View Full Version : thơ HÀN MẠC TỬ
Tịnh Ngọc
10-07-2005, 09:56 PM
http://thanhtung.com/gallery/albums/userpics/10002/hmt_25.jpg
Hàn Mặc Tử
(1912-1940)
Nhà thơ với cuộc đời đau thương có một không hai này, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 ở Lệ Mỹ (Đông Hới). Ông làm thơ từ thuở nhỏ. Lấy hiệu là Phong Trần và Lệ Thanh, trong những năm 16 tuổi. Vốn ở Qui Nhơn từ nhỏ. Cha mất sớm, nhà nghèo. Học đến năm thứ ba ở trường Qui Nhơn, kế đó mắc bịnh hủi, đưa vào nhà thương Qui Hòa rồi mất ở đó, ngày 11-10-1940.
Ông từng chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử.
Đã đăng thơ: Phụ Nữ Tân Văn, Saigon, Trong Khuê Phòng, Đông Dương Tuần Báo, Người Mới.
Đã xuất bản: Gái quê (1936), Thơ Hàn Mặc Tử (1959) gồm có: Thơ Đường Luật, Gái Quê, Đau Thương, Xuân Như Ý.
Tất cả các thi phẩm nầy được nhà xuất bản Tân Việt in lại (1959). Càng ngày thơ Hàn Mặc Tử càng được phổ biến rộng và có nhiều người say sưa. Phần nhiều những người mê thơ Hàn Mặc Tử, lớp thanh niên ngày nọ... thường lê thê lếch thếch ở cá hè quán dơ bẩn và điên loạn... họ điên loạn để tỏ ra giống Hàn Mặc Tử, họ bày đặt đau thương khốn đốn, thơ thì dùng chữ cho sáo, cho kêu, tiếc rằng không tìm được một HànMặc Tử thứ hai để cho mình chiêm ngưởng.
Ngày nào còn bình tỉnh tôi chỉ thích đọc thơ Xuân Diệu, thơ Lưu Trọng Lư với những linh hồn sầu mộng muôn đời đó, cũng như những người làm thơ hôm nay... cái nhẹ và cao sâu của Trần Dạ Từ, Đỗ Qui Toàn và những bài thơ lục bát của Trần Đức Uyển vậy... nhưng, lúc tỉnh cũng như lúc điên... giòng thơ Việt với đôi hình sắc lạ thường rẻ thành hai nẻo... cùng hướng vọng về ân sủng của Thượng Đế, chỉ có Huy Cận ngày xưa, không cầu mong Thượng Đế điều gì, vì thi nhân mang cả cái linh hồn trần gian nầy mà trả lại cho Người. Nhưng đến lúc sầu hận điên đảo khôn nguôi, tôi trở về với Ôn Như Hầu... với Chế Lan Viên... và nhất là với Hàn Mặc Tử. Thơ không vốn để vỗ về lấy đau thương của ai cũng không phải để nói lên cái đau khổ, mà để tạo lập một vũ trụ một cõi mới lạ... điều nói của Loài Người cả đấy thôi... thì dù ở đâu, ở hoang đảo nào, ở một thế giới nào đi nữa, chúng ta vẫn cắm lều cô độc, chúng ta vẫn đến cái đỉnh chót vót của tâm hồn tẻ quạnh của ta và chừng đó hoặc là trở về cô độc bằng thái độ sống, nếu không, thì chúng ta sẽ điên, điên như Chế Lan Viên, kinh dị như Hàn Mặc Tử và sau này trên một nguồn đó còn có nhà thơ Viên Linh với Hóa Thân xuất bản vừa rồi.
Nhà thơ đi lọc ánh sáng để gieo vần, đơn độc đẩm mình trong suối ngọc cỏ thơm, trong niềm đau thương xô đẩy đến một thế giới trăng sao lộng lẫy. Thi ca là nguồn suối ở trên cõi siêu hình đảo lộn cả mọi suy tưởng đậm đà của tình nhân gian sầu mộng. Ở đó chỉ có linh hồn thi nhân và trân châu ngọc bích của Thượng Đế. Ở đó sự kỳ lạ được nhà thơ điểm vào óng ánh tinh khí, thực thể trơ thành huyền hoặc lý lẽ cõi đời không có đất nẩy mầm, cõi điên loạn dị thường được soi trong cặp kính của một vì Sáng Thế, được gảy bởi cung đàn thiên tiên bất tuyệt.
Từ lắng nghe niềm đau thương vọt máu của sự tình đến khao khát ân ái của nhục thể, từ lang thang cô đơn ở trong xã hội gọi là chỗ hợp quần này tương trợ và thông cảm này... rốt lại chỉ còn vò võ từng đêm, hoảng hốt và đau buốt xương da từng đêm trong bệnh viện Qui Hòa. Từ cõi bị đày này, thi nhân xưa vẫn là người tiên ở thượng giới cho đến cõi tạm bợ đày đọa này, rồi lại bị đày thêm lần nữa ở một vũng cô liêu cũ vạn đời...
Với niềm đau thương của Hàn Mặc Tử người đời còn có thể nhắc tới. Nhưng tiếc rằng nhắc tới để cảm thấy một cuộc đời rất là say đắm... rất là khốn cùng... rất là thơ mộng!!! Chứ nào ai đã cảm nhận một người đó vượt khỏi cái âm u, hoang lạnh của hư vô bủa vây trùng điệp... đen tối mịt mù như thứ mê hồn trận. Những giờ phút tê điên hồn phách, sượng sùng xương da, ở giữa một căn nhà với ngọn nến, trông ra bốn bể đêm tối bủa vây, bãi tha ma hoang lạnh. Linh hồn kinh dị đến tột cùng, choán ngộp cơ hồ nghẹt thở... đau đớn bốc dậy cùng từng sớ thịt, từng đường gân, từng mạch máu, từng phút từng lo âu và khẩn nguyện.
Như một kẻ lâm vào ác mộng, vũ trụ quay cuồng, vang vọng đến tiếng gọi rợn người của tử thần rình rập. Cựa quậy khôn thoát, cuối cùng thể xác đành ngã gục... đành tê điên, đành tan rả, nhưng linh hồn Người đã đến một nơi cư ngụ bình yên... Trong đời ta, ít nhất là ta đã va chạm một lần với cái chết khủng khiếp, ta mê cuồng và thét gọi; ta điên đảo và bấu víu vào đời sống này một cách vừa bi thảm vừa run sợ. Ít nhất là như thế... ta mới cảm thông với một người trải nhiều ác mộng, luôn luôn thấy bàn tay lông lá của tử thần vương đến chụp xuống đầu cổ, vò bóp xương da. Cuộc chiến đấu bất lực của con người với định mệnh ác nghiệp, cuộc chiến đấu giữa thể xác tanh hôi ghì kéo linh hồn chìm ngập trong đó, và ý chí thi bay vượt lên, điểm linh hồn với cõi trú ngụ mông lung mù mịt của thế giới trăng sao huyền hoặc của tho Người.
