã nhìn trăng
Từ bao giờ nhỉ, từ trăng chiếu người ?

Biết bao thế hệ qua rồi
Trên sông trăng vẫn muôn đời sáng soi
Trăng soi nay đã bao người ?
Trường giang nước vẫn chảy xuôi một giòng

Mây trôi phiêu lãng bềnh bồng
Hàng cây phong biếc đêm buồn quạnh hiu
Thuyền ai neo bến cô liêu
Lầu trăng thương nhớ nơi nao có người

Thương tình trăng cũng bồi hồi
Đài gương soi bóng dáng người cách xa
Cuốn rèm trăng vẫn lân la
Tay vò áo đuổi trăng xa lại gần

Nhớ mong chẳng gặp người thương
Nguyện xin trăng hãy về gần bên ai
Trăng theo chẳng kịp chim bay
Soi trên gợn sóng cá bơi giữa giòng

Đêm qua mộng thấy hoa tàn
Thương cho ai sắp hết xuân chưa về
Sông trôi xuân sắp bỏ đi
Bên đầm trăng đã ngả về hướng tây

Trăng tà lẩn khuất sương mai
Sông Tương núi Kiệt xa xôi dặm dài
Theo trăng về được bao người ?
Trăng tàn xao xuyến ngàn cây đượm tình





Quỳnh Chi phỏng dịch

Dala
16-08-2005, 01:06 AM
Dịch Thơ
Đêm hoa trăng trên sông xuân

Sông xuân triều dậy mặt biển bằng,
Trên biển trăng cùng triều nước dâng.
Dờn dợn vời theo muôn dặm sóng,
Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng.

Quanh co sông lượn cồn hương chảy,
Trăng chiếu vườn hoa như tuyết rải.
Tầng không sương tỏa tưởng không bay,
Cát trắng bên doi nhìn chẳng thấy.

Trong suốt trời sông suốt một màu,
Trên sông vằng vặc một trăng cao.
Ai người đầu đã trông trăng ấy ?
Trăng ấy soi người tự thuở nao ?

Người cứ đời đời sinh nở mãi,
Trăng đã năm năm sông nước giãi.
Soi ai nào biết được lòng trăng,
Chỉ thấy sông dài đưa nước chảy,

Mây bạc lưng chừng trôi đến đâu,
Cành phong xanh bến biết bao sầu.
Đêm nay ai mảng buông thuyền đó,
Ai ở lầu trăng nhớ chốn nào ?

Trăng lầu quanh quẩn đáng thương ôi !
Soi mãi đài gương kẻ lẻ đôi.
Cửa ngọc cuốn rèm xua vẫn ở ;
Hòn châm đập áo xóa liền soi.

Chừ đây cùng ngóng , bẵng tăm hơi ;
Mong quyến theo trăng đến rọi người.
Bay mỏi, nhạn khôn mang ánh được,
Vẫy ngầm, cá chỉ vẫy tăm thôi.

Đêm qua thanh vắng mộng hoa rơi,
Nhà chửa về, xuân quá nửa rồi !
Nước cuốn xuân đi trôi sắp hết,
Vòm sông trăng lại xế sang đoài.

Trăng khuất mù khơi chìm chậm chậm,
Dòng Tương non Kiệt ngàn muôn dặm.
Nương trăng mấy kẻ nhớ về theo,
Trăng lặn xao tình cây nước gợn.

Bản dịch: Khương Hữu Dụng

Dala
16-08-2005, 01:07 AM
Đêm trăng hoa trên sông xuân

Sông xuân sáng nước liền ngang bể,
Vầng trăng trong mặt bể lên cao.
Ánh trăng theo sóng đẹp sao!
Sông xuân muôn dặm chỗ nào không trăng?
Dòng sông chảy quanh rừng hoa ngát,
Trăng soi hoa như tán trập trùng.
Sương bay chẳng biết trong không
Trên soi cát trắng nhìn không thấy gì.
Trời in nước một ly không bụi.
Mảnh trăng trong ròi rọi giữa trời.
Thấy trăng thoạt mới là ai?
Trăng sông thoạt mới soi người năm nao?
Người sinh mãi, kiếp nào cho biết,
Nhìn trăng sông năm hệt không sai.
Trăng sông chẳng biết soi ai,
Dưới trăng chỉ thấy sông dài nước trôi.
Đám mây trắng ngùi ngùi đi mãi,
Rặng phong xanh một dải sông sầu.
Đêm nay ai đó, ai đâu?
Chiếc thuyền để nhớ trên lầu trăng soi.
Trăng thờ thẫn nơi người xa ngóng,
Chốn đài gương tựa bóng thương ai.
Trong rèm cuốn chẳng đi thôi,
Trên bàn đập áo quét rồi lại ngay.
Cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy,
Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.
Hồng bay, ánh sáng không màng,
Nước sâu cá quẫy chỉ càng vẩn tăm.
Đêm nọ giấc trong đầm hoa rữa,
Ai xa nhà xuân nửa còn chi!
Nước sông trôi mãi xuân đi,
Trăng tà lặn xuống bên kia cánh đầm.
Vầng trăng lặn êm chìm khói bể,
Đường bao xa non kệ sông Tương.
Về trăng mấy kẻ thừa lương,
Trăng chìm lay bóng đầy hàng cây sông.

Bản dịch: Tản Đà

Chân Trân
16-08-2005, 02:43 AM
Bài thơ này là bài em rất thích chị Trân ạ, bởi vì năm lớp 10 học Văn viết về nó chẳng hiểu thế nào được điểm 10... hi hi con 10 Văn duy nhất trong cuộc đời-hihi-

--g-- Đệ của tỷ thiệt là giỏi - Không những trong lãnh vực văn học mà còn cả trong tình iu nữa đấy !!! Gớm , nay thấy đệ dắt sư tử này đi nghỉ hè - mai lại dẫn cọp kia đi xả hơi..... Vấn đề này thì cả SP dungkq cũng chạy theo không kịp đâu nhể -hihi- --nn-- --dl--

Chân Trân
16-08-2005, 02:46 AM
Hey, tỷ chưa post hết những bài thơ của Lý Bạch đâu - Nếu đệ muốn post thêm gì thì ráng chờ tí nhé ! --tth--

Dala
16-08-2005, 02:48 AM
Tiểu Sử Vương Bột tác giả Đằng Vương Các:

Vương Bột tên chữ là Tử An sinh năm 647 mất năm 675. Lên 6 tuổi đã biết làm thơ. Cuộc đời ngắn ngủi 28 năm nhưng ông đã để lại cho đời rất nhiểu bài thơ kiệt tác, xứng đáng là người đứng đầu trong Tứ Kiệt thời Sơ Đường (Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương).
Bài Đằng Vương Các là sáng tác nổi tiếng nhất của Vương Bột, đời sau đem nó cùng với " Hoàng Hạc Lâu", "Xuân giang hoa nguyệt dạ" thành 3 bài Thiên Cổ Kỳ Bút của Thơ Đường.

Đằng Vương Các

Đằng vương cao các lâm giang chử
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ
Hoạ đống triêu phi Nam phố vân
Châu liêm mộ quyển Tây sơn vũ
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du
Vật hoán tinh di kỷ độ thu
Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại Trường giang không tự lưu

Dịch Nghĩa
Gác đằng vương cao ngất dựa bên bãi sông
Đeo ngọc reo chuông thôi múa hát
Cột vẽ mây bến nam bay lúc sáng sớm
rèm châu cuốn buổi chiều thấy mưa núi tây
Mây lững lờ ngày ngày vẫn in bóng trên đầm
Vật đổi sao dời trải đã bao thu
Con vua ở trong gác nay ở chốn nào ?
Ngoài hiên sông trường giang cứ chảy mãi

Dịch Thơ
Gác Đằng Vương

Bên sông đây gác Đằng Vương
Múa ca đã hết, ngọc vàng nào ai ?
Cột rồng Nam phố mây bay
Rèm châu mưa cuốn ngàn Tây sớm chiều
In đầm, mây vẩn vơ trôi
Tang thương vật đổi, sao dời mấy thâu
Đằng vương trong gác giờ đâu?
Trường giang nước vẫn chảy mau mé ngoài

Bản dịch: Trần Trọng San

Dala
16-08-2005, 02:51 AM
Hey, tỷ chưa post hết những bài thơ của Lý Bạch đâu - Nếu đệ muốn post thêm gì thì ráng chờ tí nhé ! --tth--

Hi hi hoan hô--g-- Lý Bạch làm thơ luôn cần có rượu cho nên người đời tặng ông danh hiệu Thi Tiên vì thơ ông thoát tục, khác hẳn với Đỗ Phủ thơ chú trọng vào cái thực của cuộc đời, lột tả được cái thần của cuộc sống. Đọc Lý Bạch ta thấy như đang xem một bức tranh thuỷ mặc thoát tục, đọc Đỗ Phủ thì như bức tranh hiện thực của cuộc sống....
Mong thêm nhiều bài nữa của chị Ok đệ chờ đệ chờ ( xin lỗi tỷ nhe, đệ không biết, post bừa)-hihi-

Chân Trân
16-08-2005, 02:52 AM
Dala ui, tỷ xin ngắt ngang ở đây dể tiếp tục post hết những bài thơ còn lại của Lý Bạch nhé !

Chân Trân
16-08-2005, 02:55 AM
Tiếp theo dòng thơ của Lý Bạch:

Oán tình

Mỹ nhân quyển châu liêm,
Thâm tọa tần nga mi.
Đãn kiến lệ ngân thấp,
Bất tri tâm hận thùy.

Dịch Nghĩa:

Người đẹp cuốn rèm châu,
Lặng ngồi chau mày ngài
Chỉ thấy ngấn lệ ướt,
Chẳng biết lòng giận ai.

Dịch Thơ:

Mối Tình Ai Oán

Người xinh cuốn bức rèm châu,
Ngồi im thăm thẳm nhăn chau đôi mày.
Chỉ thay giọt lệ vơi đầy
Đố ai biết được lòng này giận ai?

Chân Trân
16-08-2005, 02:56 AM
Phỏng Đái Thiên Sơn đạo sĩ bất ngộ

Khuyển phệ thuỷ thanh trung
Đào hoa đới vũ nùng
Thụ thâm thì kiến lộc
Khê ngọ bất văn chung
Dã trúc phân thanh ái
Phi tuyền quải bích phong
Vô nhân tri sở vãng
Sầu ỷ lưỡng tam tùng.

Dịch Nghĩa:

Tiếng chó sủa lẫn trong tiếng suối reo
Hoa đào đẫm nước mưa mơn mởn
Cây rậm rạp,thỉnh thoảng thấy bóng nai
Khe về trưa,không nghe tiếng chuông
Bụi trúc rừng cách biệt đám mây mù xanh
Dòng suối tuôn treo lưng chừng ngọn núi biếc
Không ai biết đạo sĩ đi đâu
Buồn rầu đứng tựa vào đôi ba gốc thông

Dịch Thơ:

Thăm đạo sĩ Đái Thiên Sơn không gặp

Chó sủa suối hoà đưa
Hoa đào đẫm nước mưa
Nai vàng trong bụi rậm
Chuông bặt giữa khe trưa
Suối đổ treo sườn biếc
Tre rừng rũ bóng thưa
Người đâu,ai biết được
Buồn tựa gốc cây xưa...

Chân Trân
16-08-2005, 02:57 AM
Quan san nguyệt

Minh nguyệt xuất Thiên San,
Thương mang vân hải gian.
Trường phong kỷ vạn lý,
Xuy độ Ngọc Môn quan.
Hán há Bạch Đăng đạo,
Hồ khuy Thanh Hải loan.
Do lai chinh chiến địa,
Bất kiến hữu nhân hoàn.
Thú khách vọng biên sắc,
Tư quy đa khổ nhan.
Cao lâu đương thử dạ,
Thán tức vị ưng nhàn.

Dịch Thơ:

Trăng quan san

Vừng trăng ra núi Thiên San,
Mênh mang nước bể mây ngàn sáng soi.
Gió đâu muôn dặm chạy dài,
Thổi đưa trăng sáng ra ngoài Ngọc Môn.
Bạch Đăng quân Hán đóng đồn,
Vụng kia Thanh Hải dòm luôn mắt Hồ.
Từ xưa bao kẻ chinh phu,
Đã ra đất chiến, về ru mấy người ?
Buồn trông cảnh sắc bên trời,
Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà.
Lầu cao, đêm vắng, ai mà,
Đêm nay than thở ắt là chưa nguôi.

Dala
16-08-2005, 02:57 AM
--g-- Đệ của tỷ thiệt là giỏi - Không những trong lãnh vực văn học mà còn cả trong tình iu nữa đấy !!! Gớm , nay thấy đệ dắt sư tử này đi nghỉ hè - mai lại dẫn cọp kia đi xả hơi..... Vấn đề này thì cả SP dungkq cũng chạy theo không kịp đâu nhể

Chết không dám nhận, đệ vốn yêu thơ, ở Việt Nam lúc còn đi học phổ thông với năm 1 năm 2 Đại Học cũng có vài mối tình Đào Hoa + Thiên Không nhưng gặp Triệt như bài " Một Chiều Mưa" của sư phụ Dungkq...-hihi- mỗi 1 mối tình đệ đều làm thơ kỷ niệm cho người đó, hehe lúc về Việt Nam ai dè các bạn đó vẫn còn giữ... hi hi đúng là kỉ niệm đẹp... sang đây quen Sư Tử cũng có làm thơ nhưng chỉ để mình xem thôi, SƯ Tử không hiểu làm sao mà tặng--ul--
Suỵt tỷ nói nhỏ... sư phụ đòi chia chác Sư Tử với Cọp thì chết--ha--

Chân Trân
16-08-2005, 02:57 AM
Song yến ly

Song yến phục song yến
Song phi linh nhân tiễn
Ngọc lâu châu các bất độc thê
Kim song tú hộ trường tương kiến
Bách Lương thất hỏa khứ
Nhân nhập Ngô vương cung
Ngô cung hựu phần đãng
Sồ tận , sào diệc không
Tiều tụy nhất thân tại
Sương thư tư cố hùng
Song phi nan phục đắc
Thương ngã thốn tâm trung.

Dịch Nghĩa:

Đôi én lại đôi én
Bay đôi khiến người ta trầm trồ
Lầu ngọc gác tía không chịu đậu một mình
Bên cửa sổ dát vàng và khung cửa màn thêu, lâu dài có nhau
Lâu đài Bách Lương bị lửa đốt cháy
Bèn bay vào cung vua Ngô
Cung vua Ngô lại bị thiêu hủy
Chim non chết hết, tổ cũng tan
Rớt lại chiếc thân tiều tụy
Chim mái góa nhớ chim trống xưa
Muốn cùng bay đôi không được nữa
Đau thương thay tấc lòng ta!

Dịch Thơ:

Ðôi én rời nhau

Nhởn nhơ cặp én bay đôi
Bay đôi quấn quít cho người mến yêu
Lầu vàng gác ngọc song thêu
Khi mai chắp cánh, khi chiều sóng vai
Lửa đâu cháy Bách Lương đài
Cung Ngô tưởng được là nơi ở bền
Lửa Ngô phút lại bừng lên
Con tan, tổ vỡ biến thiên chẳng ngờ
Chiếc thân én góa bơ vơ
Nhớ chồng biết đến bao giờ cho khuây?
Mong chi chắp cánh cùng bay
Lòng ta ảo não thương mày, én ơi.

Chân Trân
16-08-2005, 03:00 AM
Tái hạ khúc kỳ I


Ngũ nguyệt thiên sơn tuyết
Vô hoa chỉ hữu hàn
Địch trung văn Chiết Liễu
Xuân sắc vị tằng khan
Hiểu chiến tùy kim cổ
Tiêu miên bão ngọc an
Nguyện tương yêu hạ kiếm
Trực vị trảm Lâu Lan.

Dịch Nghĩa:

Tháng năm núi Thiên Sơn vẫn còn tuyết phủ
Chẳng thấy hoa chỉ giá rét lạnh lùng
Tiếng sáo thổi nghe bài "Chiết Liễu"
Chưa từng thấy cảnh sắc mùa xuân
Buổi sớm đánh nhau nghe theo hiệu trống
Ban đêm nằm ngủ ôm chiếc yên ngọc
Muốn tuốt gươm bên lưng
Thẳng chém chúa Lâu Lan

Dịch Thơ:

Khúc hát dưới ải

Thiên Sơn, tháng năm tuyết
Không hoa, rét cóng người
Sáo thổi bài Chiết Liễu
Mùa xuân chưa tới nơi
Trận sớm theo hiệu trống
Đêm ngủ ôm yên ngồi
Xin vung thanh gươm quí
Lâu Lan chém chết tươi!

Bản dịch: Ngô Văn Phú


Chú thích:

- Thiên sơn: tức núi Kỳ Liên, rất cao, tháng năm vẫn còn tuyết
- Lâu Lan: một nước thời Tây Hán, hay ngăn cản không cho sứ giả nhà Hán qua Tây Vực. Phó Giới Tử được lệnh đến Lâu Lan dùng mưu giết được vua nước đó.

Chân Trân
16-08-2005, 03:01 AM
Tái hạ khúc kỳ II


Thiên binh há bắc hoang
Hồ mã dục nam ẩm
Hoành qua tòng bách chiến
Trực vị hàm ân thậm
Ác tuyết hải thượng xan
Phất sa lũng đầu tẩm
Hà đương phá Nguyệt Chi
Nhiên hậu phương cao chẩm.

Dịch Nghĩa:

Binh trời xuống cõi Bắc
Ngựa Hồ muốn uống nước bờ Nam
Ngáng giáo xông pha trăm trận
Chỉ vì được đội ơn sâu
Trên bể, vốc tuyết ăn
Bên ruộng, phủi cát ngủ
Bao giờ đánh tan được Nguyệt Chi
Mới nằm gối cao yên giấc

Dịch Thơ:

Khúc hái dưới ải

Binh trời sang cõi Bắc
Ngựa Hồ uống sông Nam
Cầm giáo, đánh trăm trận
Ơn dầy vua đã ban
Tuyết lạnh, tay vốc uống
Bới cát ngủ làm chăn
Giặc dữ khi nào phá
Gối cao, yên chí nằm.

Bản dịch của Ngô Văn Phú

Chân Trân
16-08-2005, 03:02 AM
Tái hạ khúc kỳ III


Tuấn mã như phong biều
Minh tiên xuất Vị Kiều
Loan cung từ Hán nguyệt
Sáp vũ phá thiên kiêu
Trận giải tinh mang tận
Doanh không hải vụ tiêu
Công thành họa Lân các
Độc hữu Hoắc Phiêu Diêu.

Dịch Nghĩa:

Tuấn mã chạy như gió
Thét ra roi thẳng Vị Kiều
Giương cung từ tạ trăng Hán
Mũi tên cắm lông bắn phá giặc trời
Trận tan, tia sáng trên sao tắt
Doanh vắng, khói biển tiêu tan
Lập công được vẽ tượng trên gác Kỳ Lân
Chỉ có quan Phiêu Diêu họ Hoắc

Dịch Thơ:

Khúc hát dưới ải

Ngựa bay như gió vút
Quất roi rời Vị Kiều
Giương cung biệt trăng Hán
Tên cứng nhằm giặc liều
Trận xong, sao trời tắt
Doanh vắng, khói sương veo
Gác lân ghi hình tích
Là quan Hoắc Phiêu Diêu.

Bản dịch của Ngô Văn Phú

Chân Trân
16-08-2005, 03:03 AM
Tái hạ khúc kỳ IV


Bạch mã Hoàng Kim tái
Vân sa nhiễu mộng tư
Na kham sầu khổ tiết
Viễn ức biên thành nhi
Huỳnh phi thu song mãn
Nguyệt độ sương khuê trì
Tồi tàn ngô đồng diệp
Tiêu táp sa đường chi
Vô thời độc bất kiến
Lệ lưu không tự tri.

Dịch Nghĩa:

Ngựa trắng phi trên ải Hoàng Kim
Mây cát cuốn theo giấc mộng
Sá kể chi nỗi đau khổ
Xa nhớ trẻ ngoài biên cương
Mùa thu, đom đóm bay đầu cửa sổ
Sương lạnh, trăng chầm chậm qua buồng the
Lá ngô đồng tàn rụng
Cành sa đường xác xơ
Trông ngóng luôn nhưng nào có thấy
Một mình tuôn lệ âm thầm

Dịch Thơ:

Khúc hát dưới ải

Ngựa trắng phi ải Vàng
Mộng theo làn mây cát
Trời xấu mấy gian nan
Ải ngoài thương trẻ nít
Thu về đom đóm bay
Buồng khuê trăng quấn quít
Tàn rụng lá ngô đồng
Cây gãy cành xơ xác
Trông ngóng tin thường bặt
Một mình lệ lặng tuôn.

Bản dịch của Ngô Văn Phú

Chân Trân
16-08-2005, 03:04 AM
Tái hạ khúc kỳ V


Tái lỗ thừa thu há
Thiên binh xuất Hán gia
Tướng quân phân hổ trúc
Chiến sĩ ngọa Long Sa
Biên nguyệt tùy cung ảnh
Hồ sương phất kiếm hoa
Ngọc Quan thù vị nhập
Thiếu phụ mạc trường ta.

Dịch Nghĩa:

Gặp tiết thu giặc ngoài ải tràn xuống
Binh trời ra từ nhà Hán
Tướng quân chi ấn hổ trúc
Binh sĩ nằm lăn trên bãi Bạch Lonh Đôi
Trăng ngoài ải theo lẩn bóng cung
Sương đất Hồ thấm ướt lưỡi kiếm
Ngọc Quan chưa vào được
Vợ trẻ chớ nên than dài

Dịch Thơ:

Khúc hát dưới ải

Thu sang giặc tràn xuống
Binh nhà Hán tung ra
Tướng nhận ấn hổ trúc
Quân đóng vùng Long Sa
Bóng cung trăng ải dọi
Kiếm sắc sương Hồ pha
Ngọc Quan chưa vượt nổi
Đừng trách người đi xa!

Bản dịch của Ngô Văn Phú

Chân Trân
16-08-2005, 03:04 AM
Tái hạ khúc kỳ VI


Phong hỏa động sa mạc
Liên chiếu Cam Tuyền vân
Hán hoàng án kiếm khởi
Hoàn triệu Lý tướng quân
Binh khí thiên thượng hợp
Cổ thanh lũng để văn
Hoành hành phụ dũng khí
Nhất chiếm tĩnh yêu phân.

Dịch Nghĩa:

Khói lửa rung động ngoài sa mạc
Soi đến tận mây Cam Tuyền
Vua Hán chống kiếm dậy
Lại vời Lý tướng quân
Khí quân tụ cả trên trời
Tiếng trống vang dậy ngoài cõi
Tung hoành đầy khí thế
Yêu quái một trận dẹp tan

Dịch Thơ:

Khúc hát dưới ải

Khói lửa động biển cát
Đỏ rực mây Cam Tuyền
Vua Hán chống kiếm dậy
Vời vội Lý tướng quân
Gươm đao ngất khí phách
Trống trận nổi rền vang
Tung hoành đầy thanh thế
Một trận yêu quái tan.

Bản dịch của Ngô Văn Phú

Chân Trân
16-08-2005, 03:08 AM
Chết không dám nhận, đệ vốn yêu thơ, ở Việt Nam lúc còn đi học phổ thông với năm 1 năm 2 Đại Học cũng có vài mối tình Đào Hoa + Thiên Không nhưng gặp Triệt như bài " Một Chiều Mưa" của sư phụ Dungkq...-hihi- mỗi 1 mối tình đệ đều làm thơ kỷ niệm cho người đó, hehe lúc về Việt Nam ai dè các bạn đó vẫn còn giữ... hi hi đúng là kỉ niệm đẹp... sang đây quen Sư Tử cũng có làm thơ nhưng chỉ để mình xem thôi, SƯ Tử không hiểu làm sao mà tặng--ul--
Suỵt tỷ nói nhỏ... sư phụ đòi chia chác Sư Tử với Cọp thì chết--ha--

Thế thì đệ gửi lên đây cho các bạn trên diễn đàn đang.....iu thưởng thức dùm Sư Tử của đệ vậy.

Yên tâm, sư phụ của đệ mà đòi chia chác thì sẽ bị đòn ngay à. Đừng lo --dl--

Chân Trân
16-08-2005, 03:11 AM
Tô đài lãm cổ

Cựu uyển, hoang đài, dương liễu tân
Lăng ca thanh xướng bất thăng xuân
Chỉ kim duy hữu Tây Giang nguyệt
Tằng chiếu Ngô Vương cung lý nhân.

Dịch Thơ:

Thăm lại dấu xưa Cô Tô đài

Đài hoang, vườn cũ, liễu còn tơ,
Dìu dặt lăng ca giọng gió đưa.
Nay chỉ Tây Giang vừng nguyệt tỏ,
Từng soi người ngọc điện vua Ngô.

Chân Trân
16-08-2005, 03:11 AM
Tảo Phát Bạch Đế Thành


Triêu từ Bạch Đế thái vân gian,
Thiên lý Giang Lăng nhất mộng hoàn,
Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trú,
Khinh chu dĩ quá vạn trùng San.

Dịch Thơ:

Sáng Sớm Rời Thành Bạch Đế

Sớm từ Bạch Đế biếc ngàn mây,
Nghìn dặm Giang Lăng tới một ngày,
Vượn hót ven sông chưa dứt tiếng,
Mà thuyền muôn núi vượt qua ngay.

Chân Trân
16-08-2005, 03:12 AM
Tầm Ung tôn sư ẩn


Quân tiểu bích ma thiên
Tiêu dao bất kế niên
Bát vân tầm cổ đạo
ỷ thụ thích lưu tuyền
Hoa noãn thanh ngưu ngoạ
Tùng cao bạch hạc miên
Ngữ lai giang sắc mộ
Độc tự há hàn yên.

Dịch Nghĩa:

Núi lô nhô xanh biếc ngút trời
Rong chơi không cần kể năm
Vén mây tìm con đường cũ
Dựa cây nghe tiếng suối chảy
Trâu xanh nằm dưới bóng cây ấm áp
Hạc trắng ngủ trên cành thông cheo leo
Chuyện trò đến khi sông ngả bóng chiều
Ta lại một mình xuống nơi khói lạnh

Dịch Thơ:

Tìm nhà ẩn của thầy Ung

Núi biếc ngất lưng trời
Luôn năm chỉ dạo chơi
Vén mây tìm lối cũ
Dựa gốc lắng khe rơi
Hoa ấm trâu xanh nghỉ
Thông cao hạc trắng ngơi
Sông chiều câu chuyện vãn
Trở lại khói sương đời...

Chân Trân
16-08-2005, 03:14 AM
Tặng Mạnh Hạo Nhiên


Tặng Mạnh Hạo Nhiên
Ngô ái Mạnh phu tử
Phong lưu thiên hạ văn
Hồng nhan khí hiên miện
Bạch thủ ngọa tùng vân
Túy nguyệt tần trung thánh
Mê hoa bất sự quân
Cao sơn an khả ngưỡng
Đồ thử ấp thanh phân.

Dịch Nghĩa:

Tôi yêu mến thầy Mạnh, là người nổi tiếng phong lưu trong thiên hạ. Lúc còn trẻ, thầy đã từ bỏ xe quan và mũ triều. Khi đầu bạc, thầy ở ẩn trong chốn mây thông. Thầy thường uống rượu say sưa dưới ánh trăng. Vì đam mê hoa cỏ, thầy không phụng sự vua. Thầy giống như ngọn núi cao, người khác làm sao có thể vin tới được? Tôi đành chỉ đứng xa mà ngưỡng mộ làn hương thanh khiết của thầy ở nơi đây.

Dịch Thơ:

Tặng Mạnh Hạo Nhiên

Tôi yêu thày Mạnh Hạo Nhiên
Tiếng phong lưu đã lan truyền thế gian
Trẻ thì mũ áo coi thường
Bạc đầu nằm giữa mây thông hững hờ
Thường cùng với nguyệt say sưa
Cỏ hoa ham thú, việc vua chẳng màng
Núi cao đâu thể sánh bằng
Chỉ đành ngưỡng mộ mùi hương tuyệt vời.

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
16-08-2005, 03:17 AM
Tặng nội


Tam bách lục thập nhật
Nhật nhật túy như nê
Tuy vi Lý Bạch phụ
Hà dị thái thường thê.

Dịch Nghĩa:

Ba trăm sáu mươi ngày
Mỗi ngày đều say be bét
Tuy là vợ của Lý Bạch
Mà chẳng khác vợ của Thái thường

Dịch Thơ:

Tặng vợ

Ba trăm sáu chục ngày trời,
Ngày ngày say bét như đời con nê.
Vợ chàng Lý Bạch ta kia,
Như ai vợ thái thường xưa khác gì!

Bản dịch của Tản Đà

còn tiếp

( Dala chờ thêm nhé ! Còn khoảng hai mươi mấy bài nữa. Bi giờ mỏi tay rồi , nghỉ - mai tiếp nghen )

Dala
16-08-2005, 06:24 PM
Hi hi chị còn nhiều nữa không... bài SONG YẾN LY hay lắm.... " uyên ương chắp cánh muốn cùng bay"....
Em chờ nhé... chị em mình tặng bạn đọc 1 thư viện thơ Đường luôn nhe...
Chúc chị sức khoẻ nhe

Chân Trân
16-08-2005, 08:09 PM
Hi hi chị còn nhiều nữa không... bài SONG YẾN LY hay lắm.... " uyên ương chắp cánh muốn cùng bay"....
Em chờ nhé... chị em mình tặng bạn đọc 1 thư viện thơ Đường luôn nhe...
Chúc chị sức khoẻ nhe

Còn nhiều mà. Tỷ sẽ post từ từ.
Cám ơn đệ đã quan tâm. /^\ ~\

Chân Trân
16-08-2005, 08:11 PM
Tặng Uông Luân


Lý Bạch thừa chu tương dục hành
Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh
Đào hoa đàm thủy thâm thiên xích
Bất cập Uông Luân tống ngã tình.

Dịch Nghĩa:

Lý Bạch cưỡi thuyền sắp sửa ra đi
Bỗng trên bờ giếng có tiếng chân nhảy nhịp và hát
Nước đầm đào hoa sâu hàng ngàn thước
Không bằng tình Uông Luân tiễn ta

Dịch Thơ:

Tặng Uông Luân

Lý Bạch lên thuyền sắp sửa xa
Trên bờ nhịp nhảy rộn lời ca
Đào hoa đầm rộng sâu ngàn thước
Khôn sánh tình Uông đưa tiễn ta.

Chân Trân
16-08-2005, 08:12 PM
Tống hữu nhân


Thanh sơn hoành Bắc quách,
Bạch thuỷ nhiễu Đông thành.
Thử địa nhất vi biệt,
Cô bồng vạn lý chinh.
Phù vân du tử ý,
Lạc nhật cố nhân tình.
Huy thủ tự tư khứ,
Tiêu tiêu ban mã minh.

Dịch Nghĩa:

Rặng núi xanh vắt ngang ải bắc.
Dòng sông trắng lượn quanh thành đông.
Một lần từ biệt đất này, bạn như cỏ bồng lẻ loi đi xa muôn dặm.
Ý du tử ví như đám mây trôi chóng tan.
Tình cố nhân giống như mặt trời lặn.
Bạn vẫy tay ra đi từ nay.
Tiếng con ngựa lìa đàn nghe rất buồn thương.

Dịch Thơ:

Tiễn bạn

Chạy dài cõi Bắc non xanh,
Thành Đông nước chảy quanh thành trắng phau.
Nước non này chỗ đưa nhau,
Một xa, muôn dặm biết đâu cánh bồng !
Chia phôi khác cả mối lòng,
Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.
Vẫy tay thôi đã rời xa,
Nhớ nhau tiếng ngựa nghe mà buồn teo.

Bản dịch của Tản Đà

-----

Cửa Bắc non ngăn lại,
Thành Đông nước uốn theo.
Một lìa non nước ấy,
Muôn dặm cánh bồng veo !
Du tử: lòng mây nổi,
Cố nhân: tình bóng chiều.
Vẫy tay từ đây biệt,
Tiếng ngựa não nùng reo.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

-----

Núi ngang ải bắc xanh xanh,
Một dòng sông trắng lượn quanh đông thành.
Nơi đây cất bước viễn hành,
Cỏ bồng muôn dặm một mình xa xôi.
Ý du tử: đám mây trôi;
Tình cố nhân: ánh nắng chiều vấn vương.
Vẫy tay từ đấy lên đường,
Tiếng con ngựa hý đau thương lìa đàn.

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
16-08-2005, 08:13 PM
Tống hữu nhân nhập Thục


Kiến thuyết Tàm Tùng lộ
Khi khu bất dị hành
Sơn tòng nhân diện khởi
Vân bạng mã đầu sinh
Phương thụ lung Tần sạn
Xuân lưu nhiễu Thục thành
Thăng trầm ưng dĩ định
Bất tất vấn Quân Bình.

