View Full Version : thơ NGUYỄN BíNH
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:10 PM
* Đôi dòng tiểu sử Nguyễn Bính *
Tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh năm 1918 tại làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định (nay là Hà Nam Ninh). Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi.
Nguyễn Bính được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm Hồn Tôi.
Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam, Ty văn hóa thông tin Nam Hà. Năm 1958, Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm Hoa.
Ông mất ngày 20 tháng 1 năm 1966 tại Hà Nội.
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang (1940), Tâm Hồn Tôi (1940), Hương Cố Nhân (1941), Mây Tần (1942), Người Con Gái Ở Lầu Hoa (1942), Tình Nghĩa Đôi Ta (1960), Tuyển Tập Nguyễn Bính (1984); kịch thơ Bóng Giai Nhân (1942); truyện thơ Truyện Tỳ Bà (1944)...
Thơ Nguyễn Bính "chân quê": giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng, và hồn nhiên như ca dao trữ tình. Ông viết về làng quê qua lăng kính tình cảm lãng mạn, biểu lộ một tình quê, một hồn quê chân tình và gần gũi. Giáo Sư Lê Đình Kỵ có nhận xét về thơ Nguyễn Bính: "Nổi bật lên ở Nguyễn Bính là ca dao, ở cảm xúc lẫn tư duy, ở cả ý, tình, và điệu... "
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:11 PM
Ái khanh hành
... Không phải gặp em từ buổi ấy
Hình như gặp em từ ngàn xưa
Lòng em thương anh không có bến
Tình anh yêu em không có bờ
Viết viết có đến nghìn trang giấy
Làm ra có đến nghìn bài thơ
Tương tư một đêm năm canh chẵn
Nhớ nhung một ngày mười hai giờ.
Chao ơi!
Em ngon như rau cải
Em ngọt như rau ngót.
Em giòn như cùi dừa.
Em hiền như nước mưa
Em nhổ nước bọt xuống mặt biển
Mặt biển thơm lên hai mươi bốn giờ
Em là con Tướng trong tam cúc
Anh là quân Xe trong bàn cờ
Ví chăng có một nước Tình ái
Em là Hoàng Hậu, anh làm Vua.
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:12 PM
Anh Về Quê Cũ
Anh về quê cũ: thôn Vân
Sau khi đã biết phong trần ra sao.
Từ nay lại tắm ao đào
Rượu dâu nhà cất, thuốc lào nhà phơi.
Giang hồ sót lại mình tôi
Quê người đắng khói, quê người cay men.
Nam Kỳ rồi lại Cao Miên
Tắm trong một cái biển tiền người ta...
Biển tiền, ôi biển bao la
Mình không bẩn được vẫn là tay không...
Thôn Vân có biếc, có hồng
Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều.
Đê cao có đất thả diều
Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay.
Quả lành nặng trĩu từng cây
Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen.
Hiu hiu gió quạt, trăng đèn
Với dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi.
Ăn gỏi cá, đánh cờ người
Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân.
Ơi thôn Vân, hỡi thôn Vân!
Phương nào kết dải mây Tần cho ta
Từ nay, khi nhớ quê nhà
Thấy mây Tần biết đó là thôn Vân.
Ơi thôn Vân, hỡi thôn Vân!
Anh em ly tán, lầu dần thành ra,
Không còn ai ở lại nhà,
Hỏi còn ai nữa ? Để hoa đầy vườn,
Trăng đầy ngõ, gió đầy thôn,
Anh về quê cũ có buồn không anh?
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:13 PM
Áo Anh
Tằm em ăn rỗi hôm nay
Hái dâu, em bận suốt ngày hôm qua.
Mong sao tằm tốt, tơ già,
May đôi áo nái làm quà cho anh.
Hẹn cho một hẹn, anh chờ
Em may áo nái bao giờ mới xong?
Lạy trời tắt gió ngang sông
Qua đò biếu áo, yên lòng em tôi.
Đưa anh đến bến đò ngang
Con sào đẩy sóng, thuyền nan lìa bờ.
Anh đi sương gió vật vờ
Em về chọn kén, chuốt tơ, chăn tằm
Đến mùa gió bấc sang năm
Bao nhiêu lụa bấy nhiêu làm áo anh.
Mong sao sự nghiệp chóng thành
Áo anh đã có em anh may giùm.
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:14 PM
Bảy Chữ
Mây trắng đang xây mộng viễn hành,
Chiều nay tôi lại ngắm trời xanh.
Trời xanh là một tờ thư rộng
Tôi thảo lên trời mấy nét nhanh.
Viết trọn năm dài theo vách đá
Bốn bề lá đổ ngợp hơi thu.
Vừa may cánh nhạn về phương ấy
Tôi gửi cho nàng bức ngọc thư.
Xe ngựa chiều nay ngập thị thành,
Chiều nay nàng bắt được thư xanh
Đọc xong bảy chữ thì thương lắm:
"Vạn lý tương tư, vũ trụ tình".
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:15 PM
Bên Hồ
Lá rơi theo gió lá bay
Bên hồ, ta đứng đắm say nhìn hồ.
Sương mai đây có trắng mờ
Như còn lưu luyến đôi bờ cây xanh.
Xa trên mặt nước mông mênh
Buông thuyền, cô gái nghiêng mình hái sen.
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:16 PM
Bến mơ
Bến mơ thuyền đậu, dưới thuyền mơ.
Tôi đã mơ màng chuyện tóc tơ.
Bỏ dở khăn thêu, nàng lẳng lặng
Đến xem chàng nối mấy vần thơ.
Bỗng nàng sung sướng vỗ tay reo:
-Thi sĩ, chồng em, anh đáng yêu!