Thơ Hàn Mặc Tử không nên đọc trong lúc bình tỉnh vì nó sẽ dẫn ta vào chơi vơi hoang đảo trong đêm biển mù tăm. Nhưng lúc quá đau thương, ta vào cõi thơ của người để mà lảo đảo, hít làn tinh khí trăng sao, của hoa trái thanh tân, nhìn thấy ngất trời tinh đẩu, với nỗi đau đớn lạ thường, cảm giác lạnh tê. Ở đó, ta chịu nhận hồn ta vào cõi vô cùng nọ, ta cùng lùa ánh sáng như lùa một thứ tình mộng, như lù những làn sóng trong ngần của bầu trời tinh mơ, của biển vàng rực rỡ. Ta sẽ vơi bớt nỗi đau đớn mà cảm thấy một hồng ân, bánh mật của Thượng Đế. Và kẻ nào từ chối thứ bánh mật đó, từ chối mọi ân sủng thiêng liêng đó... cũng đứng lên than vãn cõi đời ô trọc làm chi nữa, đừng tìm làm chi nữa hạnh phúc ở trong cõi trần này. Nếu có gan liều phó mặc với triều sóng thời gian đẩy ra khơi mãi thì đừng đọc thơ Hàn Mặc Tử nữa, sẽ tự dựng lấy một thế giới riêng, ở đó mặc tình vùng vẫy.
Nói về thơ Hàn Mặc Tử, ngẫm nghĩ lại, mình không nói được gì cả... bao nhiêu lời từ trước đến giờ như là cây mục, như là cỏ khô... bởi vì thơ người quá ư tràn trề ánh sáng, nhưng lúc tắm trong vùng ánh sáng nọ, thoát nó lại biến mất... lúc ta ngỡ thơ chàng là ánh sáng thái dương thì thơ chàng lại là vầng trăng thiên cổ... lúc ta nắm được linh hồn, nắm được bản chất thơ của Người ở cõi đời này... thì thơ chàng đâu có... mà ta cầm nắm đâu, vì:
Người thơ chưa thấy ra đi nhỉ?
Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ.
Và chân lý mà ta thấy được ở tận cõi xa mù nào... không thể hiểu nỗi nữa
Trần Tuấn Kiệt
http://thanhtung.com/gallery/albums/userpics/10002/normal_hmt_26.jpg
Âm Nhạc
Tinh hơn đồng trinh
Hừng qua hừng đông
Em mình nghe không
Im chưa nên đông
Say chưa ra lòng
Đều ngâm giấm cả.
Màu nào sắp rã
Vồng nào sắp cao
Ánh nào tương giao
Muôn thương đều lắng
Nhấn nào khăn khắn
Nhịp nào âu lo
Em hãy cầu cho.
Tinh hơn đồng trinh
Hừng quá hừng đông
Em mình nghe không?
Nhạc vàng tỏ rõ
Như sao trên trời
Đem nguyền ra phơi
Đem phần ra phơi
Ân tình tri ngô.
Trước đời trăng lên.
Em hãy làm duyên
Em cứ y nguyên
Đàn rơ tơ riết
Cả lòng đam mê.
In hình tưởng nhớ
Như tuồng ai ra
Như tuồng lân la
Đâu đây quyến luyến
Đố Nàng gần xa.
Màu không thấy ửng
Mùi qua linh thiêng
Những cốt cách tiên
Thảy đều cảm biết
Khi lòng xin thương
Lên gần đài Trăng
Hương ráng sức hương
Bừng bừng cao trăng.
Dâng lên quá trí
Qúa giải Hàn Giang
Đố Nàng nói sao.
Trong nụ cười nao
Trong búp hoa nào
Có gì phôi thai.
Sao vấn vương hoài
Sao đầm hơi thơ?
Hương đầm hơi nhớ
Hương đầm hơi quen
Đố Nàng hay em.
Tịnh Ngọc
10-07-2005, 09:57 PM
Âm Thầm
(Trong tập thơ "Gái Quê")
Từ gió xuân đi gió hạ về,
Anh thường gởi gắm mối tình quê
Bên em, mỗi lúc trên đường cái,
Hóng mát cho lòng được thỏa thuê.
Em có ngờ đâu trong những đêm
Trăng ngà giãi bóng mặt hồ êm,
Anh đi thơ thẩn như ngây dại,
Hứng lấy hương nồng trong áo em...
Bên khóm thùy dương em thướt tha.
Bên nây bờ liễu anh trông qua,
Say mơ vướng phải mùi hương ướp,
Yêu cái môi hường chẳng nói ra...
Độ ấy xuân về em lớn lên,
Thấy anh em đã biết làm duyên.
Nhưng thời gian vẫn trôi đi mãi,
Yêu dấu lòng anh ôm hận riêng.
Tịnh Ngọc
10-07-2005, 09:58 PM
Anh Điên
Anh nằm ngoài sự thực
Em ngồi trong chiêm bao
Cách nhau xa biết mấy
Nhớ thương quá thì sao?
Anh nuốt phứt hàng chữ
Anh cắn vỡ lời thơ
Anh cắn cắn cắn cắn
Hơi thở đứt làm tư!
Tịnh Ngọc
10-07-2005, 09:58 PM
Ave Maria
Như song lộc triều nguyên: ơn phước cả,
Dâng cao dâng thần-nhạc sáng hơn trăng.
Thơm-tho bay cho đến cõi Thiênđdàng
Huyềnđiệu biến thành muôn kinh trọng-thể.
Và Tổng-lãnh Thiên-thần quỳ lạy Mẹ.
Tung-hô câu đường-hạ ngớp châu sa.
Hương xông lên lời ca ngợi sum-hòa:
Trí miêuđuệ của muôn vì rất thánh.
Maria! Linh-hồn tôi ớn lạnh,
Run như run thần-tử thấy long-nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng...
Nhưng lòng vẫn thấm-nhuần ơn trìu-mến.