Dịch Thơ:

Tiễn bạn vào đất Thục

Mảng nghe bên nước Tàm Tùng,
Đường đi khấp khểnh khó lòng buông chân.
Núi theo trước mặt nổi dần,
Mây quanh đầu ngựa dần dần mọc ra.
Đường Tần lát ván rường xa,
Nước sông ngoắt ngoéo diễn qua Thục thành.
Việc đời chìm nổi đã đành,
Chẳng cần phải hỏi Quân Bình làm chi.

Chân Trân
16-08-2005, 08:14 PM
Tử Dạ đông ca


Minh triêu dịch sứ phát
Nhất dạ nhứ chinh bào
Tố thủ trừu trâm lãnh
Na kham bả tiễn đao
Tài phùng ký viễn đạo
Kỷ nhật đáo Lâm Thao.

Dịch Nghĩa:

Sáng sớm có người chạy trạm ra đi
Suốt một đêm may chiến bào
Tay trắng luồn kim lạnh buốt
Không sao cầm nổi dao kéo
May mắn gởi được trên đường xa
Ngày nào thì đến được Lâm Thao

Dịch Thơ:

Bài hát mùa đông của nàng Tử Dạ

Sớm có người ra trận
Suốt đêm may chiến bào
Tay luồn kim lạnh buốt
Sao cầm nổi kéo dao
May gửi người xa vắng
Ngày nào tới Lâm Thao.

Chân Trân
16-08-2005, 08:15 PM
Tự khiển


Đối tửu bất giác mính
Lạc hoa doanh ngã y
Tuý khởi bộ khuê nguyệt
Điểu hoàn nhân diệc hi.

Dịch Nghĩa:

Uống rượu mãi không biết trời đã tối
Hoa rụng vương đầy áo ta
Tỉnh dậy,lần bước theo vầng trăng dưới suối
Chim về tổ hết,người cũng lưa thưa

Dịch Thơ:

Tự khiển mình

Rượu hoài trời chợt tối
Tà áo rụng đầy hoa
Tỉnh dậy lần trăng suối
Chim về,khách vắng xa...

Chân Trân
16-08-2005, 10:23 PM
Thanh bình điệu tam thủ


I
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi Quần-Ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Dao-đài nguyệt hạ phùng.

II
Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường.
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự,
Khả lân Phi Yến ỷ tân trang.

III
Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,
Trường đắc quân vương đới tiếu khan.
Giải thích xuân phong vô hạn hận,
Trầm-Hương đình bắc ỷ lan can.

Dịch Thơ:

Điệu hát Thanh Bình

I
Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây ;
Hiên sương phơ phất gió xuân bay.
Nếu không gặp gỡ trên Quần Ngọc,
Dưới nguyệt Dao đài sẽ gặp ai.

II
Một nhánh hồng tươi, móc đọng sương ;
Mây mưa Vu giúp uổng sầu thương.
Hỏi nơi cung Hán ai người giống ?
Phi Yến còn nhờ mới điểm trang.

III
Hoa trời, sắc nước thảy đều vui,
Luôn được vua trông với nụ cười.
Mối hận gió xuân bay thoảng hết ;
Bên đình, thơ thẩn tựa hiên chơi.

Bản dịch của Trần Trọng San

-----

I
Thoáng bóng mây hoa ngỡ bóng hồng,
Gió xuân dìu dặt hạt sương trong.
Ví chăng non Ngọc không nhìn thấy,
Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông.

II
Hương đông móc đượm một cành hồng,
Vu Giáp mây mưa những cực lòng.
Ướm hỏi Hán cung ai mảng tượng?
Điểm tô, Phi Yến tốn bao công.

III
Sắc nươc, hương trời khéo sánh đôi,
Quân vương nhìn ngắm những tươi cười.
Sầu xuân man mác tan đầu gió,
Cửa bắc đình Trầm đứng lả lơi.

Bản dịch của Ngô Tất Tố

Chân Trân
16-08-2005, 10:24 PM
Thái liên khúc nhị thủ


Nhược Gia khê bàng thái liên nữ
Tiếu cách hà hoa cộng nhân ngữ
Nhật chiếu tân trang thuỷ để minh
Phong phiêu hương duệ không trung cử

Ngạn thượng thuỳ gia du dã lang
Tam tam ngũ ngũ ánh thuỳ dương
Tử lưu tê nhập lạc hoa khứ
Kiến thử trì trù không đoạn trường.

Dịch Nghĩa:

Bên khe Nhược Da, những cô gái hái sen
Tiếng cười cách đoá hoa sen cùng với tiếng nói
Nắng chiếu vào đồ trang điểm lồng đáy nước long lanh
Gió thổi tà áo thơm bay trong không trung

Trên bờ, có mấy chàng trai nhà nào
Tụm năm tụm ba dưới ánh dương liễu
Ngựa Tử lưu đi vào đám hoa rụng
Thấy cảnh ấy, dùng dằng mà lòng đau xót.

Dịch Thơ:

Khúc hát hái sen

Có cô con gái nhà ai
Hái sen chơi ở bên bờ Nhược Da
Mặt hoa cười cách đoá hoa
Cùng ai nói nói mặn mà thêm xinh
Áo quần mặc mới trắng tinh,
Nắng soi đáy nước lung linh bóng lồng
Thơm tho vạt áo gió tung
Bay lên phấp phới không trung ngọt ngào
Năm ba chàng trẻ nhà nào
Ngựa hồng rặng liễu bờ cao bóng người
Ngựa kêu lẫn bước hoa rơi,
Đoái trông ai đó ngậm ngùi tiếc thương.

Bản dịch của Tản Đà

Chân Trân
16-08-2005, 10:25 PM
Thục đạo nan


Y hu hi
Nguy hồ cao tai
Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên
Tàm tùng cập Ngư phù
Khai quốc hà mang nhiên
Nhĩ lai tứ vạn bát thiên tuế
Bất dữ Tần tái thông nhân yên
Tây đương Thái bạch hữu điểu đạo
Khả dĩ hoành tuyệt Nga Mi điên
Địa băng sơn tồi tráng sĩ tử
Nhiên hậu thiên thê thạch sạn phương câu liên
Thượng hữu lục long hồi nhật chi cao tiêu
Hạ hữu xung ba nghịch chiết chi hồi xuyên
Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc quá
Viên nhứu dục độ sầu phan viên
Thanh nê hà bàn bàn
Bách bộ cửu chiết oanh nham loan
Môn Sâm lịch Tỉnh ngưỡng hiếp tức
Dĩ thủ phủ ưng tọa trường than
Vấn quân tây du hà thời hoàn
Úy đồ sàm nham bất khả phan
Đản kiến bi điểu hào cổ mộc
Hùng phi tòng thư nhiễu lâm gian
Hữu văn tử qui đề dạ nguyệt
Sầu Không san
Thục đạo chi nan nan ư thướng thanh thiên
Sử nhân thính thử điêu chu nhan
Liên phong khứ thiên bất doanh xích
Khô tùng đảo quái ỷ tuyệt bích
Phi suyền bộc lưu tranh huyên hôi
Phanh nhai chuyển thạch vạn hác lôi
Kỳ hiểm dã nhược thử
Ta nhĩ viễn đạo chi nhân
Hồ vi hồ lai tai
Kiếm các tranh vanh nhi thôi ngôi
Nhất phu đang quan
Vạn phu mạc khai
Sở thủ hoặc phi thân
Hóa vi lang dữ sài
Triều tị mãnh hổ
Tịch tị trường xà
Ma nha doãn huyết
Sát nhân như ma
Cẩm thành tuy vân lạc
Bất như tảo hoàn gia
Thục đạo chi nan nan ư hướng thanh thiên
Trắc thân tây vọng trường tư ta.

Dịch Nghĩa:

Ôi, nguy hiểm thay, cao thay! Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh. Các vua Tàm Tùng và Ngư Phù ở chốn xa xôi biết bao! Từ đó đến nay, đã bốn vạn tám nghìn năm, mới thông suốt với chỗ có khói người ở ải Tần.
Phía tây là núi Thái Bạch có đường chim bay, có thể vắt ngang đến tận đỉnh núi Nga Mi. Đất lở, núi sập, tráng sĩ chết, rồi mới có thang trời, đường đá móc nối liền nhau. Phía trên có ngọn cao sáu rồng lượn quanh mặt trời. Phía dưới có dòng sông uốn khúc sóng xô rẽ ngược. Hạc vàng còn không bay qua được; vượn khỉ muốn vượt qua, cũng buồn khi vin tới, leo trèo.
Rặng núi Thanh Nê khuất khúc biết bao! Cứ trăm bước lại có chín khúc quặt vòng quanh núi non hiểm trở. Đứng trên cao, tưởng chứng như mó được sao Sâm, lướt qua sao Tỉnh ngẩng trông nín thở, đưa tay vỗ bụng, ngồi than thở hoài.
Hỏi bạn đi chơi phía Tây, bao giờ trở lại? Đường đi cheo leo , nguy hiểm , không với tới được. Chỉ nghe thấy tiếng chim kêu đau thương trong hàng cây cổ thụ, con trống bay theo con mái, lượn quanh trong rừng. Lại nghe thấy tiếng chim tứ quí kêu dưới bóng trăng đêm, buồn trong núi vắng .
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh. Khiến người ta nghe nói đến cảnh đó, phải héo hắt vẻ mặt trẻ trung. Các ngọn núi liền nhau, cách trời không đầy một thước .Cây thông khô vắt vẻo tựa vào vách đá cao ngất. Nước bay, thác chảy đua tiếng ào ào. Đập vào sườn núi, rung động đá, muôn khe suối vang ầm như sấm. Đường Thục hiểm trở là như thế! Thương thay cho các bạn, những người đi đường xa, tại sao đến nơi đây? Miền Kiếm Các cheo leo, chót vót !
Chỉ một người canh giữ ải, đến muôn người cũng không mở nổi. Những kẻ giữ ải có thể không phải là người thân, lại biến đổi thành ra loài sài lang . Còn những người đi đường thì ban sáng phải lánh cọp dữ, buổi tối phải tránh rắn dài; bọn chúng mài nanh, hút máu, giết hại người nhiều như cây gai. Thành Cẩm Quan tuy rằng có vui, nhưng sao bằng sớm trở về nhà . Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh. Nghiêng mình trông sang phía tây , than thở hoài.

Dịch Thơ:

Đường Thục khó

Ôi , chao ôi!
Nguy hề, cao thay!
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh .
Tàm Tùng và Ngư Phù,
Mở nước bao xa xôi!
Đến nay bốn vạn tám ngàn năm,
Mới cùng ải Tần liền khói người.
Phía tây núi Thái Bạch có đường chim,
Vắt ngang đến tận đỉnh Nga Mi,
Đất long, núi lở, tráng sĩ chết,
Rồi sau thang trời, lối đá mới nối liền.
Trên đỉnh có sáu rồng, lượn quanh vầng nhật;
Dưới có dòng sâu rẽ ngược, sóng cả đua chen.
Hạc vàng bay qua còn chẳng được;
Vượn khỉ toan vượt, buồn với vin.
Rặng Thanh Nê quanh co!
Trăm bước , chín vòng núi nhấp nhô.
Ngẩng trông Sâm Tỉnh, không dám thở,
Lấy tay vỗ bụng ngồi thở dài.
Hỏi bạn sang tây, bao giờ trở lại?
Đường hiểm núi cao, khó lắm thay;
Chỉ thấy chim buồn gào cổ thụ,
Trống bay theo mái lượn rừng cây.
Lại nghe tiếng cuốc kêu trăng tối,
Buồn tênh, núi vắng người !
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh;
Khiến người nghe nói héo mặt son.
Núi liền cách trời chẳng đầy thước;
Thông khô vắt vẻo vách cao ngất.
Thác đổ dồn mau tiếng rộn ràng,
Vỗ bờ, tung đá, muôn khe vang.
Hiểm nghèo là như vậy,
Đường xa, thương cho ai,
Vì sao lại đến đây?
Kiếm Các cheo leo cao ngất mây.
Một người giữ cửa quan,
Muôn người khôn mở ải.
Chẳng phải là người thân,
Biến thành ra sài lang.
Sớm lánh hổ dữ,
Tối tránh rắn dài;
Mài nanh , hút máu,
Giết người như gai.
Cẩm thành tuy vui thú,
Đâu bằng sớm về nhà.
Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh;
Nghiêng trông sang tây, mãi thở than.

Chân Trân
16-08-2005, 10:26 PM
Thiếu niên hành


Ngũ Lăng niên thiếu Kim thị đông
Ngân yên bạch mã độ xuân phong
Lạc hoa đạp tận du hà xứ
Tiếu nhập hồ cơ tửu tứ trung.

Dịch Nghĩa:

Chàng thiếu niên Ngũ Lăng phía đông chợ Kim
Cưỡi ngựa trắng yên bạc lướt qua gió xuân
Giẫm nát hết hoa, đi đâu chơi đây?
Vừa cười vừa bước vào quán rượu

Dịch Thơ:

Bài Hát Thiếu Niên

Ngũ Lăng bạn trẻ chợ Kim gần
Ngựa trắng yên vàng lướt gió xuân
Giẫm nát hoa rơi đâu chỗ tới ?
Cười đùa vào quán rượu giai nhân.

Chân Trân
16-08-2005, 10:27 PM
Thu phố ca


Bạch phát tam thiên trượng,
Duyên sầu tự cá trường.
Bất tri minh kính lý,
Hà xứ đắc thu sương?

Dịch Nghĩa:

Tóc trắng dài ba ngàn trượng
Mối sầu biệt li cũng dài đến như vậy
Không biết ở trong tấm gương sáng
Có nơi nào chứa đầy sương thu.

Dịch Thơ:

Thu phố ca

Tóc trắng ba nghìn trượng,
Vì buồn, dài lạ sao !
Trong gương thật chẳng hiểu,
Sương thu vào lối nào.

Chân Trân
16-08-2005, 10:28 PM
Trào Lỗ Nho


Lỗ tẩu đàm ngũ kinh
Bạch phát tử chương cú
Vấn dĩ kinh tế sách
Mang nhiên trụy yên vụ
Túc trước viễn du lý
Thủ đới phương sơn cân
Hoãn bộ tòng trực đạo
Vị hành tiên khởi trần
Tần gia Thừ Tướng phủ
Bất trọng bao y nhân
Quân phi Thúc Tôn Thông
Dữ ngã bản thù luân
Thời sự thả vị đạt
Quy canh Vấn thủy tân .

Dịch Nghĩa:

Ông già nước Lỗ bàn chuyện năm kinh
Tóc bạc vùi trong những từ chương đã chết
Hỏi ông cách giúp đời gúp nước
Ông ngơ ngác như từ mây mù rơi xuống
Chân ông đi giày "viễn du"
Đầu ông chít khăn kiểu "phương sơn"
Khệnh khạng ông bước trên đường thẳng
Chưa đi đã thấy bụi bay mù
Phủ Thừa tướng nhà Tần
Không ưa những người áo dài lụng thụng
Ông không phải là Thúc Tôn Thông
So với tôi ông cũng không giống
Chuyện đời ông còn chưa thông tỏ
Nên về bờ sông Vấn đi cày

Dịch Thơ:

Giễu ông đồ nước Lỗ

Ông đồ nước Lỗ học ngũ kinh
Bạc đầu nhai chết từng chương cú
Hỏi ông giúp đời thế nào đây?
Mờ mịt như người mây khói phủ!
Chân đi đôi giày "viễn du lý"
Đầu đội chiếc khăn "phương sơn cân"
Khệnh khạng ông bước theo đường thẳng
Chưa đi bụi đã như mây vần
Này, phủ thừa tướng đời nhà Tần
Không trọng những người áo lụng thụng
Ông không phải hạng Thúc Tôn Thông
Ông so với tôi cũng không giống!
Việc đời đã chẳng hiểu chi chi
Bến Vấn liệu về cày cho chóng!

Chân Trân
16-08-2005, 10:31 PM
Trường Can hành kỳ I


Thiếp phát sơ phúc ngạch
Chiết hoa môn tiền kịch
Lang kỵ trúc mã lai
Nhiễu sàng lộng thanh mai
Đồng cư Tràng An lý
Lưỡng tiểu vô hiềm sai
Thập tứ vi quân phụ
Tu nhan vị thương khai
Đê đầu hướng ám bích
Thiên hoán bất nhất hồi
Thập ngũ thủy triển mi
Nguyện đồng trần dữ hôi
Trường tồn bão trụ tín
Khởi thượng vọng phu đài
Thập lục quân viễn hành
Cù Đường , Diệm Dự đôi
Ngũ nguyệt bất khả xúc
Viên thanh thiên thượng ai
Môn tiền cựu hành tích
Nhất nhất sinh dục đài
Đài thâm bất khả tảo
Lạc diệp thu phong tảo
Bát nguyệt hồ điệp hoàng
Song phi tây viên thảo
Cảm thử thương thiếp tâm
Tọa sầu hồng nhan lão
Tảo vãn há Tam Ba
Dự tương thư báo gia
Tương nghênh bất đạo viễn
Trực đáo Trường Phong Sa.

Dịch Nghĩa:

Tóc em mới xoà ngang trán
Bẻ hoa trước cửa nhà chơi
Chàng cửa ngựa tre đến
Quanh giường nghịch ném quả mơ xanh
Cùng sống ở đất Trường Can
Hai đứa nhỏ chẳng hề giữ ý
Năm mười bốn làm vợ anh
Mặt thẹn thò không lúc nào tươi
Cúi đầu ngoảnh vào vách tối
Gọi nghìn câu chẳng một lời đáp lại
Năm mười lăm mới tươi tỉnh mặt mày
Nguyện sống chết chẳng rời nhau
Thường tin chàng như người ôm cột một lòng
Há tưởng thiếp phải lên đài cao ngóng chồng
Năm mười sáu chàng đi xa
Đến Cồ Đường , Diệm Dự
Tháng năm nơi ấy không thể qua
Tiếng vượn kêu vang trời thảm thiết
Trước cửa dấu chân bước dạo xưa
Chỗ nào cũng rêu xanh phủ mờ
Rêu dầy không quét được
Lá sớm rụng theo gió mùa thu
Tháng tám bướm bay vàng chới
Từng đôi dập dùi trên vườn cỏ phía tây
Cám cảnh ấy , lòng thiếp đau đớn
Ngồi buồn , tuổi con gái ngày một già
Sớm muộn chàng tới Tam Ba
Hãy gửi thư về nhà báo trước
Đón nhau ngại vì đường xa
Thiếp sẽ tời tận Trường Phong Sa

Dịch Thơ:

Bài Hành Trường Can I

Khi tóc vừa buông trán
Hái hoa trước cổng chơi
Chàng cưỡi ngựa tre đến
Quanh giường tung trái mai
Trường Can cùng chung xóm
Cả hai đều thơ ngây
Mười bốn, về làm vợ
Thiếp còn e lệ hoài
Cúi đầu vào vách tối,
Gọi mãi, chẳng buồn quay
Mười lăm, mới hết thẹn
Thề cát bụi không rời
Bền vững lòng son sắt
Há lên Vọng phu đài
Mười sáu, chàng đi xa
Cù Đường, Diễm Dự đôi
Tháng năm không đến được
Vượn buồn kêu trên trời
Trước cổng vết chân cũ
Rêu xanh mọc um đầy
Rêu nhiều không quét hết
Gió thổi, lá vàng rơi
Tháng tám bươm bướm vàng
Trên cỏ vườn bay đôi
Cảnh ấy đau lòng thiếp
Má hồn buồn phôi pha
Khi chàng xuống Tam Ba
Nhớ gởi thư về nhà
Thiếp sẽ mau đi đón
Đến thẳng Trường Phong Sa.

Bản dịch của Trần Trọng San

-----

Tóc em mới kín trán
Trước cửa bẻ hoa đùa
Chàng cưỡi ngựa trúc lại
Quang ghế tung mơ chua
Cùng ở xóm Trường Can
Đôi trẻ vui tha hồ
Mười bốn làm vợ chàng
Thơ ngây em hổ thẹn
Bên vách cúi gầm đầu
Mặc dầu chàng gọi đến
Mười lăm mới bạo dạn
Quấn nhau không muốn rời
Ôm cột nguyền giữ ước
Vọng phu chẳng lên đài
Mười sáu chàng đi xa
Tháp Cồ, hòn Diệm Dự
Nước lớn đang tháng năm
Vượn kêu buồn lắm nữa
Vết giày in trước cửa
Xanh xanh rêu mọc đầy
Rêu nhiều không thể quét
Lá rụng gió thu bay
Tháng tám bươm bướm vàng
Bay đôi trên áng cỏ
Xúc cảm em đau lòng
Héo già thương má đỏ
Chàng sớm rời Tam Ba
Báo thư trước về nhà
Đón chàng em há quản
Đến tận Trường Phong Sa.

Bản dịch của Trúc Khê

Chân Trân
16-08-2005, 10:32 PM
Trường Can hành kỳ II


Ức thiếp thâm khuê lý
Yên trần bất tằng thức
Giá dữ Trường Can nhân
Sơn đầu hậu phong sắc
Ngũ nguyệt nam phong hưng
Tư quân há Ba Lăng
Bát nguyệt tây phong khởi
Tưởng quân phát Dương Tử
Khứ lai bi như hà
Kiến thiểu biệt ly đa
Tương đàm kỷ nhật đáo
Thiếp mộng việt phong ba
Tạc dạ cuồng phong độ
Xuy chiếc giang đầu thụ
Diểu diểu án phong biên
Hành nhân tại hà xứ
Hảo thừa phù vân thông
Giai kỳ lan chử đông
Uyên ương lục bồ thượng
Phỉ thúy cẩm bình trung
Tự lân thập ngũ dư
Nhan sắc đào hoa hồng
Na tác thương nhân phụ
Sầu thủy phục sầu phong.

Dịch Nghĩa:

Nhớ lại lúc còn ở trong phòng khuê sâu kín
Chưa từng biết cảnh gió bụi
Từ khi lấy chồng người Trường Can
Thường lên đầu núi chờ đợi sắc gió
Tháng năm khi gió nam thổi
Thiếp đang nghĩ chàng dang đi xuống huyện Ba Lăng
Tháng tám khi gió tây thổi
Thiếp nghĩ đến chàng đang từ sông Dương Tử ra đi
Từ trước đến nay đau thương đến như thế nào?
Gặp nhau thì ít mà ly biệt thì nhiều
Biết bao nhiêu ngày mới được huyện Tương Đàm?
Thiếp nằm mơ thấy vượt qua sóng gió
Đêm qua cơn gió thổi mạnh qua
Làm gãy cây cối ở đầu sông
Bên gió tối mịt mùng n
Người đi bây giờ đang ở đâu?
Thiếp mong được cỡi con ngựa là đám mây nổi kia
Để đến gặp chàng ở phía đông bãi lan
Chim uyên ương nằm trên lớp cỏ bồ xanh
Chim phỉ thúy thêu trên bức bình phong gấm
Trông thấy cảnh đó thiếp tự thương mình
Mới hơn mười lăm tuổi nhan sắc đỏ thắm như hoa đào
Mà sao lại làm vợ người lái buôn
Hết buồn vì nước lại buồn vì gió

Dịch Thơ:

Bài Hành Trường Can II

Nhớ xưa trong phòng khuê
Chẳng từng biết gió bụi
Lấy chồng người Trường Can
Đợi gió trên đầu núi
Tháng năm gió nam nổi
Chàng đang xuống Ba Lăng
Tháng tám gió tây thổi
Chàng đang qua sông Dương
Bấy nay buồn biết mấy
Ít gặp, nhiều chia xa
Tương Đàm bao ngày tới?
Thiếp mộng vượt phong ba
Trận cuồng phong đêm trước
Bẻ gẫy cây đầu sông
Mịt mùng bên gió tối
Người đi biết đâu vùng
Mong cưỡi ngựa mây nổi
Hẹn nhau tại bến đông
Uyên ương trên cỏ biếc
Phỉ thúy trong bình phong
Thương thay mười lăm tuổi
Nhan sắc thắm hoa đào
Nay thành người thương phụ
Gió nước gợi sầu đau.

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
16-08-2005, 10:33 PM
Trường tương tư kỳ I


Trường tương tư
Tại Tràng An
Lạc vi thu đề kim tỉnh lan
Vi phong thê thê đàm sắc hàn
Cô đăng bất minh tứ dục tuyệt
Quyển duy vọng nguyệt không trường thán
Mỹ nhân như hoa cách vân đoan
Thượng hữu thanh mạc chi trường thiên
Hạ hữu lục thủy chi ba lan
Thiên trường địa viễn hồn phi khổ
Mộng hồn bất đáo quan san san
Trường tương tư
Tồi tâm can.

Dịch Nghĩa:

Nhớ nhau hoài
Ở Trường An
Sẹt sành kêu thu bên giếng vàng
Sương mỏng lạnh lẽo sắc chiếu lạnh
Đèn lẻ loi không sáng nỗi nhớ càng nung nấu
Cuốn rèm ngắm trăng ngửa mặt lên trời than dài
Người đẹp như hoa hiện lên sau sắc mây
Trên có giải xanh trời cao thăm thẳm
Dước có nước xanh sóng nhẹ đưa
Trời cao đất rộng hồn thêm khổ
Mộng hồn bay đến nơi quan san kia cũng khó
Nhớ nhau hoài
Đứt ruột gan

Dịch Thơ:

Trường Tương Tư

Nhớ nhau hoài
Ở Tràng An
Sẹt sành kêu thu ran giếng vàng
Sương mỏng buốt giá chiếu hoa lạnh
Đèn lẻ hắt hiu lòng trống vắng
Cuốn rèm nhìn trăng, buột thở than
Người đẹp hiện lên sau mây ngàn
Trên có tầng xanh, trời mênh mang
Dưới có nước biếc, sóng hồ lan
Trời cao đất rộng hồn bay nhọc
Mộng hồn khôn đến được quan san
Nhớ nhau hoài
Nẫu ruột gan.

Chân Trân
16-08-2005, 10:34 PM
Trường tương tư kỳ II


Nhật sắc dục tận hoa hàm yên
Nguyệt minh như tố sầu bất miên
Triệu sắt sơ đình phụng hoàng trụ
Thục cầm dục tấu uyên ương huyền
Thử khúc hữu ý vô nhân truyền
Nguyện tuỳ xân phong ký Yên Nhiên
Ức quân thiều thiều cách thanh thiên
Tích thì hoành ba mục
Kim tác lưu lệ tuyền
Bất tín thiếp trường đoạn
Qui lai khán thủ minh kính tiền.

Dịch Nghĩa:

Mặt trời sắp tắt, hoa ngậm khói sương
Trắng sáng như lụa, nỗi sầu không sao ngủ được
Đàn sắt Triệu vừa ngừng dây phụng hoàng
Đàn cầm Thục đã dục tấu khúc uyên ương
Khúc này có ý nghĩa sao không có ai lưu truyền?
Mong theo ngọn gió xuân gửi đến Yên Nhiên
Nhớ chàng nơi xa cách trời xanh
Xưa thì mắt đưa ngang làn sóng
Nay thành suối lệ tuôn rơi
Không tin thiếp buồn đứt ruột
Xin [chàng] hãy về mà ngắm trong tấm gương sáng.

Dịch Thơ:

Nhớ nhau hoài II

Mặt trời sắp tắt khói lồng hoa
Buồn thương thao thức ngắm trăng ngà
Triệu sắt vừa nghe cung phượng dứt
Thục cầm đã trỗi phím uyên hoà
Khúc này có ý chẳng ai ca !
Yên Nhiên xin gởi gió xuân ra
Nhớ chàng dằng dặc cách trời xa
Mắt xưa làn sóng gợn
Nay thành suối lệ sa
Không tin lòng thiếp khổ
Xin chàng về ngắm tấm gương nhà !

Chân Trân
16-08-2005, 10:34 PM
Tĩnh dạ tứ


Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.

Dịch Nghĩa:

Đầu giường, ánh trăng rọi sáng,
Tưởng là sương trên mặt đất
Ngẩng đầu ngắm trăng sáng
Cúi đầu nhớ quê cũ

Dịch Thơ:

Cảm nghĩ đêm yên tĩnh

Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.

Bản dịch của Tương Như

-----

Trước giường ngắm ánh trăng sa,
Trắng phơi mặt đất, ngỡ là ánh sương
Ngẩng đầu trông ngắm vầng trăng;
Cúi đầu lại nhớ xóm làng ngày xưa.

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
16-08-2005, 10:35 PM
Tư biên


Khứ niên hà thì lang biệt thiếp
Nam viên lục thảo phi hồ điệp
Kim tuế hà thì thiếp ức quân
Tây sơn bạch tuyết ám Tần vân
Ngọc quan khứ thử tam thiên lý
Dục ký âm thư na khả văn?

Dịch Nghĩa:

Năm trước ,vào mùa nào chàng từ biệt em
Vườn phía nam cỏ xanh mướt, bướm lượn bay..
Năm nay, vào mùa nào em nhớ chàng
Núi Tây tuyết phủ trắng, mây Tần vây quanh
Ải Ngọc quan cách xa ba ngàn dặm
Muốn gửi thư cho chàng nhưng không biết có nhận được chăng?

Dịch Thơ:

Nhớ biên cương

Mùa nào chàng biệt em năm trước
Bướm lượn vườn Nam xanh cỏ mướt
Mùa nào em nhớ chàng năm nay
Mây Tần mờ mịt tuyết non Tây
Ngọc quan cách những ba ngàn dặm
Muốn gửi thư chàng, chàng có hay ?

Chân Trân
16-08-2005, 10:36 PM
Tương tiến tửu


Quân bất kiến
Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi !
Hựu bất kiến
Cao đường minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ti mộ thành tuyết.
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt
Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng,
Thiên kim tán tận hoàn phục lai.
Phanh dương tể ngưu thả vi lạc,
Hội tu nhất ẩm tam bách bôi.
Sầm phu tử!
Đan Khâu sinh.!
Tương tiến tửu,
Bôi mạc đình!
Dữ quân ca nhất khúc,
Thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thính.
Chung cổ soạn ngọc bất túc quý,
Đãn nguyện trường túy bất nguyện tinh
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.
Trần Vương tích thời yến Bình Lạc,
Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước.
Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền,
Kính tu cô thủ đối quân chước.
Ngũ hoa mã,
Thiên kim cừu,
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu,
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.

Dịch Thơ:

Sắp dâng rượu

Há chẳng thấy
Nước sông Hoàng từ trời tuôn xuống
Chảy nhanh ra biển,chẳng quay về,
Lại chẳng thấy
Thềm cao gương soi rầu tóc bạc
Sớm như tơ xanh, chiều tựa tuyết ?
Đời người đắc ý hãy vui tràn,
Chớ để bình vàng suông bóng nguyệt !
Trời sinh thân ta, hẳn có dùng,
Nghìn vàng tiêu hết rồi lại đến.
Mổ dê, giết trâu, cứ vui đi,
Uống liền một mạch ba trăm chén !
Bác Sầm ơi ! Bác Đan ơi !
Sắp mời rượu, chớ có thôi !
Vì nhau tôi xin hát,
Hãy vì tôi hai bác nghe cùng :
"Này cỗ ngọc, nhạc rung, chẳng chuộng,
"Muốn say hoài, chẳng muốn tỉnh chi !
"Thánh hiền tên tuổi bặt đi,
"Chỉ phường thánh rượu tiếng ghi muôn đời !
"Xưa Trần Vương yến nơi Bình Lạc,
"Rượu tiền muôn đùa cợt tha hồ"
Chủ nhân kêu thiếu tiền ru ?
Để cùng dốc chén, ta mua đi nào !
Đây ngựa gấm, đây áo cừu,
Này con, đổi rượu hết,
Cùng nhau ta giết cái sầu nghìn thu !

Chân Trân
16-08-2005, 10:37 PM
Tương tiến tửu


Quân bất kiến
Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi !
Hựu bất kiến
Cao đường minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ti mộ thành tuyết.
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt
Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng,
Thiên kim tán tận hoàn phục lai.
Phanh dương tể ngưu thả vi lạc,
Hội tu nhất ẩm tam bách bôi.
Sầm phu tử!
Đan Khâu sinh.!
Tương tiến tửu,
Bôi mạc đình!
Dữ quân ca nhất khúc,
Thỉnh quân vị ngã khuynh nhĩ thính.
Chung cổ soạn ngọc bất túc quý,
Đãn nguyện trường túy bất nguyện tinh
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.
Trần Vương tích thời yến Bình Lạc,
Đẩu tửu thập thiên tứ hoan hước.
Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền,
Kính tu cô thủ đối quân chước.
Ngũ hoa mã,
Thiên kim cừu,
Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu,
Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.

