PDA

View Full Version : Vu Lan Bao Hiếu


Tịnh Ngọc
15-07-2005, 02:18 AM
Phật Nói Kinh Vu Lan Bồn


Một thuở nọ Thế Tôn an trụ

Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung

Mục Liên mới đặng lục thông

Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân.

Công dưỡng dục thâm ân dốc trả

Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền

Làm con hiếu hạnh vi tiên

Bèn dùng huệ nhãn, dưới trên kiếm tìm.

Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỉ

Không uống ăn tiều tụy hình hài

Mục Liên thấy vậy bi ai

Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm.

Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu

Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu

Thấy cơm mẹ rất lo âu

Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.

Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt

Sợ chúng ma cướp giựt của bà

Cơm đưa chưa đến miệng đà

Hóa thành lửa đỏ, nuốt mà được đâu.

Thấy như vậy âu sầu thê thảm

Mục Kiền Liên bi thảm xót thương

Mau mau về chốn giảng đường

Bạch cùng Sư Phụ tìm phương giải nàn.

Phật mới bảo rõ ràng căn cội

Rằng mẹ ông gốc tội kết sâu

Dầu ông thần lực nhiệm mầu

Một mình không thể khấn cầu được đâu.

Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn

Tiếng vang đồn thấu đến Cửu Thiên

Cùng là các bực Thần kỳ

Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên Vương

Cộng ba còi sáu phương tụ tập

Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi

Muốn cho cứu được mạng người

Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng.

Pháp cứu thế ta toan giảng nói

Cho mọi người thoát khỏi ách nàn

Bèn kêu Mục thị đến gần

Truyền cho diệu pháp ân cần thiết thi:

Rằm tháng Bảy là ngày Tự Tứ

Mười phương Tăng đều dự lễ này

Phải toan sắm sửa chớ chầy

Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.

Lại phải sắm giường nằm nệm lót

Cùng thau, bồn, đèn đuốc nhang, dầu

Món ăn tinh sạch báu mầu

Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng.

Chư Ðại đức mười phương thọ thực

Trong bảy đời sẽ được siêu thăng

Lại thêm cha mẹ hiện tiền

Ðặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn.

Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ

Dầu ở đâu cũng tụ hội về

Như người thiền định sơn khê

Tránh điều phiền não chăm về thiền na

Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả

Công tu hành nguyện thỏa vô sanh

Hoặc người thọ hạ kinh hành

Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng

Hoặc người được lục thông tấn phát

Và những hàng Duyên Giác, Thinh Văn

Hoặc chư Bồ Tát mười phương

Hiệu hình làm sãi ở gần chúng sanh

Ðều trì giới rất thanh, rất tịnh

Ðạo đức dày chánh định chơn tâm

Tất cả các bực Thánh, Phàm

Ðồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa

Người nào có sắm ra vật thực

Ðể cúng dường Tự Tứ Tăng thời

Hiện tiền phụ mẫu của người

Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn.

Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi

Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên.

Như còn cha mẹ hiện tiền

Nhờ đó cũng được bá niên thọ trường.

Như cha mẹ bảy đời quá vãng

Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung

Người thời tuấn tú hình dung

Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân.

Phật dạy bảo mười phương Tăng chúng

Phải tuân theo thể thức sau này:

Trước khi thọ thực đàn chay

Phải cầu chú nguyện cho người tín gia

Cầu thất thế mẹ cha thí chủ

Ðịnh tâm thần quán đủ đừng quên

Cho xong định ý hành thiền

Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dưng

Khi thọ dụng, nên an vật thực

Trước Phật đài hoặc tự tháp trung

Chư Tăng chú nguyện viên dung

Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa

Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt

Mục Liên cùng Bồ Tát chư Tăng

Ðồng nhau tỏ dạ vui mừng

Mục Liên cũng hết khóc thương buồn rầu

Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy

Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan.

Mục Liên bạch với Phật rằng:

Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn

Lại cũng nhờ oai thần Tam Bảo

Nếu không thời nạn khổ khó ra

Như sau đệ tử xuất gia

Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh

Ðộ cha mẹ còn đương tại thế

Hoặc bảy đời có thể được không?

Phật rằng: Lời hỏi rất thông

Ta vừa muốn nói, con liền hỏi theo.

Thiện nam tử, Tỳ kheo nam nữ

Cùng Quốc Vương, Thái Tử, Ðại Thần

Tam Công, Tể Tướng, Bá Quan

Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần

Như chí muốn đền ơn cha mẹ

Hiện tại cùng thất thế tình thâm

Ðến rằm tháng Bảy mỗi năm

Sau khi kiết hạ, chư Tăng tựu về

Chính ngày ấy Phật Ðà hoan hỷ

Phải sắm sanh bá vị cơm canh

Ðựng trong bình bát tinh anh

Chờ giờ Tự tứ, chúng Tăng cúng dường

Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ

Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi

Cùng cầu thất thế đồng thời

Lìa nơi ngạ quỉ, sanh về nhơn, thiên

Ðặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp

Lại xa lìa nạn khổ cực thân

Môn sanh Phật tử ân cần

Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên

Thường cầu nguyện thung huyên an hảo

Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh

Ngày rằm tháng Bảy mỗi năm

Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền.

Lễ cứu tế chí thành sắp đặt

Ngõ cúng dường chư Phật chư Tăng

Ấy là báo đáp thù ân

Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu.

Ðệ tử Phật lo âu gìn giữ

Mới phải là Thích tử Thiền môn.

Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn

Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan

Mục Liên với bốn ban Phật tử

Nguyện một lòng tín sự phụng hành.

Trước là trả nghĩa sanh thành

Sau là cứu với chúng sanh muôn loài


Nam Mô Ðại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát(3 lần)


Phật nói Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu


Một thuở nọ, Thế Tôn an trụ

Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung

Chư Tăng câu hội rất đông

Tính ra đến số hai muôn tám ngàn

Lại cũng có các hàng Bồ Tát

Hội tại đây đủ mặt thường thường.

Bây giờ, Phật lại lên đường

Cùng hàng đại chúng Nam Phương tiến hành

Ðến giữa đường, rành rành mắt thấy

Núi xương khô bỏ đấy lâu đời

Thế Tôn bèn vội đến nơi

Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng.

Ðức A Nan tủi lòng ái ngại

Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương?

Vội vàng xin Phật dạy tường

Thầy là Từ Phụ ba phương, bốn loài

Ai ai cũng kính Thầy dường ấy

Cớ sao Thầy lại lạy xương khô?

Phật rằng: trong các môn đồ

Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công

Bởi chưa biết đục trong cho rõ

Nên vì ngươi ta tỏ đuôi đầu:

Ðống xương dồn dập bấy lâu

Cho nên trong đó biết bao cốt hài

Chắc cũng có ông bà cha mẹ

Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sinh

Luân hồi sanh tử, tử sinh

Lục thân đời trước thi hài còn đây

Ta lễ bái kính người tiền bối

Và ngậm ngùi nhớ tới kiếp xưa

Ðống xương hỗn tạp chẳng vừa

Không phân trai gái bỏ bừa khó coi

Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ

Phân làm hai, bên nữ bên nam

Ðể cho phân biệt cốt phàm

Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng.

Ðức A Nan trong lòng tha thiết

Biết làm sao phân biệt khỏi sai

Ngài bèn xin Phật chỉ bày

Khó lòng chọn lựa gái trai lúc này

Còn sinh tiền dễ bề sắp đặt

Cách đứng đi ăn mặc phân minh

Ðến khi rã xác tiêu hình

Xương ai như nấy khó nhìn khó phân

Phật mới bảo A Nan nên biết:

Xương nữ nam phân biệt rõ ràng

Ðàn ông xương trắng nặng hoằng

Ðàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn.

Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ?

Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra

Sanh con ba đấu huyết ra

Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con

Vì cớ ấy hao mòn thân thể

Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai.

A Nan nghe vậy bi ai

Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh

Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo

Phương pháp nào báo hiếu song thân?

Thế Tôn mới giảng ân cần:

Vì ngươi ta sẽ phân trần, lóng nghe

Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc

Sanh đặng con mười tháng cưu mang

Tháng đầu thai đậu tợ sương

Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường

Tháng thứ nhì dường như sữa đặc

Tháng thứ ba như cục huyết ngưng

Bốn tháng đã tượng ra hình

Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng

Tháng thứ sáu lục căn đều đủ

Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương

Lại thêm đủ lỗ chơn lông

Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn

Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ

Chín tháng thì đầu đủ vóc hình

Mười tháng thì đến kỳ sinh

Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn.

Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu

Nó vẫy vùng, đạp quấu lung tung

Làm cho cha mẹ hãi hùng

Sự đau, sự khổ không cùng tỏ phân

Khi sinh sản muôn phần an lạc

Cũng ví như được bạc, được vàng.

Thế Tôn lại bảo A Nan:

Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin

Ðiều thứ nhứt-giữ gìn thai giáo

Mười tháng trường châu đáo mọi bề.

Thứ hai-sinh sản gớm ghê

Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần.

Ðiều thứ ba-thâm ân nuôi dưỡng

Cực đến đâu bền vững chẳng lay.

Thứ tư-ăn đắng nuốt cay

Ðể dành bùi ngọt đủ đầy cho con.