Những vận thơ anh huyền ảo quá!
Và thiêng liêngquá! Và cao siêu!
Chàng ngước nhìn nàng trong luyến ái:
-Mình ơi! mình nối hộ thơ, mình!
-Em chả nối thơ đâu đấy nhé!
Suốt đời em chỉ muốn hôn anh.
Một chiếc, một chiếc lại một chiếc,
Má chàng in có vạn đôi môi.
Chàng cười như nấc đi từng lúc:
- Anh lạy cô mình, anh xin thôi!
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:17 PM
Bên Sông
Có hai em bé học trò
Xem con kiến gió đi đò lá tre.
Nứa xuôi từng một thôi bè
Nắng sang bãi cát bên kia có chiều.
Thoáng như một lớp phù kiều
Chim đàn nối cánh bay vèo ngang sông.
Thuyền buôn đã mấy ngày ròng
Nằm suông, lái chửa ăn xong giá hàng.
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:17 PM
Bóng Bướm
Cành dâu cao, lá dâu cao
Lênh đênh bóng bướm trôi vào mắt em.
Anh đi đèn sách mười niên
Biết rằng bóng bướm có lên kinh thành.
Cành dâu xanh, lá dâu xanh
Một mình em hái, một mình em thương.
Mới rồi mãn khóa thi hương
Ngựa điều, võng tía qua đường những ai?
Tịnh Ngọc
23-07-2005, 11:18 PM
Bước Đi Bước Nữa
Xê lại gần đây, xích lại gần đây!
Lại đây cho mẹ nhủ câu này:
Mẹ không muốn thế nhưng mà nghĩ
Bấy lâu mẹ đã nhiều đắng cay.
Kể con cũng lớn khôn rồi,
Chín suối cha con hẳn ngậm cười.
Mẹ muốn bước thêm bước nữa,
Còn đàn em nhỏ cậy con nuôi.
Con ơi! mẹ khóc suốt đêm kia,
Khóc suốt đêm qua nữa, chỉ vì...
Con mẹ có còn thương mẹ dại
Thì con gái mẹ nhận lời đi!
Mẹ cũng không mong sướng lấy mình,
Nhưng mà số phận bắt điêu linh.
Vả chăng thiên hạ nào riêng mẹ,
Gái góa qua đò uổng tiết trinh.
Mai mốt... con ơi! mẹ lấy chồng,
Chúng con coi mẹ có như không.
Khuya rồi đấy nhỉ! con đi nghỉ,
Gió bấc đêm nay lạnh ngập phòng.
Chân Trân
26-07-2005, 04:44 AM
Bướm nói điêu
Em thấy đời em trống trải nhiều
Vì đời em chả có ai yêu
Đời em là một vườn hoa nở
Bướm hẹn về, rồi bướm nói điêu...
Cái quạt
Cái quạt mười tám cái nan
Anh phất vào đấy muôn vàn nhớ nhung
Gió sông, gió núi, gió rừng
Anh niệm thần chú thì ngừng lại đây.
Gió Nam Bắc, gió Đông Tây
Hãy hầu công chúa thâu ngày, thâu đêm
Em ơi công chúa là em
Anh là quan trạng đi xem hoa về
Trên giời có vẩy tê tê
Đôi bên ước thề duyên hãy tròn duyên
Quạt này trạng để làm tin
Đêm nay khép mở tình duyên với nàng.
Chân Trân
26-07-2005, 04:45 AM
Cảm Tác
Thơ suông, rượu nhạt, quán cơm nghèo,
Xuân xế mùa xuân, chiều xế chiều.
Chín hẹn đã sai mười: bạn quý,
Nghìn voi không được một: người yêu.
Bá Nha thưở trước còn Chung Tử.
Kim Trọng đời nay hết Thúy Kiều.
Võng tía, tàn vàng đi nượp nượp,
Giũ tà áo vải bụi bay theo...
Cánh Buồm Nâu
Hôm nay dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
Anh đi đấy, anh về đâu ?
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm...
Chân Trân
26-07-2005, 04:46 AM
Cây Bàng Cuối Thu
Thu sang trên những cành bàng
Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi.
Hôm qua đã rụng một rồi
Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn.
Hôm nay lá thấy tôi buồn
Lìa cành theo gió, lá luồn qua song.
Hai tay ôm lá vào lòng
Than ôi chiếc lá cuối cùng là đây!
Quạnh hiu như tấm thân này
Lại âm thầm sống những ngày gió mưa...
Chân Trân
26-07-2005, 04:46 AM
Chân Quê
Hôm qua em đi tỉnh về,
Đợi em ở mãi con đê đầu làng.
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng,
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi!
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Nói ra sợ mất lòng em,
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa.
Như hôm em đi lễ chùa,
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.
Hoa chanh nở giữa vườn chanh,
Thầy u mình với chúng mình chân quê.
Hôm qua em đi tỉnh về,
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.
Chân Trân
26-07-2005, 04:48 AM
Chẳng biết
Năm đã qua rồi, trong lớp học
Tôi ngồi nghe Uyển đọc bài thi
Hai ta trẻ lắm, tình thơ dại
Chẳng biết "yêu nhau" phải... những gì?...
Chờ Mong
Chờ mong như suốt đêm qua,
Chàng ơi! một tháng là ba mươi ngày...
Lần lần lá rụng rồi đây,
Tơ đàn rã rợi cho tay lỗi đàn.
Tiếng đâu rào rạt rộn ràng?
Ngựa ai ai cưỡi trên ngàn lá khô.
Tiếng đâu xao động lô xô ?
Xe ai ai đẩy ngang bờ giâu xanh.
