PDA

View Full Version : thơ HỒ XUÂN HƯƠNG


Chân Trân
26-07-2005, 04:52 AM
Tiểu sử tác giả

Nữ sĩ có biệt tài về lối thơ Nôm, sống khoảng thời kỳ Lê mạt Nguyễn sơ. Người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, xứ Nghệ An (Trung Phần); đời cha mẹ dời đến ở tại phường Khán Xuân thuộc huyện Vĩnh Thuận (gần Hồ Tây, gần Hà Nội), sau khi Xuân Hương khôn lớn lại đến ở thôn Tiên Thị, tổng Tiền Túc huyện Thọ Xương Hà Nội.

Học giỏi, có tài thơ văn, nhưng duyên phận long đong, sau Hồ Xuân Hương phải lấy lẻ ông Tri Phủ Vĩnh Tường. Chẳng được bao lâu, ông phủ mất. Bà lại kết duyên với ông Cai Tổng Cóc. Nhưng rồi Cai Tổng Cóc cũng lìa trần; từ đó bà tìm thú vui ở các nơi thắng cảnh bà lấy văn thơ ngâm vịnh để khuây khỏa nỗi buồn. Trong thời kỳ này, bà thường tiếp xúc với các văn nhân thi sĩ nổi tiếng đương thời, trong số đó có Chiêu Hổ (tức Phạm Đình Hổ, tác giả "Vũ trung tùy bút") là tương đắc hơn cả.

So với các nhà thơ khác, Hồ Xuân Hương có một lối diễn đạt ý tứ hết sức mới mẻ phóng khoáng và ẩn chứa một tính cách trào lộng đặc biệt.



Bà Lang Khóc Chồng

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì ?
Thương chồng nên khóc tỉ tì ti.
Ngọt bùi, thiếp nhớ mùi cam thảo. (1)
Cay đắng, chàng ơi, vị quế chị (2)
Thạch nhũ, trầm bì (3), sao để lại,
Quy thân, liên nhục (4), tẩm mang đi.
Dao cầu (5), thiếp biết trao ai nhỉ ?
Sinh ký (6), chàng ơi, tử tắc quỵ (7)

Chú thích:

(1-) Cam thảo là ngon ngọt, nhưng cũng là tên vị thuốc Bắc, một thứ rễ cây có vị ngọt.
(2-) Quế chi là cành quế, cũng tên một vị thuốc.
(3-) (4-) Các thứ thạch nhũ, trầm bì, quy thân, liên nhục cũng đều là tên những vị thuốc.
(5-) Dao cầu là thứ dao dùng để thái thuốc của các thày thuốc Bắc.
(6-) Sinh ký là sống gửi, nhưng cũng là tên một vị thuốc, tức sống gửi thân.
(7-) Tử tắc quy, tức chết là về, nhưng chữ quy cũng còn là tên vị thuốc nữa.

Chân Trân
26-07-2005, 04:55 AM
Bánh Trôi Nước


Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Lớn nhỏ mặc dù tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.


Cái Quạt Giấy I


Một lỗ (1) sâu sâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự ngày xưa.
Vành ra ba góc da còn thiếu, (2)
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa, (3)
Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa.
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng, (4)
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?

Chú thích:

(1-) Tức lỗ dùi để xỏ các nan quạt ở chỗ cuống tay cầm.
(2-) Vì cái quạt mỗi khi mở ra thành hình tam giác, mà chỉ có nửa trên là giấy.
(3-) Khi khép lại những chỗ giấy ấy thừa ra.
(4-) Trướng là tấm màn (treo ở trước giường).

Chân Trân
26-07-2005, 04:56 AM
Cái Quạt Giấy II


Mười bảy hay là mười tám đây? (1)
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay.
Mỏng dầy chừng ấy chành ba góc,
Rộng hẹp đường nào cắm một cây (2)
Càng nóng bao nhiêu càng muốn mát, (3)
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy, (4)
Chúa dấu vua yêu một cái này.

Chú thích:

(1-) Vì quạt thường có 17 hay 18 nan.
(2-) Tức một cây để xỏ nan quạt ở lỗ dùi.
(3-) Có bản chép: "thời càng mát."
(4-) Vì giấy quạt thường phất bằng nước trái cây, thứ trái giống như trái hồng nhưng nhỏ hơn, nhiều nhựa hơn và cũng chát hơn nữa. Quạt phất bằng nước ấy nên màu sắc thường có vẻ hồng hồng.