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn
Giàu nhânđdức, giàu muôn hộc từ-bi,
Cho tôi dâng lời cảm-tạ phò nguy
Cơn lâm-lụy vừa trải qua dưới thế.
Tôi cảmđdộng rưng-rưng hai dòng lệ:
Dòng thao-thao như bất-tuyệt của nguồn thơ.
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua,
Trí tôi hớp bao nhiêu là khí-vị.
Và trong miệng ngậm câu ca huyền-bí,
Và trong tay nắm một vạn hào-quang...
Tôi no rồi ơn võ-lộ hòa chan.
Tấu lạy Bà, Bà rất nhiều phép lạ,
Ngọc Như-Ý vô-tri còn biết cả,
Huống chi tôi là Thánh-thể kết tinh
Tôi ưa nhìn Bắcđdẩu rạng bình minh,
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế-giới...
Sáng nhiều quá cho thanh-âm vời-vợi,
Thơm dường bao cho miệng lưỡi khong-khen.
Hỡi Sứ-thần Thiên-Chúa Gabriel,
Khi người xuống truyền tin cho Thánh-nữ,
Người có nghe xôn-xao muôn tinh-tú,
Người có nghe náođdộng cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca-tụng, -- bằng hương hoa sáng-láng,
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng,
Một đêm xuân là rất đỗi anh-linh?
Đây rồi! Đây rồi! Chuỗi ngọc vàng kinh.
Thơ cầu-nguyện là thơ quân-tử ý,
Trượng-phu lời là Tôngđdồ triết-lý,
Là Nguồn Trăng yêu-mến Nữ Đồng-Trinh
Là Nguồn Đau chầu lụy Nữ Đồng-Trinh.
Cho tôi thắp hai hàng cây bạch-lạp,
Khói nghiêm-trang sẽ dân lên tràn ngập
Cả Hàn-giang và màu sắc thiên-không,
Lút trí khôn và ám-ảnh hương lòng
Cho sốt-sắng, cho đe-mê nguyền-Ước...
Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn-phước,
Cho tình tôi nguyên-vẹn tợ trăng rằm,
Thơ trong-trắng như một khối băng-tâm,
Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu,
Cho vỡ-lở cả muôn ngàn tinhđdẩu,
Cho đê-mê âm-nhạc và thanh-hương,
Chim hay tên ngọc, đá biết tuổi vàng,
Lòng vua chúa cũng như lòng lê-thứ
Sẽ ngây-ngất bởi chưng thơ đầy ứ
Nguồn thiêng-liêng yêu-chung Mẹ Sầu-Bi
Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu,
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều-thiên ngời chói vạn hào-quang ?
Tịnh Ngọc
10-07-2005, 09:59 PM
Bài Cửa Sổ Đêm Khuya
Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương
Tha thướt liễu in hồ gợn bóng
Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
Qua lại yến ngàn dâu ủ lá
Hòa đàn sẵn có dế bên tường.
Tịnh Ngọc
11-07-2005, 08:36 PM
Bắt Chước
Để cho hoa gió thì thào
Để cho mây nước nôn nao
Quên câu thương nhớ rồi sao
Em ơi thế nghĩa là sao
Khi hương thơm kề lỗ miệng
Khi tình mới chạm vào nhau?
Em ơi thế nghĩa là sao?
Trăng đang nằm trên sóng cỏ.
Cỏ đùa trăng đến bên ao
Trăng lại đẫm mình xuống nước
Trăng nước đều lặng nhìn nhau...
Đôi ta bắt chước thì sao?
Tịnh Ngọc
11-07-2005, 08:37 PM
Bến Hàn Giang
Này đây lời ngọc song song
Xin dâng muôn sóng tơ đồng vơi vơi
Xin dâng này máu đang tươi
Này đây nước mắt giọng cười theo nhau
Mới hay phong vị nhiệm màu
Môi chưa nhấp cạn, mạch sầu đã tuôn
Ớ Địch ơi, lệ có nguồn
Hãy chia bớt nửa nỗi buồn sang tôi
Hôm nay trời lững lơ trời
Dòng sông ánh sáng sẽ trôi hoa vàng
Tôi ngồi ở bến Hàng Giang
Khóc thôi mây nước bàng hoàng suốt đêm.
Tịnh Ngọc
11-07-2005, 08:38 PM
Bẽn Lẽn
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi.
Trong khóm vi vu rào rạt mãi
Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẻn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em.
Tịnh Ngọc
11-07-2005, 08:39 PM
Buồn Ở Đây
Rao rao gió thổi phương xa lại
Buồn đâu say ngấm áo xuân ai
Lay bay lời hát, ơ buồn la.
E buồn trong mộng có đêm nay.
Nắng sao như nắng đời xưa ấy
Nắng vàng con mắt thấy duyên đâu
Muốn gởi thương về người cổ đô.
Mà sao tình chẳng nói cho đau.
Chiều xưa khúc nhạc nóng ran lên
Không có ai đi để lỗi thuyền
Nguồn thơ ứa mãi hai hàng lê.
Tờ giấy hoa tiên cũng ướt mèm.
Tịnh Ngọc
15-07-2005, 05:49 AM
Buồn Thu
Ấp úng không ra được nửa lời
Tình thu bi thiết lắm thu ơi!
Vội vàng cánh nhạn baay đi trớt
Hiu hắt hơi may thoảng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn trùng sương tỏa, cây e lạnh
Chỉ có thông kia chịu với trời.
Tịnh Ngọc
15-07-2005, 05:50 AM
Bút Thần Khai
Ngọn bút thần khai phước lộc nhà
Sáng như gươm báu, lạnh như ma
Mực lùa khí vị vô hồn chữ,
Văn bút hào quang ở miệng ta.
Giấy trắng tinh khôi, tuôn huyết mạch,
Lời vàng nguyên vẹn trổ tài hoa.
Ấm hơn tiếng nhạc reo trong ý,
Thơ đợi xuân về phát tiết ra.
(Xuân Như Ý)
Tịnh Ngọc
15-07-2005, 05:51 AM
Các Bài Thơ Về Cúc
Vịnh Hoa Cúc
Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa
Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha
Vẻ mặt khác chi người quốc sắc
Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta.
Trồng Hoa Cúc
Thích trồng hoa cúc để xem chơi
Cúc ngó đơn sơ, lắng mặn mòi
Đêm vắng gần kề say chén nguyệt
Vườn thu vắng vẻ đủ mua vui.