Dịch Thơ:

Sắp dâng rượu

Há chẳng thấy
Nước sông Hoàng từ trời tuôn xuống
Chảy nhanh ra biển,chẳng quay về,
Lại chẳng thấy
Thềm cao gương soi rầu tóc bạc
Sớm như tơ xanh, chiều tựa tuyết ?
Đời người đắc ý hãy vui tràn,
Chớ để bình vàng suông bóng nguyệt !
Trời sinh thân ta, hẳn có dùng,
Nghìn vàng tiêu hết rồi lại đến.
Mổ dê, giết trâu, cứ vui đi,
Uống liền một mạch ba trăm chén !
Bác Sầm ơi ! Bác Đan ơi !
Sắp mời rượu, chớ có thôi !
Vì nhau tôi xin hát,
Hãy vì tôi hai bác nghe cùng :
"Này cỗ ngọc, nhạc rung, chẳng chuộng,
"Muốn say hoài, chẳng muốn tỉnh chi !
"Thánh hiền tên tuổi bặt đi,
"Chỉ phường thánh rượu tiếng ghi muôn đời !
"Xưa Trần Vương yến nơi Bình Lạc,
"Rượu tiền muôn đùa cợt tha hồ"
Chủ nhân kêu thiếu tiền ru ?
Để cùng dốc chén, ta mua đi nào !
Đây ngựa gấm, đây áo cừu,
Này con, đổi rượu hết,
Cùng nhau ta giết cái sầu nghìn thu !

Chân Trân
16-08-2005, 10:38 PM
Vọng Thiên Môn Sơn


Thiên Môn trung đoạn Sở Giang khai,
Bích thuỷ đông lưu trực bắc hồi,
Lưỡng ngạn thanh sơn tương đối xuất,
Cô phàn nhất phiến nhật biên lai.

Dịch Thơ:

Ngắm Núi Thiên Môn

Thiên Môn ai cắt làm đôi,
Sở Giang phía đó sóng dồi cuộn dâng,
Trong xanh dòng nước xuôi đông,
Rẽ sang bắc chảy xoay dòng tại đây,
Núi xanh vách đứng vươn mây,
Buồm trơ chiếc bóng vươn mây lại gần!

Chân Trân
16-08-2005, 10:38 PM
Việt trung lãm cổ


Việt vương Câu Tiễn phá Ngô qui
Nghĩa sĩ hoàn gia tận cẩm y
Cung nữ như hoa mãn xuân điện
Chỉ kim duy hữu chá cô phi.

Dịch Thơ:

Xem cảnh cũ nước Việt

Phá Ngô, vua Việt khải hoàn,
Chinh phu áo gấm vẻ vang về nhà .
Điện xuân cung nữ như hoa
Giờ đây chỉ có bầy gà rừng bay.

Chân Trân
16-08-2005, 10:39 PM
Văn Vương Xương Linh tả thiên Long Tiêu dao hữu thử ký


Dương hoa lạc tận tử quy đề
Văn đạo Long Tiêu quá Ngũ Khê
Ngã ký sầu tâm dữ minh nguyệt
Tùy quân trực đáo Dạ Lang tê (tây).

Dịch Nghĩa:

Hoa dương liễu rụng hết, tiếng chim cuốc kêu
Nghe nói Long Tiêu ở xa quá miền Ngũ Khê
Ta gửi tấm lòng buồn theo ánh trăng sáng
Theo anh đến thẳng miền tây Dạ Lang.

Dịch Thơ:

Được tin Vương Xương Linh đổi đi Long Tiêu

Liễu tàn hoa rụng quyên kêu
Ngũ Khê cách trở Long Tiêu xa vời
Tâm sầu tôi gửi trăng soi
Theo chân bác tới chân trời Dạ Lang.

Chân Trân
16-08-2005, 10:40 PM
Xuân nhật tuý khởi ngôn chí


Xử thế nhược đại mộng
Hồ vi lao kỳ sinh?
Sở dĩ chung nhật túy
Đồi nhiên ngọa tiền doanh
Giác lai miện đình tiền
Nhất điểu hoa gian minh
Tá vấn thử hà nhật?
Xuân phong ngữ lưu oanh
Cảm chi dục thán tức
Đối chi hoàn tự khuynh
Hạo ca đãi minh nguyệt
Khúc tận dĩ vong tình.

Dịch Thơ:

Ngày xuân say rượu tỉnh dậy nói chí mình

Đời như giấc mộng lớn
Nhọc lòng mà làm chi ?
Suốt ngày say túy lúy
Trước hiên nằm li bì
Tỉnh dậy trông sân trước
Trong hoa chim hót vang
Hôm nay ngày nào nhỉ
Gió đưa tiếng oanh vàng
Cảm xúc ta than thở
Đối cảnh ta nghiêng bình
Hát vang đợi trăng sáng
Hết khúc đã quên tình.

Chân Trân
16-08-2005, 10:41 PM
Xuân nhật độc chước


Xuân phong phiến thục khí
Thủy mộc vinh xuân huy
Bách nhật chiếu lục thảo
Lạc hoa tán thả phi
Cô vân hoàn không sơn
Chúng điểu các dĩ qui
Bỉ vật giai hữu thác
Ngô sinh độc vô y
Đối thử thạch thượng nguyệt
Trường túy ca phương phi.

Dịch Thơ:

Ngày xuân uống rượu một mình

Gió đông khi thổi huyên hòa,
Nước cây tươi đẹp, đậm đà nắng xuân.
Màu hương sắc cỏ đượm nhuần,
Hoa tàn cànhrữa rụng dần bay tung.
Đám mây về núi thung dung,
Chim bay về tổ, đều cùng thảnh thơi.
Vật kia y thác có nơi,
Thân ta riêng chịu cảnh đời lẻ loi.
Ngắm trăn trên đá bồi hồi,
Rượu rồi say tít, hát bài phương phi.

Chân Trân
16-08-2005, 10:41 PM
Xuân tứ


Yên thảo như bích ti
Tần tang đê lục chi
Đương quân hoài quy nhật
Thị thiếp đoạn trường thì
Xuân phong bất tương thức
Hà sự nhập la vi.

Dịch Nghĩa:

Cỏ Yên giống như tơ biếc
Dâu Tần nhánh thấp xanh
Trong lúc chàng đang mong ngày về
Cũng là lúc thiếp buồn đứt ruột
Gió xuân đã chẳng quen biết nhau
Sao còn nhập vào màn lụa

Dịch Thơ:

Ý Xuân

Cỏ Yên như sợi tơ xanh
Dâu Tần xanh ngắt rủ cành xum xuê
Khi chàng tưởng nhớ ngày về
Chính là khi thiếp tái tê nỗi lòng
Gió xuân ai biết chi cùng
Cớ sao len lỏi vào trong màn là.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

-----

Cỏ non xanh biếc vùng Yên
Cành dâu xanh ngả ở bên đất Tần
Lòng em đau đớn muôn phần
Phải chăng là lúc phu quân nhớ nhà
Gió xuân quen biết chi mà
Cớ chi lọt bức màn là tới ai.

Bản dịch của Tản Đà

Chân Trân
16-08-2005, 10:42 PM
Đảo y thiên


Khuê lý giai nhân niên thập dư
Tần nga đối ảnh hận ly cư
Hốt phùng giang thượng xuân qui yến
Hàm đắc vân trung xích tố thư
Ngọc thủ khai giam trường thán tức
Cuồng phu do thú Giao Hà bắc
Vạn lý Giao Hà thủy bắc lưu
Nguyện vi song điểu phiếm trung châu
Quân biên vân ủng thanh ty kỵ
Thiếp xứ đài sinh hồng phấn lâu
Lâu thượng xuân phong nhật tương yết
Thùy năng lãm kính khan sầu phát
Hiểu xuy huân quản tùy lạc hoa
Dạ đảo nhung y hướng minh nguyệt
Minh nguyệt cao cao khắc lậu trường
Trân châu liêm bạc yểm lan đường
Hoành thùy bảo ác đồng tâm kết
Bán phất quỳnh diên tô hợp hương
Quỳnh diên , bảo ác liên chi cẩm
Đăng chúc huỳnh huỳnh chiếu cô tẩm
Hữu sứ bằng tương kim tiễn đao
Vị quân lưu hạ tương tư chẩm
Trích tận đình lan bất kiến quân
Hồng cân thức lệ sinh nhân uân
Minh niên cánh nhược chinh biên tái
Nguyện tác Dương đài nhất đoạn văn.

Dịch Nghĩa:

Người đẹp ở phòng khuê đã hơn mười năm
Đổi bóng chau mày giận phải sống một mình
Bỗng gặp én xuân bay về trên sông
Trong mây ngậm bức thư trên lụa trắng
Tay ngọc mở phong thư miệng thở dài
Anh chồng cuồng còn đi thú ở phía bắc sông Giao
Muôn dặm sông Giao nước chảy về phương Bắc
Nguyện làm đôi chim cùng bay quanh bãi giữa sông
Bên mình chàng mây bao phủ ngựa rủ tơ xanh
Nơi thiếp ở rêu mọc trên lầu son phấn
Gió xuân thổi trên lầu ngày đà sắp hết
Ai lòng nào cầm gương nhìn mái tóc sầu thương
Sớm thổi sáo trúc theo cánh hoa rơi
Đê, giặt áo binh nhung ngẩng nhìn trăng sáng
Trăng sáng cao vời giọt đồng hồ kéo dài
Bức rèm trân châu rủ che kín nhà lan
Rủ ngang màn báu kết giải đồng tâm
Pháng phất trên nửa chiếu quỳnh ngát hương tô hợp
Chiếu ngọc màn báu gấm thêu đôi cánh liền nhau
Đèn nến sáng ngời chiếu chỗ nằm trơ trọi
Nếu có người nhắn tin thiếp sẽ lấy kéo vàng
Vì chàng may để lại chiếc gối tương tư
Hái hết hoa lan trong sân mà chưa thấy chàng
Khăn hồng lau lệ những hoa mờ đôi mắt
Năm sau nếu chàng vẫn lại đi nơi biên tái
Thiếp nguyện làm một đóa mây trôi ở chốn Dương Đài

Dịch Thơ:

Bài ca đập áo

Mười mấy buồng xuân gái liễu thơ
Xa chồng ngắm bóng ủ mây tơ
Chợt trông đầu bến xuân về yến
Xa ngậm tin mây lụa một tờ
Mở thơ não ruột than dài
Chồng ta đóng mãi đóng hoài sông Giao!
Muôn dặm sông Giao nước ngược chiều
Làm đôi chim bãi lượn vòng theo
Chàng bên cương ngựa lồng mây khói
Thiếp bóng lầu son dấu cỏ rêu

Bóng xế trên lầu thoáng gió xuân
Tóc sầu ai dám ngắm gương chăng?
Tiếng tiêu buổi sớm theo hoa rụng
Chiếc áo đêm trường đập bóng trăng

Trăng sáng cao vời, giọt điểm canh
Nhà lan châu ngọc thấp buông mành
Đồng tâm giái kết ngang màn liễu
Tô hợp hương chia nửa chiếu quỳnh

Bằng gấm cành giao chiếu lẫn màn
Giường đơn hiu hắt ngọn đèn tàn!
Có ai trao kéo giùm nhau với
Cắt gối tương tư để nhớ chàng

Lan sân hái sạch thấy chàng đâu!
Nước mắt khăn lau đã ố màu
Ngoài ải năm sau còn đóng nữa
Mây thần xin hiện núi chiêm bao.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Chân Trân
16-08-2005, 10:43 PM
Đề Bắc Tạ bi


Nhất Vi thiên khách khứ Trường Sa
Tây vọng Trường An bất kiến gia
Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch
Giang Thành ngũ nguyệt Lạc mai hoa.

Dịch Nghĩa:

Làm người khách bị đổi ra Trường Sa
Nhìn Trường An ở phía tây không thấy nhà
Trong lầu Hoàng Hạc nghe thổi sáo ngọc
Bài "Hoa mơ rụng" vào tháng năm ở Giang Thành

Dịch Thơ:

Đề bia Bắc Tạ

Làm quan bị đổi đến Trường Sa
Nghoảnh lại Trường An chẳng thấy nhà
Hoàng Hạc lầu cao nghe sáo ngọc
Giang Thành dậy khúc "Lạc mai hoa".

Chân Trân
16-08-2005, 10:44 PM
Đinh đô hộ ca


Vân Dương thướng chính khứ,
Lưỡng ngạn nhiêu thương cổ.
Ngô ngưu suyễn nguyệt thì,*
Đà thuyền nhất hà khổ.
Thủy trọc bất khả ẩm,
Hồ tương bán thành thổ.
Nhất xướng "Đô hộ" ca,
Tâm tồi lệ như vũ.
Vạn nhân tạc bàn thạch,
Vô do đạt giang hử.
Quân khan thạch Mang, Đãng
Yểm lệ bi thiên cổ.

Dịch Thơ:

Bài ca Đinh đô hộ

Đường ngược lên Vân Dương,
Đôi bờ buôn trù mật.
Tiết trâu Ngô thở trăng,
Người kéo thuyền khổ thật.
Nước đục uống không trôi,
Nửa bầu đọng thành đất.
Khúc "Đô hộ" cất lên,
Lệ trào đau thắt ruột.
Muôn người cột vào đá,
Cách gì tới bờ được.
Mang, Đãng kìa nhìn lên,
Muôn thuở buồn lệ nuốt.

Chân Trân
16-08-2005, 10:45 PM
Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài


Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du,
Phượng khứ, đài không, giang tự lưu.
Ngô cung hoa thảo mai u kính,
Tấn đại y quan thành cổ khâu.
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại,
Nhị thuỷ trung phân Bạch Lộ châu,
Tổng vị phù vân năng tế nhật,
Trường An bất kiến sử nhân sầu.

Dịch Thơ:

Lên đài Phượng Hoàng ở Kim Lăng


Đài Phượng Hoàng cao, phượng đến chơi,
Phượng đi, đài vắng, dải sông trôi !
Cung Ngô hoa cỏ che đường lối,
Đời Tấn cân đai hoá núi đồi.
Ba ngọn thanh sơn, trời khuất nửa,
Một vùng Bạch Lộ nước chia đôi.
Chỉ vì mây nổi che vầng nhật,
Chẳng thấy Trường An não dạ người.

Chân Trân
16-08-2005, 10:47 PM
Dala ui, tỷ đã post xong phần thơ của Lý Bạch rồi. Bây giờ nhường lại cho đệ tiếp tục nhé ! --dl--

Chân Trân
16-08-2005, 10:52 PM
Khi phương Tây ái mộ phương Đông :
thơ Lý Bạch trong tâm tư người Âu Mỹ

Trong số các thi hào Trung Quốc, có lẽ Lý Bạch (701-762) đời nhà
Đường là người được các dịch giả Anh-Mỹ chiếu cố đến nhiều nhất. Lý do chính của sự thiên tư này rất có thể là vì thơ họ Lý không mang nặng bản chất uyên bác với nhiều điển tích lòng thòng phức tạp. Thực vậy, “giản dị” và “dễ cảm thông” là hai đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Lý Bạch, theo nhận định của giáo sư James Hargett, hiện dạy văn chương Á châu tại State University of New York.

Trong bài “The Poetry of Li Bo” trong cuốn GREAT LITERATURE OF THE EASTERN WORLD (Ian McGreal hiệu đính, Harper Collins xuất bản năm 1996), Hargett trích bài tuyệt cú “Tĩnh Dạ Tư”, do Arthur Cooper bên Anh Quốc chuyển ngữ năm 1973, chứng minh nhận định ấy:

Sàng tiền khán nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương

Dịch Thơ:

Đầu giường chợt thấy bóng trăng,
Mập mờ trên đất, ngỡ rằng sương sa.
Ngửng đầu trông vẻ gương nga,
Cúi đầu luống những nhớ nhà băn khoăn.

(Bản dịch của Trần Trọng Kim)

*** Bản Dịch Tiếng Anh:

Before my bed there is bright moonlight
So that it seems like frost on the ground:
Lifting my head I watch the bright moon,
Lowering my head I dream that I’m home.

Hai đặc trưng dễ mến ấy cộng thêm những ý niệm cận kề với con tim nhân
loại (như khi cô đơn, ta hiểu thế nào là yên tĩnh; đôi khi ta ân hận đã xa nhà và những người thân yêu; và thế giới đổi thay, tiền tài danh vọng có nghĩa gì đâu, tại sao không tận hưởng ngày xuân nhỉ) đã khiến Hargett và nhiều người khác bên trời Âu-Mỹ mến mộ thơ Lý Bạch.

Giáo sư Stephen Owen hiện dạy văn chương Trung Quốc tại Harvard và đã dịch nhiều thơ Tàu sang Anh ngữ rất chuộng bài “Tương Tiến Tửu ” của họ Lý mà trong đó luận đề “carpe diem” (tương đương với “xuân bất tái lai”) vốn không xa lạ gì với người phương Tây, được ngợi ca tuyệt vời. Trong một tuyển tập đồ sộ các tuyệt tác phẩm văn học hoàn cầu đang được dùng trong nhiều đại học Hoa Kỳ mang danh THE NORTON ANTHOLOGY OF WORLD MASTERPIECES (Volume I, do Maynard Mack hiệu đính, Norton xuất bản năm 1995), Owen đã dịch đoạn đầu của bài thơ theo thể nhạc phủ hào phóng và tráng lệ ấy (“Bring in the Wine”) như sau:

Quân bất kiến
Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi
Quân bất kiến
Cao đường minh kính bi bạch phát
Triêu như thanh ty mộ thành tuyết.
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt ....

Dịch Thơ:

Thấy chăng ai:
Nước sông Hoàng xuống tự trời kia,
Chảy mau ra biển, chẳng quay về.
Thấy chăng ai:
Gương sáng nhà cao, thương tóc bạc,
Sớm tựa tơ xanh, chiều thành tuyết.
Ở đời đắc ý cứ vui chơi,
Chớ để chén vàng trơ dưới nguyệt ...

Bản dịch của Trần Trọng San

Bản Dịch Tiếng Anh:

Look there !
The waters of the Yellow River,
coming down from Heaven,
rush in their flow to the sea,
never turn back again.
Look there !
Bright in the mirrors of mighty halls
a grieving for white hair,
this morning blue-black strands of silk,
now turned to snow with evening.
For satisfaction in this life
taste pleasure to the limit,
And never let a goblet of gold
face the bright moon empty ...

Một bài nhạc phủ nữa rất được phương Tây ngợi ca là bài “Thục Đạo Nan" trong đó Lý Bạch dùng ngôn từ khuếch đại và giọng văn khẩn trương để dựng lên một cảnh trí cực kỳ sinh động khiến người đọc phải choáng váng, theo nhận định của Hargett. Quả thực, trong cảnh trí ấy – với những con đường cheo leo guy hiểm chỉ có chim mới bay qua nổi, đất lở, núi sụp, thác chảy, ban mai phải ánh cọp dữ, buổi chiều phải tránh rắn dài – người đọc không thể không đồng ý với Thi tiên họ Lý rằng:

Y hu hy, nguy hồ, cao tai,
Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên !

Nay xét lại cho kỹ, Lý Bạch chẳng ngoa chút nào, vì con đường từ Trường An
(Changan) kinh đô văn vật đời Đường, nay gọi Tây An (Xian) thuộc tỉnh Thiểm Tây (Shaanxi), sang đất Thục nay là tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), phải vượt dãy núi Tần Lĩnh (Qinling) hiểm trở. Ngày nay muốn vào thủ phủ của Tứ Xuyên là Thành Đô (Chengdu), du khách phải vượt đoạn đường chông gai dài hơn 400 dặm với trên 300 đường hầm xuyên núi và gần 1000 cây cầu cheo leo ! Cô ký giả Shirley Sun trong cuốn JOURNEY INTO CHINA (do National Geographic Society xuất bản năm 1982) đã dịch dùm du khách Tây phương hai câu thơ lẫy lừng nêu trên của Lý Bạch như thế này:

Eheu ! How dangerous, how high !
It would be easier to climb to Heaven
Than walk the Sichuan Road !

Kể từ khi dịch giả Arthur Waley cho ra đời cuốn sách ONE HUNDRED AND
SEVENTY CHINESE POEMS vào năm 1918 tại Luân Đôn, phương tây bắt đầu chú ý đến những đại danh như Lý Bạch, Đỗ Phủ , Mạnh Hạo Nhiên, Bạch Cư Dị. Những bài thơ dịch xuất sắc của Waley đã ảnh hưởng đến một số thi nhân Âu-Mỹ, nhất là hai tên tuổi lớn William Butler Yeats và Ezra Pound. Gần đây hơn, năm 1987, dịch giả Greg Whincup người Gia Nã Đại đã cho ra mắt cuốn THE HEART OF CHINESE POETRY (nhà xuất bản Anchor Books), trong đó có 10 bài thơ Lý Bạch. Trong lời nói đầu của cuốn sách chứa đựng 57 bài thơ dịch, Whincup thiết tha tâm sự : “Thi ca được coi là nữ hoàng của nghệ thuật cổ truyền Trung Hoa, và những thi nhân tài hoa nhất mọi thời đại đều vang rền tên tuổi. Vì chúng ta là thành phần của cùng một nhân loại, văn hóa Trung Hoa cũng là văn hóa chúng ta. Trái tim thi ca Trung Hoa cũng đập trong lòng chúng ta nữa ....”

Người phương Tây muốn học chữ Hán qua thi ca chắc chắn sẽ hài lòng với
cuốn sách của Whincup. Ngoài các bài dịch sang Anh ngữ rất chỉnh, cuốn sách còn cho các bài thơ ấy hiện lên bằng chữ Hán phồn thể, cộng với lối phát âm quan thoại (theo ký hiệu phiên âm của Đại học Yale), và nhất là những lời chú giải khá hấp dẫn của dịch giả. Mười bài thơ họ Lý được Whincup cho vào tuyển tập là các bài “Sơn Trung Vấn Đáp ”, “Tống Hữu Nhân ”, “Tặng Mạnh Hạo Nhiên ”, “Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng ”, “Hoành Giang Từ ”, “Tự Khiển ”, “Tảo Phát Bạch Đế Thành”, “Xuân Tứ ”, “Ngọc Giai Oán ”, và “Thính Thục Tăng Tuấn Đàn Cầm ”.

Theo Whincup, Lý Bạch là người tài hoa trác tuyệt nhất trong các thi nhân Trung Quốc, có thể ví như một thần linh, một động lực của thiên nhiên không chấp nhận một bó buộc nào của nhân sinh mà chỉ thích làm thơ, uống rượu, vui với trăng sao và bè bạn. Whincup đã khéo lựa những bài tuyệt tác của Lý Bạch để minh chứng cho nhận định của mình về thi ca vị thần thơ ấy. Dưới con mắt Whincup, bài ngũ ngôn bát cú “Tống Hữu Nhân ” thực kiệt xuất về cả hình thức lẫn nội dung:

Thanh sơn hoành bắc quách,
Bạch thủy nhiễu đông thành.
Thử địa nhất vi biệt,
Cô bồng vạn lý chinh.
Phù vân du tử ý
Lạc nhật cố nhân tình.
Huy thủ tự tư khứ,
Tiêu tiêu ban mã minh.

Dịch Thơ:

Núi ngang ải bắc xanh xanh,
Một dòng sông trắng lượn quanh đông thành.
Nơi đây cất bước viễn hành,
Cỏ bồng muôn dặm một mình xa xôi.
Ý du tử: đám mây trôi;
Tình cố nhân: ánh nắng chiều vấn vương.
Vẫy tay từ đấy lên đường,
Tiếng con ngựa hý đau thương lìa đàn.

Bản dịch của Trần Trọng San

Bản Dịch Tiếng Anh:

Green mountains
Lie across the northern outskirts
Of the city.
White water
Winds around the eastern
City wall.
Once we make our parting
Here in this place,
Like a solitary tumbleweed
You will go
Ten thousand miles.
Floating clouds
Are the thoughts of the wanderer.
Setting sun
Is the mood of his old friend.
With a wave of the hand
Now you go from here.
Your horse gives a whinny
As it departs.

Chân Trân
16-08-2005, 11:00 PM
Yếu tố cân đối song hành, đăng đối (parallelism), vốn hiếm thấy trong thi ca Tây phương, làm cho bài thơ rực sáng, chẳng hạn mỗi chữ trong câu 1 có một chữ đối ứng hoàn mỹ trong câu 2:

Thanh(Green) // Bạch(White)
Sơn (Mountains) // Thủy (Water)
Hoành (Lie across) // Nhiễu (Winds around)
Bắc (Northern) // Đông (Eastern)
Quách (Outskirts) // Thành (City wall)

Những hình ảnh chất ngất cảm xúc đối ứng nhau trong câu 5 và 6 (Phù vân// Lạc nhật ) chính là trái tim của bài thơ, và hai câu chót dẫn người đọc chơi vơi đến phút chia tay.

Giáo sư Stephen Owen trong cuốn sách AN ANTHOLOGY OF CHINESE LITERATURE: BEGINNING TO 1911 (do chính ông hiệu đính và dịch thuật, Norton xuất bản năm 1996) đã nhận định Lý Bạch như “một nghệ sĩ với những cử chỉ và khoa trương lớn hơn cả đời sống” (a performer whose gestures and claims were larger than life). Những nền văn minh lớn thường được xây dựng trên sự tiết chế của người dân, và do đó, như thể để được đền bù, họ dễ bị thu hút bởi những bậc tài danh đứng ngoài vòng kiềm tỏa của quy ước xã hội. Theo Owen, cái cử chỉ “đứng ngoài vòng” rất ngông ấy của họ Lý, phản ánh trong thơ như một chân dung tự họa, đã khiến thơ Lý Bạch càng thêm hấp dẫn. Điển hình là bài “Nguyệt Hạ Độc Chước” (“Drinking Alone by Moonlight”) mà Owen chuyển ngữ dưới đây:

Hoa gian nhất hồ tửu,
Độc chước vô tương thân.
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Đối ảnh thành tam nhân.
Nguyệt ký bất giải ẩm
Ảnh đồ tùy ngã thân.
Tạm bạn nguyệt tương ảnh,
Hành lạc tu cập xuân.
Ngã ca nguyệt bồi hồi,
Ngã vũ ảnh linh loạn.
Tỉnh thời đồng giao hoan,
Túy hậu các phân tán.
Vĩnh kết vô tình du,
Tương kỳ mạc Vân Hán.

Dịch Thơ:

Trong hoa rượu ngọt một bầu,
Một mình chuốc chén có đâu bạn bè.
Mời trăng cất chén kè nhè,
Thân ta, bóng ấy, trăng kia, ba người.
Trăng thì tiếp rượu không nguôi,
Bóng ta theo mãi không rời thân ta.
Bạn cùng trăng bóng vẩn vơ,
Vui chơi khuây khỏa để chờ ngày xuân.
Ta ca trăng cũng băn khoăn,
Khi ta nhảy múa, bóng lăn lộn hoài.
Cùng nhau khi tỉnh vui cười,
Say rồi nghiêng ngửa, mọi nơi rạc rời.
Vô tình giao kết chơi bời,
Hẹn nhau ở chỗ xa khơi cõi trời.

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Bản Dịch Tiếng Anh:

Here among flowers one flask of wine,
with no close friends, I pour it alone.
I lift cup to bright moon, beg its company,
then facing my shadow, we became three.
The moon has never known how to drink;
my shadow does nothing but follow me.
But with moon and shadow as companions the while,
this joy I find must catch spring while it’s here.
I sing, and the moon just lingers on;
I dance, and my shadow flails wildly.
When still sober we share friendship and pleasure,
then, utterly drunk, each goes his own way –
Let us join to roam beyond human cares
and plan to meet far in the river of stars.

Và rồi sau cùng, cả đến cái chết ôm trăng của Lý Trích Tiên, tuy huyễn hoặc, nhưng cũng nên thơ làm sao trong tâm tư người phương Tây ! Quả vậy, theo lời giáo sư James Hargett, một Lý Bạch lịch sử và một Lý Bạch huyền sử sẽ muôn đời là một, và điều này chỉ làm gia tăng mức hấp dẫn cho vị thi tiên ấy mà thôi.


ĐÀM TRUNG PHÁP
Giáo Sư Ngôn Ngữ Học
Texas Woman’s University

Chân Trân
17-08-2005, 01:02 AM
Dala ơi. Tiếp tục đi. --nn--

Dala
17-08-2005, 01:04 AM
Chị xong Lý Bạch rồi à thế thì em xin tiếp tục đến cụ Thi Thánh Đỗ Phủ

Dala
17-08-2005, 01:15 AM
3. Đỗ Phủ

Đỗ Phủ (712-770) tự là Thiếu Lăng, ông là nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường, cùng với "Thi Tiên" Lý Bạch được phong là "Thi Thánh".

Ông từ nhỏ đã làm thơ, thông minh mẫn tiệp. Sinh ra trong thời Khai Nguyên chi trị (712-742) ông được chứng kiến sự thịnh trị đến rực rỡ của nhà Đường vào những năm Khai Nguyên vua sáng tôi hiền. Chính vì thế, những sáng tác ban đầu của ông mang đầy màu sắc lạc quan, ca ngợi.

Về sau vua Huyền Tông hôn ám, gian thần lộng quyền, Nhà Đường từ những năm Thiên Bảo(743-755) bắt đầu trượt dài trên con đường suy vi. Đã từng đi thi, đã từng chứng kiến cảnh mua quan bán tước, những thối nát của triều đình, đỉnh cao là loạn An Lộc Sơn (755) khiến thiên hạ đói khổ.

Bản thân Đỗ Phủ cũng phải lưu lạc, chịu nhiều khổ sở. Tận mắt nhìn thấy những cuộc đời khổ sở của dân chúng, chết đói vì không có thức ăn đã thế lại còn sưu cao thuế nặng khiến cho cuộc sống họ đã bần cùng lại càng bần cùng hơn. Với những gì đã thấy đã trải qua, những bài thơ nửa đời sau của Đỗ Phủ đã nặng về bi ai, lột trần cái hiện thực của xã hội loạn lạc.

Thơ ông càng về sau càng phê phán nặng nề triều đình đã để cho dân đói khổ, khác hẳn với giọng thơ thời kỳ đầu.

Năm 770 Đỗ Phủ chết đói trên 1 chiếc thuyền nhỏ sau 11 năm lưu lạc sống cơ cực để lại cho đời hơn 3000 bài thơ.

Dala
17-08-2005, 01:16 AM
Ai giang đầu

Thiếu Lăng dã lão thôn sinh khốc
Xuân nhật tiềm hành Khúc Giang khúc
Giang đầu cung điện tỏa thiên môn
Tế liễu tân bồ vị thùy lục?
Ức tích nghê tinh há nam uyển
Uyển trung vạn vật sinh nhan sắc
Chiêu Dương điện lý đệ nhất nhân
Đồng liễn tùy quân tại quân trắc
Liễn tiền tài nhân đới cung tiễn
Bạch mã tước nghiệt hoàng kim lặc
Phiên thân hướng thiên ngưỡng xạ vân
Nhất tiếu chính trụy song phi dực
Minh mâu hạo xỉ kim hà tại?
Huyết ô du hồn quy bất đắc
Thanh Vị đông lưu, Kiếm Các thâm
Khứ trú bỉ thử vô tiêu tức
Nhân sinh hữu tình lệ triêm ức
Giang thủy giang hoa khởi chung cực
Hoàng hôn Hồ kỵ trần mãn thành
Dục vãng thành nam vọng thành bắc.

Dịch Nghĩa
Nỗi đau xót bên sông
Ông già nhà quê Thiếu Lăng (1) nén tiếng khóc nghẹn ngào
Ngày xuân, lẻn đi trên khuỷu sông Khúc Giang (2)
Hàng nghìn cửa cung điện ở bên sông đều im ỉm khóa
Cây liễu xinh, khóm bồ non, vì ai mà xanh tươi?
Nhớ khi xưa, cờ bảy sắc trẩy xuống vườn ngự uyển phía nam
Cảnh vật trong vườn đều tưng bừng tươi thắm
Người bậc nhất trong cung Chiêu Dương (3)
Được ngồi cùng xe với vua, theo hầu bên cạnh vua
Trước xe là các nữ quan đeo cung tên
Ngựa bạch ngậm chặt chiếc hàm thiếc bằng vàng
(Nữ quan) xoay mình, ngước nhìn trời, nhắm bắn lên mây
Một nụ cười đã rơi cả đôi chim đang bay sát cánh
(Người đẹp) mắt trong sáng, răng trắng bóng, bây giờ ở đâu?
Hồn bơ vơ vấy máu không nơi về được
Nước sông Vị trong xanh chảy về đông, hang núi Kiếm Các thăm thẳm
Kẻ đi người ở (4), như thế là tăm hơi vắng bặt
Người đời có tình cảm, lệ chảy ướt ngực
Nước sông và hoa cỏ bên sông há đều đau buồn cùng cực
Dưới bóng hoàng hôn, quân Hồ cưỡi ngựa tung bụi đầy thành
(Khiến mình mê man) định đi tới phía nam thành lại hướng về phía bắc!

