PDA

View Full Version : Lương Tâm


trungfq
07-03-2009, 10:35 PM
Đỗ Trân Duy
Chúng ta dễ dàng đồng ý rằng, dù sống ở đâu, dù trong một nền văn hóa kỳ dị nào, con người cũng đều tự nhiên biết điều thiện điều ác. Chẳng hạn xã hội nào cũng ca tụng vị anh hùng vì nghĩa quên mình. Ngược lại ai cũng coi khinh kẻ gian ác ích kỷ hại người. Mỗi cá nhân cũng đối diện với ý thức thiện ác để phản tỉnh về chính mình. Khi cá nhân làm điều gì mà hắn cho là sai quấy, hắn buồn rầu và có mặc cảm tội lỗi. Khi làm điều gì mà hắn cho là phải đạo, hắn thấy hài lòng. Chiếu theo phép lý luận, nếu chúng ta có tiền đề: “Bản tính con người là tự biết giá trị về thiện ác”, chúng ta sẽ có kết đề: “Trong đáy sâu của tâm có chứa sẵn một số tiêu chuẩn đạo đức mẫu giúp con người đánh giá sự việc.” Nguồn đạo đức ẩn tàng này được gọi là lương tâm.
Con người sống trong sự kiểm soát của lương tâm là chuyện đương nhiên không cần bàn cãi. Nhưng, lương tâm từ đâu mà có là vấn đề quan trọng cần câu trả lời rõ ràng. Cho đến nay chúng ta có hai lối giải đáp trái nghịch nhau. Một lối của những người theo trường phái Darwin, duy lý và vô thần. Để cụ thể hóa chúng ta tạm lấy ông tổ phân tâm học (psychoanalysis) Sigmund Freud làm đại diện cho nhóm này. Một lối khác của những người hữu thần. Chúng ta cũng tạm chọn một người làm đại diện là giáo sư C. S. Lewis, một học giả Thiên Chúa giáo.
Lương Tâm Là Sản Phẩm Của Văn Hóa Hay Của Thiên Chúa?
Học thuyết của Freud cho rằng: Những qui tắc đạo lý là sản phẩm văn hóa do kiến thức con người đặt ra. Nó cũng giống như khi chúng ta đặt ra luật lệ giao thông. Kinh nghiệm khôn ngoan của những đời trước được cha mẹ truyền dậy cho con cháu từ thuở ấu thơ. Con người dựa vào đó mà sống trong nhân cách và trật tự. Theo thời gian, những ý niệm đạo lý thấm nhập vào vô thức con người và trở thành lương tâm. Khi cả cộng đồng có chung một nền tảng đạo đức, ý thức đạo đức trở nên một động lực mãnh liệt gọi là siêu ngã (super-ego) khống chế con người. Vì lương tâm là những giá trị do con người đặt ra, nên lương tâm thay đổi theo không gian và thời gian. Có những cái xứ này cho là đúng xứ khác cho là sai hoặc ngày xưa cho là đúng ngày nay cho là sai.
Luận đề của Lewis thì cho rằng: Lương tâm không do con người đặt ra. Con người chỉ khám phá ra nó mà thôi. Cũng giống như con người không đặt ra sức hút của trái đất. Con người chỉ khám phá ra sức hút này, nhờ đó mà biết sống phù hợp với luật trọng lượng. Nếu lương tâm không do con người đặt ra, vậy nó phải do Thiên Chúa đặt vào tâm trí con người. Cái đạo đức thay đổi theo không gian và thời gian chỉ là nền luân lý xã hội. Đạo đức khách quan, tức lương tâm, không biến đổi.
Lewis giải thích thêm về luân lý xã hội. Kể từ khi con người có mặt trên địa cầu, con người đã biết việc gì nên làm việc gì nên tránh. Con người không bao giờ loại bỏ được ám ảnh này nhưng cùng lúc con người lại không tuân giữ được điều đó. Vì vậy xã hội đặt ra luật pháp để củng cố sự tuân phục lương tâm. Hệ thống luật pháp tự nó không phải là lương tâm. Chẳng hạn sau Thế Chiến II mọi quốc gia, mọi cá nhân, đều biết Đức Quốc Xã sai lầm. Nhưng tại sao chúng ta biết họ sai lầm? Hẳn phải có một cái gọi là “đúng” làm mấu chốt. “Đúng” phải có thật, không đổi, vượt trên văn hóa và thời gian, vì nó là tiêu chuẩn để xét xử điều trái. Điều đáng ghi nhận là tập đoàn Đức Quốc Xã gồm những người có trình độ học vấn cao. Điều đó chứng tỏ lương tâm không phải là kết quả của kiến thức như Freud lập luận.