Chân Trân
26-07-2005, 04:57 AM
Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu

Hầu Nghi Xuân Tiên Điền nhân

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

Chân Trân
26-07-2005, 04:58 AM
Cảnh làm lẽ (Lấy Chồng Chung)


Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Năm thì mười họa, nên chăng chớ,
Một tháng đôi lần, có cũng không...
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

Chân Trân
26-07-2005, 04:59 AM
Cảnh Thu


Thánh thót tầu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ .
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.
Bàu dốc giang sơn say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ.
Ơ hay, cảnh cũng ưa người nhỉ,
Ai thấy, ai mà chẳng ngẩn ngơ .


Chợ Trời


Khen thay con Tạo khéo trêu ngươi,
Bày đặt ra nên cảnh chợ Trời!
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng,
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi.
Bầy hàng hoa quả tư mùa sẵn,
Mở phố giang sơn bốn mặt ngồi.
Bán lợi, buôn danh nào những kẻ,
Chẳng nên mặc cả một đôi lời.

Chân Trân
26-07-2005, 05:02 AM
Chửa Hoang


Cả nể cho nên hóa dở dang, 1
Nỗi niềm có thấy hỡi chăng chàng?
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,
Phận liễu sao đành nẩy nét ngang.
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
Không có nhưng mà có mới ngoan.

Chân Trân
26-07-2005, 05:03 AM
Chùa Hương


(1)Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cõi Phật chen chân xọc, (2)
Kẻ lạ bầu Tiên (3) mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo (4) cúi lom khom.
Lâm tuyền (5) quyến cả phồn hoa (6) lại,
Rõ khéo trời già đến dở dom. (7)

Chú thích:

(1-) Tức chùa Hương Tích ở phủ Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông, trong thờ Phật Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát.
(2-) Xọc có nghĩa là thọc vào, dấn vào.
(3-) Bầu tiên là chỗ động tiên ở, chỗ riêng hẳn một bầu thế giới.
(4-) Vô trạo là không mái chèo.
(5-) Lâm tuyền là nơi suối rừng.
(6-) Phồn hoa là nơi thị thành, đô hội.
(7-) Dở dom là bày vẽ, bày đặt.

Chân Trân
26-07-2005, 05:04 AM
Chùa Quán Sứ


Quán Sứ (1) sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kình tiểu (2) để suông không đấm,
Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít, (3)
Trưa trật nào người móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo,
Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo.

Chú thích:

(1-) Một ngôi chùa danh tiếng ở Hà Nội, trước kia là dinh tiếp các sứ thần ngoại quốc đến.
(2-) Tiểu đây là chú tiểu, tức người mới đi tu.
(3-) Tang mít là cái trống vì tang thường làm bằng gỗ mít.

Chân Trân
26-07-2005, 05:04 AM
Con Cua


Em có mai xanh, có yếm vàng,
Ba quân (1) khiêng kiệu, kiệu nghêng ngang.
Xin theo ông Khổng về Đông Lỗ, (2)
Học thói Bàn Canh nấu chín Thang. (3)

Chú thích:

(1-) Ba quân ở đây chỉ vào những cái ngoe cái càng của cua.
(2-) Tức đức Khổng Tử người nước Lỗ.
(3-) Bàn Canh và Thang là hai vị vua nhà Thương bên Tàu, nhưng cũng ngụ ý nói tác dụng của cua là để nấu canh làm cỗ bàn và dùng làm thang để nấu bún thang. Sở dĩ có hai câu này là do người đời thường nói: "học dốt như cua" và "chữ viết như cua bò". Dốt nên theo ông Khổng Tử mà học.

Chân Trân
26-07-2005, 05:05 AM
Đài Khán Xuân


Êm ái chiều xuân tới khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai.
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng,
Một vũng tang thương nước lộn trời.
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá ?
Cực lạc là đây, chín rõ mười.

Chân Trân
26-07-2005, 05:06 AM
Đánh Cờ


Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Đét đồn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thủy không ai được biết.
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,
Để đôi ta quyết liệt một phen.
Quân thiếp trắng, quân chàng đen,
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lữa.
Thoạt mới vào, chàng liền nhẩy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên,
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp sợ bí, thiếp liền ghểnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung.
Thiếp đang mắc nước xe lồng,
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chửa chịu,
Thua thì thua quyết níu lấy con.
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà .

Chân Trân
26-07-2005, 05:07 AM
Đánh Đu


Tám cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông.
Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn cong lưng ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá ?
Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

Chân Trân
26-07-2005, 05:09 AM
Đền Thái Thú


Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu.


Đền Trấn Quốc


Ngoài cửa hành cung cỏ dãi dầu;
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau!
Một tòa sen lạt hơi hương ngự;
Năm thức mây phong điểm áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi vẫn rộn,
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa, cảnh cũ đâu đâu tá ?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu.

Chân Trân
26-07-2005, 05:09 AM
Đèo Ba Dội


Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân, quân tử ai là chẳng...
Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo.

Chân Trân
26-07-2005, 05:10 AM
Dệt Vải


Thắp ngọn đèn lên thấy trắng phau,
Con còn mấp máy suốt đêm thâu.
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc,
Một suốt đâm ngang thích thích mau.
Rộng, hẹp, nhỏ, to vừa vặn cả,
Ngắn, dài, khuôn khổ cũng như nhau.
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ,
Chờ đến ba thu mới dãi mầu.

Chân Trân
26-07-2005, 05:12 AM
Dỗ Bạn Khóc Chồng


Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng.
Nín đi kẻo thẹn với non sông.
Ai về nhắn nhủ đàn em nhé:
Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung

Chân Trân
26-07-2005, 05:13 AM
Động Hương Tích


Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm,
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già đến dở dom.

Chân Trân
26-07-2005, 05:14 AM
Đồng Tiền Hoẻn


Cũng lò cũng bễ, cũng cùng than,
Mở mặt vuông tròn với thế gian:
Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn,
Đủ đồng ắt cũng đóng nên quan.


Duyên Kỳ Ngộ


Nghìn dặm có duyên sự cũng thành,
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh.
Tấc gang tay họa thơ không dứt,
Gần gụi cung dương lá vẫn lành.
Tên sẵn bút đề dường chĩnh chện,
Trống mang dùi cắp đã phanh phanh.
Tuy không thả lá trôi dòng ngự,
Chim tới vườn đào thế mới xinh.

Chân Trân
26-07-2005, 05:15 AM
Già Kén Kẹn Hom


Bụng làm dạ chịu trách chi ai,
Già kén kẹn hom ví chẳng sai.
Tiếc đĩa hồng ngâm cho chuột vọc,
Thừa mâm bánh ngọt để ngâu vầy.
Miệng khôn trôn dại đừng than phận,
Bụng ỏng lưng eo chớ trách trời!
Đừng đứng núi này trông núi nọ,
Đói lòng nên mới phải ăn khoai.

Chân Trân
26-07-2005, 05:16 AM
Giếng Nước


Ngõ sâu thăm thẳm tới nhà ông,
Giếng ấy thanh tân (1) giếng lạ lùng.
Cầu trắng phau phau đôi ván ghép,
Nước trong leo lẻo một dòng thông!
Cỏ gà lún phún leo quanh mép, (2)
Cá giếc le te lách giữa dòng.
Giếng ấy thanh tân ai đã biết?
Đố ai dám thả nạ rồng rồng. (3)

Chú thích:

(1-) Thanh tân là trong sạch, mới mẻ.
(2-) Mép đây nghĩa là bờ giếng.
(3-) Nạ rồng rồng: rồng rồng là thứ cá con mới nở thường đi ăn từng đàn. Nạ là con cá lớn đi theo coi chừng, người ta cho đó là mẹ nó, tức cá mái, nhưng chính là cá đực, vì loài cá khi con mái đẻ trứng ra, thì con đực đớp lấy phun ra cho nở rồi đi theo trông coi.

Chân Trân
23-08-2005, 11:32 PM
THÊM MỘT CHÚT TÀI LIỆU VỀ HỒ XUÂN HƯƠNG

Trong tất cả các đấng tiền nhân tài hoa khả kính từng làm rạng rỡ nền văn học nước nhà, nếu có vị nào mà thế hệ tồng ngồng (streaking) hôm nay khoái nhất, đó có lẽ là Hồ Xuân Hương. Nói vậy không hề ngụ ý một ý bất kính nào.