Chú thích:
(1) Tức Đỗ Phủ.
(2) Sông Khúc Giang ở phía đông Trường An.
(3) Triệu Phi Yến, người bậc nhất trong cung Chiêu Dương nhà Hán. Đây chỉ Dương Quý Phi.
(4) Ý nói: Dương Quý Phi bị thắt cổ chết ở Mã Ngôi, còn Đường Minh Hoàng chạy vào đất Thục.
</I>
Dịch Thơ
Thương đầu sông

Ông già Thiếu Lăng nghẹn ngào khóc,
Ngày xuân thui thủi khúc sông Khúc.
Bên sông cung điện khóa nơi nơi,
Bồ liễu vì ai khoe thắm lục?
Nhớ thuở bóng cờ xuống vườn nam,
Vườn nam cảnh vật bừng sắc hương!
Trong điện Chiêu Dương người bậc nhất,
Cùng xe ngồi cạnh đức quân vương.
Trước xe thể nữ đeo cung tên,
Ngựa bạch ngậm chiếc nhàm hoàng kim,
Né mình nhìn trời nhằm mấy bắn,
Một nụ cười rơi cả đôi chim.
Mặt ngọc răng ngà vắng bấy lâu,
Máu hoen hồn lạc biết về đâu!
Vị Thủy xuôi đông, Kiếm Các vắng,
Khuất, còn, vắng bặt tăm hơi nhau!
Việc đời nghĩ lại lệ ướt ngực,
Hoa, nước trên sông... đâu cùng cực?
Ngựa Hồ về tối, bụi đầy thành,
Ta muốn về nam, hóa sang bắc!

Bản dịch: Hoàng Tạo và Tương Như

---------------

Thương đầu sông

Lão nhà quê Thiếu Lăng nghẹn khóc,
Lẻn bước bên sông Khúc ngày xuân.
Bên sông điện khóa muôn lần,
Xanh tươi bồ liễu tần ngần nhớ ai?

Xưa cờ quạt tung bay Nam uyển,
Khắp trong vườn hiển hiện sắc hương.
Người xinh nhất điện Chiêu Dương,
Trên xe ngồi cạnh quân vương dịu dàng.

Các thể nữ vai mang cung tiễn,
Ngựa trắng phau ngậm chiếc nhàm vàng,
Nghiêng mình bắn thẳng mây ngàn,
Một cười, chim rớt đôi hàng song song.

Còn đâu nữa răng trong mắt sáng?
Máu hoen hồn phiêu dạt về đâu.
Vị trôi, kẽm Kiếm âm u,
Kẻ đi người ở mịt mù tăm hơi.

Người hữu ý lệ rơi đầm ngực,
Thảm riêng gì dòng nước bóng hoa?
Vó Hồ tung bụi chiều tà,
Nam thành muốn đến, lại qua bắc thành!

Dala
17-08-2005, 01:19 AM
Ai vương tôn

Trường An thành đầu đầu bạch ô
Dạ phi Diên Thu môn thượng hô
Hựu hướng nhân gia trác đại ốc
Ốc để đạt quan tẩu tị Hồ
Kim tiên đoạn chiết cửu mã tử
Cốt nhục bất đắc đồng trì khu
Yêu hạ bảo quyết thanh san hô
Khả liên vương tôn khấp lộ ngung
Vấn chi bất khẳng đạo tính danh
Đãn đạo cùng khổ khất vi nô
Dĩ kinh bách nhật thoán kinh cức
Thân thượng vô hữu hoàn cơ phu
Cao Đế tử tôn tẫn long chuyết
Long chủng tự dữ thường nhân thù
Sài lang tại ấp long tại dã
Vương tôn thiện bảo thiên kim khu
Bất cảm trường ngữ lâm giao cù
Thả vị vương tôn lập tư tu
Tạc dạ đông phong xuy huyết tinh
Đông lai thác đà mãn cựu đô
Sóc phương kiện nhi hảo thân thủ,
Tích hà dũng nhuệ kim hà ngu!
Thiết văn thiên tử dĩ truyền vị,
Thánh đức bắc phục Nam Thiền Vu.
Hoa Môn ly diện thỉnh tuyết sỉ,
Thận vật xuất khẩu tha nhân thư.
Ai tai vương tôn thận vật sơ,
Ngũ Lăng giai khí vô thời vô.

Dịch Nghĩa
Quạ đầu trắng ở đầu thành Trường An
Đêm bay đến kêu trên cửa Diên Thu (1)
Lại mổ rỉa nóc nhà to của người ta
Dưới nhà ấy, các quan lớn đã chạy lánh quân Hồ
Roi vàng quất gãy, chín ngựa (2) đều chết cả
Người ruột thịt cũng không được giong ruổi cùng đi
Tiếp bên lưng đeo chuỗi ngọc báu và san hô xanh
Đáng thương thay, vương tôn khóc ở góc đường
Hỏi sao cũng không chịu xưng tên, kể họ
Chỉ xin làm tôi tớ vì đang khổ sở khốn cùng
Hàng trăm ngày rồi luồn lách gai góc
Da dẻ suốt người không chỗ nào lành
Con cháu Cao Đế (3) đều có tướng mũi cao
Nòi rồng tất phải khác người thường
(Bây giờ) lang sói được ở kinh đô, rồng phải lẩn ở đồng nội (4)
Vương tôn khéo giữ tấm thân nghìn vàng
Nơi ngã ba đường, không dám dông dài trò chuyện
Chỉ vì vương tôn nên dừng lại chốc lát
Đêm qua, gió đông thổi đến những mùi máu tanh hôi
Lạc đà từ phía đông đến nhan nhản đầy kinh đô cũ
Các chiến sĩ phương bắc (5) có thân thể mạnh, chân tay cứng
Xưa sao hăng hái sắc bén, giờ sao ngu đần
Nghe đồn thiên tử đã truyền ngôi (6)
Đức giáo thánh nhân làm cho Nam Thiền Vu (7) ở phía bắc phải cảm phục
Người Hoa Môn (8) rạch mặt (9) xin rửa nhục
Khá cẩn thận giữ miệng, đừng để kẻ khác rình dò
Xót thay! Vương tôn nên giữ gìn, đừng sơ hở
Khí thịnh vượng của Ngũ Lăng lúc nào chẳng có (10)

Chú thích:
(1) Cửa Diên Thu: cửa tây vườn thượng uyển trong cung nhà Đường
(2) Chín ngựa: số ngựa đóng xe của hoàng đế
(3) Cao Đế: tức Hán Cao Tổ. Đây ám chỉ vua Đường
(4) Chỉ Đường Huyền Tông phải lánh vào Thục, Đường Túc Tông phải ở Linh Vũ, còn An Lộc Sơn thì xưng hoàng đế ở Lạc Dương
(5) Chỉ quân Kha Thư Hàn, tướng nhà Đường, phòng thủ Đồng Quan, nhưng bị An Lộc Sơn đánh tan
(6) Huyền Tông truyền ngôi cho Túc Tông, còn mình làm thái thượng hoàng
(7) Nam Thiền Vu phục tùng Hán Quang Vũ Đế. Đây ám chỉ Hồi Ngột thân thiện với Đường Túc Tông
(8) Hoa Môn: chỉ Hồi Ngột
(9) Tục Hung Nô xưa rạch mặt chảy máu để tỏ lòng trung thành
(10) Ý nói nhà Đường còn có khí thế thịnh vượng có thể trung hưng được

Dịch Thơ
Thương vương tôn

Quạ đầu thành lông đầu trắng phớ,
Đêm bay kêu trên cửa Diên Thu.
Lại moi nhà các quan to,
Các quan chạy trốn giặc Hồ lung tung.
Chín ngựa chết, roi đồng đập gẫy,
Bỏ thịt xương, cố chạy lấy mình.
Dưới lưng vòng ngọc xanh xanh,
Góc đường ngồi khóc thương tình vương tôn.
Hỏi tên họ, đâu còn dám nhận,
Chỉ xin cho được phận tôi đòi!
Tháng ròng chui rúc chông gai,
Trên mình da thịt chẳng nơi nào lành.
Con cháu chúa thảy rành cao mũi,
Giống rồng xem khác với người thường.
Rồng thất thế, sói đầy đường,
Liệu mà giữ lấy nghìn vàng tấm thân.
Vì vương tôn dừng chân đứng tạm,
Lối lại qua chuyện dám kề cà!
Gió đưa hơi máu đêm qua,
Sớm nay đô cũ lạc đà nghênh ngang.
Tướng phương bắc rặt phường thao lược,
Nay vì đâu nhụt sức, kém tài?
Trộm nghe vua mới lên ngôi,
Đức đà phục được rợ ngoài Hung Nô.
Rạch da mặt, trả thù xin quyết.
Chớ rỉ răng, người biết không nên!
Vương tôn cố sức giữ gìn,
Năm Lăng trông lại còn bền khí thiêng!

Bản dịch: Nhượng Tống


Đầu thành Trường An quạ trắng đầu,
Đêm bay trên cửa Diên Thu gào,
Lại đến nhà người mổ trên mái,
Dưới mái quan to chạy lánh Hồ!
Roi vàng gãy nát, chín ngựa chết,
Ruột thịt chẳng được cùng ruổi dong.
Ngọc xanh châu báu giắt bên lưng,
Thương nỗi vương tôn khóc vệ đường!
Hỏi tên chẳng nói, chỉ nói khổ,
Xin làm đày tớ cơn khốn cùng.
Đã qua trăm ngày rúc gai cỏ,
Mình không một chỗ da liền trơn.
Con chàu nhà vua đều mũi lộ
Giống rồng có khác với người thường.
Muông sói ở thành, rồng ở nội,
Vương tôn khéo giữ thân ngàn vàng!
Gặp giữa đường quan dám rỉ hơi,
Dừng với vương tôn chốc lát thôi.
Đêm qua gió đông thổi máu tanh,
Lạc đà tràn ngập kinh xưa rồi!
Phía bắc quân kia hình vạm vỡ,
Xưa sao dõng dạc, giờ sao tồi?
Trộm nghe nhà vua đã truyền vị,
Thuyền Vu đã chịu phục oai trời.
Hoa Môn rạch mặt thề rửa nhục,
Chớ hở môi ra chết với người!
Ơi hỡi vương tôn kín giữ lời!
Ngũ Lăng khí thiêng còn đời đời.

Bản dịch: Khương Hữu Dụng

Chân Trân
17-08-2005, 03:39 AM
Giới thiệu về nhà thơ Đỗ Phủ


Nếu Lý Bạch được người đời gọi là Thi Tiên thì Đỗ Phủ được gọi là Thi Thánh - vị Thánh trong làng thơ. Gọi là Thánh không chỉ vì tâm hồn cao đẹp mà còn vì nghệ thuật thơ ca bậc thầy của ông. Nhà thơ Nguyễn Du của chúng ta khi đi sứ Trung Quốc có đến viếng mộ ông và viết mấy câu thơ:

Thiên cổ văn chương thiên cổ sư
Bình sinh bội phục bất thường li.

Dịch Thơ:

Nghìn thưở văn chương đúng bậc thầy
Trọn đời khâm phục dám đơn sai.

Đỗ Phủ sinh năm 712 mất năm 770, người huyện Củng tỉnh Hà Nam, xuất thân trong một gia đình Nho học, làm quan suốt mấy đời, nhưng đến đời ông thì sa sút nghiêm trọng. Ông lại sống trọn vẹn trong hoàn cảnh loạn ly (loạn An Sử), ngược xuôi chạy loạn, gia đình ly tán, con chết đói... Và rồi ông cũng chết thảm thương vì đói và bệnh tật trong một chiếc thuyền rách nát trên sông Tương nơi đất khách quê người.

Thơ của Đỗ Phủ thấm máu và nước mắt của nhân dân trong thời buổi loạn ly. Nếu trong thơ Lý Bạch có dòng sông hát ca, chim muông ríu rít, vầng trăng duyên dáng thì trong thơ Đỗ Phủ dòng sông nức nở, vầng trăng thổn thức và chim muông, cỏ cây câm lặng, úa vàng.

Người đời gọi thơ ông là một tập Thi sử (một bộ sử viết bằng thơ). Men theo năm tháng của các bài thơ ra đời, chúng ta có thể thấy được những nét chính của đời sống chính trị, xã hội đời Đường trước và sau loạn An Sử. Trước loạn An Sử (755 - 763) hai hiện tượng xã hội nổi bật là thói ăn chơi xa hoa, dâm dât của vua quan và chiến tranh bành trướng xâm lược. Nhà thơ lớn của nhân dân đã cùng nhịp thở với trăm họ, đứng ở vị trí của những nạn nhân mà nói lên niềm uẩn ức không kìm nén được. "Lệ nhân hành" miêu tả cảnh yến tiệc linh đình của chị em Dương Quý Phi cùng với các vương tôn công tử bên bờ sông. Đũa làm bằng sừng tê ngưu. Thức ăn là bướu lạc đà. Kèn sáo vang động cả quỷ thần mà họ không buồn nghe, thức ăn quý do bếp nhà vua dâng họ không buồn gắp. Giọng thơ đều đều như khách quan mà không giấu được uẩn ức.

"Từ kinh đô về huyện Phụng Tiên" (Tự kinh đô phó Phụng Tiên) làm vào năm 755, năm đó An Lộc Sơn đã khởi loạn nhưng chưa vào đến Trường An, cũng là năm đói kém, người chết như rạ. Nhưng Đường Minh Hoàng vẫn cùng Dương Quý Phi yến ẩm ở Ly Sơn. Đỗ Phủ vừa nhậm chức (một chức quan nhỏ, coi kho vũ khí). Trên đường về thăm nhà, mục kích cảnh tượng xa hoa, dâm dật của vua quan, ông làm một mạch 100 câu thơ gồm 500 chữ, tuôn chảy theo nỗi lòng uẩn ức bấy nay. Trong đó có những câu nổi tiếng được người đời truyền tụng:

Chu môn tửu nhục xú
Lộ hữu đống tử cốt
Vinh khô chỉ xích dị
Trù trướng nan tái thuật.

Dịch Thơ:

Cửa son rượu thịt ôi
Ngoài đường đầy xác chết
Sướng khổ cách gang tấc
Quặn lòng không nói được.

Đất nước điêu linh, nhân dân cơ cực, nhưng triều đình vẫn liên tục phát động chiến tranh, mở mang bờ cõi. Đỗ Phủ đã đứng về phía những người dân bị bắt phu bắt lính, kịch liệt lên án chiến tranh bành trướng xâm lược. "Binh xa hành" (Bài ca xuất trận) phản ảnh tâm trạng của người ra đi và người tiễn đưa thật ảm đạm. Họ chỉ là con thiêu thân phục vụ tham vọng chinh phục nước Nam Chiếu (vùng Vân Nam bây giờ) để mở rộng biên cương. Nhà thơ còn làm các bài "Tiền xuất tái", "Hậu xuất tái" (Xuất tái là ra cửa ải) châm biếm bọn tướng tá lấy việc chinh phạt để tiến thân. Ông lên tiếng chất vấn nhà vua:

Mỗi nước có biên thuỳ
Chỉ cần chặn xâm lược
Tàn sát để làm chi?

Sự xa hoa, dâm dật, bỏ mặc chính sự cùng với việc động binh liên tục đã dẫn đến sự rối loạn của nhà Đường. Loạn An Sử nổ ra, triều đình phải mất 8 năm mới dẹp yên được. Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, điêu đứng. Hai hiện tượng nổi bật trong những năm tháng loạn ly này là cảnh bắt lính, bắt phu và cảnh chia ly thê thảm. Chùm thơ "Tam lại" (ba bài nói về cảnh nha lại bắt lính, bắt phu ở Đồng Quan, Tân An và Thạch Hào). Tam biệt (ba bài nói về cảnh ly biệt giữa đôi vợ chồng già giữa đôi vợ chồng trẻ và giữa một người lính già với ngôi nhà bị phá rụi: Thuỳ lão biệt, Tân hôn biệt, Vô gia biệt). Bài "Nha lại bắt lính ở Thạch Hào" (Thạch Hào lại) đã vẽ nên một cảnh tượng điển hình: Nha lại chờ lúc mọi người ngủ say để xông vào nhà bắt lính. Cả gia đình (mà nhà thơ ngủ nhờ trên đường về nhậm chức ở Hoa Châu thăm vợ nơi tản cư) có ba con trai đều ra trận, hai đứa đã chết; trong nhà chỉ còn hai ông bà già và một cô con dâu với đứa bé còn bú trên tay. Thế mà Nha lại vẫn đòi người, ông già phải vượt tường trốn và bà già phải đi thay để nấu cơm cho quân sĩ. Nhà thơ tự nén mình trước tiếng khóc uẩn ức của xóm làng khi bọn Nha lại kéo đi, đêm đen lại trùm lên xóm làng hoang vắng. Bài "Tân hôn biệt" (Cuộc chia ly của đôi vợ chồng trẻ mới cưới) mô tả cảnh tượng thê thảm của người vợ trẻ:

Cưới chiều hôm, vắng sớm mai
Duyên đâu lật đật cho người dở dang.

"Tam lại", "Tam biệt" là chùm thơ nổi tiếng của Đỗ Phủ. Gọi thơ ông là Thi sử bởi vì cái ấn tượng binh đao khói lửa nội chiến mà thơ ông gieo vào lòng người còn sâu sắc gấp trăm lần các bộ sách viết về thời này.

Nhưng Đỗ Phủ không hề "viết sử" một cách khách quan. Ông đã đứng hẳn về phía "dân đen", coi nỗi đau của họ như nỗi đau của chính mình, ước mong san sẻ gánh năng cơm áo và dằn vặt tâm linh với họ. Tư tưởng nhân đạo của Đỗ Phủ là đỉnh cao của chủ nghĩa nhân đạo dưới thời phong kiến. Một nhà nho suốt đời long đong lận đận nhưng luôn quan tâm đến vận nước, mà quan tâm đến vận nước cốt để giảm nhẹ gánh nặng cơm áo và sự dằn vặt tâm linh của người dân bình thường. Bài "Mao ốc vi thu phong sở phá ca" (Túp lều tranh bị gió cuốn sập) thể hiện rõ nhân cách của ông. Trên đường chạy loạn, nhờ người bạn giúp đỡ ông dựng được túp lều tranh, nhưng rồi bị gió phá sập. Trong cảnh màn trời chiếu đất ông đau đớn cho thân phận riêng và không quên nghĩ đến những "hàn sĩ" như mình. Ông có ước mơ thật cao cả:

Ước gì có được ngôi nhà vạn gian
Che cho kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ, ai nấy đều hân hoan.

Ước mơ cũng được thể hiện trong bài "Hựu trình Ngô lang" (Lại nhắn người họ Ngô). Cũng trên đường chạy loạn, ông thuê được một căn nhà nhỏ. Trong vườn có cây táo, hằng ngày bà lão hàng xóm thường chui qua hàng rào nhặt táo rụng cầm hơi. Ra đi, ông nhắn người chủ mới chớ có rào kín mảnh vườn, để bà lão kia còn có thể sống qua ngày. Ước mơ thật tội nghiệp, nhưng cũng thật vĩ đại. Cuối cùng ông còn rút ra được bài học: ăn trộm là do nghèo đói, nghèo đói là do thuế khoá, chiến tranh.

Chung quy, Đỗ Phủ đã cùng nhịp thở với nhân dân của mình trước vận nước và trong cảnh đói nghèo, loạn ly. Ông viết về mọi đề tài. Nhưng hầu như không có đề tài nào thoát ly thời cuộc. "Đỗ Phủ là nhà thơ chính trị vĩ đại nhất trong lịch sử văn học Trung Quốc" (Lịch sử văn học Trung Quốc - Viện Khoa học Trung Quốc 1988).

Khác với Lý Bạch - nhà thơ lãng mạn, ngòi bút Đỗ Phủ luôn bám sát đời sống, hay nói như Lương Khả Siêu, ông là nhà thơ "tả thực chi tiết". Ông lại đặc biệt chú trọng ngôn từ thơ ca, chủ trương "ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu" (lời thơ không làm người ta kinh hoàng thì chết không nhắm mắt). Do vậy thơ ông gieo vào lòng người đọc ấn tượng sâu sắc về cuộc sống, về nỗi cơ cực của nhân dân, về số phận "gian nan khổ hận" cùng cảnh ngộ với "dân đen" của chính ông. Đặc biệt Đỗ Phủ có nhiều bài luật thi rất chuẩn mực, chính tỏ sự tu dưỡng về thơ rất uyên thâm của Thi Thánh.

Ảnh hưởng của Đỗ Phủ đến đời sau rất sâu sắc. Đó là ảnh hưởng về nhân cách, luôn luôn đồng cam cộng khổ với nhân dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Đó còn là ảnh hưởng về con đường sáng tác thơ ca: thành công của nhà thơ tùy thuộc vào vốn sống của nhà thơ, vào độ chính trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực. Đó còn là tài năng thơ ca, một tài năng siêu việt được Nguyễn Du tôn làm bậc thầy của văn chương muôn thuở

Chân Trân
17-08-2005, 03:48 AM
Dala ui, tỷ tiếp dùm đệ một số bài được không ?

Chân Trân
17-08-2005, 03:49 AM
Ức đệ kỳ I


Táng loạn văn ngô đệ
Cơ hàn bạng Tế Châu
Nhân hi thư bất đáo
Binh tại kiến hà do ?
ức tạc cuồng thôi tẩu
Vô thì bệnh khứ ưu
Tức kim thiên chủng hận
Duy cộng thuỷ đông lưu

Dịch Nghĩa:

Nhớ em

Thời buổi loạn lạc,nghe tin em
Đói rét nương náu ở châu Tế
Vắng người thư không đến nơi
Còn giặc biết làm sao gặp nhau ?
Nhớ xưa cuống cuồng giục chạy
Không lúc nào biết ốm đau và lo lắng
Hiện nay hàng nghìn mối hận
Phó mặc cùng dòng nước chảy về đông

Dịch Thơ:

Nhớ em

Loạn ly nghe được tin em,
Mặc dầu đói khát vẫn yên nước Tề,
Người thưa thớt, thư về không tới;
Buổi binh đao khó nói tương phùng.
Nhớ ngày chạy loạn khổ chung,
Lo âu, đau ốm, khốn cùng khó an!
Lòng còn nặng muôn ngàn mối hận;
Phó dòng sông chảy tận phương đông ...

(Bản dịch của Chi Điền)

Loạn lạc nghe tin chú
Cơ hàn náu Tế Châu
Vắng người thư chẳng tới
Còn giặc,gặp nơi đâu ?
Nhớ thuở xưa cuồng chạy
Đau thôi lại thảm sầu
Bây giờ muôn hối hận
Phó mặc nước xuôi mau

(Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu)

Chân Trân
17-08-2005, 03:50 AM
Ức đệ kỳ II


Thả hỉ Hà Nam định
Bất vấn nghiệp thành vi
Bách chiến kim thuỳ tại ?
Tam niên vọng nhữ quy
Cố hương hoa tự phát
Xuân nhật điểu hoàn phi
Đoạn tuyệt nhân yên cửu
Đông tây tiêu tức hi

Dịch Nghĩa:

Nhớ em

Hãy mừng Hà Nam đã yên
Không hỏi đến vòng vây Nghiệp Thành
Qua trăm trận nay còn lại ai ?
Ba năm trông ngóng em về
Vườn cũ hoa tự nở
Ngày xuân chim vẫn bay
Khói bếp nhà ai đã tắt ngấm lâu rồi
Đông tây tin tức thưa thớt

Dịch Thơ:

Hà Nam mừng hết giặc
Thành Nghiệp giặc đang vây
Trăm trận còn ai đó ?
Ba năm nhớ chú đây
Vườn xưa hoa nụ nở
Xuân thắm cánh chim bay
Khói bếp nhà ai tắt
Vắng tin đông lẫn tây

Chân Trân
17-08-2005, 03:54 AM
Bát trận đồ

Công cái tam phân quốc
Danh thành Bát trận đồ
Giang lưu thạch bất chuyển
Di hận thất thôn Ngô

Dịch Nghĩa:

Công lớn trùm khắp, nước chia làm ba
Nổi danh trận đồ Bát quái
Nước sông cứ chảy đá không lay chuyển
Để lại hận đă thất kế thôn tính Ngô

Dịch Thơ:

Bát Trận Đồ

Vơ công trùm lợp thời Tam Quốc
Danh tiếng làm nên Bát trận đồ
Đá vẫn nằm trơ dòng nước chảy
Hận còn để măi lỡ thôn Ngô

Bản dịch của Trần Trọng San

Tam phân quốc công cao tột bực
Bát trận đồ danh nức muôn đời
Nước trôi đá vẫn không dời
Ngậm ngùi nỗi chẳng nghe lời đánh Ngô

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Chú thích:
-Bát trận đồ: do Khổng Minh thời Tam quốc dựng thành, ở huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên. Tướng Ngô là Lục Tốn bị quân Thục vây hăm tại đây, nhưng nhờ được nhạc phụ của Khổng Minh là Hoàng Thừa Nghiện chỉ đường nên ra thoát được
-Tam phân quốc: Khổng Minh chưa ra khỏi nhà đă biết thiên hạ thế chia làm ba, Thục Ngô Ngụy
-Thôn Ngô: Lưu Bị đánh Đông Ngô để trả thù cho Quan Vân Trường, bị thua to về tay Lục Tốn.

Chân Trân
17-08-2005, 03:55 AM
Bạc mộ


Giang thuỷ trường lưu địa
Sơn vân bạc mộ thì
Hàn hoa ẩn loạn thảo
Túc điểu trạch lâm chi
Cựu quốc kiến hà nhật ?
Cao thu tâm khổ bi !
Nhân sinh bất tái hảo
Mấn phát tự thành ty

Dịch Nghĩa:

Chiều hôm

Nơi này nước sông chảy hoài
Vào lúc chiều hôm nhuộm màu mây núi
Hoa lạnh lẽo nấp trong đám cỏ rối
Chim ngủ đêm chọn cành rậm
Ngày nào thấy lại đất nước cũ ?
Trời thu lồng lộng khiến lòng càng buồn !
Một đời người không gặp dịp tốt hai lần
Mái tóc mấy chốc mà thành tơ bạc !

Dịch Thơ:

Nơi nước sông tuôn đổ
Chiều mây núi nhuộm màu
Hoa vàng xen cỏ rối
Chim tối chọn cành sâu
Nước cũ bao giờ thấy ?
Thu cao tấc dạ sầu !
Dịp may đời hoạ hiếm
Mấy chốc bạc phơ đầu

Chân Trân
17-08-2005, 03:56 AM
Bất kiến


Bất kiến Lý sinh cửu,
Dương cuồng chân khả ai.
Thế nhân giai dục sát,
Ngô ý độc lân tài.
Mẫn tiệp thi thiên thủ,
Phiêu linh tửu nhất bôi.
Khuông sơn độc thu xứ,
Ðầu bạch hảo qui lai.

Dịch Nghĩa:

Không gặp

Ðã lâu không gặp bạn Lý sinh.
Bạn phải giả đò điên cuồng, thực đáng thương xót.
Trong lúc người đời đều muốn bạn phải chết,
chỉ riêng tôi có ý muốn tiếc tài .
Bạn làm thơ rất mau lẹ, có lẽ đến ngàn bài
Bây giờ đang phải nổi trôi , lưu lạc với một chén rượu.
Núi Khuông Lư là nơi bạn từng đọc sách khi xưa
Đầu bạc rồi, bạn hãy trở về nơi đó .

Dịch Thơ:

Không gặp

Lâu rồi không gặp Lý sinh ,
Giả điên vờ dại , cho mình xót ai .
Giết đi là ý người đời ,
Ngậm ngùi riêng chỉ mình tôi mến tài .
Lẹ mau thơ viết ngàn bài ;
Bây giờ một chén nổi trôi bụi trần .
Nơi xưa đọc sách Khuông Sơn ,
Mái đầu bạc trắng , cố nhân hãy về !

Chân Trân
17-08-2005, 03:57 AM
Bồi giang phiếm chu tống Vi Ban quy kinh


Truy tiễn đồng chu nhật
Thương xuân nhất thủy gian
Phiêu linh vi cửu khách
Suy lão tiển quân hoàn
Hoa tạp trùng trùng thụ
Vân khinh xứ xứ san
Thiên nhai cố nhân thiểu
Cánh ích mấn mao ban

Dịch Nghĩa:

Một buổi trên thuyền tiễn đưa nhau
Thương cảnh xuân, chung một dòng nước
Đã bao lâu, thân khách lênh đênh
Cảnh già yếu, lại mừng gặp anh trở lại
Màu hoa sặc sỡ chen lẫn lớp cây trùng điệp
Mây lơ lửng trên đỉnh núi khắp nơi
Bên giời hiếm bạn cũ
Mái tóc càng bạc phơ

Dịch Thơ:

Sông Bồi dong thuyền đưa Vi Ban về kinh

Cuộc đưa tiễn thuyền cùng một buổi,
Lòng thương xuân theo với nước xuân sầu.
Kiếp lênh đênh thân khách đã bao lâu,
Cảnh suy lão lại mừng nhau về chốn cũ.
Cây từng lớp màu hoa xem sặc sỡ
Khắp ngàn non tua tủa đám mây đưa
Bên giời người cũ lơ thơ
Buồn thêm tóc mái phất phơ điểm màu

Chân Trân
17-08-2005, 03:58 AM
Bi Thanh Bản


Ngã quân Thanh Bản tại đông môn
Thiên hàn ấm mã Thái Bạch quật
Hoàng đầu Hề nhi nhật hướng tây
Sổ kỵ loan cung cảm trì đột
Sơn tuyết, hà băng dã tiêu sắt
Thanh thị phong yên, bạch thị cốt
Yên đắt phụ thư dữ ngã quân
Nhẫn đãi minh xuân, mạc thảng thốt.

Dịch Nghĩa:

Quân ta đóng ở cửa đông Thanh Bản
Trời rét căm căm, ngựa uống suối Thái Bạch
Bọn mọi Hề trong bộ lạc "đầu vàng" (thế xuống như) mặt trời phía tây.
Chỉ có vài tên kỵ binh mà cũng giương cung xông tới.
Núi, tuyết, sông băng, cánh đồng xơ xác.
Chỗ xanh là khói, chỗ trắng là xương khô.
Ước gì gửi được thư cho quân ta,
(Khuyên hãy) kiên nhẫn đợi sang xuân, chớ nóng vội.
--------------------------
Thanh Bản: Nơi tướng Phùng Quán đóng quân chống An Lộc Sơn.

Dịch Thơ:

Thương trận Thanh Bản

Cửa đông Thanh Bản quân ta trú
Lạnh trời cho ngựa uống hồ núi
Bóng xế, vài tên lính kỵ Hề,
Vẫn dám giương cung, ngựa xông tới.
Núi tuyết, sông băng, đồng hắt hiu,
Trắng ấy xương mà xanh ấy khói.
Ước gì thư đến được quân ta:
Cố đợi ra năm đừng nóng vội!

Chân Trân
17-08-2005, 03:59 AM
Biệt Phòng thái uý mộ


Tha hương phục hành dịch
Trú mã biệt cô phần
Cận lệ vô can thổ
Đê không hữu đoạn vân
Đối kỳ bồi Tạ Truyện
Bả kiếm mịch Từ Quân
Duy kiến lâm hoa lạc
Oanh đề tống khách văn

Dịch Nghĩa:

Từ giã mộ Phòng thái uý

Ta đi công cán nơi quê người
Dừng ngựa giã từ nấm mồ lẻ loi
Gần nước mắt,không có đất khô ráo
Dưới vòm trời có những đám mây rời rạc
Đánh cờ với Tạ Truyện
Mang gươm tìm Từ Quân
Chỉ thấy hoa rừng rụng
Nghe oanh hót tiễn đưa người

Dịch Thơ:

Lại ra miền đất khách
Dừng ngựa giã cô phần
Mây ủ dăng trời thấp
Đất hoen ướt lệ gần
Đánh cờ hầu Tạ Truyện
Mang kiếm viếng Tạ Quân
Chỉ thấy hoa rừng rụng
Con oanh hót tiễn chân

Chân Trân
17-08-2005, 04:00 AM
Binh xa hành


Xa lân lân,
Mã tiêu tiêu,
Hành nhân cung tiễn các tại yêu.
Gia nương thê tử tẩu tương tống,
Trần ai bất kiến Hàm Dương kiều.
Khiên y đốn túc lạn đạo khốc,
Khốc thanh trực thướng can vân tiêu.
Đạo bàng quá giả vấn hành nhân,
Hành nhân đãn vân : điểm hành tần.
Hoặc tòng thập ngũ bắc phòng Hà,
Tiện chí tứ thập tây doanh điền.
Khứ thời lý chánh dữ khỏa đầu,
Qui lai đầu bạch hoàn thú biên.
Biên đình lưu huyết thành hải thuỷ,
Vũ Hoàng khai biên ý vị dĩ.
Quân bất văn : Hán gia sơn đông nhị bách châu,
Thiên thôn vạn lạc sinh kinh kỷ ?
Túng hữu kiện phụ bả sừ lê,
Hoà sinh lũng mẫu vô đông tê.
Huống phục Tần binh nại khổ chiến,
Bị khu bất dị khuyển dữ kê !
Trưởng giả tuy hữu vấn,
Dịch phu cảm thân hận !
Thả như kim niên đông,
Vị hưu Quan Tây tốt.
Huyện quan cấp sách tô,
Tô thuế tòng hà xuất ?
Tín tri sinh nam ác,
Phản thị sinh nữ hảo.
Sinh nữ do đắc giá tị lân,
Sinh nam mai một tùy bách thảo.
Quân bất kiến Thanh Hải đầu,
Cổ lai bạch cốt vô nhân thu ?
Tân quỷ phiền oan, cựu quỷ khốc,
Thiên âm vũ thấp, thanh thu thu.

