PDA

View Full Version : Thơ Xuân Diệu


LeMinh
19-07-2005, 11:54 AM
Trước hết, Lê Minh xin giới thiệu bài viết của Nhà thơ đã quá cố Huy Cận, người bạn rất thân trong làng thơ và trong đời thường của Thi sĩ được nhiều người tôn vinh là CHÚA THƠ TÌNH : XUÂN DIỆU .
------------
Ngày 18-12-1985, đã vĩnh biệt chúng ta nhà thơ Xuân Diệu, một nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ 20. Quê ở Hà Tĩnh, ông đã từng học ở Qui Nhơn, Huế, Hà Nội. Xuân Diệu là thành viên của Tự lực văn đoàn, văn đoàn có đóng góp lớn vào nền văn học Việt Nam hiện đại.

Là nhà thơ trữ tình, Xuân Diệu đã là một trong những chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Xuân Diệu "nhà thơ mới nhất" của các nhà thơ mới (Hoài Thanh). Hai tập "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió" được giới văn học xem như là hai kiệt tác của ông ca ngợi tình yêu và qua các chủ đề của tình yêu là ca ngợi sự sống, niềm vui và đam mê sống. Và ca ngợi tình yêu thì làm sao mà không ca ngợi tuổi trẻ, mùa xuân, ca ngợi thiên nhiên là tổ ấm và cái nôi của tình yêu. Và Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc đến đau đớn nỗi thời gian trôi chảy, sự mong manh của đời người cũng như lòng khát khao vĩnh cửu, tất cả đã được diễn tả bằng những câu thơ xúc động, có khi đậm đà triết lý nhân sinh.

Là một nhà thơ dấn thân, Xuân Diệu đã tham gia hàng chục năm trời (từ 1943) cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, và đã trở thành một trong những nhà thơ hàng đầu ca ngợi cách mạng. Ba lô trên lưng, Xuân Diệu đã đi khắp đất nước qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, chia sẻ cuộc sống gian khổ mà hào hùng của chiến sĩ, công nhân và nông dân. Từ cuộc sống dấn thân ấy đã hình thành một cảm xúc mới: cảm xúc của cả dân tộc chiến đấu cho độc lập, tự do - Và dòng thơ "công dân" ấy vẫn chan chứa chất thơ vì không hề gạt ra một bên những kích thước người của một cảm hứng thơ chân chính. Những bài thơ như "Sự sống chẳng bao giờ chán nản", "Những đêm hành quân" thuộc vào dòng thơ của chủ nghĩa nhân bản mới của thời đại. Thơ Xuân Diệu

Và nhà thơ - chiến sĩ vẫn tiếp tục là nhà thơ thần diệu của tình yêu. Vĩnh biệt chúng ta, Xuân Diệu còn để lại trong di cảo 400 (bốn trăm) bài thơ tình chưa công bố. Là nhà văn hóa lớn, nhà nghiên cứu bậc thầy, nhà phê bình sâu sắc và tinh tế, Xuân Diệu một mình, đã viết một công trình đồ sộ nghiên cứu hết các nhà thơ cổ điển của nước nhà, và những nhận định của ông cũng đã trở thành "cổ điển".

Xuân Diệu còn là tác giả tập "Phấn thông vàng" gồm những truyện ngắn trữ tình tuyệt diệu, tập "Trường ca" là những bài thơ văn xuôi xúc động về tạo vật, về tình đời.

Xuân Diệu còn viết nhiều sách về nghề thơ, hướng dẫn và tận tình giúp đỡ các bạn văn thơ trẻ. Xuân Diệu đã dịch tác phẩm của nhiều nhà thơ thế giới lỗi lạc - Victor Hugo, Petofi, Nazim Hikmet, Nicolas Grillen, Tagore, Attila, Joseph, Christo Botev, Endy, Blaga Dimitrova... Với một sự nghiệp phong phú, đồ sộ (hơn năm mươi tác phẩm), Xuân Diệu chắc chắn sẽ được hậu thế công nhận là một trong những đỉnh cao của thơ và văn chương Việt Nam thế kỷ 20.

4-2000
HUY CẬN
---------------

LeMinh
19-07-2005, 03:16 PM
XUÂN DIỆU Tên thật là Ngô Xuân Diệu, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1916 tại Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ, nơi cha là Ngô Xuân Thọ vào dạy học và kết duyên với mẹ là Nguyễn Thị Hiêp. Xuân Diệu ra Hà Nội học; những năm 1938-1940 ông và Huy Cận ở gác 40 Hàng Than. Xuân Diệu tốt nghiệp kỹ sư canh nông năm 1943.
Xuân Diệu viết nhiều, có khoảng 450 bài thơ. Một số lớn chưa được xuất bản. Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Thơ Thơ (1938), Gửi Hương Cho Gió (1945), Ngọn Quốc Kỳ (1945), Một Khối Hồng (1964), Thanh Ca (1982), Tuyển Tập Xuân Diệu (1983); truyện ngắn Phấn Thông Vàng (1939); và nhiều bút ký, tiểu luận, phê bình văn học. Xuân Diệu là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới. Ông mang ngọn gió rạo rực, thiết tha, nồng cháy, khao khát yêu thương đến cho thi ca. Thơ Xuân Diệu là "vườn mơn trớn", ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị trong Thơ Thơ, pha lẫn chút vị đắng cay trong Gửi Hương Cho Gió. Nhiều câu nhiều bài chịu ảnh hưởng từ thi ca lãng mạn Pháp.
Xuân Diệu mất ngày 18 tháng 12 năm 1985.

LeMinh
19-07-2005, 03:19 PM
Yêu
Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu.
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu;
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết...

Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.
Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
Yêu, là chết ở trong lòng một ít.

Họ lạc lối giữa u sầu mù mịt,
Những người ai theo dõi dấu chân yêu;
Và cảnh đời là sa mạc cô liêu.
Và tình ái là sợi dây vấn vít.

Yêu, là chết ở trong lòng một ít.

Xuân Diệu

LeMinh
19-07-2005, 03:25 PM
VỘI VÀNG

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoaì xuân.
Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian;
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lạị
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi ?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?
Chẳng bao giờ, ôi ! chẳng bao giờ nữạ.
Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm,

LeMinh
19-07-2005, 03:44 PM
Đêm trăng đường Láng

Em là một ngôi sao mới băng
Xuống đây, đi với anh đêm trăng

Hai con mắt dễ thương, dễ ghét
Đôi mắt, nguồn mặn nồng tha thiết

Em đưa anh vào trong bóng trăng
Anh đưa em cành liễu thung thăng

Đường Láng thơm bạc hà, canh giới
Ôi trăng soi trên lá xà cừ…

Anh với em bên bờ đêm biếc
Những xóm mờ mến thương quen biết

Trăng như sương trên ruộng lúa xanh
Gió như chim xao động trong cành

Em là một ngôi sao mới băng
Xuống đây, đi với anh đêm trăng

Trung thu, 29-9-1963
XUÂN DIỆU

-------------------
Lời bình của Nhà văn TRẦN QUỐC TOÀN:

Với cả hai cặp câu vần trắc (3-4 và 9-10), ta chỉ đảo vị trí một vài chữ là nhịp thơ xưa hiện ra: Hai con mắt dễ thương, dễ ghét / Đôi mắt nguồn tha thiết mặn nồng và Anh với em bên bờ đêm biếc / Những xóm mờ quen biết mến thương...

Nhưng Xuân Diệu tuyệt đối không dùng vần lưng như thế. Ông kiên quyết đoạn tuyện giọng điệu kể lể, để bài thơ trăng này, gợi nhiều hơn tả.

Lại nữa, trong 98 âm tiết toàn bài, có tới 68 thanh bằng (hơn 2/3), khiến bài thơ bỏ giọng trưởng (majeur) nghiêng hẳn sang màu âm mềm mại một gam thứ (mineur), phù hợp với không khí lãng đãng của một đêm trăng mộng nhiều hơn thực.

Tiếng chim lẫn vào tiếng gió, ánh trăng lẫn vào hơi sương. Anh và em không phải đi mà đang bay thì mới có thể vừa thơm là là đường rau bạc hà, canh giới ăn được đã vút lên ngọn cao đẹp mắt xà cừ.

Mộng nhiều hơn thực, mộng đến bóng cây mà như bóng người Liêu Trai, sải đôi tay cành liễu thung thăng…


---------
* Lời bình của Vũ Nho


Xuân Diệu là thi sĩ của tình yêu, thi sĩ của những đêm trăng tràn đầy ấn tượng. Chúng ta từng biết nhiều đêm trăng trong thơ. Đêm trăng đầy nhạc lạnh "Mây vắng trời trong đêm thủy tinh" (Nguyệt cầm). Đêm trăng buồn đầy thương nhớ "Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ. Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya" (Buồn trăng). Đêm trăng cô đơn của người kỹ nữ "Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo. Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da". (Lời kỹ nữ). Đêm trăng mênh mông khiến con người bơ vơ bé nhỏ "Trăng sáng trăng xa trăng rộng quá. Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ", (Trăng). Đêm trăng của những bông hoa nhài khao khát yêu đương "những búp nhài mở nửa. Hớp bóng trăng đầy miệng nhỏ xinh xinh". Đêm trăng trên Hắc Hải "thương nhớ lòng giăng vạn trùng" (Trăng khuya trên Hắc Hải).
Đêm trăng đường Láng là một trong những đêm trăng vui, đêm trăng thần tiên của tình yêu đôi lứa. Nó ấm áp tình yêu, tình đời chứ không lạnh lẽo như những vầng trăng xa thuở trước.
Một đôi tình nhân đi trong đêm trăng. Người con gái được lý tưởng hóa thành ngôi sao, (thành người tiên, người ở trên bầu trời, người ở trong vũ trụ):

Em là một ngôi sao mới băng
Xuống đấy, đi với anh đêm trăng

Thi sĩ say đắm nhìn vào mắt người yêu:

Hai con mắt dễ thương, dễ ghét
Đôi mắt, nguồn mặn nồng tha thiết

Dễ thương thì rõ rồi. Nhưng sao lại dễ ghét ở đây? Xuân Diệu là như vậy đấy. Đây không phải là cái ghen của người đàn ông (Thương khi mắt nhìn mình, ghét khi mắt nhìn người khác). Xuân Diệu nói dễ ghét là để nói cái dễ thương, để thương hơn nữa. Cũng tựa như "Em là yêu mến của ta. Mến yêu vô hạn em là nỗi đau".