Tồng ngồng thực ra không phải là... khoe của, cũng không phải là một lối nghịch ngợm mất dạy, vô cớ. Hành vi ngổ ngáo ấy hình như cũng có cái nghĩa phản kháng như bao nhiêu hình thức biểu lộ khác của các phong trào Hippy, provo, beatnik, hooligan v.v... Xã hội nghiêm chỉnh tôn trọng một số quy tắc, ước lệ, dựa trên một số quan niệm đạo đức : lớp trẻ này đem cái sự tồng ngồng ra giễu cợt các qui tắc nọ, phủ nhận các quan niệm nọ, đòi hỏi một sự duyệt sét lại các giá trị đạo lý v.v... Nói ra thì bà Giang Thanh không khỏi phật lòng, nhưng đây mới là "cách mạng văn hóa".

Trong cuốn sách nổi tiếng về cuộc cách mạng toàn cầu đang bắt đầu tại Hoa Kỳ (Ni Marx, Ni Jesus), Jean-Francois Revel đã nói rất nhiều về vai trò của Hippy, về những chuyện nhục dục, ma túy, tóc dài v.v... Hồi đó (năm 1970) chưa có phong trào tồng ngồng. Nếu nó xuất hiện sớm hơn một chút, chắc chắn triết gia của chúng ta không ngại ngùng gì mà không dành cho nó một chỗ trong sách cách mạng luận của ông.

Điều bất ngờ là các chiến sĩ cách mạng hôm nay sử dụng một thứ... vũ khí hơi kỳ cục. Vấn đề là cái vũ khí cách mạng, không phải là ý nghĩa cách mạng.

Trước kia, Hồ Xuân Hương chỉ dùng văn thơ mà thôi. Tuy nhiên thuở ấy hành vi của bà cũng cùng một ý nghĩa phản kháng, chống đối, diễu cợt một trật tự xã hội, một quan niệm đạo đức. Và cũng phản kháng diễu cợt bằng sự tồng ngồng: sư nghiệp trước tác của bà chung qui không phải là sự tồng ngồng trong nghệ thuật đó sao? Giữa cái thế giới những thơ văn nghiêm chỉnh có nhiệm vụ "tải đạo", bỗng nhiên bắt gặp các bài thơ "Đánh Đu", "Đánh cờ người" v.v... ai không có cảm tưởng là bắt gặp một cảnh tồng ngồng?

Cho nên trong thái độ hâm mộ đối với đấng tiền nhân lỗi lạc không thể có ý bất kính. Chẳng qua là sự gặp nhau trong tinh thần cách mạng.

***

Tiếc rằng người nữ sĩ tài hoa nọ, thân thế mơ hồ như sương như khói. Thậm chí có một độ người ta đã ngờ rằng bà không có thực : ông Lữ Hồ lên tiếng hỏi: "Có chăng một bà Hồ Xuân Hương? " (1)

Sau đó mười năm, ông Nguyễn Văn Trung kiểm điểm lại các công cuộc tìm tòi về Hồ Xuân Hương trong Lược Khảo Văn Học, tập 3 (2) nhận thấy rằng tác phẩm đầu tiên nói về bà là cuốn Giai Nhân Dị Mặc của Nguyễn Hữu Tiến xuất bản năm 1907, và những thiên khảo cứu sau cùng về bà là của các ông Trần Thanh Mại (trong tạp chí Nghiên Cứu Văn Học, Hà Nội, số 3-1963, tạp chí Văn Học số 5-1964, số 11-1964) và Nam Trân (tạp chí Văn Học tháng 3-1965).

Theo ông Nguyễn, bấy nhiêu công trình nghiên cứu đưa đến kết quả có thể quả quyết:
- "Có một thi sĩ tên là Hồ Xuân Hương trong văn học sử Việt Nam (...)
- Nhưng về tên thật của Hồ Xuân Hương là gì, con cái nhà ai, quê quán ở đâu, đời sống gia đình, tình cảm ra sao (bao nhiêu đời chồng, bao nhiêu bạn tình...), là tác giả thực sự bài thơ nào, thì vẫn chưa có sử liệu đích thực để kiểm chứng. " (3)

***

Chân Trân
23-08-2005, 11:33 PM
Nay mấy dòng sau đây trong cuốn Quốc Sử Di Biên của Phan Thúc Trực tưởng có thể tiết lộ chút ít về "đời sống gia đình" của Hồ Xuân Hương:
"Chức quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng, vì tội hống hách lấy của dân, nên bị khép vào án tử hình.