Điểm quan trọng trong học thuyết của Freud là sự thành hình của siêu ngã. Ông cho rằng cái mà những người hữu thần gọi là lương tâm, hay sức mạnh tâm linh, chỉ là dạng siêu ngã của tâm lý. Khi con người làm điều gì sai, con người đi ngược lại những tiêu chuẩn của siêu ngã. Giữa ngã (cái tôi) và siêu ngã có sự xung đột. Nếu ngã mạnh, siêu ngã bị lu mờ, con người vẫn bình thản. Nếu ngã yếu, kẻ phạm lỗi sẽ có mặc cảm lầm lỗi và có thể nặng tới mức bị bệnh tâm thần.
Về điểm này Freud đã quá chủ quan. Nhà phân tâm học Jung nhận xét: đúng ra con người vì mất định hướng trong cuộc sống mà bị bệnh tâm thần, hơn là bị khủng hoảng trong dồn nét giữa ý thức thiện và ác. Lewis đưa ra trường hợp một người anh có đứa em bị chết yểu. Người anh thường có mặc cảm tội lỗi. Hắn tự trách mình đã không thương em cho đủ, khiến em phải chịu cảnh bất hạnh. Mặc cảm tội lỗi này xuất phát từ sự việc “không làm gì” chứ không phải “đã làm gì”. Lòng ân hận này do tình yêu mà có. Tình yêu đến từ lương tâm. Armand M. Nicholl, Jr. cho rằng Freud bị khúc mắc không tìm ra giải đáp trong liên hệ thiện ác và lương tâm. Thuyết siêu ngã không cung cấp đầy đủ câu trả lời cho vấn đề này.
Với hai luận đề khác nhau về lương tâm, con người đã hướng đến hai nguồn học hỏi khác nhau. Nhóm của Freud đề cao kiến thức khoa học duy lý. Họ khẳng định trí thức của con người là thành quả duy nhất do khảo cứu khoa học mà có. Trái lại Lewis cho rằng khoa học không bao giờ là căn gốc trọn vẹn của sự hiểu biết. Khoa học không thể trả lời cho mọi vấn đề. Bên cạnh kiến thức khoa học còn có một một nguồn kiến thức quan trọng khác gọi là sự mặc khải. Khoa học có thể quan sát rồi cho biết hiện tượng xảy ra như thế nào, nhưng không thể trả lời hiện tượng từ đâu mà có. Ngay những câu hỏi siêu hình về nhân sinh của triết học do con người đặt ra, khoa học đã bị bí rồi. Nói chi đến việc trả lời cho lãnh vực tâm linh không do con người đặt ra. Chỉ có mặc khải từ Thiên Chúa mới trả lời được cho những vấn nạn về tâm linh.
Lương Tâm Dẫn Đến Ý Thức Về Tôn Giáo
Lối nhận diện lương tâm của những người hữu thần đã dẫn đến tôn giáo. Triết gia Immanuel Kant nhận định luật đạo đức ẩn trong nội tâm là bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, tác giả của lương tâm. Lewis khai triển rằng từ ý thức về đạo nghĩa, chúng ta nhận ra sự hiện hữu của lương tâm. Từ lương tâm chúng ta nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa. Từ Thiên Chúa chúng ta đón nhận tôn giáo do Người lập ra. Trong tôn giáo, chúng ta thấy sự kiện càng rõ ràng hơn. Chẳng hạn lời phán của Giavê được ghi trong sách Cựu Ước: “Ta sẽ đặt luật Ta trong trí chúng và sẽ viết luật Ta trong tim chúng” (Yr 31:33). Lời phán của Đức Giêsu được ghi trong sách Tân Ước: “Nước Trời ở trong lòng các ông” (Lc 17:21).
Freud không cho lập luận của triết học và của Thánh Kinh là hữu lý. Chúng là những điều vô bằng cớ và không thể chứng minh. Theo ông, chúng không có giá trị khoa học. Trong khi đó hệ thống luật pháp đối chiếu liên hệ giữa văn hóa và lương tâm là sự kiện rõ nét có thể chứng minh.
Lewis cho rằng lương tâm tự biểu hiện, không cần chứng minh. Chẳng hạn chúng ta không thấy có lý do gì mà người láng giềng phải hy sinh hạnh phúc của họ cho chúng ta. Chúng ta “nhìn ra” sự đương nhiên là thế mà không cần chứng minh. Chúng ta “nhìn ra” mọi người đều bình đẳng. Nếu một điều không thể chứng minh, không có nghĩa là nó vô lý, nhưng chỉ vì nó sẵn mang bằng chứng bởi chính nó.