Hồn Cúc
Bấy lâu sát ngõ, chẳng ngăn tường
Không dám sờ tay sợ lấm hương
Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá
Muốn ôm hồn cúc ở trong sương.
***Người tình đầu tiên của Hàn Mặc Tử tên Hồng Cúc.
Tịnh Ngọc
15-07-2005, 05:52 AM
Chơi Lên Trăng
Tôi đi trong ánh sương mờ
Tìm con trăng lạc ngoài bờ bên kia
Xứ yêu bát ngát, tôi lìa
Dò xem ý tứ ban khuya, tôi liều
Tôi gò mây lại
Tôi tìm sao bay
Gió nào tràn ngập xứ này
Và tràn ngập cả những ngày xa xôi
Không trào nước mắt không thê thảm
Tôi dọa không gian, rủa tới cùng
Tôi khát vô cùng
Tôi riết thời gian trong nắm tay
Tôi vo tiếc mến như vo lụa
Cất tiếng cười ròn xao động vùng mây.
Tôi nhập hồn tôi trong khúc hát
Để nhờ không khí đẩy lên trăng
Để nghe tiếng nhạc Nghê Thường trổi
Để hớp tinh anh của nguyệt cầu
Và để thoát ly ngoài thế giới
Để cười, để trững, để yêu nhau.
Lên chơi cung Quế lần đầu
Ôi phép lạ, ôi nhiệm màu
Vườn tiên sáng láng như lòng người thương.
Tịnh Ngọc
15-07-2005, 05:53 AM
Cao Hứng
Tôi làm trăng cổ độ,
Lượng đất trời bao la
Tôi làm Tô Đông Pha
Đàn tương tư lạc điệu.
Thơ tôi thương huyền diệu.
Mọc lên đạo từ bi,
Tôi bắt chước Hi Di
Ngủ một trăm ngày dậy.
Xem mặt trời đang cháy
Là điềm có tiên tri
Tôi thấy nàng Tây Thi
Giặt sa trên bàn thạch.
Tôi yêu trời nguyệt bạch,
Tôi say màu thanh thiên,
Tôi ưng ả thuyền quyên
Ở trong pho tình sử.
Cho tôi hoa đền ngự,
Cho tôi lòng ni cô,
Xuân trên má nường Thơ
Ngon như tình mới cắn.
(Đau Thương)
Tịnh Ngọc
19-07-2005, 10:34 PM
Chùa Hoang
Mái sụp, tường siêu, khách ngẩn ngơ,
Hỏi thaVắng sư, bụt đã toan hồi tục;
Lạnh khói hương cây sắp thoát chùa.
Hoành cổ nhện giaBình phong rêu bám đứng chơ vơ.
Tiếng chuông tế độ rầy đâu tá ?
Để khách trầm luân luống đợi chờ !
Chuỗi Cười
Lá đổ rào rào ,
Trăng vàng xôn xao.
Chuỗi cười ha hả.
Trên cánh đồi cao.
Gió thổi vi vu ,
Thành quách hoang vu.
Chủ nhân đi vắng ,
Tiếng gươm rừng thu.
Hứng lấy sao băng !
Hứng lấy sao băng !
Ơi chàng võ sĩ
Máu đào đương hăng !
Lá đố rào rào ,
Trăng vàng xôn xao.
Chuỗi cười ha hả ,
Trên cánh đồi cao.
Khói bỏ tần không ,
Lửa dậy trong lòng.
Ô hay tráng sĩ ,
Dừng mãi bên sông.
Lời ca Chiêm nữ
Tản với sương lam.
Lời ca thống thiết
Khóc chinh phu Chàm.
Lá đổ rào rào ,
Trăng vàng xôn xao.
Chuỗi cười ha ha?
Trên cánh đồi cao.
Mầu sắc thắm kêu ,
Niềm ý như reo.
Anh hùng thiên hạ.
Hiểu gì chữ "yêu" ?
Hứng lấy sao băng !
Hứng lấy sao băng !
Ơi cô sơn nữ ,
Hết gì ánh trăng ?
Lá đổ rào rào ,
Trăng vàng xôn xao.
Chuỗi cười ha hả.
Trên cánh đồi cao...
Tịnh Ngọc
19-07-2005, 10:35 PM
Chuyến Đò Ngang
Chẳng hẹn hò sao gặp gỡ đây?
Người thời như tỉnh, kẻ như say
Trong veo làn nước soi đôi mặt
Xa tít quê nhà trỏ một tay.
Tâm sự mới trao, bờ đã đến
Nỗi niềm chưa cạn, khách về ngay.
Ba sinh duyên nợ âu là thế
Một chuyến đò đưa nghĩa một ngày.
Cô Gái Đồng Trinh
Đêm qua trăng vướng trong cành trúc
Cô láng giềng bên chết thật rồi
Trinh tiết vẫn còn nguyên vẹn mới
Chưa hề ấu yếm ở đầu môi.
Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc
Cả một cành xuân đã hiện hình
Thinh sắc cơ hồ lưu luyến mãi
Chết rồi - xiêm áo trắng như tinh
Có tôi đây hồn phách tôi đây
Tôi nhập vào trong xác thịt này
Cốt để dò xem tình ý la.
Trong lòng bí mật ả thơ ngây
Biết rồi, biết rồi! Thôi biết ca?
Té ra Nàng sắp sửa yêu ta
Bao nhiêu mơ ước trong tim ấy
Như chực xuân về thổ lộ ra.
(Đau Thương)
Tịnh Ngọc
19-07-2005, 10:36 PM
Cô Liêu
Gió lùa ánh sáng vô trong bãi
Trăng ngậm đầy sông, chảy láng lai.
Buồm trắng phất-phơ như cuống lá
Lòng tôi bát-ngát rộng bằng hai.
Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ,
Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ,
Tiếng rú hồn tôi xô vỡ sóng,
Rung tầng không-khí bạt vi-lô.
Ai đi lẳng-lặng trên làn nước,
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi?
Mà sao ngậm kín thơ đầy miệng,
Không nói không rằng nín cả hơi?
Chao ôi! Ghê quá trong tư-tưởng,
Một vũng cô liêu cũ vạn đời!
Chao ôi ghê quá! Chao ghê quá!
Cảm thấy hồn tôi ớn lạnh rồi!