Nguyên ruộng châu Vạn Ninh phần nhiều bị bỏ hoang, thế mà quan Tham Hiệp lại ức hiếp nhân dân phải khai là ruộng thực trưng, để yêu sách lấy bạc và tiền kể có mấy nghìn nên nhân dân trong châu ấy kêu kiện lên cấp trên. Viên Án Lại trong trấn ấy là Thủ Dung cấu tạo thành tội trạng để hạ ngục bị cáo. Quan Tham Hiệp bị kiên giam đến một năm.

Người tiểu thiếp của quan Tham Hiệp trấn Yên Quảng lúc ấy tên là Xuân Hương vốn hay văn chương và chánh sự, nên được người đương thời khen ngợi là kẻ "Nữ tài tử".

Quan Tham Hiệp thường sai Xuân Hương can dự vào những việc bên ngoài, nên Thủ Dung vốn ghét ". (trang 280-281)

Phan Thúc Trực (1808-1852) đậu Thám Hoa năm 1847, được bổ vào làm việc tại tòa Nội Các năm 1848. Cuốn Quốc Sử Di Biên được viết vào khoảng 1851-1852.

Đoạn sách trích dẫn trên đây là từ bản dịch của Hồng Liên Lê Xuân Giáo, tập thượng, do Ủy Ban Dịch Thuật phủ Quốc Vụ Khanh, Văn Hóa xuất bản tại Sài Gòn vào tháng 10-1973, căn cứ theo bản Hán văn do sở nghiên cứu Tân Á thuộc trường đại học Trung Văn ở Hương Cảng ấn hành vào tháng 10-1965.

Về giá trị của tài liệu, xin trích dẫn nhận xét của giáo sư Trần Kinh Hòa in ở phần mở đầu tác phẩm.

"Nay chúng tôi hãy nói đến một phạm vi nghiên cứu nhỏ hẹp, chỉ lưu tâm đến những sử sách không phải của nhà nước mà phê bình nghị luận, thì trong những quyển sách có tính chất trông yếu rất lớn lao, thiết tưởng không có quyển sách nào hơn được quyển "Quốc Sử Di Biên" do ông Phan Dưỡng Hạo (tức Phan Thúc Trực) biên tập" (trang 30).

"Nhờ có chức trách được gần gũi nhà vua, nên đối với các hạng sự tình trong nội bộ của triều đình nhà Nguyễn cùng với chiều hướng hoạt động của nhà vua, Phan Thúc Trực tiên sinh chắc chắn đã hiểu biết một cách tường tận và đầy đủ hơn ai hết. Tiên sinh lại còn nắm giữ cả nguồn gốc các tin tức từ đâu tới một cách chính xác nữa" (...)

"Các người trong nhà nghiên cứu sử này (tức nhà nghiên cứu Đông Nam Á tại sở Tân Á nghiên cứu) là các ông: Triệu Hiệu Tuyên, Lưu Gia Câu, Bản Thôn Tông Cát và Đoàn Khoách đều công nhận quyển "Quốc Sử Di Biên" đã chiếm một địa vị trọng yếu nhứt trong các quyển sách sử ký dưới triều đình nhà Nguyễn, và học giới, đối với bộ sách sử ký ấy, rất mực coi trọng" (trang 46-47)

***

Bây giờ, hãy căn cứ vào mấy dòng sử để tìm hiểu chút ít về Hồ Xuân Hương:

1- Trước hết, Phan tiên sinh chỉ nói đến một người đàn bà tên là Xuân Hương: có phải là nữ thi sĩ của chúng ta đó chăng?

(Trong chú thích ở cuối trang 281, dịch giả tuyên bố đích thị là nữ thi sĩ ấy, lại còn kể ra vanh vách bao nhiêu chuyện chồng con của bà nữa. Tuy nhiên dịch giả không cho biết các quyết đoán ấy căn cứ vào đâu, nên xin được bỏ qua).