Dù thế nào, Freud vẫn phủ nhận có một Đấng siêu việt gọi là Thiên Chúa. Ông dùng phân tâm học đi sâu vào vùng bóng tối của vô thức để giải thích về sự liên hệ giữa lương tâm và tôn giáo. Cụ thể là ông đánh thẳng vào đức tin của Kitô giáo. Trong cuốn Vật Tổ và Điều Cấm Kỵ (Totem and Taboo) Freud cho rằng Chúa Cha là phóng ảnh của người cha. Câu nói nổi tiếng của Freud là: “Con người không được tạo ra theo hình ảnh Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa được con người tạo ra theo hình ảnh của người cha.” Freud dựa vào thuyết Darwin lập luận rằng con người từ thủa ban đầu sống trong chế độ bè nhóm. Trong đó người cha dùng sức mạnh để bảo vệ nhóm. Nhưng cũng với sức mạnh ấy, người cha trở thành thủ lãnh chiếm trọn tài sản của nhóm kể cả đàn bà và con trẻ. Để bảo vệ vị thế chúa tể, người cha đè bẹp những đứa con trai bằng cách hành hạ chúng, hoặc giết chúng, hoặc đuổi chúng ra khỏi nhóm để tránh sự cạnh tranh. Vì vậy những đứa con trai sống trong cô đơn với tâm trạng vừa yêu cha, vữa ngưỡng phục, vừa sợ hãi, vừa hận ghét cha. Để sống còn, những đứa con trai quay trở lại nổi loạn giết cha của mình và đoạt quyền lãnh đạo. Từ đó những đứa con mang mặc cảm tội lỗi. Theo thời gian con người giải tỏa mặc cảm tội lỗi bằng cách thờ cúng vật tổ. Vật tổ thường là những con vật như gấu, sói, chim ưng… chúng là biểu tượng quyền lực của người cha. Người trong nhóm bị cấm không được giết vật tổ để tỏ lòng tôn kính cha. Ngoài ra chúng còn tổ chức những buổi lễ thờ cúng vật tổ để thỏa lòng hối hận. Từ đó phát sinh ra tôn giáo và người cha biến dạng thành thần linh.
Freud cho biết tâm trạng vừa yêu vừa sợ vừa hận ghi dấu rõ rệt trong tâm trạng của mọi tín đồ dành cho Thiên Chúa của họ. Tôn giáo không hơn không kém chỉ là cơ chế ngụy trang để giải quyết ám ảnh xung đột của thời thơ ấu. Ám ảnh muốn được yêu thương, che chở, chiếm đoạt và hối hận. Ngôi vị người cha nguyên thủy được dùng làm khuôn mẫu (prototype) để tạo ra Thiên Chúa. Freud kết luận, một kẻ không giết người hàng xóm vì Thiên Chúa cấm kị điều đó và Người dọa sẽ phạt hắn ở đời sau. Vì sợ Thiên Chúa nên hắn không dám giết người. Nhưng nếu hắn biết không hề có Thiên Chúa, thì dù có giết người hàng xóm, hắn sẽ không bị phạt ở đời sau. Tuy nhiên hắn không thể giết người hàng xóm vì hắn có học thức. Vì vậy học thức đã giải phóng con người. Ngược lại tôn giáo chỉ là một ảo ảnh tâm lý. Tôn giáo mang lại những cấm đoán, dọa nạt và nỗi sợ hãi làm mất tự do của con người.
Lúc đầu học thuyết của Freud đã gây nên cơn chấn động lớn trên thế giới. Người ta nghĩ rằng đã đến lúc phải viết lại lịch sử nhân loại. Nhưng ít lâu sau, thuyết của Freud không được các nhà nhân chủng học chấp nhận. Họ phê bình học thuyết của Freud là loại truyện dã sử gán cho thời tiền sử. Theo họ, Freud là bậc đại tài về khoa phân tâm học, nhưng ấu trĩ về nhân chủng học. Lewis nhận xét Freud cố gắng phủ nhận thần tính của lương tâm bằng lối giải thích theo bệnh lý. Thiên Chúa vượt xa giới hạn hình ảnh một người phàm. Không thể dùng kinh nghiệm loài người để giải thích Thiên Chúa. Lewis thêm, giả dụ Freud có lý. Nói cho cùng nếu những đứa con ân hận vì đã giết cha, vậy nếu không giết cha chúng sẽ không có lòng ân hận. Cái phán xét đưa đến lòng ân hận hay bình an ấy từ đâu mà đến? Rõ ràng nó (lương tâm) vẫn phải có sẵn trước khi sự việc giết cha xảy ra.