Tịnh Ngọc
07-09-2005, 10:38 PM
Lầu ông Hoàng và mối tình nên thơ của Hàn Mặc Tử
"Lầu ông Hoàng đó, thuở xưa chân Hàn Mặc Tử đã qua...” - đó là câu hát nhiều người thuộc. Đó cũng chính là sự phổ biến đơn giản mà hiệu quả để ai cũng biết rằng: Hàn Mặc Tử từng đến Phan Thiết... Ngày nay Lầu ông Hoàng là một địa danh du lịch có tiếng ở Bình Thuận. Một khu đồi lộng gió biển, trên đồi ngoài dấu tích của căn lầu ngày ấy còn có nhóm Tháp Chăm Pô Shanư rất đẹp.
http://www.baocongantphcm.com.vn/image_upload_ANDL/news_15a-ANDLso3.jpg
Trời nước mênh mông ở khu vực Lầu ông Hoàng
Gần đó là một ngôi chùa có thể nhìn xuống là thấy ngay bến thuyền sầm uất... Công tước De Montpensier từ Pháp sang du lịch trên cửa sông Phú Hải - Phan Thiết, săn bắn và mê phong cảnh “sơn thủy hữu tình” của vùng này. Đầu năm 1911, ông đã cho xây dựng một biệt thự 13 phòng, hơn 500m2 và một hệ thống hầm ngầm chứa nước mưa (vì vùng này thời đó khan hiếm nước ngọt). Biệt thự được xây dựng xong, đêm đêm rực ánh đèn (từ máy phát điện riêng).
Dân chài từ biển nhìn vào, từ các làng nhìn lên thấy khu đồi rực ánh sáng ấy quá đẹp, họ gọi nôm na là “Lầu ông Hoàng”, cái tên ấy còn tận đến bây giờ. Đến tháng 7-1917 công tước De Montpensier bán lại cho một nhà giàu cũng người Pháp là Prasetts. Sau đó một khách sạn được xây dựng ở quả đồi bên cạnh, biến khu vực này thành một thắng cảnh mà hễ ai đến Phan Thiết cũng muốn ghé thăm.
Khoảng năm 1934 Hàn Mặc Tử từ Quy Nhơn vào Sài Gòn làm báo. Khi ấy cô nữ sinh Huỳnh Thị Nghệ 16 tuổi đang học tại École des pleins D’exercies Phan Thiết và thường gởi thơ vào Sài Gòn đăng báo với bút danh Mộng Cầm. Hàn Mặc Tử phát hiện thơ Mộng Cầm hay nên viết thư làm quen.
Từ đó họ quen nhau, yêu nhau. Cứ chiều thứ 7 Hàn Mặc Tử đi xe lửa ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Họ từng đưa nhau đến ngoạn cảnh ở Lầu ông Hoàng. Sau này khi Hàn Mặc Tử phát bệnh phong mối tình họ tan vỡ. Hàn để lại bài thơ “ Phan Thiết, Phan Thiết”, trong đó có những câu nhắc lại kỷ niệm với Mộng Cầm ở Lầu ông Hoàng: “... Ta lang thang tìm nơi chốn lầu trang; lầu ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang; Nơi đã khóc đã yêu thương da diết; Ối trời ơi là Phan Thiết Phan Thiết; mà tan thương còn lại mảnh trăng rơi...” (theo “Năm cô gái với cuộc đời thơ Hàn Mặc Tử - Chí Linh - NXB văn nghệ TPHCM 2004).
Trải qua các biến cố, chiến tranh đến nay Lầu ông Hoàng chỉ còn lại là một phần công trình, trông xa như một lô cốt phủ rêu phong giữa khu đồi um tùm cỏ dại. Hệ thống hầm ngầm còn khá nguyên vẹn cùng với dấu tích của những bao lơn hóng gió, nhưng tất cả đã hoang phế. Dù vậy khi leo đến đỉnh đồi, du khách vẫn choáng ngợp, mê mẩn trước cảnh quan quá đẹp, không khí trong lành lồng lộng gió biển.
Những người yêu văn chương thì có thêm những giây phút hoài niệm, nhớ về tình yêu, sự nghiệp của Hàn Mặc Tử - thi sĩ tài hoa bạc mệnh. Nếu được xây dựng, phục hồi, Lầu ông Hoàng chắc chắn sẽ là một địa danh du lịch thu hút nhiều hơn nữa du khách đến với Phan Thiết, Bình Thuận.
Tịnh Ngọc
07-09-2005, 10:41 PM
Hàn Mặc Tử và Chuá
Hàn Mặc Tử: một kiếp khổ đau!
Cách đây 65 năm, vào buổi trưa ngày 11 tháng 11 năm 1940, một người nằm xuống sau nhiều năm tháng đau đớn, nứt nở thịt da. Ông ta là bệnh nhân của trại cùi Qui Hòa mang số hiệu 1314. Trên cây Thánh giá trồng trên mộ phần của ông, ghi hàng chữ Phêrô Phanxico Nguyễn Trọng Trí. Đây chính là nhà thơ Hàn Mặc Tử.
Ông vừa giống lại vừa khác thế nhân chúng ta. Giống ở chỗ cùng mang kiếp nhân sinh, với thịt xương và một cấu trúc thần kinh cao đẳng, biết ăn, biết ngủ, biết cảm xúc, biết tư duy. Nhưng khác ở chỗ: Thế nhân chết đi thì rơi vào quên lãng, tĩnh mịch còn Hàn Mặc Tử chết rồi nhưng tiếng thơ còn mãi! Chúng ta chết rồi, linh hồn có thể còn khắc khoải chưa biết về đâu vì „không trang bị „ một niềm tin tưởng siêu linh, còn Hàn Mặc Tử thuở sanh tiền đã đối đầu và tôi luyện trong niềm đau khổ cực điểm nên linh hồn đã được thăng hoa trong một niềm tin vào Chúa!
Hàn Mặc Tử: Một linh hồn vượt hẳn cõi nhân gian!
Nhìn lại phong trào thơ mới ở Việt Nam khoảng 1932-1945, sự xuất hiện của tiếng thơ dồi dào và sâu đậm nhất trong khuynh hướng nói về cõi Chết, về siêu hình, nhất là về Chúa thì độc nhất có Hàn Mặc Tử .
Tập Thơ Điên của HMT khiến người đọc bỗng hoàn toàn rời khỏi cái thế giới thực tại của thế nhân đến nỗi Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam phải thảng thốt viết rằng:
Một tác phẩm như thế, ta không thể nói hay hay dở, nó đã ra ngoài vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn...Ta chỉ biết ta đương đứng trước một người sượng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình yêu...