Ðiều thứ năm-lại còn khi ngủ

Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con.

Thứ sáu-sú nước nhai cơm

Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê.

Ðiều thứ bảy-không chê ô uế

Giặt đồ dơ của trẻ không phiền.

Thứ tám-chẳng nở chia riêng

Nếu con đi vắng cha phiền, mẹ lo.

Ðiều thứ chín-miễn cho con sướng

Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam

Tính sao có lợi thì làm

Chẳng màng tội lỗi, bị giam, bị cầm.

Ðiều thứ mười-chẳng ham trau chuốt

Dành cho con các cuộc thanh nhàn

Thương con như ngọc như vàng

Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn.

Phật lại bảo, A Nan nên biết:

Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người

Mười phần mê muội cả mười

Không tường ơn trọng đức dày song thân

Chẳng kính mến quên ơn trái đức

Không xót thương dưỡng dục cù lao

Ấy là bất hiếu mặc giao

Những hạng người ấy đời nào nên thân.

Mẹ sanh con cưu mang mười tháng

Cực khổ dường gánh nặng trên vai

Uống ăn chẳng đặng vì thai

Cho nên thân thể hình hài kém suy.

Khi sinh sản hiểm nguy chi xiết

Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề

Ví như thọc huyết trâu dê

Nhất sinh thập tử nhiều bề gian nan.

Con còn nhỏ lo toan săn sóc

Ăn đắng, cay, bùi ngọt phần con

Phải tắm phải giặt rửa trôn

Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì.

Nằm phía ướt con nằm phía ráo

Sợ cho con ướt áo, ướt chăn

Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân

Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương.

Trọn ba năm bú nương sữa mẹ

Thân gầy mòn nào nệ với con

Khi con vừa được lớn khôn

Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng

Con đi học mở thông trí tuệ

Dựng vợ chồng cho dễ làm ăn

Ước mong con được nên thân

Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi.

Con ốm đau tức thì lo chạy

Dầu tốn hao đến mấy cũng đành

Khi con căn bệnh đặng lành

Thì cha mẹ mới an thần định tâm.

Công dưỡng dục sánh bằng non biển

Cớ sao con chẳng biết ơn này

Hoặc khi lầm lỗi bị rầy

Chẳng tuân thì chớ, lại bày ngỗ ngang.

Hỗn cha mẹ phùng mang trợn mắt

Khinh trưởng huynh, nộ nạt thê nhi

Bà con chẳng kể ra chi

Không tuân sư phụ lễ nghi chẳng tường.

Lời dạy bảo song đường không kể

Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng

Trái ngang chóng báng mọi đàng

Ra vào lui tới mắng càn người trên.

Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng

Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn

Lớn lên theo thói hung hăng

Ðã không nhẫn nhịn, lại càng làm hung.

Bỏ bạn lành, theo cùng chúng dữ

Nết tập quen, làm sự trái ngang

Nghe lời dụ dỗ huyênh hoang

Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người.

Trước còn tập theo thời theo thế

Thân lập thân, tìm kế sinh nhai

Hoặc đi buôn bán kiếm lời

Hoặc vào quân lính với đời lập công.

Vì ràng buộc đồng công mối nợ

Hoặc trở ngăn vì vợ, vì con

Quên cha, quên mẹ tình thâm

Quên hương xứ sở lâu năm không về.

Ấy là nói những người có chí

Chớ phần nhiều du hí mà thôi

Sau khi phá hết của rồi

Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài.

Theo trộm cướp, hoặc là bài bạc

Phạm tội hình, tù rạc phải vương

Hoặc khi mang bệnh giữa đường

Không người nuôi dưỡng, bỏ thân ngoài đồng.

Hay tin dữ bà con cô bác

Cùng mẹ cha xao xác buồn rầu

Thương con than khóc ưu sầu

Có khi mang bịnh đui mù vấn vương

Hoặc bịnh nặng vì thương quá lẽ

Phải bỏ mình làm quỉ giữ hồn

Hoặc nghe con chẳng lo lường

Trà đình tửu điếm phố phường ngao du

Cứ mải miết con đường bất chính

Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khan

Làm cho cha mẹ than van

Sinh con bất hiếu phải mang tiếng đời.

Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu

Không ai nuôi thốn thiếu mọi điều

Ốm đau đói rách kêu rêu

Con không cấp dưỡng, bỏ liều chẳng thương.

Phận con gái khi nương cha mẹ

Còn có lòng hiếu để thuận hòa

Cần lao phục dịch trong nhà

Dễ sai, dễ khiến hơn là nam nhi.

Song đến lúc, tùng phu xuất giá

Lo bên chồng chẳng sá bên mình

Trước còn lai vãng đến thăm

Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà.

Quên dưỡng dục song thân ân trọng

Không nhớ công mang nặng đẻ đau

Chẳng lo báo bổ cù lao

Làm cho cha mẹ tuôn trào lệ rơi.

Nếu mẹ cha la rầy quở mắng

Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiên

Ðến khi chồng đánh liên miên

Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than.

Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ

Nói không cùng nghiệp dữ phải mang

Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng

Tất cả đại chúng lòng càng thảm thay.

Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi

Ðập vào mình, vào mũi, vào hông

Làm cho các lỗ chân lông

Thảy đều rướm máu ướt dầm cảm thân

Ðến hôn mê tâm thần bất định

Một giây lâu mới tỉnh than rằng:

Bọn ta quả thật tội nhân

Xưa nay chẳng rõ, không hơn người mù.

Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc

Ruột gan dường như nát như tan

Tội tình khó nỗi than van

Làm sao trả đặng muôn ngàn ân sâu.

Trước Phật tiền ai cầu trần tố

Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân

Làm sao báo đáp thâm ân

Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình?

Phật bèn dùng phạm thinh sáu món

Phân tỏ cùng đại chúng lóng nghe

Ân cha, nghĩa mẹ nặng nề

Không phương báo đáp cho vừa sức đâu.

Ví có người ân sâu dốc trả

Cõng mẹ cha tất cả hai vai

Giáp vòng hòn núi Tu Di

Ðến trăm ngàn kiếp ân kia chưa vừa.

Ví có người gặp cơn đói rét

Nuôi song thân dâng hết thân này

Xương nghiền thịt nát phân thây

Trải trăm ngàn kiếp ân đây chưa đồng.

Ví có người vì công sanh dưỡng

Tự tay mình khoét thủng song ngươi

Chịu thân mù tối như vầy

Ðến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu.

Ví có người cầm dao thiệt bén

Mổ bụng ra rút hết tâm can

Huyết ra khắp đất chẳng than

Ðến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng.

Ví có người dùng ngàn mũi nhọn

Ðâm vào mình bất luận chỗ nào

Tuy là sự khó biết bao

Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền.

Ví có người vì ân dưỡng dục

Tự treo mình, cúng Phật thế đèn

Cứ treo như vậy trọn năm

Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền.

Ví có người xương nghiền ra mỡ

Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình

Xương tan, thịt nát chẳng phiền

Ðến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng.

Ví có người vì công dưỡng dục

Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan

Làm cho thân thể tiêu tan

Ðến trăm ngàn kiếp chưa ngang ơn này.

Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng

Giọt lệ tràn khó nỗi cầm ngăn

Ðồng thanh bạch với Phật rằng

Làm sao trả đặng thâm ân song đường?

Phật mới bảo các hàng Phật tử:

Phải lắng nghe ta chỉ sau này

Chúng ngươi muốn đáp ơn dày

Phải nên biên chép kinh đây lưu truyền.

Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng

Cùng ăn năn những tội lỗi xưa

Cúng dường Tam Bảo sớm trưa

Cùng là tu phước, chẳng chừa món chi.

Rằm tháng Bảy là ngày Tự Tứ

Mười phương Tăng đều dự lễ này

Sắm sanh lễ vật đủ đầy

Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng

Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ

Hoặc sanh về Tịnh Ðộ an nhàn

Ấy là báo đáp thù ân

Sanh thành dưỡng dục song thân của mình.

Phật tử phải cần chuyên trì giới

Pháp Tam Quy, ngủ giới giữ gìn

Những lời ta dạy đinh ninh

Phải nên vâng giữ thi hành đừng sai.

Ðược như vậy mới là khỏi tội

Bằng chẳng thì ngục tối phải sa

Trong năm đại tội kể ra

Bất hiếu thứ nhứt, thật là trọng thay.

Sau khi chết, bị đày vào ngục

Ngũ Vô Gián cũng gọi A Tỳ

Ngục này trong núi Thiết Vi

Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề.

Trong ngục này hằng ngày lửa cháy

Ðốt tội nhân hết thảy thành than

Có lò nấu sắt cho tan

Rót vào trong miệng tội nhân hành hình.

Một vá đủ cho người thọ khổ

Lột thịt da đau thấu tâm can

Lại còn chó sắt cắn gang

Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân.

Ở trong ngục có giường bằng sắt

Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong

Rồi cho một ngọn lửa hồng

Nướng quay chúng nó da phồng thịt thau.

Móc bằng sắt thương đao gươm giáo

Trên không trung đổ xuống như mưa

Gặp ai chém nấy chẳng chừa

Làm cho thân thể như dưa chín muồi.