Về phần chúng ta có thể căn cứ vào mấy điểm sau đây:
- Phan tien sinh cho biết người đàn bà tên Xuân Hương này vốn hay văn chương, được người đương thời khen là nữ tài tử. Đó là một chỗ giống nhau với nhà thi sĩ của chúng ta.
- Câu chuyện trong Quốc Sử Di Biên được chép là xảy ra vào năm Kỷ Mão, tức 1819 (trang 278). Trong các tài liệu do Trần Thanh Mại công bố thì Nham Giác Phu Tốn Phong Thị từng gặp nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương vào các năm Đinh Mão (1807) và Giáp Tuất (1814). Đó lại là một chỗ giống nhau nữa: Hoầ Xuân Hương này với Xuân Hương kia sống cùng một thời.
Lẽ nào cùng một thời, cùng tại đất Bắc, cùng có hai cô gái tên là Xuân Hương, lại cùng hay văn chương, cùng được người đời tôn xưng làm nữ tài tử, mà hiện tượng ấy không được nêu ra trong lịch sử văn chương?
- Hơn nữa, trong các giai thoại được truyền tụng về nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng có câu chuyện bà phê vào đơn xin ly dị của một thiếu phụ mấy câu thơ:

"... Phán cho con Nguyễn Thị Đào
Nước trong leo lẻo cắm sào chờ ai?
Chữ rằng Xuân bất tái lai" v.v...

Nếu giai thoai ấy có thể dùng làm một chút căn cứ mong manh để giúp chúng ta nhận diện ra nhà nữ thi sĩ nơi nàg tiểu thiếp trấn Yên Quảng, thì mặt khác câu chuyện tại trấn Yên Quảng cũng xác nhận rằng giai thoại nọ không nảy sinh vô cớ, điều khiến chúng ta nên xét đến các giai thoại khác về nữ thi sĩ một cách nghiêm chỉnh chứ không được coi thường.

Chân Trân
23-08-2005, 11:35 PM
2- Chúng tôi không có trong tay các tài liệu của ông Trần Thanh Mại, chỉ được xem những đoạn trích dẫn của ông Nguyễn Văn Trung trong Lược Khảo Văn Học tập 3. Theo đó thì trong tập Lưu Hương Ký, nữ sĩ Hồ Xuân Hương có đề cập đến một nhân vật goi là Hiệp Trấn họ Trần.

Ông Tham Hiệp trấn Yên Quảng trong Quốc Sử Di Biên thì không có tên họ, ông Hiệp Trấn họ Trần trong Lưu Hương Ký thì không có nhiệm sở: hai ông là một chăng? Nếu được vậy thì hai nguồn tài liệu bổ túc cho nhau một cách may mắn.

Về ông Hiệp Trấn họ Trần, có thơ Lưu Hương Ký cho biết về quan hệ tình cảm đối với nữ sĩ, về ông Tham Hiệp trấn Yên Quảng, có câu chuyện "sai Xuân Hương can dự vào những việc bên ngoài" cho biêt một khía cạnh đời sống vợ chồng của nữ sĩ. Giả sử hai ông nọ mà là một thì chúng ta được biết một chút về cả đời sống gia đình lẫn tình cảm thuộc về một đời chồng của nữ sĩ.

3- Ông Tham Hiệp trấn Yên Quảng có phải là đời chồng đầu tiên của nữ sĩ chăng?

Trong lần gặp nhau năm Đinh Mão (1807), Nham Giác Phu nói về nữ sĩ Xuân Hương như một cô gái chưa chồng: nói là em gái ông lớn họ Hồ mà không nói là vợ ai; xưng là "cô ta" mà không là bà; nói là nuôi mẹ già mà không nói ở nhà chồng; lại nói đến những chuyện đôi bên uống rượu ngâm thơ với nhau, trở thành đôi bạn thiết với nhau (chuyện khó xảy ra nếu Xuân Hương đã có chồng).

Trong lần gặp nhau bảy năm sau, Giáp Tuất (1814), Nham Giác Phu vẫn nói về Xuân Hương với chữ "cô"; lại nói cô ta vẫn ở chỗ cũ (tức là với mẹ già, chứ không phải ở nhà chồng); lại còn nói chuyện "hai bên vừa mừng vừa tủi" (chuyện khó xảy ra nếu Xuân Hương có chồng).