Nhưng đêm trăng đâu phải chỉ để nhìn vào mắt nhau? Họ đã cùng đi vào thế giới ngập triều yêu mến. Đường Láng bình dị đã thành đường thơ:

Em đưa anh vào trong bóng trăng
Anh đưa em cành liễu thung thăng

Họ đi "chân luyến bên chân" (chữ của Xuân Diệu), người này đưa người kia, cùng đi vào trong bóng trăng huyền ảo, đi vào trong bóng liễu thung thăng. Hai chữ thung thăng Xuân Diệu dùng thật hợp cách.

Ca dao xưa đã ngẩn ngơ: Ai đem người ngọc thung thăng chốn này. Còn đây là hai người thung thăng. Thung thăng vừa có sự nhẹ nhàng, lại vừa có sự bay bổng, phóng khoáng. Phải có niềm vui rạo rực bên trong, phải thanh thản "cởi hết ưu phiền gởi gió mây" con người mới có thể nhẹ nhõm, mới hồn nhiên thơ trẻ đến thế. Cành liễu thung thăng hay tay người cầm cành liễu, hay bước người đưa, người cầm cành liễu thung thăng? Thơ cốt gợi mà không cốt tả là như vậy.

Con đường Láng thành con đường thơm, thành con đường đẫm trăng soi:

Đường Láng thơm bạc hà, cánh giới
Ôi trăng soi trên lá xà cừ...

Và đôi tình nhân đi mãi vào đêm trăng, đến tận bờ đêm biếc:

Anh với em bên bờ đêm biếc

Đêm có bờ thì đêm là sông, là hồ, hay là biển? Mà cũng có thể là ruộng, là đồng vì "Trăng như sương trên ruộng lúa xanh". Lý Bạch từng ngỡ trăng là sương trên mặt đất (Nghi thị địa thượng sương). Còn Xuân Diệu thì thấy trăng như sương trên ruộng lúa. Cái ánh trăng soi trên lá xà cừ đầm sương thu hẳn là long lanh như "vàng gieo ngấn nước", lại tiếp tục tạo ảo giác như sương trên ruộng lúa xanh... Hình ảnh những xóm mờ mến thương quen biết làm cho bức tranh thêm huyền ảo mà ấm áp, thân thiết. Trung tâm của bức tranh đó là hình ảnh tỏa sáng:

Em là một ngôi sao mới băng
Xuống đây, đi với anh đêm trăng

Sao băng là sao cháy rồi sao tắt. Còn cô gái là ngôi sao băng hóa thành người. Nhưng với cách ngắt câu thường gặp của Xuân Diệu thì có thể hiểu: Em như một ngôi sao - mời băng xuống đây - đi cùng anh đêm trăng. Hoặc: Em như một ngôi sao mới - băng xuống đây - đi cùng anh đêm trăng. Một ngôi sao vụt xuống từ bầu trời đêm trăng sáng.

Huy Cận liên tưởng đôi sao như cặp nhân vàng trong trái đêm vũ trụ (Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng. Từng cặp nhân vàng trong trái đêm). Đôi tình nhân trên đường Láng đêm trăng cũng có thể ví như đôi sao - người. Chỉ có khác là Xuân Diệu bao giờ cũng hướng về cõi người, cõi trần thế, về vẻ đẹp trần tục của mặt đất. Nên đường Láng với bạc hà, cánh giới, với xà cừ, lúa xanh, liễu biếc, xóm mờ quen biết thành thiên đường của tình yêu.

Bài thơ tình của Xuân Diệu đã trao cả "Một vùng đất nước say mê" cho những lứa đôi muôn thuở.

Tịnh Ngọc
19-07-2005, 10:24 PM
Anh đã giết em


Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh
Từ đây anh không được yêu em ở trong sự thật
Một cái gì đã qua, một cái gì đã mất
Ta nhìn nhau, bốn mắt biết làm sao?
ôi ! Em mến yêu ! Em vẫn là người anh yêu mến nhất.
Cho đến bây giờ ruột anh vẫn thắt
Tim anh vẫn đập như vấp thời gian,

Nhớ bao nhiêu yêu mến nồng nàn,
Nhớ đoạn đời hai ta rạng rỡ
Nhớ trời đất em cho anh mơ?
Nhớ
Muôn thưở thần tiên
Ôi ! Xa em, anh rơi vào vực không cùng
Đời anh không em, lạnh lùng tê buốt
Nhưng còn anh, còn em, mà đôi ta đã khác
Ta: hai người xa lạ - phải đâu ta !
Anh đã giết em, anh chôn em vào trái tim anh
Anh vẫn ước được em tha thứ
Anh vẫn yêu em như thưở ban đầu
Thê" mà tại sao ta vẫn xa nhau?
Tại em cố chấp
Tại anh đã mất
Con đường đi tới trái tim em
Anh đã giết em rồi, anh vần ngày đêm yêu mến
Em đã giết anh rồi, em vứt xác anh đâu?

Tịnh Ngọc
19-07-2005, 10:25 PM
Anh là người bạc bẽo


Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo,
Em yêu rồi, anh đã vội quên ngay
Mới hôm kia tình tự đến mê say
Sang bữa nay anh làm như mất hết
Anh đòi mãi như một kẻ keo kiệt,
Trong hồn anh tình ái chẳng lâu sao?
Anh không chắt chiu dành dụm tí nào,
Là đất xấu hạt gieo không nảy nơ?
Nên anh mới luôn luôn nghèo khô?
Giận hờn như anh chẳng được em yêu
Mà thật ra em yêu dấu rất nhiều
Ngẫm cho kỹ anh là người bạc bẽo

Tịnh Ngọc
19-07-2005, 10:25 PM
Anh thương khi em ngủ


Anh thương em khi ngủ.
Phong thái rất hồn nhiên.
Em ngủ như trẻ nhỏ.
Ngon say một giấc liền.

Tay em thả xuôi xuôi
Như bơi vào cõi mộng
Mắt em khép dài dài
Dưới trán em lồng lộng.

Em nằm in trẻ nhỏ.
Trong chiếc võng yêu thương
Anh dệt giăng khắp chỗ
Trong phòng, quanh quất giường.

Anh thức nhìn em ngủ,
Anh canh giấc cho em;
Anh lắng nghe nhịp thở.
Ngực em điều xuống lên.

Trở mình, tay ấp má
Anh thương em dáng người
Tin cậy vào cuộc sống,
Tin ở anh trong đời.

Sau một ngày đầy việc
Chúc em tôi giấc lành!
Anh vô cùng sung sướng
Nếu em mơ thấy anh.

Tịnh Ngọc
19-07-2005, 10:26 PM
Anh về Ấm Thượng...


Anh về Ấm Thượng tìm em,
Nhà gianh một túp, hương đêm một vùng.
Bóng xanh vườn nhãn um tùm,
Khói ngưng mặt nước, sương trùm đầu non

Anh về Ấm Thượng thăm em,
Gọi tên yêu, khẽ gõ rèm cọ khô,
Em đang thức ngủ mơ hồ
Tưởng rằng anh ở trong mơ gọi thầm.

Thấy anh, em xiết nỗi mừng
Nhìn em, gương mặt sáng bừng đêm khuya.
Làng không một tiếng chân đi,
Trái tim ta chuyện thầm thì cùng nhau.

Đêm về Ấm Thượng chưa lâu,
Núi sông, cây cỏ nhuộm màu thần tiên,
Chỉ cần một ánh nhen lên,
Một lời ý hiệp nên thiên sử tình

Tịnh Ngọc
19-07-2005, 10:27 PM
Áo em


Áo em để lại dáng hình
Treo trên mắc áo cho mình thấy thương
Đôi vai nho nhỏ bình thường
Khuỷ tay áo gợi hình xương tay gầy

Sờn sờn đôi chỗ đâu đây
Áo em nhuộm chắc, xanh tày biển xa,
Mấy khuy cúc áo thật thà
Ngắn rồi - em để về nhà mặc thêm.

Áo nhìn anh thật thương em
Hiểu còn gian khổ cho nên tay gầy
Áo em gần với anh thay!
Những khi khoai sắn là ngày cùng nhau.

Áo em thoang thoảng hoa cau
Áo em say đắm một màu trầm hương
Áo em ngày nhớ đêm thương
Áo em chín nắng mười sương anh chờ

LeMinh
20-07-2005, 10:30 PM
Cám ơn TinhNgoc đã post những bài thơ đặc sắc.
Xin mời TinhNgoc và các quý vị tiếp tục tham gia. Tôi rất mong được đọc bài bình những bài thơ Xuân Diệu của các quý vị hay quý vị sưu tầm.
Lê Minh

LeMinh
20-07-2005, 10:35 PM
Nguyệt Cầm

A Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
*
B Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Ðã chết đêm rằm theo nước xanh.
*
C Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Ðàn ghê như nước, lạnh, trời ơi ...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người ...
*
D Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê,
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.
Xuân Diệu

--------------
Nguyệt cầm - sự thăng hoa của hồn thơ Xuân Diệu (Vài suy nghĩ về cấu trúc nghệ thuật của thi phẩm Nguyệt Cầm)

Tác giả: Chu Văn Sơn;
Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ.- 2001.- Số 9.- Tr. 56 - 63 (3525);
http://thuvienbinhdinh.com/tvbd/diachi/default.asp?659=8&656=2003&658=39&654=4

1.1 Là một người sành thơ và bậc nhất ở nước Nam này, Xuân Diệu đã định giá thơ bằng nhiều thước đo. Có lần, vạch một ranh giới dứt khoát giữa cái Hay và cái Tiêu biểu, ông nói quyết rằng: Nếu chọn bài tiêu biểu nhất của mình, Xuân Diệu chọn Biển, còn chọn bài hay nhất, sẽ chọn bài Đây mùa thu tới, Thơ duyên và đặc biệt là Nguyệt cầm. Hay, theo quan niệm của Xuân Diệu phải là sự hài hoà tuyệt với giữa nội dung và hình thức.

Biểu quyết tự bình bầu của tác giả đã có sự gặp gỡ với cuộc bình chọn của đông đảo những người có uy tín về thơ đương đại. Trong danh sách trưng cầu ý kiến của nhiều chuyên gia gồm cả sáng tác, phê bình, nghiên cứu, giảng dạy, ở phần Xuân Diệu, Nguyệt Cầm cũng được xếp ngôi đầu bảng (1).