Những hình phạt vô phương kể hết

Mỗi ngục đều có cách trị riêng

Như là xe sắt phân thây

Chim ưng mổ bụng trâu cày lưỡi le.

Nếu chết được, chết liền cho đỡ

Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân

Ngày đêm sống chết muôn lần

Ðến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây.

Sự hành phạt tại A Tỳ ngục

Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân

Chúng ngươi đều phải ân cần

Thừa hành lời dạy, phân trần ở trên.

Nhứt là phải kinh nầy biên chép

Truyền bá ra cho khắp Ðông Tây

Như ai chép quyển kinh nầy

Cũng bằng đặng thấy một vì Thế Tôn.

Nếu in đặng nghìn muôn quyển ấy

Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên

Tùy theo phước báo lưu truyền

Chư Phật ủng hộ sở nguyền viên dung.

Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh

Lại hóa sanh về cảnh thiên cung

Nghe lời Phật giảng vừa xong

Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng.

Lại phát nguyện dù thân này nát

Ra bụi tro muôn kiếp chẳng nài

Dầu cho kéo lưỡi trâu cày

Ðến trăm ngàn kiếp lời thầy không quên.

Ví như bị trăm ngàn dao mác

Khắp thân này bằm nát như tương

Trải trăm ngàn kiếp khôn lường

Chúng con gìn giữ như phương thuốc mầu.

Ðức A Nan âu sầu đảnh lễ

Cầu Thế Tôn đặt để hiệu kinh

Dễ bề truyền bá chúng sanh

Chuyên trì phúng tụng tu hành mai sau.

Phật mới bảo A Nan nên biết:

Quyển kinh này quả thiệt cao xa

Ðặt tên "BÁO HIẾU MẸ CHA"

Cùng là "ÂN TRỌNG" thật là chơn kinh.

Các ngươi phải giữ gìn châu đáo

Ðể đời sau, y giáo phụng hành.

Sau khi, Phật dạy đành rành

Bốn hàng Phật tử tâm thành vui theo.

Cùng một lòng vâng lời Phật dạy

Và kính thành tin chắc vẹn truyền

Ðồng nhau tựu lại Phật tiền

Nhất tâm đảnh lễ, rồi liền lui ra.

Nam Mô Ðại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)


Khen ngợi Ðức Mục Kiền Liên


Mục Liên Tôn Giả

Thay Phật tuyên hành

Gậy vàng vừa gõ

Cửa ngục băng thanh

Tội nhơn giải thoát

Tịnh Ðộ hóa sinh

Phúc huệ mãi an lành.

Nam Mô Tịnh Ðộ Phẩm Bồ Tát (3 lần)



Sám Vu Lan


Ðệ tử chúng con

Vâng lời Phật dạy

Ngày rằm tháng Bảy

Gặp hội Vu Lan

Phạm Vũ huy hoàng

Ðốt hương đảnh lễ

Mười phương Tam thế

Phật, Pháp, Thánh, Hiền

Noi gương đức Mục Kiền Liên

Nguyện làm con thảo

Lòng càng áo não

Nhớ nghĩa thân sanh

Con đến trưởng thành

Mẹ dày đau khổ

Ba năm nhũ bộ

Chín tháng cưu mang

Không ngớt lo toan

Quên ăn bỏ ngủ

Ấm no đầy đủ

Cậy có công cha

Chẳng quản yếu già

Sanh nhai lam lũ

Quyết cùng hoàn vũ

Phấn đấu nuôi con

Giáo dục vuông tròn

Ðem đường học đạo

Ðệ tử ơn sâu chưa báo

Hổ phận kém hèn

Giờ này quỳ trước đài sen

Chí thành cung kính

Ðạo tràng thanh tịnh

Tăng Bảo trang nghiêm

Hoặc hiện tham thiền

Ðầy đủ thiện duyên

Dũ lòng lân mẫn

Hộ niệm cho:

Bảy kiếp cha mẹ chúng con

Ðượm nhuần mưa Pháp

Còn tại thế:

Thân tâm yên ổn

Phát nguyện tu trì

Ðã qua đời:

Ác đạo xa lìa

Chóng thành Phật quả

Ngưỡng mong các đức Như Lai

Khắp cõi hư không

Từ bi gia hộ.

Tịnh Ngọc
15-07-2005, 02:41 AM
THÔNG BẠCH VU LAN


Theo truyền thống từ xưa của Ðạo Phật, hằng năm khi thời tiết chuyển từ Hạ sang Thu, cũng là lúc người con Phật trên khắp năm châu chân thành đón nhận Mùa Lễ Hội Tâm Linh—Mùa Vu Lan Báo Hiếu. Trân trọng gởi đến Chư Tôn Ðức Tăng Ni, toàn thể Phật tử và đồng hương mọi giới, lời chào đại hoan hỷ, đại cát tường trong Mùa Vu Lan Thắng Hội năm nay.

Phật Giáo đồ hải ngoại chúng ta hãy tưởng nhớ đến thâm ân Chư Phật, ơn Thầy Tổ, ơn sinh thành của Ông bà cha mẹ, ơn đất nước đồng bào, ơn chúng sanh vạn loại. Chúng ta cũng tưởng nhớ đến những hy sinh cao cả của chư vị Thánh tử đạo, các bậc tiền bối hữu công, anh linh chiến sĩ đã vị quốc vong thân, đồng bào đã gian khổ cống hiến trọn đời cho Dân tộc và Ðạo pháp. Ðồng thời, cũng tưởng nhớ đến cha mẹ đã quá cố siêu sinh Tịnh độ, còn hiện tiền phước thọ tăng long.

Kính thưa quí liệt vị,

Ðối với nền văn hóa nước ta nói riêng, toàn khối dân tộc nói chung, Lễ Hội Vu Lan đã vượt ra ngoài ý nghĩa tôn giáo thuần tuý, mà từ lâu đã trở thành Ngày Lễ Hội Thiêng Liêng—Ngày Lễ Hội Tri ân và Báo ân, Ngày Lễ Hội của tình người. Ðây là một nét đẹp văn hóa tinh thần, không thể thiếu trong đời sống của người Việt Nam, của người Á Châu, và nét đẹp ấy đã là một bông hoa tâm đức cống hiến cho cộng đồng nhân loại.

Thật vậy, ngày Vu Lan, ngày báo hiếu tri ân đã trở thành mối kết hòa hóa giữa người và người, mối kết tương giao giữa hiện tại và quá khứ. Theo lời Phật dạy : “Tất cả chúng sanh đều có ân, nghĩa, duyên, tình từ nhiều đời nhiều kiếp với nhau nên mới có mặt trên thế gian này, nếu không thì đã không còn hiện hữu ở đây !” Chúng ta được làm người lại nhờ ơn cha mẹ mà có. Người xưa có nói, “Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu”, Kinh Thi cũng nói “cù lao cửu tự”, ca dao Việt Nam có câu “Nhớ ơn chín chữ cù lao, Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình”, Ðạo Phật lại tận tường hơn qua “Báo hiếu phụ mẫu trọng ân kinh”, là một trong bốn ân lớn, kết nối, kế tục, truyền thừa và gắn bó một cách tinh tế thiết thực giữa nhân sinh vạn loại, giữa gia đình xã hội dân tộc quốc gia, vượt qua mọi biến thái thời gian, kinh qua bao biến thái không gian, và đó là chất liệu phẩm hạnh siêu tuyệt và là tính nhân bản sâu sắc huyền vi của Phật Giáo qua mọi không thời.

Ở các nước phương Tây, trong tháng 5 họ có một ngày cho mẹ, và tháng 6, có một ngày dành cho cha. Ở phương Ðông, nhất là những quốc gia vùng Ðông Nam Á, trong đó có Việt Nam, Trung Hoa, không những chỉ có một ngày, mà cả một truyền thống hiếu kính cha mẹ sâu sắc, một nề nếp thờ phụng Tổ Tiên sâu đậm, một nghĩa cử tưởng nhớ người xưa chân thành, mà ấn tượng biểu trưng là một bông hồng cho mẹ, một bông hồng cho cha, một bông trắng cho những ai, trong Mùa Hội Vu Lan, hay một nén hương dâng lên bàn thờ Tổ Quốc, một tiết Thanh Minh dâng nghĩa chí thành. Bởi “Thiên hữu tứ thời Xuân tại thủ. Nhân sinh bách Hạnh, Hiếu vi tiên”, nghĩa là “Trời có bốn mùa Xuân là gốc. Người sinh trăm nết, Hiếu đứng đầu”

Mùa Hội Vu Lan còn mang ý nghĩa trọng đại vi diệu hơn, cứu tế cơ bần, giải kết oán cừu, xá tội vong nhân, hàm linh cứu khổ, giải thoát tam đồ. Cho nên, trong Ðạo Phật chỉ có hòa bình mới được bình an, chỉ có từ bi để, “Từ năng dữ nhứt thiết chúng sinh chi lạc, Bi năng bạt nhứt thiết chúng sinh chi khổ”, chỉ có trí tuệ mới hiểu biết chân thiện, thoát khỏi mê lầm, phá tan hư vọng, mà người con của Ðức Phật, và Phật Giáo đồ Việt Nam kiên quyết sắc son và mang hạnh nguyện bước đi phụng hiến vô cùng.