Đối Với Những Người Gần Gũi Với Lương Tâm
Đi sâu trong thế giới bệnh lý, Freud phúc trình rằng những ai càng có ý thức về lương tâm sâu đậm bao nhiêu, như các vị thánh, càng là những người bị bệnh tâm thần nặng bấy nhiêu. Những người này luôn sống trong tâm trạng sầu khổ vì có mặc cảm mình là kẻ tồi tệ đáng bị phạt. Vì vậy họ thường trực sống trong lo âu ảm đạm. Họ thiếu bản tính an vui và thiếu sự hài lòng tự tin về chính mình. Thêm nữa những người này thường có một trình độ rất thấp về khoa học.
Cùng một sự kiện mặc cảm tội lỗi, nhưng Lewis nhìn ra nút mở trong ánh sáng tâm linh. Ông cho biết con người có những trình độ phát triển về lương tâm khác nhau. Với một người có lương tâm cao, người ấy thấy rõ tội lỗi ở trong mình, nên đau khổ. Người nào càng tranh đấu với sự xấu bao nhiêu càng biết rõ nó bấy nhiêu. Vì vậy người ấy luôn luôn đề cao cảnh giác và sống trong tâm trạng sám hối. Với một kẻ xấu xa, hầu như không có ý thức về lương tâm, nên hắn cũng không có ý thức về tội lỗi. Hắn cũng không có sự dằn vặt đau khổ khi phạm tội. Ai càng sống theo sự xấu bao nhiêu càng ít hiểu biết về nó bấy nhiêu. Do đó người xấu luôn luôn nghĩ là mình phải. Họ sống an vui và hài lòng về mình. Theo Jung nhiều bằng chứng cho thấy sức mạnh của đức tin tôn giáo chữa lành tâm bệnh chứ không tạo ra tâm bệnh. Đạo hạnh mang lại sự sáng. U mê mang lại sự tối. Điều này không liên quan gì đến trình độ hiểu biết khoa học. Gần đây Jean Milet dựa vào những hiện tượng không thể tiên đoán trong thế giới vi vật lý (microphysique) và lượng tử (quantum) phát biểu rằng, người càng ít hiểu biết về khoa học càng xa Thiên Chúa, càng hiểu sâu khoa học càng gần Thiên Chúa.
Lương Tâm Là Khởi Điểm Cho Chúng Ta Tiếp Xúc Với Thiên Chúa
Một câu hỏi làm nhức óc mọi thời đại là “lý do hiện diện của vũ trụ”. Vũ trụ ngẫu nhiên mà có và tự tồn tại hay do một Đấng thông minh siêu việt nào tạo nên. Nói cách khác “có Thiên Chúa hay không?” Câu trả lời không ai ngờ đã có sẵn bên trong mỗi người, đó là tiếng nói của lương tâm. Chúng ta đàm thoại với ông kiến trúc sư thì dễ hiểu hơn là nhìn vào căn nhà do ông ta xây rồi phỏng đoán về ông. Cũng vậy, rất khó tìm Thiên Chúa qua cấu trúc vũ trụ, hay những hình thức bề ngoài. Tốt hơn hãy nghe tiếng nói của Người trong lương tâm của mình. Lương tâm là ý thức để con người suy ngẫm về Thiên Chúa. Người không biết đến lương tâm làm sao có thể nhìn ra Đấng Tác Giả của lương tâm. Kẻ biết lương tâm nhưng không thấy căn gốc của nó cũng không thấy Thiên Chúa.
Chúng ta có thể có nhận định gì về Freud và Lewis. Khởi đầu cả hai ông đều là những nhà trí thức (giáo sư đại học) và vô thần. Cả hai cùng nghe thấy tiếng nói của lương tâm. Một đàng, Freud không nhận ra đó là tiếng nói của Thiên Chúa nên tiếp tục là kẻ vô thần. Đàng khác, Lewis nhận ra đó là tiếng nói của Thiên Chúa nên trở thành tín đồ Thiên Chúa giáo. Hai thái độ lựa chọn này trở thành biểu tượng chung cho nhân loại trong ý chí tự do. Câu hát của thiên thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm” là cách nói về liên hệ giữa Thiên Chúa và con người qua lương tâm. Đức Giêsu hứa tha tội và cứu vớt những ai tin vào Người, nhưng kẻ vô thần không biết sự nối kết ấy làm sao họ nhận được ơn phúc. Thiên Chúa đau khổ “vì lòng chúng chai đá.” (Mc 3:5). “Chúng sai lạc từ đáy lòng. Chúng chẳng biết đường lối Ta. Vì vậy chúng sẽ không bao giờ được an nghỉ trong Ta” (Tv 95:10-11; Hr 3:10-11)