Ông Hoài Thanh thú nhận rằng ông phải bỏ ra ròng rã „ngót một tháng trời“ để đọc toàn bộ thơ của HMT và ông „đã mệt lả“ (sic) (tr.205) . Kể ra thật đúng khi ta tìm gập rất nhiều câu thơ như sau:
Hồn của HMT không những chỉ vơ vưởng trong cõi vô hình mà nhiều lúc đã:
Cười như điên sặc sụa cả mùi trăng....
Gào thét một hồi cho rởn óc
Cả thiên đàng, trần gian và địa ngục
(Hồn là ai?)
Hồn có lúc lạc vào nơi thiên sầu, địa thảm giới Lâm bô, có lúc lại bay ra Ngoài vũ trụ để:
Tắm gội trong nguồn ánh sáng,
Ca những điệu ngọc vàng cao sang sảng.
Hoặc có lúc tinh khiết, nhẹ nhàng ngoài mức ngôn ngữ phàm tục :
Thượng thanh khí tiết ra nguồn tinh khí
Xa xôi đồi trăng mọc nước Huyền vi
Đây miên trường, đây vĩnh cửu, tề phi
(Đừng cho lòng bay xa)
Tịnh Ngọc
07-09-2005, 10:42 PM
Hàn Mặc Tử: một viên kim cương trong giòng thơ Kytô giáo ở Việt Nam!
Hàn Mặc Tử đã sống đạo, chết đạo và sáng tác thơ Đạo một cách tha thiết khiến nhiều người cho Tử là một “nhà thơ tôn giáo”, nhưng thực sự Tử đã vượt hẳn lên cái mục đích “truyền bá đức tin” của những thừa sai và giáo đồ trong giai đoạn tiên khởi ở Việt Nam. Thơ của HMT là một sự cảm nghiệm độc đáo! Đọc thơ Tử, người ta bèn thấy nguồn đạo trong thơ Tử không hạn hẹp với ý nghĩa một tôn giáo mà là một cái gì thuộc về hoàn vũ (universel).
Hoài Thanh trong cuốn Thi Nhân Việt Nam (1941) nhận định rất đúng rằng:
“Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng Baudelaire và qua Baudelaire, ảnh hưởng nhà văn Mỹ Edgar Poe, tác giả tập Chuyện lạ. Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường đến Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nưã cho gặp Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa.
Chính nhờ Thánh kinh và tinh thần Tin Mến Cậy sốt sắng vào Thiên Chúa. thơ Hàn Mặc tử đưa người đọc gần Chúa vô cùng!
HMT vướng vào bệnh cùi lúc tuổi còn trẻ đang lúc yêu đời. Bệnh này như một định mệnh đã đọa đầy Hàn Mặc Tử trong một vũng đau thương tuyệt vọng:
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
(Những giọt lệ)
Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bồi hồi ruột gan
(Muôn năm sầu thảm)
Hàn Mặc Tử trong bài "Hồn là ai" đã tự mô tả cái hành hạ thể xác bằng giọng thống thiết sau:
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
Dựa vào sự phát triển của bệnh cùi trong đời ông, ta thấy ba giai đoạn tương ứng trong thi nghiệp của ông:
1) Giai đoạn tiền bệnh: trước năm 1936 (nghĩa là trước lúc vô bệnh viện Qui Hòa (1937) ,đánh dấu bằng những tập " Đường luật" và "Gái Quê"với một giọng trong sáng, nồng thắm, yêu đời cuồng nhiệt, một khí lực phương cương dồi dào tính dục trong lứa tuổi đôi mươi.
2) Giai đoạn bệnh phát lộ đánh dấu bằng tập thơ "Đau Thương", "Thơ Điên" nên tiếng thơ thống thiết, cực kỳ bi thảm như một con chim biết rằng mình sắp chết. Thiên kiến của người đời xa lánh mình cọng vào đó sự đau khổ vì tình duyên trắc trở đã làm HMT càng đau khổ:
Lòng ta sầu thảm hơn mùa lạnh
Hơn hết u buồn của nước mây
Của những tình duyên thường lở dở
Của lời rên xiết gió heo may
3) Giai đoạn cuối cùng của Hàn Mặc Tử được định mốc bằng tập thơ "Xuân Như Ý". Khi ý thức rằng mình không còn hy vọng sống lâu HMT càng tìm nguồn giải thoát cho linh hồn khắc khoải qua tôn giáo và những khải thị siêu phàm. Giọng thơ không còn rên rĩ, mà thanh thoát, thăng hoa.
Vào bệnh viện Qui Hòa, thi nhân đã tập được đức tính an vui trong nguồn đau khổ. Trong một lá thơ gửi cho ông bạn thân là Trần Thanh Địch, Tử kể lại rằng mỗi ngày đều đều ông liên lỉ ít nhất năm sáu lần vừa đọc kinh vừa ngâm thơ.
Nhưng ba tháng sau, cơ thể quá suy kiệt và thêm bị chứng kiết lỵ nên vài ngày thì tạ thế (ngày 11 tháng 11 năm 1940 hưởng dương 29 tuổi).
Trên giuờng bịnh, biết mình sắp chết, tâm hồn thi nhân vẫn vô cùng sáng suốt và giữ một thái độ bình thản như sốt sắng viết một bản kinh nguyện bằng tiếng Pháp là La Pureté de l'âme. (Sự thanh khiết của linh hồn) để dọn mình về với Chúa.
Tịnh Ngọc
07-09-2005, 10:44 PM
Lý tưởng Thiên Chúa giáo trong thơ Hàn Mặc Tử
Trên chủ trương sáng tác thi văn của ông, Hàn Mặc tử đã khẳng dịnh lý tưởng Thiên Chuá giáo của mình:
“Đức Chúa trời tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ, nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa, và nhân đấy chiêm nghiệm lẽ mầu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí tôn. Vì thế, trừ hai loài trọng vọng là “thiên thần” và “ loài người”, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: “loài thi sĩ”!
Loài này là những bông hoa rất quí và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: Phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người, và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch. (Thư gửi cho Trọng Miên: Quan niệm về Thơ).
Đọc thơ của HMT, người ta đã tìm thấy Thánh Kinh, cho nên lời thư viết trên này chỉ là phu diễn cái ý cốt tủy cho rằng thế gian này tạo ra do lòng yêu và vinh quang của Thiên Chúa.”Chính cái chìa khóa tình yêu đã mở tay Thiên Chúa tạo dựng các loài”( thánh Thomas d'Aquin). Sự sáng tạo là điều Chúa muốn như là một sự ân tứ dành cho con người, như là một tài sản chuyển đạt và giao phó cho con người thụ hưởng (Car la création est voulue par Dieu come un don adressé à l'homme, comme un héritage qui lui est destiné et confié.- Catéchisme de l'Église Catholique 1997).