Thuộc thế hệ sau, một thi sĩ có nhiều cách tân về hình thức thơ mới cuối thế kỷ này, anh Thanh Thảo cũng trầm trồ ngưỡng mộ “Nguyệt Cầm thuộc dạng siêu thơ”… Thi sĩ này đã không ngần ngại cho đó là một kiệt tác. Tôi nghĩ thời gian có thể còn sàng lọc tước bỏ. Sang thế kỷ sau, chưa chắc tác phẩm được tôn vinh bây giờ còn giữ nguyên được địa vị. Nhưng có lẽ Nguyệt Cầm sẽ vẫn cứ là cái đỉnh chóp của sự nghiệp thi ca của nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” này thôi. Bầu Nguyệt Cầm vào hàng tinh hoa của Thơ mới và Thơ Việt, hẳn không phải là lá phiếu vội vàng.

Nguyệt cầm

Trăng ngập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm,
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh.
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình,
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.
Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời;
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rơn bốn bề…
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

1.2 Trước khi phân tích Nguyệt Cầm như một kiến trúc thi ca toàn bích với một thi pháp tinh xảo (và ở đây chỉ phân tích theo hướng này), có lẽ cần xem xét thi phẩm này trong cái đề tài đã ám ảnh hầu hết các nhà Thơ mới, đồng thời cũng hiến dâng cho họ rất nhiều áng thơ hay: ấy là Nhạc. Về cảm hứng, thi ca đã khai thác nhạc ở cả hai phía: Người chơi nhạc và bản thân nhạc. Ở phía này là sự ngất ngây trước vẻ đẹp thần tiên của tiếng nhạc, ở phía kia là sự đắm say trước tài hoa và xót xa cho những thân phận ca kỹ, vốn “cùng một lứa bên trời lận đận”. Thơ coi nhạc vừa là đối tượng mô tả vừa là phương tiện diễn tả. Tôi muốn nói, thi ca cũng đã dùng đến âm nhạc của ngôn ngữ làm phương tiện để diễn tả ngôn ngữ của âm nhạc. Cố nhiên, với các mức độ khác nhau! Song phải đến các thi sĩ tượng trưng thì mối tương giao thơ - nhạc mới được lý thuyết hoá. Chủ trương nổi tiếng của thi phái này là khai thác triệt để nhạc tính của ngôn ngữ. Thậm chí họ đã từng định nghĩa theo hướng này: “Thơ là sự giao động giữa âm thanh và ý nghĩa” (Pôn Valêry). Từ những hậu thuẫn lý thuyết, tư duy thơ tượng trưng đã thoả sức tung hoành trong nhạc như một lãnh địa đặc quyền. Vì thế, viết về nhạc, nhiều người đã say sưa dùng nhạc của ngôn từ để mô phỏng nhạc của âm nhạc. Ở những trường hợp thành công, người đọc có cái khoái thú được đọc một bài thơ về nhạc trong một bản nhạc thơ (chẳng hạn Tỳ bà hay Nhạc của Bích Khê). Nhưng cũng không ít trường hợp mải chạy theo nhạc của thơ mà đánh rơi mất bản thân thơ. Khi ấy xúc cảm về nhạc của thi nhân đã bị lấn át, chèn ép và khô héo trước kỹ thuật về nhạc của người thợ ngôn từ.

1.3. Một hồn thơ như Xuân Diệu không thể không viết về nhạc. Cảm hứng lớn về nhạc của Xuân Diệu là đi mãi vào cái thế giới bên trong nhạc. Thi sĩ đã cho nó một tên riêng là “thế giới của Du Dương”.

Hãy tự buông cho khúc nhạc hường
Dẫn vào thế giới của Du Dương

Đắm mình trong nhạc là rời bỏ thế giới thực tại để đi vào thế giới huyền diệu - Thế giới chỉ biểu hiện trong nhạc và bằng nhạc. Dường như mỗi nhạc khí là một cánh cửa, một con đường vô hình mở vào thế nhạc. Ấy là thế giới trong tâm linh được âm nhạc đánh thức. Với bài Huyền Diệu, hồn thơ Xuân Diệu mới chỉ khởi hành, đẩy cánh cửa vào thám hiểm thế giới ấy. Còn ngay sau đó, thi sĩ đã có cuộc lãng du chính thức vào thế giới riêng của Nguyệt Cầm(2). Tìm kiếm ý nghĩa đích thực của Nguyệt Cầm, xin đừng lạc vào những giá trị quen thuộc như lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, hay tình yêu đôi lứa… Mà tất cả đều đã hoà tan vào một niềm thơ duy nhất, thành mối tương giao kì diệu giữa hồn người, hồn nhạc và hồn tạo vật. Phải, thi phẩm là sự thăng hoa của hồn thơ vào thế giới Huyền diệu của Nguyệt Cầm.

2.1 Đọc bài thơ này, hẳn ai cũng phải ngỡ ngàng phân vân trước chữ “linh lung” Không ít người đã nghĩ là in lộn. Vì thế mà nhiều bản in đã “lật xuôi lại thành "lung linh". Không ngờ, cái việc ngỡ xuôi kia hoá ra là ngược. Phải chăng Xuân Diệu đã dùng phép lạ hoá để làm xiếc ngôn từ? Ngôn từ phải vặn mình lạ vậy là do nhu cầu bộc lộ những cảm giác tinh vi. Lung linh chỉ là sự lay động, nhún nhảy, rung rinh của những làn ánh sáng. Một cảm giác thuần tuý thị giác. Những gì mà hồn thơ quá ư bén nhạy này cảm nhận được trong cùng một khoảnh khắc lại là một phức hợp những cảm giác tinh vi nhất. Xuân Diệu muốn chữ ấy phải làm sống dậy cả một luồng run rẩy bởi một thoáng rừng mình ớn lạnh, cả một luồng gai gợn bí ẩn ma quái. Nghĩa là gồm cả cảm giác thuộc xúc giác nữa. Linh lung, vì thế, cứ ánh rợn lên, tê giá, huyền hoặc.

Phải, Linh lung chính là Nguyệt Cầm!
Bước vào Nguyệt Cầm là bước vào một thế giới linh lung. Mọi ảnh hình đều rợn sáng. Cả ánh sáng của âm thanh, cả âm thanh của ánh sáng đều tan ra trong từng làn sóng âm tê buốt, tưới lên da ta, lén lấn vào tâm trí ta. Cả trăng sao, sóng nước, mây trời, sỏi đá, cả sương bạc, cả canh khuya, cả nàng Nương Tử, cả bến Tầm Dương, cả hồn ta… tất tật đều vừa hiển hiện vừa tan ra trong biển nhạc trong suốt của Nguyệt Cầm không bờ không bến. Tất cả đều diễm ảo, hư huyền, chơi vơi, vô định. Không còn cõi này, không còn cõi khác, không còn hiện tại, không còn quá khứ, không còn hữu thể, không còn vô thể… chỉ còn có Nguyệt Cầm. Cả thương, nhớ, hận, sầu đều phổ vào trong ánh nhạc tê ngời. Vĩnh cửu tan cùng khoảnh khắc, phù du giao hưởng vĩnh hằng. Âm nhạc đến từ trăng lạnh, gieo từng chấm lạnh, từng dòng giá lạnh trong suốt vào hồn ta, để rồi khi đã dâng tràn, âm nhạc lại cuốn hồn ta trôi dạt mãi vào vô biên, đến tận bến bờ của sao Khuê. Từ hư không, âm nhạc đã cất tiếng và tiếng nhạc lại mang hồn ta phiêu diêu về lại cõi hư không. Nối cái nhỏ nhoi hữu hạn với cái vô tận vô cùng. Đó chẳng phải là sự thăng hoa huyền diệu vào bậc nhất của hồn người ư?

Nhờ đâu Nguyệt Cầm có được sự linh lung đến như vậy? Phải chăng chỉ trông cậy thuần tuý vào phép Tương giao?

2.2 Nói Xuân Diệu dùng Tương giao để viết nên Nguyệt Cầm, cố nhiên, đúng. Nhưng mà nó đúng hầu như với mọi thi phẩm của nhà thơ “Mới nhất trong các nhà thơ mới này”. Thế, đâu là thi pháp riêng của Nguyệt Cầm? Đó là lối viết “Hợp âm - cộng hưởng”. Vâng, gọi như thế là muốn mượn câu chữ của nhạc cho dễ “hạp” với đối tượng Nguyệt Cầm thôi. Thực thi, cần hình dung nó như một lối tạo hình, phối dựng, tổ chức ngôn từ sao cho hình tượng của thi phẩm thực sự là một kiến trúc nghệ thuật với nhiều hình ảnh đồng hiện trong một hình thể, mỗi câu chữ cứ muốn thành sự cộng hưởng của những làn ngữ nghĩa khác nhau, dựa trên sự giao thoa của các kênh cảm giác khác nhau. Mà điều kinh ngạc là toàn bộ thao tác thi pháp có vẻ như phức tạp ấy đều tan biến vào trong một thể sống động của bao cảm giác mong manh nhất, bao cảm xúc hư thoảng nhất của thi nhân. Nghĩa là trực giác của Xuân Diệu đã điều khiển thi pháp một cách thần diệu, khiến cho thi phẩm hiện ra cứ long lanh như một điệu hồn, linh lung như một kiến trúc ngôn từ kỳ ảo. Xuân Diệu đã tìm đến thi pháp này có lẽ do sự xui khiến của bản thân cái tên Nguyệt Cầm.