trungfq
17-07-2009, 11:13 PM
Có sự tồn tại của Chúa theo tiên tri Vanga Vanga sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Bà sống ẩn dật cả đời ở vùng hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary. Vanga mất thị lực năm 12 tuổi sau khi bị cuốn đi bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát. Vanga làm bạn với bóng tối từ đó. Lời tiên tri đầu tiên của Vanga được ghi nhận là vào năm bà 16 tuổi. Bà giúp cha mình tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc. Tuy nhiên, khả năng tiên tri của Vanga chỉ thực sự đạt đến độ chín năm 30 tuổi. Nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri. Trong đó có cả “kẻ hủy diệt” Adolf Hitler. Hitler từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu. Không có nhiều người tin vào tiên đoán của những nhà tiên tri. Tuy nhiên, người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó thành hiện thực. Vanga trở nên nổi tiếng vì những tiên đoán “thần thánh” của bà về những thảm họa toàn cầu. Độ chính xác của những lời tiên tri này khiến loài người giật mình hoài nghi: Liệu có thực sự tồn tại một thế lực siêu nhiên? Biết bao giấy mực đã cất công nghiên cứu để giải đáp về “bí ẩn Vanga”. Ví dụ, Vanga từng tiên đoán về vụ tấn công khủng bố ngày 11/9 ở Mỹ, khi bà nói rằng “người Mỹ sẽ ngã xuống dưới sự tấn công của những con chim sắt”. Nhà tiên tri cũng dự đoán chính xác sự bùng nổ Đại chiến thế giới thứ 2, cải tổ kinh tế chính trị ở Liên bang Xô Viết cũ, cái chết của công nương Diana và thậm chí vụ chìm tàu ngầm nguyên tử Kursk.