Dịch Thơ:

Binh xa hành

Xe rầm rầm,
Ngựa hí râng,
Người đi cung tên đeo bên lưng.
Cha mẹ, vợ con chạy theo tiễn,
Bụi mù chẳng thấy cầu Hàm Dương.
Níu áo giậm chân, chặn đường khóc,
Tiếng khóc xông lên thẳng chín tầng.
Khách qua đường thấy, hỏi người đi,
Người rằng : "Bắt đi những mấy kỳ.
Lấy từ mười lăm giữ Hoàng Hà,
Cho đến bốn mươi ra khẩn điền.
Lúc đi ông lý quấn chỏm cho,
Trở về đầu bạc lại đi liền.
Ngoài biên máu chảy thành biển đỏ,
Mở cõi nhà vua ý chưa bỏ.
Há chẳng nghe nhà Hán, Sơn Đông hai trăm châu,
Ngàn thôn muôn xóm ùn gai cỏ.
Ví có đàn bà khoẻ cuốc cày,
Lúa mọc tràn lan khắp bốn bề.
Huống nữa quân Tần quen khổ chiến,
Khác chi gà chó bị lùa đi.
Thương tình, dù ông hỏi,
Nỗi hờn đâu dám nói,
Và mùa đông năm nay,
Lính Quan Tây chưa nghỉ.
Nhà vua bức đòi tô,
Chạy đâu ra tô thuế ?
Mới biết sinh con trai,
Chẳng bằng sinh con gái.
Sinh con gái còn được gả gần nhà,
Sinh con trai lấp vùi theo cỏ dại !
Há chẳng thấy miền Thanh Hải kia sao ?
Xưa nay xương trắng ai nhặt đâu !
Ma mới kêu oan, ma cũ khóc,
Trời âm mưa thấm, tiếng hu hu

(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Chân Trân
17-08-2005, 04:05 AM
Dala, tỷ vừa post một ít bài thơ của Đỗ Phủ giúp đệ đấy ! Nếu còn nữa thì tiếp tục nhé ! Còn không thì để đó cho tỷ --dl--

Dala
17-08-2005, 06:01 PM
Cám ơn SƯ Tỷ quá, Tỷ với đệ hợp sức Post nhé... tỷ ngày xưa chắc giỏi VĂN lắm... nhìn người là biết...

Chân Trân
17-08-2005, 09:31 PM
Cám ơn SƯ Tỷ quá, Tỷ với đệ hợp sức Post nhé... tỷ ngày xưa chắc giỏi VĂN lắm... nhìn người là biết...
Hi...hi...cũng thường thường bậc trung thôi à. Nhìn người là biết.....sư tử huh ? --dl-- !`_

Chân Trân
17-08-2005, 09:32 PM
Các dạ


Tuế mộ âm dương thôi đoản cảnh
Thiên nhai sương tuyết tế hàn tiêu
Ngũ canh cổ giác thanh bi tráng
Tam hiệp tinh hà ảnh động diêu
Dã khốc kỷ gia văn chiến phạt
Di ca sổ xứ khởi ngư tiều
Ngọa long dược mã chung hoàng thổ
Nhân sự âm thư mạn tịch liêu

Dịch Nghĩa:

Trong ngày tháng cuối năm, thời gian giục giã qua mau. Giữa khi sương tuyết ở bên trời, đêm ngừng giá lạnh. Tiếng trống và tù và nổi lên nghe bi ai, hùng tráng vào lúc canh năm. Bóng những vì sao và sông Ngân lay động trong miền Tam Hiệp.

Biết bao nhà vang tiếng chiến chinh trong tiếng khóc đồng quê. Trong khi ở một vài nơi, nổi lên điệu hát của người đánh cá, kiếm củi trong tiếng ca mọi rợ.

Rồng nằm, ngựa nhảy cuối cùng đều thành đất vàng. Việc đời và thư tín thảy đều vắng vẻ, yên tịnh.
------------------------------------------
Đỗ Phủ làm bài này vào mùa đông năm 766, khi ở Quỳ Châu.

Dịch Thơ:

Đêm tối trên gác

Năm tàn ngày tháng dục qua mau,
Biên cảnh sương pha tuyết dãi dầu.
Kèn trống bi hùng thôi thúc sáng,
Tinh hà dao động cõi Tam Châu.
Nhà nhà than khóc hờn chinh chiến!
Đây đó hò ca mấy chú tiều.
Danh tướng mưu thần ba tất đất,
Việc đời, thư tín thảy buồn thiu!

Chân Trân
17-08-2005, 09:34 PM
Cửu khách


Cơ lữ tri giao thái
Yêm lưu kiến tục tình
Suy nhan liêu tự thẩn
Tiểu lại tối tương khinh
Khứ quốc ai Vương Xán
Thương thì khốc Giả Sinh
Hồ ly hà túc đạo
Sài hổ chính tung hoành

Dịch Nghĩa:

Ở đất khách lâu dài

Sống gửi nằm nhờ mới biết tình nghĩa bạn bè
ở lâu dài mới thấy rõ thói đời
Tự cười mình vẻ mặt nhăn nheo già cỗi
Tên lại nhỏ mà khinh người thái quá
Vương Xán đau buồn bỏ nước ra đi
Giả Nghị khóc thương cho thời thế
Lũ chồn cáo đâu đáng nói đến
Hạng sói cọp đang lúc nghênh ngang

Dịch Thơ:

Sống gửi hay tình bạn
ở lâu biết thói đời
Mặt già riêng nửa dáng
Lại nhỏ cũng khing người
Vương Xán buồn xa nước
Giả Sinh khóc tiếc thời
Cáo chồn đâu đáng kể
Sói cọp vẫy vùng chơi !

Chân Trân
17-08-2005, 09:35 PM
Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang


Lão khứ, bi thu cưỡng tự khoan
Hứng lai kim nhật tận quân hoan
Tu tương đoản phát hoàn xuy mạo
Tiếu thảnh bành nhân vị chỉnh quan
Lam thủy viễn tòng thiên giản lạc
Ngọc sơn cao tịnh lưỡng phong hàn
Minh niên thử hội tri thùy kiện
Túy bả thù du tử tế khan

Dịch Nghĩa:

Về già, buồn cảnh thu, gượng gạo cho khuây khỏa.
Hôm nay nhân lúc cao hứng, cùng bác mua vui thật ra trò.
Tóc ngắn ngủn, những thẹn bị gió thổi bay mũ (1)
Cười mình đến phải nhờ người bên cạnh sửa hộ mũ cho chỉnh tề (2).
Dòng Lam thủy từ ngàn suối xa xa đổ lại.
Ngọc sơn vòi vọi cũng lạnh như hai ngọn núi cao.
Sang năm, gặp tiết này, biết ai còn mạnh khoẻ.
Sẽ uống say, rồi cái nhánh thù du điểm kỹ nhau xem.
--------------------------------
(1) Do điển Mạnh gia đời Tần, nhân tiết trùng cửu (9 tháng 9), chơi núi Long Sơn, bị gió thổi rơi mũ, thành một đề tài để Tôn Thịnh làm bài văn trào lộng.
(2) Cũng do điển Mạnh gia rơi mũ, phải nhờ người bên cạnh là Hoàn Ôn sửa mũ lại cho.

Dịch Thơ:

Ngày trùng cửu ở nhà họ Thôi huyện Lam Điền

Tuổi già thu đến gượng khuây khoa
Cao hứng vui chơi bác tại nhà
Những thẹn tóc thưa cơn gió lốc
Lại cười mũ lệnh khách nâng qua
Lam Giang suối đổ ngàn biên tái
Ngọc Lĩnh hơi lên ngọc Thái Hòa
Năm đến, tiết nầy ai mạnh yếu?
Thù du sẽ điểm sổ phần ta!

Chân Trân
17-08-2005, 09:36 PM
Dã vọng I


Thanh thu vọng bất cực
Thiều đệ khởi tằng âm
Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh
Cô thành ẩn vụ thâm
Diệp hi phong cánh lạc
Sơn quýnh nhật sơ trầm
Độc hạc quy hà vãn ?
Hôn nha dĩ mãn lâm

Dịch Nghĩa:

Trông cảnh đồng quê

Bầu thu trong vắt khôn cùng
Xa xôi bao lớp bóng râm nổi lên
Nước xa lẫn vòm trời quang đãng
Thành cô quạnh nấp trong sương dày
Lá thưa thớt gió thổi cứ rụng dần
Núi tít mù mặt trời vừa lặn
Hạc lẻ bầy buổi chiều bay về đâu ?
Quạ hoàng hôn xao xác khắp rừng.

Dịch Thơ:

Bầu thu vời mút mắt
Lớp lớp bóng im xa
Nước thẳm in trời tạnh
Thành hoang khuất móc sa
Lá thưa theo gió rụng
Núi quạnh lẫn dương tà
Hạc tối về đâu nhỉ ?
Rừng đêm rộn ác tà...

Chân Trân
17-08-2005, 09:37 PM
Dã vọng II


Tây Sơn bạch tuyết tam thành thú
Nam Phố thanh giang vạn lý kiều
Hải nội phong trần chư đệ cách
Thiên nhai thế lệ nhất thân diêu
Duy tương trì mộ cung đa bệnh
Vị hữu quyên ai đáp thánh triều
Khoá mã xuất giao đồ cực mục
Bất kham nhân sự nhật tiêu điều

Dịch Nghĩa:

Trông cảnh đồng quê

Đồn Tam Thành ở vùng tuyết trắng Tây Sơn
Cầu Vạn Lý bắc ngang dòng sông trong Nam Phố
Trong cõi gió bụi các em đều xa cách
Nơi góc trời ứa lệ,một mình ta lạc loài
Tuổi tác sắp già,càng đau ốm luôn
Chưa có chút mảy may nào báo đáp ơn vua
Cỡi ngựa ra ngoài thành trông vời
Không chịu nổi việc đời mỗi lúc một héo hon.

Dịch Thơ:

Ngắm đồng nội

Tây Sơn tuyết trắng ba thành lính
Nam Phố sông trong một nhịp cầu
Góc bể xa em mờ mịt bụi
Chân trời lẻ bóng tả tơi châu
Ơn vua chẳng chút công đền đáp
Luống tuổi càng nhiều lúc ốm đau
Cỡi ngựa ra thành vời mắt ngắm
Việc đời mỗi lúc một dầu dầu...

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

Tây sơn tuyết phủ ba thành thú,
Nam Phố sông xanh Vạn Lý kiều.
Bốn bể các em trong gió bụi,
Bên trời mình khách sống cô liêu!
Tuổi già sắp đến thân đau yếu,
Chưa chút công lao đáp thánh triều.
Ruổi ngựa ngoài thành nghìn vạn dặm,
Khổ lòng trước cảnh mãi tiêu điều.

Bản dịch của Chi Điền

Chân Trân
17-08-2005, 09:38 PM
Dạ yến Tả thị sinh


Phong lâm tiêm nguyệt lạc
Dạ lộ tĩnh cầm trương
ám thuỷ lưu hoa kính
Xuân tinh đới thảo đường
Kiểm thư thiêu chúc đoản
Khan kiếm dẫn bôi trường
Thi bãi văn Ngô vịnh
Biên chu ý bất vong

Dịch Nghĩa:

Dự tiệc đêm ở chỗ chàng họ Tả

Rừng gió thổi, vầng trăng nhạt lặn
Sương đêm làm tiếng đàn lắng lại
Dòng nước âm thầm chảy qua luống hoa
ánh sao xuân chiếu trên nhà cỏ
Đốt ngọn nến cứ ngắn đi để xem sách
Trông lưỡi gươm mà uống rượu hoài
Làm thơ xong lại nghe điệu hát Ngô
Trong ý nghĩ vẫn không quên chiếc thuyền

Dịch Thơ:

Rừng gió vầng trăng xế
Sương đêm lắng tiếng đàn
Lối hoa dòng nước tối
Nhà cỏ ánh sao tàn
Đọc sách khêu đèn lụn
Trông gươm nhấp chén tràn
Thơ rồi nghe điệu hát
Nhớ mãi chiếc thuyền nan

Chân Trân
17-08-2005, 09:39 PM
Dữ Nhiệm Thành Hứa chủ bạ du nam trì


Thu thủy thông câu húc
Thành ngung tiến tiểu thuyền
Vãn lương khan tẩy mã
Xâm mộc loạn minh thiền
Lăng thục kinh thì vũ
Bạc hoang bát nguyệt thiên
Thần triêu giáng bạch lộ
Diêu úc cựu thanh chiên

Dịch Nghĩa:

Nước mùa thu làm cho thông mương lạch.
Góc thành có chiếc thuyền nhỏ đi tới.
Buổi chiều lạnh lẽo nhìn cảnh tắm ngựa.
Cây xanh tốt, tiếng ve kêu khắp nơi
Ấu chín, trận mưa đúng mùa
Bạc hà mọc hoang, trời tháng tám
Sáng ngày, sương rơi trắng xóa
Xa nhớ chiếc nệm xanh xưa cũ (1)
-----------------------------------------
(1) Câu này muốn nhắc lại chuyện Vương Hiến Chi, ban đêm họ Vương ngủ trong thư trai, thì có trộm đến viếng. Vương bèn nói: nhà ta có tấm nệm màu xanh là cổ vật, để ta vào lấy ra cho.

Dịch Thơ:

Cùng ông chủ bạ họ Hứa, quê ở Nhiệm Thành, đi chơi hồ phía Nam

Nước thu thông rạch, rãnh.
Thành ngoại chống thuyền con.
Tối mát, ngựa bơi tắm,
Rừng sâu, ve véo von.
Mùa mưa ngâu, ấu chín.
Tiết tháng tám, hà non.
Sáng sớm mù sương trắng,
Nhớ quê nệm cũ gòn.

Chân Trân
17-08-2005, 09:41 PM
Giai nhân


Tuyệt đại hữu giai nhân
U cư tại không cốc
Tự vân lương gia tử
Linh lạc y thảo mộc
Quan Trung tích táng loạn
Huynh đệ tao sát lục
Quan cao hà túc luận
Bất đắc thu cốt nhục
Thế tình ố suy yết
Vạn sự tùy chuyển chúc
Phu tế khinh bạc nhi
Tân nhân mỹ như ngọc
Hợp hôn thướng tri thời
Uyên ương bất độc túc
Ðản kiến tân nhân tiếu
Ná văn cựu nhân khốc
Tại sơn tuyền thủy thanh
Xuất sơn tuyền thủy trọc
Thị tỳ mãi châu hồi
Khiên la bổ mao ốc
Trích hoa bất sáp phát
Thái bách động doanh cúc
Thiên hàn thúy tụ bạc
Nhật mộ ỷ tu trúc

Dịch Nghĩa:

Có người con gái đẹp tuyệt trần,
Sống âm thầm trong núi non vắng vẻ.
Nàng kể lể vốn con nhà đàng hoàng,
Mà nay phiêu dạt cùng với cỏ cây.
Vào buổi Quan Trung loạn lạc xa xưa,
Anh em đều bị sát hại .
Quan quyền cao sang mà kể làm gì,
Chết chẳng nhặt nhạnh được thịt xương .
Tình đời vốn rẻ rúng, ghét bỏ sự suy vi .
Muôn việc tùy cho ngọn đèn nhấp nháy .
Anh chồng là phường bạc bẽo,
Ðem về người mới xinh như ngọc .
Cây hợp hôn còn biết nở đúng lúc,
Chim uyên ương không sống đơn độc .
Chỉ thấy nụ cười của người mới,
Mà không nghe tiếng khóc của người cũ .
Ở trong núi, nước suối được trong sạch,
Ra khỏi núi, nước suối bị vẫn đục .
Người hầu gái đi bán ngọc trở về,
Bứt dây dại che chắn cho mái tranh .
Ngắt đóa hoa mà không cài lên tóc,
Hái lá bách vốc đầy một bụm tay .
Trời buốt giá,tay áo màu xanh mong manh,
Chiều chiều đứng tựa khóm trúc dài .

Dịch Thơ:

Người đẹp

Người đẹp nhất trần gian
Náu mình nơi hang hốc
Rằng thiếp vốn con nhà
Lạc loài nơi sim móc
Quan Trung thuở giặc tràn
Anh em bị giết chóc
Quyền quí nói mà chi
Thịt xương đành bỏ mục
Thói đời ghét vận suy
Đời chao như ngọn đuốc
Ông chồng bạc như vôi
Vợ mới đẹp như ngọc
Uyên ương đậu có đôi
Hợp hoan biết nhớ lúc
Chỉ thấy người mới cười
Nào nghe người cũ khóc
Ở núi, nước khe trong
Khỏi núi, nước khe đục
Hầu gái bán ngọc về
Bứt dây chèn mái nóc
Hái hoa chẳng cài đầu
Nhặt quả cho đầy vốc
Trời rét áo phong thanh
Chiều hôm tựa khóm trúc

(Bản dịch của Tương Như)

Người đẹp

Một trang quốc sắc tuyệt đời
Náu thân hiu quạnh ở nơi hang cùng
Kể rằng con cái nhà tông
Sa cơ phải lạc loài cùng cỏ cây
Quan trung loạn lạc những ngày
Anh em bị hại bởi tay hung tàn
Kể chi hiển trật cao quan
Thảm thay đến nổi xương tàn không thu
Tình đời suy có ai phù
Việc đời chi khác đèn cù xoay quanh
Lang quân cũng thói bạc tình
Coi người mới đẹp như hình tiên sa
Biết thời kia dạ hợp hoa
Cặp uyên ương nọ thường là ngủ đôi
Chỉ trông người mới vui cười
Nghe đau tiếng khóc của ai cô phòng
Suối còn trong núi suối trong
Suối ra khỏi núi, suối trông đục ngầu
Sai tì đi bán hạt châu
Lều tranh rác nát phải khâu dây lài
Ngắt hoa mái tóc không cài
Vốc đầy lá Bách, hái hoài không thôi
Lạnh lùng tay áo mỏng tơi
Trời hôm dựa khóm trúc dài thẩn thơ.

(Bản dịch của Trần Trọng Kim)

Chân Trân
17-08-2005, 09:45 PM
Giang Hán


Giang Hán tư quy khách
Càn khôn nhất hủ nho
Phiến vân thiên cộng viễn
Vĩnh dạ nguyệt đồng cô
Lạc nhật tâm do tráng
Thu phong bệnh dục tô
Cổ lai tồn lão mã
Bất tất thủ trường đồ

Dịch Nghĩa:

Sông Giang sông Hán

Ở Giang Hán có người nhớ quê
Trong trời đất có ông đồ gàn
Đám mây với trời cùng xa tít
Đêm dài với trăng cùng cô đơn
Mặt trời lặn,lòng vẫn hăng hái
Gió thu thổi,bệnh sắp bớt rồi
Xưa nay còn lại con ngựa già
Cần chi phải có tài chạy đường dài

Dịch Thơ:

Giang Hán mơ quê cũ
Càn khôn một bác đồ
Mây cùng trời tít tắp
Đêm với nguyệt đơn cô
Chí mạnh khi ngày xế
Bệnh lùi lúc gió thu
Ngựa già còn lại đó
Sá kể sức trường đồ.

Chân Trân
17-08-2005, 09:58 PM
Giang mai


Mai nhụy lạp tiền phá,
Mai hoa niên hậu đa.
Tuyệt tri xuân ý hảo,
Tối nại khách sầu hà.
Tuyết thụ nguyên đồng sắc,
Giang phong diệc tự ba.
Cố viên bất khả kiến,
Vu tụ uất tha nga.

Dịch Thơ:

Cây mai trên sông

Trước ngày chạp nhị mai vừa mới ló,
Qua sang năm mai nở đã đầy cành.
Vẫn biết rằng xuân ý tốt xinh xinh,
Nhưng dạ khách buồn tênh sao xiết kể !
Cây với tuyết nguyên cùng một vẻ,
Gió trên sông gợn sóng sẽ nhô đầu.
Cố viên nào thấy đâu đâu,
Núi Vu chót vót một màu xanh om.

Chân Trân
17-08-2005, 09:59 PM
Hiểu vọng


Bạch Đế canh thanh tận
Dương Đài sắc tự phân
Cao phong thượng hàn nhật
Điệp lĩnh túc mai vân
Địa sách giang phàm ẩn
Thiên thanh mộc diệp văn
Kinh phi đối mỹ lộc
Ưng cộng nhĩ vi quần

Dịch Nghĩa:

Thành Bạch Đế tiếng trống tan canh
Trên Dương Đài ánh sáng hiện ra
Ngọn núi cao mặt trời mọc còn lạnh
Núi trùng điệp, mây mờ nằm thu lại
Đất lở, buồm trên sông lúc ẩn lúc hiện
Trời xanh, nghe tiếng lá cây rụng
(Ngồi ngoài) cửa tre nhìn đàn hưu nai
Muốn cùng lũ ngươi làm bạn

Dịch Thơ:

Sáng sớm xem phong cảnh

Tiếng trống tan canh Bạch Đế thành,
Dương Đài rực sáng ánh bình minh.
Đầu non vầng nhật còn trong lạnh,
Sườn núi làn mây chửa bủa nhanh.
Đất lở, buồm phơi thay sắc thái,
Trời thanh, đá đổ dội âm thanh.
Trông nai ngoài ngõ thong dong bước,
Những muốn cùng nai kết bạn lành.

Chân Trân
17-08-2005, 10:08 PM
Kỷ


Vĩnh dữ thanh khê biệt
Mông tương ngọc soạn câu
Vô tài trục tiên ẩn
Bất cảm hận bào trù
Loạn thế khinh toàn vật
Vi thanh cập hoạ xu
Y quan kiêm đạo tặc
Thao thiết dụng tư tu

Dịch Nghĩa:

Con hoẵng

Vĩnh biệt khe suối trong trẻo
Sắp bị dọn lên cùng với thức ăn ngon
Không có tài theo các bậc tiên ở ẩn
Đâu dám giận bọn đầu bếp
Đời loạn coi thường mọi vật
Tiếng kêu nhỏ mà tai hoạ cũng đến
Bọn áo mũ cũng như bọn trộm cướp
Ăn uống nhồm nhoàm thoáng chốc hết ngay

Dịch Thơ:

Vĩnh biệt suối khe trong
Món ngon sắp dọn cùng
Theo thiên tài chẳng kịp
Giận bếp dám sinh lòng
Đời loạn không gì vẹn
Thầm kêu cũng mắc vòng
Quan quyền cùng trộm cướp
Ngốn ngấu chốc là xong !

Chân Trân
17-08-2005, 10:09 PM
Ký Đỗ Vị


Hàn nhật kinh thiềm đoản
Cùng viên thất mộc bi
Giáp trung vi khách cửu
Giang thương ức quân thì
Thiên địa nhân hà tại
Phong trần bệnh tán từ
Phong thư lưỡng hàng lệ
Triêm sái ấp tân thi

Dịch Nghĩa:

Ngày rét , mặt trời chóng qua thềm
Mất ổ , cùng đường , vượn buồn rầu
Nấn ná lâu ngày ở gửi nơi kẽm sông
Khi ở trên sông lại nhớ đến bác
Khắp trời đất biết gửi thân nơi nào ?
Bước phong trần đau ốm biết nài sao !
Gửi lá thư , hai hàng lệ nhỏ
Đầm đìa bám vào lòng thơ mới

Dịch Thơ:

Gửi ông Đỗ Vị

Bóng trời rét qua thềm thoăn thoắt
Vượn cùng đường mất ổ những bi ai
Nơi kẽm sông nấn ná bấy lâu rồi
Trên sông đó nghĩ người thêm tưởng nhớ
Khắp trời đâu biết đâu là chốn ở
Bước phong trần đau ốm nữa nài sao !
Phong thư hàng lệ tuôn trào
Đầm đìa lã chã thấm vào hàng thơ

Chân Trân
17-08-2005, 10:10 PM
Khách chí


Xá nam xá bắc giai xuân thủy ,
Ðản kiến quần âu nhật nhật lai .
Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo ,
Bồng môn kim thủy vị quân khai .
Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị ,
Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi .
Khẳng dữ lăng ông tương đối ẩm ,
Cách ly hô thủ tận dư bôi .

Dịch Nghĩa:

Khách đến

Phía nam , phía bắc nhà toàn là nước xuân . Chỉ thấy những con chim âu ngày ngày bay tới . Trươc đây chưa từng có vì khách nào mà quét đường hoa ; bây giờ mới vì bạn mà mở cửa cỏ bồng .
Vì chợ xa , nên bữa ăn không có đủ vị ; nhà nghèo, chỉ có chén rượu cũ chưa lọc . Thôi đành đối ẩm với lão hàng xóm ; cách rào , gọi mang ra hết chén rượu còn lại .

Dịch Thơ:

Khách đến

Nước xuân đầy rẫy bắc nam;
Ngày ngày âu vẫn thường sang chơi nhà.
Chưa vì khách quét lối hoa,
Cửa bồng nay mới mở ra vì người.
Chợ xa thiếu vị dâng mời;
Nhà nghèo ; chỉ có rượu ôi lâu ngày.
Với ông hàng xóm cùng say,
Gọi đem hết rượu ra ngay bên rào.

Dala
17-08-2005, 11:16 PM
Đăng cao

Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai,
Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
Vạn lý bi thu thường tác khách,
Bách niên đa bệnh độc đăng đài.
Gian nan khổ hận phồn sương mấn,
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.

Dịch Thơ

Lên cao

Gió gấp trời cao vượn nỉ non,
Bến trong cát trắng, lượn chim cồn.
Rào rào lá trút rừng cây thẳm,
Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn.
Thu quạnh nghìn khơi lòng khách năo,
Đài cao trăm bệnh chiếc thân mòn.
Gian nan khổ hận đầu thêm bạc,
Quặt quẹo đành kiêng chén giải buồn.

Bản dịch: Nam Trân

---------------

Tiếng vượn kêu thương gió lộng trời
Bãi xanh cát trắng cánh chim hồi
Áo ào lá rụng không ngừng trút
Cuộn cuộn sông dài cứ mãi trôi
Muôn dặm thương thu làm khách lạ
Trăm năm nhiều bệnh dạo đài chơi
Gian truân sầu hận sương đầy tóc
Say ngả nghiêng rồi rượu mới thôi.

Bản dịch: Trần Trọng San

---------------

Trời cao gió mạnh vượn kêu
Bãi quang cát trắng chim chiều bay quanh
Miên man lá rụng điêu linh
Nước sông cuồn cuộn mông mênh chảy dào
Khách xa thu tới thêm sầu
Tuổi già lắm bệnh lên cao một mình
Gian nan tóc bạc khôn đành
Nỗi mình vất vả hãy dình chén vui

Bản dịch: Trần Trọng Kim

Dala
17-08-2005, 11:18 PM
Đăng Nhạc Dương lâu

Tích văn Động Đình thủy
Kim thướng Nhạc Dương lâu
Ngô Sở đông nam sách
Càn khôn nhật dạ phù
Thân bằng vô nhất tự
Lão bệnh hữu cô chu
Nhung mã quan san bắc
Bằng hiên thế tứ lưu

Dịch Nghĩa
Lên lầu Nhạc Dương(1)

Xưa nghe nói nước hồ Động Đình
Nay được lên lầu Nhạc Dương
Đất Ngô, đất Sở (2) chia tách ở hai phía đông nam
Trời đất suốt ngày đêm dập dềnh nổi
Bà con bạn hữu không có một chữ (thư từ qua lại)!
Thân già yếu lênh đênh trong chiếc thuyền côi quạnh
Quan san phía bắc đang nhộn binh đao (3)
Tựa hiên, ròng ròng nước mắt , nước mũi!

Chú thích: (1) Lầu ở cửa Tây thành Nhạc Dương
(2) Nay là địa phận các tỉnh Giang Tô, Chiết Giang, An Huy, Giang Tây, Hồ Bắc và Hồ Nam
(3) Chỉ việc Thổ Phồn vào xâm lược nhà Đường năm 768, Quách Tử Nghi phải đóng 5 vạn quân ở Phụng Thiên để phòng thủ.

Dịch Thơ
Lên lầu Nhạc Dương

Động Đình nghe tiếng từ xưa,
Mà đây lầu Nhạc bây giờ mới lên.
Đông, Nam, Ngô, Sở tách miền
Mênh mang trời đất ngày đêm bềnh bồng.
Bạn bè một chữ vẫn không,
Thân già ma bệnh chiếc bồng lẻ loi.
Bắc phương giặc giã rối bời,
Bên hiên đứng tựa, sụt sùi lệ sa.

Dala
17-08-2005, 11:21 PM
Ký Đỗ Vị

Hàn nhật kinh thiềm đoản
Cùng viên thất mộc bi
Giáp trung vi khách cửu
Giang thương ức quân thì
Thiên địa nhân hà tại
Phong trần bệnh tán từ
Phong thư lưỡng hàng lệ
Triêm sái ấp tân thi


Dịch Nghĩa

Ngày rét , mặt trời chóng qua thềm
Mất ổ , cùng đường , vượn buồn rầu
Nấn ná lâu ngày ở gửi nơi kẽm sông
Khi ở trên sông lại nhớ đến bác
Khắp trời đất biết gửi thân nơi nào ?
Bước phong trần đau ốm biết nài sao !
Gửi lá thư , hai hàng lệ nhỏ
Đầm đìa bám vào lòng thơ mới

Dịch Thơ

GỬI ÔNG ĐỖ VỊ

Bóng trời rét qua thềm thoăn thoắt
Vượn cùng đường mất ổ những bi ai
Nơi kẽm sông nấn ná bấy lâu rồi
Trên sông đó nghĩ người thêm tưởng nhớ
Khắp trời đâu biết đâu là chốn ở
Bước phong trần đau ốm nữa nài sao !
Phong thư hàng lệ tuôn trào
Đầm đìa lã chã thấm vào hàng thơ

Bản dịch: Á Nam

Dala
17-08-2005, 11:22 PM
Biệt Phòng thái uý mộ

Tha hương phục hành dịch
Trú mã biệt cô phần
Cận lệ vô can thổ
Đê không hữu đoạn vân
Đối kỳ bồi Tạ Truyện
Bả kiếm mịch Từ Quân
Duy kiến lâm hoa lạc
Oanh đề tống khách văn




Dịch Nghĩa
Từ giã mộ Phòng thái uý

Ta đi công cán nơi quê người
Dừng ngựa giã từ nấm mồ lẻ loi
Gần nước mắt,không có đất khô ráo
Dưới vòm trời có những đám mây rời rạc
Đánh cờ với Tạ Truyện
Mang gươm tìm Từ Quân
Chỉ thấy hoa rừng rụng
Nghe oanh hót tiễn đưa người

Dịch Thơ

Lại ra miền đất khách
Dừng ngựa giã cô phần
Mây ủ dăng trời thấp
Đất hoen ướt lệ gần
Đánh cờ hầu Tạ Truyện
Mang kiếm viếng Tạ Quân
Chỉ thấy hoa rừng rụng
Con oanh hót tiễn chân

Bản dịch: Lê Nguyễn Lư

Dala
17-08-2005, 11:24 PM
Dã vọng I

Thanh thu vọng bất cực
Thiều đệ khởi tằng âm
Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh
Cô thành ẩn vụ thâm
Diệp hi phong cánh lạc
Sơn quýnh nhật sơ trầm
Độc hạc quy hà vãn ?
Hôn nha dĩ mãn lâm

Dịch Nghĩa

Trông cảnh đồng quê

Bầu thu trong vắt khôn cùng
Xa xôi bao lớp bóng râm nổi lên
Nước xa lẫn vòm trời quang đãng
Thành cô quạnh nấp trong sương dày
Lá thưa thớt gió thổi cứ rụng dần
Núi tít mù mặt trời vừa lặn
Hạc lẻ bầy buổi chiều bay về đâu ?
Quạ hoàng hôn xao xác khắp rừng.

Dịch Thơ

Bầu thu vời mút mắt
Lớp lớp bóng im xa
Nước thẳm in trời tạnh
Thành hoang khuất móc sa
Lá thưa theo gió rụng
Núi quạnh lẫn dương tà
Hạc tối về đâu nhỉ ?
Rừng đêm rộn ác tà...