Buồng hương bóng bóng mình mình,
Gió hiu hiu hắt qua mành mành hoa.
Người về chỉ những người ta,
Gió mơ hồ nhắn người ta quên về.
Nay rồi mai lại ngày kia,
Nhớ mong chờ đợi đến khi... ? hỡi chàng!
Chân Trân
18-08-2005, 04:36 AM
Tản mạn về Nguyễn Bính
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi"
(Nguyễn Bính)
Ngày xưa, khi còn đi học và ở trong ký túc xá thuộc một trường đại học lớn ở Saigon, tôi có dịp đọc Ngày Xưa Còn Bé của Duyên Anh, và qua đó đã cảm được những bài thơ trữ tình của Xuân Diệu và Nguyễn Bính. Thật ra, tôi bị mê hoặc thì đúng hơn. Nhưng giữa hai tác giả, thì tôi cảm thấy gần gũi với Nguyễn Bính hơn, có lẽ vì tôi là dân quê mùa, tỉnh lỵ. Những câu thơ tình "Tờ lá thắm đã lạc dòng u uất , ánh mai soi cũng pha nhạt màu ôi; Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất , Anh cho em, nên anh đã mất rồi" thật là hay, nhưng sao tôi vẫn thích những câu thơ đơn giản, mộc mạc gần như ca dao của Nguyễn Bính: "... Hai người sống giữa cô đơn; Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi; Giá đừng có dậu mồng tơi; Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng ...".
Tôi nghĩ, hầu như trong chúng ta, những người lớn lên ở Việt Nam, chắc ai cũng không ít thì nhiều nghe qua hay biết về nhà thơ tài hoa nhưng vắn số nàỵ Điều đó cũng dễ hiểu, vì thơ của Nguyễn Bính hình như đã đạt được trình độ dễ nhớ và đại chúng.
Đi ngược dòng thời gian một chút, vào đầu thế kỷ 20, khi mà phong trào thơ cũ (theo truyền thống) không còn phát triển nữa, thơ mới được trỗi dậy như trăm hoa đua nở. Trong khi người ta nô nức đua nhau theo phong trào thơ mới, làm thơ mới, thì Nguyễn Bính và Tú Mỡ vẫn tiếp tục đi theo con đường thơ cũ . Giữa những khuôn mặt sáng giá của vườn thơ mới như Xuân Diệu, Thế Lữ, Huy Cận, v.v. tên tuổi của Nguyễn Bính vẫn không hề bị lu mờ, mà ngược lại ông còn tạo được bản sắc rất riêng của mình. Nguyễn Bính viết:
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thày u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều
Có người cho rằng qua bài thơ này Nguyễn Bính muốn làm một bản tuyên ngôn về đường lối sáng tác của mình. Đường lối thơ theo nhà quê. Không cần ra tỉnh, cứ hương đồng gió nội là hay rồi.
Nguyễn Bính là thi sĩ của tình yêụ Nhưng tình yêu của Nguyễn Bính không phải chung chung như :
Yêu là chết trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu ...
(Xuân Diệu)
hay táo bạo và Tây phương hóa như:
Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài ...
Nhưng tình yêu của Nguyễn Bính rất nhẹ nhàng, tế nhị và Việt Nam:
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bướm trắng thường sang bên này ...
Và cũng không phải vội vàng, chạy theo kim đồng hồ như Xuân Diệu "Mau với chứ, vội vàng lên với chứ ... Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi", mà chỉ chầm chậm:
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn dập miếng giầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng chung một ngõ vội vàng chi anh
Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình với nhau.
Có lẽ trong chúng ta, ai cũng một lần nghe qua một vài câu thơ trang nhã, tình tứ và sâu xa trong bài Người Hàng Xóm:
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn
Hai người sống giữa cô đơn
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi
Giá đừng có dậu mồng tơi
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng ...
và để rồi tiếc cho một mối tình nhẹ nhàng nhưng đầy thi vị của thi sĩ . Nhà thơ yêu một người con gái (có thể là tưởng tượng), nhưng chỉ yêu thầm, không dám nói ra, mà chỉ âm thầm tự nhủ "tôi buồn tự hỏi hay tôi yêu nàng?", để rồi ngày tháng qua đi và nàng chết. Thi sĩ đã than khóc và mới nhận ra được là mình đã yêu:
Đêm qua nàng đã chết rồi
Nghẹn ngào tôi khóc ... Quả tôi yêu nàng.
Thời còn đi học, tôi thật sự đã cảm những câu thơ trên đây của Nguyễn Bính. Lúc đó, tôi còn muốn tìm hình ảnh của mình đâu đó trong bài thơ để hỏi mình có thương thầm ai không? Nhưng nào có được, khi mà sách vở và thi cử cứ đè nặng lên cuộc đời sinh viên đầy gian truân ...
Trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh, khi phê bình về Nguyễn Bính, có viết: "Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trước tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và những tác phẩm của người, bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên cứu". Thật vậy! Nhiều bài thơ của Nguyễn Bính mang vần điệu ca dao và rất dễ nhớ. Nguyễn Bính không dùng chữ trừu tượng hay cầu kỳ để viết nên những vần thơ để đờị Ông cũng không không dùng những triết lý cao siêu để nói lên những điều hiển nhiên trong cuộc sống. Những câu lục bát của bài Tương Tư thật là dễ hình dung:
Thôn Đoài ngôì nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa làbệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Tôi thấy cái so sánh "gió mưa là bệnh của trời" với "tương tư là bệnh của tôi yêu nàng" rất ư là sáng tạo và cân xứng. Trong câu "gió mưa là bệnh của trời" có âm vang của gió bão, trong khi câu kế "tương tư là bệnh của tôi yêu nàng" thì lại tả cái âm vang của một tấm lòng. Hai câu thơ không chỉ nói về cái vũ trụ mà còn nói về cái tình trong vũ trụ. Gió mưa của trời, của vũ trụ, luôn gây ra cái cảm giác buồn buồn. Và tương tư là một tính của con người, nhất là đôi trai gái yêu nhau; là một cái vốn tự nhiên. Tương tư là bệnh của tình nhân, như mưa gió là bệnh của trời đất.