Năm 1980, nhà tiên tri mù nói rằng: “Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, tháng 8 năm 1999 hoặc năm 2000, Krusk sẽ ngập chìm trong nước, cả thế giới sẽ đau buồn về điều này”. Ở thời điểm đó, người ta không mấy bận tâm đến lời tiên liệu trên. Tuy nhiên, 20 năm sau, loài người đã phải sững sờ kinh ngạc. Một tàu ngầm nguyên tử của Nga gặp nạn tháng 8/2000. Toàn bộ thủy thủ đoàn bỏ mạng dưới đáy đại dương. Và kỳ lạ thay, con tàu xấu số được đặt theo chính tên thành phố Krusk.

Các chuyên gia thấy rằng nhà tiên tri huyền thoại này đã đưa ra những cảnh báo chính xác về các sự kiện liên quan đến căng thẳng vũ trang ở Nam Ossetia. Vanga nói chiến tranh thế giới thứ ba là hệ quả tất yếu của sự đấu tranh sinh tồn giữa bốn người đứng đầu các chính phủ và sự xung đột của những người theo đạo Hinđu.

Nhân loại liệu có đứng trước một thảm họa nữa không khi Vanga dự đoán chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ nổ ra vào năm 2010. Cuộc đời là những thước phim Vanga không biết chữ, bà cũng chưa từng viết một cuốn sách nào. Giọng nói của bà rất khó nghe và nặng thổ ngữ. Những gì Vanga nói hoặc được cho là do bà tiên đoán chủ yếu được ghi chép lại bởi những người xung quanh bà. Sau này, vô số những quyển sách bí truyền về cuộc đời và những tiên đoán của Vanga đã được viết ra.

Theo Vanga thì khả năng phi thường của bà liên quan đến sự hiện diện của những sinh vật vô hình, dù bà không thể giải thích rõ ràng nguồn gốc của chúng. Những sinh vật đó cho bà thông tin về con người. Cuộc sống của tất cả mọi người đứng trước bà hiển hiện giống như những thước phim từ lúc sinh ra đến khi nằm xuống. Tuy nhiên bà không có quyền năng thay đổi số phận. Vanga từng dự đoán về những đứa trẻ mới chào đời và cả những sinh linh chưa ra đời. Bà cũng tuyên bố rằng bà đang “nhìn thấy” và “nói chuyện” với những người đã chết cách đây hàng trăm năm.

Vanga thậm chí bảo rằng những người ngoài hành tinh đã đang sống trên trái đất từ rất lâu rồi. Họ đến từ những hành tinh mà ở đó dùng thứ ngôn ngữ Vamfirm. Những người theo Vanga tin rằng bà biết chính xác ngày chết của mình. Và chỉ không lâu trước ngày đó, bà nói có một cô bé tóc vàng 10 tuổi sống ở Pháp sẽ thừa hưởng những khả năng trời phú của bà, và rằng loài người sẽ sớm tìm ra cô bé đó.

Những lời tiên đoán kinh hoàng về tương lai!

Theo lời của Vanga, trong tương lai không xa sẽ xảy ra các vụ mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ. Những cuộc xung đột ở Indostan (phần đất ở Nam Á bao gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng) sẽ là một trong những nguyên nhân chính mở màn cho cuộc chiến tranh thế giới thứ 3.

Năm 2010 - Năm bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ 3. Cuộc chiến tranh này sẽ bắt đầu vào tháng 11/2010 và kết thúc vào tháng 10/2014.

Ban đầu, cuộc chiến tranh diễn ra bình thường, tiếp đó sẽ xuất hiện hàng loạt vũ khí hạt nhân và cuối cùng là vũ khí hóa học.