Bản dịch: Lê Nguyễn Lưu

Dala
17-08-2005, 11:25 PM
Dã vọng II

Tây Sơn bạch tuyết tam thành thú
Nam Phố thanh giang vạn lý kiều
Hải nội phong trần chư đệ cách
Thiên nhai thế lệ nhất thân diêu
Duy tương trì mộ cung đa bệnh
Vị hữu quyên ai đáp thánh triều
Khoá mã xuất giao đồ cực mục
Bất kham nhân sự nhật tiêu điều

Dịch Nghĩa
Trông cảnh đồng quê

Đồn Tam Thành ở vùng tuyết trắng Tây Sơn
Cầu Vạn Lý bắc ngang dòng sông trong Nam Phố
Trong cõi gió bụi các em đều xa cách
Nơi góc trời ứa lệ,một mình ta lạc loài
Tuổi tác sắp già,càng đau ốm luôn
Chưa có chút mảy may nào báo đáp ơn vua
Cỡi ngựa ra ngoài thành trông vời
Không chịu nổi việc đời mỗi lúc một héo hon.

Dịch Thơ
Ngắm đồng nội

Tây Sơn tuyết trắng ba thành lính
Nam Phố sông trong một nhịp cầu
Góc bể xa em mờ mịt bụi
Chân trời lẻ bóng tả tơi châu
Ơn vua chẳng chút công đền đáp
Luống tuổi càng nhiều lúc ốm đau
Cỡi ngựa ra thành vời mắt ngắm
Việc đời mỗi lúc một dầu dầu...

Bản dịch: Lê Nguyễn Lưu


Tây sơn tuyết phủ ba thành thú,
Nam Phố sông xanh Vạn Lý kiều.
Bốn bể các em trong gió bụi,
Bên trời mình khách sống cô liêu!
Tuổi già sắp đến thân đau yếu,
Chưa chút công lao đáp thánh triều.
Ruổi ngựa ngoài thành nghìn vạn dậm,
Khổ lòng trước cảnh mãi tiêu điều.

Bản dịch: Chi Điền

Chân Trân
18-08-2005, 04:15 AM
Khách tòng


Khách tòng nam minh lai
Di ngã tuyền khách châu
Châu trung hữu ẩn tự
Dục biện bất thành thư
Giam chi kíp tư cửu
Dĩ sĩ công gia tu
Khai thị hoá vi huyết
Ai kim trưng liễm vô !

Dịch Nghĩa:

Khách từ

Khách từ biển Nam tới đây
Cho tôi một hạt ngọc người cá
Trong ngọc có nét chữ mờ mờ
Cố phân biệt mà không nhận rã câu gì
Giấu nó trong hộp đã lâu rồi
Đợi để nhà quan dùng đến
Mở xem, nó biến thành cục máu
Thương thay ! Nay không còn gì nộp thuế !

Dịch Thơ:

Khách từ Nam hải tới
Cho một hạt tuyền châu
Trong ngọc in mờ chữ
Lần xem chẳng rõ câu
Giấu hoài trong hộp kín
Chờ để các quan thâu
Mở ngó hoá thành máu
Thương thay ! Thuế má đâu ?

Chân Trân
18-08-2005, 04:17 AM
Khúc giang kỳ II


Triều hồi nhật nhật điển xuân y
Mỗi nhật giang đầu tận túy quy
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện
Ðiểm thủy thanh đình khoản khoản phi
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển
Tạm thời tương tống mạc tương vi

Dịch Thơ:

Sông Khúc

Khỏi bệ vua ra cố áo hoài
Bến sông say khướt, tối lần mai
Nợ tiền mua rượu đâu không thế ?
Sống bảy mươi năm đã mấy người ?
Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn
Chuồn chuồn rỡn nước lửng lơ chơi
Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi
Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài.

Bản dịch của Tản Ðà

Chân Trân
18-08-2005, 04:18 AM
Khương thôn kỳ I


Tranh vanh xích vân tây
Nhật cước há bình địa
Sài môn điểu tước táo
Qui khách thiên lý chí
Thê noa quái ngõa tại
Kinh định hoàn thức lệ
Thế loạn tao phiêu đãng
Sinh hoàn ngẫu nhiên toại
Lân nhân mãn tường đầu
Cảm thán diệc hư hí
Dạ lan cánh bỉnh đăng
Tương đối như mộng mị

Dịch Nghĩa:

Ðám mây đỏ cao ngất ở phía tây; gót chân mặt trời bước xuống mặt đất bằng. Trước cổng nghèo, chim sẻ kêu xao xác, khi khách từ nơi xa ngàn dặm về đến nhà.
Vợ con đều sửng sốt khi thấy tôi còn sống; khi đã hết kinh sợ, vẫn còn chùi nước mắt. Ðời loạn, gặp cảnh lưu lạc; được sống sót trở về, thực là ngẫu nhiên.
Những người hàng xóm đứng đầy tường, cũng đều cảm động, bùi ngùi. Ðêm khuya, lại thắp đèn lên; nhìn nhau, tưởng chừng như đang ở trong giấc mộng.

Dịch Thơ:

Thôn người Khương

Mây đỏ ngất bên tây
Mặt trời bước xuống đất
Cổng nghèo, chim xao xác
Ngàn dặm khách về đây
Vợ con đều sửng sốt
Rồi gạ lệ trào tuôn
Ðời loạn, mình lưu lạc
Sống về, thực thỏa lòng
Ðầy tường người sớm cũ
Cảm động cũng thương ai
Ðêm khuya, đèn vẫn thắp
Trông nhau, ngỡ mộng rồ

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
18-08-2005, 04:18 AM
Khương thôn kỳ II


Vãn tuế bách thâu sinh,
Hoàn gia thiểu hoan thú.
Kiều nhi bất ly tất,
Úy ngã phục khước khứ.
Ức tích hiếu truy lương,
Cố nhiều trì biên thụ.
Tiêu tiêu bắc phong kính,
Vũ sự tiễn bách lự
Lại tri hòa thử thu,
Dĩ giác tao sàng trú.
Như kim túc châm chước,
Thả dụng ý trì mộ.

Dịch Nghĩa:

Tuổi đã già nên phải cẩu thả cầu sống. Về nhà, thấy ít thú vui. Những đứa con thân yêu không rời khỏi đầu gối, vì sợ tôi lại ra đi.
Nhớ lại khi xưa thường thích hóng mát, nên tôi lại đi quanh hàng cây bên ao. Gió bắc ào ào thổi mạnh. Những việc trái ý nung nấu nổi lo âu.
Vì biết lúa đã gặp rồi và hèm rượu đã rót, nên nay tôi co’ đủ rượu uống, để khuây khỏa lúc tuổi già.

Dịch Thơ:

Thôn người Khương

Tuổi già cầu sống vội,
Về nhà, ít thú vui.
Con thơ không rời gối,
Sợ ta lại đi thôi.
Nhớ xưa thích hóng mát,
Dạo quanh cây bên ao.
Ào ào gió bắc thổi,
Nung nấu bao lo âu.
Nghe tin lúa gặt rồi,
Hèm rượu cũng có nhiều.
Nay ta đủ rượu uống,
Khuây khỏa lúc trời chiều.

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
18-08-2005, 04:19 AM
Lâm giang tống Hạ Tiêm


Bi quân lão biệt lệ chiêm cân
Thất thập vô gia vạn lý thân
Sầu kiến chu hành phong hựu khởi
Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân

Dịch Nghĩa:

Buồn bã vì phải từ biệt người bạn già, lệ ướt đầm khăn
(Bạn) đã bẩy mươi tuổi, thân không nhà cửa
Buồn trông thuyền đi, gió lại nổi lên
Dặm sóng bạc đầu, người cũng bạc đầu

Dịch Thơ:

Tới sông tiễn Hạ Tiêm

Muôn dặm thương anh, lệ biệt sầu
Bảy mươi tuổi tác cửa nhà đâu ?
Buồn trông trận gió theo thuyền nổi
Sóng bạc đầu quanh khách bạc đầu

Bản dịch của Tản Đà

Chân Trân
18-08-2005, 04:21 AM
Lạc nhật


Lạc nhật tại liêm câu
Khê biên xuân sự u
Phương phi duyên ngạn phố
Tiều thoán ỷ than chu
Trác tước tranh chi truỵ
Phi trùng mãn viện du
Trọc giao thuỳ tạo nhữ ?
Nhất chước tán thiên ưu

Dịch Nghĩa:

Mặt trời lặn

Bóng mặt trời đã ngang bức mành
Bên khe, vẻ xuân vắng lặng
Cỏ thơm đầy vườn bên bờ sông
Người đốn củi nấu nướng trên thuyền cạnh thác
Chim sẻ mổ nhau giành cành rơi xuống
Côn trùng bay chơi khắp sân
Rượu đục ai chế ra mày ?
Uống một cuộc tan hết nghìn mối lo âu

Dịch Thơ:

Ác lặn xế ngang mành
Khe xuân cảnh vắng tênh
Bếp tiều thuyền cạnh thác
Cỏ biếc bãi bên ghềnh
Sâu giỡn bay đầy viện
Chim sa mổ cướp cành
Rượu giao ai cất chế ?
Một cuộc hết lo quanh !

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

Chân Trân
18-08-2005, 04:22 AM
Lữ dạ thư hoài


Tế thảo vi phong ngạn
Nguy tường độc dạ chu
Tinh thuỳ bình dã khoát
Nguyệt dũng đại giang lưu
Danh khởi văn chương trứ
Quan ưng lão bệnh hưu
Phiêu phiêu hà sở tự
Thiên địa nhất sa âu

Dịch Nghĩa:

Đêm ở đất khách, viết nỗi lòng

Trên bờ cỏ lăn tăn dưới gió hiu hiu
Chiếc thuyền vươn cao cột buồm trong đêm quạnh
Sao rũ xuống cánh đồng bằng phẳng bao la
Trăng tung toé trên sông chảy cuồn cuộn
Danh tiếng há nhờ văn chương mà lừng lẫy
Làm quan cũng nên về nghỉ khi già ốm
Chơi vơi giống như cái gì ?
Một con chim âu giữa trời đất

Dịch Thơ:

Nỗi niềm đêm đất khách

Gió êm bờ cỏ mượt
Thuyền chiếc cột buồm cao
Sông rộng trôi vầng thỏ
Đồng bằng rợp ánh sao
Thơ văn danh há cậy
Già yếu chức nài bao
Âu trắng trong trời đất
Chơi vơi tựa chốn nao ?

Bản dịch: Lê Nguyễn Lưu

Bên bờ cỏ dợn gió hiu hiu,
Cô quạnh thuyền con dưới bóng chiều.
Đồng rộng mênh mông sao rủ thấp,
Sông dài cuồn cuộn bóng trăng thâu.
Văn chương mấy thuở lừng danh tiếng,
Hoạn lộ già nua phải cáo lui.
Thân thế chơi vơi tuồng ngoại vật,
Bãi sa trời rộng giống chim âu.

Bản dịch của Chi Điền

Chân Trân
18-08-2005, 04:22 AM
Lưu Cửu pháp tào Trịnh Hà Khâu Thạch Môn yến tập


Thu thủy thanh vô để
Tiêu nhiêu tịnh khách tâm
Duyến tào thừa dật hứng
An mã đáo hoang lâm
Năng lại phùng liên bích
Hoa diên trực nhất kim
Vãn lai hoành xuy hảo
Hoằng hạ diệc long ngâm

Dịch Nghĩa:

Nước mùa thu trong vô cùng
Rất tịch mịch làm sạch lòng người khách
Một nhóm quan duyến tào nhân dịp hứng thú
Đi ngựa đến rừng hoang
Vị quan nhỏ, tài, gặp viên ngọc bích giá liên thành.
Chiếu hoa giá trị bằng một nén vàng
Chiều tối nghe tiếng sáo thổi rất hay
Dưới chỗ nước sâu cũng có rồng ngâm.

Dịch Thơ:

Cùng Lưu Cửu pháp tào và Trịnh quê ở Hà Khâu ăn tiệc ở Thạch Môn

Nước thu trong biết bao
Lòng sạch, lâng lâng sầu
Hứng thú quan quyền cảm
Rừng hoang vó ngựa vào
Ngọc nhiều thành, đức độ
Mâm một nén, sang giàu
Chiếu tối vẳng đưa sáo
Rồng ngâm đáy vực sâu

Chân Trân
18-08-2005, 04:24 AM
Mao ốc vi thu phong sở phá ca


Bát nguyệt thu cao phong nộ hào ,
Quyển ngã ốc thượng tam trùng mao .
Mao phi độ giang sái giang giao .
Cao già quái quyến trường lâm sao ,
Hạ giả phiêu chuyển trầm đường ao .
Nam thôn quần đồng khi ngã lão vô lực ,
Nhẫn năng đối diện vi đạo tặc .
Công nhiên bão mao nhập trúc khứ ,
Thần tiều khẩu táo hô bất đắc .
Qui lai ỷ trượng tự thán tức .
Nga khoảnh phong định vân mặc sắc ,
Thu thiên mạc mạc hướng hôn hắc .
Bố khâm đa niên lãnh tự thiết .
Kiều nhi ác ngọa đạp lý liệt .
Sàng đầu ốc lậu vô can xứ ,
Vũ cước như ma vị đoạn tuyệt .
Tự kinh táng loạn thiểu thụy miên ,
Trường dạ chiêm thấp hà do triệt .
An đắc quảng hạ thiên vạn gian ,
Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan ,
Phong vũ bất động an như san .
Ô hô , hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc ,
Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc .

Dịch Nghĩa:

Mái Tranh Bị Gió Thu Thổi Vỡ

Tháng tám , trời thu cao, gió giận dữ gào thét , cuốn đi ba lớp cỏ tranh trên mái nhà ta . Cỏ tranh bay qua sông , rải xuống miền đất bên sông . Cao thì vắt vẻo treo trên ngọn cây rừng ; thấp thì tả tơi rơi chìm xuống ao nước .
Lũ trẻ xóm nam khinh ta già yếu , nhẫn tâm làm giặt cướp ngay trước mặt ta . Chúng công khai ôm cỏ tranh đi vào trong xóm trúc ; ta khô môi rát miệng , kêu thét mà không được . Trở về, chống gậy , thở than .
Một lát sau , gió yên mây đen như mực . Trời thu bát ngát đen tối lúc chiều tà . Chiếc chăn vải dùng nhiều năm , lạnh như sắt , bị đứa con thơ khó ngủ đạp rách toang . Ở đầu giường mái nhà dột , không chổ nào khô ; vết mưa nhiều nhưng gai vẫn còn chưa hết . Từ khi gặp cơn hoạn lạc , mình ít ngủ , suốt đêm dài , ướt đẫm , biết làm sao hết được !
Mong sao có được ngàn vạn gian nhà lớn, để giúp cho các hàn sĩ trong thiên hạ đều được vui vẽ , không bị kinh động vì mưa gió , yên ổn như núi non ! Hỡi ôi , biết bao giờ được trông thấy nhà này đứng cao sững trước mắt ; dù cho riêng nhà ta bị phá vỡ , mình có chịu rét đến chết , cũng thỏa lòng !

Dịch Thơ:

Mái Tranh Bị Gió Thu Thổi Vỡ

Tháng tám , trời cao , gió thu gào ,
Thổi tung mái nhà , cuốn tranh pheo .
Tranh bay qua sông , rơi lao xao ;
Cao thì trên rừng treo vắt vẻo ,
Thấp thì phơ phất chìm trong ao .
Lũ trẻ xóm nam khinh ta già không sức ,
Nỡ lòng ngang nhiên làm trộm giặc ;
Ôm bừa cỏ tranh vào trong trúc .
Rát cổ , bỏng họng kêu không được ;
Trở về , chống gậy mà tấm tắc .
Phút chốc , gió yên mây như mực ;
Chiều đến , trời thu đen bát ngát .
Chăn vải lâu năm lạnh như sắc ,
Con thơ khó ngủ , đạp rách nát .
Ðầu giường , mái dột , khắp nơi ướt ;
Mưa nhiều như gai , vết chưa nhạt .
Từ khi loạn lạc , ít ngủ ngon ;
Ðêm dài ướt đẫm , làm sao bớt !
Mong sao nhà lớn có ngàn gian ,
Giúp cho hàn sĩ trên đời đều hân hoan ,
Gió mưa chẳng đọng , vững như non !
Hỡi ôi , bao giờ thấy được nhà cao này trước mắt ;
Nhà mình có vỡ , chết rét , cũng thỏa lòng !

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
18-08-2005, 04:26 AM
Mộng Lý Bạch

I.
Tử biệt dĩ thôn thanh
Sinh biệt thường trắc trắc
Giang Nam chướng lệ địa
Trục khách vô tiêu tức
Cố nhân nhập ngã mộng
Minh ngã trường tương ức
Quân kim tại la võng
Hà dĩ hữu vũ dực
Khủng phi bình sinh hồn
Lộ viễn bất khả trắc
Hồn lai phong lâm thanh
Hồn phản quan tái bắc
Lạc nguyệt mãn ốc lương
Do nghi chiếu nhan sắc
Thủy thâm ba lãng khoát
Vô sử giao long đắc

II.
Phù vân chung nhật hành
Du tử cửu bất chí
Tam dạ tần mộng quân
Tình thân kiến quân ý
Cáo quy thường cục xúc
Khổ đạo lai bất dị
Giang hồ đa phong ba
Chu tiếp khủng thất trụy
Xuất môn tao bạch thủ
Nhược phụ bình sinh chí
Quan cái mãn kinh hoa
Tư nhân độc tiều tụy
Thục vân võng khôi khôi
Tương lão thân phản lụy
Thiên thu vạn tuế danh
Tịch mịch thân hậu sự


Dịch Nghĩa:

I.
Người chết đi là đã hết lời
Người còn sống thì lúc nào cũng thương xót
Giang Nam là nơi chướng độc
Người bị đày không nghe tin tức
Cố nhân đi vào trong mộng
Biết là ta nhớ nhung đã lâu nay
Tôi e rằng hồn bạn không được như ý lắm
Nhưng lâu nay đường xá xa xôi không gặp không biết có phải vậy không
Hồn về đây cánh rừng phong xanh ngát
Hồn trở lại miền quan tái đen tối xa xăm
Bạn giờ đây đã nằm sa trong lưới
Làm sao mà có lông cánh bay bỗng khắp nơi
Trăng xuống chiếu trên rường nhà
Còn ngờ như đang soi trên khuôn mặt bạn
Nước thì sâu sóng thì lớn
Mong bạn coi chừng cẩn thận con thuồng luồng dưới nước

II .
Mây trôi bềnh bồng cả ngày nay
Người khách ham chơi lâu ngày không thấy tới
Ba hôm nay nằm mộng thấy bạn
Thâm tình của bạn lộ rõ ta thấy
Lúc cáo từ bạn có vẻ bồn chồn không an
Nói rằng đường xá khó khăn không dễ lại thăm
Sông hồ nhiều sóng gió
Chèo lái sợ sẩy tay chìm thuyền
Ra cửa còn xoa xoa đầu tóc bạc
Có vẻ như nghịch ý mình sao đó
Nào mũ, nào lọng đầy kinh đô
Chỉ có mình người này là tiều tụy
Ai bảo lưới trời lồng lộng
Về già rồi hóa ra thân lại bị lụy
Ngàn năm vạn năm sau danh tiếng
Nhưng chết đi rồi thì im lìm chẳng còn gì để nói

Dịch Thơ:

Mơ thấy Lý Bạch

I .
Chết biệt đành câm hơi
Sống biệt thường nhức nhối
Giang nam đất lam chướng
Khách đày tin ngóng mỏi
Anh nhập vào mộng tôi
Rõ tôi nhớ anh mãi
Nay anh bị giam cầm
Cánh đâu mà vượt khỏi
E chẳng phải hồn sống
Ðường xa khôn lường nổi
Hồn đến rừng phong xanh
Hồn về quan ải tối
Trăng xế lọt đầy nhà
Còn ngờ gương mặt rọi
Nước sâu sóng gió to
Chớ để thuồng luồng hại

II.
Mây nổi suốt ngày trôi
Người đi mãi biền biệt
Ba đêm hằng mộng anh
Thấy anh tình thắm thiết
Chào về thường bịn rịn
Ôi đến nhau khó thật
Sông hồ sóng gió nhiều
Thuyền bè e đắm mất
Dường trái chí bình sinh
Bước ra gãi đầu bạc
Mũ lọng đầy kinh hoa
Một người này xơ xác
Lồng lộng lưới trời giăng
Gần già lụy chẳng thoát
Ngàn thu tiếng để đời
Ích gì sau lúc thác

Bản dịch của Trần Trọng San

I .
Chết xa nhau nín đã đành
Sống xa nhau để đinh ninh bên lòng
Giang nam hơi độc mịt mùng
Khách đi đày biết vân mồng ra sao
Chiêm bao ta bạn lẻn vào
Rõ lòng ta chẳng lúc nào lúc quên
Biết đâu cách trở đôi miền
Sợ khi không phải hồn quen mọi ngày
Hồn về xanh ngắt ngàn cây
Hồn đi quan ải bóng mây đen rầm
Bạn nay dò lưới giam cầm
Cách nào vượt được xa xăm canh dài
Xà nhà trăng lặn rọi soi
Còn như nhác thấy mặt người năm xưa
Sông sâu sóng nước không bờ
Giữ mình chớ để sa cơ thuồng luồng

II.
Mây nổi chạy quanh ngày
Khách du đâu vắng biệt
Ba đêm gặp bác luôn
Lòng tôi bác đã biết
Lối lại kêu khó khăn
Ðòi về chi mải miết
Sông hồ sóng gió nhiều
Chèo lái lo khôn xiết
Chí cũ chắc không đành
Bước ra đầu lắc riết
Ðầy kinh mũ lọng ai
Người ấy riêng thua thiệt
Ðeo lụy lúc hồ già
Ai rằng trời xét nét
Muôn năm tiếng để đời
Vô ích sau khi chết

Bản dịch của Nam Trân

I.
Chết đành lặng ngắt tăm hơi
Sống mà xa cách sao nguôi tấc lòng
Giang nam chướng độc muôn trùng
Mong người bi đuổi tin hồng vắng tanh
Chiêm bao lẫn khuất bên mình
Tỏ rằng ta vẫn nặng tình nhớ nhung
Bạn nay còn mắc lưới hồng
Cáng đâu tháo củi sổ lồng cao bay
Phải chăng hồn sống về đây
Nẻo đường xa lắc dễ hay mà lường
Hồn đi xanh ngắt rừng bàng
Hồn về cửa ải dặm đường tối đen
Trên xà xế bóng trăng xiên
Mơ hồ còn tưởng như in vẻ người
Nước sâu sóng dợn đầy giời
Giữ sao cho khỏi mắc mồi giao long

II .
Ðám mây nổi suốt ngày trôi lững thững
Du tử kia đằng đẵng biết bao về
Luôn ba đêm thấy bạn lúc nằm mê
Biết bạn vẫn nặng nề tình thân ái
Khi lui gót băn khoăn ngần ngại
Giận đường đi lối lại khó bao nhiêu
Bước giang hồ sóng gió nổi sôi nhiều
Những e sợ lái chèo khi sẩy lạc
Ra tới cửa giơ tay xoa tóc bạc
Chí bình sinh không thỏa được nghĩ buồn chưa
Nào lọng che nào mũ đội đầy rẫy khắp kinh đô
Sao người ấy bơ phờ riêng một kiếp
Ai dám bảo lưới trời to rộng khiếp
Ðến thân già còn vương vít mãi chưa thôi
Tiếng tăm muôn thuở nghìn đời
Âm thầm lặng lẽ nữa rồi thân sau

Bản dịch của Á Nam Trần Tuấn Khải

Chân Trân
18-08-2005, 04:27 AM
Nguyệt


Thiên thượng thu kỳ cận
Nhân gian nguyệt ảnh thanh
Nhập hà thiềm bất một
Đảo dược thố trường sinh
Chỉ ích đan tâm khổ
Năng thiêm bạch phát minh
Can qua tri mãn địa
Hưu chiếu quốc tây dinh

Dịch Nghĩa:

Trăng

Trên trời đã gần sang mùa thu
Khắp cõi người, bóng trăng trong trẻo
Vào dải ngân hà, cóc vẫn không mất
Giã thuốc, thỏ cứ sống hoài
Chỉ khổ thêm tấm lòng son
Càng điểm bạc mái tóc dần
Biết rằng chiến tranh khắp mọi nơi
Xin chớ soi trại miền tây

Dịch Thơ:

Trời lộng thu gần tới
Vầng trăng tỏ khắp nơi
Cóc sang sông rạng vẻ
Thỏ giã thuốc lâu đời
Chỉ để lòng son khổ
Càng thêm tóc trắng bời
Can qua còn chốn chốn
Trại lính chớ soi người

Chân Trân
18-08-2005, 04:28 AM
Nguyệt Dạ


Kim dạ Phu Châu nguyệt
Khuê trung chỉ độc khan
Giao liên tiểu nhi nữ
Vị giải ức Trường An
Hương vụ vân hoàn thấp
Thanh huy ngọc tí hàn
Hà thời ỷ hư hoảng
Song chiếu lệ ngân can.

Dịch Nghĩa:

Vầng trăng ở Phu Châu đêm nay
Trong phòng khuê chỉ một người đứng nhìn
Ở xa thương cho con gái bé bỏng
Chưa hiểu nỗi nhớ Trường An
Sương thơm làm ướt mái tóc mai
Ánh trăng trong sáng làm giá lạnh cánh tay ngọc
Bao giờ được tựa bên màn mỏng
Để trăng chiếu cả đôi ta cho ngấn lệ ráo khô?

Dịch Thơ:

Đêm trăng

Đêm nay Phu Châu sáng
Mình em ngắm trăng khuya
Nỗi nhớ Trường An ấy
Thương con chửa biết gì
Sương thơm làn tóc đẫm
Ánh lạnh cánh tay tê
Bao giờ cùng soi bóng
Đôi mình ngấn lệ se.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Châu Phu này lúc trăng soi,
Buồng the đêm vắng riêng coi một mình.
Đoái thương thơ dại đầu xanh,
Tràng An chưa biết mang tình nhớ nhau.
Sương sa thơm ướt mái đầu,
Cánh tay ngọc trắng lạnh màu sáng trong.
Bao giờ tựa bức màn không,
Gương soi chung bóng lệ dòng dòng khô.

Bản dịch của Tản Đà

Chân Trân
18-08-2005, 10:30 PM
Nguyệt dạ xá ức đệ


Thú cổ đoạn nhân hành ,
Thu biên nhất nhạn thanh .
Lộ tòng kim dạ bạch,
Nguyệt thị cố hương minh.
Hữu đệ giai phân tán,
Vô gia vãn tử sinh.
Ký thư trường bất đạt,
Huống nãi vị hưu binh .

Dịch Nghĩa:

Ðêm Trăng Nhớ Em

Tiếng trống nơi đồn thú vang lên, dứt hết vết chân ngườ iđi trên đường. Một tiếng nhạn kêu ở chốn biên thùy mùa thu. Từ đêm nay trở đi, sương móc rơi trắng xóa; trăng vẫn sáng tại quê xưa.
Có các em trai, nhưng đều ly tán; không còn nhà để mà hỏi thăm chúng còn sống hay đã chết. Gửi thư về, nhưng thư thường không tới nơi; huống chi chiến tranh vẫn còn chưa thôi.

Dịch Thơ:

Ðêm Trăng Nhớ Em

Trống dồn dứt vết chân đi;
Nhạn thu một tiếng biên thùy bi ai.
Ðêm nay sương trắng đã rơi,
Quê xưa giờ vẫn sáng ngời bóng trăng.
Có em, đều đã chia tan;
Không nhà mà đến hỏi thăm mất còn.
Gửi thư, chẳng biết tới luôn,
Huống chi chinh chiến nay còn chưa thôi.

Chân Trân
18-08-2005, 10:30 PM
Nhật mộ


Ngư Dương há lai cửu
Các dĩ bế sài môn
Phong nguyệt tự thanh dạ
Giang sơn phi cố viên
Thạch tuyền lưu ám bích
Thảo lộ trí thu căn
Đầu bạch đăng minh lý
Hà tu hoa tẫn phồn

Dịch Nghĩa:

Buổi chiều

Trâu dê xuống núi về đã lâu
Ai nấy đều đã đóng cổng tre
Trăng gió trong đêm vắng lặng
Núi sông chẳng phải nơi vườn xưa
Suối trên đá chảy bên vách lờ mờ
Sương đầu ngọn cỏ rỏ xuống gốc cây thu
Đầu bạc phơ dưới ánh đèn sáng
Cần gì hoa đèn nở ra nhiều !

Dịch Thơ:

Giã núi trâu dê xuống
Nhà nhà cổng đóng then
Gió trăng đêm đã vắng
Sông núi chốn không quen
Vách đá dòng khe chảy
Cây thu móc cỏ hoen
Bạc đầu trong ánh nến
Nào thiết lắm hoa đèn

Chân Trân
18-08-2005, 10:32 PM
Phòng binh Tào Hồ mã


Hồ mã Đại Uyển danh
Phong lăng sấu cốt thành
Trúc phê song nhĩ tuấn
Phong nhập tứ đề khinh
Sở hướng vô không khoát
Chân kham thác tử sinh
Kiêu đằng hữu như thử
Vạn lý khả hoành hành

Dịch Nghĩa:

Con ngựa Hồ của ông Tào binh phòng

Con ngựa Hồ nổi tiếng là giống Đại Uyển
Xương gầy gò như làm bằng cạnh cây mác
Hai tai dựng đứng như lá tre
Bốn vó nhẹ nhàng như hơi gió
Hướng tới vùng cao rộng mênh mông
Thực sẵn sàng phó mặc cho sống chết
Có chạy vùn vụt như thế
Thì mới tha hồ vùng vẫy muôn dặm

Dịch Thơ:

Đại Uyển ngựa lừng danh
Xương gầy thép đúc thành
Đôi tai tre dựng thẳng
Bốn vó gió lùa nhanh
Hẵng tới vùng cao rộng
Chi nài chốn tử sanh
Phi đằng như thế ấy
Muôn dặm cứ hoành hành

Chân Trân
18-08-2005, 10:32 PM
Phục sầu


Vạn quốc thượng nhung mã
Cố viên kim nhược hà
Tích quy tương thức thiểu
Tảo dĩ chiến trường đa

Dịch Nghĩa:

Lại buồn

Muôn nước vẫn còn lo việc quân
Vườn cũ nay ra sao rồi ?
Trước kia trở về,người quen ít ỏi
Nay đã sớm có lắm cảnh sa trường

Dịch Thơ:

Lại buồn

Muôn nước ham chinh chiến
Vườn quê biết thế nào ?
Xưa về thưa bạn hữu
Nay sớm rộn binh đao

Chân Trân
18-08-2005, 10:34 PM
Phục sầu I


Vạn quốc thượng phòng khấu
Cố viên kim nhược hà
Tích qui tương thức thiểu
Tảo dĩ chiến trường đa

Dịch Nghĩa:

Các nơi còn phải phòng ngừa giặc giã (1)
Vườn cũ (2) nay ra sao?
Chuyến trước về (3), lác đác chỉ còn ít người quen biết.
Vì phần nhiều phải ra chiến trường lâu rồi.

-------------------------------------------
Ghi chú:

(1) Nhà Đường lúc này đang bị nạn Thổ Phồn lấn cướp Mân Châu và Linh Châu. Kinh đô phải giới nghiêm.
(2) Chỉ chỗ ở cũ của Đỗ Phủ ở Lạc Dương.
(3) Năm 758, Đỗ Phủ từ Hoa Châu về Lạc Dương.

Dịch Thơ:

Lại buồn I

Giang sơn tan tác nạn binh đao,
Vườn cũ hôm nay biết thế nào?
Ngày trước trở về thân thích vắng,
Giờ đây chiến địa khắp nương hào!