2.3 Có thể cây đàn được mang tên “Nguyệt Cầm” chỉ đơn thuần bởi hình dáng tròn của bầu đàn. Nhưng với hồn thơ tượng trưng Xuân Diệu, Nguyệt Cầm là cả một nguồn thi hứng. Bản thân cái tên nhạc khí đã là “Hợp âm - cộng hưởng”, đã là giao ứng linh lung rồi. Là một tổ hợp từ ghép đơn giản, nhưng Nguyệt Cầm cùng lúc phát ra nhiều tín hiệu nghĩa khác nhau: a) là một nhạc khí; b) là cuộc giao duyên trăng – đàn; c) là một bản đàn (đàn khúc Nguyệt Cầm); d) là tiếng đàn trong đêm trăng… Nhưng điều này có thể nhận được không mấy khó khăn. Nhưng cái kì dị của hồn thơ là cảm nghe được mối giao tình của bản thân ngôn ngữ và mối tương giao giữa ngôn ngữ với nhạc. Về từ tố, đó chỉ là sự cộng ghép NGUYỆT (trăng – ánh sáng) và CẦM (đàn – âm thanh) nhưng NGUYỆT CẦM thì đều là những âm gốc Hán. Nghiêng về sắc thái trầm đục, âm u. Cho nên chúng lập tức gắn bó với nhau để cùng cất giữ sâu trong lòng một thế giới huyền bí (nếu ta thay cầm bằng đàn, cảm giác huyền bí ở đây lập tức suy giảm). Dường như chúng còn có mối giao tình về chữ nghĩa. NGUYỆT và CẦM là khởi nguyên của một thế giới làm bằng ánh sáng và âm thanh: gồm cả nhạc của trăng và trăng của nhạc. Chúng ta biết, bất cứ nhạc khí nào cũng diễn tả thế giới này bằng sự biến hoá của hai phạm trù âm thanh là: Văn và Vũ (tương ứng với Âm – Dương, Nóng - Lạnh) cả hai hoà giọng mới làm nên tiếng nói của nhạc. Đàn Nguyệt cũng có dây Vãn và dây Vũ của nó. Cảm hứng thơ ca về Nguyệt Cầm của Xuân Diệu có lẽ khởi đầu bằng cảm nhận về sự tương phùng huyền nhiệm nào đó giữa nguyệt - cầm với văn – vũ. Hai phạm trù âm thanh của nhạc khi vào Nguyệt Cầm đã được diễn tả tương ứng bằng Trăng và Đàn với những biến ảo huyền diệu của tư duy thơ. Đây không phải là vịnh lại hình hài thực của một cây đàn mà tạo ra hình tượng thi ca về cây đàn theo lối tượng trưng.

3.1 Bài thơ gồm 4 khổ, được tổ chức theo lôgic tăng tiến. Từ khổ 1 đến khổ 4: Về thời gian: ngày một khuya khoắt; về không gian: càng lúc càng tràn đầy với mọi bề cao - rộng - sâu theo sự toả lan của nhạc; về cảm giác: mỗi lúc mỗi ghê lạnh, rợn ngợp; về cảm xúc: càng đêm càng buồn sầu, nhung nhớ, đơn côi… Tất cả những mạch đó của thi tứ xe quyện với nhau và thống nhất trong một thể sống động bởi cùng một thi pháp “Hợp âm - cộng hưởng”.

Tuy nhiên, khổ đầu tiên có một địa vị tối quan trọng. Chỉ cần tập trung quan sát khổ đầu trong mối liên hệ dọc ngang với ba khổ còn lại, cũng đủ cho ta hình dung về độ chín của thi pháp Xuân Diệu. Nhất là câu nhập đề. Những nét độc đáo của thi pháp này mà rồi đây sẽ phát huy trong toàn bộ thi phẩm dường như đã hiển hiện ngay ở câu đầu.

Câu khởi đầu là những suy cảm sự ra đời huyền hoặc của cây đàn nguyệt và cách cất tiếng của nó. Nó có thể ví câu đầu như cái tế bào đầu tiên mang trong nó hệ gen của hình thức toàn thi phẩm. Nói một cách khác, thi pháp gọi bằng “hợp âm - cộng hưởng” ngay ở đây đã bộc lộ rõ ràng:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh

Câu thơ dựng lên một ngữ cảnh hiền hoặc bí ẩn không dễ tường minh. Ta hãy bắt đầu bằng chữ “nhập”. Vì mọi chuyện cũng khởi sự từ chữ này. Thế giới nhạc của Nguyệt Cầm bắt đầu từ sự sống động của nhạc khí. Nhưng cây đàn ấy bắt đầu sống cái sinh mệnh đàn từ bao giờ? Từ lúc trăng nhập vào dây cung! Đây là động thái huyền nhiệm diễn tả sự nhập hồn, nhập thần…Nó xui ta nhớ đến nghi lễ “Hô thần nhập tượng” khi khánh thành những pho tượng Phật giáo. Tượng được tạc xong, chưa linh, bởi mới chỉ có phần thân xác tượng. Phải sau khi được thần linh nhập vào, tượng mới là hiện thân của đức Phật. Cũng như thế, trong hình dung thi ca của Xuân Diệu, đàn khi vừa được làm ra, mới chỉ có thân xác. Phải khi trăng nhập vào dây cung, mới có hồn đàn. Từ cái khoảnh khắc mầu nhiệm ấy, đàn mới bắt đầu sống cái thân phận NGUYỆT CẦM. Tự bấy giờ, mỗi nốt Nguyệt Cầm tấu lên sẽ là hợp thể của âm thanh và ánh sáng. (Gọi bằng “hợp âm” chẳng qua là cái âm - nhạc – hoá của cái nghĩa “hợp thể” này). Mỗi nốt nhạc sẽ sinh thành từ sự giao duyên kì bí đó của Nguyệt và Cầm.

3.2 Sau chữ “nhập” như thế, Trăng và Đàn đã đồng thể. Nhưng cái điểm giao ứng, giao tình của chúng là đâu? Ở nơi chữ “cung” vậy. Và sự giao thoa ngôn từ cũng chính thức bắt đầu bằng chữ “cung”. Nó vừa thuộc về đàn vừa thuộc về trăng. Ở đây, vị trí của nó là bắc cầu, ngữ nghĩa của nó là giao thoa cộng hưởng. Nếu ngắt theo nhịp 2-2-3, thì đó là “cung nguyệt lạnh” (nghĩa là “cung trăng”), mà ngắt theo nhịp 2-3-2 thì sẽ là “dây cung” (nghĩa là “cung đàn”). Thi vị độc đáo của nó chính là sự giao động bất tuyệt giữa hai bề ngữ nghĩa ấy. Phải chăng cung nguyệt cầm chính là sự cộng hưởng của cả cung trăng lẫn cung đàn? Hai hình ảnh nhập vào một hình thể? Hai bộ phận nhập vào một duyên phận, làm nên một thân phận?

3.3 Hoà điệu với nhịp thơ, còn phải kể đến âm thanh. Câu thơ là một chuỗi âm thanh một ấn tượng rõ rệt. Cả câu chỉ có ba thanh trắc thì cả ba đều là ba thanh nặng: nhập, nguyệt, lạnh. Nhất là hai dấu nặng liền nhau đọng ở cuối câu đã làm lạnh suốt cả chuỗi âm thanh của câu thơ, mở đầu cho cả gam lạnh rồi đây sẽ trùm lên khắp cả Nguyệt Cầm3.

Như vậy, bằng chữ “nhập” và câu thơ nhập để kì lạ, Xuân Diệu đã ngầm lý giải (hay khám phá ra) cái tính linh kì bí của NGUYỆT CẦM, chính thức dẫn dụ người đọc vào cái thế giới huyền diệu của NGUYỆT CẦM.

3.3.1 Một khi đã sống như một sinh mệnh, thì Nguyệt Cầm bắt đầu lên tiếng, bắt đầu “So vần dây Vũ dây Văn”:

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm,

Về nội dung, hai câu thơ này tả không gian trăng - nhạc bằng các cung bậc khác nhau của tình đàn. Nhưng đáng nói hơn là về thi pháp: mỗi câu kia, với từng nhịp ngắt, là một chuỗi âm hình kế tiếp vang lên như cách tấu đàn. Và đó là cái tiếng nói riêng của NGUYỆT CẦM! Ta hãy đi sâu hơn một chút vào cấu trúc của cái gọi là ngôn ngữ riêng ấy của cây nguyệt - cầm – thi – ca này.

Từ câu nhập đề đến câu 2 này, có thể thấy ngay sự ngược chiều của trăng. Câu nhập: hồn trăng từ trời xa sà xuống nhập vào thế giới âm u bí mật của đàn – Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh (1); câu 2 này: trăng lại từ lòng Nguyệt Cầm, từ dây tơ đàn bay lên mở ra không gian trăng bát ngát – Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần (2). Câu 1: Trăng của trời; câu 2: trăng của nhạc. Câu 1: dần tối sầm; câu 2: bừng thoáng sáng. Đó là không gian bên ngoài hay không gian tiếng đàn ? Chúng ta không chia tách được. Ngay từ đầu nó đã hoà lẫn vào nhau, đồng hiện trong nhau.

Phép song song của ngôn từ thơ, phép đối ngẫu của thơ cổ, phép tương giao của thơ Tượng trưng cùng với tính đa nghĩa của ngôn từ thơ qua bàn tay của Xuân Diệu đã thật sự thăng hoa thành thi pháp “hợp âm - cộng hưởng”. Trong cái nhìn truyền thống, câu 2 và câu 3 trên đây chỉ là một cặp đối ngẫu. Nhưng cần thấy các nhịp thơ được ngắt khá đặc biệt. Câu thơ bất ngôn bị cắt rời thành 3 nhịp, mà mỗi nhịp vừa là một tiết của câu lớn, vừa là một câu nhỏ có tính độc lập. Ba chủ từ câu trên đều là “trăng”, và câu dưới đều là “đàn”. Còn vị từ là các động thái của trăng (hay trạng thái của người - chủ thể): Trăng thương – trăng nhớ - hỡi trăng ngần // Đàn buồn – đàn lặng – ôi đàn chậm. Điều này, xét về mặt tuyến tính, nó tạo ra một chuỗi những âm thanh kế tiếp, tựa như một chuỗi âm giai (nốt đàn) nối lên nhau tấu lên từ nguyệt cầm, cứ nốt sau lại cao hơn thiết tha hơn nốt trước. Bởi vậy, hai dòng thơ liên tục như hai nét nhạc đuổi nhau, hô ứng với nhau lan toả vào không gian. Còn xét về mặt tổ chức văn bản, ở khía cạnh thị giác, hai câu được sắp xếp song song đối ứng nhau thành cặp trên dưới. Nó gợi ra từng cặp hợp âm theo từng cặp tiết đoạn của đôi câu thơ: trăng thương – đàn buồn // trăng nhớ - đàn lặng // hỡi trăng ngần – ôi đàn chậm. Tựa như một âm cao chồng lên một âm trầm tạo thành một nốt đàn chơi theo lối hợp âm trong âm nhạc vậy. Đó là hợp thể hợp âm của ánh sáng (trăng) và âm thanh (đàn) với các cung bậc, sắc thái khác nhau. Câu trên và câu dưới song song đối ứng như thế, khác nào sự song tấu giữa dây Vũ và dây Văn trên cây Nguyệt Cầm của thơ ca. Ta thấy rất rõ ở đây thi sĩ đã dùng cả ngôn ngữ của âm nhạc để làm giàu thêm cái âm nhạc của ngôn ngữ. Đồng thời cũng thấy một sự giao duyên tuyệt đẹp giữa phương Đông và phương Tây, giữa thơ Đường và thơ Tượng trưng trong tài thơ thơ Xuân Diệu.