Cũng có ý cho là "gió mưa" được lấy từ điển "Phong Vũ", tên một bài thơ trong Trịnh Phong, Kinh Thi, thể hiện tình cảm của người con gái đợi người tình. Tôi thấy ý này không chính xác mấy, vì Nguyễn Bính không học chữ một cách hệ thống từ nhà trường mà chỉ tự học từ một ông chú. Nguyễn Bính cũng không dùng điển tích trong thơ văn của ông ta .
Tôi còn cảm thơ Nguyễn Bính vì cái đặc tính mộc mạc, rất quê muà Bắc bộ.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này
Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh đã nhuộm thành cây lá vàng
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đường sang đã đành
Nhưng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi..
Nhà em có một giàn giầu
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
Mặc dù lúc đó tôi chưa hề ra miền Bắc bao giờ, nhưng đọc những câu thơ này, tôi cũng có thể hình dung ra cái trữ tình của trai gái thuộc vùng đồng bằng Bắc Việt Nam. Chỉ có trong thơ Nguyễn Bính, tôi mới thấy rõ tình yêu của người Việt Nam trong khung trời Việt Nam, vì chỉ Việt Nam mới có "thôn đoài, thôn đông" hay "hàng cau liên phòng".
Phần lớn các nhà phê bình đều nhận xét là tình yêu của Nguyễn Bính không lãng mạn, nồng cháy như Xuân Diệu, không chứa chan như Huy Cận, nhưng nhẹ nhàng và mộng tưởng. Riêng tôi thì thấy Nguyễn Bính cũng yêu say đắm lắm chứ. Thi sĩ yêu đến nỗi phải ghen. Người không muốn người yêu mình hôn hoa, xức nước hoa, đi tắm biển và thậm chí không muốn thấy người yêu "ôm gối chiếc đêm ngủ ." Ghen như vậy thì quả là hết ý!
Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
nhìn tôi những lúc tôi xa xôi
Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
Đừng hôn, dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay, bể lắm người
Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
mà cô thường xức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
dẫu chỉ qua đường khách lại qua
Tôi muốn những đêm đông giá lạnh
Chiêm bao đừng lẩn khuất bên cô
Bằng không tôi muốn cô đừng gặp
Một trẻ trai nào trong giấc mơ
Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ
Đừng làm ẩm áo khách chưa quen
Chân cô in vết trên đường bụi
Chẳng bước chân nào được dẫm lên
Có người cho rằng bài thơ Ghen trên đây là bài thơ khéo nhất của Nguyễn Bính; từ cách gieo vần đến lời thơ và chất thơ .
Bên cạnh những bài thơ tình mà Nguyễn Bính đã tả một cách rất ngọt, rất chân chất ấy, nhà thơ còn rất thành công trong các bài thơ về người mẹ, người chị, giản dị dến không ngờ, nhưng gây xao xuyến và xúc động đến không ngờ cho độc giả. Chắc mọi ngươì còn nhớ bài Lòng Mẹ của Nguyễn Bính . Không một lời bóng bẩy, hào nhoáng, chỉ mộc mạc như tấm lòng của bao bà mẹ Việt Nam, nhưng sao đi vào lòng người đến thế:
Gái lớn ai không phải lấy chồng
Can gì mà khóc, nín đi không
Nín đi mặc áo ra chào họ
Rõ quý con tôi! Các chị trông
Ương ương dở dở quá đi thôi!
Cô có còn thương đến chúng tôi
Thì đứng lên nào! Lau nước mắt
Mình cô làm bận mấy mươi người
Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía
Này gương này lược này hoa tai
Muốn gì tôi sắm cho cô dủ
Nào dã thua ai đã kém ai
Ruộng tôi cày cấy, dâu tôi hái
Nuôi dạy em cô tôi đảm dương
Nhà cửa tôi coi, nợ tôi giả
Tôi còn mạnh chán, khiến cô thương
Để rồi khi tiễn con ra ngõ về nhà ai, mẹ một mình quay vào lủi thủi một mình, một bóng. "Con gái là con người ta mà". Đdọc đến đây ai mà không cảm động? Những vần thơ chân chất đến độ khó mà phân biệt được đâu là đời và đâu là thơ nữạ
Một bài thơ nữa của Nguyễn Bính, viết về cảm xúc của người chị cho người em khi đi về nhà "người ta" trong bài "Lỡ Bước Sang Ngang":
Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em hái, mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi một bước trăm đường xót xa.
Hẳn lòng người "chị" trong bài thơ này phải có nhiều uẩn khúc lắm, thế nên, lẽ ra phải vui trong ngày hạnh phúc của đời mình, nhưng giọng thơ lại chứa chất tang tóc, đau thương
Mắt quầng tóc rối tơ vương
Em còn cho chị lược gương làm gì
Một lần sẩy bước ra đi
Là không hẹn lại ngày về nữa đâu
...