Chân Trân
18-08-2005, 10:35 PM
Phụng tặng Vi tả thừa trượng nhị thập nhị vận


Hoàn khóa bất ngã tử
Nho quan đa ngộ thân
Trượng nhân thí tĩnh thính
Tiện tử thỉnh cụ trần
Phủ tích thiếu niên nhật
Tảo sung quan quốc tân
Độc thư phá vạn quyển
Hạ bút như hữu thần
Phú liệu Dương Hùng địch
Thi Khan Tử Kiến thân
Lý Ung cầu thức diện
Vương Hàn nguyện bốc lân
Tự vị phả dĩnh xuất
Lập đăng yếu lộ tân
Trí quân Nghiêu , Thuấn thượng
Tái sử phong tục thuần
Thử ý cánh tiêu điều
Hành ca phi ẩn luân
Kỵ lư thập tam tải
Lữ thực kinh hoa xuân
Triêu khấu phú nhi môn
Mộ tùy phì mã trần
Tàn bôi dữ lãnh chá
Đáo xứ tiềm bi tân
Chủ thượng khoảnh kiến trưng
Thúc nhiên dục cầu thân
Thanh minh khướt thùy si
Tằng đăng vô túng lân
Thậm quý trượng nhân hậu
Thậm tri trượng nhân chân
Mỗi ư bách liêu thượng
Ổi tụng giai cú tân
Thiết hiệu Cống công hỉ
Nan cam Nguyên Hiến bần
Yên năng tâm ưởng ưởng
Chỉ thị tẩu tuân tuân
Kim dục đông nhập hải
Tức tương tây khứ Tần
Thượng liên Chung Nam sơn
Hồi thủ thanh Vị tân
Thường nghĩ báo nhất phạn
Huống hoài từ đại thần
Bạch âu một hạo đãng
Vạn lý thùy năng thuần

Dịch Nghĩa:

Con nhà giàu không bao giờ chết đói
Mũ áo nhà nho nhiều lúc làm lỡ đời người
Xin bậc tôn trưởng hãy lắng tai nghe
Cho kẻ hèn mọn được giãi bày rõ rệt
Đỗ Phủ này lúc còn ít tuổi
Sớm được dự hàng "khách nước" vinh quang
Sách đọc vỡ muôn cuốn
Bút viết như có thần
Phú địch nổi Dương Hùng
Thơ gần với Tử Kiến
Lý Ung cũng mong biết mặt
Vương Hãn cũng muốn ở gần
Nghĩ mình sẽ được trổ tài
Bước lên nơi trọng yếu
Giúp vua hơn Nghiêu Thuấn
Làm cho phong tục trở lại trong lằnh
(Nhưng) ý nghĩ ấy đã bị tan mất
Lại không được như người ẩn dật
Đâm ra đi lang thang hát nghêu ngao
Mười ba năm trời cưỡi trên mình lừa
Ăn ở nhờ nơi kinh đô
Sớm gõ cửa nhà giàu
Chiều hút theo dấu bụi đám ngựa béo
Rượu thừa cùng chả nguội
Đến đâu cũng âm thầm xót xa
Vụt được vua vời đến
Chắc được bay nhảy có phần
(Nhưng ) giữa khoảng trời xanh , chim đành rũ cánh
Cá lờ đờ không chỗ giương vây
Thẹn mình được bậc tôn trưởng rủ tình đằm thắm
Rất hiểu lòng chân thực của cụ
Thường khi trước mặt trăm quan
Những câu thơ hay được đưa ra nhẩm đọc
Trộm bắt chước cái mừng của Cống Vũ
Chưa cam chịu cảnh Nguyên Hiến nghèo nàn
Hay đâu lòng bùi ngùi
Mỗi bước ruột nẫu úa
Nay định phương đông vào bể
Sẽ ra phương tây đi khỏi đất Tần
Nhìn núi Chung Nam vẫn còn lmến tiếc
Nghoảnh về phía sông Vị trong vắt một màu
Bát cơm còn mang ơn nặng
Huống chi từ biệt bậc đại thần lại không nhớ nhung
(Từ đây ) chim bạch âu lẩn trong khoảnh mênh mông
Muôn dặm vẫy vùng ai còn chế ngự được

Dịch Thơ:

Dâng tặng quan tả thừa a họ Vi

Khố lụa chẳng chết đói
Mũ nho thường tội thân
Cụ hãy lắng nghe thử
Hèn mọn xin phân trần
Phủ tôi lúc trẻ tuổi
Sớm dự khoa thi xuân
Sách đọc vỡ muôn quyển
Hạ bút như có thần
Thơ sánh sức Tào Thực
Phú ngang tài Tử Vân
Lý Ung tìm biết mặt
Vương Hãn muốn cầu thân
Tài mình tưởng chẳng mấy
Sẽ nắm quyền trị dân
Giúp vua vượt Nghiêu Thuấn
Lại cho phong tục thuần
Hát rong phải lánh đời ?
Nguyền xưa dẫu lỗi dần
Cưỡi lừa mười ba năm
Đất kinh tìm kiếm ăn
Nhà giàu sớm gõ cửa
Ngựa béo chiều theo chân
Rượu thừa , miếng chả nguội
Nuốt tủi đã bao lần ?
Nhà vua vừa cho đòi
Bay nhảy chắc có phần
Mây xanh , cánh bỗng rã
Vũng cạn , vẩy đành quằn
Rất biết cụ thực bụng
Rất cảm cụ ân cần
Câu hay thường đọc lại
Trước mặt các triều thần
Lòng mừng riêng khấp khởi
Cảnh nghèo bao khó khăn
Chạy kể đã vất vả
Lòng dẫu không ăn năn
Nay định tìm vào bể
Sẽ ra ngay khỏi Tần
Núi Chung còn tiếc rẻ
Bến Vị tạm lần chần
Bữa ăn mong trả nghĩa
Huống nữa là ân nhân
Muôn dặm sóng mông mênh
Âu trắng ai dễ gần ?

Bản dịch của Nhượng Tống

Chân Trân
18-08-2005, 10:36 PM
Phụng tế dịch trùng tống nghiêm công tứ vận


Viễn tống tòng thử biệt
Thanh sơn không phục tình
Kỷ thời bôi trùng bả ?
Tạc dạ nguyệt đồng hành
Liệt quận âu ca tích
Tam triều xuất nhập vinh
Giang thôn độc quy xử
Tịch mịch dưỡng tàn sinh

Dịch Nghĩa:

Bài thơ bốn vần lại tiễn đưa ông Nghiêm ở trạm phụng tế

Tiễn bác đi xa,từ đây chia lìa
Núi xanh chan chứa tình
Mấy khi lại nâng chén rượu ?
Hôm qua cùng đi dưới trăng
Dân các quận khen ngợi nhớ tiếc
Suốt ba triều ra vào vinh hiển
Nay một mình về ẩn xóm ven sông
Lấy cảnh vắng nuôi cuộc đời còn lại

Dịch Thơ:

Tiễn bác đường vời vợi
Non xanh chan chứa tình
Thuở nào say chén ngọc ?
Đêm trước dạo trăng xinh
Các quận dân thương tiếc
Ba triều chức tước vinh
Xóm sông về ẩn dật
Vắng vẻ trọn đời mình

Chân Trân
18-08-2005, 10:38 PM
Quan Lý Cố Ngôn


Phương trượng hồn liên thuỷ
Thiên Thai tổng ánh vân
Nhân gian trường kiến hoạ
Lão khứ hận không văn
Phạm Lãi chu biên tiểu
Vương Kiều hạc bất quần
Thử sinh tuỳ vạn vật
Hà xứ xuất trần phân ?

Dịch Nghĩa:

Xem Lý Cố Ngôn

Phương trượng bao la nối tiếp mặt nước
Thiên Thai bao trùm làn mây sáng
Người đời thường thấy tranh vẽ
Ta già rồi chỉ tiếc nghe suông
[Hiềm vì] thuyền Phạm Lãi nhỏ bé
Hạc của Vương Kiều không nhóm lại
Cuộc sống này là tuỳ ở muôn vật
Nơi đâu thoát khỏi đời bụi bặm này ?

Dịch Thơ:

Phương Trượng mênh mông nước
Thiên Thai rạng rỡ mây
Người đời thường thấy vẽ
Luống tuổi chỉ nghe thầy
Phạm Lãi thuyền khoang nhỏ
Vương Kiều hạc lẻ bầy
Cuộc đời do tạo vật
Đâu thoát cõi trần đây ?

Chân Trân
18-08-2005, 10:39 PM
Quy nhạn


Đông lai vạn lý khách
Loạn định kỷ niên quy
Trường đoạn giang thành nhạn
Cao cao hưởng bắc phi

Dịch Nghĩa:

Người khách từ vạn dặm đi đến từ hướng đông.
Loạn dẹp yên mấy năm sẽ về
Ruột đứt từng đoạn, con nhạn ở thành nơi bờ sông.
Bay về phía bắc ở trên cao.

Dịch Thơ:

Nhạn về

Viễn khách từ đông đến
Yên: về, biết lúc nào?
Ải nhìn nhạn: ruột đứt!
Bay hướng bắc cao cao

Chân Trân
18-08-2005, 10:40 PM
Sơ nguyệt


Quang tế huyền sơ thướng
ảnh tà luân vị an
Vi thăng cổ tái ngoại
Dĩ ẩn mộ vân đoan
Hà Hán bất cải sắc
Quan sơn không tự hàn
Đình tiền hữu bạch lộ
ám mãn cúc hoa đoàn

Dịch Nghĩa:

Trăng non

Vành cung mới lên, ánh nắng mờ nhạt
Bóng nghiêng nghiêng, hình chưa ổn định
Nhích chậm lên bên ngoài ải cổ
Đã nấp sau đám mây chiều
Qua ngân hà, không thay đổi dáng vẻ
Chốn quan sơn, tự nhiên thành giá lạnh
Trước sân có sương móc trắng
Bao trùm các đoá hoa cúc

Dịch Thơ:

Nhàn nhạt vành cung mọc
Chênh chênh dáng chửa đều
Dần nhô ngoài ải vắng
Đã nép cạnh mây chiều
Ngân Hán nguyên màu cũ
Quan san giá lạnh nhiều
Trước sân làn móc trắng
Cúc nở rợp yêu kiều...

Bản dịch của Lê Nguyễn Lưu

Chân Trân
18-08-2005, 10:42 PM
Tam biệt

Thùy lão biệt

Tứ giao vị ninh tĩnh
Thùy lão bất đắc an
Tử tôn trận vong tận
Yên dụng thân độc hoàn ?
Đầu trượng xuất môn khứ ?
Đồng hành vị tân toan
Hạnh hữu nha xỉ tồn
Sở bi cốt tủy can
Nam nhi ký giới trụ
Trường ấp biệt thượng quan
Lão thê ngọa lộ đề
Tuế mộ y thường đan
Thục tri thị tử biệt ?
Thả phục thương kỳ hàn
Thử khứ bất tất quy
Hoàn văn khuyến gia xan
Thổ môn bích thậm kiên
Hạnh viên độ diệc nan
Thế dị Nghiệp thành hạ
Tùng tử thời do khoan
Nhân sinh hữu ly hợp
Khởi trạch suy thịnh đoan ?
Ức tích thiếu tráng nhật
Trì hồi cánh trường than
Vạn quốc tận chinh thú
Phong hoả bị cương loan
Tích thi thảo mộc tinh
Lưu huyết xuyên nguyên đan
Hà hương vi lạc thổ
An cảm thượng bàn hoàn
Khí tuyệt bồng thất cư
Tháp nhiên tồi phế can

Tân hôn biệt

Thỏ ty phụ bồng ma
Dẫn man cố bất trường
Giá nữ dữ chinh phu
Bất như khí lộ bàng !
Kết phát vi quân thê
Tịch bất noãn quân sàng
Mộ hôn thần cáo biệt
Vô nãi thái thông mang !
Quân hành tuy bất viễn
Thú biên phó Hà Dương
Thiếp thân vị phân minh
Hà dĩ bái cô chương ?
Phụ mẫu dưỡng ngã thì
Nhật dạ linh ngã tàng
Sinh nữ hữu sở quy
Kê cẩu diệc đắc tương
Quân kim vãng tử địa
Trầm thống bách trung trường
Thệ dục tùy quân khứ
Hình thế phản thương hoàng
Vật vị tân hôn niệm
Nỗ lực sự nhung hàng
Phụ nhân tại nhân trung
Binh khí khủng bất dương
Tự ta bần gia nữ
Cửu trí la nhu thường
La nhu bất phục thi
Đối quân tẩy hồng trang
Ngưỡng thị bách điểu phi
Đại tiểu tất song tường
Nhân sự đa thác ngỗ
Dữ quân vĩnh tương vương

Vô gia biệt

Tịch mịch Thiên Bảo hậu
Viên lư đãn cao lê
Ngã lý bách dư gia
Thế loạn các đông tê
Tồn giả vô tiêu tức
Tử giả vị trần nê !
Tiện tử nhân trận bại
Quy lai tầm cựu khê
Cửu hành kiến không hạng
Nhật sấu khí thảm thê !
Đãn đối hồ dữ ly
Thụ mao nộ ngã đề
Tứ lân hà sở hữu ?
Nhất nhị lão quả thê
Túc điểu luyến bản chi
An từ thả cùng thê
Phương xuân độc hà xừ
Nhật mộ hoàn quán khuê
Huyện lại tri ngã chí
Triệu linh tập cổ bề
Tuy tòng bản châu dịch
Nội cố vô sở huề
Cận hành chỉ nhất thân
Viễn khứ chung chuyển mê
Gia hương ký đãng tận
Viễn cận lý diệc tề
Vĩnh thống trường bệnh mẫu
Ngũ niên uỷ câu khê !
Sinh ngã bất đắc lực
Chung thân lưỡng toan tê !
Nhân sinh vô gia biệt
Hà dĩ vi chửng lê ?

Dịch Nghĩa:

Cuộc chia ly lúc về già

Bốn phương chưa ổn định
Thân về già cũng chẳng được yên
Con cháu chết trận hết
Một mình sống để làm gì ?
Quẳng gậy ra cửa đi
Bạn đồng hành cũng lấy làm chua xót
May hàm răng vẫn còn
Thương nỗi tủy xương đã khô kiệt !
Thân trai đã mặc đồ giáp trụ
Vái dài từ biệt quan trên
Vợ già lăn ra đường gào
Hết năm rồi quần áo mỏng manh
Ai ngờ đến lúc tử biệt
Mà còn thương nhau rét !
Lần này đi chắc chắn không trở về
Vẫn còn nghe khuyên nhau cố ăn thêm
Nơi Thổ Môn thành lũy rất vững
Thành Hạnh Viên cũng khó vượt qua
Hình thế không giống như ở dưới thành Nghiệp
Dù có chết cũng còn lâu
Đời người có tan có hợp
Kể gì tuổi trẻ hay già ?
Nhớ lại đương thì trai tráng
Băn khoăn rồi lại thở dài
Muôn nước đều có chiến tranh đồn thú
Lửa báo động bốc khắp núi gò
Thây chất làm tanh hôi cây cỏ
Máu chảy nhuộm đỏ sông ngòi đồng ruộng
Còn quê hương nào là đất yên vui
Mà còn dám chần chừ nữa ?
Dứt bỏ nơi ở tranh pheo này
Rời rã như nát cả gan phổi !

Cuộc chia ly của cặp vợ chồng mới cưới

Dây tơ hồng bám vào cây bòng bong , cây gai
Dù ngọn dây có lan ra cũng không thể được dài
Có con gái gã cho người đi lính
Chẳng thà vất bỏ bên đường
Vấn tóc (1) về làm vợ anh
Giường của anh , em nằm chưa ấm chiếu
Chập tối đưa dâu , sớm mai từ biệt
Há chẳng là quá đỗi vội vàng !
Anh đi tuy không xa
Đến Hà Dương để đóng giữ biên giới
Nhưng thân phận em chưa được phân minh (2)
Biết lạy chào cha mẹ chồng thế nào cho phải ?
Nhớ khi ở với cha mẹ
Ngày đêm nuôi nấng giữ gìn trong nhà
Sinh con gái thì phải gả chồng
Con gà con chó cũng được mang theo (3)
Nay anh đến nơi vào sinh ra tử
Nỗi đau ngầm nung nấu trong lòng em
Đã toan thề quyết đi theo anh
Song tình thế lại biến chuyển khó khăn
Anh chớ nên vì vợ mới mà bịn rịn
Hãy gắng sức gánh vác việc quân
Nếu có đàn bà trong quân đội
E tinh thần binh sĩ khó lên cao
Em chỉ than thân là con gái nhà nghèo
Bộ áo xiêm lụa may mãi mới xong
Áo xiêm ấy nay không mặc nữa
Trước mặt anh rửa hết phấn son
Ngước nhìn trăm giống chim bay trên trời
Mặc dù lớn nhỏ cũng đều có đôi
Sao đời người lại lắm điều lận đận
Em cùng anh trông ngónh nhau hoài

Cuộc chia ly của kẻ vô gia cư

Cảnh tiêu điều sau năm Thiên Bảo
Nhà vườn toàn là cỏ dại
Xóm mình có hơn trăm nhà
Gặp đời loạn , mỗi người đi một phương
Người còn không tin tức gì
Người chết biến thành bụi đất
Thân hèn vì thua trận
Tìm lối cũ quay về
Đi mãi chỉ thấy ngõ vắng
Ánh nắng thoi thóp , cảnh tượng thê lương !
Trước mắt chỉ thấy cáo cùng cầy
Xù lông nhìn ta gầm gừ , giận dữ
Bốn bề hàng xóm còn gì đâu ?
Một vài bà già góa bụa
Chim ngủ mến cành quen
Đâu dám ngại , đành nương náu với nghèo khổ !
Giữa mùa xuân thui thủi vác cuốc
Chiều tối vẫn tát nước ngoài đồng
Bọn nha lại trên huyện biết mình về
Gọi gắt đi tập trống trận
Tuy chỉ phục dịch trong châu nhà
Nhìn lại chẳng có người nào
Đi gần chỉ có một thân
Đi xa cuối cùng lạc lối !
Quân nhà đã sạch sành sanh
Dù xa hay gần thì cũng thế
Xót thương vô cùng , mẹ già ốm lâu năm
Chết đã năm năm rồi vẫn vùi bên khe lạch
Sinh ra mình mà chẳng được nhờ
Suốt đời mẹ con đều chua xót !
Ðời người đến nỗi không có nhà mà từ biệt
Thực làm kẻ dân đen cũng không đáng

Dịch Thơ:

Cuộc từ biệt lúc về già

Nước loạn lạc ,thân già lận đận
Con cháu đều chết trận hết rồi
Một mình sống ở với ai ?
Ném phăng chiếc gậy , cửa ngoài ra đi !
Răng may chặt , xương thì đã lỏng
Người cùng đi ai cũng xót thương
Tài trai mũ đội , giáp mang
Vái dài , phải dám khinh thường quan trên !
Vợ già khóc lăn trên đường cái
Quần áo đơn dầu dãi chiều đông
Còn thương nhau nỗi lạnh lùng
Nào hay sống chết , thôi hòng gặp nhau
Đi thì được , về đâu được nữa
Còn khuyên nhau cơm bữa gượng xơi !
Ải bền , trấn vững bao nơi
Chẳng như thành Nghiệp : chết thời còn lâu !
Đời tan hợp cứ đâu già cũ
Tiếc trẻ trung trót đã lữa lần
Muôn phương chật ních những quân
Núi rừng lửa hiệu xa gần cháy vung
Thây chất lại thối xông cây cỏ
Máu chảy ra nhuộm đỏ sông đồng
Đâu yên vui nữa mà mong
Lều tranh bỏ dứt đau lòng tím gan

Bản dịch của Nhượng Tống

Cuộc ly biệt của đôi vợ chồng mới cưới

Tơ hồng leo phải cây đay
Quanh co quấn quít cho dây khó dài
Gả con cho mấy cậu cai
Chẳng thà bỏ quách ở nơi vệ đường
Rẽ ngôi , em bén duyên chàng
Chiếu em chưa ấm cái giường nhà trai
Cưới chiều hôm , vắng sớm mai
Duyên đâu lật đật cho ngươi xót xa !
Chàng đi dù chẳng bao xa
Hà Dương đất ấy cũng là đáng lo
Thân em mới mẻ thẹn thò
Chào cha , gửi mẹ sao cho nên điều ?
Ngày xưa cha , mẹ nuông chiều
Ngày đêm những bắt nâng niu giữ giàng
Đến khi về tới nhà chàng
Con gà , con chó cũng mang theo cùng
Chàng nay tới chốn hãi hùng
Nghĩ thôi em đã quặn lòng đau thương
Cũng toan quyết chí theo chàng
Chút e tình thế vội vàng chưa yên
Thôi chàng gác mối tình duyên
Việc binh đã gánh thì nên chuyên cần
Đàn bà ở đám ba quân
Sợ rằng gươm giáo kém phần xông pha
Xót em thanh bạch con nhà
Có may được tấm quần là từ lâu
Quần là còn mặc đi đâu ?
Đối chành , xin rửa hết màu phấn son
Ngửa trong chim chóc bao con
Con to , con nhỏ cũng còn bay đôi
Dở dang ngắm cái kiếp người
Cùng chàng , thôi sẽ suốt đời nhớ mong !

Bản dịch của Ngô Tất Tố

Cuộc ly biệt của kẻ không nhà

Quạnh quẽ sau Thiên Bảo
Vườn lều chỉ cỏ gai !
Làng tôi dư trăm nhà
Thời loạn tản đông tây
Người còn không tin tức
Người chết lấp bùn lầy
Thằng tôi nhân thua trận
Tìm lối cũ về đây
Ði hoài thấy ngõ trống
Buồn tênh bóng nắng gầy !
Chỉ gặp chồn với cáo
Xù lông khịt dọa tôi
Quanh làng gì đâu có ?
Bà góa một đôi người
Chim còn mến cành cũ
Ðậu khổ vẫn không rời
Mùa xuân , riêng vác cuốc
Tối , còn tưới nương soi
Viên huyện hay tôi về
Ra lính , đã cho đòi
Tuy làm lính trong hạt
Trong nhà không còn ai
Ði gần riêng lủi thủi
Ði xa biệt mù khơi
Quê nhà đà hết sạch
Xa gần cũng thế thôi !
Xót mẹ nỗi đau ốm
Vùi xác năm năm rồi
Sinh tôi chẳng được gì
Suốt đời hận cả đôi
Người không nhà mà biệt
Sao gọi được là người ?

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Chân Trân
21-08-2005, 03:49 AM
Tam lại

Thạch Hào lại

Mộ đầu Thạch Hào thôn,
Hữu lại dạ tróc nhân.
Lão ông du tường tẩu,
Lão phụ xuất khan môn.
Lại hô nhất hà nộ,
Phụ đề nhất hà khổ!
Thính phụ tiền trí từ:
"Tam nam Nghiệp Thành thú
Nhất nam phụ thư chí
Nhị nam tân chiến tử.
Tồn giả thả thâu sinh,
Tử giả trường dĩ hỹ!
Thất trung cánh vô nhân,
Duy hữu nhũ hạ tôn.
Hữu tôn mẫu vị khứ,
Xuất nhập vô hoàn quần.
Lão ẩu lực tuy suy,
Thỉnh tòng lại dạ quy.
Cấp ứng Hà Dương dịch,
Do đắc bị thần xuy".
Dạ cửu ngữ thanh tuyệt,
Như văn khốc u yết.
Thiên minh đăng tiền đồ,
Độc dữ lão ông biệt.

Đồng Quan lại

Sĩ tốt hà thảo thảo?
Trúc thành Đồng Quan dạo
Đại thành thiết bất như
Tiểu thành vạn trượng dư
Tá vấn Đồng Quan lại
Tu quan hoàn bị Hồ
Yêu ngã há mã hành
Vị ngã chỉ sơn ngu
Liên vân liệt chiến cách
Phi điểu bất năng du
Hồ lai đãn tự thủ
Khởi phục ưu Tây Đô
Trượng nhân thị yếu xứ
Chính hiệp dung đan xa
Gian nan phấn trường kích
Vạn cổ dụng nhất phu
Ai tai Đào Lâm chiến
Bách vạn hóa vi ngư
Thỉnh phúc phòng quan tướng
Thận vật học Kha Thư!

Tân An lại

Khách hành Tân An đạo
Huyện hô ao điểm binh
Tá vấn Tân An lại
Huyện tiểu cánh vô đinh
Phủ thiếp tạc dạ há
Thứ tuyển trung nam hành
Trung nam tuyệt đoản tiểu
Hà dĩ thủ vương thành ?
Phì nam hữu mẫu tống
Sấu nam độc linh bình
Bạch thủy mộ đông lưu
Thanh sơn do khốc thanh
Mạc tự sử nhãn khô
Thu nhữ lệ tung hoành
Nhãn khô tức kiến cốt
Thiên địa chung vô tình !
Ngã quân thủ Tương Châu
Nhật tịch vọng kỳ bình
Khởi ý tặc nan liệu
Qui quân tinh tản doanh
Tựu lương cận cố lũy
Luyện tốt y cựu kinh
Quật hào bất đáo thủy
Mục mã dịch diệc khinh
Huống nãi vương sư thuận
Phủ dưỡng thậm phân minh
Tống hành vật khấp huyết
Bộc dịch như phũ huynh !

Dịch Nghĩa:

Tên lại ở Đồng Quan

Quân lính bao khó nhọc
Đắp thành trên đường Đồng Quan
Thành lớn , sắt không vững bằng
Thành nhỏ , dài hơn vạn trượng
Ướm hỏi người nha lại ở Đồng Quan
(Rằng) vẫn sửa sang cửa ải để đề phòng giặc Hồ?
(Người nha lạ ) mời ta xuống ngựa cùng đi
Chỉ cho ta xem phía góc núi:
Hàng chiến lũy kéo dài như liền với mây
Chim bay cũng không vượt được
Giặc Hồ dù có đến cũng tự giữ lấy
Không còn phải lo cho Tây Đô nữa
- Ông xem những chỗ hiểm yếu:
Hẹp chỉ vừa một chiếc xe đi
Cung cái kích dài cũng khó khăn
Từ xưa vẫn chỉ dùng một người cũng giữ được
Thương thay! Trận Rừng Đào
Trăm vạn quân đều hóa cá
Xin dặn ông tướng giữ cửa ải:
Coi chừng! Chớ bắt chước Kha Thư!
-------------------------------------------
- Đồng Quan: một cửa ải rất hiểm yếu ngày xưa, tây giáp núi Hoa Sơn , đông giáp Rừng Đào
- Rừng Đào: một địa điểm gần Đồng Quan, nơi Kha Thư Hàn, tướng nhà Đường bị An Lộc Sơn đánh tan, hơn mươi vạn quân chết đuối ở sông Hoàng Hà.

Tên lại ở Tân An

Khách qua đường Tân An
Nghe rầm rộ bắt lính
Ướm hỏi viên lại Tân An
-(Rằng ) huyện nhỏ hết cả trai tráng
Đêm qua quan phủ lại hạ trát
Bắt tuyển xuống hạng trung nam
- Trung nam thấp bé quá
Giữ sao nổi thành nhà vua ?
Hạng trai mập mạp có mẹ đi tiễn
Riêng hạng gầy nhàng thất thễu lẽ loi
Chiều rồi , dòng nước bạc vẫn cứ xuôi đông
Tận dãy núi xanh còn vang tiếng khóc
Thôi ! Đừng làm cho mắt mình khô đi nữa
Hãy ngừng những hàng lệ ngổn ngang lại
Mắt khô tức là trơ xương
Trời đất bao giờ cũng dửng dưng lạnh nhạt
Quân ta đã lấy được châu Tương
Sớm chiều những mong yên ổn
Ai ngờ thế giặc khôn lường
Quân rút về các trại tản mát
Muốn tiện lương , phải đóng gần lũy cũ
Để luyện quân lính phải dựa kinh xưa
Đào hào không đào đến nước
Chăn ngựa cũng là việc nhẹ nhàng
Huống chi quân nhà vua là chính nghĩa
An ủi , nuôi dưỡng rất phân minh
Buổi tiễn đưa đừng khóc lóc thảm thiết nữa
Có quan bộc dịch chẳng khác gì cha anh !

Dịch Thơ:

Viên lại ở Thạch Hào

Chiều ghé xóm Thạch Hào,
Quan bắt người nửa đêm.
Ông già vượt tường trốn,
Bà già ra cửa nhìn.

Viên lại quát đà dữ!
Bà già van đà khổ!
Van rằng: "Có ba trai
Thành Nghiệp đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn,
Hai đứa vừa chết trận.
Đứa chết đành thôi rồi,
Đứa còn đâu chắc chắn !
Trong nhà không còn ai,
Có cháu đang bú thôi.
Mẹ cháu chưa rời cháu,
Ra vào quần tả tơi.
Tuy sức yếu già đây,
Xin theo ngài đêm nay,
Đến Hà Dương còn kịp,
Thổi cơm hầu buổi mai."

Đêm khuya lời đã tắt,
Dường nghe khóc ấm ức.
Sáng ra chào lên đường,
Chỉ cùng ông lão biệt.

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Tên lại ở Đồng Quan


Bao quân lính ngày đêm vất vả
Thành Đồng Quan nay đã đắp nên
Thành to thừa sức vững bền
Thành con muôn trượng tiếp liền trời mây

Hỏi tên lại: thành này vội đắp
Ngự giặc Hồ, việc gấp phải không?
Mời ta xuống ngựa đi cùng
Chỉ ra góc núi, mãi vùng xa xa:
Đó rào chiến thật là kiên cố
Dù chim bay cũng khó vượt qua
Quân Hồ hết lối xông pha
Tây Đô còn cách đường xa sợ gì
Kìa lối hiểm men đi chót vót
Đường hẹp này chỉ lọt một xe
Dáo dài cũng khó giở nghề
Một người chống vạn, quen lề từ xưa
Trận Đào Lâm đánh bừa mang vạ
Hàng triệu quân làm cá sông Hoàng
Nhắn ông tướng giữ cửa Quan:
Coi chừng chớ lại học chàng Kha Thư!

Bản dịch của Đoãn Kế Thiện

Tên lại huyện Tân An

Khách qua đường Tân An
Nhộn nhịp nghe điểm binh
Hỏi thăm , thầy thông bảo :
- Huyện nhỏ không còn đinh
Hôm qua trát phủ xuống
Sung số tuyển cho nhanh
Số tuyển thấp bé quá
Giữ sao nổi đô thành ?
Anh béo , mẹ đưa chân
Anh gầy nhìn loanh hoanh
Nước bạc chiều chảy xuôi
Tiếng khóc vang non xanh !
Khóc chi cho hốc mắt ?
Nín đi thôi các anh !
Dẫu cho khóc rũ xương
Trời đất vẫn vô tình
Quân ta lấy Tương châu
Hôm sớm mong thanh bình
Lính chạy , trại tan vỡ
Liệu giặc ,ai người tinh !
Vận lương tới trước trận
Rèn lính ngay miền kinh
Đào hào chưa tới nước
Chăn ngựa việc cũng lành
Nuôi nấng rất phân minh
QUan tướng như mẹ cha
Khóc chi khi tiễn hành ?

Bản dịch của Nhượng Tống

Chân Trân
21-08-2005, 03:51 AM
Túc Kiến Đức giang

Di chu bạc yên chử
Nhật mộ khách sầu tân
Dã khoáng thiên đê thụ
Giang thanh nguyệt cận nhân

Dịch Nghĩa:

Dời thuyền lại đậu ở bến sông đầy khói
Trời chiều khách lại có thêm mối sầu
Ngoài khoáng dã trời sầm xuống hàng cây
Trên mặt sông trong vắt mặt trăng đi gần đến người

Dịch Thơ:

Ở lại sông Kiến Đức

Dời thuyền đến đậu bên bờ khói
Sầu khách vừa dâng lúc tối trời
Ðồng ruộng cây đem trời xuống thấp
Sông trong trăng sáng đến gần người

Bản dịch của Trần Trọng San

Dời thuyền đậu bến khói mây
Chiều hôm xúc cảnh khách ngây mối tình
Ðồng không trời thấp ngọn cành
Nước sông trong vắt trăng quanh cạnh người

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Chân Trân
21-08-2005, 03:53 AM
Tần Châu tạp thi


Tần Châu thành bắc tự
Truyền thị Ngỗi Hiêu cung
Đài tiển sơn môn cổ
Đan thanh dã điện không
Nguyệt minh thuỳ diệp lộ
Vân trục độ khê phong
Thanh Vị vô tình cực
Sầu thì độc hướng đông

Dịch Nghĩa:

Thơ vặt ở Tần Châu

Ngôi chùa phía bắc thành Tần Châu
Tương truyền là cung vua Ngỗi Hiêu
Rêu trên cửa núi cũ kỹ
Nét vẽ ở điện hoang trơ trọi
Trăng soi sáng hạt móc đầu lá rũ
Mây đưa gió thổi qua khe
Sông Vị trông quá thờ ơ
Buồn bã chỉ chảy về hướng đông

Dịch Thơ:

Tần Châu chùa cõi bắc
ấy chốn Ngỗi Hiêu xưa
Cửa núi làn rêu cũ
Đền hoang nét vẽ thưa
Trăng soi sương lá giọt
Mây giục gió khe đưa
Thanh Vị thờ ơ thế
Về đông buồn quạnh chưa !

Chân Trân
21-08-2005, 03:53 AM
Tặng Hoa khanh


Cẩm Thành ti quản nhật phân phân,
Bán thập giang phong bán nhập vân
Thử khúc chỉ ứng thiên thượng hữu,
Nhân gian năng đắc kỷ hồi văn!

Dịch Nghĩa:

Tiếng đàn tiếng sáo ở Cẩm Thành ngày ngày dìu dặt,
Nửa tan vào tiếng gió của giòng sông, nửa vút lên tầng mây.
Khúc nhạc này chỉ ứng được với thượng giới thôi.
Giữa trần gian nào ai nghe được mấy lần!