Ðất nước Việt Nam hôm nay và mọi quốc gia trên thế giới hôm nay, sở dĩ tao loạn, bất an, khủng hoảng, là do tám khổ giao đốt hoành hành. Tri ân báo ân đền đáp bị chiếu lệ bỡi cặp kính màu của tranh giành, lợi dưỡng, vật chất. Phục vụ nhân quần xã hội bị che phủ bỡi cặp kính đen của độc tôn, đảng phái, tham quyền. Ðạo đức niềm tin thân thiện bị hỗn tạp bỡi cặp kính xám của bạo lực, tàn hại, mị dân. Khoa học, tin học, văn minh phát kiến một chân trời hy vọng, nhưng đồng thời cũng bị phá sản lợi dụng bỡi ma chướng vô minh, đã bào mòn tình người nhân ái, và làm suy giảm tin tưởng giữa chính con người với con người. Những cán cân công lý, những định chế pháp qui bị thiên lệch theo sức mạnh quyền lực và bị nghiêng ngửa theo sức ép kim tiền.

Con người Việt Nam đã thừa hưởng 5000 năm đạo đức truyền thống của dân tộc. Phật tử Việt Nam đã thừa hưởng 2000 năm đạo lý huyền vi của Phật Giáo. Tất cả chúng ta, dù trong nước hay ngoài nước, dù đồng tôn hay dị hoạt, đều hội tụ dưới cội nguồn lịch sử, và hòa hóa an lành dưới dòng sông cam lộ. Nhận thức tri ân báo ân hiếu hạnh được như thế mới trọn vẹn ý nghĩa trên đền bốn ơn nặng, mà tự mỗi cá nhân dù đứng một góc độ nào hay ở một cương vị nào, cũng đã đón nhận mà không có quyền quên ơn phản bội. Từ đó, mới thâm sâu được nghĩa cử dưới cứu khổ tam đồ, trong đó, có cứu quê hương, cứu tôn giáo, cứu dân tộc, phát huy và hưng thịnh qua mọi trào lưu thời đại.

Vu Lan và Phật Giáo là tinh thần cứu đảo huyền và cứu đảo quần sanh. Ðức Phật đã dạy “Tâm bình thế giới bình”, “Ðiều thiện tối cao không gì hơn hiếu, điều ác cùng cực không gì hơn bất hiếu”. Ai là người ưu thời mẫn thế, ai là người giác ngộ giữa quần mê, phải đem hết khả năng tâm lực của chính mình tự hành tha hóa, phát đại bồ đề tâm khai mở chân thiện khắp trần gian, phát đại bi tâm tiêu hóa khổ đau tăm tối khắp nhân gian. Mà Vu Lan Thắng Hội là mùa của trầm tư truy niệm, mở đường chân chánh, trưởng dưỡng đạo tâm, phát sinh huệ mạng, trồng cây hiếu hạnh, gặt trái mỹ chơn, để nhân loại cùng nhau quay về thánh đức, để nhân sinh cùng nhau chung sống thái hòa.

Ngưỡng nguyện Hồng ân Tam Bảo Lực gia trì, ngưỡng mong Chư Tôn Ðức Tăng Ni đồng chuyển, kính mong toàn thể dân tộc và đồng hương mọi giới đồng tâm, thì bánh xe lịch sử sẽ vận hành, bánh xe chánh pháp sẽ truyền lưu, Việt Nam sẽ được phồn vinh, thế giới sẽ được hòa bình, và pháp giới hữu tình đều sanh lợi lạc.

NAM MÔ ÐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN BỒ TÁT MA HA TÁT

Nay Thông Bạch,

Hòa Thượng THÍCH NHƯ HUỆ

Tịnh Ngọc
01-08-2005, 04:16 AM
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LỄ VU LAN BÁO HIẾU


Trước khi đạo Phật xuất hiện ở đời, đạo Bà-la-môn ở Ấn Độ thấy rằng, người chết có nhiều ràng buộc với người sống, cho nên người sống là con cháu phải có bổn phận thờ cúng người đã khuất. Cũng vì lẽ đó, những kẻ vô thừa tự không sinh con cái nối dõi để tiếp tục thờ cúng tổ tiên, sẽ bị tội đọa vào địa ngục. Bởi vậy ngày trước, ở Ấn Độ người Bà-la-môn đến tuổi trưởng thành phải đi tu học một thời gian về các nghi lễ cúng tế, sau đó về lại tư gia lậpgia đình, sinh con nối dõi tông đường.

Khi đạo Phật xuất hiện, những người trong Tăng đoàn đều có niềm tin đó, nên phải có một cách để tự thuyết phục cho việc đi tu không lập gia đình, không phạm vào tội vô thừa tự, vì tổ tiên sẽ được cứu rỗi bằng lễ Vu Lan. Nên có câu:

"Nhứt nhân hành đạo cửu huyền thăng".
(Một người xuất gia giúp cửu huyền được siêu thoát)

Kinh Ullambana kể về Ngài Mục Kiền Liên (Mandgalyayan, hay Moggallana) là một nhâ vật lịch sử, sống cùng thời đức Thích Ca, Tôn giả là một vị giáo chủ có năm trăm đệ tử, sau đó quy y Phật, trở thành vị đệ tử "thần thông đệ nhất". Khi đã đắc quả A-la-hán, việc đầu tiên là nghĩ đến chữ Hiếu:

"Làm con hiếu hạnh vi tiên
Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tầm.
Thấy vong mẫu sinh làm ngạ quỷ,
Không uống ăn tiều tụy hình hài…"

Tôn giả đem bình bát khất thực được đầy cơm và thức ăn dâng mẹ, mẹ cầm lấy ăn thì hóa thành than lửa. Ngài đau đớn đến bạch Phật cầu phương pháp cứu, Đức Phật dạy rằng: Mẹ ngươi gốc tội kết sâu nghiệp chướng nặng nề, chờ đến rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ, chư Tăng các nơi đều về dự, sắm các thứ cúng dường tứ sự (ăn, mặc, ở, bịnh) nhờ cầu nguyện và phù trợ để giúp giải tội. Mục Liên và đại chúng mừng, bèn hỏi: "Như sau này nếu ai có lòng hiếu thảo muốn chuộc tội cho cha mẹ ông bà thực hành như vậy có được không?" Đức Phật dạy: "Tất cả mọi người (từ vua chúa đến dân thường), để nhớ công ơn sanh thành dưỡng dục muốn đền ơn cha mẹ ông bà, đến Rằm tháng 7 mỗi năm, thiết lễ trai đàn, cầu nguyện Chư Phật, Chư Tăng vận tâm thù thắng ra ơn cứu độ, thì cha mẹ, tổ tiên bảy đời đã quá vãng, được cơ hội xóa bỏ bớt tội lỗi từ nhiều kiếp trước, và cha mẹ bà con quyến thuộc hiện tiền được nhiều phước lộc".

Ngài Mục Liên đã làm đúng lời Phật dạy, và bà mẹ Ngài cùng những người chịu cảnh khổ ngày ấy đều được siêu thoát, cho nên có câu:

"Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân".

Khi Phật giáo truyền đến Trung Hoa, muốn truyền bá sâu rộng nhiều người theo, phải đáp ứng được tập quán xã hội của Trung Hoa và cả Á Đông là người con phải lập gia đình để có con trai nối dõi tông đường, người con sau này có bổn phận nuôi ông bà cha mẹ, không thì mắc tội bất hiếu. Còn đạo Phật dạy xuất thế, từ chối lập gia đình, cấm dục, không có vợ, có con, không lao động mà đi khất thực để sống, chuyên tu hành để hướng tới giải thoát, người Trung Hoa khó lòng mà chấp nhận.

Pháp sư Amoghavajrab giải quyết chướng ngại đó bằng ba phương cách:

1. Ưu tiên dịch thuật và diễn giải các kinh Phật liên hệ đến chữ Hiếu (từ kinh điển Sanskrist và Pali) để chứng tỏ giáo lý đạo Phật cũng rất nặng chữ Hiếu như truyền thống Trung Hoa.

2. Các vị sư Ấn Độ và Trung Hoa tìm trong kinh sách Phật giáo những điều liên quan về Hiếu để viết ra một số kinh sách mới ca tụng về Hiếu hạnh và lợi lạc cho cha mẹ tổ tiên.

3. Phương cách thứ ba là làm sao biểu dương việc Hiếu đạo trong nhà Phật còn cao siêu hơn, như: Chữ hiếu của người dân Á Đông chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình như cha mẹ ông bà. Chữ Hiếu của nhà Phật rộng hơn cho người sống đối với: người của gia đình chết bảy đời, những người chết vất vưởng không ai cúng quảy, tóm lại là tất cả mọi vong hồn. Vì nhà Phật chủ trương tất cả chúng sinh ai cũng có thể là cha mẹ của ta từ các kiếp trước. Vậy nên chữ Hiếu của đạo Phật là nhớ ân báo ân tất cả chúng sanh chung, bao trùm cả vũ trụ không gian và chiều sâu của thời gian.