Năm 2011 - Không một loài động vật, thực vật nào ở Bắc bán cầu có thể sống được do kết quả của quá trình lắng cặn chất phóng xạ.

Tiếp đó, những người Hồi giáo (người theo Đạo Hồi) sẽ bắt đầu một cuộc chiến tranh hóa học chống lại người Châu Âu.

Năm 2014 - Phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ, ung thư da và các loại bệnh khác về da do hậu quả cuộc chiến tranh hóa học.

Năm 2016 - Châu Âu gần như không có người sinh sống.

Năm 2018 - Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản.

Năm 2023 - Quỹ đạo Trái đất thay đổi.

Năm 2025 - Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu.

Năm 2028 - Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới, kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong thời gian này, con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim.

Năm 2033 - Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao.

Năm 2043 - Nền kinh tế thế giới phát triển rất phồn thịnh. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ Châu Âu.

Năm 2046 - Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất.

Năm 2066 - Trong lúc tấn công thành Roma của người hồi giáo, Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới - vũ khí thời tiết. Trong thời gian này, trời trở lạnh đột ngột.

Năm 2076 - Xã hội không giai cấp hay còn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hình thành.

Năm 2084 - Loài người Sẽ khôi phục lại thiên nhiên.

Năm 2088 - Xuất hiện một căn bệnh lạ “lão hóa chỉ trong vài giây!!!”.

Năm 2097 - Căn bệnh lão hóa khủng khiếp này sẽ lan tràn trên toàn cầu.

Năm 2100 - Loài người sẽ tạo ra những mặt trời nhân tạo chiếu sáng phần tối của quả đất.

Năm 2111 - Con người sẽ trở nên kiệt sức.

Năm 2123 - sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh giữa những nước nhỏ.

Năm 2125 - Tại Hung-ga-ri, người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này, loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga.

Năm 2130 - Nhiều vùng đất sẽ bị ngập trong nước.

Năm 2164 - Con người sẽ biến thành một loài động vật kinh dị (nửa người, nửa thú).

Năm 2167 - Xuất hiện tôn giáo mới.

Năm 2170 - Xảy ra một đợt hạn hán kéo dài trên Trái đất.

Năm 2187 - Hai miệng núi lửa lớn nhất thế giới sẽ ngừng quá trình phun trào nham thạch.

Năm 2195 - Những quốc gia dọc bờ biển sẽ trở nên khá giả cả về năng lượng lẫn lương thực.

Năm 2196 - Người Châu Á và Châu Âu sẽ sinh sống trà trộn nhau.

Năm 2201 - Quá trình phản ứng nhiệt hạch trên Mặt trời sẽ chấm dứt và bắt đầu thời kỳ nguội lạnh.

Năm 2221 - Trong quá trình tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất, loài người sẽ có cuộc chạm trán rùng rợn.

Năm 2256 - Tàu vũ trụ mang một căn bệnh khủng khiếp về Trái đất.

Năm 2262 - Quỹ đạo của các hành tinh dần bị thay đổi. Cũng thời gian này, sao Chổi sẽ đe dọa đến sự sống còn của sao Hỏa.

Năm 2271 - Các hằng số vật lý lại một lần nữa bị thay đổi.

Năm 2273 - Xảy ra sự xáo trộn giữa các chủng tộc da màu: da vàng, da trắng và da đen. Tiếp đó sẽ xuất hiện các chủng tộc mới.

Năm 2279 - Loài người sẽ lấy năng lượng từ khoảng chân không hoặc từ những lỗ đen.

Năm 2288 - Xuất hiện những cuộc va chạm với người ngoài hành tinh.

Năm 2291 - Mặt trời trở nên nguội lạnh và sau đó lại bùng cháy trở lại.

Năm 2296 - Mặt trời hoạt động mạnh hơn, lực hút vũ trụ bị thay đổi làm cho các trạm vũ trụ và vệ tinh rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng.