Dịch Thơ:

Tặng vị khanh họ Hoa

Cẩm Thành dìu dặt tiếng tơ,
Nửa bay theo gió, nửa chờ mây trôi.
Khúc này thượng giới có thôi,
Trần gian thử hỏi mấy hồi được nghe!

Chân Trân
21-08-2005, 03:54 AM
Tặng Lý Bạch


Thu lai tương cố thượng phiêu bồng
Vị tựu đan sa quý Cát Hồng
Thống ẩm cuồng ca không độ nhật
Phi dương bạt hộ vị thuỳ hùng ?

Dịch Nghĩa:

Tặng Lý Bạch

Thu tới nhìn nhau còn như cỏ bồng xiêu dạt
Chưa luyện xong đan thẹn với Cát Hồng
Uống say khướt hát lung tung cho hết ngày
Đã bướng lại ngông,vì ai mà làm anh hùng ?

Dịch Thơ:

Thu sang thân vẫn tựa phiêu bồng
Chửa luyện xong đan,thẹn Cát Hồng
Uống mãi hát tràn qua suốt buổi
Tranh hùng ai nhỉ,bướng cùng ngông !

Chân Trân
22-08-2005, 11:13 PM
Tặng Vệ bát xử sĩ


Nhân sinh bất tương kiến
Ðộng như Sâm dữ Thương
Kim tịch phục hà tịch
Cộng thử đăng chúc quang
Thiếu tráng năng kỷ thì
Mấn phát các dĩ thương
Phỏng cựu bán vi qủy
Kinh hô nhiệt trung trường
Yên tri nhị thập tải
Trùng thượng quân tử đường
Tích biệt quân vị hôn
Nhi nữ hốt thành hàng
Di nhiên kính phụ chấp
Vấn ngã lai hà phương
Vấn đáp nãi vị dĩ
Khu nhi la tửu tương
Dạ vũ tiễn xuân cửu
Tân xuy gián hoàng lương
Chủ xưng hội diện nan
Nhất cử lũy thập trường
Thập trường diệc bất túy
Cảm tử cố ý trường
Minh nhật cách sơn nhạc
Thế sự lưỡng mang mang

Dịch Nghĩa:

Ðời con người thường không gặp nhau
Như là hai sao Sâm và Thương
Ðêm nay cũng trở lại như đêm nào
Cùng chung dưới một ánh đèn
Thời trẻ được bao nhiêu lâu nhĩ
Hai ta tóc tai đều đã bạc
Hỏi thăm bạn bè hồi xưa, một nửa đã qua đời
Ta kinh hô lòng nóng sôi
Có biết đâu 20 mươi năm sau
Lại trở về nhà thăm bạn
Xưa lúc từ biệt bạn còn chưa có gia thất
Bây giờ con cái bỗng nhiên hàng hàng ra chào
Niềm nỡ kính cẩn mời bạn của cha
Hỏi thăm ở nơi nào lại
Hai bên vừa hỏi vừa trả lời một hồi
Mấy đứa nhỏ đã đem rượu bày ra
Trong mưa đêm đi hái rau hẹ mùa xuân
Cơm vừa mới thổi có lẫn kê vàng
Chủ nhân nói khó mà có dịp gặp được nhau
Phải uống một hơi mười chén rượu
Mười chén rượu uống nào đã say
Chỉ cảm động (mà say) tấm lòng của bằng hữu
Ngày mai rồi sẽ núi non xa cách
Việc đời cả hai bên đều man mác không biết về đâu

Dịch Thơ:

Tặng chàng xử sĩ họ Vệ thứ tám

Ở đời không gặp gỡ
Như cách vời Sâm Thương
Ðêm nay giống đêm nào
Chung ánh nến canh trường
Ðược bao lâu khỏe mạnh
Mái tóc đều pha sương
Bạn xưa chết quá nửa
Lòng kinh sợ bàng hoàng
Ngờ dâu hai mươi năm
Lại lên nhà quân tử
Xưa bạn chưa có vợ
Nay con cái đầy đàn
Mừng vui chào lạy bác
Hỏi tôi từ đâu sang
Hỏi đáp còn chưa dứt
Mâm rượu đã sẵn sàng
Rau xuân hái mưa tối
Cơm thổi lẫn kê vàng
Chủ than khó gặp mặt
Mười chén cạn một hơi
Mười chén cũng không say
Cảm động tình xưa cũ
Mai núi sông cách trở
Cùng man mác việc đời

Bản dịch của Trần Trọng San

Người đời không được thấy nhau
Sâm Thương mỗi lúc dễ hầu gặp nhau
Ðêm nay mới lại đêm nào
Ngọn đèn soi tỏ một bầu sáng trưng
Trẻ trung kể được mấy chừng
Tóc đầu thấy đã một vầng hoa dâm
Hỏi bạn xưa nửa về âm
Thở than ngán nỗi âm thầm xót xa
Hai mươi năm có đâu ngờ
Nay ta trở lại đến nhà thăm anh
Xa nhau gia thất chưa thành
Mà nay trai gái quẩn quanh một đàn
Kính nhường phụ chấp hỏi han
Hỏi ta đâu mới băng ngàn đến đây
Ðôi bên chưa dứt phân bày
Trẻ nhà đã dọn mâm đầy rượu ngon
Ðêm mưa cắt ngọn hẹ non
Cơm kê mới nấu hãy còn hơi bay
Chủ rằng gặp mặt khó thay
Mười chung một lượt uống ngay mới vừa
Mười chung uống chẳng say sưa
Cảm lòng bạn cũ tình xưa vẫn còn
Rồi đây cách trở núi non
Sự đời đôi ngã tần ngần biết bao

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Ðời người chẳng gặp nhau ra
Sâm Thương những tưởng như là đôi sao
Ðêm nay thử hỏi đêm nào
Ánh đèn ánh nến soi vào cùng chung
Tóc đầu bạc cả này trông
Ðược bao nhiêu lúc trẻ trung mà già
Bạn xưa quá nửa ra ma
Ngẫm vào sốt ruột nói ra giật mình
Ai ngờ lại đến nhà anh
Hai mươi năm đã bất tình đi mau
Xưa nay anh đã vợ đâu
Gái trai nay đã lau nhau đầy nhà
Ân cần chào hỏi bạn cha
Rằng thưa bác ở đâu mà lại đây
Chưa xong câu chuyện thơ ngây
Món ăn chúng đã sắp bày dâng ra
Mưa xuân đêm hái hẹ hoa
Gạo thơm mới thổi lại pha kê vàng
Bạn rằng gặp gỡ chẳng thường
Rượu mời mươi chén rót thường luôn tay
Dẫu mười chén cũng chưa say
Tình anh nặng khiến rượu này nhẹ không
Ngày mai cách núi cách sông
Chuyện đời thôi lại mịt mùng đôi nơi

Bản dịch của Nam Trân

Chân Trân
22-08-2005, 11:14 PM
Tống hàn lâm Trương tư mã Nam Hải lặc bi


Quan niệm thông nam cực
Văn chương lạc thượng đài
Chiếu tòng tam điện khứ
Bi đáo bách man khai
Dã quán nùng hoa phát
Xuân phàm tế vũ lai
Bất tri thương hải thượng
Thiên khiển kỷ thì hồi

Dịch Nghĩa:

Đưa ông tư mã Trương ở viện hàn lâm đi Nam Hải khắc bia

Mũ mão thông suốt đến tận cõi nam
Văn chương đưa từ bậc quan lớn xuống
Chiếu ban ở ba điện sai ra đi
Bia đến xứ trăm man dựng mở
Hoa nở rậm ở quán nhà quê
Mưa nhẹ rơi trên cánh buồm xuân
Biết đâu ở chốn biển xanh
Chẳng mấy chốc vua cho về

Dịch Thơ:

Mũ miện thông nam cực
Văn chương bậc thượng đài
Chiếu từ cung điện xuống
Bia dựng xứ man ngoài
Quán nội hoa đua nở
Buồm xuân mưa nhẹ phai
Biết đâu miền biển ấy
Mấy chốc được lui hài

Chân Trân
22-08-2005, 11:15 PM
Tống Khổng Sào Phủ


Sào Phủ trạo đầu bất khẳng trú
Ðông tương nhập hải tùy yên vụ
Thi quyển trường lưu thiên đại gian
Ðiếu can dục phất san hô thụ
Thâm sơn , đại trạch long xà viễn
Xuân hàn , dã âm phong cảnh mộ
Bồng lai Chức Nữ hồi vân xa
Chỉ điểm hư vô thị chinh lộ
Tự thị quân thân hữu tiên cốt
Thế nhân na đắc tri kỳ cố !
Tích quân chỉ đục khổ tử lưu
Phú quý hà như ? Thảo đầu lộ !
Thái hầu tĩnh giả ý hữu dư
Thanh dạ trí tửu lâm tiền từ
Bãi cầm trù trướng nguyệt chiếu tịch
Kỷ tuế ký ngã không trung thư ?
Nam tầm Vũ Huyệt kiến Lý Bạch
Ðạo Phủ vấn tấn kim hà như ?

Dịch Nghĩa:

Bác Sào Phủ lắc đầu không chịu ở lại
Rắp sang đông , ra bể , theo làn khói mù
Tập thơ , còn để lại mãi trong trời đất
Muốn phất chiếc cần câu giữa những cây san hô
Loài rồng rắn thường ở những nơi núi sâu đầm lớn xa thẳm
Xuân lạnh lùng , đồng xẩm tối , phong cảnh chiều rồi
Nàng Chức Nữ cưỡi xe mây từ núi Bồng Lai đến
Chỉ rõ khoảng hư vô là nơi đi về
Trong người bác vốn có cốt tiên
Người đời biết sao được cái đó
Tiếc bác nên một hai cố chèo kéo lại
Giàu sang là cái gì ? Hạt móc trên ngọn cỏ !
Thái Hầu người điềm tĩnh , lòng tốt có thừa
Ðêm thanh , đặt tiệc rượu ngay ở trước thềm
Dứt khúc đàn , bùi ngùi nhìn trăng soi trên bàn tiệc
Biết năm nào tin từ không trung gửi về cho ta ?
Về nam , hãy tìm đến Vũ Huyệt gặp Lý Bạch
Nhờ nói giúp : Phủ tôi có lời thăm hỏi hiện giờ ra sao ?

Dịch Thơ:

Sào Phủ lắc đầu chẳng ở lại
Sắp vào biển đông theo ngút khói
Tập thơ để mãi giữa đất trời
Cần câu tìm cụm san hô tới
Núi sâu đầm lớn rồng rắn xa
Xuân lạnh đồng râm phong cảnh tối
Non bồng ả Chức quảy xe mây
Trỏ nẻo hư vô đường vời vợi
Vốn thật thân anh có cốt tiên
Người đời dễ biết đâu nguồn cội
Tiếc anh một hai muốn cầm anh
Giàu sang như móc đầu cỏ gội
Thái Hầu trầm lặng ý dồi dào
Trước hiên đặt rượu suốt đêm thâu
Buông đàn ủ dột , trăng soi tiệc
Bao giờ tin nhạn gửi cho nhau ?
Nam tìm Vũ Huyệt gặp Lý Bạch
Bảo Phủ hỏi thăm giờ ra sao ?

Bản dịch của Khương Hữu Dụng

Chân Trân
22-08-2005, 11:16 PM
Thê thành tây nguyên tống Lý phán quan huynh, Vũ phán quan đệ phó Thành Đô phủ


Đăng cao tống sở thân
Cửu toạ tích phương thần
Viễn thuỷ phi vô lãng
Tha sơn tự hữu xuân
Dã hoa tuỳ xứ phát
Yêu liễu ước hàng tân
Thiên tế thương sầu biệt
Ly diên hà thái tần !

Dịch Nghĩa:

Trên cánh đồng phía tây Thê thành, đưa ông anh Lý phán quan, ông em Vũ phán quan đi phủ Thành Đô

Lên cao đưa tiễn những người thân của ta
Ngồi dai tiếc thì giờ quý báu
Mặt nước xa chẳng phải không gợn sóng
Ngọn núi khác vẫn sẵn vẻ xuân
Hoa đồng nội nở khắp nơi
Liễu tơ mềm buông rũ từng hàng
Nơi góc trời ngậm ngùi nỗi biệt ly
Tiệc tiễn đưa sao mà nhiều thế nhỉ ?

Dịch Thơ:

Lên núi đưa thân thích
Ngồi dai tiếc khắc qua
Nước xa làn sóng gợn
Núi khác dáng xuân pha
Cỏ nội hoa san sát
Tơ non liễu thiết tha
Chân trời buồn tiễn biệt
Sao lắm tiệc chia xa !

Chân Trân
22-08-2005, 11:16 PM
Thập lục dạ ngoạn nguyệt


Cựu ấp kim ba sảng
Giai truyền ngọc lộ thu
Quan sơn tuỳ địa khoát
Hà hán cận nhân lưu
Cốc khẩu tiều quy xướng
Cô thành địch khởi sầu
Ba Đồng hồn bất mị
Bán dạ hữu hàm chu

Dịch Nghĩa:

Ngắm trăng đêm mười sáu

Trước đây đã dồn nén sóng vàng
Nay truyền báo mùa thu có móc ngọc
Chốn quan sơn trải rộng theo mặt đất
Sông Ngân Hà như chảy bên người
Trong hẻm núi bác tiều hát trở về
Nơi thành vắng, tiếng địch trỗi buồn
ở kẽm Ba không chợp mắt được
Nửa đêm vẫn có chiếc thuyền ra đi

Dịch Thơ:

Sóng vàng xưa ấp ủ
Móc ngọc báo thu dồn
Giải đất quan sơn rộng
Bên người ngân hán tuôn
Núi khe tiều hát tới
Thành lặng sáo ru buồn
Thao thức miền Ba Giáp
Đêm dài thuyền trẩy luôn...

Chân Trân
22-08-2005, 11:17 PM
Thập thất dạ đối nguyệt


Thu nguyệt nhưng viên dạ
Giang thôn độc lão thân
Quyển liêm hoàn chiếu khách
Ỷ trượng cánh tùy nhân
Quang xạ tiềm cầu động
Minh phiên túc điểu tần
Mao trai y quất dữu
Thanh thiết lộ hoa tân

Dịch Nghĩa:

Trăng thu đêm nay vẫn tròn
Thân già cô quạnh ở xóm bên sông
Cuốn rèm, trăng còn ngó khách
Chống gậy, trăng vẫn theo mình
Ánh dọi xuống làm cho con cầu long đã lặn phải cựa quậy
Bóng sáng soi vào, khiến con chim ngủ xoay mình luôn
Lều tranh dựa bên dãy cây quýt cây bưởi
Đêm lạnh hạt móc mới đọng như hoa

Dịch Thơ:

Ngắm trăng đêm mười bảy

Vành vạnh trăng thu chút chẳng sai
Xóm sông lụ khụ một mình ai
Cuốn rèm trông thấy như chào lão
Chống gậy ra chơi lại đón người
Soi suốt rồng nằm dòng nước chảy
Sáng choang chim ngủ bóng cành phơi
Nhà tranh ngồi tựa bên chồi quýt
Móc trắng lòng ta cũng trắng ngời

Chân Trân
22-08-2005, 11:18 PM
Thục tướng


Thục tướng từ đường hà xứ tầm
Cẩm Quan thành ngoại bách sâm sâm
Ánh giai bích thảo tự xuân sắc
Cách diệp hoàng ly không hảo âm
Tam cố tần phiền thiên hạ kế
Lưỡng triều khai tế lão thần tâm
Xuất sư vi tiệp thân tiên tử
Trường sử anh hùng lệ mãn khâm

Dịch Nghĩa:

Tìm ở nơi nào thấy đền thờ của thừa tướng? Chính là ở ngoài thành Cẩm Quan, nơi có hàng cây bách um tùm

Soi sáng thềm, cỏ xanh vẫn có màu vẻ xuân;
Bên kia lá cây, chim oanh vàng vẫn cất tiếng hót hay
Lưu Huyền Ðức ba lần đến thăm làm cho ngài phải bận tâm với kế sách bình định thiên hạ Ngài đã có công mở nước và giúp rập hai triều, hết lòng bậc lão thần .
Ngài đem quân đi đánh Ngụy chưa thắng trận mà thân đã thác;
Việc này mãi mãi khiến cho các bậc anh hùng lệ rơi đầy vạc áo


Dịch Thơ:

Thừa tướng nước Thục

Biết đâu tìm đến đền Thục tướng
Phía ngoài thành Cẩm bách rườm rà
Soi thềm cỏ biếc luôn tươi thắm
Bên lá oanh vàng vẫn hát ca
Ba lượt ân cần ơn chúa nặng
Hai triều giúp rập bụng tôi già
Ra quân chưa thắng thân đà thác
Mãi khiến anh hùng lệ xót xa.

Bản dịch của Trần Trọng San

Chú thích: Thừa tướng nước Thục ở đây chính là Gia Cát Võ Hầu (Khổng Minh).


http://www.luongsonbac.de/thidan/images/spacer.gif

http://www.luongsonbac.de/thidan/images/spacer.gif

Chân Trân
22-08-2005, 11:20 PM
Thiên hà


Đương thì nhiệm hiển hối
Thu chí tối phân minh
Túng bị vi vân yểm
Chung năng vãn dạ thanh
Hàm tinh động song khuyết
Kiện nguyệt lạc biên thành
Ngưu nữ niên niên độ
Hà tằng phong lãng sinh

Dịch Nghĩa:

Sông trời

Tuỳ theo thời mà khi sáng khi mờ
Thu đến thì vô cùng tỏ rạng
Dù có lúc bị màn mây mỏng che
Nhưng rốt cuộc vẫn trong trẻo suốt đêm
Chứa sao lay động trên 2 cửa khuyết
Đưa bóng trăng xế ở thành biên giới
Năm năm, Ngưu Lang Chức Nữ qua sông
Chưa từng có sóng gió nổi lên

Dịch Thơ:

Khi mờ khi lại tỏ
Thu đến rạng tinh anh
Mây mỏng dù che chắn
Đêm dài vẫn sáng thanh
ánh sao lay cửa khuyết
Bóng nguyệt xế bên thành
Ngưu Nữ năm năm vượt
Chưa từng dậy sóng xanh

Chân Trân
22-08-2005, 11:20 PM
Thiên mạt hoài Lý Bạch


Lương phong khởi thiên mạt ,
Quân tử ý như hà .
Hồng nhan kỷ thời đáo ,
Giang hồ thu thủy đa .
Văn chương tăng mệnh đạt ,
Lị vị hỉ nhân qua .
Ưng cộng oan hồn ngữ ,
Ðầu thi tặng Mịch La .

Dịch Nghĩa:

Trong lúc gió mát nổi lên ở nơi cuối trời , bạn có ý nghĩ ra sao ? Biết bao giờ chim hồng nhạn mới tới đây ? Sông hồ có nhiều nước thu .
Văn chương thường ghét hạnh vận hanh thông ; yêu quái vui mừng khi thấy có người đi qua . Lúc này chắc bạn đang trò chuyện với hồn oan của Khuất Nguyên , và ném thơ xuống tặng ở sông Mịch La .

Dịch Thơ:

Nhớ Lý Bạch ở nơi cuối trời

Gió đà thổi mát chốn chân trời ,
Không biết sao rồi ý nghĩ ai ?
Hồng nhạn xa vời , tin tức vắng ;
Sông hồ tràn ngập , nước thu đầy .
Văn chương thường ghét ghen cùng mệnh ;
Yêu quái mừng vui thấy có người .
Chắc với hồn oan đang nói chuyện ,
Làm thơ gieo tặng Mịch La rồi .

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
25-08-2005, 12:30 AM
Thu hứng kỳ I


Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Dịch Nghĩa:

Hạt móc sa như ngọc, gió lạnh thổi qua rừng cây héo rụng
Vu Sơn, Vu Giáp rừng ảm đạm, khí tản mát tiêu tan
Giữa sông, làn sóng dâng cao như cuốn cả bầu trời
Trên ải, mây gió mịt mờ như chạm tới mặt đất
Cây cối và hoa cúc nở đều nhỏ lệ
Một chiếc thuyền đơn độc trói buộc lòng nhớ nhà
Khắp nơi trời lạnh giục người mang kéo và thước may (may áo)
Thành Bạch Đế cao, tiếng chày giục chiều buông

Dịch Thơ:

Hứng thu

Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu loà.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước,
Thành Bạch, chầy vang bóng ác tà.

Chân Trân
25-08-2005, 12:32 AM
Tiền xuất tái


Vãn cung đương vãn cường,
Dụng tiễn đương dụng trường.
Xạ nhân, tiên xạ mã,
Cầm tặc, tiên cầm vương.
Sát nhân diệc hữu hạn,
Liệt quốc tự hữu cương.
Cẩu năng chế xâm lăng,
Khởi tại đa sát thương!

Dịch Thơ:

Trước khi ra ải

Giương cung phải cung ứng,
Dùng tên phải tên dài.
Bắn người, bắn ngựa trước,
Bắt giặc, bắt chúa ngay.
Giết người cũng có hạn,
Nước nào chẳng đất đai?
Nếu đủ chặn xâm lược,
Cần gì giết thẳng tay?

Chân Trân
25-08-2005, 12:33 AM
Tiểu Hàn thực chu trung tác


Giai thần cưỡng ẩm thực do hàn
Ẩn kỷ tiêu điều đới hạt quan
Xuân thủy thiền như thiên thượng tọa
Lão niên hoa tự vụ trung khan
Quyên quyên hý điệp qua màn nhạn
Phiến phiến khinh âu hạ cấp suyền
Vân bạch sơn thanh vạn dư ý
Sầu khan trực chỉ thị Trường An

Dịch Nghĩa:

Trong tiết lành ta gượng uống rượu trong lúc đồ ăn hãy còn nguội lạnh
Ðội mũ lông chim hạt tựa ghế buồn hiu
Trên mặt nước còn xuân con thuyền giống như ngồi trên trời
Lúc tuổi già ngắm hoa trong lớp sương mù
Con bướm đẹp nhởn nhơ bay qua cánh buồm đi thong thả
Từng con chim âu nhẹ nhàng sà xuống dòng nước trôi nhanh
Mây trắng núi xanh giải dài hơn vạn dặm
Buồn trông lên phía bắc đó chính là Trường An

Dịch Thơ:

Thơ làm trong thuyền ngày tiểu Hàn thực

Tiết lành gượng uống lạnh lùng
Ghế ngồi còm cõi mũ lông rã rời
Nước xuân thuyền đứng giữa trời
Mắt già như thấy hoa cười trong sương
Nhởn nhơ bướm lượn quanh buồm
Nhẹ nhàng âu đáp xuống dòng cuộn trôi
Núi xanh mây trắng xa vời
Buồn trông phía bắc là trời Trường An.

Chân Trân
25-08-2005, 12:34 AM
Trung thu


Thu cảnh kim tiêu bán
Thiên cao nguyệt bôi minh
Nam lâu thuỳ yến thưởng
Ty trúc tấu thanh thanh

Dịch Thơ:

Trung thu

Ðêm thu một nửa long lanh
Lưng trời treo ánh trăng xanh sáng ngời
Lầu nam yến tiệc chơi vơi
Ðàn lên sáo trổi hoà đôi nhẹ nhàng

Chân Trân
25-08-2005, 12:35 AM
Tuyệt cú


Lưỡng cá hoàng li minh thuý liễu,
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền.

Dịch Nghĩa:

Đôi chim oanh vàng hót trong liễu biếc,
Một hàng cò trắng bay lên trời xanh
Cửa sổ ngậm tuyết Tây Lĩnh đọng hàng nghìn năm
Trước cửa thuyền Đông Ngô từ muôn dặm đến đỗ

Dịch Thơ:

Tuyệt cú

Liễu xanh hót cặp oanh vàng,
Trời lam trắng điểm một hàng cò bay.
Song lồng mái tuyết non Tây,
Thuyền Ngô muôn dặm đỗ ngay cửa ngoài.

Bản dịch của Tương Như

Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,
Một hàng cò trắng vút trời xanh.
Nghìn năm tuyết núi song in sắc,
Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình.

Bản dịch của Tản Đà

Chân Trân
25-08-2005, 12:36 AM
Tuyệt cú II


Cấp vũ sảo khê túc
Tà huy chuyển thụ yêu
Hoàng sào cách li tịnh
Phiên tảo bạch ngư

Dịch Nghĩa:

Mưa rào lướt qua chân khe
ánh chiều tà chiếu ngang thân cây
đôi chim oanh đứng cạnh nhau bên tổ
Cá trắng nhảy lật tung cả rong

Dịch Thơ:

Tuyệt cú

Chân suối mưa rào lướt
Lưng cây bóng xế lồng
Oanh vàng gù cách tổ
Cá trắng nhảy tung rong

Chân Trân
25-08-2005, 12:36 AM
Tuyệt cú III


Giang bích điểu du bạch
Sơn thanh hoa dục nhiên
Kim xuân khan hựu quá
Hà nhật thị quy niên

Dịch Nghĩa:

Thơ tuyệt cú

Sông xanh như ngọc,chim trắng mờ mờ
Núi thắm tươi,hoa càng rực rỡ
Trông cảnh xuân năm nay lại trôi qua
Biết bao giờ là năm trở về

Dịch Thơ:

Sông biếc chim mờ trắng
Hoa tươi núi thắm cao
Xuân nay đã thấy cảnh
Trở lại biết năm nao

Chân Trân
25-08-2005, 12:37 AM
Vịnh Chiêu Quân


Quần sơn vạn hác phó Kinh môn,
Sinh trưởng Minh Phi thượng hữu thôn.
Nhất khứ thử đài liên sóc mạc,
Độc lưu thanh trủng hướng hoàng hôn.
Hoạ đồ tỉnh thức xuân phong diện,
Hoàn bội không qui nguyệt dạ hồn.
Thiên tải tỳ bà tác Hồ ngữ,
Phân minh oán hận khúc trung luân.

Dịch Thơ:

Vịnh Chiêu Quân

Nghìn non vạn suối tới Kinh môn,
Quê quán Minh Phi vẫn hãy còn.
Đài tía bước ra nơi sóc mạc,
Nấm xanh gửi lại bóng hoàng hôn.
Vẻ xuân, tranh cổ phôi pha nét,
Gót ngọc, đêm trăng phảng phất hồn.
Đàn phổ tiếng Hồ muôn thuở đó,
Khúc tỳ ai oán mạch sầu tuôn.

Chân Trân
25-08-2005, 12:38 AM
Vịnh hoài cổ tích kỳ I


Chi li đông bắc phong trần tế
Phiêu bạt tây nam thiên địa giam
Tam hiệp lâu đài yêm nhật nguyệt
Ngũ khê y phục cộng vân san
Yết hồ sự chủ chung vô lại
Từ khách ai thời thả vị hoàn
Dữu Tín bình sinh tối tiêu sắt
Mộ niên thi phú động giang quan

Dịch Nghĩa:

Lưu lạc giữa gió bụi miền Đông Bắc, phiêu dạt trong khoảng trời đất miền Tây Nam. Lâu đài miền Tam Hiệp dàu dãi lâu ngày dưới bóng mặt trời, mặt trăng. Quần áo của người miền Ngũ Khê xen lẫn cùng mây, núi. Rợ Yết thờ chúa (phản phúc bất thường), cuối cùng không thể tin được. Nhà thơ xót thương thời thế, hãy còn chưa trở về. Bình sinh Dữu Tín rất buồn bã, thê lương. Lúc tuổi già, thơ phú cảm động miền sông, ải.

* Dữu Tín: Một nhà văn nổi tiếng triều Lương, đời Nam Bắc triều. Đi sứ đến triều Chu ở miền Bắc, bị giữ lại. Tại Chu, tuy được quý hiển, nhưng vẫn nhớ cố hương, làm ra bài Ai Giang-Nam Phú

Dịch Thơ:

Vịnh hoài cổ tích

Lạc loài gió bụi miền Đông Bắc,
Phiêu bạt Tây Nam giữa đất trời.
Tam Hiệp nắng mưa mòn các thự,
Ngũ-Khê xiêm áo lẫn ngàn mây.
Rợ Hồ phản phúc khôn lường được,
Thi sĩ ưu thời chửa trở về.
Dữu Tín bình sinh buồn vạn cổ
Núi sông thương cảm một nguồn thi.

Bản dịch của Chi Điền

Chân Trân
25-08-2005, 12:39 AM
Vịnh hoài cổ tích kỳ II


Dao lạc thâm tri Tống Ngọc bi
Phong lưu nho nhã diệc ngô si (sư)
Trướng vọng thiên thu nhất sái lệ
Tiêu điều dị đại bất đồng thì
Giang san cố trạch không văn tảo
Văn vũ hoang đài khởi mộng ti (tư)
Tối thị Sở cung cầu dẫn diệt
Chân nhân chỉ điểm đáo kim nghi

Dịch Thơ:

Vịnh hoài cổ tích kỳ II

Lá rụng cảm thông sầu Tống Ngọc
Phong lưu nho nhã bậc thầy tôi
Ngàn thu tưởng vọng châu tầm tả
Nay cũng tiêu điều dẫu khác thời
Nhà cũ núi sông buồn vắng vẻ
Mộng suy văn vũ cảnh hoang đài
Thương thay tận diệt cùng vua Sở
Thuyền chủ còn ngờ dấu vết sai

Bản dịch của Chi Điền

Chân Trân
25-08-2005, 12:40 AM
Vịnh hoài cổ tích kỳ III


Quần sơn vạn hác phó Kinh môn
Sinh trưởng Minh phi thượng hữu thôn
Nhất khứ tử đài liên sóc mạc
Độc lưu thanh trủng hướng hoàng hôn
Họa đồ tỉnh thức xanh phong diện
Hoàn bội không qui nguyệt dạ hồn
Thiên tải tỳ bà tác hồ ngữ
Phân minh oán hận khúc trung luân

Dịch Nghĩa:

Vượt qua nhiều núi non , muôn dòng suối , đi đến núi Kinh Môn . Tại đây vẫn còn có xóm làng , là chỗ Minh Phi sinh trưởng khi xưa . Khi nàng ra đi , cung Tử Ðài nối liền với sa mạc miền Bắc . Bây giờ chỉ còn lại mả xanh dưới bóng hoàng hôn .

Xem bức họa , vua Hán phảng phất nhận biết khuôn mặt nàng trong gió xuân . Nhưng chỉ còn hồn nàng với hoàn bội trở về dưới trăng . Ngàn năm sau còn truyền lại khúc đàn tỳ bà làm theo âm điệu Hồ ; trong khúc ca , bày tỏ rõ ràng niềm oán hận .

Dịch Thơ:

Vịnh hoài cổ tích kỳ III

Nghìn non vạn suối ở Kim môn
Thôn cũ Minh phi dấu vẫn còn
Gác tía giã từ lên Bắc mạc
Mồ xanh lưu lại dưới hoàng hôn
Họa đồ chẳng vẽ xuân kiều diễm
Vàng ngọc đành trao giấc mộng hồn
Muôn thuở tỳ bà lưu điệu rợ
Khúc đàn ai oán mạch sầu tuôn!

Bản dịch của Chi Điền

Vượt non, qua suối, đến Kinh Môn
Xóm cũ Minh Phi nay vẫn còn
Cung Hán một đi liền cõi Bắc
Mả xanh trơ lại dưới hoàng hôn
Bức tranh thoảng gió xuân tô mặt
Hoàn bội về đây nguyệt rọi hồn
Muôn thuở tỳ bà vang giọng mọi
Ðiệu hồ còn mãi hận trào tuôn

Bản dịch của Trần Trọng San

Chân Trân
25-08-2005, 12:40 AM
Vịnh hoài cổ tích kỳ IV


Thục chúa khuy Ngô hạnh tam hiệp
Băng nhiên, diệc tại Vĩnh An cung
Thúy hoa tưởng tượng Không Sơn lý
Ngọc điện hư vô đã tự trung
Cổ miếu sam tùng sào thủy hạc
Tuế thời phục hạp tẩu thôn ông
Vũ Hầu từ ốc trường lân cận
Nhất thể quân thần tế tự đồng

Dịch Nghĩa:

Vua Thục dò Ngô qua Tam Hiệp
Năm chết cũng tại Vĩnh An cung
Dung nhan tưởng tượng đồi hoang dại
Điện ngọc cô liêu giữa cánh đồng
Miếu cổ cò xây tổ trên cành tùng
Mấy lão ông trong thôn cúng kiến quanh năm
Miếu thờ Vũ Hầu cũng gần đó
Vua tôi hương khói cùng một lúc

Dịch Thơ:

Vịnh hoài cổ tích kỳ IV

Vua Thục chinh Ngô quá Tam-Hiệp
Băng hà cũng tại Vĩnh An Cung
Cỏ hoa chừng tưởng trên non vắng
Điện ngọc điêu tàn giữa đất hoang
Miếu cỏ hạc vàng xây tổ ấm
Hạ đông bô lão lễ thần hoàng
Vũ Hầu lăng miếu bên Tiên Chúa
Nhất thể vua tôi một lễ dâng

Bản dịch của Chi Điền