PDA

View Full Version : Đền ơn đáp nghĩa (27-07-2005)


ChiDat
26-07-2005, 01:30 PM
ĐỀN NƠN ĐÁP NGHĨA
Ngày lập quốc HÙNG-VƯƠNG khai sáng,
Giống Tiên-Rồng tỏ rạng bốn phương,
TRƯNG-NỮ-VƯƠNG thật phi thường;
Thù nhà, nợ nước quật cường đấu tranh.
Trong gian khổ quyết giành thắng lợi,
Đuổi ngoại bang rời khỏi cõi bờ,
Thường tình nhi nữ ai ngờ;
Tung gươm giết giặc, phất cờ vinh quang.
Và sau đó trung cang : TRIỆU-ẨU(1),
Đã bao phen chiến đấu diệt thù,
Giữ gìn tổ quốc thiên thu;
Âm vang sống mãi lời ru ngọt ngào.
Hồn sông núi rạt rào réo gọi,
Thiên sử hùng sáng chói nơi nơi,
Biết bao người đã nghỉ ngơi;
Vô danh nhưng vẫn rạng ngời nghĩa nhân.
Đó nghĩa cả không sờn ý chí,
Máu anh hùng chung thủy quê hương,
Chính là HƯNG-ĐẠO ĐẠI-VƯƠNG;
Noi gương trung dũng LÝ-THƯỜNG-KIỆT xưa.
Quyết phạt Tống, sông vừa nước cạn,
Chông nhọn đâm giặc hoảng la trời,
Đã làm thuyền đắm thây phơi;
Lần sau gặp lại, nhớ đời thương đau.
Rồi cũng vẫn tánh nào tật nấy,
Lũ giặc Minh nhiễu quấy san hà,
LÊ-LAI cứu Chúa hoan ca;
Mười năm LÊ-LỢI thái hòa Nam bang.
Chưa ổn định bình an đất nước,
Bọn giặc Thanh xấc xược vây thành,
Tôn-Sỹ-Nghị, Hứa-Thế-Hanh,
Sầm-Nghi-Đống,…nữa phải đành trốn chui;
Chung xuống cống thấm mùi xâm lược,
Để ngàn đời xuôi ngược khó quên !
VIỆT-NAM là giống Rồng-Tiên;
Trọng nhân, hiếu, nghĩa, trung, hiền, lễ, liêm…
Rồi vận nước chưa yên xui khiến,
Ngụy GIA-LONG triều kiến thực dân,
Xiêm-La, rồi đến Tây-nhân;
Làm cho xáo thịt muôn phần lầm than.
Gần thế kỷ (2) gian nan khốn khổ,
Bao sỹ phu máu đổ lệ rơi,
Đấu tranh giành lại cơ đồ;
Ri-vi-e (3), Cầu Giấy tan mồ xác thân.
NGUYỄN-TRI-PHƯƠNG lòng cam quyết tử,
Để muôn đời bia sử nêu tên.
Anh hùng khí phách vang rền,
Đốt tàu : TRUNG-TRỰC đáp đền núi sông.
PHAN-CHU-TRINH máu hồng tươi thắm,
Đem văn hóa sưởi ấm lòng dân,
Đó là tư tưởng canh tân;
Bảo tồn truyền thống, tinh thần phát huy.
NGUYỄN-TẤT-THÀNH uy nghi, kiệt xuất,
Một thiên tài duy nhất VIỆT-NAM,
Tìm đường cứu nước quyết làm;
Dẫu cho hiểm họa , gian nan tột cùng.
Cam cộng khổ có chung NGUYÊN-GIÁP,
Đấng anh hùng đuổi Pháp ra đi,…
Đại tướng Đờ-Tát-si-nhi (4),
Đờ-cát-tri (5) tháo quốc kỳ giấu chui.
Mưu kế bại chúng lùi một bước,
Kết thêm phe đế-quốc xâm lăng,
Đó là Mỹ-quốc hung hăng;
Đưa NGÔ-ĐÌNH-DIỆM ngang tàng, mị dân.
Ken-nơ-đi nắm quyền quyết định,
Ấp chiến lược thôn tính miền Nam,
Nào hay kế hoạch sai lầm;
Nơ-đi, Đình-Diệm tử thần cướp đi.
Rồi sau đó, THIỆU – KỲ thay thế,
TRẦN-VĂN-HƯƠNG liền kế DƯƠNG-MINH,
Hùa nhau xóa sạch : “Chiến chinh”;
Xòe tay xin Mỹ thương tình giúp cho.
Biết được đâu Thầy lo trăm mối,
Ni-Xơn (7) rầu , bối rối hoang mang,
Đó là chiến dịch leo thang;
Đô-la, vũ khí …. lụn tàn kéo theo,
Nhờ nắm chặt đuổi đeo từng bước,
Sống trong lòng địch trước từ lâu,
NGUYỄN-VÕ-DANH lập công đầu;
Làm theo ý ĐẢNG đẹp mầu quê hương.
NGUYỄN-VĂN-LINH chiến trường Nam-bộ,
Cùng HỮU-THỌ nặng nợ núi sông,
Chung tay nắm lá cờ hồng;
Nhờ ơn nghĩa PHẠM-VĂN-ĐỒNG trí mưu.
Đã đuổi sạch bọn cừu đế quốc,
Cùng bè lủ bán nước, hại dân,
Đập tan chủ nghĩa cá nhân;
Mở trang sử mới sáng ngần quang vinh :
“CHIẾN DỊCH HỐ-CHÍ-MINH ĐẠI THẮNG”,
Triệu…đồng bào tươi tắn reo vui,
Nhà nhà sum hiệp nói, cười…
Bổng đâu chạnh nhớ đến người hy sinh,…
Rồi lặng lẽ mang tình ly biệt,
Mẹ mất con chẳng biết chôn đâu ?
Chồng đi nơi ải địa đầu,
Vợ không tin tức nặng sầu đau thương.
Vì ai gây cảnh đoạn trường,
Gieo bao tang tóc máu xương giống nòi,
Vì ai, nước mắt tuôn rơi ?
Phải chăng những kẻ hình người, dạ lang ?
Nhờ ai, đất nước vinh quang ?!?
Phát huy mọi mặt tiềm năng vững vàng.
Nhờ ai, tổ quốc huy hoàng !?!
Thịt da trộn lẫn đất vàng tốt tươi.
Anh hùng, liệt sỹ mỉm cười,
Dù VÔ hay HỮU danh đời tạc ghi./.
NGUYỄN-HỮU-NHƠN
(Trung Thu,Đinh-Sửu 1997)
Ghi chú :
(1) : Triệu-Thị-Trinh. (2) : 1862-1954
(3) : Đại tá Henri-Rivière chết trận 1883
(4) : De Lattre de Tassigni.
(5) : Thiếu tướng bại trận Điện-Biên-Phủ.
(6) : Tổng thống Kenedy.
(7) : Tổng thống Nixon.
(8) : Nguyên Trưởng Ban Binh Vận Trung
Ương Cục Miền Nam.

a
26-07-2005, 09:43 PM
"Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm..."



http://www.vietfun.com/postcards/vietnam/8.jpg