Em về thương lấy mẹ già
Đừng trông ngóng chị nữa mà uổng công
Chị giờ sống cũng bằng không
Coi như chị đã sang sông đắm đò
Có người cho rằng Lỡ Bước Sang Ngang là một bản tuyên ngôn về quyền phụ nữ của Nguyễn Bính. Có thể là cách đây 50 năm, phụ nữ Việt Nam chưa có quyền tự do lựa chọn, không được bình đẳng trong hôn nhân, vì vậy mà đại đa số chị em có ý nghĩ rằng đám cưới của mình như là một sự "lỡ bước sang ngang".
Không ai phủ nhận được là Nguyễn Bính là tác giả của những lời thơ bình dân. Ông không ca ngợi những vẻ đẹp xa vời hay những bóng dáng mỹ lệ, nhưng chỉ ghi lại và nói những chuyện hàng ngày, rất gần gũi với đại chúng. Một trong những hình ảnh đó là "Những Bóng Người Trên Sân Ga". Trong bài này, tôi thấy những cuộc chia lìa cứ tiếp tục, gần như không ngừng:
Những cuộc chia lìa khởi từ đây
Cây đàn sum hợp đứt từng dây
Những lời bèo bọt, thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày
Có lần tôi thấy hai cô bé
Sát má vào nhau khóc sụt sùi
Hai bóng chung lưng thành một bóng
-Đường về nhà chị chắc xa xôi
và còn gì cảm động hơn hơn khi thấy hai người yêu đang bịn rịn chia tay:
Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu
và những cảnh mà tôi nghĩ là ta thấy hàng ngày trên các sân ga:
Hai chàng tôi thấy tiễn đưa nhau
Kẻ ở sân ga, kẻ cuối tàu
Họ giục nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu
Có lần tôi thấy vợ chồng ai,
Thèn thẹn chia tay bóng chạy dàị
Chị mở khăn trầu anh thắt lại,
Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi tận chốn xa
Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga
rồi những người cô đơn, không có bạn bè, người thân:
Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly
Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những dôi mắt ướt nhìn đôi mắt,
Buồn ở đâu hơn ở chốn này ?
Tôi đã từng chờ những chuyến xe
Đã từng đưa đón kẻ đi về
Sao nhà ga ấy sân ga ấy
Chỉ để cho lòng dấu biệt ly?
Biệt ly nào mà không buồn? Cuộc vui nào mà chẳng có lúc chia taỷ Ngày vui lúc nào cũng qua mau và chỉ để lại cho người nhiều ngày buồn sau đó. Có lẽ trong đời người, thời gian buồn nhiều hơn thời gian vui, nên trong bài thơ này, tôi chỉ thấy toàn những hình ảnh của chia tay cứ dồn dập.
Có ai đó đã nói "Cuộc đời là một bài thơ lớn." Tôi thấy điều này rất đúng với Nguyễn Bính. Ông sinh ra ở miền Bắc VN, nhưng sau này (trước 1954), ông lưu lạc vào Nam. Khoảng 1952, ông từng làm phó chủ tịch tỉnh bộ Kiên Giang, phụ trách về văn hóa tuyên truyền. Trong thời gian ở ngoài Bắc, ông viết thơ tình nổi tiếng; trong thời gian đi kháng chiến trong Nam, ông viết nhiều bài thơ về kháng chiến, yêu nước, nhưng không mấy thành công và ít ai biết đến. Một trong những bài ông viết trong lúc còn "nằm gai nêm mật" trong rừng U Minh là Người Của Ngày Maị Trong bài, ông đã tả được một cuộc sống gian lao của những người yêu nước, kháng chiến chống Pháp lúc bấy giờ :
Ở chòi hẹp nhưng hồn bao trùm vũ trụ
Trái tim đau nhưng thương cả loài người
Ddã nhiều hôm không thấy bóng mặt trời
Bởi làm việc liên miên và bí mật
...
Những người yêu nước này là ai? Họ là những đứa con VN đến từ ba miền của đất nước, mỗi người mang theo một sắc thái riêng biệt:
Quê các anh ở miền Trung đá núi
Bãi cát vàng bờ biển uốn quanh co
Ddêm trong xanh, cao vút tiếng ai hò
Trên bến vắng một dòng sông nổi bạc
Quê các anh ở miền Nam bát ngát
Trái dừa xiêm nước ngọt buổi trưa nồng
Ddôi ba cô gái bán hàng bông
Chèo yểu điệu một xuồng đầy vú sữa
Theo dòng kênh đi sâu vào biển lúa
Quê các anh ở miền Bắc xa xôi
Bước chân đi , không biết mấy năm rồi
Xa cha mẹ anh em, xa tất cả
Nương dâu xanh, chiếc cầu ao , mái ra
...
Họ là ai ?
- Là người của ngày mai .
Sau 1954, Nguyễn Bính tập kết về lại Bắc, ông bị vài người trong chính quyền Hà Nội lúc đó cho là phản động và đã chết trong tủi nhục lúc chỉ 47 tuổi, cái độ tuổi đầy sáng tạọ
Tôi cố tìm một vài phê bình về cái "dở" của thơ Nguyễn Bính mà chẳng thấy bao nhiêu . Phần lớn thơ của Nguyễn Bính được viết theo thể thơ của dân gian. Chả thế mà nhiều nhà phê bình đều đồng ý là Nguyễn Bính là nhà thơ của đồng quê . Tuy nhiên Hoài Thanh, khi phê bình về Nguyễn Bính trong Thi Nhân Việt Nam, cũng có trách: "Giữa những bài giống như ca dao, người ta bỗng chen vào một đôi lời quá mớị Ta thấy khó chịu như khi vào một ngôi chùa có những ngọn đèn điện trên bàn thờ Phật". Chẳng hạn như những câu:
Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn trời, đôi mắt trong ...
đã làm Nguyễn Bính hết cái "quê mùa" rồị Còn lại, tôi không thấy ai chê thơ của ông cả .