Năm 2299 - Tại Pháp xuất hiện một Đảng mới chống lại người theo Đạo hồi.

Năm 2302 - Phát hiện quy luật và bí mật mới của vũ trụ.

Năm 2304 - Khám phá bí mật Mặt trăng

Năm 2341 - Xuất hiện một thiên thể vô cùng nguy hiểm tiến gần Trái đất.

Năm 2354 - Một trong những mặt trời nhân tạo bị hỏng, kết quả dẫn tới đợt hạn hán kéo dài.

Năm 2371 - Xẩy ra nạn đói lớn.

Năm 2378 - Các bộ tộc mới nhanh chóng được hình thành.

Năm 2480 - Hai mặt trời nhân tạo va vào nhau, Trái đất bị rơi vào tình trạng hỗn loạn.

Năm 3005 - Xuất hiện các “cuộc chiến” mới trên sao Hỏa, quỹ đạo của các hành tinh bị rối loạn.

Năm 3010 - Sao chổi sẽ va vào Mặt trăng, quanh Trái đất lúc này xuất hiện một vành đai toàn đá và bụi.

Năm 3797 - Đây là thời kỳ kết thúc sự sống trên Trái đất. Thời gian này cũng là cơ sở để loài người bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác.

3803 - Một hành tinh mới được dùng làm chỗ cư trú. Giao tiếp giữa con người trở nên ít hơn. Khí hậu của hành tinh ảnh hưởng đến cơ thể con người - họ đột biến.

3805 - Cuộc chiến tranh giành tài nguyên nổ ra. Hơn nửa số con người bị tiêu diệt.

3815 - Chiến tranh kết thúc.

3854 - Nền văn mình gần như ngừng phát triển. Con người sống bầy đàn như thú vật.

3871 - Nhà tiên tri mới đem đến quan niệm về đạo đức và tôn giáo.

3874 - Nhà tiên tri mới được sự vị nể của hết thẩy mọi người, giáo hội mới thành lập.

3878 - Cùng với giáo hội mới, con người dần quên đi khoa học.

4302 - Thành phố mới được xây dựng. Giáo hội mới khuyến khích xây dựng khoa học - kĩ thuật.

4302 - Sự phát triển của khoa học. Các nhà bác học khám phá ra toàn bộ các tác động của dịch bệnh lên thái độ của sinh vật.

4304 - Tìm được cách tiêu diệt mọi dịch bệnh.

4308 - Vì sự đột biến, con người cuối cùng cũng dùng não của họ hơn 34%. Hoàn toàn mât đi những quan điểm xấu xa, thù ghét.

4509 - Có thể hiểu về Chúa. Con người cuối cùng cũng đạt tới trình độ phát triển để có thể giao tiếp với Chúa.

4599 - Con người đạt được sự bất tử.

4674 - Sự phát triển nền văn mình lên tới đỉnh cao. Số lượng người sống trên các hình tinh khác vào khoảng 340 tỷ. Bắt đầu đồng hóa với người ngoài hành tinh.

5076 - A boundary universe. With it, no one knows. (Sorry, ko biết dịch sao)

5078 - Có quyết định rời khỏi những biên giới của vũ trụ. Trong khi 40% dân số phản đối. 5079 - Sự kết thúc của Thế giới. ___________

Chính Ấn
17-07-2009, 11:45 PM
Năm 2016 - Châu Âu gần như không có người sinh sống.

Năm 2025 - Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu.

Những người mới di cư đến sẽ tạo nên những vùng lãnh thổ mới, quốc gia mới thì còn đâu là nước Hung hay nước pháp mà :

Năm 2125 - Tại Hung-ga-ri, người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này, loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga.

Năm 2299 - Tại Pháp xuất hiện một Đảng mới chống lại người theo Đạo hồi.

???

HuyNguyen
18-07-2009, 12:00 AM
Đúng là tiên tri, có một tiên tri mới của HN nè: loài người sẽ dùng một cột mốc mới để tính năm chứ không đếm tăng dần đến con số 5078 như lời tiên tri trên!