Nhưng theo Tử, thì con người phàm tục thế gian ít khi hiểu đưôc và mang ơn “loài thi sĩ” nếu không nói là vô tình bạc đãi khinh khi.
Qua biểu tượng Máu và Hồn, Tử đã vô tình dự phóng bản ngã của mình trênhình ảnh của Chúa Giê su trong gương cứu chuộc trong buổi Tiệc Ly với lời nói cuối cùng với các môn đệ trên bánh thánh và rượu nho: “Này đây là Mình ta, hãy cất lấy mà ăn. Này đây là chén Máu ta, hãy cất lấy mà uống”.
Hàn Mặc tử, khi viết tựa cho tập Tinh Huyết của Bích Khê đã viết rằng:
“Sáng tạo là điều kiện cần nhất, tối yếu của thơ, mà muốn tìm nguồn cảm xúc mới lạ, không chi bằng đọc sách về tôn giáo cho nhiều. Như thế, thơ văn mới trở nên trọng vọng, cao quí, có một ý nghĩa thần bí.”
Đọc nhiều thơ của HMT, người ta thấy tràn ngập nào là ánh sáng, nào là hương, nào là hoa, nào là châu báu, nào là tiếng nhạc, nào là lời kinh... ít ai ngờ đó là khung cảnh trang hoàng để phụng vụ trong những giáo đường Công giáo trong thực tế mà trí tưởng tượng phong phú của thi nhân đã chuyển hóa ra thành những lời thơ trọng vọng...
Ngay cả những lời thơ trùng trùng điệp điệp về sự vãi máu, nôn khạc huyết ra từ cổ họng của HMT, biết đâu chẳng đã được gợi hứng từ hình ảnh con chim bồ nông mổ ngực để máu vọt ra cho đàn chim con xúm lại mà uống; hình này thường được chạm trên cánh cửa của Nhà Tạm đựng Mình Thánh Chúa trên bàn thờ của giáo đường (Chim bồ nông - pélican là loài thủy điểu, khi bắt được mồi thường nuốt tạm và chứa trong cái bìu da ở cổ họng để đem về cho bày con mổ vào họng mình ra mà ăn.
Do đó, có truyền thuyết là chim bồ nông tự mổ ngực mình ra để lấy máu nuôi con.
Thánh Thomas d'Aquin trong Vần thơ Thánh vịnh (Rhythmus Sancti) đã dùng hình ảnh chim này mà ca vịnh Thánh thể như hình Chúa Giêsu đổ huyết ra vì nhân loại. Còn Alfred de Musset, nhà thơ Pháp (1810-1857) đã thi vị hóa hình ảnh bồ nông như thân kiếp của thi nhân làm thơ bằng máu lệ của mình trong một bài thơ danh tiếng.
HMT lấy hứng về thi liệu từ Kinh thánh và những bài kinh nguyện của tín đồ Công giáo để xây dựng tứ thơ của mình.
Bài Thánh Nữ Đồng trinh trứ danh của HMT đã diễn đạt lại ý tứ của kinh Kinh Mừng quen thuộc của người Công giáo với một giọng vô cùng thành khẩn:
Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn,
Giầu nhân đức , giầu muôn hộc từ bi,
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lậm lụy vừa trải qua dưới thế
Tôi cảm động rưng hai hàng lệ
Tấu lạy Bà, lạy Bà đầy ơn phước,
Cho tình tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm
Theo Linh mục Phan Phát Hườn, bài AVE MARIA của Hàn Mặc Tử mà trong đó có các đoạn thơ trên đây đã gây một xúc cảm sâu xa trong tâm hồn người đọc, công giáo hay không công giáo. Đọc bài thơ này người ta liên tưởng tới bài LA VIERGE À MIDI của Paul Claudel, hai bài thơ đều nói về Trinh nữ Maria nhưng hai giọng văn khác hẳn. Đọc lên bài thơ của Claudel ta chia sẻ những tâm tình của một người vô thần sau khi đã quay về với Chúa, tỏ tình rất mực đơn sơ với Trinh Nữ. Đọc lên bài Ave Maria của Hàn Mặc Tử, ta cảm được, ta sờ được, ta thấy được sự cao sang của Trinh Nữ.
Trong thi ca của HMT, người ta còn bắt gặp một ý thơ khác lấy từ Kinh Tin Kính như :
Ngày tận thế là ngày tán loạn
Xác của Hồn, Hồn của Xác y nguyên.
HMT lại mang cái thị kiến của thánh Yoan trong sách Khải huyền về thành thánh Yêrusalem: “ánh quang của thành tỏa ra tựa hồ minh châu cực quí, như ngọc thạch bóng lộn ánh lưu ly...” vào bài Xuân Đầu tiên của mình qua câu:
Trái cây bằng ngọc vỏ bằng gấm
Còn mặt trời kia tợ khối vàng
Trên chín tầng diêu động cả trân châu
Dường sống lại muôn ngàn hoa phẩm tiết.
Niềm khổ đau cứu độ
Khảo sát về thơ Hàn Mặc Tử, chúng ta nhìn thấy một thiên tài. Bệnh hoạn và nghịch cảnh chỉ là những tác nhân duyên khởi đã bức bách thiên tài này sáng tác ra nhiều bài thơ kỳ lạ như những hạt cát khiến những con trai dưới biển sanh ra những hạt trân châu.
Với Hàn Mặc Tử, sự đau đớn về thể xác, niềm tủi cực về tinh thần cũng gây ra một phản ứng điên đảo khiến ông cười, nói, gào, thét lung tung để giải thoát tâm tư. Nhưng ông không hề loạn trí, nghĩa là điên thực sự mà nói năng không mạch lạc theo luận lý. Tập “Thơ Điên” là sự chuyển hoá sự đau khổ qua một “hiện tượng thoái hồi” như là một phản ứng chống đỡ tự nhiên để giữ quân bình lành mạnh cho trí óc.
Hàn Mặc Tử , cũng như bao thi nhân vĩ đại có điểm độc đáo phi thường là đau khổ không dìm sâu họ xuống bùn đen mà đưa họ lên cao lên cao gần Thượng Đế
Ở Hàn Mặc Tử, thể xác đau đớn ê chề nhưng linh hồn thì thăng hoa trong sáng nhờ đôi cánh của tôn giáo được chắp vào trí tưởng của thi nhân.