Viết về Nguyễn Bính thì chắc cả một cuốn sách cũng không đủ . Càng lục lại trong tiềm thức càng thấy nhớ nhiều, "Chân quê", "Trường huyện", "Cô hái mơ", "Lẳng lơ" ... toàn những bài đã dược chuyền tay chép đi chép lại trong thời học sinh. Nhưng sao thấy ngôn từ bỗng trở nên khô cứng và trống rỗng dến thảm hại mỗi khi nói về thơ ông. Phải chăng cái "hồn" trong thơ ông đã nói hộ hết rồi ...
Tôi nhớ hoài một lời nói của Nguyễn Bính đâu đó là "Làm văn nghệ khó lắm" vì "Có nhiều ý, nhiều chữ quá tuyệt mà người khác đã cướp mất, trước mình. Mình chỉ nhái lại thôi". Và, tôi cũng chỉ đang nhái lại vài chữ của tiền nhân để bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với một nhà thơ mà tôi cho là của tha hương và tình yêu trắc trở .
Sưu tầm
Chân Trân
17-12-2005, 11:04 PM
Nhà thơ Nguyễn Bính từng có hai vợ miền Nam
http://evan.com.vn/pictures/nguyenbinh.jpg
Nhà thơ Nguyễn Bính
Gần đây, nhiều thông tin nói về việc ra mắt cuốn hồi ký của một phụ nữ Nam Bộ mà một đoạn đời trong kháng chiến 1946-1954 từng gắn với nhà thơ Nguyễn Bính. Một vài nhà báo có những bình tán, khiến bạn đọc dẫn dắt tới những điều xa sự thực. Những bài viết ấy gây cho nhiều người cảm tưởng rằng người phụ nữ vừa công bố cuốn hồi ký kia là người vợ miền Nam duy nhất của Nguyễn Bính. Nhưng sự thật nhà thơ tài hoa này từng có hai người vợ miền Nam.
Cách gọi người vợ miền Nam do chính Nguyễn Bính đưa ra từ 1955 khi cho in cuốn Gửi người vợ miền Nam. Một bài ca dài, có thể coi là thuộc về những trang mở đầu cho bộ phận văn học miền Bắc sẽ được gọi là "văn thơ đấu tranh thống nhất":
Thư một bức nghìn lời tâm huyết
Đêm canh trường thức viết cho em
Bồi hồi máu ứ trong tim
Chảy theo ngọn bút hiện lên thư này
Thư mọc cánh thư bay khắp ngả
Rộn muôn lòng hoa lá xôn xao
Thư đi núi thẳm đèo cao
Bay qua giới tuyến đậu vào tay em
Em bắt được hằng đêm em đọc
Cánh thư vàng em thuộc từng câu
Ru con nhà vắng trăng thâu
Nghe trong tiếng hát tình nhau thơm lành
Chính trong bài ca dưới dạng bức thư dài ấy, Nguyễn Bính kể lại sự gặp gỡ, tình yêu và cuộc hôn nhân trong kháng chiến của mình.
Nhớ lại buổi chúng mình gặp gỡ
Xanh bóng dừa bỡ ngỡ nhìn nhau
Cắn môi nói chẳng nên câu
Ai hồng đôi mắt nghiêng đầu làm thinh
Buổi công tác thuyền anh ghé bến
Anh ngập ngừng em thẹn quay đi
Mẹ rằng mẹ chẳng đòi chi
Đã người kháng chiến mẹ thì cho không
Chẳng mai mối cũng không lễ lại
Đám cưới mình tiếng hát vang sông
Trầu không têm với môi nồng
Đêm trăng xuân ấy vợ chồng sánh đôi.
Khi Nguyễn Bính kể chuyện mình vào thơ, ông ghép chung hai cuộc tình lần lượt với hai người phụ nữ Nam Bộ vào một nhân vật người vợ miền Nam duy nhất trong bài ca ấy.
Điều này chỉ tới giữa những năm 1980 tôi mới được biết thông qua những người như cụ Trúc Sơn Hoàng Chư, bạn thơ của Nguyễn Bính từ trước năm 1945, một số bạn văn ở Nam Định và nhất là ông Hoài Việt, người biên soạn cuốn sách Nguyễn Bính, thi sĩ của yêu thương.
Đọc bài ca Gửi người vợ miền Nam, ta cảm thấy khi tác giả kể về sự gặp gỡ nên duyên, ông có vẻ như thiên về sử dụng tài liệu của cuộc hôn nhân thứ nhất. Nhưng khi ông kể về việc sinh con, có vẻ ông lại sử dụng tài liệu cuộc hôn nhân thứ hai. Rõ nhất là việc đặt tên con:
Trải chín tháng mười ngày mong mỏi
Sớm đầu xuân ấy buổi khai hoa
Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai
Chính ông Hoài Việt cho biết, Hương Mai là cô con gái thứ hai của nhà thơ Nguyễn Bính. Cô là kết quả cuộc hôn nhân thứ hai của nhà thơ sau khi thất bại cuộc hôn nhân đầu.
Hồi năm 1992, Hương Mai là cô giáo dạy học ở Cần Thơ, sau đó làm thanh tra của Sở giáo dục.
Người phụ nữ miền Nam cùng Nguyễn Bính trải qua cuộc hôn nhân đầu tiên, cố nhiên bà từng là một người vợ miền Nam của nhà thơ Nguyễn Bính.
Giữa những năm 1990, chính tôi được thấy hai bản chụp tờ viết tay đồng ý ly dị, trao trả nhà và đồ vật, có chữ ký của cả hai người ngày 28/2/1952. Cạnh đó là Tờ Thuận Ly đánh máy có chữ ký của hai người và xác nhận của Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Huyện Cà Mau tỉnh Bạc Liêu ngày 3/8/1952.
Nhắc đến những giấy tờ trên chỉ là để cho bạn đọc biết rằng sau cuộc hôn nhân thất bại với người phụ nữ miền Nam thứ nhất, nhà thơ Nguyễn Bính có thêm cuộc hôn nhân với một phụ nữ miền Nam khác nữa và cũng kịp sinh con trước khi ông ra Bắc tập kết.
***
Nguồn: Thể thao & Văn hóa
Chân Trân
17-12-2005, 11:07 PM
'Người vợ miền Nam' của thi sĩ Nguyễn Bính
Sau Cách mạng Tháng Tám, khi công tác ở Nam Bộ, thi sĩ Nguyễn Bính đã gặp và cưới một người mà ông thân thương, trìu mến gọi là “người vợ miền Nam” của ông.
Bà Hồng Châu (Nguyễn Lục Hà) - vợ cố thi sĩ Nguyễn Bính năm nay đã 87 tuổi, sống trong một căn nhà nhỏ êm đềm ở làng hoa Gò Vấp - TP HCM. Dù ở tuổi “cổ lai hy”, song bà vẫn còn giữ được một trí nhớ mẫn tiệp với một tâm hồn nhạy cảm hiếm thấy. Bà Nguyễn Lục Hà sinh tại Trà Vinh, là con gái út trong một gia đình có hai anh trai. Hai người anh trai ấy đã lần lượt hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
http://evan.com.vn/pictures/anb.jpg
Nguyễn Bính và người vợ miền Nam
Cha bà - ông Gia Lạc vốn gốc người xứ Nghệ, dòng dõi con nhà quan, thấm nhuần chữ thánh hiền. Vì chán ngán cảnh quan lại phong kiến, mà cụ thể là thái độ bạc nhược của vua Khải Định nên đã bỏ cố hương, đi tìm ánh sáng cách mạng. Năm 1925 ông chính thức gia nhập Tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Bà Gia Lạc vốn là người phụ nữ chịu thương, chịu khó, cả đời lo lắng, chắt chiu cho chồng con.
Khi sinh ra đứa con gái, ông Gia Lạc đắn đo mãi, cuối cùng đặt tên là Lục Hà, tức bông sen xanh, một loài hoa mọc trong bùn lầy mà sắc hương vẫn luôn thanh khiết. Khi bà Gia Lạc nhắc chồng chọn ngày xỏ lỗ tai cho con gái thì ông Gia Lạc nói chuyện nàng Mạnh Lệ Quân bên Tàu để thể hiện ý định: con gái thời loạn thì cũng phải nuôi chí như trai. Ông không thích ba cái chuyện xỏ lỗ tai. Vậy là cô bé Lục Hà trở thành đứa bé gái không xỏ lỗ tai duy nhất của xóm…
Từ nhỏ Lục Hà đã nổi tiếng thông minh, nghịch ngợm. ông Gia Lạc dạy Lục Hà chữ Nho, nhưng cô bé thích chữ quốc ngữ hơn. Đặc biệt Lục Hà thích nghe chuyện nghĩa hiệp. Mà, đâu xa, cha cô là một thày thuốc, có lòng thương người hiếm thấy. Lần đó, có tên ăn trộm đến nấp đầu hè, nhưng trời mưa lạnh, hắn chịu không nổi nên ho khan. Biết nhà có trộm rình, nhưng ông Gia Lạc không sợ, không ghét, trái lại đi ra… mời tên trộm vào nhà. Rồi chuyện mẹ cô đi chợ, gặp một người ăn xin nằm co lạnh giữa trời mưa, thương tình cởi cái áo dài cho bà cụ mà mặc cái áo cánh cũn cỡn về nhà, khiến ông Gia Lạc hiểu nhầm “xạc” cho một trận…
Khi vua Khải Định chết, vì cho rằng Khải Định chỉ là ông vua bù nhìn chẳng có công lao gì với nước nhà nên ông Gia Lạc kiên quyết cự tuyệt việc để tang Khải Định. Nhiều người dân ở Trà Vinh cũng làm theo ông. Ngược lại, khi cụ Phan Châu Trinh mất, ông Gia Lạc buồn rầu, coi như nhà đang có tang. Khí tiết cách mạng ở ông Gia Lạc thể hiện rất rõ. Nhưng, hoạt động cách mạng của ông chưa được thành tựu gì thì đã bị mật thám bắt.
Chúng đánh đập ông dã man, hòng lung lạc ý chí, bắt ông khai ra những người cùng chí hướng. Không khai thác được gì, chúng thả ông về. Nhưng do bị đòn dã man, ông thổ huyết nhiều lần và chết vào ngày mồng 8 tết năm Tân Mùi (1931).
Cha mất, nhà chỉ còn hai mẹ con. Lục Hà ráng làm việc đỡ đần mẹ và chí thú học hành. Cô cũng thi đậu vào Trường Nữ học Sài Gòn (nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai, TP HCM) nhưng không được học bổng nên lên Sa Đéc học Trường tư thục Montaigne. Hiệu trưởng trường là thày Đặng Văn Bá (sau này tập kết ra Bắc dạy môn triết ở Trường Nguyễn Ái Quốc). Chính trong ngôi trường ấy, Hà đã gặp được nhiều người thày đáng kính, có tư tưởng yêu nước, tiến bộ. Những người thày ấy là tấm gương, là “kim chỉ nam” để cho Hà giác ngộ và đi theo cách mạng.