Phật giáo du nhập Trung Quốc tỏ ta không đối lập với đời sống gia đình, cô tiểu, chú tiểu, nhà Sư vẫn có thể làm tròn rất nhiều bổn phận con cháu, hằng ngày cầu nguyện cho gia đình, góp nhặt công đức hồi hướng phúc ấm cho gia đình, tổ tiên, cầu siêu cho vong linh tổ tiên.

Cho nên ta thấy đời Hậu Hán, An Thế Cao (An Shik Kao) dịch hai bộ kinh liên hệ chữ Hiếu: "Kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ", "Kinh Phụ Mẫu Ân Nan Báo". Đại sư Tân Pháp Tư đời Ngũ Đại dịch bộ kinh "Phật Thuyết Thiện Sinh tử", "Kinh Trường A Hàm", "Trung A Hàm" dịch từ thế kỷ thứ tư và năm cũng luôn nhắc lời Phật dạy về chữ Hiếu.

Nhưng hai quyển kinh "Bồ Tát Thiện Tử" và "Vu Lan Bồn" đề cập chữ Hiếu nhiều nhất do Đại sư Pháp Phong dịch đời Tây Tấn.

Kinh "Bồ Tát Thiện Tử" thật ra trích từ truyện Tiền Thân Đức Phật. Thiện Tử (tên chữ Sanskrit là Syama, chữ Pali là Sama) là một vị lập hạnh Bồ tát tình nguyện đầu thai làm con cho một cặp vợ chồng mù, vì muốn thuận lợi tu hành, đã đem cha mẹ vào ở trong một hang núi để săn sóc báo đền hiếu đạo và tu tập. Một hôm nhà vua đi săn, thấy từ xa Thiện Tử đội chiếc áo da nai đang khom sau lưng lấy nước ở suối, tưởng lầm là con thú, nhà vua bắn trúng mũi tên độc. Thiện Tử gục xuống chờ chết, nhưng không oán hận nhà vua, chỉ nghĩ mình phải trả nghiệp, đau khổ nghĩ cha mẹ già không ai nuôi dưỡng làm sao? Ông bà cụ lần mò đến xác Thiện Tử. Người cha làm hô hấp truyền hơi thở cho con, người mẹ đặt miệng vào vết thương cố hút chất độc ra. Trong cơn đau khổ họ nguyện cầu Đức Phật cứu độ. Tức thời Đức Phật Quán Thế Âm hiện ra, chữa lành vết thương cứu sống Thiện Tử, đồng thời cứu cha mẹ Thiện Tử khỏi mù lòa. Phần kết luận quyển kinh bằng lời dạy của Đức Phật là: "Hiếu để sẽ thắng mọi điều khổ ải". Trong hai quyển kinh "Lục Độ Tập Kinh" và "Pháp Uyển Châu Lâm" cũng có nhắc đến chuyện Thiện Tử. Ngài Huyền Trang Đường Tam Tạng cũng có viết lại chuyện Thiện Tử trong sách "Đại Đường Tây Vực Ký".

Sau này, chuyện "Nhị Thập Tứ Hiếu" cũng có phỏng theo chuyện Thiện Tử đổi tên thành nhân vật Yến Tử, câu chuyện được đặt vào hoàn cảnh địa phương Trung Quốc vào đời nhà Tống.

Riêng kinh "Vu Lan Bồn" nói về chuyện Hiếu của Mục Kiền Liên được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc và các nước Á Đông theo Phật giáo Bắc Tông, do Đại sư Pháp Phong (Dharmaraksha -Đàm Ma La Sát) người Ấn Độ dịch cuối đời Tây Tấn. Đại sư Tông Mật ở phủ Khai Phong xuất thân gia đình vọng tộc, từ nhỏ đã học và rất uyên thâm về Khổng giáo, sau trở thành một bậc chân tu đạo Phật, ngài dựa vào Kinh Vu Lan để viết ra một quyển Luận so sánh chữ Hiếu giữa đạo Khổng và đạo Phật. Ngài nói đạo Phật, đạo Khổng không khác nhau, đều đặt vấn đề hiếu đạo lên hàng đầu. Như Nho giáo dạy chúng ta sống xứng đáng để thanh danh lại cho con cháu, nhưng chính Phật giáo lại dạy ta điều nhập thế là truyền bá lòng từ bi nhân ái cho thế hệ hiện tại đang sống chung quanh ta. Nho giáo dạy lễ nghi, như ngày giỗ, ngày Tết phải sát sanh để cúng giỗ tổ tiên; đạo Phật hiếu sinh hơn, dạy cho ta cầu nguyện nhưng không sát sanh vì lòng Từ. Và ngài Tông Mật còn đi xa hơn, để quyết là Đức Phật ngày xưa bõ ngôi đi tu chính là vì "muốn báo hiếu cho cha mẹ, không muốn cha mẹ kiếp kiếp bị trầm luân".

Lập luận dựa trên Kinh Vu Lan để trình bày quan điểm của đạo Phật đối với chữ Hiếu, như ngài Tông Mật và các nhà học Phật thời bấy giờ chắc chắn đã tháo gỡ được rất nhiều các mối dè dặt của giới Nho sĩ đối với đạo của Thích Ca. Quan niệm xuất thế của đạo Phật, bỏ nhà đi tu, không trọn hiếu đạo với cha mẹ, được giải tỏa. Người Trung Hoa cùng với các dân tộc khác ở Á Đông đã nồng nhiệt chấp nhận phương cách giải thích như vậy. Ngày đó sự tích Mục Kiền Liên được phổ cập quanh năm trong nhân gian, không những trong các chùa mà ở khắp mọi nơi, trong nhà được phổ thành câu hát ru em, ngoài chợ thành bài vè cho người hát xẩm, tạo nên một loại văn chương gọi là biền văn. Khi khám phá ra các động thờ Phật tại Đôn Hoàng (Tân Cương) vào đầu thế kỷ thứ hai mươi, người ta tìm được nhiều bổn biền văn nầy, như là "Mục Kiền Liên Biền văn", "Mục Kiền Liên Lục Khởi", bộ "Đại Mục Kiền Liên Minh Cứu Mẫu Kiến Văn Tịnh Độ". Các biền văn này cùng tài liệu Phật giáo khác tìm được ở Đôn Hoàng nay đang tàng trữ tại thư viện Bibliothèque National de Paris (Pháp), bảo tàng British Museum (London Anh Quốc). Trung Quốc, Đài Loan, Nhật… tư liệu này có trong sách "Đôn Hoàng trích yếu lục" được chính phủ Trung Hoa in tại Bắc Kinh năm 1931.

Có một điều rất khâm phục, các Đại sư Phật giáo Bắc Tông thời đó kết hợp Lễ Trung Nguyên của đạo Lão Trung Quốc tạo ra một Lễ hội lớn của Phật giáo, sở dĩ chọn ngày rằm tháng 7, lúc đó thời tiết toàn Trung Quốc quang đãng, hết mưa bão, vì mưa bão thời gian này đã xuống hoạt động ở vùng biển Nam Hải, trời nắng ấm, cũng chưa đến mùa lạnh có tuyết rơi làm ảnh hưởng đến lễ hội, hướng mọi hoạt động nhân sinh về thiên nhiên, thuận lợi cho mọi người đi từ làng này sang thôn khác thăm viếng họ hàng, bạn bè, biếu xén quà cáp, đi chùa, viếng núi đồi, vãng cảnh, thành một cơ hội thắt chặt đời sống gia tộc, cộng đồng và tín ngưỡng. Các chùa ngày đó cũng sung túc lên, dễ dàng xây dựng tạo ra cảnh quang văn hóa đẹp đẽ, giúp cho mọi người hưởng được sinh thái vui mát làm an lạc lòng người. Chùa chiền Tự viện dần trở nên những trung tâm đời sống xã hội, và Lễ hội đó đặt tên là Vu Lan Bồn.

Các nước văn minh Ấn Độ và Nguyên Thủy Phật giáo như: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào, Inđônêxia… Không có ngày lễ Vu Lan, mặc dầu có thờ cúng ông bà, báo hiếu.

Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ thời Hán Minh Đế (58-75 TL). Truyền rằng một hôm vua nằm mơ thấy các quan Chiêm Tinh hoàng cung, kiệu một người bằng vàng, nhìn kỹ là Đức Phật. Vua bèn cử một phái đoàn sang miền Tây Bắc Ấn Độ thỉnh kinh và mời các nhà sư qua Trung Quốc. Vì trước đó các nhà sư Phật giáo và tín đồ đạo Phật đã đến Trung Quốc nên biết được đạo Phật.