Thế rồi năm năm sau, năm Kỷ Mão (1819), xảy ra vụ quan Tham Hiệp Yên Quảng. Nếu bảo rằng chỉ trong vòng năm năm ấy mà nữ sĩ đã có chồng, rồi mất chồng, rồi lại có chồng làm Tham Hiệp, rồi lại mất luôn ông chồng Tham Hiệp nữa, thì chuyện chồng con có vẻ dồn dập quá. Nếu lại bảo rằng ông Tham Hiệp Yên Quảng là người chồng đầu tiên thì chuyện gia thất của nữ sĩ quá muộn màng.

Thật vậy, mười hai năm trước (1807), nữ sĩ đã nổi danh ở Thăng Long, có lẽ ít ra tuổi cũng trên đôi mươi. Thế rồi xấp xỉ ba mươi mới đi làm tiểu thiếp người ta !

Dẫu trong thực tại ông Tham Hiệp Yên Quảng có được cái may mắn làm người chồng đầu tiên của nữ sĩ hay không, thì trên tài liệu sử sách ông ta cũng vẫn là người chồng đầu tiên và là người chồng duy nhất được phát giác, cho đến nay (các ông Tổng Cóc, ông phủ Vĩnh Tường v.v... đều chỉ xuất hiện trong các giai thoại và văn thơ truyền khẩu, vô bằng).

4- Chuyện cô tiểu thiếp quan Tham Hiệp "can dự vào những việc bên ngoài" bấy giờ là hành vi trái mắt thiên hạ; viên Án Lại địa phương đã lấy làm thù ghét, mà cho đến ông quan làm việc tại tòa nội các nhà vua ở tận triều đình Huế (là Phan Thúc Trực) cũng hay biết và ghi chi tiết này vào sử!

Nét đặc biệt ấy hẳn là có ý nghĩa quan trọng trong cá tính và đời tư của nữ sĩ.

Văn thơ tồng ngồng, có chồng tham nhũng (đến tội tử hình!): nhà thơ lớn của thế kỷ trước hội nhiều yếu tố "hiện đại" quá. (4)

Võ Phiến - Tạp Bút
3-1974

(1) Sáng Tạo, số 34, tháng 9-1958
(2) Nam Sơn xuất bản 1968
(3) S đ d, trang 47.
(4) Ghi chú năm 1989: Tháng 12 năm 1983 ông Hoàng Xuân Hãn trong thiên khảo cứu công phu về "Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long" (Tập San Khoa Học Xã Hội số 10 và 11 , xuất bản tại Paris, Pháp) đã xác nhận cuộc tình duyên này giữa nhà thơ Hồ Xuân Huong với ông Tham Hiệp trấn Yên Quảng.

Chân Trân
27-08-2005, 04:19 AM
Giễu Quan Hậu

Tình cảnh ấy, nước non này,
Dẫu không bồng đảo cũng tiên đây.
Hoành Sơn mực điểm đôi hàng nhạn,
Thúy Lĩnh đen trùm một thức mây.
Lấp ló đầu non vừng nguyệt chếch,
Phất phơ sườn núi lá thu bay.
Hỡi người quân tử đi đâu đó ?
Đến cảnh sao mà đứng lượm taỵ

Chân Trân
27-08-2005, 04:21 AM
Hang Cắc Cớ

Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom.
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm.
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá, tài xuyên tạc,
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm.

Chân Trân
27-08-2005, 04:21 AM
Hang Thánh Hóa

Khen thay con tạo khéo khôn phàm,
Một đố dương ra biết mấy ngoàm.
Lườn đá cỏ leo, rờ rậm rạp,
Lách khe nước rỉ, mó lam nham.
Một sư đầu trọc ngồi khua mõ,
Hai tiểu lưng tròn đứng giữ am.
Đến mới biết rằng hang Thánh Hóa,
Chồn chân, mỏi gối, hãy còn ham.

Chân Trân
27-08-2005, 04:22 AM
Hỏi Cô Hàng Sách

Cô hàng lấy sách cắp ra đây!
Xem thử truyện nào thú lại say.
Nữ tú có bao xin xếp cả,
Phương hoa phỏng liệu có còn hay... ?
Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vaỵ

Chân Trân
27-08-2005, 04:23 AM
Hỏi Trăng

Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn.
Hỏi con bạch thố đà bao tuổi,
Hở chị Hằng Nga đã mấy con?
Đêm tối cớ chi soi gác tía?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son.
Năm canh lơ lửng chờ ai đó ?
Hay có tình riêng với nước non?