Cũng trong giai đoạn này, Lục Hà tham gia sáng tác thơ dưới bút danh Hồng Cẩm. Những bài thơ đầy khí phách như Thanh niên mau thức tỉnh của Lục Hà bị mật thám ghi vào “sổ đen”. Ngược lại các anh chị trong tổ chức khen Hà lập trường tư tưởng tốt, trình độ cách mạng vững vàng. Thật ra, Lục Hà cũng có làm thơ tình nhưng sợ “bị rầy” nên không gửi đăng báo. Hà tiếp tục học Trường tư thục Phan Thanh Giản, vì đây là trường gần nhà, có lợi cho hoạt động cách mạng. Tháng 9/1938 Hà được tổ chức kết nạp vào Đảng Cộng sản.
Lục Hà thích viết báo, nhưng rồi trở thành cô giáo sau khi học khóa đào tạo trợ giảng giáo viên (Cours normal auxiliaire). Là cô giáo, nhưng cô chưa đi dạy ngay mà làm thư ký cho Văn phòng Tỉnh ủy.
Trong thời gian công tác ở đây, Lục Hà gặp Năm Giáo - một người biết làm thơ, đặc biệt giỏi thơ Đường. Thật ra Năm Giáo tên chính là Võ Hoàng - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Trà Vinh. Dưới vỏ bọc một thày giáo, Năm Giáo phụ trách huấn luyện chính trị và vận động kháng chiến. Giữa Lục Hà và Năm Giáo dần dần nảy nở những tình cảm êm đẹp, khó bày tỏ bằng lời. Họ yêu nhau. Tình yêu và tình đồng chí không tạo ra những hố ngăn, trái lại họ biết tạo ra những chất men cho tình yêu và công việc.
Nhưng rồi Năm Giáo bị bắt. Lục Hà chới với. Nhưng vượt qua đau khổ, Lục Hà chợt có quyết định sáng suốt: thoát ly. Đó là một buổi chiều mùa đông năm 1940, Lục Hà rời khỏi Trà Vinh. Sau lưng Lục Hà là ánh mắt chứa chan của người mẹ già. Từ đó, Lục Hà bắt đầu dấn thân vào con đường cách mạng. Để tránh bị lộ và bị bắt, Lục Hà tạo nhiều vỏ bọc, khi ở Vĩnh Long, lúc Sài Gòn.
Thương con gái, một thân một mình ở xứ lạ, bà Gia Lạc lặn lội tìm Lục Hà. Nhưng tình thương của người mẹ đã vô tình dẫn tới một hậu quả khôn lường. Vừa về nhà hôm trước thì hôm sau ngày 8/5/1941, Lục Hà đã bị bắt và bị chúng tra tấn dã man. Câu hỏi đầu tiên chúng nêu ra là: “Năm Giáo có phải là Võ Hoàng - Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh?”. Lục Hà một mực: “Tôi không biết”. Và, thế là cô bị chúng tra tấn đến chết đi sống lại nhiều lần. Để quên đi đòn thù và để giữ vững khí tiết cách mạng, Lục Hà tiếp tục làm thơ. Những bài thơ trong tù của cô là vũ khí chống lại kẻ thù. Cuối năm 1943, Lục Hà được đưa về quản thúc ở Trà Vinh.
Trước khi đến với Nguyễn Bính, Lục Hà đã lấy chồng là thày giáo Tâm, sinh một đứa con gái tên Quốc Thoa. Sống với nhau chỉ vài năm, họ chia tay, vì thày giáo Tâm không chịu được cảnh vợ cứ mãi đi lo “việc thiên hạ”. Bé Quốc Thoa sau đó cũng qua đời vì bệnh. Khi Nguyễn Bính vào Nam là lúc Lục Hà công tác tại báo Tiếng súng kháng địch của Quân khu IX. Đấy là một tờ báo có uy tín lúc bấy giờ với nhiều tên tuổi nhà văn, nhà báo như Rum Bảo Việt, Phạm Anh Tài (Sơn Nam), Hà Huy Hà, Lưu Quý Kỳ…
Có một chi tiết đặc biệt thú vị là cuộc hôn nhân giữa Nguyễn Bính và Nguyễn Lục Hà được chính ông Lê Duẩn làm “ông tơ”. Thực ra khi ông Lê Duẩn giới thiệu “nhà thơ vô sản” Nguyễn Bính cho Lục Hà, thì cô đã “hồn xiêu phách tán” trước chàng thi sĩ chân quê này rồi.
Ngày 2/9/1951, Lục Hà khai trương tiệm sách Hồng Châu cũng là ngày Nguyễn Bính cậy nhờ má Ba - một bà mẹ chiến sĩ chính thức đem trầu cau đến nói chuyện cưới xin với bà Gia Lạc. Rằm tháng mười năm 1951 họ chính thức làm lễ thành hôn.
Khi Lục Hà có mang, Nguyễn Bính nói nếu sanh con gái sẽ đặt tên là Anh Thơ, còn là con trai thì lập một dòng họ Nguyễn Bính Hồng… Nguyễn Bính nói chưa dứt câu thì bị Lục Hà “cự” liền: “Tại sao con tôi mang nặng đẻ đau mà anh lấy tên người khác đặt cho nó?”. Lục Hà nói, cô không ghen với những cuộc tình của Nguyễn Bính, nhưng Nguyễn Bính nên để cô thể hiện quyền làm mẹ. Nguyễn Bính đuối lý. Dù vậy, khi vợ đặt tên con là Nguyễn Hồng Cầu thì Nguyễn Bính giận, thấy mình bị “mất phần” nên cố nói người làm hộ tịch ghi thêm vào đó chữ “Bính”, thành ra tên Nguyễn Bính Hồng Cầu…
***
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.