Nhưng Lễ Vu Lan bắt đầu tổ chức ở Trung Quốc từ năm nào thì không có ghi lại chính xác, chỉ tìm thấy trong "Phật Tổ Thống Chí" ghi Lễ Vu Lan rằm tháng 7 âm lịch năm 538 TL, vua Lương Võ Đế cùng hoàng tộc đến cúng dường và dự lễ tại Đông Đài Tự. Lễ Vu Lan năm 766 TL dưới triều Đường Thái Tôn có ghi rõ trong "Thích Thị ký cổ" ngày Vu Lan có lễ rước kiệu Phật vào đại nội, nhà vua cho đem trưng bày Ngọc Xá lợi Phật tại Quảng An Môn để dân chúng lễ bái chiêm ngưỡng. Những năm tiếp sau đó ngoài việc các chùa làm lễ trai đàn chẩn tế. Trước cúng Phật sau cúng cầu siêu độ cho cha mẹ tổ tiên bổn đạo, cầu siêu các vong hồn đã chết vì loạn lạc chiến tranh, chết không có con cái thờ tự, chết vì nghèo đói, tai nạn, các vong hồn ở các cõi địa ngục, ngạ quỷ. Các tư gia cũng làm cơm chay cúng ông bà trong nhà, cúng vong hồn ngoài trời. Các chùa lớn còn tổ chức trưng bày các bảo vật thờ tự, di tích của Đức Phật như: Ngọc Xá lợi, răng, tóc, móng tay Phật, đựng trong các bình ngọc, bình đá, tảng đá khắc chân Phật, các bổn kinh chép bằng chữ Sanskrist, chữ Pali khắc trên đá, trên gỗ, trên lá bối, lá cót… đem về từ Ấn Độ. Đồng thời nhà chùa còn khuyến khích các gia đình giàu có tham gia cuộc triển lãm bằng cách đem đến trưng bày các báu vật trân châu dị bảo của riêng, cho khách thập phương xa gần đến thưởng ngoạn.

Vì vậy mà mọi người tấp nập đi dự, khách xa đến dựng lều bạt ở trên đất chùa và tổ chức các buổi ca vũ, hát tuồng, trổ tài thi phú, thi đua tài nấu nướng các món chay để cúng dường Phật, Tăng, cúng ông bà tổ tiên và sau đó thiết đãi nhau ăn uống vui chơi. Từ đó mà có ý nghĩa thiêng liêng "Đại Hội Vu Lan Báo Hiếu" cùng xá tội vong nhân, trở thành một lễ hội, một tập tục ăn sâu vào lòng người, một lễ hội lớn rất quan trọng trong nền văn minh của Trung Hoa và các nước Á Đông: Hàn Quốc, Nhật Bổn, Đài Loan, thời kỳ này gọi là thời kỳ "Thịnh Đường", đạo Phật trở nên cực kỳ hưng thịnh.

Đối với Trung Quốc và cả các nước Đông Á, Phật giáo là một Tôn giáo ngoại lai từ Ấn Độ, nhưng Phật giáo Đại thừa đã hoàn toàn chuyển hóa thành một Tôn giáo Á Đông. Nghi lễ của Phật giáo đã hài hòa với nghệ thuật, Phật giáo chuyển mình tạo thêm phẩm chất thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật thuộc về cái đẹp của thiên nhiên và tâm hồn, sự hành thiện của cuộc đời đều được Phật giáo coi trọng, khiến hấp dẫn của Phật giáo trong dân gian tăng lêm mạnh mẽ, hòa nhập chuyển biến lần thành ra một Tôn giáo ăn sâu vào lòng người và coi như Tôn giáo đặc thù của người bản địa.

Tại sao gọi là "Lễ Vu Lan", nguyên là chữ "Vu Lan Bồn", phiên âm từ "ura-bon-e" xuất xứ từ tiếng Phạn Sanskrit "ullambana" đọc gọn của chữ "avalambana", có nghĩa là treo ngược chân lên trời, đầu xuống đất, một hình phạt nặng nề, đau khổ của các tội đồ, người Trung Hoa dịch là "đảo huyền", tức là cứu cái khổ như bị treo ngược. Lễ "Vu Lan Bồn" gọi tắt là "Vu Lan" ngày nay. Người ta thường dùng chữ "Vu Lan Báo Hiếu" để gọi việc cầu nguyện cứu giúp báo hiếu cho cha mẹ tổ tiên và mọi vong linh. Theo Đại sư Tông Mật, khi viết quyển luận về "Vu Lan Bồn Kinh", ngài đưa ra một nhận định khác, chữ "ullam" không hẳn là tiếng Phạn, mà cái từ này gốc ở các nước Trung Bộ Á Châu, trên con đường tơ lụa ngày xưa từ Âu Châu qua Trung Đông rồi đi lần qua bờ biển Trung Quốc, Phật giáo trên đường hoằng dương Phật pháp trên đường qua vùng này mà có tên là "ullam" có thể hiểu và có thể dịch là "đảo huyền", chữ "bana" dịch là chữ "bồn", có nghĩa là con thuyền, tấm ván, tấm bè, cái khay, hay cái chậu đựng thức ăn. Vậy toàn bộ chữ "ullambana" dịch sang chữ Hán, phải hiểu là "Cứu giúp một con thuyền bị lật ngược", hay là "quay lại cho ngay một tấm bè, cái khay, cái chậu bị lật ngược" cũng có nghĩa là "cái khay đựng thức ăn". Vậy nên trong bản kinh "ullamba Sutra" (Vu Lan Bồn Kinh) ngài Tông Mật giải thích lời Đức Phật dạy: Muốn báo hiếu chuộc tội cho cha mẹ, phải thành tâm "dâng đầy khay thức ăn uống và hương hoa phẩm vật" cúng dường Chư Tăng mười phương câu hội xin giúp lời cầu nguyện cho Tổ tiên được siêu thoát.

Có người đặt nghi vấn không hiểu Lễ Vu Lan có từ Ấn Độ hay xuất khởi tại Trung Hoa, hay lễ Vu Lan chỉ là một sản phẩm do nhu cầu hoằng dương đạo Phật lúc đạo Phật vào Trung Hoa? Tại sao các quốc gia theo Phật giáo Nguyên Thủy (Théravada) không thấy thiết lễ Vu Lan? Ngày lễ Tự Tứ tức giải hạ của Phật giáo Nguyên Thủy không phải ngày rằm tháng 7, nhưng trong kinh Vu Lan Bồn ghi ngày rằm tháng 7.

Căn cứ theo tài liệu về thư mục của kinh điển Phật giáo do Đại sư Bunyo Nanjio soạn thảo Catalogue Chinese Translation of The Buddhist Tripitaka, Oxford 1883, Kinh Ullambana Sutra được ghi là đã chép qua văn tự dưới thời Phật giáo Nguyên Thủy, sau được dịch qua Hán ngữ. Trong đại tập "Pháp Uyển Châu Lâm" có bản "Kinh Báo Ân Phụ Mẫu" không đề tên người dịch. Theo các dữ kiện trên, xin kết luận Kinh Vu Lan Bồn nhất định đã được Phật thuyết vào thời kỳ nguyên thủy. Nhưng vì nhu cầu hoằng pháp lợi sinh phải thích ứng vào bản tính chuộng thiết thực của người Trung Hoa mà một số chi tiết đã được thay đổi khi phiên dịch cho phù hợp quốc độ, đó cũng là giải pháp phương tiện của Pháp sư Amoghavajra và các Đại sư thời ấy để dễ dàng hoằng pháp lợi sanh.

sưu tầm

Tịnh Ngọc
01-08-2005, 04:26 AM
LỜI RU CỦA MẸ


Đã qua hết nửa cuộc đời,
Mà hình bóng mẹ sáng ngời bên con.
Cho dù sông cạn đá mòn,
Lòng con vẫn giữ sắc son trọn đời.
Ngày xưa mẹ hát ru con,
Câu ca dao mãi còn hơi ấm nồng.
Vầng trăng xưa vẫn nguyên hình,
Bóng hình mẹ vẫn luôn luôn sáng ngời.
Con về thăm lại quê hương,
Vườn cà luống cải vẫn còn tươi xanh.
Mà nay mẹ đã già rồi,
Nhưng con vẫn nhớ những lời mẹ ru.
À ơi! Nắng sớm mưa chiều,
Dòng sông xưa một lời thề thiêng liêng.
Cho dù chắp cánh trăm miền,
Từng trong câu hát diệu hiền mẹ ru.
Trăm năm mẹ vẫn ẵm bồng
Ôi bàn tay mẹ bao dung vẹn toàn.
Thời gian tóc mẹ bạc phai,
Con đã trưởng thành lưng mẹ còng thêm.
Những gì có được hôm nay,
Là của mẹ hiền chiu chắc bao năm.
Ôi lòng cao quý mẹ hiền,
Làm con nên nhớ những điều mẹ mong
Cho tròn bổn phận làm con,
Chữ hiếu chữ hạnh vẹn toàn đôi bên.

Quảng Hoa


MẸ


Dạt dào, vằng vặc, bao la,
Mênh mông, bát ngát đó là mẹ tôi
Vầng trăng vằng vặc muôn đời
Dạt dào hơi ấm truyền lời bảo ban
Bao la nhũ bộ cưu mang
Mênh mông bóng mát trên đàng con đi
Tiếng ru bát ngát bao ngày
Nuôi con khôn lớn ơn đầy nghĩa thâm
Tóc sương tần tảo lặng thầm
Vuốt ve tay yếu, ân cần tiếng khuyên
Như trăng bất tử diệu huyền
Suối nguồn chảy suốt êm đềm không ngưng
Sao đo nghĩa mẹ vô cùng
Sao đền ơn mẹ cõi rừng mênh mang
Sao cân tình mẹ ngút ngàn
Sao đong công mẹ ngập tràn trời đêm
Hạnh phúc thay còn mẹ hiền !
Cài hoa hồng đổi biển tiền rừng hoa
Dạt dào, vằng vặc, bao la
Mênh mông, bát ngát đó là mẹ tôi !