3.3.2. Hình thức ngắt nhịp này sẽ còn được lặp lại ở khổ hai, nhưng hiệu quả có khác hơn:

Mây trắng, trời trong, đêm thuỷ tinh.

Cũng là một chuỗi âm giai kế tiếp. Nhưng ba chủ thể ở đây không phải là một như cặp câu vừa rồi, mà là ba: Mây, trời, đêm. Vì thế, nó tạo nên cảm giác sóng âm lan toả thành từng vòng rộng dần, rộng mãi, từ không gian loang sang cả thời gian. Thành một chuỗi như phản ứng dây chuyền, liên hoàn theo quan hệ nhân quả. Ta thấy âm nhạc dường như thanh lọc cả không gian lẫn thời gian.Tất cả dường như đang biến dần thành một chất nhạc trong vắt như thủy tinh.

3.3.3. Song, hình thức đối ứng giao thoa được lặp lại với những biến thức, biến tấu thần diệu của nó là ở khổ ba:

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời;
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.

Tôi muốn nói đến câu 3 và câu 4 của khổ này. Cả hai đều có thể ngắt nhịp 4/3. Hai câu là một cặp đối, và mỗi câu cũng ngắt thành hai vế đối. Hình thức đối ngẫu thường tạo ra hai vế biệt lập theo quan hệ tương ứng, tương phản. Ở câu 3 này, đối ngẫu chỉ còn tương đối, sự giao thoa về nghĩa đã làm cho hai vế đối ngẫu tràn sang nhau. Hãy bắt đầu bằng hai vế lớn: long lanh tiếng sỏi/vang vang hận. Ta thấy rõ tính hợp âm: vế trước là hình ảnh ánh sáng (thị giác), vế sau là âm thanh (thính giác). Sự tương xứng rõ nhất là ở hai từ láy Long lanh (ánh sáng)/ vang vang (âm thnah). Tuy nhiên, “tiếng sỏi” không muốn đứng yên ở vế bên này, không chịu yên lòng với một nghĩa tách biệt là tiếng sỏi long lanh và mối hận vang vang. Nó đã ngầm giao kết với vế bên kia để phát sinh một nghĩa tương giao khác: “tiếng sỏi vang vang hận”. Tức là cả hai làn nghĩa đã sóng sánh giao thoa với nhau. Ta cảm nghe tiếng sỏi va xiết đang long lanh sáng và đang vang lên một mối hận nào đó giữa canh khuya. Nhìn sâu vào ngay trong một vế cũng thấy lạ lùng: tiếng sỏi vốn trầm đục, đâu có trong trẻo mà có thể có một cảm giác tương ứng của thị giác là “long lanh”. Phải chăng đó là những viên sỏi đọng trăng trên lối khuya? Những viên sỏi long lanh nơi lòng bến Tầm Dương? Hay là nốt đàn cứ từng giọt rơi long lanh tròn vo như dáng sỏi ? Ta không thể nói quyết được nó nghiêng về nghĩa nào. Trong âm nhạc của Nguyệt Cầm, nó cứ long lanh một chất thơ như thế, khước từ mọi sự lí giải của người đọc thơ. Bằng cách ấy, nó đã tạo ra cái lung linh kì ảo của ngôn từ. Đến câu thứ tư, tính đối ngẫu rõ hơn nhiều. Hai vế đúng là sự song tấu Văn – Vũ, sự cộng hưởng trăng nhớ (ánh sáng) và nhạc nhớ (âm thanh) ấy là hai phía của mỗi một âm giai, mỗi một nét nhạc Nguyệt Cầm. Tất cả cứ làm cho không gian nhạc tràn ngập lung linh.
Ta vừa lần theo dọc bài thơ để thấy sự hiện diện của thi pháp "cộng hưởng - hợp âm” với biến thức của nó ở cấp độ câu và vế câu. Mà những tín hiệu đần tiên đã nhấp nháy ngay từ khổ thứ nhất.

4.1. Giờ ta lại về khổ thứ nhất để tìm kiếm điểm xuất phát của một nét khác cũng thuộc thi pháp này: hợp âm ngay trong một thi ảnh, giao thoa ngay trong một từ.

Để ngưng kết lại khổ đầu tiên, ở câu thứ tư, Xuân Diệu đã tái tạo hình ảnh mỗi một âm giai Nguyệt Cầm thực sự là giọt đàn:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm,
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Khi dây Văn dây Vũ hoà với nhau, khi Đàn và Trăng hoà tấu trong cùng một tiếng nói của Nguyệt Cầm, thì mỗi âm giai hiện hình thành một giọt. Âm thanh vô thể, ánh trăng là ảo thể. Khi chúng hoà vào nhau lại sinh ra hình thể giọt. Ở đây, Giọt là sự kết tinh, sự tượng hình của âm thanh và ánh sáng. Để có hình thể giọt, Xuân Diệu đã tái tạo, đã làm hữu hình cái vốn vô hình. Điều này chưa lạ. Bởi chỉ đơn giản là chuyển thính giác qua thị giác. Giọt vốn là hình thể lỏng, nhưng khi có thể “rơi tàn”, thì nó đã hoá thành giọt ánh sáng. Người ta có thể thấy giọt âm thanh cất mình khỏi với dây đàn bay liệng trong khoảng không, long lanh sáng, rồi rơi dần, tàn dần trong không gian nhạc. Vậy giọt đàn cũng là giọt trăng. Nhưng về sau của câu thơ mới làm cho thi ảnh thật sự thăng hoa bằng so sánh: như lệ ngân! thì ra hình ảnh giọt là sự đồng hiện của giọt đàn - giọt trăng - giọt lệ. Sao lại giọt lệ? Mỗi thanh âm ứa ra là giọt lệ đàn ư? Không phải. Trong mối liên hệ thầm kín của thi tứ, giọt lệ này đã ứa ra từ mối hận muôn đời của những kiếp cầm ca tài hoa bạc mệnh, của những nàng nương tử đã chết đêm rằm theo nước xanh, của mối hận sầu từ những kiếp Tỳ Bà một thuở Tầm Dương. Lời đàn còn là sự lên tiếng của những mối hận ấy, mối hận truyền đời. Mặt khác, mối hận cũng đã ký thác vào hồn đàn, vào dây cung nguyệt lạnh làm nên cái sinh mệnh, cái tính linh bí ẩn của Nguyệt Cầm. Vậy là Nguyệt Cầm được hợp thành bởi cả trăng - đàn - mối hận thầm. Trách chi, tất cả cứ linh lung ma quái. Đồng thời, trong bài thơ, ở mỗi khổ ta đều thấy hình ảnh nhạc tuôn trào chan chứa không gian để cuối cùng thành một đại dương âm thanh, thành biển pha lê Bốn bề ánh nhạc biển pha lê - Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề. Thì cái đại dương hiện hình phía cuối bài thơ đã được khởi thuỷ từ những giọt thế này ở đầu nguồn thi phẩm đó thôi.
4.2. Tuy nhiên, tôi muốn nói nhiều đến một khía cạnh khác của thi pháp “hợp âm - cộng hưỏng” ở câu thơ này. Ấy là “hợp âm ở cấp tinh vi nhất - cấp vi mô của kiến trúc thi ca: hai kênh cảm giác của thi sĩ đã giao thoa ngay trong một từ lệ ngân. Tính đa nghĩa của ngôn từ thơ được dịp thăng hoa. Chữ “ngân” là sự giao ứng giữa hai làn ngữ nghĩa. Vừa là danh từ với nghĩa là bạc - mỗi giọt đàn như một giọt bạc. Vừa là động từ với nghĩa là ngân nga - mỗi giọt đàn là tiếng ngân của giọt lệ. vậy, chữ “ngân” là hợp thể hợp âm của cả hai: ánh sáng và âm thanh. Có thể coi đó là sự giao động ngữ nghĩa trong ngôn từ. Ta sẽ còn thấy lại nét thi pháp này ở những đoạn dưới, chẳng hạn chữ “linh lung”, chữ “ánh nhạc”, chữ “rợn”… - chúng đều là hợp thể hợp âm của thị giác, thính giác hoặc xúc giác.

Sự giao động về ngữ nghĩa này được Xuân Diệu sử dụng như một nét chủ công của thi pháp hợp âm. Trong toàn thể Nguyệt Cầm ta còn gặp nhiều biến thức của nó. Ấy là sự giao động của chủ thể và đối tượng, giữa chủ từ và trạng từ:

- Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
- Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người
- Sương bạc làm thinh, khuya nín thở

Trước những trạng thái rung mình, nhớ, làm thinh, nín thở có thể hiểu chủ đề là bóng sáng, là trăng, là nhạc, là sương bạc, là khuya. Nhưng cũng có thể hiểu tất cả đều là các trạng thái của cùng một chủ thể thi nhân. Hay chính cái tôi của thi nhân đã tan mình trong nhạc, đã thành cái siêu tôi đồng nhất, đồng thể với những tạo vật hư hư thực thực đó? Làm sao mà biết được! Chỉ biết rằng, cứ thế, hình bóng cái tôi ấy trở nên hư ảo, dường có lại dường không!

Rồi những: đêm thủy tinh, biển pha lê, sầu âm nhạc … cũng đều là sự lung linh của ngữ nghĩa. Nói riêng ba chữ sầu âm nhạc. Là sầu từ âm nhạc, hay sầu trong âm nhạc, sầu của âm nhạc hay sầu bằng âm nhạc …? Mỗi chữ vừa là sự hội ngộ, chất chồng của các nét nghĩa vừa là sự giao thoa bất tuyệt của các làn nghĩa ấy. Chính chúng cũng đã góp mình tạo nên cái linh lung đặc biệt của thế giới Nguyệt Cầm.