Hàn Mặc Tử trong tận cùng đau khổ của thế gian đã tự ví mình: “khi xưa ta là chim phượng hoàng, Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất”; ý tứ mình "cao cường hơn ngọn núi"; hồn mình "chơi vơi trong khí hậu chín tầng mây"
Trong bài viết Mùa Chay: Suy nghĩ về Đau Khổ trong Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu giúp số 223, tháng 03- 2005, tác giả Thế Hùng đã viết:
“Chuá Giêsu là gương mẫu sống động cho những người đau khổ” Chúa Giê su không cho chúng ta một câu trả lời trừu tượng về vấn nạn đau khổ.Hơn thế, Ngài cho chúng ta một câu trả lời sống động và một gương mẩu để đi theo. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đả chỉ ra điều này một cách rõ nét trong Tông Thư năm 1984 “Salvicifi Doloris” (Ý nghĩa về Đau khổ con người theo Kitô giáo).
Ngài viết rằng khi có ai hỏi Chuá Kitô tại sao con người phải đau khổ, người đó “không thể không chú ý đến Người đặt câu hỏi vì chính Người đó cũng đau khổ và ao ước trả lời câu hỏi đó từ chính thập giá, từ con tim đau khổ của Người” Chuá Kitô không giải thích một cách trừu tượng lý do vì sao có đau khổ, nhưng trước hết, Ngài nói:
“Hãy theo Ta! Qua cuộc đau khổ của con, con hãy dự phần vào công cuộc cứu rôĩ thế giới. Dần dần khi cá nhân đó vác lấy thập giá mình, trong tinh thần liên kết với thập giá Chuá Kitô, ý nghĩa cứu độ của đau khổ sẽ hiện ra trước mắt người đó”
Tịnh Ngọc
07-09-2005, 10:45 PM
Hàn Mặc Tử lại dự phóng sự đau khổ của mình như hình ảnh cứu chuộc của Chúa GiêSu: qua một hiện tượng “tự đồng hoá”( identification ) với Chuá KItô về tuẫn đạo (Martydom). HMT đã tự gán cho mình vai trò làm Thi Nhân đã đổ hết bao nhiêu nguồn máu lệ, đã từng uống mật đắng cay trong khi miệng vẫn tươi cười sốt sắng. (Thay lời Tựa - Xuân Như Ý).
Trong bài Nguồn Thơm, HMT đã nhiệt tình tôn vinh những người đã vác Thập gía theo chân Chuá Giêsu:
Đây, thi sĩ của đạo quân Thánh giá
Nửa đêm nay vùng dậy để tung hô
Để sớt cho cả xuân, xuân thiên hạ
Hương mến yêu là lộc của lời thơ
Hàn Mặc Tử lại còn tha hóa tình cảm của mình khi mơ đến một "mùa Xuân Thái Hòa" của “ năm muôn năm, trời muôn trời” cho cả và thiên hạ.
Linh hồn của con người đau khổ thường hay lên gần Chúa. Đó là tâm trạng của Hàn Mặc Tử trong những ngày cuối cùng bệnh hoạn, khổ đau trong trại cùi Qui Hòa. Hàn Mặc Tử đã thị kiến đến một mùa Xuân Như Ý: “Vinh quang Chúa cả trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”.Câu thánh vịnh về mùa Giáng Sinh này đã khơi nguồn cho Hàn Mặc Tử khi viết như sau:
Tứ thời xuân! Tứ thời xuân non nước!
Phút thiêng liêng nhuần gội áng thiều quang
Thiên hạ bình, và trời tuôn ơn phước
Như triều thiên vờn lượn khắp không gian
(Nguồn thơm)
Ý thơ của Hàn Mặc Tử trong tập Xuân Như Ý khai triển một cách kỳ diệu vô cùng. Tử cho rằng mình giống Khổng Tử khi chép kinh Xuân Thu với một cảm hứng dào dạt:
Ngời phép lạ của đức tin kiều diễm
Câu tàn tạ không khen long cả phiếm
Bút Xuân Thu mùa nhạc đến vừa khi
(Đêm xuân cầu nguyện)
Sự thăng hoa của Hàn Mặc Tử được kết tinh bằng hình ảnh của một thiên đường đầy vẻ đẹp tuyệt vời mà con người không còn than khóc, đau khổ nữa, một thiên đường đầy: "Nhạc thơm, hương ấm, mộng ngọc, hoa trinh bạch, đàn ly tao, tranh tuyệt phẩm".
Câu nói của thi sĩ Pháp Alfred de Vigny: "Những khúc hát tuyệt vọng nhất là những khúc hát đẹp vô vàn." phải chăng rất đúng khi áp dụng vào trường hợp của nhà thơ vô cùng khổ đau Hàn Mặc Tử.
Như là một lời kết, chúng ta hãy nghe Linh mục Phan Phát Hườn nhận định rằng :
Hàn Mặc Tử bằng thi thơ của mình muốn nói lên điều mà ông TIN, điều mà các nhà thần học đã tốn biết bao nhiêu mực, bao nhiêu giấy từ thế kỷ này qua thế kỷ khác nói về sự kiện lịch sử Chúa xuống thế làm người, về mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể trong cung lòng của Trinh Nữ Maria. ( Đức Tin trong thơ Hàn Mặc Tử - Tựa cho cuốn Hàn Mặc Tử: Đau Khổ và Thơ của Lê văn Lân)
Với tâm tình của người yêu thơ Hàn Mặc Tử, bài viết này xin được xem như một nén tâm hương cho một thi hào đã dùng những đau khổ và máu lệ của mình mà nhào nặn ra biết bao lời thơ đẹp và sâu săc tuyệt vời như những hạt kim cương.
BS LÊ VĂN LÂN
Mùa Chay 2005
VoTri
25-01-2006, 03:24 AM
Vừa nhận thơ từ phương xa gởi tới
Giữa lúc lòng cô độc hoang liêu
Nét chữ xinh xinh nét diễm kiều
Thơ hiện đến như thiên thần hiện thế.
Thơ gởi tới lúc mùa xuân hoa nở
Điệu nhạc thiên tiên tiếng hót huyền anh
Tôi say xưa uống trọn chén thơ tình
Lời thơ ngọt như lời ru trong mộng...
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.