Chân Trân
27-08-2005, 04:24 AM
Nhà Sư

Chẳng phải là Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lốc, áo không tà .
Oản dâng trước mặt, năm ba phẩm,
Vãi mọp sau lưng, bảy tám bà .
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe,
Giọng hì, giọng hí, giọng hi hạ
Tu lâu có lẽ lên sư cụ,
Ngất nghểu tòa sen nọ đó mà!

Chân Trân
27-08-2005, 04:25 AM
Nỗi Riêng

Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh,
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến,
Giong lèo thấy kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.

Chân Trân
27-08-2005, 04:25 AM
Ốc Nhồi

Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi,
Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.
Quân tử có thương thì bóc yếm,
Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

Chân Trân
27-08-2005, 04:26 AM
Qua Kẽm Trống

Hai bên thì núi, giữa thì sông,
Có phải đây là kẽm Trống không?
Gió đập cành cây khua lắc cắc,
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.
Ở trong hang đá hơi còn hẹp,
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.
Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại,
Nào ai có biết nỗi bưng bồng.

Chân Trân
05-01-2006, 01:17 AM
Quả Mít

Thân em như quả mít trên cây
Da nó xù xì, múi nó dầy.
Quân tử có thương thì đóng cọc,(1)
Xin đừng mân mó, nhựa ra taỵ

Chú thích:

(1) Khi quả mít gần chín, muốn ăn mau, người ta thường hạ xuống lấy cọc tre hoặc gỗ đóng vào cuống, đem phơi nắng cho chảy hết nhựa đị Cũng có bản chép "Quân tử có yêu thì đóng nõ".

Chân Trân
05-01-2006, 01:18 AM
Qua Sông Phụ Sóng


Chú lái kia ơi, biết chú rồi,
Qua sông rồi lại đấm ngay bòi.
Chèo ghe vừa khỏi dòng sông ngược,
Đấm cặc ngay vào ngấn nước xuôi.
Mới biết lên bờ đà vỗ đít,
Nào khi giữa khúc phải co vòi.
Chuyến đò nên nghĩa, sao không nhớ ?
Sang nữa hay là một chuyến thôi?


http://vntrungtam.com:2500/thuvien/rose.gif

Chân Trân
05-01-2006, 01:21 AM
Quán Nước Bên Đường


Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo,
Đường đi thiên thẹo, quán cheo leo.(1)
Lợp lều, mái cỏ tranh xơ xác,
Xỏ kẽ, kèo tre (2) đốt khẳng kheo.(3)
Ba trạc cây xanh hình uốn éo;
Một dòng nước biếc, cỏ leo teo(4)
Thú vui quên cả niềm lo cũ,
Kìa cái diều ai thả lộn lèo.(5)

Chú thích:


1.Đường đi thiên thẹo là đường đi quanh co, nhiều ngả.
2.Kèo tre là những cái kèo nhà làm bằng tre.
3.Đốt là từng khúc, từng lóng một.
4.Có bản chép: "Chảy tăn teo" hoặc "cảnh cheo leo".
5.Có bản chép: "Nhìn xem phong cảnh vui là thế, Nỡ để tri âm khách lạt tèo".

Chân Trân
05-01-2006, 01:40 AM
Quan Thị


(1) Mười hai bà mụ(2) ghét chi nhau?
Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu?
Rúc rích thây cha con chuột lắt,
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu.
Đố ai biết được vông hay chóc,(3)
Còn kẻ nào hay cuống với đầu.
Thôi thế thì thôi, thôi cũng được,
Nghìn năm khỏi bị tiếng nương dâu (4)

Chú thích:


1.Quan thị là những người lại đực, lại cái, hoặc đàn ông bị tội thiến, được vào làm chức quan thị để hầu các vợ vua, và các công chúa trong cung cấm.

2.Theo tục truyền người ta sinh ra là do 12 bà mụ nắn hình, mỗi bà trông nom một năm, lần lượt tới khi đứa trẻ 12 tuổi.

3.Vông là thứ cây gỗ sốp, chóc là thứ ráy có của ăn được nhưng rất ngứa.

4.Nương dâu là chỉ thói trăng hoa dâm dật, do tích trai gái hẹn nhau trong nương dâu ở nước Vệ đời Xuân Thu mà ra.