Vậy là cái thế giới ánh nhạc kia vẫn không ngừng lan toả, không ngừng giao ứng. Từng giọt đàn - từng giọt trăng - từng giọt lệ - từng gợn sóng âm - từng làn sóng thuỷ tinh tê lạnh cứ từ Nguyệt Cầm lan xa mãi, xa mãi. Và cuối cùng đã biến cả vũ trụ này thành biển pha lê không bờ không bến. Mỗi giọt đàn để lại một thoáng rợn mình, một chút giá băng trên toàn thân ta, thấu vào tận hồn ta. Những cảm nhận hoàn toàn tinh thần của thị giác và thính giác đã trộn vào nhau thật ma quái để gây thành một tác động xúc giác. Những mong manh mơ hồ của cõi tinh thần đã hiện hình thành cảm giác tê ngời, buốt lạnh khắp toàn thân, toàn trí, toàn hồn. Mỗi câu chữ vào đây đều theo lối thăng hoa, mỗi chữ, mỗi lời cất lên từ tơ lòng thi sĩ đều tựa như mỗi âm giai cất mình khỏi dây tơ đàn lung linh bay vào thế giới huyền diệu vô biên, vô lượng. Âm giai nào cũng là những ánh nhạc rợn sáng, rợn mình. Hồn ta tự bao giờ cũng đã hoá thành một hòn cô đảo run rẩy, trôi dạt trong âm nhạc vô biên, tựa như mảnh hồn bé bỏng tan trôi của thi sĩ: chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề - sương bạc làm thinh khuya nín thở - nghe sầu âm nhạc tới sao Khuê. Chia tay với Nguyệt Cầm dường như các tế bào khắp thân mình ta vẫn chưa thôi ớn lạnh, chưa hết rên thầm…

---------
Chú thích
1 Xem nhiều tác giả, Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, NXB Giáo dục, 1993

2 Có thể nói, xét về một mặt nào đó, Nhị Hồ là một tiền đề, thậm chí một tiền thân của Nguyệt Cầm. Một chút so sánh sẽ giúp ta khu biệt rõ hơn những nét riêng của Nguyệt Cầm. Là những bài thơ hay nhất về Nhạc của Xuân Diệu nhưng hai thi phẩm này được viết khá xa nhau: NHỊ HỒ thuộc phần đầu tập Thơ thơ (1938) còn NGUYỆT CẦM lại mở đầu tập Gửi hương cho gió (1945). Mỗi bài thơ là một trình độ chiếm lĩnh khác hẳn của tư duy thơ đối với cái cõi vô hình, huyền hồ, hư thoảng của nhạc. Về độ dài, Nhị Hồ dàn ra tới 7 khổ thơ, Nguyệt Cầm đúc vào 4 khổ. Về cơ cấu không gian, ở Nhị Hồ 3 khổ đầu dựng lên không gian ngoài tiếng đàn (khung cảnh đêm nghe đàn), rồi mới dựng lên không gian trong tiếng đàn ở 4 khổ sau – hai không gian hoàn toàn tách rời, trong khi ở Nguyệt Cầm không gian trong và ngoài tiếng đàn ngay từ đầu đã hoàn toàn xâm nhập lẫn nhau, giao ứng với nhau, thực tại đi về cùng huyền diệu. Về sắc điệu, lối trữ tình của Nhị Hồ còn dựa rất nhiều vào tự sự, kể lể, ở Nguyệt Cầm chất trữ tình ấy thăng hoa từ đầu đến cuối. Về kỹ thuật của vật liệu ngôn từ, ngay ở những câu được xem là hay của Nhị Hồ, vẫn thấy nhạc tính của ngôn từ được huy động lộ liễu (Sương nương theo trăng ngừng lưng trời – Tương tư nâng lòng lên chơi vơi), nhạc tính của Nguyệt Cầm không bị lộ cơ theo lối ấy, trái lại nó đã được chưng cất trong trực giác và xúc cảm để đạt đến độ tự nhiên siêu việt.

3 Phan Huy Dũng đã có một cảm nhận khá thú vị về khía cạnh vật liệu lạnh và lối diễn tả lạnh của thi phẩm này. Xem tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 2, 1997./.

LeMinh
25-07-2005, 11:55 PM
Thụy Khuê
Cấu Trúc Thơ

Phân tích bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu


Nguyệt Cầm

A

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
B
Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Ðã chết đêm rằm theo nước xanh.

C
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Ðàn ghê như nước, lạnh, trời ơi ...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người ...

D
Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê,
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.
Xuân Diệu

Bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu, ảnh hưởng Tỳ Bà Hành, hòa hợp với thuyết giao ứng (correspondance) của Baudelaire, là một bài thơ mới, âm hưởng cổ điển và lãng mạn.
Xuân Diệu nghe đàn trên sông Hương, trạnh nhớ hận tình Trương Chi - Mỵ Nương mà làm nên Nguyệt Cầm. Cảm xúc lời thơ, Cung Tiến sáng tác Nguyệt Cầm, tình khúc lãng mạn giá trị, mang những cung bậc Tây phương.

Bài thơ Nguyệt Cầm thể hiện sự giao cảm giữa hương sắc và thanh âm, giữa đất trời và cỏ cây, giữa vũ trụ và con người, giữa trần gian và âm cảnh. Nói như Baudelaire: Bởi thơ và qua thơ, bởi nhạc và qua nhạc mà tâm hồn thoảng thấy những ánh hào quang ẩn sau cõi chết. Người thi sĩ bằng trực giác mẫn cảm nắm bắt giây phút hội ngộ thiêng liêng giữa thực tại và siêu hình, giữa nội tâm và ngoại giới để đạt tới thăng hoa trong tác phẩm nghệ thuật.
Chúng ta tìm thấy cấu trúc nội dung trên đây qua sự phân tích cấu trúc hình thức.

Bài Nguyệt Cầm mang những tính chất cơ bản của thi ca. Nguyên lý song song xuất hiện liên tục dưới nhiều dạng:

- Về mặt hình thức, thơ 7 chữ, 4 câu, 4 khổ. Trong 112 chữ, có 5 trăng, 2 nguyệt, 4 đàn, 3 lạnh, 3 nhạc, 2 nước v. v.... Ðặc biệt, khổ một (A) có tới 4 trăng, 1 nguyệt, 3 đàn, và trăng là nguyệt, nguyệt là đàn: cả ba đều có thể chung một nghĩa. Toàn bài gồm ít nhất 9 nhóm từ song song tương đồng ngữ nghĩa:



thủy tinh - pha lê - trong
lặng - vắng -
buồn - hận - sầu
ghê - rợn
hỡi - ôi - trời ơi
tàn - chết - nhập - hồn
thương - nhớ
lung linh - long lanh
lệ - giọt - sương

- Về mặt nội dung, khổ một (A) song song với khổ ba (C): bầy ra sự đối diện (hay nội cảnh) giữa trăng và đàn. Khổ hai (B) song song với khổ bốn (D): dàn phần ngoại cảnh (thiên nhiên, trời đất), và tâm cảnh người nghe hoặc người ngắm nguyệt cầm.

Trước hết, nguyệt cầm là gì? Ngay tựa đề đã vô cùng hàm súc. Nguyệt Cầm. Nguyệt và cầm: hai yếu tố tương đồng ngữ nghĩa, trùng phùng hình ảnh. Từ vừa đơn, vừa ghép, tuy hai mà có thể trở thành một, hoặc biến hoá đến vô cùng: Trăng là nguyệt, là đàn (đàn hình tròn như trăng), mà còn có thể là người kỹ nữ, là thi sĩ, là anh, là em, là tôi, là ta, ....

Trên bình diện phân tích hình vị thì như thế. Nhưng nếu xét nguyệt cầm trên bình diện cấu trúc thi ca, sự đối xứng và tương đồng ngữ nghĩa giữa nguyệt và cầm có thể mở ra những giải thích sau đây:

1. Nếu nhìn nguyệt cầm như một cấu trúc tỉnh lược chủ từ và hư từ, thì Nguyệt cầm là đàn trăng: đàn trăng mở ra ít nhất ba bối cảnh:
- (đánh) đàn (dưới) trăng
- (nghe) đàn (dưới) trăng
- đàn (ngắm) trăng
Nguyệt cầm còn là trăng đàn: trăng đàn mở ra ba cảnh khác:
- trăng (đánh) đàn
- trăng (nghe) đàn
- trăng ( ngắm) đàn
2. Nếu nhìn nguyệt cầm dưới dạng cấu trúc ẩn dụ, thì Nguyệt có thể là em: Nguyệt cầm = em đàn. Nguyệt cũng có thể là anh, và đàn là em:
- Anh (nghe) đàn
- Anh (nghe) em (đàn)
- Anh (ngắm) đàn
- Anh (ngắm) em (đàn)
Tóm lại mười một bối cảnh trên đây có thể hàm ngụ trong hai chữ nguyệt cầm.
Bước vào bài thơ, câu đầu:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Hai chữ dây cung mập mờ ý nghĩa, làm môi giới cho tình và ý. Dây vừa là dây đàn mà cũng là dây tơ. Cung vừa là cung Hằng, vừa là cung tơ. Câu thơ đưa ra nhiều hình ảnh chập trùng: Trăng nhập vào trăng? Trăng nhập vào dây đàn? Trăng nhập vào cung tơ? Mà trăng là ai? Nếu trăng là anh: Anh nhập vào cung trăng? Anh nhập vào cung đàn? Hay anh nhập vào em? Nguyệt còn đồng âm với huyệt. "Trăng - nguyệt" -ẩn dụ cổ điển- nhờ sự táo bạo và mãnh lực của chữ nhập, vướng mắc vào dây, vương tơ (ngầm). Trăng đắm trong ẩm ướt của vùng nguyệt lạnh, gợi lên hình ảnh nồng nàn đầy nhục cảm mà cũng vô cùng dịu dàng, tế nhị, thanh khiết, mà cũng có thể là cõi chết, nơi hội ngộ của những âm hồn.
Chuyển sang câu hai:

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
tính cách đối xứng giữa trăng thương và thương trăng, trăng nhớ và nhớ trăng, tạo nên sức tương ái nhớ thương - thương nhớ giữa đôi bên. Sự kết hợp với chữ hỡi - là tiếng gọi xa, gọi mà không chắc người nghe có nghe tiếng mình không (Trời hỡi! làm sao cho khỏi đói. -Hàn Mạc Tử) - tạo nên khoảng cách muôn trùng giữa hai đối tượng: trăng và đàn.
Nếu "Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh" mở ra bối cảnh gần gụi da diết "Trăng nhập đàn" thì "Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần" dẫn đến niềm nhớ thương đòi đoạn, và sự phân chia nghìn trùng xa cách giữa đôi bên. Vì thế hai câu thơ trên trở thành cặp phạm trù song song đối đẳng. Tiếp đến: "Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm" và "Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân" có sự chuyển đề: đàn đang từ vị trí khách thể ở hai câu thơ đầu:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
bỗng chuyển sang vị trí chủ thể ở câu 3, câu 4:
Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân (1)
Nhận xét thứ nhì: Tuy "Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm" vẫn giữ nguyên cấu trúc hình thức như "Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần", nhưng ở đây tĩnh từ buồn và lặng đã thay thế động từ, biến trạng thái tĩnh thành động, khiến cho mệnh đề đàn buồn trở nên đa nghĩa: tiếng đàn buồn? người đánh đàn buồn? hay đàn đang gẩy khúc nhạc buồn?... và đàn lặng cũng mang những ngụ ý: tiếng đàn lặng đi? người kỹ nữ ngưng đàn? hay khúc nhạc bỗng dưng im bặt? ... cho thấy cách tạo hình ở "Ðàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm" khácvới cách tạo hình của "Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần". Câu thơ kế tiếp "Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân" tiếp tục mô tả tiếng đàn và tâm cảm người gẩy đàn. Chữ tàn gieo vào giữa câu thơ như nỗi trớ trêu của định mệnh. Tàn: Tàn cung? Tàn canh? Tàn phai? mà cũng có thể là tàn nhẫn, rơi vào chính giữa câu thơ, chia loan, rẽ thúy, tạo nên những tác dụng:
- Phân chia câu thơ làm hai vế so sánh: Mỗi giọt rơi = như lệ ngân.
- Chia rẽ chủ ngữ "giọt lệ" ra làm hai nhân cách khác, hai hình ảnh khác: giọt rơi, lệ ngân.
- Hai hình ảnh này và dư âm này tác động một lần nữa xuống nỗi đau thương ly cách giữa trăng và đàn.
- Tàn còn có nghĩa tàn cung là bặt tiếng đàn, là tàn tạ như tiếng đàn rơi xuống, tan đi, vỡ ra ... như khối hận tình mang xuống tuyền đài chưa tan...
- Và tàn còn có thể là tàn phai, như nhan sắc người kỹ nữ trong khoảnh khắc tàn canh, rỏ mỗi tiếng đàn như ngân một giọt lệ.
Toàn bộ bốn câu thơ có cấu trúc song song, đối đẳng, nhà thơ tận dụng sự đối xứng giữa những cặp phạm trù (trăng - đèn), (gần - xa), (ngoại cảnh - tâm cảnh), dùng những ngụ ý, hàm ngôn tạo mối tương quan giữa những điều nói và những điều không nói, giữa thực và hư, giữa tĩnh và động, để mở ra đến vô cùng, sự gần gụi và xa cách giữa trăng và đàn.

Sang tiết đoạn B, tác giả đổi thay phong cách:


B

Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Ðã chết đêm rằm theo nước xanh.

B mang cấu trúc văn xuôi, với những mệnh đề tiếp cận có tính cách giải thích, bổ nghĩa cho nhau (vì... đã...). Sự bắc cầu trực tiếp bằng một mệnh đề xé hai (enjambement avec rejet mà Xuân Diệu (2) mượn trong thơ Pháp) liên kết chặt chẽ câu thơ trên với câu thơ dưới, kết hợp bốn câu thành một phát ngôn có trình tự nhất định:
"Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh lung linh bóng sáng bỗng rung mình vì nghe nương tử trong câu hát đã chết đêm rằm theo nước xanh"
Tuy nhiên, câu trên vẫn là thơ vì những mệnh đề tuy liên tục và có trình tự trong ý, nhưng thiếu chủ ngữ và vị ngữ nên không "thành văn": Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh là ba hình ảnh độc lập, dị biệt nhưng song song về nghĩa: Mây vắng = trời trong = đêm thủy tinh.
Nhịp cầu thứ nhất liên kết đêm thủy tinh với lung linh bóng sáng, bật ra hai khả năng diễn nghĩa:
- hoặc là có hai cảnh tượng song song: Ðêm thủy tinh lung linh và bóng sáng bỗng rung mình.
- hoặc là cả cái "đêm thủy tinh lung linh bóng sáng" đó bỗng rung mình.
Giải thích thứ hai này ngụ ngầm ý nghĩa: Mây vắng và trời trong cũng rung mình như đêm thủy tinh vì ba yếu tố trên cùng một chức năng ngữ nghĩa và cấu trúc trong câu.
Tại sao rung mình? Vì tất cả đều nghe nương tử trong câu hát. Ðến đây sự bắc cầu trở nên huyền nhiệm: Ðộng từ "đã chết" bơ vơ, buông lỏng, không có chủ ngữ. Ai đã chết? Nương tử đã chết? Câu hát đã chết? hay là tất cả những nhân vật: mây, trời, đêm thủy tinh, bóng sáng kia, vì nghe nương tử hát mà cùng tự tử trong đêm rằm dưới nước xanh, như huyền thoại Lý Bạch ôm trăng nhẩy xuống dòng Dương Tử?
Tiết đoạn B kết hợp hài hòa khái niệm thẩm mỹ giữa Ðông -Tây, trong cấu trúc hình thức và nội dung thi ca.


Tiết đoạn C trở lại cuộc tương kiến giữa Ðàn và Trăng:


C

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Ðàn ghê như nước, lạnh, trời ơi ...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người ...

Âm hưởng và giai điệu trong tiết đoạn này ngẫu hứng từ tiếng đàn của người kỹ nữ trong Tỳ Bà Hành, nhất là "Ðàn ghê như nước, lạnh, trời ơi ..." và "Long lanh tiếng sỏi vang vang hận":
Nước tuôn róc rách, chẩy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt
Uyết tuyền lưu thủy hạ thán
Thủy tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt

và chính dư âm tiếng đàn đã làm cho thiên nhiên âm nhạc và con người tương tư nhau: Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người làm cho hiện tại luyến lưu dĩ vãng, làm cho sự cách biệt giữa không gian và thời gian, nghệ thuật và tình người ngắn lại, nhưng cũng lại trải ra biền biệt đến vô cùng, và mở đường cho bốn câu thơ cuối:

D

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê,
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

Tiết đoạn D, song song với tiết đoạn B, trở lại quang cảnh vũ trụ và tâm cảnh người nghe đàn, ngắm trăng: Câu 1 mở ẩn dụ thành ấn tượng so sánh:
Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê,
Thi sĩ giao hòa âm nhạc với ánh trăng thành một biển sáng có âm thanh pha lê.
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.
Lần đầu tiên, nhân xưng tôi xuất hiện trong thơ. Sự hiện diện của thi sĩ, đơn côi tuyệt đỉnh. Ẩn dụ "chiếc đảo hồn tôi" và tâm cảm "rợn bốn bề" phù trợ nỗi hoang lạnh cho hai đoản ngữ "chiếc đảo" và "hồn tôi", kèm thêm bốn hình vị độc lập chiếc - đảo - hồn - rợn đều mang ẩn nghĩa đơn chiếc, hoang vắng, âm hồn, ghê rợn, ... nói lên sự lạc lõng gây gây của thi nhân trong cõi trần âm u hoang lạnh. Niềm tâm sự ấy đắm trong khung cảnh:
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Tình huống "Sương bạc làm thinh, khuya nín thở" trên đây nối tiếp với "Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề", như để giới thiệu thiên nhiên "Sương bạc" với không và thời gian "khuya", những nhân tố mới này cùng "làm thinh" và "nín thở" để:
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.
Thi sĩ đã đem nội tâm của con người hòa cùng âm nhạc, ném vào vũ trụ hành tinh. Còn lại một mình đối diện với cõi chết, âm u, hoang lạnh. Bềnh bồng ngoài thực tại, trong vị trí giao tiếp giữa không gian và vũ trụ. Lưỡng lự, nửa thăng thiên về một hành tinh lý tưởng, nửa hạ huyệt về cõi độc dược, Ác Hoa. Sự đối chất giữa Lý tưởng (Idéal) và Nỗi sầu (Spleen, Ennui) trong Baudelaire, không chỉ truyền sang Xuân Diệu, thấm vào Huy Cận, mà còn thông suốt cả một thế hệ thi nhân, biến thành nỗi sầu nhân thế, tận diệt thế nhân trong cảm giác nghẹt thở, bất lực, hoang mang, muôn đời buồn bã.
Paris 3/1995

Chú thích
(1) Tỳ Bà Hành:
Ngưng tuyệt bất thông thanh tạm yết Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ
Biệt hữu u sầu ám hận sinh Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ
hử thời vô thanh thắng hữu thanh Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay.
(2) Theo lời Xuân Diệu kể trong Confession d'un poète, thì Huy Cận là người đầu tiên sử dụng enjambement avec rejet:
Thức dậy nắng vàng ngang mái nhạt
Buồn gieo theo bóng lá đung đưa
Bên thềm - Ai nấn lòng tôi rộng
Cho trải mênh mông buồn xế trưa.
Thực ra, trong Kinh Thi, người xưa "tình cờ" cũng đã "bắc cầu":
Khiêu hề thoát hề
Tại thành khuyết hề.
dịch:
Em nhẹ nhàng nhẩy lên
Lầu trên thành.
và Thế Lữ là người đầu tiên sử dụng bắc cầu như một kỹ thuật du nhập từ phương Tây, trong thơ mới:
Trời cao xanh ngắt - ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về bồng lai
Như khua động nỗi nhớ nhung thương tiếc
Trong lòng người đứng bên hồ.
© 1991-1995 Thụy Khuê

Yên Ba
26-07-2005, 01:25 AM
Hì... YB thích nhất 2 bài này của XD (trong sách giáo khoa cấp 3). Góp vui với bác LeMinh.