Diệu Thư

Tịnh Ngọc
15-08-2005, 09:42 PM
TÂM LINH ĐẠO ĐỨC QUA TRUYỀN THỐNG
VU- LAN BÁO-HIẾU Ở PHẬT GIÁO





Dòng thời gian cứ trôi hoài theo năm tháng, ngày nay, nhân loại đang sống trong sự phồn vinh, sự tiến hóa về phương diện vật chất. Phải nhìn nhận rằng sự tiến hóa vật chất đã giúp cho con người nâng cao đời sống trong sinh hoạt thường nhật, tuy nhiên, nó cũng là mối đe dọa khiến con người luôn sống trong tâm trạng phập phòng, lo sợ; sợ thiên tai, sợ ách nạn, sợ khủng bố, sợ chiến tranh v.v… Nhìn những biến cố hay những diễn tiến đã và đang xảy ra trên thế giới hiện nay, chúng ta có thể minh chứng được điều này. Sở dĩ mối đe dọa thường xảy ra là vì con người tự đánh mất khả năng tri giác trong nội tại, hay nói cách khác là tự đánh mất đạo đức và nội tại tâm linh. Thay vì sử dụng khả năng kiến thức để nâng cao đời sống, con người sử dụng nó như một công cụ để tô điểm thêm cho sự tham lam, sân hận, ích kỷ và lòng oán thù. Từ đó, thảm họa lo âu, nổi khổ và niềm đau ngày một gia tăng.

Đứng trước hiện trạng nêu trên, Phật giáo luôn khuyến tấn con người nên nuôi dưỡng tâm linh đạo đức, sử dụng phương tiện vật chất để phát huy tinh thần từ bi, vô ngã, đem niềm vui và sự an lạc cho mọi người. Truyền thống “Vu Lan Báo Hiếu” là một trong những phương pháp được Phật giáo sử dụng để kêu gọi mọi người mau quay về nẻo thiện. Đó cũng là diêm quẹt châm ngòi cho ngọn lửa đạo tâm, thấp sáng cội nguồn đức hạnh, mở rộng cánh cửa tâm linh đạo đức trong đáy lòng nhân thế.

Đức Phật dạy “Cùng Tột Điều Thiện Không Gì Hơn Hiếu, Cùng Tột Điều Ác Không Gì Hơn Bất Hiếu”. Ở đây, đức Phật muốn gởi cho nhân loại một thông điệp tâm linh đạo đức xuyên qua mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái hay nói khác hơn bậc thi ân và bậc báo ân. Thật vậy, trong mối quan hệ con người, sự quan hệ giữa cha mẹ và con cái được coi là thiêng liêng và cao quý. Sự cao quý không chỉ đơn thuần ở mối quan hệ huyết thống mà còn là đạo đức tình người, tính giáo dục, sự giao lưu giữa hai thế hệ trước và sau. Đối với bậc cha mẹ (thế hệ trước), Phật giáo luôn động viên rằng, cha mẹ cần làm gương cho con trong vịệc tu tập, điều gì nói được thì nên thực hành. Trong cuộc sống, không ai có những lầm lỗi, cha mẹ không nên ngại ngùng khi lấy những lỗi lầm của mình để hướng dẫn tu tập cho con trẻ. Phật giáo luôn phát đi những thông điệp thương yêu, hiểu biết và tha thứ, cha mẹ nên động viên gia đình cùng sống theo chiều hướng đó. Phật giáo còn khuyên cha mẹ nên khuyến khích con cái chung vui với sự thành công của người khác, điều này giúp cho chúng ngăn chặn sự gia tăng lòng đố kỵ, tâm ích kỷ. Để có mái ấm gia đình, Phật giáo hướng dẫn cha mẹ cần thực thi năm giới cấm cũng như nên khuyến khích con cái lìa bỏ sự giết hại, đảm bảo sự trong sạch của mình, sự hạnh phúc của người khác, lìa bỏ sự gian dối, lời thêu dệt, lời độc ác, lời chia rẽ, tâm oán thù và tạo dựng nhịp cầu cảm thông, hiểu biết lẫn nhau, cuối cùng tránh xa con đường trụy lạc cũng như tàn phá cuộc sống lành mạnh. Cha mẹ cũng cần khuyến khích con trẻ nên chú ý đến truyền thống tâm linh như: đi chùa lễ Phật, học hỏi giáo lý…Bên cạnh đó, các dịp lễ giỗ ông bà tổ tiên cũng là lúc mọi người ôn lại kỷ niệm, tưởng nhớ người đã qua… Phật giáo còn khuyến khích bậc cha mẹ nên áp dụng Phật Pháp vào đời sống thường nhật, từ đó con cái cũng sẽ cảm nhận sự chuyển hóa sống động từ cha mẹ. Chắc chắn chúng muốn cha mẹ giàu lòng cảm thông, hiểu biết, gần gũi và yêu thương hơn.

Khởi đi từ đạo lý duyên khởi, Phật giáo vẫn giữ lý trung đạo, đồng thời khuyến khích cha mẹ nên thay đổi quan niệm hay lập trường khô cứng, kiên nhẫn và lắng nghe sự thố lộ từ con cái, lắng nghe nhưng không bình phẩm, không phân tích hay quyết đoán một cách vội vả, từ đó cha mẹ sẽ dễ dàng cảm thông và hiểu được ý muốn của con cái mà kịp thời khuyên bảo, chỉ dạy. Cũng từ đạo lý này, Phật giáo khuyến khích cha mẹ nên hướng dẫn con cái ý thức rỏ ràng trong mối tương quan, sự quan hệ mật thiết giữa mình và muôn loài, từ đó con cái sẽ trao dồi ý niệm trong lĩnh vực đạo tâm, đạo tình và đạo nghĩa. Đạo nghĩa, Phật giáo muốn nhấn mạnh nghĩa vụ thiêng liêng giữa con trẻ với quốc gia, xã hội; đạo tình nghĩa là bày tỏ thái độ tôn kính hay mối tương quan với tình người, tình đồng loại, tình ông bà, tình cha mẹ, tình anh chị em, tình thầy trò, tình đạo bạn…; đạo tâm, cội nguồn đức hạnh cần được vun bón.

Ngoài ra, qua truyền thống “Vu Lan Báo Hiếu”, Phật giáo muốn phát đi một thông điệp rằng, bổn phận con cái (thế hệ sau) phải giữ tròn hiếu đạo đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Theo quan niệm Phật giáo, hiếu đạo không phải là một di sản riêng tư mà một nghĩa vụ thiêng liêng. Bởi lẻ, trên thế gian này, không ai là không do cha mẹ sinh ra. Nhìn lại tấm thân mà chúng ta đang có phải chăng đó chính là sự kết tinh bằng xương, bằng thịt, bằng máu và bằng hy sinh cao cả của cha mẹ. Chúng ta nên hiểu rằng, nếu không do công ơn trời bể của cha mẹ thì làm sao chúng ta có mặt trên cỏi đời này? Cha mẹ không những hy sinh một phần máu thịt mà còn đánh đổi cả một quãng đời gian khổ, chịu đựng bao đắng cay khó nhọc, hiến dâng gần trọn cuộc sống, tốn biết bao mồ hôi, nước mắt, sức lực, để cưu mang, hoạn dưỡng, dạy dỗ cho con nên người, trở thành những người hữu dụng cho nhân quần, cho xã hội. Điều Phật giáo muốn nhắn nhủ với bậc làm con rằng, sự hy sinh của cha mẹ không giới hạn, không vụ lợi, cha mẹ tuyệt đối quên mình vì con. Tình cảm mà cha mẹ đã dành cho con là thứ tình cảm thiêng liêng không có tình nào trên đời có thể so sánh. Do đó, báo đáp công ơn của cha mẹ cũng chính bổn phận thiêng liêng cao quý, một nghĩa vụ không thể thiếu mà bậc làm con phải thực thi cho bằng được. Đúng ra, hiếu đạo không phải là bổn phận mà là diễm phúc chỉ có những người con đức hạnh mới cảm thông và thấu hiểu điều đó một cách sâu sắc.