Thơ duyên

Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến, nơi nơi động tiếng huyền

Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang, nắng trở chiều
Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn
Lần đầu rung động nỗi thương yêu

Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững đững chẳng theo gần
Vô tâm, nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần

Mây biếc về đâu bay gấp gấp
Con cò trên ruộng cánh phân vân
Chim nghe trời rộng giang thêm cánh
Hoa lạnh, chiều thưa, sương xuống dần...

Ai hay tuy lặng bước thu êm
Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm
Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy
Lòng anh thôi đã cưới lòng em.


Đây mùa thu tới

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống, lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới, mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Ngoài vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Thi thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ...
Non cao khởi sự nhạt sương mờ...
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò

Mây vẩn từng không, chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì...

LeMinh
26-07-2005, 02:56 PM
Cám ơn Yên Ba đã gửi bài!
---------
BÌNH THƠ XUÂN DIỆU

Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu dường như đã tự chọn cho mình một tôn chỉ: sống để yêu và phụng sự cho Tình yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và bằng việc hăm hở làm thơ tình! Xuân Diệu ví mình như một con chim bay hay hát.

Tôi réo rắt, chẳng qua Trời bắt vậy.
Trước kia Nguyễn Công Trứ nói:
Trời ban ta, đất trở ta
Trời đất sinh ta, nguyên có ý.

Thì quả vậy. Trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu tình này để ca hát về tình yêu - cái đề tài mà từ ngàn xưa người Việt Nam chúng ta đã say mê, giống như nhà sư nọ mê một cô nàng đội gạo:

Sư về sư ốm tương tư
ốm lăn ốm lóc cho sư chọc đầu

Vì Xuân Diệu sống hết mình cho tình yêu cộng với tài thơ thiên phú, lại gặp buổi "gió Âu mưa Mĩ", những khát vọng yêu đương của trai gái được tháo cũi sổ lồng, cho nên trong thơ tình của Xuân Diệu có tiếng máu dồn mạnh trong huyết quản, có dòng nhựa sống tràn trề mãnh liệt của cả thế hệ đang vươn dậy.

Có những vần thơ được viết ra cách đây hơn nửa thế kỷ mà đến nay vẫn còn khiến chúng ta bàng hoàng vì sự mới mẻ và táo bạo của nó:

Với trăm ma, tôi hẹn những mười nguyền
Những Tây Thi, Lộng Ngọc, những Điêu Thuyền.
...
Hồn đông thế, tôi sợ gì cô độc?
Ma với nhau thì ôm ấp cùng nhau...

Cái "nhân bản yêu đương" trong thơ tình Xuân Diệu thật là nồng cháy và bền bỉ cho đến tận lúc nhà thơ của chúng ta nhắm mắt xuôi tay!
Nửa thể kỉ thơ tình Xuân Diệu là một quá trình khám phá không ngừng vào cái thế giới kì diệu của tình yêu.

Thuở ban đầu thường chỉ là thứ tình yêu thực ít mộng nhiều:

Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ
Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ...

Thế rồi, mộng như sương sớm, tan dần dưới ánh nắng ban ngày, và khoảng giữa trưa thì chỉ còn lại cuộc đời thực! Xuân Diệu, với trái tim yêu như điên dại, tiếp tục khám phá cái thế giới tình yêu "thực" ấy. Té ra chẳng cần phải là thứ tình yêu đầy bão táp, đầy kịch tính hoặc đầy nước mắt, mà thứ tình yêu chồng vợ rất mực "đời thường" nhưng son sắt, đạt tới sự hoà hợp vô cùng du dương. Xuân Diệu chứng minh cho chúng ta thấy rằng đó chính là một thế giới vô cùng đẹp đẽ, vô cùng thánh thiện, vô cùng mê li nếu ta biết nhìn nhận và thưởng thức nó!
Trên thế giới hiếm có một nhà thơ nào mô tả tình cảm vợ chồng, mô tả người vợ yêu của mình một cách tinh tế và sâu sắc như Xuân Diệu. Có thể nói:

Cái tình yêu có thì thơ Xuân Diệu có. Từ khát khao cuồng nhiệt đặc trưng của tình yêu trai gái:

Ôi mắt của người yêu, ôi vực thẳm!
Ôi trời xa: vừng trán của người yêu!
Ta thấy gì đâu sau sắc yêu kiều
Mà ta riệt giữa đôi tay thất vọng

Những ghì xiết say sưa:


Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài
Những cánh tay! hãy quấn riết đôi vai!
Hãy dâng cả tình yêu lên đôi mắt!
Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt.

Những thương yêu trìu mến:

Anh quạt cho đôi tay
Anh hằng ngày yêu mến
Anh quạt đôi lông mày
Sáu năm nay quyến luyến.

Rồi những tôn thờ sùng bái:

Từ lúc yêu em ngay sau buổi gặp đầu tiên
Anh đã tạc hình ảnh của em trên nền thương nhớ
ở đâu có nhớ thương, anh đã đặt tượng em vào đó.
Những lo âu mất mát:

Nếu ngày nào em hết ở cùng anh
Nếu đến khi anh không còn em nữa
Anh biết tạc đâu ra một người như thế?


Và bất chợt, một cơn đau khủng khiếp:

Tại em cố chấp,
Tại anh đã mất
Con đường đi tới trái tim em!
Anh đã giết em rồi, anh vẫn ngày đêm yêu mến
Em đã giết anh rồi, em vứt xác anh đâu?

Phát hiện đắt nhất của xuân Diệu chính là sự khẳng định rằng: cây tình yêu giữa cuộc đời thực, sẽ mãi mãi xanh tươi, còn những thứ "tình" được nặn ra từ lí trí khô cứng hoặc từ mộng mị sẽ tàn lụi, xám xịt!

Và quả là như vậy. Xuân Diệu không còn nữa nhưng cây tình yêu trên mảnh đất này có hư hao đi chút nào màu xanh muôn thuở? Trong khi nhà thơ, ở một cõi khác, có thể đang ôm ấp những hồn ma xinh đẹp nào đó, thì ở trên thế giới này, những chàng trai, những cô gái, những cặp tình nhân, những cặp vợ chồng vẫn đang sống, đang cảm xúc, và hưởng thụ tình yêu sống động và bất tuyệt!


Lời Bình : Kiều Văn

LeMinh
27-07-2005, 10:56 AM
Một chút với thơ tình Xuân Diệu

Thơ Xuân Diệu luôn khao khát được bộc tỏ, được bóc hết từng lớp, từng múi của quả tình yêu. Yêu tràn trề, yêu dồn dập, yêu cuồng nhiệt, Xuân Diệu muốn được sống để ca ngợi mãi thứ tình cảm muôn đời ấy của loài người. Những bài thơ tình của Xuân Diệu luôn trào lên những mến, những yêu, những thèm, những muốn, yêu trong cuộc đời và cả yêu trong mộng tưởng:
Mở miệng vàng ... và hãy nói yêu tôi
Dù chỉ là trong một phút thôi

Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ

Ai có nhớ những thời hương phảng phất

Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng thường là những bài nói chung nồng nàn, bốc lửa. Những bài thơ sau này thường là gắn với đời thường hơn, có nhiều bài là những giây phút nhỏ nhỏ trong cuộc sống gia đình (Em làm bếp, Quạt, Chén nước, Đứng chờ em, Anh đợi em về ăn cơm, Anh thương em khi ngủ) tuy nhiên vẫn có những bài thơ tình thực sự - Biển, Sao mọc, Chớm sang vị hè, Hoa ngọc trâm. Trong những tập thơ sau, gắn mình với hoạt động xã hội, những chuyến đi đây đó khắp miền đất nước đang đánh giặc để lại trong thơ Xuân Diệu nhiều bài thơ thời sự. Có cảm tưởng như đến mỗi nơi, Xuân Diệu cố viết để để lại một dấu ấn gì đấy nơi mình đã đi qua. Theo tên một vài bài thơ, có thể thấy được hành trình ấy: Vườn Thuận vĩ, Trong rừng Quỳnh châu, Ngược sông Đà, Trưa ở xã Thịnh lang, Sa pa, Trên bến phà Thia, Ngọc trai trong vịnh Cô tô (tập thơ Một khối hồng).

Xuân Diệu thường chú ý đến hình thức, nhất là chữ nghĩa trong thơ. Nhà thơ đã tìm và tạo ra những từ kiểu "đêm thuỷ tinh, biếc rờn, đời bánh mật, sương mỏng thắm, lên sao, ...". Chất say của tình Xuân Diệu làm những bài thơ (ở hai tập đầu) của anh bốc lên rừng rực, những bài có giọng điệu êm êm một chút như Chiều, Nhớ mông lung, Khi chiều giăng lưới là rất ít. Đọc thơ Xuân Diệu, người ta có thể dễ dàng nhận ra một đặc điểm: Xuân Diệu không ngại ngùng trong việc sử dụng các từ đặc tả, những hình ảnh gây ấn tượng thật mạnh, những lối nói khác thường, những kết hợp từ đối chọi. Chỉ ví dụ từ một bài Mênh mông:

Ta mang hồn trèo lên những đỉnh cao
Hoa cỏ mạnh xông ...
Đất nồng thơm ...
duyên trẻ mạnh ...
huy hoàng cất bước ...
Hình óng ả ...
nét vặm ...
nghìn thuở mộng hoa hương ...
lòng ta như ngựa trẻ không cương ...
ngất ngây đường diệu viễn ...

và còn rất nhiều những bài, những câu, những từ như thế nữa. Nhưng câu như

Mắt không ướt nhưng bao hàng lệ rỏ
Len tỉ tê thầm trộm chảy qua vào

hay

Nõn nà sương ngọc quanh thềm đậu
Ngực thở trời, mình hút nắng tươi xanh

thì như chỉ Xuân Diệu mới có. Một số bài nhà thơ chỉ nói một hai câu, còn thì như mượn dòng thơ, khổ thơ để phơi được cho hết chữ nghĩa, vận cho hết được cung vần. Trong khi sử dụng chữ tràn lan có lúc Xuân Diệu làm bài thơ thay đổi trạng thái thật đột ngột, hẫng hụt

Ngạt ngào nhào trộn cả không gian
Mà bỗng trên trời mây nhẹ lan
Ngây ngất hôm nay một ánh mờ
Ô hay bàng bạc thực cùng mơ

Có một kẻ luôn khát đời, khát tình, muốn uống tràn cả chất ngọt và vị đắng của tình yêu - đó là Xuân Diệu.

1991