Công cha nghĩa mẹ cao dày
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ
Nuôi con khó nhọc đến giờ
Đáp đền ơn nặng như là trời cao

Nhịn cơm vóc mẹ hao gầy
Cạn dòng sửa ngọt những ngày ấu thơ
Năm canh mở mắt lờ đờ
Ru con mẹ hát ấu ơ nảo nùng

Dí dầu cầu ván đống đinh
Cầu tre lắc lẻo rập rình khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học mẹ đi trường đời

Nuôi con buôn tảo bán tần
Chỉ mong con lớn nên thân với đời
Mỗi khi trái nắng trở trời
Con đau là mẹ đứng ngồi không yên
Cuộc đời vất vả triền miên
Chạy lo bát gạo đồng tiền nuôi con


Cha mẹ ân thâm tựa đất trời
Nuôi con khó nhọc khổ đầy vơi
Mở vòng tay lớn nuôi con trẻ
Hướng dẫn con đi suốt cuộc đời
Nhớ lại năm nào khi con mở mắt chào đời,
Cha mẹ là người cho con từng nụ cười tiếng khóc.
Khi con biết đòi ăn,cha mẹ là người móm cho con từng muỗng cháo.
Khi con biết đòi ngũ,cha mẹ là người thức hát thâu đêm.


Trên đây là những câu ca dao, tục ngữ, thơ văn Việt-nam nhằm ca ngợi sự hy sinh cao cả của cha mẹ. Riêng đối với Phật giáo, đức Phật cũng từng dạy:

“Ơn cha lành cao như núi thái
đức mẹ hiền sâu tận biển khơi
dù cho dâng trọn cuộc đời
cũng tra hết ơn người sanh ra”.
(Kinh Tâm Địa Quán)


Trong kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Trọng Ân, đức Phật kể ra mười công đức của mẹ đối với con:

1. Chín tháng cưu mang khó nhọc, giữ gìn thai giáo chu đáo

2. Cam chịu đau đớn, không màng gớm ghê khi sanh đẻ

3. Can tâm nuôi dưỡng con khôn lớn

4. Ăn đắng cay, nhường bùi ngọt cho con

5. Nằm chổ ướt, nhường chổ khô cho con

6. Sú nước nhay cơm cho con

7. Không chê ô uế, giặt đồ dơ cho con trẻ

8. Lo lắng, trông đợi khi con đi vắng

9. Có thể gây nên tội vì sự sung sướng của con

10. Chịu đói lạnh để con được ấm no, thanh nhàn.

Ý thức công ơn sâu thẳm của cha mẹ, Phật giáo khuyên nhủ bậc làm con nên báo đáp thâm ân nuôi dưỡng. Con muốn báo đáp công ơn của cha mẹ, đức Phật dạy có năm điều:

1. Cung kính, thương yêu và vâng lời cha mẹ dạy bảo

2. Hết lòng chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ

3. Giữ gìn thanh danh và truyền thống gia đình

4. Bảo vệ, phát huy tài sản do cha mẹ trao truyền

5. Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời

(Kinh Trường Bộ)

Ngoài ra, muốn báp đáp công ơn của cha mẹ, người con cần phải hướng tâm phục thiện, giữ gìn Tam Quy, Ngũ Giới, siêng năng tu học và phụng sự Tam Bảo, bố thí, cúng dường, làm phước, hồi hướng công đức cho cha mẹ, noi gương hiếu hạnh của tôn giả Mục Kiền Liên, khuyến khích cha mẹ kính tin Tam Bảo, lìa bỏ ác nghịêp, thực hành chánh pháp, phát huy đạo hạnh giải thoát theo tinh thần Phật dạy. Nói chung, bậc làm con muốn báo đền công ơn cha mẹ, với bản thân phải rèn luyện tu tập, với cha mẹ phải cung kính vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ qua hai phương diện vật chất và tinh thần.

Tóm lại, muốn giảm bớt thảm họa lo âu về thiên tai, ách nạn, khủng bố, binh đau khói lửa, chiến tranh tàn khốt, con người phải gạt bỏ lòng oán thù, sân hận, tham lam và ích kỷ, sử dụng lợi thế vật chất để điểm tô cho đời sống thường nhật, nâng cao đức hạnh và tâm linh đạo đức. Muốn có tâm linh đạo đức, con người cần thực hành lời Phật dạy xuyên qua truyền thống “Vu Lan Báo Hiếu” ở phật giáo. Truyền thống này được coi là cửa ngỏ đạo hạnh, nhóm lửa từ tâm và cũng là khuôn vàng thước ngọc để hai thế hệ trước (cha mẹ) và sau (con cái) cùng trao truyền mật thiết trong bổn phận và trách nhiệm với nhau trên tiến trình tu học. Nếu bậc cha mẹ và con cái áp dụng đúng theo tinh thần Vu Lan Báo Hiếu ở phật giáo thì truyền thống này sẽ càng thêm mặn mà, khởi sắc và mang đầy đủ ý nghĩa, đồng thời, nhà nhà sẽ được an vui, thế giới sẽ được thái bình, thạnh trị.

Vu Lan, mùa hiếu hạnh PL:2549 DL:2005

Thích Thiện Đạt

Chân Trân
27-08-2005, 12:01 AM
CẢM TƯỞNG VỀ NGÀY LỄ VU LAN


Vu Lan Thắng Hội, một lần nữa lại trở về. Vu Lan ngày hiếu truyền thống thật sự đã trở thành ngày đẹp nhất của nghĩa sống, tình người. Gương Hiếu Hạnh của Bồ Tát Mục Kiền Liên đã khắc sâu vào lòng dân tộc Việt của chúng ta, một bản sắc đậm đà ân tình nghĩa cảm:


Trung nguyên ngày hội Vu Lan

Bến giác chiều thu sóng đạo ngàn

Những ai là kẻ mang ơn nặng

Đều vận lòng thành đón Vu Lan.


Vu Lan đã về, nhắc nhở những người con Phật chúng ta phải luôn luôn tưởng nhớ đến công đức sanh thành. Khi xưa, lúc Đức Phật còn tại thế, Ngài thường dạy cho Tôn giả Mục Liên và các đệ tử rằng: "Làm người đệ tử Phật có đức hiếu thuận, phải thường xuyên ghi lòng tạc dạ công ơn cha mẹ đời này cho đến cha mẹ bảy đời. Mỗi năm vào ngày rằm tháng bảy, hãy nên làm lễ Vu Lan Bồn, cúng dường Đức Phật và chúng tăng, để báo ơn sanh thành nuôi dưỡng của cha mẹ, cầu cho cha mẹ sống lâu trăm tuổi và sau khi mạng chung được sanh vào cõi lành". Trong kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật dạy rằng:


"Cha lành ơn cao như non Thái

Mẹ hiền ơn sâu như biển cả

Nếu ta ởđời trong một kiếp

Nói ân mẹ hiền không thể hết."


Thật vậy! Ngôn ngữ trần gian làm sao diễn tả hết được thâm ân Cha Mẹ. Cha Mẹ là người đã ấp ủ chúng ta từđầu nguồn cuộc sống bằng cả tinh thần và thể chất của mình, ân sâu của mẹ chín tháng cưu mang. Người Mẹ đã chuyển sang cho con những dòng sữa ngọt ngào với trọn tình yêu thương trìu mến.

Công dưỡng dục của Cha ra công khó nhọc chắc chiu dành dụm tạo cho con vóc dáng hình hài và hầu như toàn bộ hành trang vào đời của con là thuộc về cha mẹ. Suốt cả cuộc đời của Cha Mẹ đã hao tốn bao tâm lực và công sức để mong sao các con được nên người. Vậy mà trong chúng ta đây có những người đã vô tình hay cố ý chưa một lần nào để tâm đến; và họđã trở thành những đứa con bất hiếu không nhìn thấy ân đức cao như núi vời vợi của cha, không cảm nhận được tình thương rộng như biển cả của mẹ, để rồi chỉ thấy trước mắt những nấc thang danh vọng, chỉ biết chạy theo cồn cát tài sản thú vui của trần thế, mãi đắm chìm trong ái dục -

Những thứ tình cảm tương giao trong xã hội, mãi mê đuổi bắt những ảo ảnh mong manh trong cuộc sống, những đứa con bất hiếu ấy đã bao lần làm khổ cha mẹ, có khi chỉ biết nồng nàn với chồng, ngọt ngào với vợ, âu yếm với con, hỷ hả với bạn, nhưng than ôi lại cay đắng lạnh lùng với mẹ, hằn học với cha!


Kính lạy Phật, Kính lạy chư Hiền Thánh Tăng!


Chúng con xin nguyện từ bỏ những ngôn từ, những cử chỉ bất nhân bất nghĩa ấy, chúng con xin nguyện đời đời được làm con thảo cháu hiền thờ kính cha mẹ.


Chúng con sẽ luôn ý thức được rằng: Trong mọi thứ tình cảm của thế gian, tình thương của cha mẹ là một tình thương thiêng liêng vô hạn và không thể tìm lại được khi đã mất rồi.


Vi vu hiu hắt thu phong

Chạnh lòng hiếu đạo trong lòng xót xa

Công Cha Nghĩa Mẹ đậm đà

Mảy may chưa đáp lệ sa đôi hàng.


Nhân mùa báo hiếu, chúng con thành kính dâng lên chư Tôn đức tâm hương thể đức giới hạnh song toàn, xin trên quý Ngài hoan hỉ tiếp nhận những đóa hồng tình mẹ để sáng soi gương hiếu hạnh cho đời, và nguyện cầu cho cha mẹ hiện tiền được an vui trường thọ, cha mẹ bảy đời quá vãng được siêu sanh lạc quốc.


Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát