View Full Version : Định mệnh có thật hay không?
Thiên Sứ
09-07-2005, 09:32 PM
ĐỊNH MỆNH CÓ THẬT HAY KHÔNG?
Ngay từ thuở hoang sơ của nhân loại - khi lịch sử hãy còn là truyền thuyết. Con người đã có những cố gắng tìm kiếm những thông tin cho tương lai của cuộc đời. Nhưng tính chính xác của dự báo càng cao, con người càng bị đẩy dần đến sự khắc nghiệt của định mệnh. Hàng thiên niên kỷ đã trôi qua. Nhân loại vẫn chưa tìm được câu trả lời:
ĐỊNH MỆNH CÓ THẬT HAY KHÔNG?
Thay lời mở đầu
Có thể nói rằng:
Ngay từ thuở hoang sơ của loài người, vào thời mà lịch sử chỉ là những truyền thuyết và huyền thoại, nhưng khi con người đã ý thức được sự tồn tại của chính mình thì cũng muốn biết đến tương lai của cuộc đời. Từ vua chúa đến thứ dân, họ đã tìm đến những nhà tiên tri - hoặc nhân danh thần thánh, hoặc nhân danh những quyền lực siêu nhiên - để nghe lời tiên đoán về những việc lành dữ sẽ xẩy ra cho số phận con người và cả những quốc gia. Từ những truyền thuyết và huyền thoại cổ xưa nhất cho đến giai thoại về những nhà tiên tri, những phương pháp bói toán của các nền văn minh cổ còn lưu truyền, cho đến sự hiện hữu của những nhà tiên tri nổi tiếng ngay trong thời hiện đại, đã chứng tỏ con người luôn muốn biết trước tương lai của mình. Hiệu quả của những lời dự đoán trải dài theo lịch sử nhân loại cho đến tận ngày hôm nay, thỏa mãn được trí tò mò của con người trước những cái sẽ xảy ra cho số phận con người. Nhưng oái ăm thay! Chính hiệu quả của những lời dự đoán đó, lại khiến cho con người phải ngậm ngùi khi đặt vấn đề cho thân phận của mình: Định mệnh có thật hay không?
Bạn có thể đã từng đi xem bói. Thầy bói nói trật lấc. Bạn có thể có lý khi không tin vào định mệnh và chỉ tin vào chính khả năng của mình. Bạn vẫn có thể thành công và tay trắng tạo nên sự nghiệp. Bạn vẫn có thể yên tâm nhắm mắt, xuôi tay ở giây phút chót của cuộc đời và di huấn lại cho con cháu: "Không có định mệnh, tất cả đều do chính con người!".
Nhưng, những điều xảy ra cho cuộc đời của bạn, chưa chứng minh được rằng: Định mệnh không có thật. Bởi vì, tất cả những tri kiến tích lũy trong cuộc đời bạn, chỉ có thể giải thích được những cái đã xảy ra. Nhưng con người lại muốn biết chính xác những cái sẽ xảy ra. Tính chính xác của sự dự báo càng cao, con người lại càng bị đẩy gần tới sự khắc nghiệt của định mệnh?!
Không chỉ có bạn, những niềm tin tôn giáo chính thống cũng phủ nhận định mệnh và cho rằng chỉ có Đấng Chí Tôn mới quyết định số phận con người. Với niềm tin này, cho rằng mọi số phận đều đã được Đấng Chí Tôn an bài từ trước. Số phận con ngườI phụ thuộc vào Đấng Chí Tôn. Bởi vậy; những người trung thành với niềm tin tôn giáo mãnh liệt nhất, phải cố gắng làm vừa lòng Đấng Chí Tôn để thay đổi số phận của mình trong hiện hữu, trong tương lai và trong cả những kiếp mai sau. Hoặc số phận của bạn phụ thuộc vào qui luật Nhân & Quả = không có Định Mệnh mà chỉ có sự nhận thức và hành vi của con người và hậu quả của nó. Như vậy; trong trường hợp này:
Không có định mệnh. Vì nó phụ thuộc vào tri thức của bạn (luật nhân quả); hoặc vào ý chí của Đấng Tối Cao?
Như vậy; những lời tiên tri - hoặc là - chỉ là sự phản ánh ý trí của Đấng Tối Cao; hoặc là phản ảnh hậu quả của chính những dữ kiện trong cuộc đời của bạn và dữ kiện đó phụ thuộc vào tri thức của bạn?
Hoặc cũng có thể bạn nhân danh khoa học và cho rằng định mệnh là hệ quả của sự bói toán, mê tín dị đoan. Nhưng nếu bạn là một nhà khoa học, thì chắc chắn bạn cũng biết một tiêu chí khoa học là:
"Một giả thiết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu nó giải thích được hầu hết những vấn đề liên quan đến nó và có khả năng tiên tri".
(mà dân gian gọi nôm là "bói" ).
Hơn nữa, chính các nhà khoa học đang mơ ước:
"Tạo ra một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ! Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn có thể giải thích mọi sự kiện bao quanh của con người từ những hạt vật chất cực nhỏ, đến những thiên hà khổng lồ".
Chúng ta đặt một giả thiết rằng: Tri thức của nhân loại đã đạt được điều mà các nhà khoa học đang mơ ước. Nhưng siêu lý thuyết đó - khi hiện hữu - lại tồn tại trong một cuộc sống và xã hội vẫn tiếp tục phát triển. Như vậy, một trong những chức năng quan trọng của siêu lý thuyết này sẽ lại là những lời dự báo mọi sự kiện bao quanh của con người, cho đến sự vận động của những thiên hà khổng lồ. Phải chăng chính khoa học, khi đạt đến sự tuyệt đỉnh của nó, sẽ lặp lại câu hỏi mà nhân loại đã đặt ra từ ngàn xưa: Định mệnh có thật hay không? Bởi vì, một lý thuyết khoa học thực sự phải có khả năng dự báo những hiện tượng liên quan đến nó. Sự khác nhau giữa khả năng tiên tri đã và đang hiện hữu trong lịch sử với khi tri thức của nhân loại đạt được một siêu lý thuyết (theo giả thuyết) là: Sự tiên tri đang hiện hữu, tri thức khoa học hiện đại chưa lý giải được căn nguyên của nó và mang màu sắc huyền bí; còn sự tiên tri trong tương lai thì con người biết được căn nguyên của nó nên không thấy huyền bí. PhảI chăng - trong trường hợp này – chính những tiêu chí khoa học và những mơ uớc của nó lại chứng tỏ Định mệnh đang hiện hữu trên thực tế và sẽ được khoa học chứng minh trong tương lai?
Nhưng liệu khả năng của khoa học hiện đại có thể đạt được điều mơ ước đó không?
Trong cuốn sách khá nổi tiếng:"Thượng Đế và Khoa học" (Tác giả Jean Guiton. Grichka Bogdanov. Igor Bogdanov. Nxb Grasset - Paris) cho thấy Thượng Đế vẫn mỉm cuời trước những cố gắng của con người - trước những tri thức khoa học hiện đại nhất - trong việc tìm về sự khởi nguyên của vũ trụ. Trong lời giới thiệu cho cuốn sách (Bản dịch tiếng Việt của Lê Diên.Nxb Đà nẵng), giáo sư Đặng Mộng Lân đã viết:
"Nói cách khác, Thượng Đế hay khoa học, đó chỉ là hai sự lựa chọn. Guiton đã chọn khả năng thứ nhất. Còn khả năng thứ hai? Không có gì ngăn cản chúng ta với sự lựa chọn còn lại".
Có lẽ ông Đặng Mộng Lân đã lầm.Ở đây không phải là sự lựa chọn mang tính áp đặt chủ quan; mà là phải chứng minh cho một trong hai khả năng ấy: Thượng Đế hay khoa học. Với tựa của luận đề này và cũng là vấn đề đặt ra cho nó thì dù Thượng Đế hay khoa học sẽ đều có trách nhiệm chung để trả lời một câu hỏi tồn tại từ ngàn xưa của nhân loại:
"Định mệnh có thật hay không?".
Vấn đề là:
Sự trả lời ấy nhân danh Thượng Đế hay khoa học!
Ông Guiton đã lựa chọn khả năng thứ nhất và ông đã chứng minh cho sự lựa chọn của mình qua những lý thuyết khoa học hiện đại và tiên tiến nhất trong cuốn: "Thượng Đế và Khoa học". Nếu ý chí của Thượng Đế chính là sự khởi nguyên của vũ trụ thì sự lý giải cho vấn đề đặt ra của luận đề này sẽ được giải quyết đơn giản hơn nhiều: Định mệnh sẽ không có thật, vì nó lệ thuộc vào ý chí của Đấng Chí Tôn khi Ngài muốn thay đổi trật tự của vũ trụ. Luận đề này sẽ được kết thúc ở đây.
Nếu vũ trụ này là một sự tồn tại khách quan, tự nó và do nó; đồng thời khoa học là kết quả của sự nhận thức của con người phản ánh những qui luật vận động khách quan của vũ trụ thì những lời bói toán, tiên tri chính là kết quả của những sự tương tác có tính qui luật của vũ trụ với cuộc sống con người mà con người có khả năng nhận thức được. Nhưng với sự lựa chọn này, luận đề mà tôi đang tuờng với các bạn sẽ phải chứng minh điều đó. Như vậy, cũng đồng nghĩa với việc nó phải vượt qua chính cái ngưỡng mà nền khoa học hiện đại chưa đạt tới và đang mơ ước.
Nhưng với lập luận này - khi con người khi nhận thức được những qui luật tương tác của vũ trụ và tích luỹ những tri thức ấy - thì chính sự nhận thức lại không thuộc về những qui luật đó. Vì sự nhận thức lúc này là một chủ thể và là đối tác của những qui luật tạo nên Định mệnh. Tất nhiên nó không phải Định mệnh. Như vậy giữa Định mệnh và phi Định mệnh; đâu là chân lý? Chiếc chìa khoá mở bức màn huyễn ảo này đang ở đâu?
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
Thiên Sứ
09-07-2005, 09:48 PM
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA ĐỊNH MỆNH
Tiếp Theo
Trong truyện Kiều, một áng văn chương trác tuyệt của người Lạc Việt, cụ Nguyễn Du đã mở đầu cho thiên trường thi bất hủ của mình bằng một cảm nhận hoài nghi cho sự tồn tại của định mệnh:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ Tài, chữ Mệnh khéo là ghét nhau.
Trong suốt thiên trường thi tiểu thuyết đó, định mệnh như đeo đẳng; quyết định số phận cay đắng của nàng Kiều. Nhân vật Thúy Kiều đã cố gắng vùng vẫy; nhưng hình như cũng không thoát khỏi định mệnh:
Chém cha cái số hoa đào
Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi
Nhưng những sự kiện xảy ra liên tiếp trong truyện Kiều, cũng không minh chứng được sự tồn tại của định mệnh cho số phận của con người. Để rồi cụ Nguyễn Du cũng phải thở dài, buông một vần thơ nổi tiếng, trở thành thành ngữ trong ngôn ngữ Việt Nam.
Nào ai học được chữ ngờ?
Với khái niệm của chữ "ngờ" thì sự may rủi không thuộc về định mệnh, mà đó là quan hệ giữa tri thức của con người với khả năng dự liệu những sự kiện có thể xảy ra trong tương lai. Và cái vòng lẩn quẩn lại lặp lại. Con người - để tránh chữ "ngờ" - tiếp tục đi tìm tương lai qua những lời dự báo. Tính chính xác của dự báo lại đặt ra một khái niệm về “định mệnh” cho số phận con người.
Ngay cả Khổng Minh Gia Cát Lượng, một nhân tài kiệt xuất - người đã tạo nên một cục diện lịch sử Trung Hoa thời Tam quốc - hình như cũng không thoát khỏi định mệnh qua tiếng thở dài của Tư Mã Đức Tháo:
"Khổng Minh tuy gặp chủ nhưng không gặp thời. Thật tiếc lắm thay!".
Cuối đời, ông cũng phải ngậm ngùi nhìn ngôi sao định mệnh của mình rơi ở gò Ngũ Trượng, để lại một sự nghiệp còn giang dở.
Không phải chỉ ở phương Đông, định mệnh còn là sự ám ảnh của con người trên khắp thế giới, theo xuốt dọc thời gian lịch sử loài người. Mỗi nền văn minh cổ mà những di sản văn hóa còn truyền lại đến bây giờ, đều có những phương pháp dự đoán khác nhau nhằm tìm kiếm những thông tin cho tương lai. Từng thời đại trong lịch sử loài người đều ghi nhận trong truyền thuyết những nhà tiên tri có tên tuổi. Ngay trong thời hiện đại cũng có những nhà dự đoán mà tên tuổi được nhắc nhở: Bà Vanga, nhà tiên tri người Bungari; Hassan Chami, phó chủ tịch hội chiêm tinh thế giới người Tuynidi; Thiệu Vĩ Hoa, nhà dự đoán học người Trung Quốc… đã dự đoán nhiều sự kiện và thế giới phải kinh ngạc vì sự chính xác của nó (Mặc dù có những sự kiện nổi tiếng họ đã không dự đoán như: Cuộc họp bí mật và tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại của Tổng thống Mỹ Reagan và Tổng thống Liên Xô Goocbachop ở Địa Trung Hải). Nhưng không phải lúc nào họ cũng đoán trúng. Một thí dụ trong trường hợp này là: Vào năm 1998, ông Hassan Chami đã tiên đoán:
"Giáo hoàng Jean Paul II, Quốc vương Ả Rập Saudi Fahd, Tổng thống Habib Bourguiba, nhà văn Ai Cập Naguib Mahfouz và diễn viên điện ảnh Mỹ John Travolta sẽ chết trong năm nay. Tổng thống Mỹ Bill Clinton; Tổng thống Pháp Jacques Chirac sẽ là mục tiêu của các cuộc mưu sát. Tổng thống Ai Cập Hoshi Moubarak và Tổng thống Libi Kadafi là mục tiêu của các cuộc đảo chính quân sự".
Trong đó ông cũng mạnh dạn đoán rằng:
"World Cup 98 sẽ bị khủng bố."
Những người quan tâm hồi hộp chờ đợi sự ứng nghiệm của những lời tiên tri, như một định mệnh đã an bài. Nhưng may quá....nó đã không xảy ra. Chưa hết - vào năm 1999, hiện tượng đại thập tự giá trên không gian Thái Dương hệ, khiến cả thế giới xôn sao về khả năng xảy ra ngày tận thế. Bà Elizabeth Teisster, một chiêm tinh gia nổi tiếng của Pháp, đã khẳng định một cách bi đát cho tình cảnh của nhân loại trong năm 1999 như sau:
"Năm 1999 sẽ là năm thật sự bùng nổ về thiên tai và sự xung đột quốc tế với qui mô còn lớn hơn cả chiến tranh vùng Vịnh"
Bà còn cho biết: nếu đoán sai, bà sẽ giải nghệ (Theo tạp chí Thế giới mới - số 325. Xb tạI VN). Điều này lại trùng hợp với khả năng xảy ra sự cố Y2K mà ngay cả những nhà khoa học nghiêm túc nhất cũng kêu gọi nhân loại văn minh cần đề phòng. Các hãng mỳ tôm hoạt động hết công xuất, hàng bán chạy như tôm mà không tốn tiền quảng cáo. Cả nhân loại quan tâm lại hồi hộp chờ đợi. Kết thúc năm 2000. Chẳng có gì cả. Toàn nhân loại hân hoan chào đón thiên niên kỷ mới với những cách hiểu khác nhau: nơi đón vào năm 2000; nơi thì vào năm 2001.
Nhưng ngay cả những lời bói toán trật lấc mang tầm vĩ mô như vậy, cũng chưa lay chuyển được sự hoài nghi về khả năng tồn tại của định mệnh. Đây là sai lầm do khả năng của người dự đoán, hay là tính phi khoa học của phương pháp dự đoán? Hay cũng có thể do con người đã biết trước sự việc xảy ra, nên đã tác động theo hướng có lợi cho con người?
Trải hàng thiên niên kỷ, những lời tiên tri ứng nghiệm trong thế hệ này, gây sự hoài nghi của thế hệ sau. Làm sao bạn có thể tin được có một lời tiên tri cho một sự kiện đã xảy ra trước khi bạn ra đời? Không hề có biên niên sử cho những lời tiên tri. Nhưng những lời tiên tri ấy vẫn hiện hữu trong cuộc sống của từng thế hệ, dù đúng hay sai, được công nhận hay không công nhận, như vẫn nhắc nhở cho con người một sự ám ảnh của định mệnh.
Nhưng không phải lúc nào sự dự đoán cũng sai lầm.
Trong nền văn minh Đông phương cổ đại đã tồn tại những lời tiên tri đầy huyền bí nói về số phận từng con người, của cả một thành phố, cả những quốc gia hay thậm chí của cả thế giới. Những phương pháp bói toán, tiên tri phổ biến của nền văn minh này hầu hết đều có phương pháp luận của nó. Thật kỳ lạ thay! Có một hệ thống lý thuyết vũ trụ - nền tảng của những phương pháp luận cho những lời bói toán huyền bí ấy - lại không coi sự khởi nguyên của vũ trụ bắt đầu từ ý thức của Đấng Chí Tôn. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Trong kho tàng kiến thức của nhân loại, về khả năng dự báo tương lai - nếu tạm gác lại những khả năng trực giác mang tính tiên tri - được ghi nhận qua truyền thuyết của những nhà tiên tri thuộc nền văn minh Hy-La, hoặc cổ Ai Cập cho đến Notsdame, hoặc gần hơn như bà Vanga ở Bungari hiện nay; thì những phương pháp để tìm các thông tin về tương lai của tự nhiên, xã hội và con người, có một hệ thống và phương pháp luận nhất quán phải kể đến: Thái Ất thần kinh, Mai Hoa dịch số, Tử vi đẩu số, Nhân tướng học… của học thuật Đông phương cổ đại. Hiệu quả của sự dự báo này khiến cho những người quan tâm phải kinh ngạc:
Trong sách "Chu Dịch và dự đoán học", ông Thiệu Vĩ Hoa đã viết:
“Tháng 10 năm 1990, một cán bộ chỉ huy tác chiến cao cấp của một bộ tư lệnh đã dùng phương pháp dự đoán giới thiệu trong sách, đã dự đoán trước ba tháng cuộc chiến vùng Vịnh làm chấn động cả thế giới sẽ nổ ra từ 5 đến 9 giờ sáng ngày 17 tháng 1 năm 1991. Ngày 13 tháng giêng năm 1991 họ đã báo cáo lên bộ phận chỉ huy cấp trên về việc này. Cấp trên đã hỏi lại họ"Làm sao các anh biết được mấy giờ ngày ấy sẽ nổ ra?" Họ trả lời "Dùng Bát quái tính ra". Cấp trên không chấp nhận và nói "Bát quái có thể tính ra ngày giờ đánh nhau thì cần gì đến ban chỉ huy chúng tôi nữa". Ngày 17 tháng giêng, quả nhiên trong thời gian dự đoán đã úng nghiệm”.(*)
* Chú thích: "Chu Dịch và dự đoán học". Thiệu Vĩ Hoa. NXB Văn Hóa 1995. trang IX - X.
Để xảy ra một sự kiện lịch sử, không phải chỉ do một vài nguyên nhân đơn giản, dễ nhận thấy, xuất phát từ những hành động và suy nghĩ của một vài nhân vật lịch sử theo kiểu cái hắt hơi của Napoleon, đã gây nên sự thất bại của ông trong trận Oaterlo. Nhưng thật khó giải thích khi chỉ bằng ba đồng tiền cổ rơi trên chiếc mai rùa của một quẻ Dịch, cả một sự kiện mang tầm cỡ quốc tế đã được dự đoán trước ba tháng - chính xác đến tận giờ nổ súng của cuộc chiến vùng Vịnh. Để xảy ra một sự kiện tầm cỡ lịch sử nhân loại như vậy - trùng khớp với lời tiên tri - thì mọi diễn biến của sự kiện: Từ những tính toán của bộ máy chiến tranh của cả hai bên; sự hoạt động tấp nập nhộn nhịp của các chính khách có chỉ số IQ khác nhau; của các nhà ngoại giao tài ba hoặc chuyên gây khó chịu; mức độ ảnh hưởng của các cường quốc lớn nhỏ; cho đến sự vận động của từng người lính trong bộ máy chiến tranh…đều phải trùng khớp đến từng chi tiết. Chỉ cần một sự trục trặc - một toán biệt kích bị lộ, hoặc một tù binh bị bắt chẳng hạn - cuộc chiến vùng Vịnh I sẽ không thể xảy ra từ 5 đến 7 giờ sáng ngày 17/ 1/ 1991, mà có thể sẽ vào dịp khác!
Phải chăng định mệnh đang chi phối cả lịch sử của loài người? Phải chăng, ngay với sự vận động ở quy mô xã hội, mà trong đó những giá trị thánh thiện, tình yêu thương cùng với những âm mưu đen tối và mọi cái xấu xa bẩn thỉu đều quay cuồng trong trò chơi định mệnh, để con người phải ngậm ngùi trong số phận của mình? Hay đó chỉ là những diễn tiến tất yếu có thể dự đoán được, nhưng bằng những phương pháp bắt nguồn từ những nhận thức của thời xa xưa, mà ngày nay con người hiện đại đã xa lạ với những khái niệm của nó?
Bạn vẫn có thể hoài nghi sự dự đoán của ông Thiệu Vĩ Hoa. Bởi vì, ít nhất sự dự đoán của ông chỉ được công bố chính thức sau khi cuộc chiến đã xảy ra. Chẳng ai hơi đâu mà kiểm chứng một lời bói toán (cho dù của một thiên tài), nhưng lại không có văn bản chính thức lưu lại mà chưa được công chứng như vậy (Tối thiểu cũng phải ở cấp phường). Nhưng vấn đề cũng không chỉ dừng lại ở đây.
Trong mùa Tiger cúp 1998. Tại sân vận động Hàng Đẫy - Hà Nội, một trận đấu được chờ đợi từ lâu sắp xẩy ra giữa đội tuyển Việt Nam và Thái Lan. Tất cả khán giả xem truyền hình trực tiếp trong cả nước và có thể cả nước ngoài, đều nhìn thấy một khán giả giương cao tấm bảng ghi tỷ số 4 - 1. Hình ảnh này được lặp lại không chỉ một lần. Sau trận đấu, đội Việt Nam thắng 4, Thái Lan 1, đúng như lời tiên tri. Để có kết quả tiên tri này, người dự báo phải chọn 1 trong 100 con số. Tức là, phải chọn từ 0 - 0 đến 9 - 9. Nói theo ngôn ngữ toán học thì xác xuất dự báo chỉ là 1%. Hiện tượng dự báo chính xác này cũng không thể khiên cưỡng cho rằng: Đó là do tính ngẫu nhiên của phép xác xuất (mà dân gian quen gọi nôm là "chó ngáp phải ruồi"). Bởi vì, để có một tỷ số như vậy, không thể giải thích đơn giản chỉ là tính xác xuất; mà đó là sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố: Từ nỗ lực của huấn luyện viên, ban lãnh đạo đội bóng cho đến từng cầu thủ; cũng còn phải kể đến sự nhiệt tình của cổ động viên, tâm lý trọng tài và hàng trăm thứ khác. Chỉ cần một ngọn gió đổi chiều, một cú sút không phải từ má trái, mà từ má phải của bàn chân, cũng đủ để tỷ số sẽ thay đổi! Nhưng ở đây, tất cả đã trùng khớp như một sự an bài kỳ diệu để tỷ số phải là 4 -1!
Trong trang web Tuvilyso.com, nếu ai có dịp ghé qua sẽ chứng kiến lời tiên tri thần sấu của Thiên Cơ và Dương Tường trong topic do CayVong pos lên vào đầu năm 2003; có tựa là:"Vận của Sadam Hussen sắp hết?”: Họ đã đoán trước chính xác đến ngày khởi chiến của cuộc chiến vùng Vịnh II (Thiên Cơ) và ngày kết thúc (Dương Tường) trước ba tháng khi cuộc chiến xảy ra.
Chưa hết! Bạn đọc hãy xem đoạn trích dẫn sau đây trong sách "Thái Ất thần kinh". Dịch giả Thái Quang Việt, đề đáp Nguyễn Đoàn Tuân. Nxb Văn Hóa Dân Tộc 2/ 2001. Trang 352:
"Trong sách nói về quẻ Giải là do sấm mưa tạo nên họa hoạn, nạn tai và thế giới khó bề an ninh, động 8 phương nước lớn, thuộc hạn cửu dương bách lục, nhất là vào cuối năm 2002 là Nhâm Ngọ thì thế giới có nạn lụt lớn vô cùng".
(Chú thích: Cuốn sách này được tái bản vào tháng 4/ 2002 (Tháng 3/ Nhâm Ngọ.Tức là trước khi nạn lụt xảy ra). Lời tiên tri trong lần tái bản này ở trang 397. Cụ Nguyễn Đoàn Tuân mất vào ngày 19/7 năm Nhâm Ngọ; tức là trước khi cụ được tự hào nhìn thấy sự tính toán chính xác của mình bằng phương pháp Thái Ất).
Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng thấy đây là một lời tiên tri và đã ứng nghiệm vào một năm sau đó. Trong năm Nhâm Ngọ (2002) bắt đầu vào tháng 7 Âm lịch (nửa cuối năm), bão lụt hoành hành khắp từ châu Mỹ sang châu Âu, Băng Đa Let, Ấn độ, Nam Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và đều là những cơn bão, lụt tầm cỡ lịch sử. Thậm chí cho đến tận những ngày cuối cùng của năm Nhâm Ngọ, thiên tai do lở đất và lụt lội khủng khiếp vẫn xảy ra ở Indonesia và Peru. Có thể nói rằng: đây là lời tiên tri chi tiết và sớm nhất về khí hậu toàn cầu, trước tất cả các cơ quan dự báo khí tượng hiện đại nhất thế giới. Tất nhiên, không phải chỉ đến khi sách phát hành, lời dự báo đó mới được thực hiện. Đây là một công thức tính toán có phương pháp hẳn hoi. Phương pháp này đã được lập thành với thời gian tính bằng thiên niên kỷ. Phải chăng ở đây, định mệnh đã an bài hay một quy luật vũ trụ đã được nhận thức từ trước đó, từ nền văn hóa cổ Đông phương và nó đã được ký hiệu hoá?
Nếu định mệnh có thật và nhân danh bất cứ một giá trị tuyệt đối nào; phải chăng con người chỉ là một thứ robot sinh học, được lập trình từ trước trong trò chơi của tạo hóa? Nhưng nếu định mệnh có thật - thì dù hiện hữu dưới bất cứ hình thức nào và gọi bằng bất cứ danh từ gì - nó sẽ là đối tác trong khả năng nhận thức của con người. Lúc ấy, chính khả năng nhận thức của con người lại không thuộc về định mệnh.
Phải chăng định mệnh không có thật?
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
Thiên Sứ
10-07-2005, 09:17 AM
KHÁT VỌNG TIÊN TRI
Nhà tư tưởng Pháp – ông Pascal – đã có một sự so sánh rất nhân bản về thân phận con ngườI:
”Con ngườI chỉ là một cây sậy nhỏ bé và yếu ớt trong vũ trụ. Nhưng là một cây sậy có tư tuởng!”.
Số phận con ngườI và kiếp sống của nó thật mong manh. Thiên tai; chiến tranh; đói nghèo bệnh tật luôn rình rập thân phận con người. Đức Phật đã nói trong sự xót thương:
“Nước mắt thế nhân bao đờI kiếp đã chảy đầy thành bể khổ. MọI kiếp ngườI trầm luân trong đó. Ngay cả những người cho là sung sướng cũng chỉ lênh đênh trên mặt bể khổ mà thôi”.
Chính vì thân kiếp mong manh đó; mà con ngườI có khát vọng tiên tri. BởI vì con ngườI muốn thoát khỏi cảnh khổ trần gian mà họ sẽ phải gặp trong thân kiếp làm người. Chỉ có những sinh vật cao cấp mới có khả năng tiên tri vì sự phát triển của tư duy logic. Đây là sự thể hiện tất yếu của sự tiến hoá. Những sinh vật bậc thấp không có khả năng này. Bởi vậy; khát vọng tiên tri chính là một nhu cầu rất nhân bản và là đặc thù của xã hội loài ngườI mơ ước tới tuơng lai phát triển và tốt đẹp.
Do đó;nếu định mệnh không có thật; vấn đề sẽ không đơn giản chỉ vì nó là mê tín dị đoan; chỉ vì con người không tin vào định mệnh. Và điều này phi lý trước khát vọng tiên tri của con ngườI vốn là một thực tế tồn tại. Nhưng những lời tiên tri với những phương pháp của nó sẽ cho biết điều đó và định mệnh lại tiếp tục an bài!?
Như vậy, phải chăng con người cứ phải loay hoay trong cái vòng luẩn quẩn cho chính khát vọng tiên tri của mình? Còn nếu như con người không còn khát vọng biết trước tương lai, thì ngay cả luận đề này sẽ không thể hiện hữu từ trong ý tưởng của người viết; vì nó vô nghĩa. Chính những lời tiên tri với những phương pháp dự báo có hiệu quả của nó thỏa mãn khát vọng biết trước tương lai của con người và đó là căn nguyên để hình thành ý niệm về "định mệnh". Vì vậy, vấn đề tiếp tục được đặt ra ở đây là:
Những lời tiên tri và những phương pháp của nó bắt đầu từ đâu?
BÓI TOÁN
Từ lâu, cũng đã có ý kiến cho rằng: Trong cuộc sống đầy bất trắc và đau khổ của con người, hoặc vì những ước mơ và khát vọng không thành đạt. Con người đã bất lực, họ đi tìm cứu cánh cuộc đời ở những khả năng siêu nhiên, thần quyền. Đây là nguyên nhân để nẩy sinh những hiện tượng mê tín dị đoan, lợi dụng thần quyền mê hoặc con người. Bói toán được coi là sản phẩm của sự mê tín vào những thế lực siêu nhiên, dựa trên nhữ'ng sự sự bịa đặt không có căn cứ khoa học. Hình ảnh những người hành nghề bói toán quanh quẩn ở đình đền, chùa miếu như củng cố thêm tính hiện thực của giả thuyết này.
Nhưng sự lý giải ấy lại không phải là một minh chứng; nên không đủ sức thuyết phục. Bởi vì, bói toán vốn không phải là một hiện tượng riêng lẻ, mà là một thực tế đã hiện hữu bao trùm cả không gian và thời gian lịch sử nhân loại. Với lập luận này không giải thích được những phương pháp bói toán có hệ thống, qui tắc và chuẩn mực rõ ràng, có phương pháp luận thể hiện tính khách quan trong cách luận đoán. Không những vậy, hiệu quả của những phương pháp bói toán đó có tính thuyết phục đã tồn tại hàng thiên niên kỷ trong xã hội loài người. Nếu quả thực, bói toán chỉ là sự bịa đặt, lợi dụng mê tín dị đoan thì sẽ chỉ là những hiện tượng riêng lẻ và không có cơ sở để tồn tại trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại.
Để tìm về một thực tế là nguyên nhân của các phương pháp bói toán Đông phương, một giả thuyết khác được đặt ra từ những hiện tượng và vấn đề sau đây:
* Hầu hết các phương pháp bói toán phổ biến thuộc văn minh Đông phương đều có một cơ sở phương pháp luận là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Sự ứng dụng của các phương pháp này có tính qui luật và tính hệ thống; tính khách quan và khả năng tiên tri. Những yếu tố này cũng là tiêu chuẩn để thẩm định một luận thuyết khoa học.
* Trên tinh thần của tiêu chí khoa học là:
"Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phải có khả năng lý giải hầu hết những vấn đề liên quan đến nó; một cách hợp lý; nhất quán; hoàn chỉnh có tính quy luật; tính khách quan và phải có khả năng tiên tri” (dân gian gọi nôm là "bói toán").
Như vậy, sự bói toán của nền văn minh Đông phương phải chăng có thể chính là khả năng tiên tri của một học thuyết khoa học đã hoàn chỉnh và tồn tại trong văn minh nhân loại. Nhưng nền văn minh này đã bị huỷ diệt, nên hệ thống lý thuyết của nó bị sai lệch và thất truyền.
* Các nhà khoa học đang mơ ước:
"Một siêu lý thuyết có khả năng thống nhất tất cả các định luật vũ trụ. Có thể lý giải từ sự hình thành các thiên thể cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người".
So sánh với tiêu chí khoa học ở trên; phải chăng thuyết Âm Dương Ngũ hành tồn tại trong nền văn minh Đông phương là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh và những ký hiệu Dịch chính là một siêu công thức của học thuyết này (*)
* Chú thích: Phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành tồn tạI trên thực tế. Nhưng về mặt lý thuyết thì các nhà nghiên cứu chưa hề chứng minh được sự thống nhất của học thuyết này.
Căn cứ vào những hiện tượng và vấn đề trên, giả thuyết này cho rằng:
Những phương pháp bói toán đang tồn tại trong văn minh Đông phương là hệ quả của một lý thuyết thống nhất vũ trụ, tổng hợp tất cả các định luật vũ trụ, giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến hầu hết những vấn đề liên quan đến con người. Khả năng bói toán (Tính tiên tri - một điều kiện cần của một lý thuyết khoa học) chính là kết quả ứng dụng và cũng là sự chứng tỏ tính khoa học của siêu lý thuyết này.
Với giả thuyết này, sự chứng minh sẽ cực kỳ khó khăn. Vì ngay bây giờ nền khoa học hiện đại vẫn còn đang mơ ước đạt tới một siêu lý thuyết vũ trụ quan. Hay nói một cách khác: Sự chứng minh cho giả thuyết này phải vượt qua cái ngưỡng mà chính nền khoa học hiện đại chưa đạt tới. Bạn có thể nhận thấy điều này qua sự mỉm cười của Thượng đế cho những cố gắng của con người tìm về cội nguồn của mình, trong cuốn sách nổi tiếng "Thượng Đế và Khoa học" (*)
HIỆU QUẢ & SỰ SAI LỆCH CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO
Bói toán và dự đoán?
Khi nói đến xem "bói", dễ làm người ta nghĩ ngay đến một thể thức huyền bí, đang cố gắng tìm trong lời phán truyền thiêng liêng những diễn biến của cuộc đời đã được an bài. Sự nhạy cảm của những người có tiếp thu tri thức khoa học, dễ liên hệ đến tính chất mê tín dị đoan và lạc hậu của thể thức này. Ngày nay, một số phương pháp bói toán đã được đặt vấn đề về tính khoa học của nó. Vì “tinh thần khoa học” – theo kiểu thờI buổI khoa học thì không có ma - người ta không gọi là xem bói nữa, mà gọi là môn "dự đoán học". Như "Dự đoán theo tứ trụ", "Chu Dịch và dự đoán học". Thậm chí - môn Phong thủy - cho đến ngày hôm nay vẫn chưa một nhà khoa học nào chứng minh được nguyên lý của nó để gỡ bỏ bức màn huyền bí, nhưng cũng được gọi bằng một từ rất thời thượng là "khoa học Phong thủy". Gọi như vậy cho nó dễ hòa nhập với “tinh thần khoa học”, tránh mặc cảm bị coi là "mê tín dị đoan". Những điều này chỉ chứng tỏ một cách nhìn mới về những hiện tượng đã tồn tại trong xã hội loài người, còn bản chất của hiện tượng chưa hề thay đổi và vẫn còn chìm sâu trong bức màn huyền bí. Nhưng, một cái tựa sách thì phải vậy thôi; chứ không lẽ cứ nôm mà viết tựa là "Bói toán theo tứ trụ" thì nghe cũng lạ tai, không có "tinh thần khoa học". Thực ra xét về mặt ngữ nghĩa thì từ "bói toán" chính xác và bao hàm hơn "dự đoán" nhiều.
Từ "bói" theo nhà nghiên cứu Lê Gia thì có xuất xứ từ nghĩa Hán Việt của chữ "bối", có nghĩa là cái lưng. Tìm phía đằng sau lưng là chỗ không nhìn tháy(**), không biết được. Vậy từ "bói" là từ "bối" mà ra, chỉ việc đi tìm cái chưa biết. Nếu theo cụ Lê Gia thì khó có sự liên hệ giữa chữ "bói" với danh từ chỉ chim "bói cá".
Người viết cho rằng:
"Bói" là từ thuần Việt, có liên hệ với các từ: bớI; bươi; bơi; bái…nghĩa là động tác tìm kiếm những cái bị khuất lấp. "Toán" là phương pháp đi tìm cái bị khuất lấp. "Bói toán" nghĩa là phương pháp đi tìm cái chưa biết vì bị khuất lấp. Tất nhiên nếu phương pháp đúng và làm toán giỏi thì việc đào bới có hiệu quả, tìm thấy cái cần tìm. Phương pháp sai và làm toán dở thì đào bới cũng không thể tìm thấy. Còn "dự đoán" thì không mang tính khẳng định rõ ràng. Tất nhiên nó còn bao hàm cả tính chủ quan và việc nói phong long!
Để biết trước tương lai, con người có rất nhiều phương pháp bói toán, từ cực kỳ huyền bí cho đến các phương pháp có hẳn một phương pháp luận có hệ thống và những qui tắc, chuẩn mực rõ ràng. Những phương pháp bói toán huyền bí thường ít được tin tưởng, trừ sự dự báo rất chính xác được lặp lại nhiều lần trên thực tế. Những trường hợp điển hình của loại bói huyền bí có thể thí dụ như: bà Van Ga ở Bun Ga Ry; hoặc khả năng tìm mộ xuất hiện trong thập niên gần đây ở Việt Nam. Còn lại là những phương pháp dự báo cần có phương tiện dự báo hoặc có qui tắc, chuẩn mực rõ ràng, như: Bói Dịch, Tử Vi, bói bài Tây, bói Kiều, bói chân gà, bói lá trầu, bói bằng quả cầu thủy tinh ..v.v.
Trong phương pháp bói cần phải có phương tiện dự báo, có thể chia làm hai loại: phương pháp dự báo có phương pháp luận và qui tắc, chuẩn mực rõ ràng và không có qui tắc chuẩn mực rõ ràng. Trong mỗi loại lại cần xét đến định lượng của tính chất ngẫu nhiên thuộc từng phương pháp cụ thể. Với sự phân loại này thì phương pháp dự báo có định lượng tính ngẫu nhiên ít nhất, có phương pháp luận rõ ràng, có hệ thống và qui tắc hẳn hoi, phải kể đến môn Thái Ất và Tử Vi đẩu số. Nhưng đây cũng là những phương pháp ít được các nhà nghiên cứu chú ý. Ngược lại, phương pháp bói Dịch (chứ không phải bản thân kinh Dịch) mang nhiều yếu tố ngẫu nhiên - hay nói một cách khác là gần gũi với tính huyền bí hơn - nhưng lại khá phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhắc nhở đến tính khoa học của nó trong các trước tác của mình với một tinh thần khoa học nghiêm túc!?
Thời gian gần đây, có rất nhiều cuốn sách có nội dung trình bày các phương pháp dự đoán tương lai của nước ngoài được xuất bản và khá phổ biến; như: “Dự đoán theo tứ trụ”, “Chu Dịch và dự đoán học” của Thiệu Vĩ Hoa; “Bí ẩn của tướng thuật” của Trần Hưng Nhân và đặc biệt hai bộ kỳ thư nổi tiếng của học thuật cổ Đông phương có khả năng dự báo tương lai là Kinh dịch và Mai Hoa dịch số cũng được ấn hành. Đấy là chưa kể hàng trăm đầu sách của những nhà nghiên cứu khắp thế giới. Gần đây nữa là cuốn Thái Ất thần kinh, một kỳ thư ngoại hạng, tương truyền của ngài Trạng Trình đã dùng để đoán những sự kiện xảy ra trước sau 500 năm trong lịch sử , cũng đã được Nxb Văn Hóa Dân Tộc xuất bản. Thậm chí cả Tử Vi đẩu số, một cuốn sách có tham vọng dự đoán cho số phận con người đến từng ngày trong cuộc đời, cũng được giới thiệu phương pháp luận đoán của nó trong cuốn “Kinh Dịch với hệ nhị phân” (Gs Hoàng Tuấn. Nxb VHTT 2002). Chưa kể đến hàng chục đầu sách còn lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác, có tham vọng dự báo cho số phận con người.
Không phải chỉ đến bây giờ, mà hàng thiên niên kỷ đã trôi qua - sự chứng nghiệm của những kỳ thư này đã khiến cho con người phải suy nghĩ về thân phận của mình, về mặt này thì Tử Vi đẩu số - ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành - đã đặt cho con người sự thách đố lớn nhất của định mệnh ngay từ khi mới chào đời. Môn Tử Vi đẩu số cũng là một phương pháp dự báo có quy tắc, chuẩn mực rõ ràng và ít mang yếu tố ngẫu nhiên nhất so với những phương pháp dự báo khác. Bởi vậy, người viết xin được trình bày bắt đầu từ môn này.
Trước khi trình bày hiệu quả của các phương pháp dự đoán ở phần tiếp theo, người viết cũng xin được lưu ý các bạn một vấn đề: Trong tất cả các phương pháp dự đoán, hiệu quả của nó còn tùy thuộc vào khả năng của người dự đoán. Do đó, trong sự phân tích các phương pháp dự đoán dưới đây, đều loại trừ tác nhân người dự đoán trong hiệu quả của nó; mà chỉ bàn đến hiệu quả về mặt lý thuyết của nó.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
----------------
* Chú thích: Sách đã dẫn
Xin đính chính: Bài trên viết là: Giáo sư Đặng Mộng Lận Xin sửa lại là: Giáo sư Nguyễn Mộng Lận
** Chú thích: "Dịch học giản yếu". Lê Gia. Nxb VHTT 2000. Trang 621
Thiên Sứ
10-07-2005, 07:32 PM
PHƯƠNG PHÁP BÓI TOÁN CÓ HỆ THỐNG
Tử Vi đẩu số - Hiệu quả và định mệnh?
Tử Vi đẩu số là môn dự đoán tương lai trong giới hạn số phận của từng con người cụ thể và những vấn đề liên quan đến nó. Phương pháp coi Tử Vi rất phức tạp, đòi hỏi người coi phải có tri thức nhất định để luận đoán. Để lập một lá số Tử Vi, dữ kiện phải có là ngày, giờ, tháng, năm sinh âm lịch. Trên cơ sở đó hơn 150 đại lượng gọi theo tên những vì sao được phân loại (theo bản văn chữ Hán, còn Tử Vi lưu truyền ở Việt Nam chỉ có khoảng 110 vì sao): chính tinh, trung tinh và phụ tinh. Các vì sao này, được phân bổ theo những qui tắc định trước cho mười hai cung qui ước của lá số, lần lượt có tên gọi như sau:
1. Bản mệnh - 2. Anh em (Huynh đệ) - 3. Vợ hoặc chồng (Phu Thê) - 4. Con cái (Tử Tức) - 5. Tiền Tài (Tài Bạch) - 6. Bệnh Tật (Giải Ách) - 7. Di chuyển (Thiên Di) - 8. Quan hệ xã hội (Nô Bộc) - 9. Nghề nghiệp chức vụ (Quan Lộc) - 10. Đất đai nhà cửa (Điền Trạch) - 11. Phúc Đức - 12. Cha mẹ (Phụ Mẫu).
Như vậy, với mười hai cung của Tử Vi bao gồm hầu hết những mặt chủ yếu của sự hoạt động và những mối quan hệ gia đình, xã hội của con người.
Để luận đoán một lá số Tử Vi, đòi hỏi phải có sự phân tích và nghiên cứu công phu dựa trên sự tương tác giữa các đại lượng thể hiện qua tên các vì sao và tương quan giữa các cung trong lá số của Tử Vi. Người luận đoán cũng cần phải có kiến thức để xử lý các đại lượng phản ánh sinh hoạt thời cổ phù hợp với sinh hoạt hiện đại. Thí dụ: Sao Thiên Mã ứng về vật dụng, trước đây có thể đoán là con ngựa, bây giờ phải luận là xe gắn máy, hoặc xe hơi…
Trong 12 cung của Tử Vi thì cung Mệnh có tính quyết định cho số phận con người. Những đại lượng được phân bố trong cung Mệnh sẽ phản ánh từ nhân cách, cá tính, chỉ số thông minh, khả năng nhận thức, thói quen, kể cả hình dáng bên ngoài. Sự tương tác giữa các đại lượng trong cung Mệnh và các cung khác trong sự vận động theo thời gian cuộc đời, sẽ phản ánh diễn biến của số phận. Tham vọng dự đoán của lá số Tử Vi cho một con người rất lớn. Thậm chí, qua 12 cung của lá số, người ta muốn đoán cả từng giai đoạn của cuộc đời, từng năm, từng tháng, từng ngày và có thể cả từng giờ. Hiệu quả của sự dự đoán - nếu người dự đoán giỏi - đôi khi rất đáng kinh ngạc. Hiện nay, trên cơ sở những nguyên tắc lập thành lá số Tử Vi, người ta đã lập trình đưa vào máy tính với những lời dự đoán đơn giản cho số phận con người.
Qua phương pháp dự đoán của Tử Vi, cũng như các môn bói toán khác thì định mệnh là một thế lực siêu nhiên đang thật sự hiện hữu, hay chỉ là một danh từ hoài nghi về sức mạnh của những qui luật đang chi phối con người?
Phải chăng cổ nhân đã dày công nghiên cứu, chỉ để cho hậu thế một cảm nhận hoài nghi về sự bất lực của con người cho số phận của mình?
Phải chăng con người và máy tính sẽ không có gì khác nhau, khi định mệnh đã lập trình cho từng số phận?
Sẽ là một kết luận vội vã, nếu cho rằng: Tử Vi là một học thuật huyền bí, mang tính dị đoan, chỉ vì cho đến tận ngày hôm nay - khi bạn đang đọc dòng chữ này - nền khoa học hiện đại vẫn chưa hề đặt được một giả thuyết đúng về nó (Chưa nói đến sự khám phá).
Cũng khó có thể giải thích một cách đơn giản cho rằng: Sự tồn tại của Tử Vi là do sự áp đặt của các thế lực phong kiến. Bởi vì,khi tâm lý con người luôn muốn tìm hiểu về tương lai; nếu Tử Vi không chứng tỏ được khả năng đáp ứng nhu cầu đó của con người.
Cũng khó có thể cho rằng Tử Vi là hệ quả của chiêm tinh học cổ đại, các đại lượng trong Tử Vi là những ngôi sao định mệnh mang tính huyền bí, rồi nhân danh khoa học kết luận tính mê tín dị đoan cho nó. Bởi vì, một tinh thần khoa học thực sự phải được thể hiện qua những tiêu chí khoa học cụ thể; chứ không thể được coi là có tinh thần khoa học chỉ vì không tin ma quỉ.
Nếu ta so sánh những đặc trưng của một lý thuyết khoa học là:
Tính khách quan; tính quy luật và tính hệ thống thì phương pháp luận đoán của Tử Vi có đầy đủ những tính chất đó. Tử Vi có hẳn một phương pháp luận và những qui tắc chặt chẽ cho nó. Trong môn Tử Vi không hề có dấu ấn của thần quyền. Nếu một lý thuyết khoa học còn cần tính tiên tri thì chính hiệu quả dự đoán của môn Tử Vi - bảo đảm cho sự tồn tại tính bằng thiên niên kỷ với một không gian phổ cập, rộng khắp ở những nước có ảnh hưởng của văn minh cổ Đông phương - chứng tỏ điều này.
Bởi vậy, hoàn toàn có cơ sở khoa học khi đặt một giả thuyết cho rằng:
Môn Tử Vi chính là một siêu công thúc đã được ký hiệu hoá; phản ánh một hiệu ứng vũ trụ tương tác có tính qui luật tới môi trường trái Đất và ảnh hưởng tới từng con người.
Nhưng sự chứng minh cho giả thuyết này là một việc cũng không đơn giản. Bởi vì, phương pháp luận của Tử Vi dựa trên thuyết Âm dương Ngũ hành, một học thuyết cho đến nay vẫn còn quá nhiều bí ẩn do thất truyền. Nhưng bắt đầu từ giả thuyết này mới có thể đi tìm tính hiệu quả của môn Tử Vi qua phương pháp dự báo của nó; dẫn tới sự lý giải luận đề được đặt ra (vì nếu coi Tử Vi là mê tín dị đoan thì không còn gì để bàn). Chúng ta bắt đầu đặt vến đề với tựa sau đây.
Những khiếm khuyết của phương pháp luận đoán theo Tử Vi
Cũng đã có nhiều ý kiến hoài nghi tính hiệu quả của khoa Tử Vi với những lập luận có vẻ chắc chắn, góp phần hỗ trợ cho sự phản bác khoa Tử Vi về sự hoàn chỉnh của nó, trong việc dự đoán tương lai cho mỗi con người. Đã có những lập luận hoài nghi và phản bác dựa trên những cơ sở như sau:
@ Bài toán trên cơ sở dữ kiện lập thành lá số:
Do một ngày được chia làm 12 giờ theo thời khắc cổ, chu kỳ năm Âm lịch theo phương pháp lập lá số Tử Vi là 60 năm (Từ Giáp Tý đến Quí Hợi). Do đó, trong vòng 60 năm đó sẽ có: 12 giờ x 30 ngày x 12 tháng x 60 năm x 2 (Nam & Nữ) = 518. 400 lá số Tử Vi. Nếu lấy tổng số dân trên thế giới ước tính 6000. 000. 000 người: 500. 000 (làm tròn số); Như vậy, sẽ có khoảng xấp xỉ 12.000 người chung một lá số Tử Vi. Một sự vô lý với thực tế : Không lẽ trên thế giới có đến 12.000 ông vua; 12.000 nhà tỷ phú ..vv.?
Nhưng vấn đề nêu trên chỉ là kết quả trung bình toán học thuần túy. Trên thực tế, không thể trong cùng một giờ, có đúng 12.000 người cùng sinh ra trên trái đất để cùng làm vua, hoặc cùng làm thợ giày. Theo quan niệm của khoa Tử Vi thì việc sinh ra một con người với một tính cách nào đó (làm vua, hoặc thợ giày) là kết quả của nhiều yếu tố rất phức tạp. Nhưng đã sinh vào thời điểm đó, thì phải có số phận đó. Những yếu tố để thai nhi phải sinh vào thời điểm này và có số phận đã an bài vào thời điểm đó, không nằm trong phạm vi lý giải của khoa Tử Vi.
@ Có những trường hợp cả một thành phố bị hủy diệt do thiên tai, hoặc chiến tranh. Trong thành phố đông đúc đó, có hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu con người sinh ra vào thời điểm khác nhau, tất nhiên họ phải có số phận khác nhau. Nhưng tại sao họ lại có thể có một kết thúc giống nhau: cùng chết trong một thời điểm. Như trường hợp thành phố Pompei bị huỷ diệt vào khoảng thập kỷ 40 sau CN chẳng hạn.
Trong trường hợp này, có thể giải thích một cách khiên cưỡng theo dữ kiện của môn Tử Vi là: thời điểm sinh của những người dân thành phố tuy khác nhau, nhưng vẫn có thể dẫn đến một kết thúc giống nhau trong lá số. Lập luận này không kiểm chứng được, vì chẳng ai xem được những lá Tử Vi của những người dân trong thành phố xấu số đó. Có thể nói: đây một yếu tố hoài nghi rất hợp lý tính chính xác của phương pháp luận đoán theo Tử Vi, nhưng không có nghĩa là một chứng cứ hợp lý để phủ nhận. Điều này cũng có thể giải thích bằng tính khác nhau của những phần tử trong một tập hợp; số phận của một tập hợp sẽ quyết định chung của các phần tử trong tập hợp đó, cho dù tính chất của các phần tử trong tập hợp có khác nhau. Tuy nhiên, cách giải thích này không nằm trong phạm vi quán xét của Tử Vi (Chỉ giới hạn trong việc xem xét số phận cho một cá thể, bắt đầu từ lúc ra đời).
@ Do chu kỳ năm của Tử Vi là 60 năm (một Hoa giáp). Như vậy, một người sinh cùng ngày, cùng giờ, cùng tháng, cùng năm của Hoa giáp trước và Hoa giáp sau - về lý thuyết của môn Tử Vi - sẽ phải giống nhau về số phận. Nhưng thực tế đã chứng tỏ sự kiện không đơn giản như vậy. Trong truyền thuyết đã có sự giải thích là cùng giờ sinh, nhưng do nhiều yếu tố tương tác khác, nên người thì làm vua, người thì làm chủ những bày ong. Nhưng vấn đề là cùng một lá số giống nhau, làm sao có thể đoán được ai làm vua, ai là chủ doanh nghiệp nuôi ong?
Có thể khẳng định rằng: Đây là sự khiếm khuyết về mặt lý thuyết của môn Tử Vi; hoặc là do thất truyền, hoặc là sự chưa hoàn chỉnh. Trên thực tế, môn Tử Vi là hệ quả của một học thuyết đã thất truyền, cho nên ngay cả những dữ kiện để lập thành lá số - cơ sở luận đoán của Tử Vi - cũng gây nhiều tranh cãi.
Về vấn đề này, trong sách "Chu Dịch và dự đoán học" (Nxb Văn Hóa 1995, trang 139) ông Thiệu Vĩ Hoa đã lập luận như sau (Trích dẫn):
Những người cùng giờ sinh, vì sao mệnh lại không giống nhau? Nguyên nhân rất nhiều, nhưng không có cách nào để giải thích cho rõ ràng, tỉ mỉ được. Tôi chỉ xin vắn tắt như sau:
1) Phương vị khác nhau, như phương Nam là Hỏa, phương Đông là Mộc, phương Bắc là Thủy, phương Tây là Kim. Người mệnh Hỏa nhưng sinh ở phương Nam hay phương Bắc sẽ khác nhau. Phương Nam là đất Hỏa vượng, phương Bắc bị Thủy khắc cho nên không như người sinh ở phương Nam.
2) Năm mệnh của phụ mẫu, anh chị em, con cái và số con, năm hôn nhân đều khác nhau.
Vì năm mệnh của những người trong gia đình khác nhau, mức độ ngũ hành sinh khắc sẽ khác nhau; do đó ảnh hưởng đối với con người cũng sẽ khác nhau.(*)
* Chú thích: Điểm 2 => người viết tóm lược
3) Nam,nữ khác nhau nên có sự vận hành thuận nghịch khác nhau.
4) Tướng mặt vân tay khác nhau, nên việc nó làm chủ cũng khác nhau.
5) Cốt tướng của người khác nhau.
6) Mộ tổ và nhà ở khác nhau, phương vị khác nhau.
7) Gen di truyền của mỗi người khác nhau.
8) Hoàn cảnh, điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.
9) Điểm sáng của sao chỉ có một. Tuy có hàng nghìn hàng vạn người cùng giờ sinh, nhưng điểm sáng của sao trực ban quyết không phải người nào cũng nhận được. Nếu điểm sáng này chiếu đúng vào một người nào đó, hoặc đúng vào người mang thai đang sinh, người đó có thể làm Hoàng đế, còn người khác thì không làm nổi Hoàng đế. Nếu có một tạp chí nào đó đã thông báo: bố mẹ Mao Trạch Đông đều đồng thời nhìn một vầng đỏ phía Đông phòng họ, rồi sau đó mang thai Mao Trạch Đông. Đương nhiên vầng đỏ này không phải là tất cả các bậc bố mẹ của những người cùng giờ sinh đều thấy được.
Mặc dù ông Thiệu Vĩ Hoa đã cố gắng giải thích về những yếu tố khác nhau cho số phận những người cùng ngày, giờ, tháng, năm sinh. Nhưng những sự giải thích này đều không đủ sức thuyết phục cho sự chứng minh tính hoàn thiện của Tử Vi. Vì môn Tử Vi (hoặc những môn bói toán khác bắt đầu bằng dữ kiện ngày, gìờ, tháng, năm) không đề cập đến những hiện tượng khác biệt nêu trên. Do đó, chỉ có thể coi đây là một sự khiếm khuyết về mặt phương pháp của môn Tử Vi; hoặc do sự thất truyền của môn này.
@ Tính thời điểm giờ sinh của một người trong khoa Tử Vi?
Giờ sinh đích thực theo cổ học Đông phương là thời điểm tương quan vị trí Địa cầu với mặt Trời. Ngày xưa, người ta dùng các dụng cụ đo bóng mặt trời để tính giờ sinh khi chưa có đồng hồ Tây. Một giờ trong lịch cổ ứng dụng trong Tử Vi bằng hai tiếng theo giờ hiện đại. Ngày nay, khi lấy số Tử Vi người ta căn cứ theo giờ qui ước. Bởi vậy, vấn đề giờ sinh khi lấy một lá số Tử Vi cũng gây nhiều tranh cãi. Có người cho rằng: Tất cả đều phải qui về giờ địa phương của người đoán lá số (?). Thậm chí, vì coi Tử Vi xuất phát từ Trung Hoa, cho nên có người còn đặt vấn đề lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn (?Sic!).
Chính từ những ý kiến sai lầm trên khiến môn Tử Vi được góp thêm phần huyền bí. Điều này chứng tỏ sự thất truyền một hệ luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành liên quan đến môn này, nên không có sự kế thừa những phương pháp của nó. Do đó, trên cơ sở một giả thuyết cho rằng: Tử Vi là một môn dự báo, dựa trên những hiệu ứng vũ trụ ảnh hưởng đến trái đất đã được ký hiệu và qui ước hoá vào thời điểm con người sinh ra và ảnh hưởng đến số phận người đó - thì phải lấy giờ sinh theo vị trí địa lý của người đó. Điều này phù hợp với phương pháp tính giờ theo mặt trời thời cổ: Sinh tại đâu, tính giờ tại đó.
Tuy nhiên, về giờ sinh - giả thiết đã loại trừ yếu tố không gian sinh - trong Tử Vi còn có yếu tố có khả năng làm sai lệch được trình bày sau đây. Do một giờ trong Tử Vi bằng 2 tiếng trong giờ hiện đại. Nhưng giờ hiện đại của một quốc gia lại theo vị trí múi giờ mà thủ đô nước đó tọa lạc. Như vậy, giữa giờ sinh quy ước - theo giờ quốc gia - và thời điểm hiệu ứng giờ sinh của Tử Vi sẽ có một khoảng cách đôi khi rất lớn. Điều này được miêu tả như sau: Chu vi trái đất khoảng 40. 000 Km; chia cho 12 múi giờ Tử Vi, ta sẽ có khoảng 3. 400 Km cho một múi giờ Tử Vi ở xích đạo. Như vậy, khả năng cùng vị trí không gian của múi giờ, nhưng có thể lấy đến hai lá số khác nhau vì thuộc giờ qui ước khác nhau, được định vị bởi thủ đô của các quốc gia khác nhau. Một thí dụ cho trường hợp này là: Hai bà mẹ ở sát biên giới, nhưng thuộc hai quốc gia có múi giờ qui ước khác nhau; họ cùng sinh vào một thời điểm. Như vậy, về lý thuyết của môn Tử Vi, hai đứa trẻ này phải có số phận giống nhau. Nhưng chúng lại có thể có hai lá số khác nhau, vì giờ sinh khác nhau? Hoặc vì khoảng chênh lệch về không gian múi giờ quá lớn; cho nên có thể xảy ra trường hợp hai số phận, nhưng vẫn chung một lá số Tử Vi. Mặc dù những trường hợp trên có thể khắc phục bằng cách lấy hai hoặc ba lá số cạnh giờ nhau và tìm một lá đúng nhất. Nhưng thực tế người dự đoán thường chỉ lấy một lá số. Do đó, khả năng sai lệch có thể xảy ra. Hoặc một vấn đề nữa được đặt ra: Nếu một người sinh ở Bắc hoặc Nam cực thì giờ sinh hoặc lá số sẽ như thế nào khi khoảng cách giữa các múi giờ rất ngắn, gần như bằng 0? Đây là một trường hợp ngoại lệ của môn Tử Vi chăng? Nếu xét theo lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành , thì ở Bắc và Nam cực ngày và đêm không bình thường so với các nơi khác (Âm Dương không tương giao). Có thể vì vậy có sự khác biệt khi luận đoán cho những số phận ở các vùng địa lý khác nhau theo vĩ tuyến. Nhưng môn Tử Vi lại không đề cập đến vấn đề này.
@ Hơn nữa, vì Tử Vi thiếu hẳn một hệ luận hoàn chỉnh liên hệ với thuyết Âm Dương Ngũ hành – là cơ sở phương pháp luận của nó – nên những yếu tố luận đoán của Tử Vi cứ như từ trên trời rơi xuống, mang tính tiên đề. Điều này đã khiến cho một số hiện tượng tồn nghi trong môn Tử Vi, như: Bản chất các vì sao, cách an sao và tính chất một số sao vẫn còn gây tranh cãi và chưa lý giải được. Đây cũng là số phận của hầu hết những phương pháp ứng dụng có phương pháp luận là thuyết Âm Dương Ngũ hành và cũng là nguyên nhân chính để gây sự hoài nghi về tính khoa học của môn này.
Như vậy, qua phần trình bày ở trên cho thấy: Phương pháp bói Tử Vi vẫn có những yếu điểm chưa thể coi là chưa hoàn chỉnh và chính xác (chưa nói đến những sai lệch khác về hành khí theo Ngũ hành của bản mệnh trong Hoa giáp và tương quan hành với độ số cục của Tử Vi). Đây là sai lệch rất căn để của các môn dự đoán Đông phương cổ (Lưu ý: Luận điểm này thể hiện và chứng minh trong sách "Thời Hùng Vương & Bí ẩn lục thập hoa giáp". Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nxb VHTT. Hoặc quí vị có thể tham khảo thêm trong tựa: "Hà Đồ trong văn minh Lạc Viêt". Mục "Các môn học khác" Chân Thuyện.org).
Nhưng cho dù Tử Vi là một môn dự đoán chưa hoàn chỉnh, hoặc do thất truyền sai lạc, hoặc do ngay từ những tri thức lập thành môn này, thì cũng không có cơ sở để cho rằng: Đây là một hiện tượng mê tín dị đoan. Bởi vì, Tử Vi có đầy đủ những yếu tố gần gũi với tri thức khoa học hiện đại. Như vậy, với tất cả những nhận xét phản bác trình bày ở trên, chỉ thể hiện tính khiếm khuyết của môn Tử Vi, chứ chưa thể coi là đã chứng minh được tính phi khoa học của môn này. Do đó, nếu với một tinh thần thận trọng và hợp lý nhất, chỉ có thể coi những phương pháp dự báo của môn Tử Vi là chưa chứng minh được trên cơ sở tri thức khoa học hiện đại; khi hiệu quả ứng dụng của nó đã tồn tại hàng thiên niên kỷ trong lịch sử văn hóa Đông phương chính là sự biện minh cho cơ sở khoa học của nó.
Chính hiệu quả của môn Tử Vi cũng biện minh cho sự thất truyền của một hệ luận từ thuyết Âm Dương Ngũ hành liên quan. Chưa nói đến những sự sai lệch có tính căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán.
Thực tế đã cho thấy không thể có một phương pháp ứng dụng một giá trị nhận thức ra đờI trước phương pháp luận của nó. Do đó; sự thất truyền của một hệ luận liên hệ với phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một yếu tố quan trọng chứng tỏ:
Tử Vi đã lưu truyền từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông Phương, thực tế cho thấy nó chỉ lưu truyền phần ứng dụng. Đến đời Tống, phần ứng dụng - đã sai lạc phần nào trong khi lưu truyền - được phát hiện và công bố, khiến cho những yếu tố lập thành lá số có tính chất tiên đề cứ như từ trên trời rơi xuống. Tương tự như những chiếc máy vi tính trong thời hiện đại, khi đã phổ biến chỉ là phần ứng dụng. Nếu giả thuyết rằng có một sự cố nào đó hủy diệt tất cả những hệ luận của tri thức liên quan đến việc chế tạo máy vi tính, thì lúc đó con người ở thế hệ sau - không phải là sự tiếp tục kế thừa của nền văn minh đó - sẽ nhìn sự hiện hữu của chiếc máy vi tính như một sự huyền bí. Hiện tượng này tương tự như khi con người chỉ biết đi xe ngựa, chưa biết đến chiếc ôtô và những nguyên lý, phương pháp tạo ra nó, họ sẽ không thể tin được có một loại xe không ngựa kéo vẫn chạy được. Nhưng chiếc xe, chiếc máy vi tính là những vật thể hiện hữu sẽ ít mang tính huyền bí. Còn bói toán thuộc về những giá trị phi vật thể, cho nên khi thất truyền những hệ luận liên hệ, tính huyền bí sẽ phát triển tùy theo khả năng tưởng tượng của con người.
Đây cũng là một bằng chứng nữa, chứng tỏ: những hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện trong cổ thư chữ Hán không có tính kế thừa - là một yếu tố cần để chứng tỏ một nền văn minh phát triển liên tục - mà chỉ là sự tiếp thu không hoàn chỉnh từ một nền văn minh khác đã thất truyền.
Do đó, từ những hiện tượng và những vấn đề đã phân tích ở trên, xuất phát từ tính quy luật trong phương pháp dự báo, cũng như khả năng dự báo của Tử Vi là cơ sở của một giả thiết cho rằng: Tử Vi là một phương pháp luận đoán tương lai cho mỗi một con người, trên cơ sở sự nhận thức của con người với những hiệu ứng vũ trụ, tương tác có tính quy luật với môi trường trái đất và ảnh hưởng lên sự phát triển tâm, sinh lý con người tại thời điểm người đó ra đời. Từ những nhận thức này, người xưa đã lập ra môn Tử Vi có thể dự báo được tiến trình vận động của cuộc sống cho mỗi con người. Hay nói một cách khác: Tử Vi là môn dự báo có cơ sở khoa học, nhưng những hệ luận liên quan đã thất truyền. Giả thuyết này sẽ được tiếp tục chứng minh rõ hơn ở phần sau.
Nhưng ngay cả trong trường hợp coi Tử Vi là một phương pháp tiên tri có cơ sở khoa học, thì điều đó cũng không có nghĩa là sự luận đoán của Tử Vi có tính chính xác tuyệt đối, vì những sai lệch có thể có đã trình bày ở trên (Ngay cả khi đã loại trừ khả năng hay, dở của người luận đoán). Chỉ nên coi Tử Vi như một sự tham khảo về tính tất yếu có khả năng xảy ra và từ đó ứng sử phù hợp với qui luật của tự nhiên. Tiếc thay; sự khắc phục số mệnh là điều không dễ dàng. Vì nếu khắc phục được nó dễ dàng thì câu trả lời cho luận đề này - "Định mệnh có thật hay không?" - đã kết thúc ở đây…..
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Tử Vi và Thiên văn học hiện đạI
Kính cảm ơn bác Thiên Sứ đã viết đề tài này. Học Viên lớp Tử Vi họ đã hỏi rất nhiều :"Định Mệnh có hay không?"... bây giờ bác viết thế này đúng là hay quá.
Yên Ba nhé.. thỏa mãn chưa...? Đọc bài của bác Thiên Sứ chắc là Yên Ba sẽ giải đáp được thắc mắc đó
Chúc bác Thiên Sứ an lạc
Thiên Sứ
10-07-2005, 08:21 PM
TỪ VI VÀ THIÊN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
Tôi đã hân hạnh trình bày về sự sai lệch có tính căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán. Đồng thời chứng minh cho sự hiệu chỉnh vị trí Tôn Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ (Xin xem bài viết: “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt”. Mục: "Các môn học khác".Chân Thuyên. org) Trên cơ sở này chúng ta sẽ nhận thấy một cách dễ dàng sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ thể hiện trong những nguyên tắc và qui luật an sao Tử Vi. Xin xem hình dưới đây:
TUƠNG QUAN ĐỊA CẦU VÀ HÀ ĐỒ & 12 CUNG TỬ VI
http://viettop.net/bobeo/hadodiacau.jpg
Hình trên đây; tôi đã hân hạnh trình bày một lần trong đề tài: "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt". Đây là đồ hình thể hiện sự liên quan giữa Trái Đất với ”Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”. Từ đồ hình này; chúng ta sẽ thấy những yếu tố nhằm chứng minh cho một giả thuyết cho rằng:
“Tử Vi chính là sự ứng dụng những tri thức về những hiệu ứng vũ trụ tương tác vớI Địa Cầu”.
Những yếu tố này là:
1) - Hai cung Thìn Tuất là nơi xuất phát của hầu hết các sao trong Tử Vi chính là sự biểu kiến qui ước của Mặt phẳng Hoàng Đạo Trái Đất. Và chúng ta cũng biết rằng mặt phẳng Hoàng Đạo chính là mặt phẳng quĩ đạo biểu kiến của các vì sao gần Trái Đất.
2) - Sao Tử Vi luôn bắt đầu (có tính qui ước) cho các số Cục từ cung Dần. Cung Dần là Dương Mộc tương ứng với cung Cấn của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ (Theo đồ hình trên). Trong bài viết: "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt", tôi đã chứng minh: Cung Cấn chính là Trái đất trong vị trí cửu tinh của Thái Dương hệ.
(Phần này có hiệu chình)
3) Khoa Thiên văn học hiện đại đã chứng minh rằng:
Quĩ đạo các vì sao quan sát từ trái đất có một hiệu ứng chuyển dịch ngược; sau đó lại vận động trở lại theo chiều chuyển động của nó => Hiệu ứng này tạo ra do trái Đất quay quanh mặt trời. Người ta gọi đó là:
Hiệu ứng chuyển động đảo biểu kiến quỹ đạo chuyển động của các vì sao quan sát từ trái Đất.
Đây cũng chính là nguyên tắc tính đại & tiểu hạn trong Tử Vi và phương pháp an sao của phần lớn các sao trong Tử Vi (Chuyển theo “Tháng” và ngược lại theo “Giờ”). Xin quí vị quan tâm xem hình minh hoạ so sánh sau:
PHƯƠNG PHÁP LƯU ĐẠI HẠN VÀ AN SAO TRONG TỬ VI
So sánh với quỹ đạo chuyển động đảo biểu kiến của các sao quan sát từ trái Đất
http://viettop.net/bobeo/dbk1.jpg
http://viettop.net/bobeo/dbk2.jpg
Từ hiệu ứng này và trên cơ sở giả thuyết đã nêu; chúng ta sẽ kiểm định lại hai phương pháp tính Nguyệt hạn của Tử Vi là:
a) Năm tiểu hạn đâu; tháng Giêng xuất phát từ đó và thuận theo chiều kim đồng hồ.
b) Từ năm tiểu hạn tính ngược đến tháng sinh và thuận đến giờ sinh.
Các Tử Vi gia thường đưa ra cả hai phương pháp rồi khuyến cáo người xem ứng dụng cả hai và chứng nghiệm. Nhưng về mặt lý thuyết thì phương pháp 2 phù hợp vớI hiệu ứng trong sự chuyển đông của các vì sao quan sát từ trái Đất đã nêu ở trên.
Tất cả những yếu tố trên là là cơ sở để chứng minh cho một hiệu ứng vũ trụ tương tác vớI trái Đất được ký hiệu và qui ước hoá trong Tử Vi gây ảnh hưởng đến con người. Cơ sở này chỉ được chứng minh và hoàn thiện khi nguyên lý căn để của nó được công nhận là:
Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ
Từ cơ sở này; như vậy chúng ta sẽ có một hệ quả liên hệ với nó là:
* Trần Đoàn lão tổ không thể là tác giả của Tử Vi đẩu số. Ông ta chỉ có công phổ biến Tử Vi trong văn hoá Hán bằng chữ Hán (là văn tự chính thống và phổ biến trong đế quốc Hán vào thời dân Việt mất nước cả ngàn năm). BởI vì; ông ta – vào thờI Trung cổ - không thể có những tri kiến thiên văn của nền khoa học hiện đạI và của những tri kiến mà chính nền khoa học hiện đạI cũng chưa đạt tới. Hơn nữa; ông ta không thể làm ra một giải pháp đúng từ một đồ hình có trên lưng Rùa Thần hiện ra trên sông Lạc (Sic!).
* Sự vận động của vũ trụ từng giây; từng phút. Nói theo ngôn từ của Đức Thích Ca là từng sát na => trong khi lá số Tử Vi là những ký hiệu qui ước; nên với một lá số cũng chỉ có giá trị tương đốI về mặt lý thuyết. Bởi vì; chúng phải có sai lệch trong một khung nhất định. Điều này; cũng giải thích vì sao cùng dữ kiện:ngày; giờ; tháng năm sinh vẫn có thể có những sai lệch cho từng số phận. Nhưng trong điều kiện chuẩn - về lý thuyết – thì tính chính xác đến chi tiết khi luận đoán của Tử Vi; đủ cho thấy trí tuệ siêu việt của người xưa vượt qua khả năng nhận thức của khoa học hiện đại.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
THÁI ẤT THẦN KINH & KHẢ NĂNG DỰ BÁO
Thiên Sứ
10-07-2005, 09:07 PM
Xin quí vị xem bài viết ở dưới do lỗi kỹ thuât.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
10-07-2005, 09:11 PM
Thiên Sứ đã viết:
Cung Dần là Dương Mộc tương ứng với cung Cấn.
Trong khi đó, ở môt luận đề khác tôi đã chứng minh:
Cung Cấn là Âm Mộc tương đương với Địa cầu trong cửu tinh của hệ mặt Trời.
Điều này có thể gây thắc mắc cho một số quí vi. Về việc này tôi xin giải thích rằng:
Quy luật Âm Dương của 12 địa chi theo một qui luật khác. Nên không có sự trùng hợp về Âm Dương của 8 cung trên Hà Đồ.
Qui luật của Hà Đồ là:
Phần Âm trên Hà Đồ (Phía trên Địa cầu là Dương. Lý trên Hà Đồ là Âm):
Càn = Âm đến Khảm = Dương đến Cấn = Âm đến Chấn = Dượng.
Nhưng trong liên hệ với 12 Địa chi bắt đầu từ Hợi tương đương với Càn thì:
Hợi = Càn Âm đến Tý = Khảm Dương. Nhưng đến Sửu = Âm thì Cung Cấn ko thể tương đương do Thuỷ mộ ở Sửu trong tương quan địa chi (Hợi = Thuỷ sinh; Tý = Thuỷ Vượng; Sửu = Thuỷ Mộ. Tương quan Tam hợp lại theo một qui luật khác).
Hay nói cách khác: Qui luật Âm Dương của Địa chi không phải quy luật đó trên Hà Đồ và Hậu Thiên Lạc Viêt. Trong sự lý giải này tôi dựa trên sự tương quan của cung phối hơp.
Đó là lý do cung Dần là Dương Mộc trong Địa chi vẫn là cung Cấn trong liên hệ Hậu Thiên Lạc Việt với Hà Đồ. Sự lý giải này đuọc lựa chọn vì tính nhất quán với các mệnh đề khác.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vi.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
10-07-2005, 10:42 PM
THÁI ẤT THẦN KINH & KHẢ NĂNG DỰ BÁO
Chúng ta giả thiết rằng: Nếu một người sinh ra trong điều kiện chuẩn - về lý thuyết - cùa lá số Tử Vi thì lúc đó mọi quy ước đều đúng với thực tế. Điều này sẽ có thể dự báo chính xác đến từng chi tiết cho số phận một con người. Đó là nguyên nhân góp phần tạo nên môt khái niệm về định mệnh; thì Thái Ất cũng là một môn dự báo có tính hệ thống; qui tắc và chuẩn mực có tham vọng dự báo tất cả các hiện tượng xã hộI và tự nhiên trên trái Đất liên quan tới con ngượì. Bởi vậy, có thể nói răng chính môn Thái Ất đã tạo ra một ý niệm khắc nghiệt hơn về định mệnh ở tầm cỡ xã hội.
Trong các trước tác thuộc về cổ học Đông phương, mà hầu hết đều được gán cho các tác giả thuộc văn minh Hoa Hạ thì riêng có Thái Ất thần kinh là cuốn kỳ thư duy nhất ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành, không có tác giả thuộc nền văn minh Hoa Hạ. Người viết cho rằng:
Sẽ không thể có một lập luận hoàn chỉnh và là sự sai lầm, nếu vẫn cho rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc văn minh Hoa Hạ, nhưng cuốn Thái Ất lại thuộc về văn minh Lạc Việt.
Bởi vậy, hai nhà nghiên cứu Thái Quang Việt và Nguyễn Đoàn Tuân tuy có ý tưởng đúng khi cho rằng: Thái Ất thần kinh là trước tác của người Việt(*), nhưng lập luận lại không vững chắc khi mắc sai lầm trên.
-------------
* Chú thích: "Thái Ất thần kinh" Dịch giả Thái Quang Việt, Nguyễn Đoàn Tuân. Nxb VHDT 2001 - Tái bản 2002. Trang 9.
Thái Ất thần kinh là một cuốn sách ứng dụng thuần túy, mang tính dự báo tương lai. Tham vọng dự báo của Thái Ất bao trùm từ sự vận động của vũ trụ mà hiệu ứng của nó ảnh hưởng tới môi trường trái đất, cho đến mọi vấn đề xã hội và con người. Trong Thái Ất ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành và ký hiệu của Kinh Dịch. So vớI Tử Vi; phương pháp dự đoán của Thái Ất thể hiện khá rõ nét các hiệu ứng vũ trụ tương tác lên trái đất có qui tắc, chuẩn mực rõ ràng và cũng không hề có nội dung thần quyền. Một ví dụ cho vấn đề này là cách tính mốc chuẩn của Thái Ất.
Theo Thái Ất, mốc chuẩn thời gian được tính theo Thượng cổ Giáp Tý 10.153.917 trước CN. Cũng theo Thái Ất, căn cứ để tính mốc chuẩn này vì:
"Năm gọi là gốc thời gian vì có hiện tượng 7 sao tụ hội. Tức là tất cả Nhật Nguyệt hợp bích và 5 tinh liên châu đều họp ở cung Tý; cho nên: năm, tháng, ngày, giờ, thiên chính, đông chính đều lấy cung Tý làm mốc đầu hết, gọi là Thượng cổ Giáp Tý"(*).
---------
*Chú thích: Thái Ất thần kinh. Nxb VHDT 1/2001. tr:300.
Như vậy, ngay từ mốc chuẩn đầu tiên đã cho thấy phương pháp tính toán của Thái Ất có cơ sở là những hiệu ứng và sự tương tác từ vũ trụ. Hiệu quả của phương pháp tính Thái Ất quả là đáng kinh ngạc, khi cho đến nay tính tiên tri - là yêu cầu của một lý thuyết khoa học - vẫn tỏ ra có hiệu quả (Đã trích dẫn: lời dự báo thiên tai cho năm 2002). Nhờ có duyên hội ngộ với học giả Nguyễn Đoàn Tuân; cụ đã cho xem một bản văn trong đó cụ đã tính trước và biết được sự thất bại của tàu con thoi Chelinge 13 bị cháy sau khi rời bệ phóng.
Từ lâu, trong các truyền thuyết dân gian đã cho rằng: Chính ngài Trạng Trình đã sử dụng Thái Ất để dự đoán 500 năm về trước và 500 năm về sau. Hiệu quả của dự báo Thái Ất đã được truyền tụng trong dân gian và cho đến ngày nay. Mặc dù những khái niệm trong Thái Ất vẫn thách đố tri thức khoa học hiện đại; nhưng chính những công thức tính toán và chuẩn mực, qui tắc của Thái Ất với khả năng tiên tri của nó, là minh chứng cho tính khoa học và khả năng đã tồn tại của một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ. Đồng thời cũng chứng tỏ khả năng nhận thức của con ngườI trước những yếu tố tế vi tác động và chi phốI lên chính con người. Bởi vì, người ta chỉ có thể lập trình; qui ước và hệ thống hoá để tính toán được những trạng thái vận động có tính quy luật; chứ không thể nào tính toán trước những trạng thái huyền bí, phi quy luật. Không ai có thể tính trước được việc làm của thần linh và ma quỉ. Những dữ kiện trong Thái Ất cũng hé mở cho khả năng khám phá sự tồn tại của những hiệu ứng vũ trụ tương tác với trái Đất, cuộc sống, xã hội và con người mà con người có thể nhận thức được. Kết quả của khả năng tiên tri thể hiện trong Thái Ất và Tử Vi đẩu số đã chứng tỏ tính qui luật trong sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ qua những qui tắc và chuẩn mực của nó.
Như vậy, vấn đề còn lại sẽ là khả năng nhận thức của con người - trên cơ sở tri thức hiện tại hoặc sự phát triển của tri thức trong tương lai - có phát hiện được những hiệu ứng vũ trụ đang tác động lên chính con người hay không? Đây là một hiện tượng rất khó có thể chứng minh được bằng thực nghiệm trong khả năng của nền khoa học hiện đại. Điều này chỉ có thể chứng minh dựa trên cơ sở những mối liên hệ hợp lý của những vấn đề và hiện tượng liên quan. Hay nói một cách khác: nó thuần tuý mang tính lý thuyết. Nhưng chưa chứng minh được bằng thực nghiệm, không có nghĩa là những hiệu ứng vũ trụ đó không tồn tại. Bởi vì, con người cũng như tất cả các sinh vật đã phát sinh, phát triển và tồn tại trên trái đất này, đều chịu ảnh hưởng của những hiệu ứng vũ trụ và đã hòa nhập với nó. Một thí dụ trong trường hợp này là: bạn sẽ rất ít khi nghĩ rằng bạn đang thở, mặc dù không khí là yếu tố tồn tại của bạn. Do thở là một điều kiện cần, đã hòa nhập với bạn ngay từ lúc bạn mới chào đời. Nhưng không khí là một thực thể tồn tại bên ngoài bạn, nên có thể cảm nhận bằng giác quan. Thí dụ khác là: bạn có bao giờ cảm nhận được lực hấp dẫn hoặc ảnh hưởng của từ trường trái đất lên người bạn không? Có lẽ chỉ trừ những siêu nhân, còn ở tình trạng phổ biến - trong đó có cả tôi - câu trả lời sẽ là: "Không cảm nhận được điều này". Bạn chỉ có thể nhận thức được từ trường và lực hút của trái đất qua các hiện tượng liên quan và là một thực tế đã được khoa học hiện đại chứng minh. Theo truyền thuyết, việc chứng minh khoa học cho sự tác động của lực hấp dẫn được nghĩ đến, khi quả táo rơi xuống cái đầu vĩ đại của nhà bác học Niu Tơn vào thế kỷ XVII. Hàng ngàn năm trôi qua; hàng triệu quả táo đã rơi…Nhưng chỉ đến khi nó rơi vào đầu nhà bác học Niu Tơn nhân loại mới phát hiện ra lực hấp dẫn. Thật là may; nếu quả táo thiên thần đó rơi xuống đầu một con bò thì có lẽ đến bây giờ người ta vẫn chưa tin là có sức hút trái Đất.
Con người đã biết được lực từ trường và lực hấp dẫn, nhưng vẫn không cảm nhận được, vì đã phát sinh, phát triển, tồn tại và hòa nhập trong đó. Tương tự như vậy; những hiệu ứng vũ trụ khác đang tác động lên con ngườI sẽ không cảm nhận được.
Như vậy; vớI giả thuyết cho rằng: Tử Vi – và tất cả những khoa dự đoán Đông phương có phương pháp; có chuẩn mực; hệ thống và qui tắc nói chung – là những hiệu ứng vũ trụ có tính qui luật tác động lên con ngườI và tạo nên khả năng tiên tri cho số phận con người - thì vấn đề rất cần và đủ và rất nghiêm túc cho việc lý giải câu hỏI từ ngàn xưa của con người:
"Định mệnh có thật hay không?" sẽ là:
Những hiệu ứng tương tác có tính quy luật thể hiện trong Tử Vi và Thái Ất đó có tác động lên trạng thái ý thức của con người hay không?
BởI vậy; vấn đề cần bàn sau đây sẽ là bản chất của ý thức trong sự tương tác với hiệu ứng vũ trụ.
Đây là một yếu tố rất căn để tạo nên chiếc chìa khoá mở cánh cửa bí ẩn của “Định Mệnh”.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC
barca
10-07-2005, 10:49 PM
Trong mục giải đoán số mệnh, bác TS có dự đoán vấn đề khủng bố sẽ xảy ra tiếp theo ở Đức và Mỹ. Xin bác có thể nói rõ hơn vì sao không ạ? Trong mục đó có vài người đang thắc mắc như cháu. Chắc có lẽ bác quên.
Mong được nghe ý kiến của bác. Cái link nó đây bác ạ :
http://www.chanthuyen.org/forums/showthread.php?t=1349
Yên Ba
11-07-2005, 05:42 AM
Kính cảm ơn bác Thiên Sứ đã viết đề tài này. Học Viên lớp Tử Vi họ đã hỏi rất nhiều :"Định Mệnh có hay không?"... bây giờ bác viết thế này đúng là hay quá.
Yên Ba nhé.. thỏa mãn chưa...? Đọc bài của bác Thiên Sứ chắc là Yên Ba sẽ giải đáp được thắc mắc đó
Chúc bác Thiên Sứ an lạc
Dạ đúng, cháu rất thích thú theo dõi đề tài này của bác Thiên Sứ. Cảm ơn bác rất nhiều.
Kính chúc bác vui khoẻ.
Thiên Sứ
11-07-2005, 08:44 AM
BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC
Phù Dịch quảng hỹ. Dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngữ. Dĩ ngôn hồ nhĩ tắc nhi chính. Dĩ ngôn hồ thiên địa chi gian tắc bị hỹ.
Dịch lớn thay. Nói về xa thì vô củng. Nói về gần thì tĩnh mà chính. Nói về trời đất thì bao trùm tất cả.
Khái niệm và vấn đề
Qua truyền thuyết thì: Kể từ khi những lời tiên tri xuất hiện trong văn minh nhân loại cả ngàn năm; sau đó mới thấy lịch sử nhân loại ghi nhận tư tưởng minh triết. Cũng hàng ngàn năm qua đi…Đã có nhiều cách giải thích khác nhau về vũ trụ và con người. Nhưng hầu hết các trường phái triết học hiện đại đều phân biệt trạng thái ý thức (hoặc tinh thần) và vật chất.
Khái niệm ý thức được hầu hết các trường phái triết học lớn thống nhất coi là:
Ý thức là một dạng tồn tại phi vật chất và có khả năng tương tác với vật chất.
Bởi vậy; nếu ta so sánh tính phi vật chất và tương tác với vật chất của ý thức với tiêu chí khoa học hiện đại cho rằng:
“Một lý thuyết khoa học phải có tính hợp lý, tính quy luật và có khả năng tiên tri” -
Từ "tiêu chí khoa học" và "giả thiết về những hiệu ứng vũ trụ tác động lên con người có tính qui luật dẫn đến khả năng tiên tri" thì vấn đề sẽ được đặt ra là:
@ Những hiệu ứng này có tác động lên ý thức con người hay không và ngược lại?
Hay nói một cách khác rõ hơn:
Những quy luật vật lý có tương tác với ý thức hay không và ngược lại?
A) Nếu câu trả lời là “CÓ”.
Thì bản chất của ý thức mang thuộc tính vật chất. Như vậy sự phân biệt giữa vật chất và ý thức là một sai lầm.
B) Nếu câu trả lờI là “KHÔNG” thì tất cả các qui luật vật lý thể hiện sự tương tác của vật chất đều không thể tồn tại khi có tác động của ý thức - vốn được coi là một dạng tồn tại phi vật chất và tác động trở lại vật chất. Tất yếu sẽ không có khả năng tiên tri. Vì tính quy luật lúc ấy sẽ không thực hiện được, do một sự tương tác lên quy luật vật chất đó, không thể kiểm chứng là ý thức.
Rõ ràng cả hai trường hợp đều sại !
Vậy bản chất của ý thức là gì?
Tính ”Phi vật chất” của ý thức được các trường phái triết học khác nhau thừa nhận. Như vậy với khái niệm này; thì tất cả các quy luật vật lý – trong đó có những hiệu ứng vũ trụ - sẽ không có sự tương tác với ý thức. Ý thức lúc này là một chủ thể tồn tại độc lập với vât chất và là một chủ thể có khả năng chi phối các quy luật vật lý?
Như vậy; với khái niệm về "ý thức” như trên và trên cơ sở tiêu chí khoa học về khả năng tiên tri; thì khả năng tiên tri sẽ không thực hiện được. Bởi vì - ngoài những hiêu ứng vũ trụ tương tác có qui luật với sự tồn tại có thuộc tính vật chất của con người có thể tiên tri - thì vấn đề “định mệnh” sẽ phải tính đến một hiệu ứng của ý thức phi vật chất và không chịu sự chi phối bởi những qui luật vật lý của vật chất. Đó là nguyên nhân – ít nhất về mặt lý thuyết - khả năng tiên tri sẽ không thưc hiện được và mọi quy luật của tự nhiên tạo nên tri thức nhân loại hiện đại sẽ sụp đổ…
Nhưng thực tế khả năng tiên tri vẫn đang hiện hữu và tồn tại từ ngàn đời và ngay bây giờ, tại đây: Lý số Chân Thuyện. Trong đó tồn tại những phương pháp tiên tri có hệ thống; có qui luật và khách quan đã dẫn chứng và tất cả đều biết là Tử Vi; Tử Bình….
Như vậy; sự chính xác trên thực tế của các lời tiên tri được kiểm chứng trải hàng ngàn năm với các phương pháp mang tính qui luật của sự tiên tri tự nó đã phủ nhận khái niệm “Ý thức là một thể tồn tại phi vật chất”.
Hay nói một cách khác:
Ý thức phải chịu sự tác động của những qui luật vật lý mà loài ngườI đã khám phá ra hoặc chưa khám phá ra.
Nhưng nếu ý thức không thể phi vật chất thì con ngườI rút cục chỉ là robot cao cấp chăng?
Thực tế đã chứng minh không phải như vậy! Về mặt lý thuyết một vần đề tiếp theo được đặt ra khi ý thức không thể phi vật chất và là một sự vận động có tính qui luật là:
Nếu tư duy (Ý thức; tinh thân..) là sự vận động có tính quy luật và chịu sự tương tác của các quy luật vật lý thì cái gì nhận thức được nó?
Người viết xin được trình bày một nhận xét riêng của mình và đặt vấn đề - có thể coi là một giả thuyết sau đây:
Trong giai đoạn đầu của sự hình thành Thái Dương hệ - tức là vào giai đoạn chưa hề có một phân tử hữu cơ nào xuất hiện trên trái đất để mở đầu cho sự sống - thì tất cả từ những sự vận động khởi đầu cho một quá trình phát triển, tiến hóa của tự nhiên trên trái Đất đều ảnh hưởng của những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ. Chính những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ này đã ảnh hưởng và chi phối quá trình tiến hóa của vật chất - cụ thể là trên trái đất - từ vô cơ đến hữu cơ, từ đơn giản đến phức tạp, cho đến khi hình thành những sinh vật cao cấp trên trái Đất hiện nay, trong đó có con người. Do đó, tất cả những sự hiện hữu dù đơn giản hay phức tạp; dù sinh vật bậc thấp, hay bậc cao trên trái Đất, đều tồn tại và phát triển trong tính tất yếu đã hiện hữu của những hiệu ứng vũ trụ và hòa nhập cân đối với những hiệu ứng đó, ngay từ những tế bào sống đầu tiên. Loài người cũng chỉ là một hiện tượng tồn tại hữu hạn trong quá trình vận động tương tác vô tận của vũ trụ. Do đó, sự tác động mang tính qui luật của những hiệu ứng vũ trụ lên chính con người (bao gồm cả những giá trị nhận thức và sự vận động tư duy; vốn là hệ quả của các hiệu ứng trên) phải là một thực tế hiện hữu và liên tục”.
Nếu những vấn đề đặt ra theo giả thuyết ở trên không phải là một thực tế hiện hữu - tức là sự vận động của tâm lý, tư duy, những giá trị tri thức vv mà gọi chung là những giá trị tinh thần của con người, tách rời hoặc không chịu sự tác động của những hiệu ứng vũ trụ - thì sự phủ nhận này sẽ dẫn đến tính hợp lý tiếp theo của nó là:
Thừa nhận một sự tồn tại thoát thai từ tự nhiên và trở thành phi tự nhiên (xuất phát từ vật chất và phi vật chất); không nằm trong sự chi phối của tự nhiên và tách rời tự nhiên ở tầm cỡ vũ trụ. Và điều này sẽ phủ nhận tất cả khả năng tiên tri.
Hay nói theo cách khác:
Mọi lý thuyết khoa học sẽ sụp đổ
Nếu sự tồn tại phi tự nhiên đó có thật và hiện hữu trong con người, thì đó chính là con đường dẫn tới ý niệm về Thượng Đế. Vì theo truyền thuyết, chỉ có Thượng Đế mới không chịu sự tương tác của tự nhiên. Điều này không thuộc về những luận điểm nhân danh khoa học và luận đề này sẽ được kết thúc ở đây.
Vì Định Mệnh sẽ không có thật mà tuỳ thuộc vào ý chí của Đấng Tối Cao.
Nếu đặt vấn đề: “Ý thức có trước” thì câu hỏI đặt ra tiếp theo sẽ là :
Tại sao cái có trước đó lại tạo ra những qui luật vật lý như thế này chứ không như thế kia? Tại sao nó không tạo ra một thế giớI ngay như bây giờ mà lại phải từ một nền văn minh từ thấp và phát triển như hiện nay? Đây cũng là vấn đề được đặt ra trong cuốn “Thượng Đế và khoa học” và được giảI thích rằng:
Thượng Đế toàn năng đã sắp đặt vũ trụ như hiện nay với những qui luât của nó?
Nhưng khi đặt vấn đề như vậy, rõ ràng mọi tri kiến khoa học sẽ trở nên không cần thiết nếu Thượng Đế toàn năng muốn sắp đặt lại vũ trụ! Bản thân ngài Jean Guitton - Đồng tác giả; viện sĩ Hàn lâm viện Pháp quốc – cũng chưa chứng minh được sự hiện hữu của Thượng Đế. Lập luận của ông trong suốt cuốn sách chỉ có thể coi là một cách đặt vấn đề khi tri thức khoa học hiện đạI còn khiếm khuyết ở cách giải thích sự khởI nguyên của vũ trụ. Và khi các nhà khoa học tiến vào thế giới vi mô của vật chất thì họ chợt nhận ra rằng: Hình như vật chất biến mất; hình như sự tương tác của các hạt lượng tử trong các thí nghiệm tuỳ thuộc vào cách nghĩ của con ngườI trực tiếp thí nghiệm nó?
Ở đây; tôi không hề có đặt vấn đề cái gì có trước (vật chất hay tinh thần) mà các trường phái triết học hiện đại thường nói tới; mà chỉ đặt vấn đề “Bản chất của ý thức” là gì.
Nhưng với tất cả những hiện tượng và giả thuyết nêu ở trên thì :
# Phải chăng sự phân biệt giữa “ý thức phi vật chất” và “vật chất” là một sai lầm.
# Phải chăng sự khởi nguyên của vũ trụ không có sự phân biệt này và nó được bắt đầu bằng một thể nguyên thuỷ thống nhất?
Điều kỳ lạ là - khi nhân loại còn đang lúng túng với thuyết Bicbang giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ, giữa vật chất và ý thức thì nền minh triết Đông phương lại giải quyết vấn đề này rất hoàn hảo.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
ĐỨC THÍCH CA NÓI VỀ TÍNH THẤY
Hay: Bản chất của ý thức
hoàng sơn
11-07-2005, 09:31 AM
Bác TS viết hay quá, khâm phục khâm phục!
Thiên Sứ
11-07-2005, 11:21 AM
ĐỨC THÍCH CA NÓI VỀ TÍNH THẤY
Hay: Bản chất của ý thức
Như vậy – qua những bài viết trên mà người viết hân hạnh trình bày với quí vị thì chúng ta nhận thấy rằng:
Nếu không thể giải thích được bản chất của ý thức thì sẽ không thể có câu trả lời cho vấn nạn của con người:
Định Mệnh có thật hay không?
Chỉ có hai khả năng tồn tại của ý thức:
1)Phi vật chất.
Như vậy sẽ không thể có khả năng tiên tri theo những phương pháp có tính quy luật, tính hệ thống, tính khách quan… như Tử Vi; Từ bình…Bởi vì, nó còn phải chịu ảnh hưởng của một đại lượng không thể kiểm chứng là ý thức phi vật chất không mang tính quy luật. Vấn đề sẽ đuợc kết thúc tại đây:
“Không có Định Mệnh!”.
2) Ý thức là một dạng vận động của vật chất và chịu sự tương tác mang tính quy luật; mà nhân loại đã khám phá trong hiện tại hoặc có thể khám phá trong tương lai.
Với dạng tồn tại này thì ý thức và những hiện tượng liên quan đến nó: Tư duy; tình cảm; tiềm thức; vô thức; trực giác; cảm giác…v.v...đều có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác có tính quy luật có thể tiên tri.
Như vậy, trong trường hợp này:
Định mệnh đang hiện hữu và chi phối cả ý thức con người.
Nhưng chính vì vậy vấn đề rốt ráo và hợp lý tiếp tục đặt ra sẽ là:
Nếu ý thức có thuộc tính vật chất với sự tương tác và vận động một cách có qui luật thì vấn đề đặt ra tiếp theo sẽ là:
Cái gì sẽ nhận thức được điều đó?
Từ một cái nhìn khoa học; có lẽ rất khó – hay nói chính xác hơn – không thể chứng minh được rằng:
"Có một dạng tồn tại phi vật chất, nhưng lại chứa đựng năng lượng để tác động trở lại vật chất".
Điều đơn giản nhất là: Nếu có một sự tồn tại phi vật chất, nhưng có khả năng tác động trở lại vật chất thì mọi định luật vật lý tiên tiến nhất của nhân loại hiện nay và cả khả năng phát triển của nó trong tương lai sẽ vô nghĩa. Khi nó còn phải tính đến sự tác động của sự tồn tại phi vật chất mà không thể kiểm chứng. Hay nói một cách khác:
"Toàn bộ tri thức khoa học của nhân loại hiện đại sẽ sụp đổ".
Các nhà khoa học hiện đại đã chứng minh được rằng:
"Vật chất có thể chuyển hoá thành năng lượng và ngược lại".
Năng lượng là một thuộc tính của vật chất. Như vậy chỉ có thể có những dạng tồn tại khác nhau của vật chất, chứ không hề có một dạng tồn tại phi vật chất.
Người viết hy vọng rằng trong tương lai gần, con người sẽ có khả năng minh chứng được sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ lên những trạng thái tâm lý, khả năng nhận thức, tư duy vv... Hiện nay đã xuất hiện những giả thuyết gần gũi hoặc sẽ dẫn đến sự hợp lý cho một lý luận nhằm minh chứng cho sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ lên Địa cầu và cuộc sống con người. Trong báo "Tuổi trẻ chủ nhật" số ra ngày 22/ 9/ 2002, trong mục "Lang thang trên Internet", trang 22. Minh Hy - VnExpress (Theo DPA), đã viết:
”Ý thức là một thuộc tính của sóng radio trong não? Nhà tâm lý học Anh Johnjoe McFaddan cho rằng ý thức con người xuất hiện như một thuộc tính của sóng radio trong não bộ, nhờ đó con người có thể nhận thức được sự tồn tại của chính mình.
Lý thuyết của McFaddan đang gây tranh cãi vì người ta rất khó hiểu tại sao sóng radio (do chất xám của não bộ phát ra) lại có thể "ý thức" được chính nó và quá trình tự ý thức này diễn ra như thế nào. Tuy nhiên, nếu chấp nhận thuyết của McFaddan thì ta có thể giải thích được các hoạt động đến nay vẫn được xem là phi vật chất của ý thức bằng các quá trình lý hóa, hoặc ít ra là tạo cầu nối giữa các quá trình phi vật chất với các quá trình vật chất.
Trong một thông báo mới đây McFaddan giải thích rằng ý thức là một dạng xuất hiện cá biệt của sóng radio mà nhờ đó trung tâm nhận biết trong não bộ tự quan sát được các hoạt động của chính nó”.
Lý thuyết của Mcfaddan trên đây, cho thấy sự vận động của ý thức có thuộc tính vật chất. Như vậy, từ lý thuyết này dẫn đến khả năng nhận thức về những hoạt động khác thuộc tâm lý, tư duy, sự nhận thức vv..sẽ phải chịu những hiệu ứng vũ trụ chỉ là một khoảng cách ngắn.
Sự chứng minh những hiệu ứng vũ trụ tác động lên chính con người và tất cả những gì liên quan đến con người - bao gồm cả những sự vận động của tư duy - sẽ chỉ chứng minh được trên cơ sở một sự hợp lý trong việc lý giải các vấn đề và hiện tượng liên quan. Nhưng ngay ở đây, giả thuyết trên vẫn sẽ được coi như là một tiên đề, để giải thích các hiện tượng liên quan đến vấn đề được đặt ra ở đây:
Định mệnh có thật hay không?
Bởi vì - với giả thuyết này - thì những hiệu ứng vũ trụ sẽ là một sự tồn tại khách quan có tính qui luật. Do đó, nó là đối tác thuộc về khả năng nhận thức của con người.
Từ giả thuyết trên, có thể đặt vấn đề: Phải chăng chính sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ có tính qui luật, đã được phát hiện từ nền văn minh Đông phương và thể hiện trong các cuốn kỳ thư của nền văn minh này. Hệ quả của tri thức đạt được của con người về qui luật những hiệu ứng vũ trụ tác động lên trái Đất và con người, đã được thể hiện trong Thái Ất và Tử vi. Điều này giải thích tính qui tắc, tính hệ thống, tính khách quan trong Thái Ất, Tử Vi và khả năng tiên tri của nó, khi con người nhận thức được qui luật của tự nhiên. Đây cũng chính là nguồn gốc của nền minh triết Đông phương, khi hướng con người sống thuận theo qui luật của trời đất, hòa nhập với thiên nhiên.
Khả năng tiên tri là một chứng cứ đáng tin cậy để thẩm định một lý thuyết khoa học. Trong cuốn "Lược sử thời gian"(*) rất nhiều lần nói đến tính tiên tri như một bằng chứng khoa học của các học thuyết khoa học hiện đại. Trong phần kết luận, tác giả đã viết:
"Nhiều lý thuyết trước đây nhằm mô tả và giải thích vũ trụ gắn liền với ý tưởng cho rằng các sự cố và hiện tượng thiên nhiên đều điều hành bởi thần linh, do đó mang sắc thái cảm tính và không có khả năng tiên đoán". (*)
---------------------
* Chú thích: Lược sử thờI gian. Stephen W.Hawking.
Có một điều đáng tiếc là: Cả Thái Ất, Tử Vi đều chỉ là những phương pháp ứng dụng cho khả năng tiên tri. Mặc dù chúng có đầy đủ những yếu tố khoa học (tính khách quan, tính hệ thống, tính qui luật, khả năng tiên tri); nhưng cùng chung số phận với tất cả những phương pháp ứng dụng khác có phương pháp luận liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành là:
Tất cả những phương pháp ứng dụng đó , đều thiếu hẳn một hệ luận liên hệ với học thuyết này. Điều này đã chứng tỏ Thái Ất, Tử Vi chỉ là phần còn lại của một nền văn minh bị hủy diệt, nên đã bị thất truyền.
Nhưng đến đây; một vấn đề đã đặt ra và cần nhắc lại là:
Nếu tất cả trạng thái cảm xúc; tư duy…đều là sự tương tác có thuộc tính vật chất thì cái gì nhận biết điều đó?
Kỳ lạ thay! Điều này đã được Đức Thích Ca Mâu Ni giảng rõ trong tạng kinh nổi tiếng:
Thần chú Phật đỉnh Thủ lăng Nghiêm
Kính thưa quí vị quan tâm.
Sở dĩ tôi phải nhắc lại mệnh đề:
Nếu ý thức - và tất cả mọi giá trị quen gọi là tinh thần khác - mang thuộc tính vật chất thì cái gì nhận thức được điều đó?
trong bài viết này và diễn tả bằng một hình thức khác. Chính bởi vì tầm quan trong của vấn đề "Cái gì nhận thức được điều đó?". Giải quyết được vấn đề này sẽ là cơ sở cho câu trả lời:
Định mệnh có thật hay không?
Thiên Sứ
Còn tiếp:
ĐỨC PHẬT KHAI NGỘ VỀ TÍNH THẤY
Thiên Sứ
11-07-2005, 11:44 AM
ĐỨC PHẬT KHAI NGỘ VỀ TÍNH THẤY
Tiếp theo
Phụ đề
MINH TRIẾT ĐÔNG PHƯƠNG& TƯƠNG LAI KHOA HỌC HIỆN ĐẠI
Sự phát triển của khoa học hiện đại đang ở giai đoạn bế tắc. Ở tầm cỡ vũ trụ nó đã đụng trần thời gian:
Các nhà khoa học không thể giải thích được thời gian trước 10 luỹ thừa –43 giây sau Bicbang. Về các hạt cơ bản tạo nên vật chất thì hình như vật chất đã biến mất. Nhưng kỳ lạ thay; những nhà khoa học hàng đầu thế giới lại tìm thấy ở nền minh triết Đông phương như là một cứu cánh hoặc chí ít cũng có thể là một cứu cánh. Chúng ta hãy xem lời phát biểu sau đây của Fritjof Capra – nhà vật lý lý thuyết được giải Nobel – trong tác phẩm “Đạo của vật lý” nổi tiếng của ông:
Đặc trưng của nền vật lý hiện đại của thế kỷ 20 là sự tìm kiếm nguồn gốc khởi thuỷ của vật chất; cố tìm ra những hạt cơ bản cuối cùng tạo nên nguyên tử. Thế nhưng khi cánh cửa cuối cùng mở ra để thấy bộ mặt thật của vật chất; nhà vật lý phát hiện vật chất hình như không phải do những hạt cứng chắc tạo thành nữa; mà nó chỉ là dạng xuất hiện của một thực tại khác. Vì thế mà vật chất mang những tính chất hầu như đối nghịch nhau; nó vừa liên tục vừa phi liên tục; vừa hiện hữu vừa phi hiện hữu; dạng xuất hiện của nó tuỳ theo cách quan sát của con người. Những tính chất lạ lùng đó đưa ngành vật lý vào thẳng cửa ngõ của triết học. Nền vật lý hiện đại vừa thống nhất và lý giải nhiều khái niệm cơ bản của triết học; vừa đề ra những câu hỏi lớn của loài người mà các nhà Đạo học xưa đã tổng kết.
Và kỳ lạ thay! Những phát hiện hiện nay của nền vật lý hiện đại không khác bao nhiêu với những kết luận của các thánh nhân xưa.
Như vậy; với đoạn trích dẫn trên; chúng ta cũng thấy được : Chính sự minh triết Đông phương sẽ là cứu cánh hoặc chí ít cũng có thể là cứu cánh của khoa học hiện đại. Bởi vì; khoa học hiện đại vớI tư duy thực sự cầu thị; nó luôn đòi hỏi nhìn thấy; chứng nghiệm thấy. Nó đã thấy và có thể sẽ thấy tất cả những cái hiện hữu vận động và tương tác của vật chất - kể cả sự vận động của tư duy của chính con người - thì nó sẽ không thể thấy chính cái thấy – cái nhận biết – tất cả những cái đó.
Hay nói theo cách khác:
Nếu ý thức là một trạng thái vận động có thuộc tính vật chất thì cái gì sẽ nhận thức được điều đó? Và cái nhận thức được điều đó sẽ không thể tự nhận thức được nó.
Phần tiếp theo đây sẽ là một phần trong tạng kinh nổi tiếng của Đức Thích Ca Mâu Ni để chúng ta cùng nhau tham khảo về lời minh giảng của Đức Phật về tính nhận biết tất cả những cái gì con người đã thấy và có thể thấy trong tương lai , trong đó có cả ý thức của con người.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị và anh em.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
ĐỨC PHẬT KHAI NGỘ VỀ TÍNH THẤY
Thiên Sứ
11-07-2005, 01:43 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Ở bài viết trên, người viết đã hân hạnh trình bày với quí vị về 2 khả năng tồn tại của ý thức là:
1) Phi vật chất.
Như vậy sẽ không thể có khả năng tiên tri theo những phương pháp có tính quy luật, tính hệ thống, tính khách quan… như Tử Vi; Từ bình…Bởi vì, nó còn phải chịu ảnh hưởng của một đại lượng không thể kiểm chứng là ý thức phi vật chất không mang tính quy luật. Vấn đề sẽ đuợc kết thúc tại đây:
“Không có Định Mệnh!”.
2) Ý thức là một dạng vận động của vật chất và chịu sự tương tác mang tính quy luật; mà nhân loại đã khám phá trong hiện tại hoặc có thể khám phá trong tương lai.
Với dạng tồn tại này thì ý thức và những hiện tượng liên quan đến nó: Tư duy; tình cảm; tiềm thức; vô thức; trực giác; cảm giác…v.v...đều có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác có tính quy luật có thể tiên tri.
Như vậy, trong trường hợp này:
Định mệnh đang hiện hữu và chi phối cả ý thức con người.
Nhưng chính vì vậy vấn đề rốt ráo và hợp lý tiếp tục đặt ra sẽ là:
Nếu ý thức có thuộc tính vật chất với sự tương tác và vận động một cách có qui luật thì vấn đề đặt ra tiếp theo sẽ là:
Cái gì sẽ nhận thức được điều đó?
Kính thưa quí vị.
Như vậy, vấn đề chỉ có thể tiếp tục với giả thuyết thứ hai:
Ý thức là một dạng vận động của vật chất.
Và nếu với giả thuyết này thì vấn đề tiếp theo sẽ là:
Cái gì nhận thức được điều đó?
Các bài viết tiếp theo đây nhằm giải quyết và chứng minh cho vấn đề đã đặt ra:
Ý thức là một dạng vận động của vật chất và tính thấy nhận biết được điều đó.
Bài viết này như một phụ đề giản lược những điều đã trình bày ở những bài trước trong tiểu luận :
Định mệnh có thật hay không?
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
11-07-2005, 08:52 PM
ĐỨC PHẬT KHAI NGỘ VỀ TÍNH THẤY
Kính thưa quí vị quan tâm.
Sự tìm hiểu về Định mệnh đã dẫn dòng suy nghiệm đến những quy luật có thể tiên tri. Từ đó liên hệ tới hiện tượng ý thức tồn tại độc lập hay chỉ là một thực tại khác của vật chất và chịu sự tương tác có tính quy luật của vât chất.
Cuối cùng, dòng suy nghiệm đã dẫn tới giả thuyết và là sự lựa chọn duy nhất cần minh chứng là “Ý thức có thuộc tính vật chất và một sự tồn tại có khả năng nhận biết tất cả những sự vận động có thuộc tính vật chất đó”.
Mọi chuyện sẽ bế tắc, nếu chúng ta không may mắn được biết và tìm đến những lời khải ngộ của Đức Phật mà chúng ta sẽ suy nghiệm sau đây.
Những đoạn dưới đây được trích dẫn trong “Kinh Thủ lăng nghiêm trực chỉ” do thiền sư Hàm Thị dẫn giải và dịch giả là hoà thượng Thích Phước Hào. Trong phần này; những đoạn trích dẫn lời dịch từ chính kinh được in nghiêng chữ đứng màu xanh Blue, những đoạn chú giải của thiền sư Hàm Thị (nếu có) chữ xanh Blue, in nghiêng; chính văn của người viết: chữ thường. Phần in đậm do người viết thực hiện.
@ ĐOẠN III – CHỈ HAI MÓN CĂN BẢN CHIA RIÊNG MÊ NGỘ
Đức Phật bảo Anan:
”Tất cả chúng sinh từ vô thuỷ đến nay; các thứ điên đảo giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm ác xoa. Các người tu hành không thành được đạo Vô Thượng Bồ Đề; mà chỉ thành Thanh văn; Duyên giác; ngoại đạo; chư thiên;Ma vương và quyến thuộc của ma; đều chẳng biết hai món căn bản; tu tập sai lầm. Cũng như nấu cát mà muốn thành cơm thì dù trải qua nhiều kiếp trọn không thể được.
Thế nào là hai thứ căn bản? Anan! Một là căn bản sinh tử từ vô thuỷ. Chính hiện nay ông và chúng sanh đang dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Hai là Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ. tức là cái thức tinh nguyên minh của ông hay sinh các duyên mà bị duyên bỏ rơi. Do chúng sinh bỏ rơi tính bản minh này; nên trọn ngày trong động dụng mà chẳng tự biết; uổng trôi vào trong các cõi.
Khái niệm “Căn bản sinh tử từ vô thuỷ” mà đức Phật khai ngộ ở trên có thể tương đương với khái niệm “Thái cực sinh lưỡng nghi” (Âm Dương) trong Dịch học Đông phương ở thể khởi nguyên của vũ trụ.
Sinh tử = Âm Dương. Căn bản sinh tử = Thái Cực.
Khái niệm “Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ” có thể hiểu rằng: thể bản nguyên vũ trụ có trong con người. Xin được bàn rõ hơn ở phần sau.
@ĐOẠN IV – NƯƠNG CÁI THẤY ĐỂ GẠN CÁI TÂM
“A Nan, nay ông muốn biết con đường tu thiền định để mong ra khỏi sanh tử, tôi lại hỏi ông…”.
Liền khi ấy đức Như Lai đưa cánh tay sắc vàng co năm ngón lại hỏi ông A Nan:
“Nay ông có thấy chăng?”.
A Nan thưa:
“Thấy”.
Phật hỏi:
“Ông thấy cái gì?”
A Nan thưa:
“Con thấy Như Lai đưa cánh tay, co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt của con”.
Phật hỏi:
“Ông lấy cái gì để thấy?”
A Nan thưa:
“Con và cả đại chúng đều dùng mắt để thấy”.
Phật bảo Anan:
“Nay ông trả lời tôi hỏi. Như Lai co năm ngón tay lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt ông; mắt ông có thể thấy. Vậy ông lấy cái gì làm tâm để biết được nắm tay sáng chói của tôi?”.
Anan thưa:
“Hôm nay Đức Như Lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào? Con dùng tâm suy xét tột cùng để tìm kiếm; tức là cái suy nghĩ đó – con cho là tâm của con”.
* Ở đây; ngài Anan cho rằng suy nghĩ (Tư duy – ý thức = phi vật chất theo quan niệm hiện đại phổ biến) là Tâm.
@ ĐOẠN V – CHỈ CÁI HAY SUY NGHĨ CÓ THẬT THỂ
Tiết 1 – Bác cái hay suy nghĩ
Phật bảo:
“Sai rồi; Anan! Cái này chẳng phải tâm của ông!”.
Anan giật mình; rời chỗ ngồi đứng dậy chắp tay bạch Đức Phật:
“Cái này chẳng phải tâm con. Vậy nên gọi nó là cái gì?”
Phật bảo Anan:
“Cái này là những tưởng tượng hư vọng của tiền trần; làm mê lầm chân tính của ông. Do ông từ vô thuỷ đến nay; nhận giăc làm con; bỏ mất tính chân nguyên thường nên phải chịu luân chuyển”.
Tiết 2 - Cầu xin chỉ dạy
Ông Anan bạch Phật:
“Bạch Đức Thế Tôn! Con là em yêu của Phật. Vì tâm mến Phật nên con xuất gia. Tâm con chẳng riêng gì cúng dường Đức Như Lai cho đến trải khắp hằng hà sa số cõi nước phung thờ chư Phật và Thiện tri thức; phát tâm đại dũng mãnh làm tất cả các pháp sự khó làm con đều dùng tâm này. Dẫu cho con có huỷ báng chánh pháp bỏ mất căn lành cũng từ tâm này. Nếu Phật phát minh nó chẳng phải tâm; hoá ra con không có tâm; đồng như cây đất. Vì ngoài cái hiểu biết này ra con không còn gì nữa. Tại sao Đức Như Lai bảo cái ấy chẳng phải là tâm? Con thật kinh sợ và trong đai chúng đây đều nghi ngờ. Cúi mong Đức Từ Bi mở lòng chỉ dạy cho kẻ chưa ngộ!”.
Qua đoạn trích dẫn ở trên – quí vị cũng thấy Đức Phật không cho tư duy, sự suy nghĩ là tâm. Người viết thấy rằng: Ý thức và những hiện tượng liên quan đều có thuộc tính vật chất. Hay nói một cách khác: Ý thức và những hiện tượng liên quan đều là sự tương tác kết hợp của vật chất; mà diễn đạt theo Phật pháp thì chúng đều do nhân duyên giả tạm không phải thật tính; không phải là tính nhận biết. Tức là chúng chịu sự tương tác mang thuộc tính của vật chất. Sự tương tác này có tính quy luật; có khả năng nhận thức được và sự tiên tri trên cơ sở nhận thức đó. Đây chính là yếu tố Định Mệnh của thế nhân. Nhưng vấn đề là: Nếu ngay cả ý thức và những hiện tuọng liên quan đều có thuộc tính vật chất - mà ngài Anan gọi là “.. đồng như cây đất (Một hình tượng khác của người robot). Vì ngoài cái hiểu biết này ra con không còn gì nữa” - thì cái gì sẽ nhận biết những thuộc tính vật chất đó. Đây cũng là điều mà người viết đặt ra và đã tường ở trên. Và kỳ diệu thay; đây cũng là điều mà Đức Thế Tôn chỉ dạy từ hàng ngàn năm trước. Sự khai ngộ của Đức Phật cũng sẽ là câu trả lời:
* Nếu ý thức có thuộc tính vật chất thì cái gì nhận biết điều đó?
* Có hay không môt lý thuyết thống nhất vũ trụ - mà S. Hawking đặt câu hỏi.
(Xin xem tiếp sự dẫn giải ở những bài sau).
Bây giờ Chúng ta xem tiếp những đoạn trích dẫn sau đây trong Kinh Lăng Nghiêm:
@ Tiết 3 – Chính chỉ toàn tánh
Bấy giờ Đức Thế tôn muốn chỉ dạy ông Anan và đại chúng; khiến cho tâm vào “vô sanh pháp nhẫn”; nên ở trên toà Sư tử xoa đầu ông Anan mà bảo rằng:
"Như Lai thường nói các pháp sanh ra chỉ từ tâm hiện.
TẤT CẢ NHÂN QUẢ THẾ GIỚI VI TRẦN NHÂN NƠI TÂM MÀ THÀNH THỂ.
Này Anan;như tất cả sự vật có ra trên thế giới; trong ấy từ ngọn cỏ; lá cây; sợi giây và cái gút..tìm cội nguồn của nó đều có thể tính; dầu cho đến hư không cũng có tên gọi và tướng mạo.
HUỐNG CHI TÂM THANH TỊNH SÁNG SUỐT NHIỆM MẦU NÀY LÀ TÂM TÁNH CỦA TẤT CẢ MÀ TỰ KHÔNG THỂ TÁNH HAY SAO?
Nếu ông chấp nhặt cái phân biệt hiểu biết quyết cho là tâm; thì tâm này khi rời tất cả các trần sắc;hương; vị;xúc riêng có toàn tánh? Như nay ông nương nơi nghe pháp của tôi; đây ắt nhân nơi tiếng mà có phân biệt. Dầu cho dứt hết tất cả thấy nghe hiểu biết; giữ cái thầm thầm lặng lẽ bên trong vẫn còn là việc phân biệt bóng dáng của pháp trần.
Chẳng phải tôi bảo ông chấp là chẳng phải tâm; nhưng ông đối với tâm này phải chín chắn và xét cho kỹ. Nếu rời tiền trần mà có tính phân biêt; tức thật là tâm ông. Nếu tánh phân biêt rời tiền trần không có thật thể thì đó là việc phân biệt bóng dáng của tiền trần. Trần thì chẳng phải thường trụ; nếu khi nó biến diêt thì tâm này đồng vớI lông rùa sừng thỏ; ắt pháp thân của ông cũng đồng với đoạn diệt. Vậy ông lấy gì để tu chứng Vô sanh pháp nhẫn?”
Qua đoạn trích dẫn trên; chứng tỏ Đức Phật đã chỉ thẳng ra rằng:
Sự tồn tại của ý thức mang thuộc tính vật chất.
Ngài nói:
“Nếu tính phân biệt rời tiền trần mà không có thật thể thì đó là việc phân biệt của tiền trần”.
Ở đây có lẽ không phải bàn sâu; vì có lẽ ai cũng hiểu rằng khái niệm “thật thể” chính là cách gọi khác của sự tồn tại có thuộc tính vật chất. “Rời tiền trần không có thật thể” thì chỉ là sự phân biệt giữa “Có” và “Không”, tức là “..việc phân biệt bóng dáng của tiền trần”.
Chính vì vậy; Đức Thế Tôn chỉ ra - khi một dạng tồn tại của vật chất tan biến – “Trần chẳng thường trụ; nếu khi nó biến diệt..” – thì cái “Tâm Không” đối đãi với cái “Có” của vật chất cũng sẽ biến mất. Bởi vì cái “không” là đối đãi với cái “có”, khi cái có không còn thì tất cái không phải biến mất. Ngài đã chỉ thẳng đó là một sai lầm nếu cho rằng:
Tâm vốn “không” khi đối đãi với “vật chất và sự tương tác của nó” vốn có thì "..tâm này đồng với lông rùa sừng thỏ…”. Thỏ thì không có sừng, Rùa thì không có lông. Đức Phật dùng hình tượng này để ví với cái không có thật.
Đến đây; tôi cũng xin lưu ý với các bạn là chữ "Tâm" mà đức Phật nói không đồng nghĩa với chữ Tâm trong cụm từ “duy tâm” thường dùng. Ngay cả câu trong kinh Phật: “Vạn pháp duy tâm biến hiện” cũng không hề đồng nghĩa với khái niệm “duy tâm” trong triết học hiện đại. Chữ “Tâm” trong Phật học để chỉ tính nhận biết (Tính thấy) mà một trong nhiều nghĩa của nó có thể hiểu là trạng thái “phi ý thức”.
Nhưng "TÂM" – tính nhận biết – tính thấy là gì?
Nó có sự tương tác hay không đối với quy luật vận động và tương tác của vật chất?
Nếu nói là “CÓ” thì đây chỉ là tên gọi khác của “ý thức” với khái niệm "phi vật chất” đầy đủ nhất của nó trước đến nay. Trong trường hợp này Đinh Mệnh sẽ không có thật. Mọi giá trị tiên tri sẽ không tồn tại, mọi lý thuyết khoa học vĩ đại nhất sẽ sụp đổ. Bởi vì lúc đó khoa học chỉ còn mang tính thực chứng và kinh nghiệm.
Nhưng nếu nói là “KHÔNG” thì cái gì sẽ nhận biết tất cả những qui luật vận động của vật chất? May mắn thay! Đức Như Lai đã khải ngộ điều này. Chúng ta sẽ tiếp tục tịnh quán những đoạn kinh tiếp theo đây.
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
Thiên Sứ
11-07-2005, 10:16 PM
@ ĐOẠN VI – HIỂN BÀY TÍNH THẤY CHẲNG PHẢI MẮT
Tiết 1 –Trách nghe nhiều
Bấy giờ ông Anan và đại chúng im lăng; ngơ ngác.
Phật bảo ông Anan:
“Tất cả các người tu hành trên thế gian; hiện tiền tuy được “Cửu thứ đệ định”; mà chẳng được lậu tận thành A la hán; đều do chấp vọng tưởng sinh tử này lầm cho là chân thật. Thế nên; nay ông tuy học rộng nghe nhiều mà chẳng thành chánh quả.
Tiết 2 – Bày chướng cầu chỉ dạy
“..Bạch Đức Thế Tôn! Nay chúng con bị hai thứ chướng trói buộc; do chẳng biết tâm tánh vắng lặng thường hằng. Cúi xin Đức Như Lai thương xót kẻ nghèo khổ này phát tâm khởi nhiệm màu sáng suốt để mở bày con mắt đạo của chúng con”.
Tiết 3 – Phóng quang tiêu biểu nói pháp
Khi ấy từ chữ vạn trên ngực cửa Đức Như Lai phóng ra hào quang báu. Hào quang ấy rực rỡ có trăm ngàn màu sắc sáng khắp một lúc cả 10 phương thế giớI của Phật như số vi trần; rót khắp trên đỉnh của các Đức Như Lai ở các cõi nước trong 10 phương và xoay về soi đến ông Anan và cả đại chúng.
Phật bảo ông Anan rằng:
“Nay tôi vì ông mà dựng đạo pháp tràng lớn; cũng khiến cho tất cả chúng sinh 10 phương được tâm tính nhiệm màu; sâu kín trong sạch sáng suốt và con mắt đạo thanh tịnh.”
Tiết 4 – Chính chỉ cái thấy là Tâm
a) - Lấy nắm tay lệ cho cái thấy
Anan! Trước ông đã trả lời tôi là thấy được nắm tay sáng chói; vậy nắm tay này nhân đâu mà có? Ông đem gì thấy?”
Ông Anan thưa:
“Do toàn thân Phật như Diêm Phù đề sáng chói ngời dường núi báu; từ thanh tịnh sanh ra sáng chói. Con thật dùng mắt xem thấy năm ngón tay của Phật co lại đưa cho người xem; nên có tướng nắm tay”.
Phật bảo Anan:
“Hôm nay Như lai thật bảo ông: Những người có trí thiết yếu phải dùng thí dụ mà được khai ngộ. Anan! Thí dụ như nắm tay của tôi; nếu không có bàn tay tôi thì chẳng thành nắm tay. Nếu không có con mắt của ông thì không thành cái thấy của ông. Lấy con mắt của ông so với nắm tay của tôi; nghĩa ấy có đồng không?
Anan thưa:
“Bạch Thế Tôn! Đúng như vậy. Nếu không có con mắt của con thì cái thấy của con không thành. Lấy con mắt của con đem so sánh vớI nắm tay của Đức Như lai nghĩa ấy đồng nhau”.
Qua đoạn trích dẫn trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng:
Ông Anan cho rằng cánh tay là đối tượng nhận biết và con mắt là phương tiện nhận biết đều có thuộc tính vật chất : “Lấy con mắt của con đem so sánh với nắm tay của Đức Như lai nghĩa ấy đồng nhau”.
Ông Anan chưa hiểu ý Đức Phật muốn nói về tính thấy qua phương tiện là con mắt .
@ b) - Chỉ cái thấy tối không phải không có thấy
Phật bảo Anan:
“Ông nói đồng nhau nghĩa đó không đúng. Vì sao? Như người không bàn tay; nắm tay hẳn là không. Còn người không con mắt hoàn toàn không phải họ không có cái thấy.
Bởi tại sao?
Ông thử ra đường hỏi những người mù mắt:Anh có thấy gì chăng? Các người mù kia ắt sẽ đáp với ông: Nay đối trước mắt tôi chỉ thấy tối đen; lại không thấy gì khác. Dùng nghĩa ấy để quán xét thì tiền trần tự tối chứ cái thấy đâu có thiếu kém”.
Qua đoạn trích dẫn này, Đức Phật dùng thí dụ là “con mắt” để phân biệt phương tiện nhận biết có thuộc tính vật chất – và tính nhận biết.
@ c) Dùng đèn so với con mắt để hiển bày cái thấy
* Nghi thấy tối chẳng phải là thấy
Ông Anan thưa: “Những người mù trước mắt họ chỉ thấy tối đen đâu gọi là thấy?” .
Đoạn này cho thấy ông Anan chấp vào việc không nhìn thấy vật thể thì “thấy tối” không phải là thấy.
@ *Dụ tối sáng không khác; chỉ cái thấy là tâm
Phật bảo Anan:
“Những người mù chỉ thấy tối đen; cùng với những người mắt sáng ở trong phòng tối; hai cái tối đó khác nhau hay không khác?”
- Bạch Đức Thế Tôn; đúng vậy! Người sáng ở trong chỗ tối cùng vớI người mù thấy tối; hai cái tối đó không khác.
- Anan! Nếu người mù bỗng nhiên được sáng mắt; đối với tiền trần thấy các sắc tướng gọi là mắt thấy. Người sáng ở trong nhà tối; bỗng có đèn sáng cũng đối với tiền trần thấy các sắc tướng, lý ưng phải chăng gọi là đèn thấy? nếu đèn thấy thì đèn chính là cái thấy tự chẳng gọi là đèn. Lại nữa; nếu đèn thấy thì chẳng can hệ gì đến việc của ông. Thế nên phải biết đèn hay hiển sắc, còn cái thấy là mắt chẳng phải đèn. Mắt hay hiển sắc còn cái thấy là tâm chẳng phải mắt.
Ông Anan và đại chúng tuy được nghe lời ấy mà miệng vẫn lặng thinh; tâm chưa khai ngộ; còn mong Đức Như Lai dùng lời lành chỉ dạy thêm; nên chắp tay lắng lòng trông chờ Phật xót thương dạy bảo.
Qua đoạn trích dẫn trên; cho thấy Đức Phật đã chỉ ra rằng: Có sự phân biệt giữa điều kiện nhận biết và tính nhận biết. Điều kiện nhận biết mà Ngài thí dụ ở trên gồm: phương tiện nhận biết (con mắt; ngọn đèn…) và đối tượng nhận biết: Nắm tay của Ngài…. Phương tiện nhận biết và đối tượng nhận biết có thể thay đổi (Cảnh giới tiền trần trụ diệt) Nhưng tính nhận biết không thay đổi khi có đầy đủ điều kiện nhận biết. Thí dụ:
Nếu chúng ta đặt v/d:
Vật thể đi với tốc độ ánh sáng; con người có thấy không?” .
Câu hỏi này có nội dung giống như:
Với cuộc sống con người cách đây 100 năm; nếu có người hỏi:
“Ở khoảng cách 100 cây số; con ngườI có nhìn thấy nhau được không?”.
Vào thời điểm không - thời gian cách đây 100 năm; câu trả lời sẽ là;”Không!”. Vì thiếu phương tiện nhận biết.
Nhưng ở thòi điểm không - thời gian hiện tại; câu trả lời sẽ là “Có!”. Vì con người có đầy đủ phương tiện nhận biết. Do đó; khi đặt v/d về một vật thể đi vớI tốc độ lớn hơn tốc độ ánh sáng (Đối tượng nhận biết) thì ở những trường hợp không có phương tiện nhận biết cấu trả lời sẽ là “Không thể thấy!”. Như vậy v/d: Có hay không nhận biết được (Thấy được) chỉ phụ thuộc vào phương tiện nhận biết. Còn vấn đề mà Đức Thích Ca chỉ dạy trong Kinh Lăng Nghiêm là “Tính Nhận biết”. Tức là Đức Phật chỉ ra bản chất thật của thể tính. Hay nói cách khác: Đức Phật khai ngộ về tính nhận biết, khi ý thức có thuộc tính vật chất - một hình thức tế vi của phương tiện nhận biết. Những đoạn trích dẫn tiếp theo đây chứng tỏ điều này.
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
barca
11-07-2005, 11:11 PM
cảm ơn bác Thiên Sứ.
Thiên Sứ
12-07-2005, 01:02 AM
@Tiết 3 - Lấy cái động tĩnh để hiển bày cái thấy
A- Tay xoè nắm để gạn cái thấy thường còn
Khi ấy Đức Như Lai ở trong đại chúng; co năm ngón tay lại và xoè nắm bàn tay. Ngài hỏi ông Anan:
- Ông thấy cái gì?.
Ông Anan thưa:
- Con thấy bàn tay trăm báu của Đức Như Lai xoè nắm!
Phật bào ông Anan:
- Ông thấy cái tay tôi xoè nắm là do cái tay xoè nắm hay do cái thấy của ông xoè nắm?
Ông Anan bạch Phật:
- Tay báu của Đức Thế Tôn có xoè nắm. Chẳng phải tính thấy của con có xoè nắm!
Phật hỏi:
- Cái nào động cái nào tịnh?
Ông Anan thưa:
- Tay của Phật không dừng; tánh thấy của con còn không tịnh thì đâu có gì động!
Phật nói:
- Đúng như vậy!
Qua đoạn trích dẫn ở trên cho thấy Đức Phật dùng nắm tay thể hiện đối tượng nhận biết – và phương tiện nhận biết luôn động. Ngài thí dụ để ông Anan ngộ ra một trong những thể tính của tính thấy là “không động”.
Phương tiện nhận biết động, đối tượng nhận biết động thì cái lý của tính thấy phải tĩnh so với cái động. Nói chính xác là không động. Vì nếu tính thấy cũng động thì nó mang thuộc tính của vật chất. Và sẽ lại phải có cái nhận biết được nó?!
B) Phóng quang để gạn hỏi cái thấy không động
Bấy giờ trong lòng bàn tay của Đức Như Lai phóng một luồng hào quang báu soi đến vai bên phải ông Anan, làm ông Anan quay đầu ngó sang bên phải. Phật lại phóng hào quang qua vai bên trái ông Anan. Ông Anan lại xoay đầu ngó sang bên trái. Phật bảo ông Anan:
- Đầu ông hôm nay nhân gì lại dao động?
Anan thưa:
- Con thấy Như Lai phóng hào quang báu đến hai vai; con nhìn qua hai vai để xem. Nên đầu con tự dao động.
Phật hỏi:
- Ông nhìn hào quang của Phật; nên đầu quay qua phải và trái. Vậy đầu ông động hay cái thấy của ông động?
Ông Anan thưa:
- Bạch Thế Tôn! Đầu con tự động; mà tính thấy của con không có dừng, huống chi có động!
Phật nói:
- Đúng như vậy!
Qua đoạn trích dẫn trên, cho thấy: Với câu "... tính thấy của con không có dừng, huống chi có động!” diễn tả hai – trong nhiều – trạng thái của “tính thấy”:
* Tính liên tục không ngừng nghỉ, không chia cắt, luôn luôn thấy. Cho nên nói “Tính thấy không dừng”.
* So với cái động (Động là thuộc tính của vật chất) thì Tính thấy; tính nhận biết không động so với cái động (Với bất cứ tốc độ vũ trụ nào mà khoa học có thể tìm thấy hoặc sẽ thấy trong tương lai).
Như vậy; “Tính thấy” – tính nhận biết chỉ có thể giải thích là một trạng thái tồn tại bao trùm vũ trụ; nhưng không đồng nghĩa với hư không. Điều nay có thể sẽ dẫn đến khái niệm Thái Cực trong Kinh Dịch; hoặc Đạo trong Đạo Đức Kinh.
C) Chính chỉ tính thấy không có động tĩnh co mở
Khi ấy Đức Như Lai bảo khắp đại chúng:
- Nếu lại có chúng sanh cho cái dao động đó gọi là trần; cái chẳng dừng đó gọi là khách. Các ông xem đầu ông Anan tự dao động, mà tánh thấy không có dao động. Lại các ông xem tay tôi co mở mà tính thấy không có co mở. Tại sao các ông lại lấy cái động làm thân; cái động làm cảnh. Từ thuỷ chí chung; niệm niệm sanh diệt sót mất chân tánh. Nhận vật làm mình luân hồi trong đấy, tự nhận sự lưu chuyển.
Động là một thuộc tính của vật chất. Bởi vậy sự vận động của tư duy mang thuộc tính vật chất, tất yếu nó phải chịu sự tương tác của các vật thể dù lớn như các Thiên hà hoặc nhỏ hơn cả siêu hạt Quak, dù xa đến tận cùng vũ trụ hoặc dù gần đến ngay trong ta. Sự vận đông này mang tính quy luật - khi nhận thức được qui luật này - dẫn đến khả năng tiên tri và vấn đề Định Mệnh. Nhưng con người không phải robot – Cái gì nhận biết tất cả sự vận động của vật chất (Trong đó có ý thức)?
Theo cách diễn tả của ngài Anan thì con người không thể “Đồng như cây đất”. Hay nói theo hình ảnh khoa học hiện đại: Con người không phải là robot của tạo hoá , nếu tự nhận thức được mình. Đức Thế Tôn đã chỉ ra tính nhận biết tất cả sự vận động và tồn tại vật chất.
Ngài đã nhắc nhở:
# Tính thấy không phải là cái “KHÔNG” đối đãi với cái "CÓ” (Cái hiện hữu tồn tại và vận động dù nhỏ nhất của vật thể).
Vì khi đối đãi như vậy, “cái có” tự hoại thì “cái không” biết mất.
# Tính thấy không phải “TĨNH” so với “ĐỘNG”. Vì cái "Động" chỉ mang tính tương đối có nhanh có châm. Vì khi cái "Động" dừng thì tính thấy vẫn thường hằng.
# Tính thấy “Không dừng”. "Không động" mà cũng "Không dừng" thì chính là cái tuyệt đối. Nói theo ngôn ngữ toán học thì vận tốc = |O|.
# Tính thấy có từ khi vô thuỷ và có trong những sinh thể đầu tiên tồn tại cho đến nay. Vậy nó phải có từ khởi nguyên vũ trụ. Từ vô thuỷ đến vô chung. Không không gian; không thời gian; không lượng số.
Dịch viết:
"Ở xa thì nói tới cái vô biên của vũ trụ; ở gần thì tĩnh mà chính; ở giữa thì bao trùm tất cả”.
Đức Phật đã chỉ thẳng chân tính để thoát khỏi luân hồi, vượt qua Định mệnh.
Nhưng thật khó lắm thay! Nghe tiếng bom nổ ở thành Batda vào ngày Nhâm Thìn Thuỷ (18/2 Âm Lịch) mới nhớ lời tiên tri của Thiên Cơ trước đó 3 tháng. Trông thấy hình của ông Hussein râu tóc rậm rạp há miệng cho bác sĩ Hoa Kỳ lấy mẫu AND vào tháng 11 Âm lịch; mới thấy Thiên Cơ, Thanh Long, Thiên Kỳ Quý đã dự liệu từ lâu…Ấy là những chuyện lớn ở đời. Còn thân phận con người mới nhỏ nhoi làm sao?
Phải chăng chỉ có tình yêu thương là cứu cánh cho cuộc sống đời người..
Luân hồi nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại gần đồng nghỉa với “quy luật” : “Luân”: sự tiếp nối; vận động. "Hồi”: quay trở lại.
Cũng như Chu Dich. "Chu": Vòng tròn. "Dịch": Sự vận động theo vòng tròn, mang tính tất yếu; tính quy luật.
Những lời chỉ dạy của Đức Thích Ca về một thực tại có khả năng nhận biết (Tính thấy – tính nhận biết) tất cả mọi sự luân hồi , nhân quả. Hay nói theo ngôn ngữ hiện đại là: Sự nhận biết tính quy luật của mọi sự vận động.
Nhưng tính thấy phải chăng chỉ là một ”thực tại khác” mà nhà vật lý Fritjof Capra nói đến. Có thể hiểu như thế cũng được; nhưng không rốt ráo. Bởi vì một thực tại khác là gì khi cho đến nay ý niệm về sự tồn tại của vật chất vẫn chưa vượt quá khái niệm về sự tồn tại của những siêu hạt?
Hay tính thấy chính là “tinh – khí - thần” theo khái niệm phổ biến thuộc văn minh Đông phương chăng? Cũng không phải. Vì tinh khí thần đều có động và có dừng khi tính thấy không dừng và không động.
Vậy “tính thấy” là “tâm” chăng? Cũng chẳng phải! Vì cái tâm vẫn còn phân biệt chính, tà thì cái tâm nào là cái thấy của cái tâm kia?
Phật pháp có câu:
“Trực chỉ nhân tâm; kiến tánh thành Phật”
Tự nội dung của câu này đã cho thấy:
Cái tâm cũng chỉ là một phương tiện, một yếu tố cần để “kiến tánh”.
Định nghĩa thế nào là "tính thấy” mới thật khó làm sao? Hay nói một cách khác:Nếu chúng ta định nghĩa được “tính thấy” thì tức là chúng ta sẽ “thấy” nó. Vậy thì nó không còn là cái thấy nữa, vì còn có một cái thấy khác thấy nó. Thật may mắn thay! Những lời chỉ dạy của Đức Phật trong Kinh thần chú Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm đã tiếp tục chỉ rõ điều này.
Thiên Sứ
Còn tiếp
Thiên Sứ
12-07-2005, 08:12 AM
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TRỰC CHỈ -QUYỂN II
@ Đoạn VIII- Tiết 2): Cầu chỉ cái sanh diệt và chẳng sanh diệt
Khi ấy vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật:
- Xưa khi con chưa được đức Phật chỉ dạy; nghe bọn Ca Chiên Diên và Tỳ La Chi Tử đều nói thân này sau khi chết sẽ đoạn diệt gọi là Niết Bàn. Con nay tuy gặp Phật nhưng vẫn còn hồ nghi, làm thế nào để chứng biết tánh không sanh diệt nơi tâm này. Nay những hàng hữu lậu trong đại chúng đây; đều mong mỏi được nghe điều ấy!
Vua Ba Tư Nặc đặt vấn đề, ngài cho rằng tính thấy trong ngài sẽ bị diệt khi thân xác diệt.
@ Tiết 3): Gạn hỏi sự biến đổi trong nhục thân
Phật bảo:
- Đại Vương!Thân ông hiện đang sống đó! Nay tôi hỏi lại ông:
Thân thể ông là như kim cương không hoại hay bị biến hoại?
–“Bạch Thế Tôn! Thân con hiện nay đây rốt cuộc cũng thay đổi hoại diệt.
Phật bảo:
– Đại Vuơng! Thân ông chưa từng hoại diệt; sao biết hoại diệt?
- Bạch Thế Tôn! Cái thân vô thường biến hoại này của con tuy chưa từng diệt. Nhưng con xem hiện tiền; mỗi niệm dời đổi mãi mãi không dừng. Nên con biết thân này quyết phải theo đó mà diệt mất”.
Phật nói:
- Đúng vậy!
Đức Phật xác định vật chất luôn vận động trong thành trụ huỷ diệt.
@ Tiết 6): Chính chỉ tính thấy không sinh không diệt
Phật bảo:
- Đại Vương! Ông thấy sự biến hoá thay đổi không dừng; nên ngộ biết thân ông hoại diệt. Ông có biết trong thân ông có cái gì chẳng hoại diệt chăng?
Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật:
- Thật con chẳng biết”.
Phật bảo:
- Nay tôi chỉ cho ông tính chẳng sinh diệt. Đại vương! Khi ông được bao nhiêu tuổi thì thấy nước sông Hằng?
Vua thưa:
- Con được ba tuổi, mẹ con dẫn đến lễ ra mắt thần Kỳ Bà Thiên. Đi ngang qua dòng sông ấy; đó là lần đầu tiên con thấy dòng sông này.
Phật bảo:
- Đại vương! Như ông đã nói – khi 20 tuổi đã già hơn 3 tuổi; cho đến 60 tuổi năm tháng ngày giờ niệm niệm dời đổi. Vậy so với khi ông ba tuổi đến 13 tuổi ông thấy nước sông Hằng thế nào?
Vua thưa:
- Khi con 3 tuổi rõ ràng không khác. Đến nay con 60 tuổI cái thấy vẫn không khác.
Phật bảo:
- Nay ông tự cảm thương tóc bạc mặt nhăn; tướng mạo thay đổi. Vậy cái thấy của ông hiện nay xem thấy sông Hằng; so với khi xưa còn trẻ xem thấy sông Hằng, cái thấy đó có già trẻ không?
Vua thưa:
- Bạch Thế Tôn! Không vậy!
Phật bảo:
- Đại vương! Mặt ông tuy nhăn mà tính thấy chưa từng bị nhăn. Cái bị nhăn thì biến đổi; còn cái chẳng bị nhăn thì không biến đối. Cái biến đổi phải chịu hoại diêt; cái chẳng biến đổi kia vốn không sinh diệt; làm sao trong ấy lại chịu nhận cái sinh tử của ông?
Như vậy; qua đoạn trích dẫn trên Đức Phật đã chỉ ra: Tính thấy không sinh diệt. Bởi vì; nếu tính thấy sinh diệt thì cái gì nhận biết tính sinh diệt của nó. Nếu có một thực tại khác nhận biết - thấy - được cái sinh diệt của tính thấy thì cái tính thấy sinh diệt đó không còn là cái thấy nữa. KHÔNG SINH – KHÔNG DIỆT, như vậy nó phải tồn tạI từ vô thuỷ đến vô chung. Hay tường theo một lẽ khác – nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại – Nó phải có trước Bic bang và chính là giây |O| của vũ trụ.
Thiên Sứ
Còn tiếp
Thiên Sứ
12-07-2005, 07:41 PM
Tiết 9): Chính chỉ cái điên đảo hiện tại
* Ông Anan từ trong chỗ ngồi lễ Phật chắp tay quỳ dài bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn! Nếu cái thấy nghe này hẳn là không sanh diệt. Tại sao Đức Thế Tôn gọi bọn chúng con sót mất chân tánh; làm việc điên đảo. Cúi mong Đức Thế Tôn rủ lòng từ bi rửa sạch trần cấu cho chúng con.
Liền khi ấy Đức Như Lai buông xuôi cánh tay sắc vàng; năm ngón chỉ xuống đất bảo Anan rằng:
- Nay ông thấy cánh tay của tôi xuôi hay ngược?
- Ông Anan thưa:
- Chúng sanh trong thế gian cho đây là ngược. Riêng con chẳng biết cái nào là xuôi cái nào là ngược!
Phật bảo ông Anan:
- Nếu người thế gian cho đây là ngược; vậy họ cho thế nào là xuôi?
Ông Anan thưa:
- Đức Như Lai dựng cánh tay lên; ngón tay chỉ lên hư không là xuôi.
Phật liền dựng cánh tay lên bảo ông Anan:
- Cái điên đảo là như thế. Chỉ là đầu đuôi thay đổi lẫn nhau; mà các người trong thế gian đều xem thấy thế ấy. Nên nhận biết thân ông với pháp thân thanh tịnh của các Đức Như Lai so sánh để biết: Thân Như Lai gọi là Chánh Biến tri; thân của các ông gọi là tính điên đảo. Ông nên xét kỹ thân ông và thân Phật cái điên đảo ấy ở chỗ nào?
* Khi ấy ông Anan và đại chúng sửng sốt nhìn Phật không nháy mắt, chẳng biết nơi thân tâm này điên đảo ở chỗ nào? Phật khởi lòng từ bi thương xót Anan và cả đại chúng. Ngài phát ra tiếng hải triều bảo khắp hội chúng:
- Này các thiện nam tử! Tôi thường nói: Sắc tâm; các duyên và các tâm sở sử đều do tâm hiện. Thân ông; tâm ông đều là vật ở trong chân tâm diệu minh hiện ra. Tại sao các ông lại bỏ sót mất tâm tính vốn nhiệm màu sáng suốt ấy mà nhận cái mê trong cái ngộ? Mờ tối thành có hư không. Trong cái hư không mờ tối ấy;kết cái mờ tối làm sắc; sắc xen tạp với vọng tưởng; lấy cái tướng của vọng tưởng làm thân. Nhóm các duyên dao động bên trong; dong duổi theo cảnh vật bên ngoài; rồi lấy cái tướng mờ mịt lăng xăng đó làm tâm tánh thì quyết định lầm cho tâm ở trong thân. Chẳng biết sắc thân cho đến núi sông; hư không và thế giới bên ngoài đều là vật ở trong chân tâm diệu minh. Tỷ như bỏ đi cả trăm ngàn biển lớn trong lặng, chỉ nhận một bọt nổi cho là nước biển cả. Các ông thực là một nhóm người trong mê; như cánh tay tôi rủ xuống không khác. Như Lai nói là đáng thương xót!
-
Đoạn trích dẫn trên có hai phần được phân bằng dấu hoa thị.
* Phần thứ nhất Đức Phật dùng cách tay để thí dụ về tính qui ước của thế nhân và con người chấp vào đấy. Đời người ngắn ngủi so với tuổi thọ của những vật thể hoặc sinh vật khác. Bởi vậy, tính chấp của thế nhân vào sự vật, sự việc sẽ cản trở một sự suy nghiệm đạt tới chân lý tuyệt đối vốn thường hằng. Cái vô thường thì coi là tuyệt đối. Cho núi là núi, sông là sông, cái mình nhận biết từ ngoại cảnh là thì nó là thế đó. Cái tuyệt đối thì không nhận ra, nên Đức Phật dạy là tính điên đảo:
“Cái điên đảo là như thế. Chỉ là đầu đuôi thay đổi lẫn nhau; mà các người trong thế gian đều xem thấy thế ấy”.
* Ở phần hai, Đức Phật chỉ ra rằng: Ngay cả những cái mà thế nhân thường nhận là tâm (Tư duy; ý thức .v.v..) đều là vật ở trong chân tâm diệu minh. Tức là:
Sự nhận biết: Sắc tâm. Sự tương tác giữa nhận thức và thực tế, tức là suy nghĩ tư duy: Các duyên. Khả năng tư duy: các tâm sở sử đều có thuộc tính vật chất và không phải chân tính – không phải tính nhận biết. Bởi vì đã là vật thì có sinh diệt; phân biệt và không phải bản tính nhận biết tất cả những sự vận động có thuộc tính vật chất đó. Nhưng qua đoạn trích dẫn trên cũng cho thấy Đức Phật đã chỉ ra:
* Ý thức có thuộc tính vật chất.
* Con người có khả năng nhận thức (Ngộ) được chân lý tuyệt đối. Nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại là: Lý thuyết thống nhất vũ trụ mà các nhà khoa học hàng đầu đang mơ ước.
Khi chúng ta nghe được; đọc được một quyển sách hay; một lời nói có ý nghĩa; một ý tưỏng tốt mà chúng ta hiểu ra (hoặc biết được đúng sai) thì có thể gọi là “ngộ” ra vần đề. Trong Phật pháp; khi chúng ta được nghe các vị thiền sư chánh đạo thuyết giảng và hiểu - ngộ - được thì ngay cả cái gọi là “ngộ” đó cũng không phải là tính nhận biết; không phải là đã đạt được chân tính. Thậm chí - giả thiết - ngay cả khi Đức Phật hiện tiền trực tiếp dạy chúng ta và chúng ta hiểu được ngay thánh ý của Ngài thì cũng không phải là đã đạt tới Chân Tính; mà chỉ là hiểu được mà thôi. Cái hiểu này có thay đổi theo hoàn cảnh và thời gian. Tức là có sinh – thành - trụ - diệt thì không phải chân lý tuyệt đối vốn thường hằng.
Điều này Đức Phật đã nói rất rõ trong đoạn trích dẫn sau đây:
ĐOẠN X: GIẢN TRẠCH TÂM DUYÊN ĐỂ CHỈ TÍNH THẤY KHÔNG CHỖ TRẢ VỀ.
@ Tiết 1): Trước bày chỗ ngộ chẳng dám tự nhận
Ông Anan bạch Phật:
- Tuy con nghe lời Phật dạy ngô được (biết được) tâm thanh tịnh sáng suốt viên mãn thường trụ sẵn có. Song con ngộ được (Nghe được) pháp âm của Phật cũng dùng tâm phan duyên mà thoả mãn chỗ ước mong mà chưa dám nhận là bản tâm vốn sẵn có. Cúi mong Đức Phật tuyên lời chỉ dạy”.
Đoạn này ông Anan hỏi rõ thêm vấn đề: Những phương tiện nhận biết (Gồm cả não bộ) nhận thức được lời dạy của Đức Phật. Ông hiểu được rằng trong ông – và cả mọi người - đều có tính nhận biết. Nhưng ông Anan chưa biết được giữa điều kiện nhận biết (“Song con nghe được pháp âm của Phật cũng dùng tâm phan duyên mà thoả mãn..”) và bản tính chân như - tính thấy khác nhau ở chỗ nào? (“…chưa dám nhận là bản tâm vốn sẵn có”).
Tiết 2):Trách nhận ngón tay dùng để giản trạch tâm phân biệt đều có chỗ trả về.
Đoạn này Đức Phật chỉ ra sự khác nhau giữa cái nhận biết được từ điều kiện nhận biết và bản tính chân như – tính thấy.
@ Phật bảo ông Anan:
- Các ông còn dùng tâm phan duyên để nghe pháp; thì pháp này cũng là vọng (sở duyên) chẳng phải pháp tính.
Như người dùng ngón tay để chỉ mặt trăng cho người khác. Người kia phải nhân ngón tay mà nhìn lên mặt trăng.
Nếu lại xem ngón tay chính là mặt trăng thì người này đâu những chỉ quên mặt trăng mà cũng quên luôn cả ngón tay. Vì sao? Bởi lẽ cho ngón tay chỉ là mặt trăng sáng thì đâu những chỉ quên ngón tay mà cũng chẳng biết tối sáng. Vì sao? Vì lấy thể ngón tay chỉ cho là tính sáng của mặt trăng thì cũng không rõ được tối sáng.
Đoạn kinh văn trên là một trong những đoạn nổi tiếng của Phật pháp. Ngón tay thì không phải mặt trăng; điều đó đã rõ ràng. Ở đây Đức Phật ví ngón tay là sự nhận thức được Pháp lý, là sự tiếp thu tri kiến chứ tự nó không phải là Tính nhận biết – chân tính. Do đó, nếu nhầm lẫn giữa sự tiếp thu tri thức và tính nhận biết (Bản chất của hiện tượng) thì luôn luôn sẽ là sự sai lầm. Sai lầm nay có thể dẫn đến: Hoặc là phủ nhận chính tri kiến tiếp thu được do không hiểu bản chất của hiện tuơng; hoặc là dẫn đến niềm tin không từ trí huệ mà đời thường gọi là mê tín dị đoan. Những phương pháp bói toán của chúng ta hiện nay – một thời bị coi là mê tín dị đoan – chính vì chưa ai giải mã được nguyên nhân nào để có những phương pháp bói toán này (Bản chất của hiện tượng). Do đó; những người có chút kiến thức khoa học (Họ cũng chỉ nhìn thấy ngón tay chỉ vào khoa học) đã phủ nhận các phương pháp bói toán. Trường hợp này có thể lấy làm ví dụ cho ngón tay chỉ và mặt trăng. Những người phủ nhận phương pháp bói toán thường nhân danh khoa học. Họ cho rằng bói toán là mê tín dị đoạn; là không có cơ sở khoa học. Nhưng chúng ta thử nghĩ lại:
Có một lý thuyết khoa học nào lại không có khả năng dự báo?
Hay nói một cách khác: Một lý thuyết khoa học phải có khả năng tiên tri. Sự tồn tại của các phương pháp tiên tri hàng thiên niên kỷ ở Đông phương – có phương pháp luận hẳn hoi - cho thấy một lý thuyết khoa học đứng đằng sau nó mà con người chưa phát hiện được. Điều này chứng tỏ đã có một lý thuyết khoa học bị thất truyền. Đây mới là bản chất của hiện tượng của các phương pháp bói toán Đông Phuơng. Sự nhận thức khoa học chỉ là thực nghiệm và căn cứ vào những lời dự báo sai hoặc đúng thì cũng chỉ là nhận thức ngón tay (tính thực nghiệm và chứng nghiệm của khoa học), chứ không phải một tinh thần khoa học thật sự. Cũng không thể lấy tính thực nghiệm dự đoán sai của ngườI ứng dụng phương pháp để phủ nhận (Người dự đoán sai và phương pháp sai là hai v/d khác nhau. Bói toán có phương pháp và quy tắc với mê tín dị đoan cũng là hai v/d rất khác nhau). Chính vì chỉ nhận thấy ngón tay chỉ vào khoa học, chứ không phải bản chất của khoa học, nên khi có những hiện tượng bất thường: Nhỏ thì như quả trứng đứng trên cái đũa khi tìm mộ huyệt ; hoặc lớn thì như sự tiên tri thần khốc quỷ sầu của bà Vanga… Những người này sẽ hoang mang và dẫn đến trạng thái: Hoặc Không còn tin vào khoa học; hoặc phủ nhận tất cả những gì ngoài tri kiến của họ. Bởi vậy - trong trường hợp này - Đức Phật nói :
“Bởi lẽ cho ngón tay chỉ là mặt trăng sáng thì đâu những chỉ quên ngón tay mà cũng chẳng biết tối sáng”.
Như vậy; tiếp thu tri thức chỉ là sự tương tác có điều kiện của thể tính và không phải tính nhận biết.
Những điều minh giảng của Đức Thích Ca - rất quan trọng trong việc giải đáp câu hỏi : "Định mệnh có thật hay không?” và tìm về một chân lý tuỵệt đối: Lý thuyết thống nhật vũ trụ. Không phải ngẫu nhiên mà Anhxtanh cho rằng: Phật giáo chính là tôn giáo của tương lai.
@ Phật bảo Anan:
- Ông cũng lại như vậy! Nếu lấy cái phân biệt tiếng của tôi nói Pháp làm tâm của ông; thì tâm ấy tự phải rời cái phân biệt tiếng nói Pháp vẫn có tính phân biệt”..
Đoạn trên Đức Phật chứng tỏ bản tính (tính thây) có khả năng phân biệt: Nhận thấy sáng; tức là biết tối. Nhận thấy hay tức là biết dở. Nghe được tiếng nói Pháp thì sẽ có chỗ không nghe. Bởi vậy; nghe được tiếng nói Pháp và tri kiến Pháp không phải bản tính. Nên Đức Phật nói “tâm ấy tự phải rời cái phân biệt tiếng nói Pháp vẫn có tính phân biệt”. Tức là Phật nói một tính chất của tính thấy là khả năng phân biệt. Đoạn sau Đức Phật chứng minh điều này.
Tiết 3. – CHỈ TÍNH THẤY KHÔNG CHỔ TRẢ VỀ
@ A)- HỎI CHỔ KHÔNG TRẢ VỀ.
Ông Anan thưa :
- Nếu tâm tánh của con đều có chổ trả về, thì tại sao Đức Như Lai dạy tâm diệu minh sẵn có không trả về đâu ? Cúi mong Phật thương xót chỉ cho điều ấy.”
Ông Anan hỏi rõ hơn về bản tính chân như – tính thấy - và khả năng nhận thức trong con người.
@ B)- CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI BÓNG.
Phật bảo Anan:
- Vả lại, cái tánh thấy vốn sáng suốt của ông thấy tôi, thì cái tánh thấy này tuy chẳng phải là cái diệu tinh minh tâm, nó như mặt trăng thứ hai, không phải bóng mặt trăng.”
Đức Phật so sánh khả năng nhận biết trong một con người và bản tính chân như – tính thấy trong con người qua hình tượng mặt trăng.
@ C)- NÊU TÁM THỨ TRẦN TƯỚNG.
Ông hãy nghe cho kỹ, nay tôi sẽ chỉ cho ông chỗ không thể trả về. Anan, cửa đại giảng đường này, mở rộng về phương Đông, khi mặt trời lên thì chiếu sáng; giữa đêm không trăng mây mù mờ mịt thì tối tăm; chỗ có các cửa thì thấy thông suốt ; khoảng tường ngắn thì thấy bít lấp ; chỗ phân biệt được thì thấy cảnh sắc duyên ; trong chỗ trống rỗng toàn là hư không; cảnh tượng mịt mù là bụi tối; mưa tạnh trời thanh lại thấy trong.
Đức Phật nói về các đối tượng nhận biết và các tính chất của đối tượng nhận biết mà khả năng nhận biết được.
@ D.- CHỈ TÁM THỨ TRẢ VỀ.
Anan , ông hãy xem các tướng biến hóa này, nay tôi đều trả về bản nhơn của nó. Thế nào là bản nhơn? Anan, các tướng biến hóa này, sáng trả về cho mặt trời. Nguyên nhơn cái sáng thuộc về mặt trời. Vì sao? Vì nếu không mặt trời thì không sáng. Nguyên nhơn cái sáng thuộc về mặt trời. Cái tối trả về cho đêm không trăng; thông suốt trả về cho cửa ; ngăn bít trả về cho tường vách ; sắc duyên trả về cho phân biệt; rỗng trống trả về cho hư không; mù mịt trả về cho bụi; trong sáng trả về cho trời tạnh. Tất cả vật có ra trong thế gian đều không ngoài các thứ này.
Đức Phật cho thấy vật nào có tính chất của vật đó. Những thuộc tính này con người có khả năng nhận biết và cho thấy nếu những thuộc tính này không tồn tại thì khả năng nhận biết trong con người vẫn tồn tại.
E.- CHÍNH CHỈ CÁI KHÔNG THỂ TRẢ VỀ.
Còn tánh thấy sáng suốt của ông thấy tám thứ kia, ông muốn trả nó về đâu? Vì sao? Vì nếu trả về cho sáng, thì khi tối đến cũng không thấy tối. Tuy sáng tối mỗi mỗi đều sai khác, nhưng cái thấy không sai khác, các thứ có thể trả về được, tự nhiên chẳng phải ông. Cái ông không thể trả về được, chẳng phải ông thi là gì ? Ắt biết tâm ông vô nhiệm mầu thanh tịnh sáng suốt mà ông tự mê muội, bỏ mất tánh bản nhiên, đành chịu luân hồi, thường bị trôi nổi chìm, đắm trong sanh tử.Thế nên, Như Lai nói là đáng thương xót vậy !”.
Khả năng nhận biết trong con người – mà Đức Phật ví là mặt trăng thứ hai – chỉ là bản thể nhận biết trong con người đó, là đặc trưng cho khả năng nhận biết của con người đó – nhưng không phải bản tính chân như (Tính Thấy). Xin xem tiếp lời minh giảng của Đức Phật ở các đoạn sau.
Thiên Sứ
Còn tiếp
Thiên Sứ
12-07-2005, 10:04 PM
ĐOẠN XI
LỰA RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY
Tiết 1 - VẬT KHÔNG PHẢI TA.
@ Anan thưa:
- Con tuy biết tánh thấy này không thể trả về đâu, nhưng làm sao biết nó là Chơn tánh của con?
Đây là một câu hỏi sai của ông Anan. Vì nếu ông ta "biết" được - hay nói một cách khác: Nếu ông ta thấy được cái "tính thấy" thì cái "tính thấy" mà ông thấy được đó lại không phải là "tính thấy". Không thể có cái tính thấy này thấy được cái tính thấy kia. Nhưng đây là giai đoạn khai ngộ để đạt tới một nhận thức cao cấp hơn, phải chấp nhận câu hỏi này.
Phật bảo Anan:
- Nay tôi hỏi ông, hiện nay ông chưa đươc quả Vô Lậu Thanh Tịnh, do nương theo oai thần của Phật mà thấy được cõi Sơ Thiền không bị chướng ngại; ông A Na Luật Đà thì thấy cõi Diêm Phù Đề như xem trái yêm ma la để trong bàn tay; các vị Bồ Tát v.v… thấy cả trăm ngàn cả thế giới. mười phương Như Lai đều thấy cùng tận các cõi nước thanh tịnh như số vi trần không sót chỗ nào; còn chúng sanh xem chẳng quá gang tấc.
Anan, lại tôi với ông cùng xem cung điện của Tứ Thiên Vương, ở khoảng giữa xem những vật dưới nước, trên mặt đất và trong hư không (thuỷ lục không hành) , tuy có nhiều hình tượng tối sáng khác nhau, nhưng đều là cảnh tiền trần phân biệt ngăn ngại. Ông hãy ở nơi đó phân biệt cái gì là mình, cái gì là vật? Nay tôi cho ông lựa trong cái thấy, cái gi là Tâm Thể của ông (ngã thể), cái gì là hình tượng của sự vật? Anan, cùng tột sức thấy của ông từ mặt trời mặt trăng, chính là vật chẳng phải ông; cho đến Thất Kim sơn xem xét cùng khắp, tuy có những thứ hào quang cũng là vật chẳng phải ông, lần lần xem đến mây kéo; chim bay, gió động,bụi dấy, cây cối , núi sông, rau cỏ, người, thú thảy đều là vật chứ chẳng phải ông.
Đức Phật diễn giảng khả năng nhận biết trong từng con người, với phương tiện nhận biết khác nhau thì sẽ tạo nên sự nhận biết khác nhau và làm nên bản ngã - mặt trăng thứ hai. Nhưng tất cả khả năng nhận biết ấy, dù với bất cứ phương tiện nhận biết nào cũng không phải tính thấy.
@ Tiết 2.- HIỂN BÀY TÁNH THẤY CHẲNG PHẢI VẬT.
- Anan, tánh chất của các vật xa gần tuy có sai khác, nhưng đều là vật do tánh thấy trong sạch của ông xem thấy. Vậy các vật kia tự có sai khác, mà tánh thấy của ông không sai khác. Tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu này quả thật là tánh thấy của ông.
Nếu tánh thấy là vật, thì ông cũng có thể thấy được cái thấy của tôi, vậy khi tôi không thấy, sao ông không thấy chỗ không thấy của tôi? Nếu ông không thấy được cái không thấy, thì tự nhiên nó không phải là tướng của cái không thấy kia.Nếu ông không thấy được chỗ không thấy của tôi, thì cái thấy bản nhiên không phải là vật, sao lại không phải là ông?
Trong đoạn này, Đức Phật chỉ rõ tính thấy không có những thuộc tính vật chất:
"tánh chất của các vật xa gần tuy có sai khác, nhưng đều là vật do tánh thấy trong sạch của ông xem thấy".
Nhưng cần phân biệt khả năng nhận biết - bản ngã - với tính thấy. Đoạn diễn giải sau của Đức Phật, quí vị sẽ thấy rõ hơn điều này.
Trong đoạn trên; Đức Phật đã chỉ ra rằng:
1) Tất cả mọi trạng thái ý thức – suy nghĩ; tiềm thức… đều có thuộc tính vật chất (vận động tương tác). Tính thấy là cái nhận thức được tất cả những cái đó. Vấn đề còn lại là phương tiện nhận biết (khả năng tư duy hay phương tiện tự tạo hoặc sẵn có như giác quan..) tạo nên khả năng nhận biết cá nhân - Bản ngã.
2) Tính thấy Phi vật chất, nhưng là một thực tại có từ vô thuỷ đến vô chung; không sanh diệt; không không gian; không thời gian (Không ở trong ông Anan và cũng không ở trong Đức Thích Ca …. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính. (Đoạn sau Đức Phật chỉ rõ hơn về điều này). Tính thấy là một thực tại vì có khả năng phân biệt:
“.. Như thế cho đến cái phân biệt đều không; chẳng phải sắc; chẳng phải không; mà bọn Câu Xá Lỵ…lầm cho là Minh Đế.
NẾU RỜI CÁC PHÁP TRẦN CŨNG KHÔNG CÓ TÁNH PHÂN BIỆT THÌ TÂM TÍNH CỦA ÔNG ĐỀU CÓ CHỖ TRẢ VỀ; vậy lấy cái gì làm chủ?”.
Tính phân biệt Đức Phật nói ở đây là khả năng của tính thấy; chứ không phải là sự phân biệt trong tính thấy. Tính thấy là một thực tại không có phân biệt: Không Âm không Dương; tự nhiên như nhiên có từ vô thuỷ, chính là cái có trước Âm Dương: Thái Cực.
@ Tiết 3.- CHỈ RÕ VẬT VÀ TA KHÔNG LẪN LỘN.
Đức Phật nói:
- Lại như cái thấy là vật thì đương khi ông thấy vật đó, ông đã thấy được vật, thì vật cũng thấy được ông. Thế thì thể tánh xen lộn, ông và tôi cùng các thế gian không thành lập được.
Anan, nếu khi ông thấy thì chính ông chứ chẳng phải tôi, tánh thấy trùm khắp đó chẳng phải ông chứ là ai ?
Tại sao tự nghi Chơn Tánh của ông. Tánh của ông mà ông chẳng tự nhận lấy, lại cầu tôi chỉ dùm cho ông ?
Đến đấy cho thấy – Đức Phật đã chỉ ra rằng: Tất cả sự hiện hữu có thể tính (vật chất: nhỏ như hạt quak hoặc nhỏ hơn mà nhân loại có thể tìm ra trong tương lai) và mọi thuộc tính của nó, đều là đối tượng của tính thấy và không phải tính thấy. Tính thấy phi vật chất nhưng là một thực tại. Nếu tính thấy có thể tính thì sẽ phải có cái thấy được nó. Bởi vậy; Đức Như Lai nói:
“Thể tính xen lộn; ông và tôi cùng các thế gian không thành lập được”.
Đây là tính bất họp lý của sự suy nghiệm, không thể tự chứng được bản ngã, nếu bạn tu tập; hoặc không thể có một lý thuyết khoa học nào có thể tồn tai trên tính phi lý, nếu bạn là nhà nghiên cứu khoa học. Nhưng khi chứng tỏ rằng: tính hợp lý là điều kiện nhận biết thì chúng ta đã thừa nhận tính quy luật của tất cả mọi sự kiện, kể cả trong lĩnh vực tiên tri. Câu minh giảng của Đức Như Lai:
“.. Ông và tôi cùng các thế gian không thành lập đươc” -
còn cho chúng ta thấy: Đức Phật không cho rằng Ngài là người sáng tạo vũ trụ; mà chỉ là một người sinh ra trong sự vận động của vũ trụ, nhưng giác ngộ được “Vô thượng chánh đằng giác”. Điều này khác hẳn quan niệm của Hê Ghen khi cho rằng: Vũ trụ này được tạo ra bởi “ý niệm tuyệt đối” hoặc của Jean Guitton cho rằng: ”Chính Thượng Đế đã tạo ra vũ trụ ở giây 0 trước Bicbang và những qui luật vũ trụ hiện nay là ý muốn của ngài” – Trong cuốn “Thượng Đế và khoa học”.
Đây cũng là điểm rất căn bản và đáng chú ý trong minh triết và huyền thoại Đông phương - Thượng Đế thuộc thần thoại Đông phương là người cai quản vũ trụ; nhưng không sáng tạo ra vũ trụ.
Thiên Sứ
Còn tiếp
Thiên Sứ
12-07-2005, 10:48 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Sự suy nghiệm về Định mệnh có thật hay không đã dẫn chúng ta đến một vấn nạn của sự mâu thuẫn là:
- Không có tính quy luật thì không có khả năng tiên tri.
Nhưng những qui luật tương tác trong vũ trụ có tác động lên ý thức của con người hay không?
Đức Phật đã chỉ ra ý thức có thuộc tính vật chất. Như vậy, đủ để chúng ta kết luận về Định mệnh hoàn toàn có thật. Nhưng một vấn nạn có tính nhân bản và là sự hợp lý - một điều kiện cần - tiếp theo là phải chứng minh rằng:
Con người không phải robot của tạo hoá.
Cái gì thấy được điều đó khi ý thức có thuộc tính vật chất?
Thật hạnh phúc và may mắn thay! Đức Phật đã khai ngộ về điều này từ hơn 2600 năm trước. Đức Phật nói về bản tính chân như thường hằng trong vũ trụ và trong mỗi con người, mỗi sinh vật đang tồn tại trong không gian và thời gian. Ngài đã kết luận với câu nói nổi tiếng từ bi và trí huệ:
Tất cả chúng sinh đều có Phật tính.
Chính vì là một điều kiện cần, nhưng lại là một việc rất khó khăn khi khả năng của người viết có hạn, nên diễn tả dài dòng. Rất mong sự chia sẻ cảm thông của quí vị quan tâm. Người viết cũng xin chân thành cảm ơn sự khuyến khích động viên của quí vị. Nhân đây, người viết cũng tường rõ với quí vị quan tâm là bài viết này đã viết tại website tuvilyso.com và cũng đã được Nxb Tôn giáo cho in vào tháng 3 năm 2005 với tựa là: Đức Phật khai ngộ về tính thấy.(Sách chưa phát hành do điều kiện của người viết). Nhưng người viết thấy cần sửa chữa, bổ sung và hoàn chỉnh một lần nữa trong lần viết này.
Chân thành cảm ta sự quan tâm quán xét bài viết còn tiếp tục sau đây của quí vị.
Chân thành cảm ơn ban quản trị Lý số chân thuyên đã cho tôi một cơ hội trình bày những ý tưởng của mình trên diễn đàn.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
13-07-2005, 02:41 AM
CHƯƠNG 4.- NGHI CÁI THẤY CÓ LỚN NHỎ ĐỨT NỐI.
Ông Anan bạch Phật rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Nếu tính thấy này nhất định là con chẳng phải vật khác thì khi con cùng Đức Như Lai xem kho tàng Bảo điện thù thắng của Tứ Thiên Vương; ở cùng mặt trời mặt trăng; cái thấy này trùm khắp cõi Ta Bà. Nhưng khi lui về tịnh xá chỉ thấy vườn chùa; khi thanh tâm nơi phòng chái thì chỉ thấy một chái nhà. Bạch Thế tôn! Cái thấy này như thế; thể nó xưa nay giáp một cõi; nay ở trong nhà chỉ thấy nội trong nhà. Vậy cái thấy này rút lớn nhỏ hay bị tường vách ép lại khiến cho đứt đoạn. Con thật chẳng biết nghĩa này thế nào? Cúi mong Đức Thế Tôn mở rộng lòng từ vì con diễn nói rõ”.
Trong đoạn này, ông Anan cho rằng tính thấy trong ông bị tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mà thấy. Vì thực tế ông ta thấy như thế, nên hỏi Phật. Ông Anan đã chấp vào cái ông nhận thấy là tính thấy của ông .
Tiết 5 - CHỈ TIỀN TRẦN LÀM NGĂN NGẠI
A) Dụ đồ vật và hư không.
Phật bảo Anan:
- Tất cả các thứ trong ngoài lớn nhỏ ở thế gian đều thuộc về tiền trần; chẳng phải tính thấy co dãn.
Tỷ như món đồ vuông, trong ấy thấy hư không vuông. Nay tôi lại hỏi ông: Trong món đồ vuông này, nhìn thấy hư không vuông là nhất định vuông hay không nhất định vuông? Nếu nhất định vuông thì khi ở trong món đồ tròn, hư không đáng lẽ chẳng tròn. Nếu không nhất định thì khi ở trong món đồ vuông, đáng lẽ hư không chẳng vuông. Ông nói nghĩa tính này thế nào. Nghĩa tính là như thế sao còn hỏi là thế nào?
Đức Phật lấy hư không làm hình tượng để ví dụ cho tính thấy. Tính thấy không phải hư không với nghĩa “không có”
@ B) Bỏ đồ vật vuông tròn
Anan! Nếu muốn nhận được tính không vuông tròn của hư không thì chỉ cần trừ bỏ cái vuông tròn của đồ vật; sẽ biết thể của hư không vốn không vuông tròn. Không nên hiểu là phải bỏ cái tướng vuông tròn của hư không.
Đức Phật lấy hư không làm hình tượng thí dụ cho thấy thể tính tiền trần là nguyên nhân ngăn ngại của phương tiện nhận biết - thời xưa thì là các giác quan hoặc kinh nghiêm (Mây đen thì mưa chẳng hạn..) và khả năng tư duy vốn có thuộc tính vật chất như đã tường ỏ trên - chứ tính thấy không có ngăn ngại. Hư không trong trường hợp này chỉ là thí dụ cho tính thấy và không phải tính thấy. Nếu tính thấy là cái không so với cái có thì khi cái có không còn, cái không cũng không tồn tại. Tính thấy là một thực tại, riêng có tự tính.
@ Đức Phật nói:
- Nếu như ông hỏi:Khi vào nhà cái thấy rút nhỏ lại. Vậy khi ngước xem mặt trời; há ông kéo cái thấy dãn ra ngang với mặt trời? Nếu bị tường vách ngăn ép thì tánh thấy phải đứt đoạn; vậy khi soi một lỗ nhỏ sao không thấy dấu nối? Nghĩa ấy không đúng!
Tất cả chúng sinh từ vô thuỷ đến nay; mê mình là vật; bỏ mất bản tâm (Chân tâm sẵn có: Tính thấy); bị vật xoay chuyển; nên ở trong ấy lại xem có lớn nhỏ. Nếu chuyển được vật tức đồng Như Lai. Thân tâm tròn sáng chẳng rời nơi đạo tràng. Trên đầu một mảy lông có thể chưa được mười phương cõi nước.
Câu “Trên đầu một mảy lông có thể chứa đựng cả mười phương cõi nước” là một câu nói nổi tiếng của Đức Như Lại. Tính thấy vô lượng, vô biên, không không gian, không thời gian, không lượng số. Đó chính là Thái Cực; chính là Đạo: "Đón không thấy đầu, theo không thấy đuôi, ở trên không sáng ở dưới không tối” (Đạo Đức Kinh). Chính là sự khởi nguyên của vũ trụ với giá trị =|0|. So với cái vô cùng (|0|) mọi cái hữu hạn dù là – "mười phương cõi nước” – đều nhỏ bé. Thái cực là một khái niệm giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đó là giây |O| trước bicbang, chính là chiếc bánh Dầy của văn minh Lạc Việt; chính là “Mẹ tròn” trong câu tục ngữ nổi tiếng “Mẹ tròn con vuông”. Là “Lưỡng nghi” của người Việt Nam. Nhưng Thái Cực là gì - tất nhiên không phải “Vô Cực” như Chu Hy nói. Bởi vì; nếu có một sự tồn tại gọi là Vô Cực đối đãi với Thái Cực, thì chính sự đối đãi này đã phân Âm Dương, cần gì phải nói ”Thái Cực sinh lưỡng nghi” (Âm Dương) nữa. Đó chính là lý do mà Giáo Sứ Nguyễn Hữu Lượng cho rằng: "Hiền tài như Chu Tử mà cũng chẳng tránh khỏi quanh co khúc thuyết…”(Kinh Dịch vớI vũ trụ quan Đông phương). Hay như Đức Phật nói:
“Thể tánh xen lộn, ông và tôi cùng các thế gian không thành lập được”.
Chúng ta tiếp tục quán ngộ lời minh giảng của Đức Như Lai về tính thấy để rõ thêm về điều này.
MỤC III: NÊU TÁNH THẤY RA NGOÀI NGHĨA PHẢI VÀ CHẲNG PHẢI
ĐOẠN I
NGHI CÁI THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
Ông Anan bạch Phật rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn, nếu tánh thấy nầy nhất định là tánh nhiệm mầu của con, thì diệu tánh đó phải hiện ở trước mặt con, cái thấy đó hẳn thật là con, vậy thân tâm con hiện nay là vật gì ?
Nhưng hiện nay thân tâm con thật có phân biệt, còn cái thấy kia không phân biệt được thân con. Nếu thật là tâm con, khiến cho con hiện nay có thấy, vậy tánh thấy ấy thật là con, còn thân nầy không phải con, thì khác nào trước kia Đức Như Lai gạn hỏi “ Vật hay thấy được con”. Cúi mong Đấng Đại Từ chỉ bày cho chỗ chưa ngộ”.
Ông Anan cho rằng: Cái thấy ở bên ngoài thân tâm (Vì nhìn thấy vật thể bên ngoài thân tâm: Trời; trăng; mây; nước…). Sự sai lầm trong nhận thức này khiến ông thắc mắc: Cái thấy trong tâm ông và cái thấy - mà ông cho rằng ở bên ngoài – cái nào là thật tính?
Khái niệm thân tâm mà ông Anan dùng ở đây có thể hiểu là tâm ở trong thân; đối đãi với Tính thấy mà ông cho ở ngoài thân. Ông Anan đã nhầm lẫn giữa phương tiện nhận biết và những điều kiện nhận biết có thuộc tính vật chất, trong đó gồm cả sự tương tác vận động của tư duy; khả năng nhận thức…được cấu tạo và vận động tương tác trong thân thể con người và sinh vật với tính thấy. Bởi vậy; ông cho rằng: Tính thấy – tính nhận biết ở bên ngoài thì phải nhận biết thân tâm của ông. Thực ra tính thấy hằng có thường tồn; bao trùm tất cả; không ở trong không ở ngoài. Nhưng trong cơ thể sinh vật nó hiển thị qua phương tiện nhận biết có trong cấu trúc cơ thể. Riêng ở con ngườI thì phương tiện nhận biết còn do tự tạo. Đoạn sau Đức Phật nói rất rõ về điều này.
ĐOẠN II
CHỈ RA “KHÔNG CÓ CÁI GÌ TỨC LÀ CÁI THẤY”
@ TIẾT 1.- Nêu tướng để gạn hỏi cái thấy.
Phật bảo A Nan :
- Nay ông nói cái thấy ở trước mặt ông, nghĩa ấy không đúng! Nếu thật ở trước mặt ông và ông thật thấy, thì tánh thấy nầy đã có chỗ nơi đều chỉ ra được. Vậy nay tôi cùng ông ngồi trong rừng Kỳ Đà xem khắp rừng suối, nhà cửa, phía trên đến mặt trời mặt trăng, phía trước là sông Hằng. Nay ông ở trước tòa sư tử của tôi, hãy đưa tay chỉ rõ các thứ tướng ấy: Chỗ mát là rừng cây, chỗ sáng là mặt trời, chỗ ngăn lại là vách, chỗ thông suốt là hư không, như thế cho đến cỏ cây mảy mún lớn nhỏ tuy có sai khác, nhưng đã có hình tướng đều có thể chỉ ra được. Nếu nhất định cái thấy kia hiện trườc mắt ông, ông nên lấy tay chỉ rõ cho chính xác cái nào là cái thấy?
A Nan, ông nên biết, nếu như hư không là cái thấy, đã thành cái thấy rồi, cái gì là hư không? Nếu vật là cái thấy, đã là cái thấy thì cái gì là vật? Ông nên chín chắn phân tích trong muôn vật lựa ra tánh thấy sẵn có sáng suốt thanh tịnh nhiệm mầu để chỉ rõ cho tôi, cùng các vật kia một cách rõ ràng không lầm lẫn”.
TIẾT 2.- Đáp không phải cái thấy.
A Nan thưa:
- Nay con ở trong giảng đường này, nhìn xa thấy sông Hằng, trên thấy mặt trời mặt trăng, đưa tay chỉ ra, dẫu dùng mắt nhìn xem chỗ chỉ ra được đều là vật không phải là cái thấy.
Bạch Thế Tôn, đúng như lời Phật vừa dạy, chẳng những hàng Thanh Văn sơ học hữu lậu chúng con, cho đến Bồ Tát cũng không thể đối trước hiện tượng của muôn vật vạch ra được cái thấy, rời tất cả vật riêng có Tự tánh”.
Phật nói :
- Đúng thế ! Đúng thế !
Như vậy , từ sự nhận thức hiện tượng bên ngoài mà ông Anan cho rằng cái thấy ở ngoài thân tâm. Nhưng Đức Phật đã chỉ ra rằng: Ngoài thân tâm không thể chỉ ra được cái thấy. Cái thấy không phải vật. Tất cả dạng tồn tại của vật chất từ siêu hạt đến thiên hà khổng lồ; mà nhân loại đã tìm ra hoặc sẽ tìm ra trong tương lai; cùng với những thuộc tính của nó, đều không phải tính thấy. Tính thấy là một thực tại - "rời tất cả vật riêng có Tự tánh”.
ĐOẠN III
CHỈ RA KHÔNG CÓ CÁI GÌ NGOÀI CÁI THẤY
(Vạn vật trong cái thấy –NgườI viêt)
@ TIẾT 1- Nói cái không phải để đổi lại gạn hỏi cái gì chẳng phải cái thấy
Phật lại bảo A Nan:
- Như ông đã nói, không có cái thấy rời tất cả vật riêng có Tự Tánh, thì trong tất cả vật ông đã chỉ ra được, chỉ là vật chứ không phải là cái thấy. Nay tôi lại hỏi ông, ông cùng Như Lai ngồi trong Kỳ Đà lại xem vườn rừng, cho đến mặt trời mặt trăng, các thứ hình tương sai khác, nhất định không có cái thấy mà ông có thể chỉ ra được. Ông hãy phát minh trong các vật này cái gì chẳng phải là cái thấy?
TIẾT 2.- Đáp không cái gì chẳng phải cái thấy
A Nan thưa:
- Con thật xem khắp trong rừng Kỳ Đà này chẳng biết trong ấy cái gì chẳng phải là cái thấy. Vì sao ? Nếu cây chẳng phải cái thấy thì làm sao thấy được cây? Nếu cây là cái thấy thì sao gọi là cây? Như thế cho đến nếu hư không chẳng phải là cái thấy thì làm sao thấy được hư không? Nếu hư không là cái thấy thì sao gọi là hư không? Con lại suy nghĩ, trong muôn vật đây chín chắn phát minh không có cái gì chẳng phải là cái thấy.
Phật nói:
- Đúng thế! Đúng thế!
Đoạn trước; ngài Anan chấp cái thấy – tính thấy ở ngoài thân thể. Đức Phật đã phản bác. Nay Đức Phật lại hỏi có cái gì không có cái thấy trong muôn vật ở trước mặt. Ngài Anan ngộ ra rằng: Cái thấy – Tính thấy có trong muôn vật - kể cả hư không. Bởi vì Tính thấy phải bao trùm vạn vật, có trong vạn vật - nhỏ như vi trần, lớn như thiên hà thì các phương tiện mới thấy đươc.
Nếu cái thấy không bao trùm tất cả thì mọi sự tương tác có thuộc tính vật chất đều vô nghĩa. Đây cũng là điều đã được nhắc tới trong Kinh Dịch:
"Dịch lớn thay! Rộng thay! Ở xa thì đến tận cùng vũ trụ. Ở gần thì tĩnh mà chính. Trong khoảng trờI đất thì bao trùm tất cả”.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
ĐOẠN IV
NGÀI VĂN THÙ THỈNH PHẬT PHÁT MINH HAI NGHĨA.
Tiết 1 - Đại chúng lo sợ
Thiên Sứ
13-07-2005, 05:36 PM
ĐOẠN IV
NGÀI VĂN THÙ THỈNH PHẬT PHÁT MINH HAI NGHĨA.
@ Tiết 1- Đại chúng lo sơ.
Khi ấy trong đại chúng những vị chưa chứng quả vô học nghe Phật nói lời này đều mờ mịt chẳng biết nghĩa ấy trước sau thế nào, nên đều lo sợ mất chỗ bình thường.
Sở dĩ mọi người sợ hãi chính vì chưa chứng quả vô học. Nói theo ngôn ngữ hiện đại tức là không có tinh thần khoa học thực sự. Chưa thực sự ngộ ra rằng những điều ta biết rất nhỏ bé trong biển trí mênh mông. Cho nên gặp một cái khác thường với tư duy cố hữu thì hoang mang sợ hãi. Điều này giống như người phát minh ra trái đất tròn thì bị phản đối.
Bởi vì trái đất vuông đã trở thành tư duy cố hữu và nó cân đối với tri thức hạn hẹp nhưng phổ biến thời bấy giờ. Nay có người bảo trái Đất tròn thì người ở phía dưới rơi đi mất thì sao? Nhưng thực tại trái đất tròn – trong điều kiện kiến thức thời trái đất vuông – có cái hợp lý với chính nó. Đó là lực hút của trái đất và lực hấp dẫn của các thiên thể, mà người thời đó không nhận ra được. Cái không nhận ra được những tính chất hợp lý liên quan mà chỉ thấy hiện tượng khác biệt với tư duy cố hữu mà “lo sợ mất chỗ bình thường” chính là “quả vô học”.
Đức Như Lai đã day:
Những điều ta nói chỉ như nắm lá trên bàn tay của ta. Nhưng tri kiến như lá cây trong rừng.
@ Tiết 2 - Phật nói lời thật để an ủi.
Đức Như Lai biết đại chúng lo sợ, nên sinh lòng thương xót, liền an ủi ông A Nan và cả đại chúng rằng:
- Các Thiện nam tử ! Đấng Vô Thượng Pháp Vương nói lời chơn thật, như tánh Chơn Như mà nói, đều chẳng hư dối, chẳng phải như bọn Mạt Già Lê dùng bốn thứ luận nghị “kiểu loạn bất tử”. Ông nên chín chắn suy nghĩ, chớ phụ lòng thương mến của tôi !”.
TIẾT 3 - Ngài Văn Thù thỉnh Phật phát minh.
Khi ấy, Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử thương xót bốn chúng, ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chơn Phật chấp tay cung kính bạch Phật rằng :
- Bạch Đức Thế Tôn! Đại chúng đây không nhận được chỗ Đức Như Lai phát minh hai nghĩa “phải và chẳng phải”, (thị phi thị) nơi hai thứ “cái thấy” và “sắc không”.
Bạch Thế Tôn! Các hiện tượng sắc không v.v… nơi tiền cảnh, nếu là cái thấy thì đáng lẽ có chổ chỉ ra được; nếu chẳng phải là cái thấy thì đáng lẽ không thể thấy. Mà nay chẳng biết nghĩa này về đâu nên mới có lo sợ, chứ chẳng phải vì trước đây căn lành mỏng ít. Cúi mong Đức Như Lai mở lòng đại từ chỉ rõ các vật hiện tượng này và cái thấy nguyên là vật gì mà trong ấy không có cái “phải” và “chẳng phải”.
Đoạn giải nghĩa về tính thấy có trong vạn hữu của Đức Phật với ông Anan, nhiều người chưa hiểu. Ngài Văn Thù thỉnh cầu Đức Phật nói rõ hơn.
ĐOẠN V
CHÍNH CHỈ CÁI THẤY KHÔNG CÓ CÁI “PHẢI” VÀ “CHẲNG PHẢI”.
@ Tiết 1 - Hội chung kiến và tương nguyên là Bồ Đề.
Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi và cả đại chúng:
- Mười phương Như Lai và Đại Bồ Tát khi tự trụ trong chánh điện kia, cái thấy và cảnh bị thấy cùng với các tướng tưởng đều như hoa đốm giữa hư không vốn không thật có. Cái thấy và cảnh bị thấy này (duyên), nguyên là thể giác ngộ nhiệm mầu thanh tịnh sáng suốt. Cớ sao trong ấy lại có cái nghĩa “phải” và “chẳng phải”.
Đoạn trên , Đức Phật cho rằng cảnh giới tiền trần - tức là vạn vật - chỉ do nhân duyên giả tạm tương tác mà thành trụ hoại diêt "đều như hoa đốm giữa hư không". Bản chất của vạn vật là tính thấy - được diễn tả một cách khác là "nguyên là thể giác ngộ nhiệm mầu thanh tịnh sáng suốt". Vấn đề đặt ra là:
Trong tính thấy có thể phân biệt là "phải nó" hay "chẳng phải nó" hay không?
@Tiết 2 - Phật dạy ngài Văn Thù để tiêu biểu không hai tướng.
Đức Phật hỏi:
- Này Văn Thù nay tôi hỏi ông! Như ông là Văn Thù, lại có Văn Thù phải là Văn Thù hay không phải Văn Thù ?”.
- Đúng như thế, bạch Thế Tôn ! Con nay thật là Văn Thù, không có phải là Văn Thù. Vì sao? Vì nếu có phải là Văn Thù thì có hai Văn Thù. Song con hiện nay chẳng phải là không Văn Thù, trong ấy thật không có hai tướng “phải” hay “chẳng phải”.
Qua đoạn trên; Ngài Văn Thù Sư Lợi đã chỉ ra tính biểu kiến/ qui ước của thế nhân quán xét tiền trần là thực tại đang hiện hữu trong nhận thức của thế nhân:
Ngài Văn Thù không phải là Văn Thù thì còn ai vào đây? Cũng như tôi thì đúng là tôi không thể là ông hàng xóm. Nhưng đấy chỉ là tính qui ước/ biểu kiến trong quán xét của thế nhân. Còn cái “tôi” đích thực với tất cả sự minh triết của nó không thể chỉ ra được; mà chỉ là sự tổng hợp những cái của tôi do nhân duyên giả hợp tác thành (Kể cả tư duy...).
Bởi vậy; nếu khẳng định “Văn Thù là Văn Thù” thì chỉ mang tính qui ước/ biểu kiến cho một thực tế hiện hữu. Chính ngài Văn Thù quy ước/ biểu kiến – mà chính Ngài và thế nhân cùng qui ước/ biểu kiến - trên một thực tại xác thân đó với tính thấy trong ngài sẽ nhận ra ngài.
Bởi vậy, xét về ý nghĩa minh triết:
Nếu khẳng định Văn Thù thì sẽ có hai Văn Thù:
Một Văn Thù thân xác qui ước/ biểu kiến và một Văn Thù - tính thấy thông qua phương tiện nhận biết trong cấu trúc thân xác của ngài Văn Thù - nhận ra Văn Thù kia.
Do đó, nếu bảo |KHÔNG PHẢI| Văn Thù thì không đúng – so với tính qui ước / biểu kiến thành thói quen của thế nhân với một thực tại đang hiện hữu. Nhưng nếu bảo |PHẢI| thì sẽ không đúng với tính minh triết của nhận thức và tính phát triển của nó.
Đó là lý do thứ nhất có tính khách quan – từ một sự quán xét bên ngoài – mà đối tác của sự quán xét đó chính là ngài Văn Thù. Từ đó; ngài Văn Thù nói: “Trong ấy; thật không có hai tướng phải hay chẳng phải”
Lý do thứ hai - mang tính chủ quan – khi ngài Văn Thù tự quán xét mình thì không thể trả lời ta chính là ta hay không phải ta. Ngài Văn Thù lúc này là duy nhất đối với chính ngài Văn Thù.
Bởi vậy; khi TÍNH THẤY là duy nhất và bao trùm tất cả không gian; thời gian - một thực tại riêng có tự tính - là cái nhận biết tất cả mọị sự vận động và tương tác của vật chất:
Từ những siêu hạt nhỏ nhất mà loài người đã và sẽ tìm ra; từ vô cơ đến hữu cơ; từ sinh vật bậc thấp đến bậc cao cho đến những thiên hà khổng lồ và cả sự vận động của vũ trụ bao la thì ở trong cái tính thấy đó không thể chỉ ra cái |PHẢI| hay |KHÔNG PHẢI| chính nó.
Tương tự như ngài Văn Thù không tự chỉ ra |Phải| hay |Không phải| Văn Thù.
@ Tiết 3 - Chính phát minh tính thấy để chỉ ra nghĩa "Phải" hay "Chẳng phải".
Phật dạy:
- Tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt này, cùng với hư không và tiền trần cũng lại như vậy. Vốn là chơn tâm giác ngộ vô thượng thanh tịnh tròn sáng nhiệm mầu, mà vọng làm ra sắc, không và thấy nghe; Ví như (người dụi mắt thấy) mặt trăng thứ hai thì cái nào phải mặt trăng, cái nào không phải mặt trăng? Nầy Văn Thù, chỉ có một mặt trăng thật, trong ấy không có phải mặt trăng hay không phải mặt trăng.
Thế nên hiện nay ông xem cái thấy và trần cảnh, các thứ phát minh đều gọi là vọng tưởng. Không thể ở trong ấy chỉ ra nghĩa "Phải" và "chẳng phải".
Tánh Giác sáng suốt nhiệm mầu ấy, hay khiến cho ông ra ngoài nghĩa “chỉ ra được hay chẳng chỉ ra được".
Đoạn trích dẫn trên cho thấy: Khi cái CÓ ra đời thì mới có sự đối đãi với cái KHÔNG. Nhưng trước cái CÓ thì không thể bảo là KHÔNG. Nếu trước cái CÓ là cái KHÔNG thì làm sao CÓ. Đó chính là lý “Thái Cực sinh lưỡng nghi” là Âm Dương trong Dịch vậy.
Khi Thái Cực - Cái tuyệt đối (|O|) chưa phân Âm Dương (Giây O trước Bicbang) - thì không thể lấy cái CÓ /KHÔNG để phân biệt:
“không thể ở trong ấy chỉ ra nghĩa phải và chẳng phải”.
Đây chính là ý nghĩa của câu “Mẹ tròn - Con vuông” trong minh triết Lạc Việt được biểu tượng trong chiếc BÁNH CHƯNG BÁNH DẦY. Mẹ tròn: Cái có trước nên gọi là MẸ; thuộc Dương khi phân Âm Dương. Sinh CON vuông thuộc Âm cái có sau. Do đó, trong nguyên lý Âm Dương từ minh triết Lạc Việt qua câu “Mẹ tròn Con vuông" thì Âm phải Động (Cái có sau và là cái hiện hữu) và Dương phải tịnh so với Âm Động. Điều này khác hẳn các quan niệm cố hữu từ hàng ngàn năm nay - từ cổ thứ chữ Hán cho rằng: Dương đông/ Âm tịnh. Vũ trụ vật chất mà chúng ta đang sống là cái có sau kể từ khởi nguyên vũ trụ (Thái cực: cái có trước) đang vận động; chính là một minh chứng cho Âm Động. Nếu từ nguyên lý Âm tịnh trong cổ thư chữ Hán thì thế giới không hình thành theo thuyết:”Thái Cực sinh lưỡng nghi”.
Linh diệu thay! Đây chính là sự minh triết của chiếc Bánh Chưng - Bánh Dầy với “Mẹ tròn con vuông” thuộc về nền văn minh Lạc Việt:
Nguyên lý của một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà những nhà khoa học hàng đầu đang mơ ước (Xin sẽ trình bày rõ hơn ở phần cuối của tiểu luận này).
Thiên Sứ
Còn tiếp:
MỤC IV
BÁC THUYẾT NHƠN DUYÊN, TỰ NHIÊN ĐỂ HIỂN BÀY NHẬN THẤY THẬT TƯỚNG CỦA TÁNH THẤY
Thiên Sứ
14-07-2005, 01:03 AM
MỤC IV :
BÁC THUYẾT NHƠN DUYÊN, TỰ NHIÊN ĐỂ HIỂN BÀY NHẬN THẤY THẬT TƯỚNG CỦA TÁNH THẤY
ĐOẠN I
@ NGHI TÁNH GIÁC ĐỒNG VỚI TỰ NHIÊN NHƯ THẦN NGÃ
Ông A Nan bạch Phật rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Thật như Đấng Pháp Vương đã nói, tánh Giác duyên khắp mười phương cõi nước vắng lặng thường trụ, tánh Giác ấy chẳng sanh chẳng diệt.
(Điều ấy) so với thuyết của Phạm Chí Ta Tỳ Ca La ngày xưa nói về Minh Đế, hay các thuyết ngoại đạo như Đầu hôi v.v… nói có chơn ngã đầy khắp cả mười phương, có gì sai khác ?
Ở núi Lăng Già, Thế Tôn cũng từng vì ngài Đai Huệ v.v… giảng rộng nghĩa nầy:
“Bọn ngoại đạo kia thường nói tự nhiên, còn tôi (Phật) nói nhân duyên chẳng phải cảnh giới của ngoại đạo kia”.
Nay con xét kỹ tánh giác này tự nhiên, chẳng sanh, chẳng diệt, xa lìa tất cả hư vong, điên đảo, in tuồng chẳng phải nhân duyên mà cùng với thuyết tự nhiên của ngoại đạo kia. Xin Thế Tôn chỉ dạy thế nào để chúng con khỏi rơi vào các tà kiến, được Tâm Tánh Chơn Thật Giác Ngộ trong sạch nhiệm mầu sáng suốt”.
Ông Anan so sánh lời dạy của Đức Phật với giáo lý của các giáo phái khác có hiện tượng giống nhau. Ngài đưa hiện tương giống nhau này thỉnh cầu Đức Phật chí cho thấy chỗ khác nhau.
ĐOẠN II
@ CHỈ RA CHẲNG PHẢI TỰ NHIÊN
Phật bảo A Nan:
- Nay tôi dùng phương tiện chỉ dạy như thế, chơn thật bảo ông mà ông còn chưa ngộ, là cho là tự nhiên. A Nan, nếu nhất định là tự nhiên, thì ông phải tự xét rõ cái thể tự nhiên.
Này Anan! Ông hãy xét trong tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu nầy, lấy cái gì làm tự thể? Lấy sáng làm tự thể, hay lấy tối làm tự thể? Lấy hư không làm tự thể, hay lấy ngăn bít làm tự thể?
Anan! Nếu lấy sáng làm tự thể thì đáng lẽ (khi tối đến) chẳng thấy tối. Nếu lại lấy hư không làm tự thể, thì đáng lẽ chẳng thấy ngăn bít. Như thế cho đến lấy các tướng tối v.v… làm tự thể, thì khi sáng Tánh thấy phải diệt mất, làm sao thấy sáng?”.
Trong thế giới tương đối này luôn có sự phân biệt: Sáng - Tối; Có – Không; …Do đó, nếu coi tính thấy là tự nhiên như các hiện tượng tồn tại sinh thành trụ diệt của vạn hữu thì là một sai lầm. Tính Thấy có trong thế giới tự nhiên của vạn hữu và không phải tự nhiên của vạn hữu.
Khi Thái Cực (Tính Thấy/Tính nhận biết = Mẹ tròn: Cái có trước). Đó là một thực tại viên mãn, thuần khiết (Biểu tượng qua chiếc bánh dầy). Thái Cực/ Tính Thấy vốn Không phải không/ Không phải có; Không Động/ Không tịnh:
“Trong đó không thể tự chỉ ra cái phải hay không phải” .
Khi cái động Âm ra đời (Con vuông = bánh Chưng) thì Đông/Tịnh, Âm Dương phân biệt tương tác / đốí đãi thành vũ trụ như hiện nay. Sự vận động, tương tác của vật chất – tương tác Âm Dương - tạo nên thế giới tự nhiên. Bởi vậy; tất cả những cái gì chúng ta đã thấy hoặc sẽ thấy đều chỉ nằm trong thế giới tự nhiên đối đãi /tương đối này. Do đó, nếu chúng ta lấy bất cứ một thực thể nào trong tự nhiên làm tự thể (Cái thấy/Tính thấy) sẽ là sự phủ định cái đối đãi với nó. Chỉ có tính Thấy/ Thái cực - thể khới nguyên của vũ trụ chính là bản thể nguyên thuỷ.
ĐOẠN III
@ NGHI NHƠN DUYÊN.
Ông A Nan thưa
- Tánh thấy nhiệm mầu này chắc chẳng phải là tự nhiên. Nay con xét thấy là nhân duyên sinh, nhưng tâm vẫn còn chưa rõ. Xin hỏi Đức Như Lai nghĩa ấy thế nào cho hợp với tánh nhân duyên?
Ông Anan thừa nhận tính Thấy phi tự nhiên. Nhưng cho rằng sự tương tác khởi nguyên của vũ trụ là do nhân duyên sinh.
ĐOẠN IV
@ CHỈ RA TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI NHÂN DUYÊN VÀ KẾT LUẬN TÁNH THẤY RỜI DANH TƯỚNG.
Phật bảo:
- Ông nói nhân duyên tôi lại hỏi ông: Nay ông nhơn thấy, Tánh thấy hiện tiền. Vậy cái thấy này nhơn nơi sáng mà có thấy, hay nhơn nơi tối mà có thấy, nhơn nơi hư không mà có thấy, hay nhơn nơi bít lấp mà có thấy? Này Anan, nếu nhơn nơi sáng mà có, thì đáng lẽ chẳng thấy được tối. Như nhơn nơi tối mà có, đáng lẽ chẳng thấy được sáng. Như thế cho đến nhơn nơi hư không, nhơn nơi ngăn bít cũng đồng như sáng và tối.
Lại nữa Anan! Cái thấy này lại duyên nơi sáng mà có thấy, hay duyên nơi tối mà có thấy? Duyên nơi hư không mà có thấy, hay duyên nơi bít lấp mà có thấy? Anan! nếu duyên nơi hư không mà có, đáng lẽ chẳng thấy chỗ bít lấp. Nếu duyên chỗ bít lấp mà có, đáng lẽ chẳng thấy hư không. Như thế, cho đến duyên nơi sáng, duyên nơi tối cũng đồng như hư không và bít lấp. Phải biết tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt này chẳng phải nhơn, chẳng phải duyên, cũng chẳng phải tự nhiên, chẳng phải chẳng tự nhiên, không có cái chẳng phải (phi) và chẳng chẳng phải (bất phi, không có cái phải (thị) và không phải (phi thị), rời tất cả tướng, tức tất cả pháp (sự vật). Nay ông làm sao ở trong ấy lầm đem các danh tướng hý luận thế gian mà dùng tâm phân biệt được? Như lấy tay chụp bắt hư không chỉ thêm tự nhọc, hư không làm sao để cho ông nắm bắt!”.
Đức Phật nhắc lại tính thấy là sự khởi nguyên, là thường hằng. Không sinh không diệt .
“Trong đó không thể tự chỉ ra cái phải hay không phải” .
Bởi vậy, không thể nói đến tính nhân duyên trong đó . Điều này giống như Lão Tử bàn về Đạo:
“Đạo khả đạo phi thường Đạo. Danh khả danh phi thường danh”.
Nên Đức Phật nói:
Nay ông làm sao ở trong ấy lầm đem các danh tướng hý luận thế gian mà dùng tâm phân biệt được?
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Lại Nghi nhân duyên.
Thiên Sứ
14-07-2005, 02:42 PM
ĐOẠN V
LẠI NGHI NHƠN DUYÊN
Ông Anan bạch Phật rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn, Tánh Giác nhiệm mầu này nhất định chẳng phải nhơn, chẳng phải duyên. Tại sao Đức Thế Tôn thường chỉ dạy các thầy Kỳ Kheo "Tánh thấy có đủ bốn thứ nhơn duyên, nghĩa là nhơn hư không, nhơn ánh sáng, nhơn tâm, nhơn mắt".
Nghĩa ấy thế nào?
Đoạn này ông Anan nhầm lẫn giữa điều kiện nhận biết với tính thấy.
ĐOẠN VI
PHẬT LẠI BÁC NHÂN DUYÊN TỰ NHIÊN ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY RỜI CẢ BỐN TƯỚNG.
Phật bảo:
- Anan! Tôi nói các tướng nhơn duyên trong thế gian, chứ chẳng phải nghĩa đệ nhất.
Anan! Nay tôi lại hỏi ông, các người trong thế gian nói “Tôi hay thấy”, thế nào gọi là thấy? Thế nào là chẳng thấy?
Anan thưa:
- Bạch Đức Thế Tôn! Người trong thế gian nhơn có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn mà thấy các tướng; gọi là thấy. Nếu lại không có ba thứ ánh sáng này thì không thể thấy.
- Này A Nan! Nếu khi không có ánh sáng gọi là không thấy, thì đáng lẽ không thấy tối. Nếu thấy tối thì chỉ là không có ánh sáng, sao gọi là không thấy?
Anan! Nếu khi tối vì không thấy sáng mà gọi là không thấy, vậy nay trong lúc sáng không thấy tướng tối, lại cũng phải gọi là không thấy. Như thế thì hai tướng sáng tối đều gọi là không thấy. Nếu hai tướng sáng tối tự lấn át nhau, thì tánh thấy của ông ở trong ấy không phải tạm không. Như thế, ắt biết cả hai đều gọi là thấy, tại sao nói là không thấy?
- Thế nên! Anan! Nay ông phải biết:
Khi thấy cái sáng (thì) cái thấy không phải là sáng; khi thấy tối (thì) cái thấy không phải là tối; khi thấy hư không cái thấy không phảI hư không; khi thấy bít lấp cái thấy không phảI bít lấp.
Đạon này Đức Phật chỉ rõ những cái ta thấy được đều là đối tượng của Tính thấy và không phải tính thấy. Thí dụ: Người ta đã thấy được ý thức có thuộc tính của sóng điện từ ở não (Đã trích dẫn ở bài trên) thì sóng điện từ không phải tính thấy. Vì nếu sóng điện từ là Tính thấy thì cái gì thấy sóng điện tử
ĐOAN III
CHỈ THẲNG THẤY ĐƯỢC THẬT TƯỚNG CỦA TÍNH THẤY
- Bốn nghĩa đó thành tựu; ông lại nên biết khi nhận thấy tánh thấy thì tánh thấy chẳng phải là cái thấy. Tánh thấy còn rời cái thấy và cái thấy còn không đến nơi cái thấy đươc.
Đoạn kinh văn trên lời dịch hơi trúc trắc thành khó hiểu. Có thể diễn đạt nộI dung trên theo một lẽ khác như sau:
Bốn nghĩa đó (Hư không; ánh sáng; tâm; mắt) kết hợp thì tạo nên sự nhận biết. Nhưng Tính Thấy không phải sự nhận biết (= Cái Thấy: Bao gồm đối tượng nhận biết, phương tiện nhận biết). Từ sự nhận biết đến chứng ngộ được Tính Thấy còn là một khoảng cách lớn lao – Người viết.
Làm sao ông còn nói nhân duyên tự nhiên và tướng hoà hợp. Các ông là hàng Thanh Văn hẹp hòi không biết; chẳng thể nào thông đạt được tướng thanh tịnh. Nay tôi dạy bảo; ông phải khéo suy nghĩ; không nên trễ nải trên đường giác ngộ nhiệm màu.
Đoạn kinh văn này Đức Phât giảng rõ hơn những yếu tố tương thích tác hợp (Nhân Duyên) để dẫn tới sự nhân thức (Cái Thấy) và TÍNH THẤY.
Nhân duyên để có sự nhận biết gồm: Phương tiện nhận biết, gồm các giác quan và điều kiện nhận biết tương thích với phương tiện nhận biết mà Đức Phật biểu tượng bằng bốn tướng phổ biến trong cuộc sống của gần 3000 năm trước là:
* Hư không: Để có sự phân biệt;
* Ánh sáng: Điều kiện nhận biết;
* Tâm: Khả năng tư duy và nhận thức;
* Mắt (giác quan): Phương tiện nhận biết (Thời hiện đại phương tiện nhận biết còn là ĐTDĐ; Ti Vi; ống nhòm…).
Tất cả những yếu tố này có thuộc tính vật chất và là đối tượng của tính nhận biết (Tính Thấy). Bởi vậy; Đức Phật khẳng định không phải tính thấy , mà chỉ là nhân duyên để thấy.
Như vậy, qua những lời minh giảng của Đức Phật , chúng ta cũng nhận thấy rằng:
Khí ý thức mang thuộc tính vật chất - thì con người không thể là robot của tạo hoá, không thể "Đồng như cây đất". Chính là vì tồn tại một cái nhận thức được thuộc tính vật chất của ý thức - cho dù nó tồn tại như thế nào và dưới hình thức nào - Đó chính là Tính thấy.
Tính Thấy: Qua sự minh giảng của Đức Phật - Là một thực tại có tự tính từ vô thuỷ đến vô chung; không không gian không thờI gian; không phải CÓ; không phải KHÔNG; không sinh không diệt, trong đó không có hai nghĩa , không phân Âm Dương - Lưỡng nghi. Tính thấy là sự tuyệt đối (|O|).
Tất cả mọi sự vận động, tương tác trong vũ trụ có thể tính, đều là đối tượng của Tính Thấy và không phải Tính Thấy.
Nếu có một ngườI bay lên tận Cung Quảng Hàn; nghe thấy tiếng từ vạn dặm; nhìn thấu xuyên không gian thì có thể gọi là Thần; Nhưng không: Đấy chỉ là một phi công vũ trụ với phương tiện nhận biết khác người mà thôi.
Tính thấy chính là Thái Cực trong kinh Dịch, là Đạo trong Đạo Đức Kinh, là sự khởi nguyên của vũ trụ và là giây O trước Bicbang.
Đây chính là sự diễn đạt khởi nguyên của một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ.
Vi diệu thay một hình tượng tuyệt vời của trí tuệ Lạc Việt trong “truyện cây Nêu”:
Cây Nêu là một biểu tượng độc đáo của nền văn hiến Lạc Việt (Tất cả các nền văn hoá cận Lạc Việt về không/ thời gian lịch sử đều không có Cây Nêu). Hình tượng cây nêu phủ áo cà sa của Đức Phật che bóng khắp thế gian. Đó chính là hình ảnh của lòng nhân ái và trí tuệ, là biểu tượng tuyệt vời về sự che chở và góp phần quan trọng cho việc phục hồi nền minh triết Lạc Việt.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp
LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ
Những tiêu chí của một lý thuyết thống nhất
Thiên Sứ
14-07-2005, 06:22 PM
LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ
Những tiêu chí của một lý thuyết thống nhất
Như vậy - với sự minh giảng của Đức Thích Ca – chúng ta đã nhận thức được trên cơ sở của tính suy diễn hợp lý về một sự tồn tại trên thực tế của “Tính Thấy”. Điều này giải quyết được một bế tắc thứ nhất cho câu hỏi:
Nếu ý thức có thuộc tính vật chất thì cái gì sẽ nhận thức được nó?
Chúng ta đang tiến tới gần việc lý giải:
Định mệnh có thật hay không?
Nhưng một vấn nạn tiếp theo cần sáng tỏ là:
Nếu định mệnh có thật thì tất cả mọi vận động của vũ trụ phải nhất quán, hoàn chỉnh, có tính thống nhất, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.
Vấn đề này lại đưa thẳng chúng ta đến một vấn nạn hệ quả của vấn nạn trên là "Có hay không một lý thuyết thống nhất vũ trụ " mà nhân loại đang tìm kiếm.
Việc có hay không có một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT sẽ là sự giải đáp tiếp theo cho câu hỏi từ muôn kiếp:
“ĐỊNH MỆNH CÓ THẬT HAY KHÔNG?”.
Đức Thích Ca đã chỉ ra rằng: Con người sẽ thoát khỏi vòng luân hồi nhân quả nếu ngộ được “Vô thượng chánh đẳng giác”. Vòng luân hồi; nhân quả diễn đat theo ngôn ngữ hiện đại chính là những qui luật vận động và tương tác có thuộc tính vật chất trong vũ trụ lên con người và sự giải thoát rốt ráo là ngộ được “vô thượng chánh đẳng giác”. Ngộ được Tính Thấy - bản tính chân như mà Đức Thích Ca đã minh giảng. Đó là giải pháp duy nhất để thoát khỏi luân hồi nhân quả, thoát khỏi Định mệnh.
Định mệnh chỉ không có trong trường hợp con người nhận thức được cái tuyệt đối và hoà nhập vào trong đó.
Đây chính là kết luận cuối cùng của ý thức Phật Pháp cho sự giải thoát hoàn toàn và con người phải tự chứng ngộ. Một sự phủ nhận định mệnh một cách rốt ráo.
Nhưng thật khó lắm thay!
Trong thế nhân thì tình yêu thương và lòng vị tha trong mối quan hệ giữa con người với con người là giải pháp thực tế:
“Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”.
Sự phủ nhận Định mệnh của Đức Phật là tính rốt ráo cuối cùng của nhận thức Phật pháp cho câu hỏi: “Định mệnh có thật hay không?” và chưa phải là sự kết thúc cho đề tài này.
Bởi vì; sự kết luận của Đức Thích Ca và sự phủ nhận định mệnh của thế nhân khác rất xa về khoảng cách trí huệ. Đức Thích Ca phủ nhận định mệnh vì ngài ngộ được cái tuyệt đối, thoát khỏi luân hồi nhân quả - Thoát khỏi qui luật tương tác của các thể tính. Còn thế nhân phủ nhận định mệnh chỉ vì: Hoặc nhân danh khoa học; hoặc vì sự tự tin vào bản thân; hoặc đơn giản chỉ vì họ biết họ đang nghĩ gì và chẳng bao giờ tự hỏi rằng: Tại sao con người lại biết được sự suy nghĩ của chính mình!
Điều căn bản khác nhau nữa – giữa sự kết luận giống nhau này – chính là: Những lời minh giảng của Đức Thích Ca đã chỉ ra điều kiện cần và đủ là phải có trí huệ và tự chứng ngộ. Không có được sự chứng ngộ này thì con người vẫn đang sống trong thế giới của những qui luật tương tác và vận đông của vũ trụ : “Sống trong luân hồi nhân quả". Và đó chính là nguyên nhân hình thành khái niệm Định mệnh.
Thế giới ấy trong nhận thức của con người sẽ là:
“Có hay không một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT?”.
Nếu không tồn tại lý thuyết này trên thực tế thì sẽ không thể có những lời tiên tri và v/đề đặt ra: “Định mệnh có thật hay không” sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Hay diễn đạt theo ngôn ngữ của Đức Thích Ca:
”Chuyện lông rùa; sừng thỏ”.
Có thể nói rằng: Cho đến những thập kỷ cuối của thế kỷ XX ý niệm về một lý thuyết thống nhất mới được đặt ra nhân danh khoa học.
Các nhà khoa học hiện đại đang mơ ước:
"Tạo ra một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ! Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên;hoàn toàn có thể giải thích được mọi sự kiện bao quanh con người; từ những hạt vật chất cực nhỏ cho đến những thiên hà khổng lồ”.
Nhưng liệu một lý thuyết như thế có tồn tại trên thực tế? (Còn việc tìm ra nó hay không lại là chuyện khác). Trong cuốn “Lược sử thờI gian” – phần: Lý thuyết thống nhất của vật lý học – S W. Hawking – nhà vật lý thiên văn hàng đầu thế giới – đã đặt vấn đề như sau:
“Mặt khác có thực tồn tại một lý thuyết như thế hay không? (Lý thuyết thống nhất –Người viết) Hay chúng ta đang chỉ săn đuổI một ảo ảnh? Có thể có ba khả năng:
1) Quả thực tồn tại một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh mà chúng ta một ngày nào đó sẽ phát minh ra nếu chúng ta có đủ tài năng.
2) Không tồn tại một lý thuyết tối hậu của vũ trụ; chỉ tồn tại một chuỗi vô cùng các lý thuyết mô tả vũ trụ ngày càng chính xác.
3) Không tồn tại một lý thuyết nào về vũ trụ; các sự cố không thể tiên đoán vượt quá một giới hạn nào đó và chúng xảy ra một cách ngẫu nhiên; tuỳ tiện.
KHẢ NĂNG THỨ 3:
(Tựa do người viết đặt)
Với sự ra đời của cơ học lượng tử, chúng ta phải thừa nhận rằng các sự cố không thể được tiên đoán với độ chíng xác hoàn toàn mà luôn tồn tại một độ bất định. Nếu muốn, người ta có thể gán sự ngẩu nhiên đó cho sự can thiệp của Chúa. Song đấy quả là một sự can thiệp kỳ lạ: không có một chứng cứ gì cho thấy can thiệp đó được định hướng đến bất kỳ một mục đích nào.
Thực vậy, nếu có một mục đích, thì không còn là ngẫu nhiên nữa.
Trong thời đại hiện nay, chúng ta đã loại bỏ hữu hiệu khả năng thứ ba bằng cách định nghĩa lại mục đích của khoa học: mục tiêu của khoa học là xây dựng một bộ định luật có khả năng cho phép chúng ta tiên đoán các sự cố chỉ trong giới hạn xác định bởi nguyên lý bất định.
Khả năng thứ hai, khả năng tồn tại một chuỗi vô cùng những lý thuyết ngày càng tinh tế, rất phù hợp với kinh nghiệm của chúng ta. Nhiều lần chúng ta đã tăng độ nhạy các phép đo và thực hiện nhiều loại thí nghiệm mới chỉ với mục đích phát hiện những hiện tượng mới không tiên đoán được bởi lý thuyết hiện có và để mô tả những hiện tượng đó chúng ta phải phát triển một lý thuyết tiên tiến hơn. Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên nếu thế hệ hiện tại các lý thuyết thống nhất phạm sai lầm khi khẳng định rằng không có điều gì căn bản mới xảy ra giữa năng lượng cỡ 100GeV của lý thuyết thống nhất yếu điện từ và năng lượng cả ngàn triệu triệu GeV của lý thuyết thống nhất lớn. Đáng lý chúng ta phải hy vọng tìm ra nhiều tầng cấu trúc mới cơ bản hơn quark và êlectrôn hiện nay được xem như là những hạt “cơ bản”.
Song dường như hấp dẫn có thể cung cấp một giới hạn cho chuỗi các “hộp trong hộp” đó. Nếu ta có một hạt với năng lượng lớn hơn cái gọi là năng lượng Planck, mười triệu triệu triệu GeV (1 theo sau là 19 số không), thì khối lượng của nó có mật độ tập trung đến mức mà nó tự cô lập tách khỏi phần vũ trụ còn lại và biến thành một lỗ đen nhỏ. Như vậy dường như chuỗi các lý thuyết ngày càng tinh tế phải có một giới hạn khi chúng ta tiếp cận với những năng lượng ngày càng cao, và ắt phải có một lý thuyết tối hậu về vũ trụ. Lẽ dĩ nhiên, năng lượng Planck là một quãng đường dài kể từ những năng lượng cỡ nghìn GeV mà hiện nay là năng lượng lớn nhất chúng ta có khả năng tạo ra trong phòng thí nghiệm. Chúng ta chưa vượt qua được hố ngăn cách đó trong một tương lai gần nhờ những máy gia tốc! Nhưng những giai đoạn sơ sinh của vủ trụ đã từng chứng kiến những năng lượng như vậy. Tôi nghĩ rằng có nhiều xác suất may mắn là sự nghiên cứu những giai đoạn sớm của vũ trụ kết hợp với những đòi hỏi chặt chẽ của toán học sẽ dẫn chúng ta đến một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh trong giới hạn cuộc đời của nhiều người chúng ta.
KHẢ NĂNG THỨ NHẤT
(Tựa của người viết đặt)
Nếu chúng ta thực sự tìm ra được một lý thuyết tối hậu về vũ trụ, thì điều đó có ý nghĩa như thế nào? Chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn hoàn toàn rằng quả chúng ta đã tìm ra được một lý thuyết hoàn chỉnh.
Song nếu lý thuyết chặt chẽ về mặt toán học và luôn đưa ra được những tiên đoán phù hợp với quan sát, thì chúng ta có thể tin một cách hợp lý rằng đó là một lý thuyết đúng đắn.
Nó sẽ kết thúc một chương dài và vinh quang trong lịch sử đấu tranh trí tuệ của con người để tìm hiểu vũ trụ. Đồng thời nó cũng cách mạng hóa sự hiểu biết các định luật vũ trụ của con người bình thường. Thời Newton một người có giáo dục rất có thể nắm được toàn bộ kiến thức của nhân loại, ít nhất là trong những nét cơ bản. Song sau đó nhịp độ phát triển của khoa học làm cho khả năng trên không còn nữa. Vì rằng các lý thuyết này luôn thay đổi để phù hợp với những quan sát mới, chúng không thể đơn giản hóa được để một người bình thường có thể hiểu thấu. Bạn phải là một chuyên gia, và dẫu là một chuyên gia bạn cũng chỉ hy vọng nắm bắt được một phần các lý thuyết khoa học. Ngoài ra, khoa học tiến nhanh tới mức mà những kiến thức thu nhận được ở học đường cũng luôn bất cập với thời đại. Chỉ một số ít người theo kịp được ranh giới tiên tiêu của kiến thức và số người đó cũng phải dùng toàn bộ số thời gian để làm việc và chuyên sâu vào một lĩnh vực nhỏ. Số đông còn lại ít có khái niệm về những thành tựu tiên tiến của khoa học và những vấn đề lý thú nảy sinh từ đó. Bảy mươi năm về trước – nếu tin lời Eddington – thì chỉ có hai người hiểu được lý thuyết tương đối rộng. Ngày nay hàng vạn sinh viên đại học hiểu được lý thuyết đó và hàng triệu người ít nhất đã làm quen với lý thuyết tương đối rộng.
Nếu một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh được phát minh, thì chỉ còn là vấn đề thời gian để cho lý thuyết đó được thấu triệt rồi đơn giản hóa và giảng dạy trong nhà trường ít nhất là những nét cơ bản. Và mọi người chúng ta sẽ đủ khả năng có được một kiến thức nhất định về những định luật trị vì vũ trụ và điều hành cuộc sống của chúng ta.
Ngay nếu chúng ta tìm được một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh, điều đó cũng không có nghĩa rằng chúng ta có khả năng tiên đoán mọi sự cố nói chung, vì hai lẽ. Thứ nhất do giới hạn mà nguyên lý bất định của cơ học lượng tử áp đặt lên mọi quyền lực tiên đoán của chúng ta. Chúng ta không thể làm gì được để vượt giới hạn đó. Song trong thực tiễn giới hạn thứ nhất đó còn ít ràng buộc hơn giới hạn sau đây. Vấn đề là ở chỗ chúng ta không thể giải được các phương trình của lý thuyết một cách tuyệt đối chính xác, trừ vài trường hợp rất đơn giản. (Chúng ta không thể giải chính xác ngay cả chuyển động ba vật trong lý thuyết hấp dẫn của Newton, và khó khăn sẽ tăng lên với số vật tham gia chuyển động và mức độ phức tạp của lý thuyết). Chúng ta đã biết nhiều định luật điều hành vật chất dưới mọi điều kiện cực đoan nhất. Nói riêng, chúng ta đã biết những định luật cơ bản điều khiển mọi đối tượng của hóa học và sinh học. Nhưng chắc chắn chúng ta không quy các đối tượng đó về thực trạng của những bài toán giải được; đến nay chúng ta đạt được quá ít tiến bộ trong việc tiên đoán cách xử sự của con người từ những phương trình toán học!
Đến đây; tôi xin phép được nhắt ngang đoạn trích dẫn sẽ còn tiếp tục. Ông SW. Hawking đã không hoàn toàn đúng khi viết rằng: ”…điều đó cũng không có nghĩa rằng chúng ta có khả năng tiên đoán mọi sự cố nói chung” và ”..đến nay chúng ta đạt được quá ít tiến bộ trong việc tiên đoán cách xử sự của con người từ những phương trình toán học!…”. Trong website Chân Thuyên cũng như nhiếu website lý số khác có không ít những thành viên đã tiên đoán những sự cố nói chung mà còn cả nói riêng. Đã thế còn tiên đoán quá nhiều vế cách sử sự của con ngườI từ những phương trình toán học – Nếu có thể coi những quẻ Dich thuộc về những phương trình toán học. Về điều này tôi đã nhiều lần nói rằng: Khả năng tiên tri theo các phương pháp cổ Đông phương đã vượt xa mọi mơ ước của các lý thuyết khoa học hiện đai. Khả năng tiên tri là một tiêu chí cho một lý thuyết khoa học và là hệ quả của lý thuyết đó. Tất yếu phía trước - hay nói cách khác là: Đằng sau - sự tiên tri đó phải là một lý thuyết hoàn chỉnh, nhưng đã thất truyền. Vấn đề này sẽ được tiếp tục minh chứng ở phần sau tiểu luận này.
Nhưng những luận điểm của SW. Hawking trích dẫn sau đây rất đáng lưu ý:
Vì vậy ngay lúc chúng ta tìm ra được một bộ hoàn chỉnh các định luật cơ bản, cũng cần nhiều năm trong tương lai để thách đố trí tuệ con người tìm ra những phương pháp xấp xỉ hữu hiệu hơn để có thể đưa ra những tiên đoán có ích về những hệ quả khả dĩ trong những tình huống thực tiễn và phức tạp. Một lý thuyết thống nhất chặt chẽ và hoàn chỉnh, chỉ mới là bước đầu:
Mục tiêu của chúng ta là một sự hiểu biết hoàn chỉnh về mọi sự cố chung quanh và về bản thân sự tồn tại của chúng ta.
Nhưng! Một vấn đề được đặt ra:
Liệu phương pháp của khoa học ngày nay có thể kiểm nghiệm được sự có hay không một một lý thuyết thống nhất? Làm sao để kiểm nghiệm một lý thuyết thống nhất bằng phương tiện khi chính phương tiện tự nó đã định giới hạn cho sự tương đối?
("Lược sử thời gian". SW. Hawking. Sách đã dẫn)
(Xin quí vị quan tâm lưu ý: Không thể kiểm chứng được – Đúng như ông Hawking đã đặt vấn đề. Điều này Đức Phật đã minh giảng: “Trong đó không thể đặt có cái phải hay chẳng phải”. Không thể “Có cái tính thấy này thấy cái tính thấy kia”. Hay nói như Sw. Hawking:
Làm sao để kiểm nghiệm một lý thuyết thống nhất bằng phương tiện khi chính phương tiện tự nó đã định giới hạn cho sự tương đối?).
Đúng là các phương pháp (Đúng hơn là những phương tiện) của khoa học hiện nay khó kiểm nghiệm được được sự có hay không của một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT. Nhưng khi v/d đã được đặt ra thì nó đã có những tiêu chí của nó, ít nhất mang tính lý thuyết.
Bởi vậy nên mới có cái tựa đầu tiên là:
Những tiêu chí của một lý thuyết thống nhất
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
Những tiêu chí của một lý thuyết thống nhất
DaoKy
14-07-2005, 06:48 PM
Chào bác Thiên Sứ
Cám ơn bác đã viêt một bài thật hay! DaoKy đang chờ bác viết thêm đây.
Chúc bác và quý quyến thường an lạc. Thân.
DaoKy
Chính Ấn
14-07-2005, 08:53 PM
Bác Thiên Sứ mến,
Cháu đang đọc lở dở về chủ đề của bác. Cháu chưa đọc nhiều về các sách của phật (tổng cộng chắc chỉ được 3 cuốn) nhưng cháu có một sự nhận xét muốn được trình bày như thế này :
Vấn đề định mệnh có thật hay không và vấn đề cái thấy mà bác viết ra cháu thấy giống như người tu hành đang ở trong các tâm trạng khác nhau. Nhiều người nghĩ được là hiểu đạo song thực ra họ bị "cái hiểu" che lấp. Cũng như nhiều người bảo rằng họ đang ở trong cảnh giới không mà thực ra họ đang ở trong "cảnh giới không" có hình có tướng do họ nghĩ ra.
Thấy là thấy như thế nào? Thấy xa thấy gần hay thấy như không thấy, thấy như mình tan vỡ thành muôn vạn mảnh hòa vào vạn vật...Thấy bằng mắt hay thấy bằng tâm, thấy bằng vật chất hay thấy không bằng vật chất...
Hi vọng tiếp tục đọc tiếp các bài viết khác của bác.
Thiên Sứ
14-07-2005, 09:34 PM
Chính Ấn thân mến!
@ Chính Ấn viết:
Vấn đề định mệnh có thật hay không và vấn đề cái thấy mà bác viết ra cháu thấy giống như người tu hành đang ở trong các tâm trạng khác nhau. Nhiều người nghĩ được là hiểu đạo song thực ra họ bị "cái hiểu" che lấp. Cũng như nhiều người bảo rằng họ đang ở trong cảnh giới không mà thực ra họ đang ở trong "cảnh giới không" có hình có tướng do họ nghĩ ra.
Đúng như Chính Ấn viết!
@ Còn về bộ Kinh "Thần chú Phật đỉnh Thủ Lăng nghiêm" là một bô kinh nổi tiếng của Phật pháp.
Tự thân tên gọi của nó đã là bộ kinh đứng đầu trong các bộ kinh.
Tôi không dám tự cho là đã diễn tả đúng thánh ý của Ngài.
Hy vọng Chính Ấn và quý vị quan tâm tự chứng nghiêm.
Thiên Sứ
Chính Ấn
14-07-2005, 09:53 PM
Theo cháu thấy, định mệnh là có thật,
Cháu đã có viết một bài trong chủ đề dài này :
http://www.chanthuyen.org/forums/showthread.php?t=1257
Trong chủ đề này có nhiều bài, trong đó có bài số 4 có chủ đề "Tử Bình và số mạng" cũng có đặt câu hỏi về vấn đề tương tự như bác.
Kính bác.
Thiên Sứ
14-07-2005, 10:52 PM
Những tiêu chí của một lý thuyết thống nhất
Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy để giải quyết câu hỏi từ ngàn đời: “Định mệnh có thật hay không?” đã dẫn chúng ta lựa chọn khả năng thứ nhât mà SW. Hawking đặt ra. Bởi vì:
# Khả năng thứ ba thuộc về Thượng Đế và không có Định mệnh. Vì tất cả mọi chuyện lệ thuộc vào ý chí của ngài.
# Khả năng thứ hai: Không có một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà là:
“khả năng tồn tại một chuỗi vô cùng những lý thuyết ngày càng tinh tế, rất phù hợp với kinh nghiệm của chúng ta”
và
“..mới chỉ với mục đích phát hiện những hiện tượng mới không tiên đoán được bởi lý thuyết hiện có”
Khả năng này bị loại trừ vì không có khả năng tiên tri cho từng số phận con người. Đây sẽ là sự phủ nhận một thực tại chứng nghiệm trải hàng ngàn năm bởi khoa lý số Đông phương – mà không hề có một lý thuyết khoa học nào có một khả năng chứng nghiệm lâu như vậy.
Bởi vậy sự lựa chọn khả năng thứ nhất - tức là thực sự tồn tại trên thực tế một lý thuyết thống nhất vũ trụ - cũng đồng nghĩa với việc phải chứng minh cho khả năng này.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Từ lâu con người đã cố gắng giải thích vũ trụ và mọi v/d liên quan đến con người và con người đã đi tìm một lý thuyết thống nhất. Lý thuyết thống nhất xưa nhất của nhân loại - không nhân danh khoa học - có lẽ là lý thuyết cho rằng: Sự sáng tạo vũ trụ là do Thượng Đế và mọi vấn đề liên quan đến vũ trụ, xã hội và con người, đều do Thượng Đế quyết định.Lý thuyết này đã ngự trị rất lâu trong lịch sử nhân loại và đã bị khoa học phản bác. Nhưng khoa học lại đang bế tắc khi giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ và Thượng Đế lại tham gia vào giai đoạn này (“Thượng Đế và Khoa học” Nxb Đà Nẵng. Người dịch Lê Diên).
Nhưng ở văn minh Đông phương đã tồn tại một lý thuyết khác giải thích vũ trụ. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Điều cần làm sáng tỏ ở đây là:
Thuyết Âm Dương & Ngũ hành lại đang ở trang thái huyền bí và đó có phải là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh không? Nó có đáp ứng được những tiêu chí khoa học của một lý thuyết thống nhất vũ trụ không? Bản chất nó là cái gì trong sự huyễn ảo của văn minh Đông phương? Đây chính là việc cần đề cập tới trong những bài viết tiếp theo.
Sở dĩ hiện thuyết Âm Dương Ngũ hành được đưa vào danh sách số 1 ứng cử cho lý thuyết thống nhất vũ trụ, vì:
Thực tế - ở ngay trong diễn đàn của chúng ta – đang tồn tại không chỉ một mà nhiều phương pháp ứng dụng tiên tri của Lý số Đông Phương, như: Tử Vi, Tử bình, Thái Ất….có những yếu tố thoả mãn những tiêu chí của lý thuyết khoa học nói chung. Đó là các yếu tố mang tính qui luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Những phương pháp này có một phương pháp luận nhất quán của thuyết Âm Dương ngũ hành như là một học thuyết hoàn chỉnh và thống nhất.
Do đó, căn cứ vào những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết thống nhất. Nếu một lý thuyết nào đó đáp ứng được những tiêu chí đó và những tiêu chí khoa học nói chung sẽ được coi là có đầy đủ những yếu tố của một “Lý thuyết thống nhất” mà trong đó một trong những yếu tố quan trọng để kiểm chứng sẽ là khả năng tiên tri.
Trên cơ sở này; những tiêu chí khoa học hiện đại cho một lý thuyết khoa học và những điều kiện cần thiết của một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT sẽ là:
Giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến mọi sự vận động của những thiên hà đến những hạt vật chất cực nhỏ và những sự kiện bao quanh con người với khả năng tiên tri.
Bây giờ; chúng ta xét đến thuyết Âm Dương Ngũ hành - với một giả thuyết sẽ được chứng minh sau – là:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán ngay từ giai đoạn hình thành của nó.
Với giả thuyết trên về thuyết Âm Dương Ngũ hành thì chúng thoả mãn tất cả mọI yếu tố cần cho một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT đã đặt ra ở trên như sau:
1) Giải thích sự hình thành vũ trụ:
Thái Cực sinh lưỡng nghi – Thiên nhất sinh Thuỷ…v.v..
2) Giải thích sự vận động của các thiên hà:
Những chu kỳ của các hiệu ứng vũ trụ trong Thái Ất vốn được tính bằng con số trên 150.000.000 năm. Trong khi đó chu kỳ của các sao Thiên cực Bắc mà khoa học tính được là 26000 năm và con số này cũng chưa ứng dụng được vào khả năng tiên tri.
3) Giải thích sự vận động của các hạt vật chất nhỏ nhất:
Đó chính là khái niệm về KHÍ - một trạng thái tồn tại trên thực tế của vật chất trên siêu nhọ Điều này đã được khoa học hiện đại thừa nhận gián tiếp khi phát hiện ra các đường Kinh Lạc – là đường vận động của Khí – có trong con người vốn được miêu tả trong các sách y học Đông phương.
4) Mọi hiện tượng liên quan đến con người:
Các phương pháp bói toán và y lý cổ Đông phương có tính hệ thống, tính qui luật và tính khách quan (Là những yếu tố của tiêu chí khoa học hiện đại về sự thẩm định một phương pháp được coi là khoa học).
5) Tính tiên tri:
Về điều này thì có lẽ tôi không cần phải chứng minh. Thực tế khả năng tiên tri của các phương pháp bói toán cổ Đông phương đã vượt ra ngoài sự mơ ước của mọi lý thuyết khoa học hiện đại nhất mà các nhà khoa học có thể biết đến.
Như vậy; có thể khẳng định rằng: Hoàn toàn có cơ sở khi cho rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một lý thuyết thống nhất. Nhưng v/d là bản thân thuyết Âm Dương Ngũ hành lại mới chỉ được đặt giả thuyết về tính hoàn chỉnh và nhất quán của nó. Chỉ khi sự minh chứng này hoàn chỉnh thì v/d mới có thể tiếp tục. Đây cũng là điều kiện được đặt ra ở trên. Nhưng ngay cả khi sự chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh thì v/d còn lại cũng không thể chứng minh được trên thực tế về sự tồn tại của trạng thái khởi nguyên của vũ trụ. Mà chỉ có thể là sự giải thích hợp lý cho những hiện tượng và v/d liên quan. Đây cũng là v/d đã đặt ra.
"Có một lý thuyết thống nhất hay không đưa đến câu hỏi: Liệu phương pháp của khoa học ngày nay có thể kiểm nghiệm được sự có hay không một một lý thuyết thống nhất?"
("Lược sử thời giạn". Đã dẫn)
Như vậy, v/d sẽ là:
"Làm sao để kiểm nghiệm một lý thuyết thống nhất bằng phương tiện khi chính phương tiện tự nó đã định giới hạn cho sự tương đối?"
("Lược sử thời gian". Đã dẫn)
Đúng là sẽ không thể có một phương tiện nào chứng minh được điều đó. Chúng ta giả thiết rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết thống nhất thì Thái Cực là sự khởi nguyên của vũ trụ. Thái Cực sẽ có nội dung chính là TÍNH THẤY mà Đưc Thích Ca đã minh giảng: “Không thể có cái thấy này thấy được cái thấy kia”.
Khi Tính thấy/Thái Cực là sự tuyệt đốì. Tất nhiên sẽ không có một phương tiện nào thấy được nó cả. Vì tất cả mọi phương tiện đều là sự vật có thể tính mà “tự nó đã định giới hạn cho sự tương đối”. Bởi vậy nó không thể xác định được cái tuyệt đối.
Nhưng nếu thuyết Âm Dương Ngũ hành quả thực là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh trên thực tế đã tồn tại của nó – là điều sẽ phải chứng minh – thì chúng ta đã tiếp cận rất gần vớI một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT. Vấn đề còn lại chỉ là sự phục hồi và so sánh với những lý thuyết hiện đại.
Như vậy; bắt đầu từ một giả thuyết cho rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán trên thực tế đã tồn tại của học thuyết này. Sự thăng trầm của lịch sử đã khiến nó bị thất truyền và trở thành rời rạc huyền bí. Những phương pháp bói toán Đông phương – có phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trên thực tế ứng dụng– chính là hệ quả trực tiếp tất yếu của học thuyết này. Tất cả đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử cổ đại của nhân loại.
Trên cơ sở giả thuyết đã nêu – xin được chứng minh sau – so sánh với những tiêu chí khoa học về một lý thuyết thống nhất thì chúng có sự trùng khớp hoàn toàn. Nhưng chúng ta cũng nhận thấy ngay sự rời rạc và không có sự liên hệ chặt chẽ trong nội dung của học thuyết này trên thực tế của các bản văn chữ Hán đang lưu truyền - giữa các hiện tượng đã nêu. Cụ thể là: Từ sự khởi nguyên của vũ trụ (Thái Cực sinh lưỡng nghi; sinh tứ tượng & Thiên nhất sinh thuỷ…) cho đến các phương pháp trong Thái Ất.. rõ ràng là một khoảng cách rất lớn. Những phương pháp tiên tri như Tử Vi; Bói Dịch; Tứ trụ ..cứ như từ trên trời rơi xuống, mà người ứng dụng chỉ là thực hiện một phương pháp có sẵn và chẳng ai hiểu được chúng đã được lập ra bởi nguyên tắc và trên cơ sở thực tại nào từ nội dung của học thuyết này? Nhưng khả năng tiên tri trên thực tế hàng ngàn năm nay thì vượt xa tất cả mọi sự mơ ước của bất cứ một lý thuyết khoa học hiện đại nào. Khả năng tiên tri là một tiêu chí bắt buộc của một lý thuyết khoa học. Nó là hệ quả cuối cùng và chứng tỏ tính thuyết phục của một học thuyết khi đã hoàn chỉnh. Nếu khả năng tiên tri của những lý thuyết khoa học hiện đại chỉ giới hạn trong những hiện tượng đơn điệu trong phạm vi của nó; thì khả năng tiên tri - là hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành - lại chứng tỏ tính siêu việt đến kỳ diệu, khi nó tiên tri những hiện tượng vốn là sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố tương tác. Đó chính là hành vi của con người và đó cũng là tiêu chí và mơ ước về một lý thuyết thống nhất! Điều này đã chứng tỏ thuyết Âm Dương ngũ hành phải được hình thành, phát triển và hoàn chỉnh trong một xã hội có một nền văn minh cao cấp ổn định và là một học thuyết chính thống được bảo trợ bằng quyền lực trong xã hội đó.
Nhưng tại sao: Sự hoàn chỉnh và nhất quán cũa thuyết Âm Dương ngũ hành chỉ là một giả thuyết - Khi mà chính chúng ta đang ứng dụng phương pháp luận của nó với tư cách là hệ quả một học thuyết nhất quán?
Đây là câu hỏi, đồng thời cũng là một phần của câu trả lời:
Điều mà chúng ta ứng dụng chỉ là phương pháp luận rời rạc của học thuyết này trong các phương pháp tiên tri. Nó chỉ là hệ quả cuối cùng của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bản thân nội dung của thuyết này thì rất mơ hồ. Có thể nói rằng: Hầu hết những nhà nghiên cứu với cái nhìn từ nhiều phía đều cho rằng: Thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành là hai học thuyết xuất hiện độc lập, hoặc là chúng hoà nhập với nhau ỏ giai đoạn đầu của thiên niên kỷ thứ I; hoặc là chúng là sự bổ sung cho nhau một cách khiên cưỡng. Bởi vậy; đây là vấn đề cần phải chứng minh về mặt lý thuyết.
Thật là sự huyền bí khi hệ quả - khả năng tiên tri và những phương pháp của nó – lại ra đời trước một học thuyết là cơ sở phương pháp luận của nó. Nếu cho rằng: Những phương pháp tiên tri đó là do trực giác tâm linh của các bậc kỳ nhân đạo sĩ tạo ra thì lại không cần đến sự ứng dung của một học thuyết (Như trường hợp của bà Vanga mà các bạn có thể đã biết). Do đó; tính khoa học của học thuyết này chỉ được chứng tỏ nếu chúng ta phục chế được những nét căn bản hoàn chỉnh và hợp lý về học thuyết này. Điều này sẽ lại khiến chúng ta quay trở về quá khứ trong lịch sử phát triển văn hoá Đông phương.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ.
Còn tiếp:
THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
MỘT HỌC THUYẾT THỐNG NHẤT VÀ HOÀN CHỈNH
Thiên Sứ
15-07-2005, 10:56 AM
THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
MỘT HỌC THUYẾT THỐNG NHẤT VÀ HOÀN CHỈNH
Kính thưa quí vị quan tâm.
Tôi không phải là người đầu tiên đặt vấn đề về tính hoàn chỉnh và nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Theo như tôi được biết thì người đầu tiên chính là ông Thiệu Vĩ Hoa. Trong cuốn: “Dự đoán theo Tứ trụ” Nxb VHTT 1996. Ông Thiệu Vĩ Hoa đã viết:
“Sự ra đời của thuyết Ngũ hành trong giới học thuật vẫn còn là vấn đề chưa sáng tỏ. Có ba loại ý kiến khác nhau rất rõ. Giới Dịch học cho rằng, sự ra đời của học thuyết Ngũ hành rất có thể cùng đồng thời với thuyết Âm Dương…”
(Trang 42. Sách đã dẫn)
Hoặc như trong cuốn: “Học thuyết Âm Dương Ngũ hành” và “Nguyên lý thời sinh học cổ Đông phương”. T/g: Giáo sư Lê Văn Sửu. Những cuốn sách này cũng có những cố gắng chứng minh – nhưng không rốt ráo - về tính hoàn chỉnh và nhất quán của thuyết Âm Dương ngũ hành.
Nhưng qua sự giới thiệu trên, quí vị cũng nhận thấy rằng:
Cho tới tận ngày hôm nay – khi quí vị đang đọc những dòng chữ này - vấn đề tính thống nhất và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn còn là sự mơ hồ về lý thuyết ngay cả với giới Dịch học Trung Hoa - vốn được coi là cái nôi của Lý học Đông phương(?). Có cả hàng ngàn ví dụ về những ý kiến khác nhau cho v/d này. Ở đây tôi chỉ lấy hai ý kiến tiêu biểu. Bởi vậy, hoàn toàn có lý và là điều phải làm của tiểu luận này là:
Chứng minh cho tính hoàn chỉnh và nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành - mặc dù trên thực tế chúng ta đang ứng dụng phương pháp luận của nó. Chúng ta phải quay về quá khứ.
LỊCH SỬ THUYẾT ÂM DƯƠNG
VÀ THUYẾT NGŨ HÀNH
TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN
Tất cả những sách liên quan đến các môn cổ học Đông phương dính dáng đến thuyết Âm Dương và Ngũ hành lưu truyền từ trước đến nay - mà con người hiện đại biết được - đều qua những bản văn chữ Hán. Bởi vậy, chúng ta phải bắt đầu xem lại từ những bản văn này.
Tất cả những ai có tìm hiểu về Kinh Dịch và các phương pháp bói toán Đông phương đều biết rằng - Cổ thư chữ Hán đã ghi nhận:
Căn nguyên của Bát quái do vua Phục Hy tìm ra khoảng 3500 trước CN là Hà Đồ . Hà đồ được nhắc tới từ rất sớm trong những cổ thư và được coi là vào thời Xuân thu chiến quốc. Trong kinh Dịch sự tồn tại của Hà đồ được căn cứ vào câu:
"Hà xuất đồ Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi".
Nhưng đồ hình Hà đồ chỉ được công bố chính thức vào đời Tống. Điều kỳ lạ là lúc này - (Hơn 4000 năm sau khi Hà Đồ được coi là của vua Phục Hy phát hiện) - Ngũ hành tương sinh lại là nội dung chính của Hà Đồ? Đây là điều mà trong kinh văn của kinh Dịch từ hơn 2000 năm trước (Tính từ thời Chu) lại không hề có đoạn nào nhắc tới Ngũ hành. Lịch sử thuyết Âm dương & Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán là một vấn đề quan trọng; liên quan đến giả thuyết được trình bày. Bởi vậy, không thể không giới thiệu với các bạn lịch sử của thuyết Âm dương & Ngũ hành theo cổ thư chữ Hán và cái nhìn của các nhà nghiên cứu hiện đại về học thuyết này.
NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ .
CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH
Khi nghiên cứu về thuyết Âm dương Ngũ hành, hầu hết các nhà lý học hiện đại đều cho rằng:
Âm dương và Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt không liên quan với nhau được phát hiện ở hai thời kỳ khác nhau.
Sở dĩ có hiện tượng này bởi những cổ thư chữ Hán chưa hề có một bản văn nào được coi là xuất hiện ở trước thời Tần Hán, thể hiện một cách hoàn chỉnh phương pháp ứng dụng của thuyết Âm dương Ngũ hành, mà chỉ là sự phát hiện rời rạc từng mảng của học thuyết đó, ngoại trừ cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn mà nội dung của nó ghi nhận có xuất xứ từ thời Hoàng Đế (khoảng 3000 năm trước CN).
Quan niệm về lịch sử hình thành thuyết Âm dương & Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán cũng được các học giả nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong đó, quan niệm phổ biến cho rằng: Thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành là hai học thuyết có xuất xứ riêng biệt, được chứng tỏ trong đoạn trích dẫn sau đây trong sách Chu Dịch Vũ trụ quan (Giáo sư Lê Văn Quán, Nxb Giáo dục Hà Nội 1995):
"Ngũ hành là chỉ năm loại vật chất: mộc, hoả, thổ, kim, thuỷ. Theo hệ thống phân loại sắp xếp của vũ trụ quan truyền thống, thì đây là năm nguyên tố cơ bản cấu tạo thành muôn vật. Nhưng vận dụng quan niệm về Ngũ hành lại đặt chúng ở mối quan hệ giữa năm nguyên tố. Đó là mối quan hệ tương sinh tương thắng (khắc). Vì vậy, người xưa lấy mối quan hệ này làm cơ sở giải thích những hiện tượng biến đổi trong vũ trụ: tự nhiên, nhân sinh, xã hội, chính trị v.v..
Qua các tài liệu "Tả truyện", "Quốc ngữ", ở thời đại Xuân Thu, Ngũ hành chỉ năm loại vật chất không thể thiếu trong sinh hoạt. Tư tưởng Ngũ hành đầu tiên lưu hành ở hai nơi Yên, Tề miền biển phía đông Trung Quốc, thời đại nảy sinh sớm nhất không trước Trâu Diễn một thế kỷ, vào thế kỷ thứ V trước CN. Thời đại sinh thời của Trâu Diễn khoảng 350 đến 270 trước CN. Nếu ông ta không phải là người duy nhất khai sáng ra thuyết Ngũ hành, thì ít nhất cũng là người hệ thống hoá và cố định thêm những tư tưởng có liên quan đến loại này.
Trong sách Thượng Thư, thiên Hồng Phạm cũng đề cập đến Ngũ hành, nhưng không thể ra đời sớm hơn thời đại Trâu Diễn. Sách "Thượng Thư, thiên Hồng Phạm" viết:
"Ngũ hành: nhất viết hoả, nhị viết thuỷ, tam viết mộc, tứ viết kim, ngũ viết thổ. Thuỷ viết nhuận hạ, hoả viết viêm thượng, mộc viết khúc trực, kim viết tòng cách, thổ viên giá sắc. Nhuận hạ tắc hàm, viêm thượng tác khổ, khúc trực tác toan, tòng cách tác tân, giá sắc tác cam".
(Ngũ hành: một là nước, hai là lửa, ba là gỗ, bốn là kim loại, năm là đất. (Nói về tính) nước thấm xuống dưới, lửa bốc lên trên, gỗ có cong có thẳng, đồ kim khí tuỳ tay người thợ mà đổi hình, đất để cấy lúa và gặt lúa. Nước thấm xuống dưới làm vị mặn; lửa bốc lên trên là vị đắng; gỗ cong hay thẳng là vị chua; đồ kim khí tuỳ tay người thợ đổi hình, vị cay; lúa cấy gặt vị ngọt".
Quan niệm về Ngũ hành mà sách Hồng Phạm đề cập không thuần tuý dừng lại ở năm loại vất chất cơ bản. Nó đặc biệt chú ý đến mối quan hệ và các thuộc tính của Ngũ hành. Xuất phát từ quan điểm đó, người xưa phân chia Ngũ hành thành năm loại, đó là lý luận nguyên thủy về Ngũ hành. Ngay ở thiên "Hồng Phạm" cũng đã phản ánh thuộc tính có liên quan với Ngũ hành: "Thuỷ, nhuận hạ tác hàm; hoả, viêm thượng tác khổ; mộc, khúc trực tác toàn; kim, tòng cách tân; thổ, giá sắc tác cam".
(Nước thấm xuống dưới, vị mặn; lửa bốc lên trên, vị đắng; gỗ cong hay thẳng, vị chua; đồ kim khí tuỳ tay người thợ đổi hình, vị cay; đất, lúa cấy gặt, vị ngọt)
THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH DUNG HÒA
Thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành phát triển đến thời Tần Hán đã có sự phân biệt khá rõ rệt:
Thuyết Âm dương thiên về nguyên lý sinh thành vũ trụ. Thuyết Ngũ hành thiên về phân loại hiện tượng sự vật trong vũ trụ và hệ thống quan hệ giữa những thuộc tính.
Hai cái đó hoà vào nhau và trở thành hệ thống giải thích hiện tượng sinh thành vũ trụ, cuối cùng hoàn thành từng bước ở đời Hán.
Thuyết Âm dương Ngũ hành ở thời lưỡng Hán kế thừa tư tưởng thời Tiên Tần, dung hoà và phát triển rộng tạo thành hệ thống giải thích vũ trụ hoàn chỉnh. Các trước tác viết về tư tưởng này có rất nhiều, lưu lại đến ngày nay tương đối đầy đủ và có giá trị, như: Lễ Ký, Hoài Nam Tử, Xuân Thu phồn lộ .v..v.."
Qua đoạn trích dẫn trên, xin các bạn lưu ý:
Thiên Hồng phạm trong sách Thượng thư được giáo sư Lê Văn Quán nhắc tới ở trên, chính là nói đến Hồng phạm cửu trù mà Khổng An Quốc nói tới. Xin quí vị tiếp tục xem đoạn trích dẫn dưới đây từ trong sách Đại cương triết học sử Trung Quốc (Phùng Hữu Lan - Nhà nghiên cứu triết học /lịch sử hiện đại nổi tiếng của Trung Quốc - Nxb Thanh Niên 1999, người dịch Nguyễn Văn Dương):
"Tại Trung quốc xưa có hai luồng tư tưởng đã cố giải thích cấu tạo và nguồn gốc vũ trụ. Một luồng tư tưởng dựa trên những trứ tác của Âm dương gia, và luồng tư tưởng kia dựa trên vài phần trong "Dịch truyện" do các nhà nho khuyết danh đưa phụ vào bản kinh Dịch nguyên thủy. Hình như hai luồng tư tưởng ấy đã tiến triển độc lập, không liên quan với nhau. Trong thiên "Hồng phạm" và thiên "Nguyệt lệnh" mà ta sẽ xét, Ngũ hành được đề cập mà thấy không nói tới Âm dương; trong "Dịch truyện",trái lại,chỉ thấy nói tới Âm dương mà không nói tới Ngũ hành. Nhưng về sau, hai luồng tư tưởng ấy hợp làm một. Sự hợp nhất ấy đã thấy vào thời Tư Mã Đàm (chết năm 110 tr.C.N.), khiến cho ông đã gom lại trong bộ Sử ký, dưới tên Âm dương gia.
ÂM DƯƠNG GIA VÀ VŨ TRỤ LUẬN
NGUYÊN THỦY TẠI TRUNG QUỐC
Trong chương III sách này, tôi có nói rằng Âm dương gia vốn gốc ở những nhà thuật số. Những thuật số gia này ngày xưa được biết đến dưới tên "phương sĩ". Trong phần "Nghệ văn chí" (quyển 30) của sách Tiền Hán thư, được lập theo bộ Thất lược của Lưu Hâm, những ngành thuật số ấy được gom vào 6 loại.
SÁU NGÀNH THUẬT SỐ
Ngành thứ nhất là thiên văn. "Thiên văn, theo "Hán thư nghệ văn chí", là sắp thứ tự hai mươi tám sao, ghi chép sự vận chuyển của năm hành tinh, của mặt trời mặt trăng để ghi những biến tượng lành dữ."
Ngành thứ hai là lịch phổ. "Lịch phổ, theo thiên ấy, là xếp đặt vị trí bốn mùa, chia đúng các tiết, hiểu giờ của mặt trời mặt trăng của năm hành tinh, để khảo sát lạnh nóng, sống chết... Nhờ luật này. Điều lo về tai ách, điều vui vẻ tốt lành đều biết được rõ rang."
Ngành thứ ba là về Ngũ hành. "Phép đó, theo "Nghệ văn chí", cũng bắt đầu từ sự vận chuyển của ngũ đức (năm nguyên tố), suy cho cùng cực thì không có gì là không thấu."
Ngành thứ tư là bói bằng cỏ thi, và bằng mai rùa, xương bò. Đó là những phép bói chính ở Trung Quốc xưa. Về cách bói sau, thì những thầy bói đục lỗ ở trong vỏ rùa hay trong miếng xương phẳng, rồi đem hơ vào lửa nóng, trên chiếc đũa bằng kim loại, để làm thành những đường nứt phát ra chung quanh lỗ. Thầy bói giải thích những đường nứt ấy theo hình trạng chúng, để trả lời câu hỏi nêu ra. Theo phép thứ nhất, thì thầy bói trộn các nhánh cỏ thi làm thành những tổ hợp về số để có thể giải thích theo Kinh Dịch. Mục đích chính của phần kinh nguyên thủy của sách này là để giải thích như vừa nói.
Ngành thứ năm là ngành tạp chiêm và ngành thứ sáu là hình pháp. Ngành sau này gồm ngành xem tướng và ngành mà về sau người ta gọi là "phong thuỷ". Phong thuỷ được căn cứ vào khái niệm con người là sản vật của vũ trụ. Do đó, nhà cửa hay mồ mả phải được bài trí theo cách nào cho hợp với những lực thiên nhiên, nghĩa là với "gió nước".
NGŨ HÀNH THEO THIÊN HỒNG PHẠM
Từ ngữ "Ngũ hành" thường được dịch là: năm yếu tố. Nhưng ta không nên coi chúng là những yếu tố tĩnh, mà nên coi là năm thế lực động có ảnh hưởng trên nhau. Từ "hành", hoạt động"; cho nên từ ngữ Ngũ hành theo nghĩa đen, có nghĩa là năm hoạt động hay năm tác nhân. Người ta cũng gọi là "ngũ đức", có nghĩa là năm thế lực.
Từ ngữ Ngũ hành đã có trong một bản văn theo truyền thuyết được viết vào thế kỷ thứ XX tr.C.N (xem kinh Thư phần III, quyển II, thiên I, 3.) Ta không thể chứng minh sự chân thực của bản văn ấy, nhưng dầu có thật, ta cũng không thể chắc chắn rằng từ ngữ Ngũ hành trong ấy có cùng nghĩa với trong các bản văn khác, mà thời đại được định rõ hơn. Sự đề cập đầu tiên thật chính xác về Ngũ hành được thấy trong đoạn khác của kinh Thư (phần V, quyển IV), dưới tên "Hồng phạm", nghĩa là "khuôn lớn". Truyền thuyết cho biết rằng thiên "Hồng phạm" thuật lại lời Cơ tử cáo với vua Vũ nhà Chu; Cơ tử là một vương hầu nhà Thương bị vua Vũ lật đổ vào cuối thế kỷ thứ XII tr. C.N. Trong bài cáo, Cơ tử cho những ý của mình là của vua Vũ, người sáng lập nhà Hạ, theo truyền thuyết sống vào thế kỷ thứ XXII tr.C.N. Chúng tôi nêu truyền thuyết này là coi như ví dụ về thể thức theo đó tác giả Kinh Thư đã thử mang lại sự trọng yếu của thuyết Ngũ hành. Về thời đại thật của thiên "Hồng phạm", thì khoa học hiện đại có ý đặt vào thế kỷ thứ IV hay III.
Trong thiên "Hồng phạm", ta thấy bản "Cửu trù", "Thứ nhất trong Cửu trù là Ngũ hành. Thứ nhất trong Ngũ hành là thuỷ, nhì là hỏa; ba là mộc; tư là kim; năm là thổ. (Tính) thuỷ là ướt và xuống; hỏa là cháy và lên; mộc là cong và thẳng; kim là theo và đổi; thổ là để gieo mạ làm mùaナ.
Trong thiên "Hồng phạm, ta thấy ý niệm Ngũ hành còn ở trong giai đoạn chưa hoàn thành. Tác giả đang còn tư tưởng bằng từ ngữ vật thể có thật như nước, lửa...v.vナ, thay vì tư tưởng bằng từ ngữ những lực trừu tượng mang các tên ấy như Ngũ hành được quan niệm về sau. Tác giả cũng cho ta biết rằng nhân gian và tạo vật có liên hệ với nhau; cách cai trị sai lầm của ông vua sẽ tạo ra những hiện tượng bất thường trong trời đất. Lý thuyết này được triển khai đầy đủ về sau bởi Âm dương gia: người ta gọi là thuyết "thiên nhân tương dữ".
Hai lý thuyết được đưa ra để giải thích lý do của sự hỗ tương ảnh hưởng nói trên. Thuyết thứ nhất thuộc về mục đích luận. Theo thuyết này, thì cách cư xử sai lầm của ông vua làm cho Trời nổi giận. Sự giận của Trời gây ra những hiện tượng bất thường trong tự nhiên, tức là Trời báo trước cho vua biết. Thuyết thứ hai thuộc về thuyết cơ giới. Theo thuyết này, thì cách cư xử sai lầm của vua sẽ tự nhiên gây rối loạn trong trời đất và do đó những hiện tượng bất thường cũng xảy ra một cách máy móc. Toàn thể vũ trụ là một cơ giới. Khi một phần cơ giới ra khỏi trật tự, thì những phần khác cũng bị tổn thương. Thuyết này biểu thị cho tinh thần khoa học của Âm dương gia, còn thuyết thứ nhất phản ánh những nguồn gốc huyền bí.
NGUYỆT LỆNH
Sau thiên " Hồng phạm", tài liệu trọng yếu nhất của Âm dương gia là thiên "nguyệt lệnh". Thiên này trước hết được thấy chép trong sách Lã thị xuân thu, tác phẩm vào cuối thế kỷ thứ III tr.C.N. Về sau, thiên ấy được đưa vào sách Lễ ký. "Nguyệt lệnh" có tên ấy, vì vốn là quyển sách lịch nhỏ trình bày cho vua và mọi người nói chung, những bổn phận phải làm hàng tháng, để hợp với thời trời. Cách cấu tạo vũ trụ trong thiên này được diễn tả bằng từ ngữ của Âm dương gia. Cách cấu tạo này có tính chất vũ trụ, nghĩa là liên quan tới thời gian và không gian. Người Trung quốc xưa ở về bắc bán cầu, tất phải coi phương nam là phương của sức nóng và phương Bắc là phương của khí lạnh. Vì lý do ấy, Âm dương gia đưa ra sự tương quan giữa bốn mùa và bốn phương. Mùa hè có tương quan với phương nam; mùa đông, phương bắc; mùa xuân, phương đông; mùa thu phương Tây, vì mặt trời ở phương Tây. Phái này cũng coi sự thay đổi của ngày đêm như biểu thị sự thay đổi của bốn mùa trong năm, vào một tỉ lệ nhỏ. Cho nên buổi sáng là tượng trưng cho mùa xuân; buổi trưa mùa hè; buổi chiều mùa thu; buổi tối mùa đông.
Phương Nam và mùa hè thì nóng, vì phương Nam là phương và mùa hè là lúc mà hành hoả mạnh hơn cả. Phương Bắc và mùa đông thì lạnh, vì phương Bắc là phương và mùa đông là lúc mà hành thuỷ mạnh hơn cả; nước lại liên quan tới nước đá và tuyết là vật lạnh. Cũng vậy, mộc là hành mạnh ở phương Đông và mùa xuân, bởi vì mùa xuân là mùa mà cỏ bắt đầu mọc, và vì phương Đông có liên quan tới mùa xuân. Hành kim mạnh ở phương Tây và mùa thu, bởi vì kim khí được coi là cứng và thô, vì mùa thu là gió, cây cỏ hết mùa, và vì phương Tây có liên quan tới mùa thu. Như vậy, bốn trong năm hành đã được cắt nghĩa. Chỉ còn hành thổ là chưa có vị trí mùa. Nhưng theo thiên "Nguyệt lệnh", thổ là hành chính của Ngũ hành, vì vậy nó được vị trí trung ương của bốn mùa. Lúc mà thổ mạnh là vào một khoảng ngắn giữa mùa hè và mùa thu.
Do lý thuyết vũ trụ ấy, Âm dương gia đã cố giải thích những hiện tượng tự nhiên bằng những từ ngữ vừa thời gian vừa không gian, và còn chủ trương rằng những hiện tượng ấy còn liên quan tới tâm tính con người. Vì vậy, như đã nói ở trên, thiên "nguyệt lệnh" đưa ra những điều qui định mà ông vua phải theo từng tháng, do đó mà có tên "Nguyệt lệnh".
Vì vậy, người ta nói: "Tháng giêng mùa xuân, gió xuân thổi tan hơi lạnh. Sinh vật nằm im trong mùa đông bắt đầu vùng dậy... Đó là mùa khí trời toả xuống, khí đất dâng lên. Trời đất hoà hợp nhau, cây cỏ đâm chồi nảy lộc." (Lễ ký, thiên 4)
Bởi vì cách cư xử của người phải hoà hợp với đạo trời trong tháng đó, cho nên "(vua) sai công khanh đại phu ban bố đạo đức, điều hoà mệnh lệnh để làm điều vui, thi ơn cho triều dân... Cấm chặt cây, không được lật tổ... Trong tháng đó, không thể dấy binh; dấy binh ắt bị hoạ Trời. Không dấy binh nghĩa là ta không khởi sự trước."
Nếu, trong một tháng, ông vua không làm theo khuôn phép tháng đó, mà lại theo quy tắc cư xử hợp cho tháng khác, thì những hiện tượng bất thường ngoài tự nhiên sẽ xảy ra. "Tháng mạnh xuân mà thi hành mệnh lệnh mùa hè, thì mưa không hợp thời, cây cỏ khô héo, quốc gia luôn có điều sợ. Nếu thi hành lệnh mùa thu, thì dân có bệnh dịch lớn. Gió dữ mưa mạnh sẽ tới... Nếu thi hành lệnh mùa đông, thì nước lụt sẽ làm hại, tuyết sương rơi nhiều."
TRÂU DIỄN
Trâu Diễn là một nhân vật trọng yếu của Âm dương gia vào thế kỷ thứ III tr.C.N. Theo bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, thì Trâu Diễn là người nước Tề, ở vùng giữa tỉnh Sơn Đông bây giờ. "Viết sách trên mười vạn lời." Thảy đều thất tán. Nhưng trong bộ Sử ký, Tư Mã Thiên thuật lại khá kỹ lý thuyết của Trâu Diễn.
Theo sách ấy (quyển 74), thì phương pháp của Trâu Diễn là "trước hết thì nghiệm các vật nhỏ mà suy rộng ra cho tới vô hạn". Hình như chủ điểm của ông là địa lý và sử ký.
Về địa lý, Tư mã Thiên viết: "Trước hết sắp đặt danh sơn của Trung quốc, sông lớn, thung lũng liền nhau; cầm thú, sản vật của sông bãi, món quý của vật loại; từ đó mà suy ra cho đến hải ngoại, ít người thấy được... Bảo rằng nho giả gọi là Trung quốc thì chiếm một phần trong tám mươi một phần của thiên hạ. Gọi Trung quốc là Xích huyện Thần châu... Ngoài Trung quốc, như Xích huyện Thần châu thì có chín châu... Mỗi châu có biển hẹp bao bọc bên ngoài, nhân dân cầm thú không thể qua lại với nhau. Những châu ấy họp lại thành khu. Quanh chín châu, có biển lớn bọc ngoài, tức là nơi trời đất giáp nhau."
Về quan niệm của Trâu Diễn đối với sử ký, Tư mã Thiên viết: "Trước hết kể việc nay trở lên tới Hoàng Đế, học giả ai cũng thuật. Cùng theo thịnh suy của đời, mà chép điềm tốt xấu, chế độ, suy xa hơn, cho tới khi trời đất chưa sinh, tới chỗ tối tăm mờ mịt chưa có thể khảo tới gốc được... Cho đến khi trời đất phân, thì nói sự vận chuyển biến hoá của Ngũ hành, (những lề lối khác nhau của) chính trị, mọi điềm ứng với mỗi hành."
Đoạn trích dẫn tiếp theo đây, bạn đọc tham khảo về nguồn gốc của thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành qua tài liệu và nhận xét của ông Thiệu Vĩ Hoa trong cuốn Dự đoán theo Tứ trụ :
1) Khởi nguồn của học thuyết Âm dương:
Sự ra đời của học thuyết Âm dương, từ đời Hạ xa xưa đã hình thành. Điều đó có thể được chứng thực bằng sự xuất hiện hào Dương, hào Âm trong Bát quái của Kinh Dịch. Hào Âm - và hào Dương - trong Bát quái xuất hiện trong sách cổ "Liên sơn" của đời nhà Hạ Trung Quốc, cho nên trong "Sơn hải kinh" có câu: "Phục Hy được Hà đồ, người Hạ nhân đó nói là "Liên sơn"; Hoàng đế được Hà đồ nên người Chu gọi là "Chu dịch". Tức là nói ở đời Hạ đã có quyển sách về Bát quái liên sơn này, còn Bát quái lại do hai hào cơ bản nhất: Âm và dương cấu thành. Cho nên học thuyết Âm dương bắt nguồn từ nhà Hạ là điều tin được.
Nhân đây muốn nói thêm rằng: giới học thuật ngày nay đối với mối quan hệ của học thuyết Âm dương, Ngũ hành và Bát quái, cũng như sự khởi nguồn và quá trình sự diễn biến của nó, vẫn có những kiến giải khác nhau. Nhà sử học Bàng Phác trong bài "Nghiên cứu về nguồn gốc Âm dương Ngũ hành" (đăng ở mục "bàn về lịch sử văn hoá cổ đại Trung Quốc", do tạp chí Đại học Bắc kinh xuất bản năm 1986) có nêu: Nguồn gốc của quan niệm Ngũ hành là ở quy bốc của dân tộc Khương, nguồn gốc quan niệm Âm dương là mai bốc là của dân tộc Ngô Việt ở phương nam (tức ở trong "Sở từ" gọi là "Diên bạc"). Bát quái thì bắt nguồn ở Phệ chiêm của dân tộc Chu, tức là trong sách cổ có ghi là lục nhâm mà về sau phát triển thành sáu hào). Do đó ngài Bàng Phác đã căn cứ vào tích Thù Ty Mã ở trong sách cổ mà suy đoán, cho rằng các dân tộc ở phương Bắc và phương Nam thời kỳ cổ đại của Trung Quốc (chủ yếu là nhà Thương, nhà Chu và Việt Sở) do sự thâm nhập văn hoá mà thành, đến thời Chiến quốc do các nhà nho như Khổng tử, Trâu Diễn đã hoà trộn ba nền văn hoá lớn lại với nhau. Đến đời Đổng Trọng Thư nhà Hán mới tập hợp thành học thuyết Âm dương Ngũ hành và cùng với thuật số Bát quái của Chu dịch kết hợp thành học thuyết âm dương Ngũ hành và thành một công trình vĩ đại. Các bài viết của ngài Bàng Phác cách chứng minh chặt chẽ, có giá trị là tác phẩm diễn giải độc đáo. Nhưng giới khảo cổ ngày nay và giới sử học đối với văn hoá cổ đại của đời nhà Hạ, với Liên sơn, Quy tàng vẫn chưa có ý kiến nhất trí trong kết quả nghiên cứu của mình. Các tài liệu và chứng vật cũng không đầy đủ, do đó ở quyển sách này cũng chỉ có thể dựa theo cách nói truyền thống để xác định khởi nguồn của thuyết Âm dương vào thời kỳ nhà Hạ. Nếu sau này phát hiện được những chứng cứ mới đủ để bác bỏ cách nói truyền thống này, cho rằng khởi nguồn của học thuyết Âm dương ở thời đại về sau hơn thì chúng tôi cũng sẽ tuân theo chân lý mà không sửa đổi những luận điểm trong sách này"
Đoạn trích dẫn dưới đây trong sách Chu Dịch với dự đoán học (sách đã dẫn, trang 94). Bạn đọc tham khảo những ý kiến khác nhau về xuất xứ của thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành.
KHỞI NGUỒN CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
Sự ra đời của học thuyết Ngũ hành, trong giới học thuật vẫn còn là một vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Ba loại ý kiến rất đối lập nhau như sau:
Giới Dịch học cho rằng sự ra đời của học thuyết Ngũ hành rất có khả năng đồng thời với học thuyết Âm dương. Nhưng giới sử học lại cho rằng người đầu tiên sáng lập ra học thuyết Ngũ hành là Mạnh tử. Trong cuốn "Trung Quốc thông sử giản biên" của Phạm Văn Lan đã nói: "Mạnh tử là người đầu tiên sáng lập ra học thuyết Ngũ hành, Mạnh tử nói năm trăm năm tất có vương giả hưng, từ Nghiêu Thuấn đến Vu Thang là hơn năm trăm năm... Từ Văn Vương đến Khổng tử lại hơn năm trăm năm... Hầu như đã có cách nói tính toán về Ngũ hành. Sau Mạnh tử một ít, Trâu Diễn đã mở rộng thuyết Ngũ hành trở thành nhà Âm dương Ngũ hành". Nói học thuyết Ngũ hành do Mạnh tử phát minh là không có chứng cứ xác thực. Điều này chính Phạm Văn Lan đã tự phủ định mình. Trong cùng một chương của cuốn sách trên ông đã nói: "Mạnh tử không tin Ngũ hành, bác bỏ thuật chiêm bốc dùng ngũ sắc thanh long để định cát hung, điều đó đủ thấy thời Đông Chu thuyết Ngũ hành đã thông dụng rồi, đến Trâu Diễn đặc biệt phát huy". Mạnh tử là người nuớc Lỗ thời Chiến Quốc mà thòi Đông Chu đã có Ngũ hành rồi, rõ ràng không phải là Mạnh tử phát minh ra Ngũ hành. Có những sách sử nói, học thuyết Âm dương Ngũ hành là Đổng Trọng Thư đời Hán sáng lập ra, điều đó càng không đúng.
Giới triết học như Vu Bạch Huệ, Vương Dung thì cho rằng: "Bản văn công khai của Ngũ hành có thể thấy trong sách "Thượng thư" của Hồng Phạm (tương truyền văn tự những năm đầu thời Tây Chu, theo những khảo chứng của người cận đại có thể là thời chiến quốc). Ngũ hành, một thuỷ, hai hoả, ba mộc, bốn kim, năm thổ; thuỷ nhuận dưới, hoả nóng trên, mộc cong thẳng, kim là cắt đứt, thổ là nông gia trồng trọt" (xem "Ảnh hưởng của học thuyết Âm dương Ngũ hành với khoa học truyền thống Trung Quốc").
Qua đó có thấy vấn đề nguồn gốc học thuyết Ngũ hành vẫn là điều chưa sáng tỏ.
(Thiệu Vĩ Hoa Sách đã dẫn)
Thiên Sứ
Còn tiếp:
---------------
Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong học thuật sự cắt trích rất dễ dẫn đến hoài nghi vào tính trung thực của người dẫn. Bởi vậy để chứng tỏ tính khách quan khi dẫn sách , người viết thường dẫn một đoạn hoàn chỉnh đủ ý, để các vị quan tâm quán xét.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
16-07-2005, 01:27 PM
Tiếp theo
Qua những đoạn trích dẫn ở trên, người viết chứng tỏ với quí vị quan tâm những hiện tượng sau đây:
1) Ngay những nhà nghiên cứu Trung Hoa có tên tuổi và hầu hết nhưng nhà nghiên cứu trên thế giới ở các ngành học thuật khác nhau như: Lịch sử, văn hoá, xã hội; thậm chí ngay trong thuật chiêm bốc cũng cho rằng: Âm Dương và Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt. Thậm chí ở một website có nhà bình luận còn cho rằng thuyết Ngũ hành không tác dụng bằng thuyết Âm Dương.
2) Giữa thời điểm xuất xứ được ghi nhận trong cổ thư chữ Hán với nhận xét của các nhà nghiên cứu có khoảng chênh lệch đáng kể. Khoảng chênh lệch này không phải vài chục, vài trăm năm, mà là vài thiên niên kỷ?
Thí dụ như thiên “Hồng Phạm” theo bản văn và truyền thuyết thì xuất hiện vào khoảng 2000 trước CN. Nhưng theo các nhà nghiên cứu thì chỉ khoảng thế kỷ thứ 3 trước CN.
3) Một hiện tượng cần ghi nhận liên quan đến học thuyết Âm dương & Ngũ hành, nhưng ít được các nhà nghiên cứu nhắc tới khi nghiên cứu về lịch sử thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành. Đó là cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Sự tương quan về nội dung bản văn, không - thời gian lịch sử của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn với giả thuyết được trình bày với quí vị ở trên, có môt vị trí quan trọng. Bởi vậy, phần tiếp theo đây xin được trình bày với bạn đọc nội dung cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn và những vấn đề liên quan.
HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN
VÀ LỊCH SỬ THUYẾT ÂM DƯƠNG & NGŨ HÀNH
Về cổ thư liên quan đến thuyết Âm dương và Ngũ hành còn được nói tới trong một cuốn sách Đông y nổi tiếng, đó là cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Nội dung cuốn sách này diễn tả những cuộc đối thoại giữa Hoàng Đế (*) với Kỳ Bá - là đại thần của ngài - cho thấy một sự ứng dụng thuyết Âm dương và thuyết Ngũ hành vào việc phòng bệnh, chữa bệnh ở thời thượng cổ. Về giá trị của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn được những nhà nghiên cứu Trung Hoa ca ngợi như sau:
"Trên thực tế, Hoàng Đế Nội Kinh trong lịch sử Trung Quốc đối với văn hóa Hán Học có ảnh hưởng sâu sắc không thể mất đi, nó cấu thành một truyền thống văn hóa Trung Hoa. Nếu như truyền thống văn hóa thiếu khuyết phần này, chúng ta không thể tưởng tượng tình cảnh của nó vô lý đến mức nào.Thậm chí ở Trung Quốc cổ đại, người ta còn đem Hoàng Đế Nội Kinh với Đạo Đức kinh của Lão tử, Nam Hoa kinh của Trang tử, Chu Dịch ra so sánh với nhau, mọi người không chỉ xem nó là một cuốn sách y học bình thường.Người xưa xem Hoàng Đế Nội Kinh là: "Thượng cùng ở Trời, hạ cực ở Đất, xa xét vạn vật, gần nắm bản thân, biến đổi khó lường". Cơ hồ như mọi việc trời đất không gì là không bao lấy"
.
Trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn hoàn toàn sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương - Ngũ hành. Để chứng tỏ điều này, xin quí vị xem đoạn sau đây trong phần "Lục Nguyên chính kỷ đại luận":
"Trước lập năm ấy, lấy tỏ khí ấy, số của vận hành của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ hóa của lạnh, nóng, khô, ẩm, gió, hỏa đến ngự, thì đạo trời có thể thấy, dân khí có thể điều, Âm Dương co duỗi, gần mà không cảm, có thể đếm số ấy."
Bạn đọc có thể tìm thấy dấu ấn của thuyết Âm dương và Ngũ hành và phương pháp luận của nó trong khắp cuốn sách, tự thân nội dung của nó đã chứng tỏ thuyết Âm dương Ngũ hành đã được ứng dụng từ thời Hoàng đế (khoảng 3000 năm trước CN). Nhưng những nhà nghiên cứu hiện đại lại cho rằng cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn ra đời vào thời Xuân thu Chiến quốc (?!). Đoạn sau đây được trích trong cuốn Hoàng Đế Nội Kinh với suy đoán vận khí (sách đã dẫn).
"Hoàng Đế Nội Kinh được viết thành sách vào khoảng thời kỳ Xuân thu Chiến quốc, nên trong sách tư tưởng chỉ là chủ nghĩa duy vật cổ đại, xuất phát từ quan niệm chỉnh thể và tổng kết của người xưa qua kinh nghiệm phong phú đấu tranh với bệnh tật, xây dựng nên cơ sở lý luận của y học Trung Quốc"
.
Như vậy, qua các đoạn trích dẫn trên bạn đọc cũng nhận thấy rằng:
Nội dung của cuốn Hoàng đế nội kinh tố vấn là sự ứng dụng của thuyết Âm dương - Ngũ hành đã có từ thời Hoàng đế; tức là trước thời vua Đại Vũ phát hiện ra Lạc thư trên lưng rùa ghi dấu ấn của Ngũ hành hơn 1000 năm. Các nhà nghiên cứu đã đặt thời điểm xuất hiện của cuốn sách này vào thời Xuân thu Chiến quốc, tức là sau đó hơn 2000 năm so với thời điểm nội dung của nó(?). Và v/d cũng không dừng lại ở đây.
HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN
HÀ ĐỒ & NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
Tính bất hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế Nội Kinh chính là:
Thời điểm xuất hiện của cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” khó có thể đặt vào một giai đoạn nào trong lịch sử văn minh Hoa Hạ, để có sự tương quan hợp lý với những vấn đề của thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Nội dung của cuốn sách này thể hiện phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong Đông y với điều kỳ lạ là trong đó có dấu ấn của Hà đồ.
Ý nghĩa trực tiếp trong nội dung của nó xác định thời điểm xuất hiện thuộc về thời Hoàng Đế. Nhưng những nhà nghiên cứu đã đặt vào giai đoạn lịch sử thời Xuân Thu Chiến quốc (đã trích dẫn ở phần trên).
Qua những đoạn trích dẫn ở trên; chúng ta có thể tìm thấy sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương - Ngũ hành trong toàn bộ cuốn sách nói trên (kể cả sự ứng dụng Âm dương lịch, mà ở đó đã có sự phối hợp can chi). Như vậy, thuyết Âm dương - Ngũ hành đã hoàn chỉnh, nhất quán và được ứng dụng trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Tức là từ thời Hoàng Đế, trước cả Lạc thư do vua Đại vũ phát hiện cả ngàn năm (niên đại của Hoàng Đế ước tính khoảng 3000 năm tr.Cn - vua Đại vũ khoảng 2205 năm tr.Cn). Rõ ràng đây là một điều cực vô lý.
Nếu như chúng ta tin vào tính chính xác về thời điểm xuất hiện của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn thì sẽ phủ nhận toàn bộ những tác giả Trung Hoa được coi là sáng lập ra thuyết Âm dương và Ngũ hành sau đó.
Vậy thì trước Hoàng Đế ai là người sáng tạo thuyết Âm dương - Ngũ hành ? -
- khi chính cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn chỉ thể hiện sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành - chứ không phải thể hiện nội dung của học thuyết đó?
Có lẽ nhận thấy được điều phi lý này - trên quan niệm thuyết Âm dương Ngũ hành thuộc về văn minh Hoa Hạ - nên các nhà nghiên cứu hiện đại đã có sự cố gắng tìm một thời điểm lịch sử hợp lý cho sự ra đời của cuốn sách Hoàng Đế nội kinh tố vấn.
@ Giả thuyết đầu tiên cho rằng:
Cuốn "Hoàng Đế nội kinh tố vấn" được viết vào thời Xuân thu Chiến quốc?!
(Đã trích dẫn).
Nếu nhận định của các nhà lý học hiện đại đúng, thì đây là sự phủ nhận tác giả của cuốn sách là Hoàng Đế và Kỳ Bá. Như vậy tại sao lại có sự gán ghép này và ai là tác giả đích thực của nó? trong khi sách Đông y cũng như sách bói không phải đối tượng phá hủy vào thời Tần Thủy Hoàng. Hơn nữa y học là một nhu cầu cần thiết và phổ biến trong đời sống xã hội; trên từ vua chúa, dưới đến thứ dân. Tại sao một cuốn y lý căn bản sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương - Ngũ hành, lại không hề được nhắc đến trong bất cứ một cuốn cổ thư nào của các học giả nổi tiếng trước thời Hán?
Thời Xuân Thu Chiến quốc là một thời đại xuất hiện rất nhiều nhà tư tưởng lớn như Khổng tử, Mạnh tử, Tuân tử, Hàn Phi tử… Họ để lại rất nhiều trước tác. Nếu hệ thống vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành với giá trị tuyệt vời của nó – được thể hiện trong sự ứng dụng ở ngay trong một nhu cầu không thể thiếu và phổ biến là y học – tại sao lại không được các học giả lưu danh hàng thiên niên kỷ quan tâm đến như: Khổng tử thời Xuân thu; Mạnh tử, Trang tử thời Chiến quốc..?
Một điều đáng lưu ý nữa là: Sau các học giả nổi tiếng thời Xuân thu Chiến quốc hàng nửa thiên niên kỷ, trong Sử ký của Tư Mã Thiên cũng không hề một lần nhắc đến cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn; mặc dù ông lại nói đến Trâu Diễn (350 - 270 tr.Cn), như là một người nếu không phải là sáng lập thì cũng là người đầu tiên tổng hợp thuyết Âm dương - ngũ hành trở thành một học thuyết thống nhất.
Đây thật sự là một điều vô lý!
@ Giả thuyết thứ hai cho rằng:
Hoàng Đế nội kinh tố vấn là do các phương sĩ kiết tập, tổng hợp vào đời Hán. Giả thuyết này giải thích được sự vô lý đã phân tích ở trên và phản đúng thực tế thời điểm xuật hiện của cuốn này trong lịch sử văn minh Hán: Do Trương Ẩn Am - một danh y sống vào cuối thời Tây Hán công bố. Nhưng ngay cả trong trường hợp như vậy cũng không thể thực hiện được.
Bởi vì:
Để viết cuốn sách này thì cần phải có một kiến thức hoàn chỉnh về thuyết Âm dương ngũ hành. Nhưng học thuyết này - theo các nhà nghiên cứu hiện đại - vào thời Hán mới đang "từng bước hoàn chỉnh" (Đã trích dẫn). Do đó, không có cơ sở nào để có một sự ứng dụng một học thuyết - cho đến ngày hôm nay - vẫn chưa hoàn chỉnh (Ít nhất về mặt lý thuyết) để có một sự ứng dụng hoàn chỉnh cho nó. Huống chi, trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn còn có rất nhiều vấn đề bí ẩn và phức tạp hơn cả Kinh Dịch và vẫn chưa có sự lý giải. Người ta không thể kiết tập những cái mà người ta không hiểu gì cả. Cho rằng đây là sự kiết tập, thì mặc nhiên thừa nhận: những nội dung của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn đã có trước Hán; tức là thuyết Âm dương Ngũ hành đã hoàn chỉnh trước đó và vấn đề tiếp tục lặp lại như giả thuyết trên.
@ Giả thuyết thứ ba cho rằng:
Cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn được kiết tập vào đời Minh (?!).
Giả thuyết này chỉ có sự hợp lý hình thức, mặc dù nó lý giải được dấu ấn của Hà đồ (chỉ thực sự xuất hiện vào đời Tống - trước Minh). Nhưng với giả thuyết này thì - ngoài những mâu thuẫn chung với các giả thuyết trên - nó lại gặp những mâu thuẫn không lý giải được sau đây:
* Sự liên hệ giữa lịch sử thời Minh (thế kỷ XIV) với thời Hoàng Đế gần 3000 năm tr.CN, thể hiện trong nội dung cuốn sách.
* Vào thế kỷ 14 sau CN, là lúc sự ứng dụng của thuyết Âm dương Ngũ hành đã rất phổ biến. Do đó, càng không thể có sự kiết tập những cái mà cho đến tận bây giờ ngưới ta vẫn không thể lý giải.
* Vào thời Minh, lịch sử cũng đã rõ ràng. không thể có một cuốn sách vào hàng kỳ thư và được ứng dụng trong một nhu cầu phổ biến, mà người ta không thể chỉ ra chính xác thời điểm ra đời hoặc tác giả của nó. Một vấn đề được đặt ra là cấu trúc ngôn ngữ trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn hoàn toàn không phải là cấu trúc ngôn ngữ của thời nhà Minh. Chỉ còn một cách duy nhất là viết lại cuốn sách này. Điều này rõ ràng không thể thực hiện được, khi cho đến tận bây giờ, thuyết Âm dương Ngũ hành và những vấn đề liên quan đến nó vẫn còn là sự bí ẩn.
trong ba giả thuyết trên, thì giả thuyết thứ hai và thứ ba là do tham khảo ý kiến bạn đọc gần gũi, không có tài liệu công bố chính thức.
@ Mâu thuẫn lớn nhất cần phải lý giải là: Hoàng Đế nội kinh tố vấn là cuốn sách lý luận căn bản của Đông y, được phát triển từ một hệ thống lý luận căn bản là học thuyết Âm dương Ngũ hành.
Do đó, nó chỉ có thể được thực hiện khi người ta đã có một kiến thức hoàn chỉnh về học thuyết này. Nhưng cho đến ngày hôm nay, thuyết Âm dương Ngũ hành vẫn chỉ để lại những dấu ấn mơ hồ. Thật là phi lý, khi người ta lại có thể sáng tác ra một cuốn sách lý luận, dựa trên một lý thuyết căn bản mà người ta hoàn toàn mơ hồ về nó. Hiện tượng này có thể ví như một học sinh không cần học thuộc bài, nhưng vẫn giải được toán. Cho dù có có khiên cưỡng ứng dụng phương pháp luận siêu hình để phản bác, cho là học sinh đó kiếp trước vốn là nhà thông thái; thì ít nhất kiếp trước nó đã học bài.
Bởi vậy, ngoài những mâu thuẫn với những hiện tượng liên quan đến nó, thì đây chính là điều căn bản để cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn khó có thể đặt vào một thời điểm lịch sử nào đó của nền văn minh Hoa Hạ.
Về mặt thời gian lịch sử; tôi đã chứng minh với các quí vị quan tâm: Cuốn Hoàng Đế nội kinh không thể thuộc về văn minh Hoa Hạ. Người ta không thể đặt cuốn sách này vào bất cứ một thời điểm nào trong lịch sử văn minh Hoa Hạ để giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan. Nếu như từ trước đến nay nó được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ thì chỉ vì cuốn sách cổ nhất mà người ta tìm thấy viết bằng tiếng Hán mà thôi.
Đương nhiên cuốn sách đó không thể từ trên trời rơi xuống.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Hà Đồ có từ thời vua Phục Hy theo truyền thuyết văn hoá Hán (4000 năm trước CN). Nhưng chính các nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa vẫn đặt câu hỏi:
"... Thời tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không vẫn là một câu hỏi."
“Bí ẩn của bát quái” - Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường. Nhân dân Quảng Tây xuất bản xã. Nxb VHTT. 1996.
Điều kỳ lạ là:
Cuốn HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN lại có sự ứng dụng của HÀ ĐỒ
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Dấu ấn Hà Đồ trong cổ thư chữ Hán trước Tần!
Thiên Sứ
16-07-2005, 08:10 PM
DẤU ẤN HÀ ĐỒ TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN TRƯỚC TẦN.
Trong sách “Chu dịch Dự đoán học” – ông Thiệu Vĩ Hoa viết:
“Thuyết "Hà đồ" "Lạc đồ" trong cuốn "Thượng Thư" của tiên Tần, "Luận ngữ" của Mạnh tử và trong "Hệ từ" đều có ghi lại. nhưng "Đồ" và "Thư" thực chất là cái gì, chưa có ai nhìn thấy, càng chưa thấy ai nói đến. trước đời Tống, không ít "Dịch" gia khi viết về "Dịch", rất ít nói đến "Hà đồ", "Lạc đồ", một vài người có nói đến thì cũng chỉ lướt qua. Phong trào nói đến "Hà đồ", "Lạc thư" vào những năm Thái Bình Hưng Quốc (niên hiệu Tống Thái Tôn).
Sách “Bí ẩn của bát quái” - Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường - viết:
"... Thời tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không vẫn là một câu hỏi."
Qua các đoạn trích dẫn trên, quí vị cũng nhận thấy rằng:
Hà Đồ Lạc thư mà chúng ta biết đến ngày hôm nay; thực chất chỉ được công bố chính thức vào đời Tống. Trải hàng ngàn năm - Từ trước Tần đến Tống - mặc dù Hà Đồ Lạc thư được nhắc đến trong số sách được coi là của nền văn minh Hoa Hạ, nhưng ngay cả người Hoa Hạ cũng không hiểu chính đồ hình nay. Và thật là kỳ lạ: Dấu ấn của Hà Đồ lại nằm ngay trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Hay nói một cách khác:
Hà Đồ đã được ứng dụng từ thời Hoàng Đế trước cả vua Đại Vũ tìm ra Ngũ hành trên lưng rùa và viết nên Hồng Phạm cửu trù?
Tất nhiên trước cả Tiên Tần đến 4000 năm(??)
Dấu ấn Hà Đồ trong "Hoàng Đế nội kinh tố vấn"
Trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn đã ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành – như là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh - để lý giải các hiện tượng của sự vận động vũ trụ và ảnh hưởng của nó đến trái đất với đời sống con người. Nhưng nội dung của nó lại góp phần tạo nên sự bí ẩn của lịch sử thuyết Âm dương Ngũ hành và cũng là đề tài tranh luận qua nhiều thế hệ. Trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn cũng để lại rất nhiều những khái niệm bí ẩn khác, mà cho đến tận ngày nay đã không biết bao nhiêu học giả tốn rất nhiều công sức vẫn chưa lý giải được (Xin xem: Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt. Mục các môn học khác. chanthuyen.org).
Thí dụ như những khái niệm về lục khí, ngũ vận ứng dụng trong y lý. Khái niệm bí ẩn: “Giáp hợp Kỷ hoá Thổ …” cũng bắt đầu từ cuốn sách này.
Nhưng một hiện tượng đặc biệt quan trọng rất đáng lưu ý là:
Trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn, một cuốn sách được các nhà nghiên cứu cho là xuất hiện vào thời Xuân thu Chiến quốc - tức là tiên Tần - lại ghi nhận dấu ấn của Hà đồ, khi lý giải những vấn đề cơ sở lý luận ứng dụng trong Đông y. Đoạn sau đây được trích trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn toàn tập* (Nhà thuốc Hồng Khê Hanoi. Xuất bản 1954 - dịch giả Nguyễn Tử Siêu) được trích dẫn trong phần "Kim quỷ chân ngôn luận":
-----------
(*Chú thích của người viết: Cuốn sách này được dịch từ cuốn”Hoàng Đế nội kinh tố vấn hợp chú” của Trương Ẩn Am và Mã Nguyên Đài. Đây là cuốn sách dịch được coi là ưu tú nhất trong các bản dịch “Nội Kinh” từ trước đó đến nay. Nhưng nội dung của nó còn thiếu hai phần là: Thích Pháp luận & Bản Bệnh luận.)
Hoàng Đế hỏi:
- Năm tàng ứng với bốn mùa, vậy có sự thâu thu gí không?
Kỳ Bá thưa:
1)- Đông phương sắc xanh, thông vào can, khai khiếu lên mắt, tàng tinh ở can. phát ra bệnh thành chứng kinh sợ. Về vị là chua, thuộc về loài Thảo Mộc, thuộc về lục súc là gà, thuộc về ngũ cốc là lúa mạch, thuộc về bốn mùa trên ứng với Tuế tinh (Sao Mộc. Thiên Sứ), xuân khí thuộc về bộ phận đầu; thuộc về âm là tiếng Giác;
thuộc về số là số 8;
thuộc về mùi là mùi hôi. do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở gân.
2)- Nam phương sắc đỏ, thông vào với tâm khai khiếu lên tai, tàng tinh ở tâm. bệnh phát sinh ở cả năm tàng, về vị là đắng và thuộc về Hỏa; thuộc về lục súc là dê; thuộc về ngũ cốc là thử; thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Huỳnh Hoặc (Sao Hoả. Thiên Sứ), thuộc về âm là tiếng Chủy;
thuộc về số là số 7;
thuộc về mùi là mùi hắc; do đó biết là thường sinh bệnh ở mạch.
3)- Trung ương sắc vàng, thông vào với tỳ, khai khiếu lên miệng. tàng tinh ở tỳ. bệnh phát sinh ở cuống lưỡi, về vị là ngọt, và thuộc về Thổ; thuộc về lục súc là bò; thuộc về ngũ cốc là tắc; thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Chấn; thuộc về âm là cung, thuộc về số là số 5; thuộc về mùi là mùi thơm; do đó, biết là thường sinh bệnh tại thịt.
4)- Tây phương sắc trắng, thông vào với phế, khai khiếu ở mũi, tàng tinh ở phế; bệnh phát sinh ở vai; về vị là cay và thuộc về Kim; thuộc về lục súc là ngựa; thuộc về ngũ cốc là đạo; thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Thái Bạch (Sao Kim.Tức sao Thuỷ ngày nay. Thiên Sứ) thuộc về âm là Thương; thuộc về số là số 9;
do đó biết là thường sinh bệnh tại bì mao.
5)- Bắc phương sắc đen, thông vào với thận, thông khiếu ở nhị âm; tàng tinh ở thận; bệnh phát sinh ở khê; về vị là mặn và thuộc về Thủy; thuộc về lục súc là lợn; thuộc về ngũ cốc là đậu, thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Thần (Sao Thuỷ. Tức sao Kim bây gìơ.Thiên Sứ), thuộc về âm là Vũ,
thuộc về số là số 6,
thuộc về mùi là mùi húc mục, do đó biết là thường sinh bệnh ở xương.
Qua phần trích dẫn trên, chúng ta quán xét độ số và hành ở các phương vị sẽ thấy là:
1) Phương Đông thuộc Mộc: Sắc xanh - Độ số 8
2) Phương Nam thuộc Hoả: Sắc Đỏ - Độ số 7
3) Trung ương thuộc Thổ: Sắc Vàng - Độ số 5
4) Tây phương thuộc Kim: Sắc Trắng - Độ số 9
5) Bắc Phương thuộc Thuỷ: Sắc Đen - Độ số 6
So sánh phương vị/hành và độ số nói trên với Hà Đồ, chúng hoàn toàn có sự trùng khớp. Xin lưu ý quí vị quan tâm là:
Lạc Thư không thể hiện được điều này.
Hà đồ vốn được coi là căn nguyên của nền lý học Đông phương. Nói cụ thể hơn:
Hà Đồ là căn nguyên của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cuốn Hoàng đế nội kinh sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Do đó, sự trùng khớp nói trên chứng tỏ rằng:
Khi hình thành cuốn sách này, tác giả của nó đã biết đến Hà đồ và những qui luật tương tác của nó ảnh hưởng đến đời sống Trái Đất và con người. Xin xem hình vẽ sau:
HÌNH MINH HỌA
Sự ứng dụng phương vị Ngũ Hành của Hà Đồ trong Hoàng Đế nội kinh
http://viettop.net/bobeo/hado.JPG
Qua đồ hình trên, quí vị cũng nhận thấy sự liên hệ trùng khớp độ số và phương vị Ngũ hành trong “Hoàng Đế nội kinh” với “Hà đồ”.
Sự liên hệ này cho thấy:
Hà đồ là một thực tế đã tồn tại và đã được ứng dụng trước thời điểm hình thành cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn.
Vậy tại sao đến đời Tống; những học giả Hoa Hạ mới biết đến Hà Đồ?
Tại sao Khổng Tử viết thập Dực đã nói đến “Hà xuất Đồ, Lạc xuất thư” lại không miêu tả lại Hà Đồ cho các đệ tử? Nếu Khổng tử đã biết đến Hà Đồ thì tại sao Kinh Dịch lạI không hề có một chữ nói đến Ngũ hành khiến -
"Thuyết Âm Dương Ngũ hành từng bước hoà nhập vào đời Hán”?
Nếu văn minh Hoa hạ đích thực là nơi xuất phát của lý học Đông phương , tại sao hậu duệ của họ lại không hề nói đến Hà Đồ trong suốt từ Tiên Tần đến Tống? Khi mà cuốn Hoàng Đế nội kinh được công bố từ thời Tây Hán do Trương Ẩn Am?
Và v/d cũng không dừng lại ở đây!
Qua phần chứng minh ở trên; chúng ta cũng thấy rằng Hà Đồ đã được ứng dụng trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn Điều này cho thấy thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh; đã có từ rất lâu trong cổ học Đông phương và thể hiện sự nhất quán và hoàn chỉnh qua phương pháp luận của nó trong nội dung cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn.
Như vậy; cho dù cuốn sách này “xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến quốc” – như các nhà nghiên cứu quốc tế giả định thì thật là khó cho rằng:nền văn minh Hoa Hạ là chủ nhân sáng tạo của thuyết Âm Dương Ngũ Hành.
Điều rất đơn giản là:
Không hề có tính kế thừa học thuyết này trong lịch sử sáng tạo và phát triển của nó vốn được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ.
Đến đây; tôi xin được một lần nữa lưu ý quí vị quan tâm là:
Trên thực tế cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn không thể có chỗ đứng trong thời gian lịch sử của văn minh Hoa Hạ. Bởi vì, nó không thuộc về nền văn minh này. Nếu cho rằng sự sai lệch này là do thất truyền thì đó chỉ là một lý do khiên cưỡng và không hợp lý. Bởi vì; Hoàng Đế nội kinh không phải là bằng chứng duy nhất chứng minh cho giả thuyết trên. Dấu ấn cho sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Hà Đồ còn nằm trong một số sách mà chính các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại cho rằng:
“Thời tiên Tần có Hà Đồ, Lạc Thư hay không vẫn còn là một câu hỏi?”.
Để chứng minh điều này; xin quí vị quan tâm xem đoạn trích dẫn sau đầy:
Lã Thị Xuân Thu và dấu ấn của Hà Đồ
Trong các cổ thư chữ Hán được coi là tiên Tần – ngoài Hoàng Đế nội kinh tố vấn - dấu ấn của Hà đồ còn được ghi nhận ở Lã Thị Xuân thu, một tác phẩm được coi là của Lã Bất Vi viết vào thời kỳ đầu của đế chế Tần.
Lời giới thiệu trong sách Lã Thị Xuân thu do Phan Văn Các dịch - Nxb Văn Học & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản 1999, viết:
"Lã Bất Vi bèn sai các thực khách của mình viết ra những điều nghe biết, tập hợp lại làm thành "bát lãm" và "lục luận", "thập nhị kỷ" cộng hơn hai mươi vạn chữ, coi là có đủ "thiên địa vạn vật cổ kim chi sự", đặt tên là Lã Thị Xuân Thu, và "đặt ở cổng chợ Hàm Dương, treo ngàn lạng vàng trên đó, mời du sĩ tân khách chư hầu ai thêm bớt được một chữ thì thưởng ngàn lạng vàng"
"Hán thư nghệ văn chí” đã coi đó là tác phẩm tiêu biểu của "tạp gia", đánh giá rằng về học thuật, sách ấy "kiêm Nho Mặc, hợp Danh Pháp (gồm cả Nho gia lẫn Mặc gia, ghép cả Danh gia với Pháp gia)
Ở thời hiện đại, Hầu Ngoại Lư cho đó là khởi nguồn của Tạp gia, là sự nhào trộn "kiệm thính tạp học" không có tinh thần tinh thần sáng tạo. nhiều học giả chỉ thừa nhận giá trị sử liệu của nó mà thôi.
Nhưng nhà sử học Phùng Hữu Lan cho rằng: "Sách này không đặt tên Lã tử, mà đặt tên Lã Thị Xuân thu, hẳn là Văn Tín Hầu vốn đã coi sách của mình là sử. Sử Ký nói rằng: Lã Bất Vi coi sách của mình chứa đủ muôn vật trong trời đất cùng mọi việc xưa nay, đặt tên là Lã Thị Xuân thu cũng đã coi đó là sử. Tựa niên biểu mười hai chư hầu trong Sử ký đặt ngang hàng Lã Thị Xuân thu với Tả Thị Xuân thu và Ngu Thị Xuân thu, chứng tỏ Sử công cũng coi sách đó là sử rồi"
Trong nội dung của sách Lã Thị Xuân thu có nói đến sự vận hành có tính qui luật của thời tiết từng tháng trong năm và sự ứng sử của các bậc đế vương thuận theo tự nhiên để điều hành đất nước. Phần này được chia làm 12 kỷ. Đoạn trích dẫn dưới đây chứng tỏ điều này:
Mười hai kỷ sắp xếp theo trình tự bốn mùa, mỗi mùa có ba kỷ: Mạnh, Trọng, Quý. Kỷ thủ là nguyệt lệnh của tháng. Xuân chủ sinh, Hạ chủ trưởng, Thu chủ thu, Đông chủ tàng (*).
---------------------
* Chú thích trong sách đã dẫn: Thập nhị kỷ chính là thiên nguyệt lệnh trong sách Lễ ký, mười hai tháng sắp xếp làm mười hai thiên, sau mỗi thiên đều chen thêm bốn thiên khác. Bốn kỷ xuân hạ thu đông, xuân nói về sinh, hạ nói về trưởng, thu nói về thu (hoạch), đông nói về cất giấu. Bốn thiên phụ vào mỗi kỷ cũng đều phối hợp theo trình tự xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng mà trình bày các quan điểm về phép tồn sinh, thể thích mà tăng trưởng, vạn vật thu gom, chết đích đáng; chết có giá trị. bản mẫu của thiên đầu mỗi kỷ trong thập nhị kỷ và hạ tiểu chinh đều là sách nông lưu hành trong dân gian. Mạnh xuân là tháng đầu trong lịch nhà Hạ, tức tháng giêng. Đây là thiên Mạnh xuân, không phải Kỷ, các "Kỷ" ở sau đều như vậy.
Trong cuốn Lã Thị Xuân Thu, dấu ấn mang nội dung của Hà đồ thể hiện trong các đoạn tiêu biểu được trích dẫn sau đây:
Mạnh Xuân Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu xuân: mặt trời ở vị trí sao Doanh Thất. Buổi chiều hôm, sao Sâm ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vĩ ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Giáp Ất (phương Đông). Vị đế vương tương ứng với tháng này là Thái Cao thị (dựa vào Mộc đức mà xưng vương). Vị thần đối ứng tháng này là Mộc thần Câu Mang, động vật tiêu biểu của tháng này là loài có vảy; thanh âm tháng này lấy âm Giốc (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu, âm luật tháng này phù hợp với Thái Thốc (một trong lục luật).
Con số đối ứng với tháng này là số 8 (số của Thiếu Dương), vị đối ứng của tháng này là vị chua; mùi đối ứng với tháng này là mùi tanh.
Mạnh Hạ Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa hạ: mặt trời ở vị trí của sao Tất. Buổi chiều hôm sao Dực ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vụ Nữ ở phương Bính Đinh (phương Nam). Vị đế vương tương ứng tháng này là Viêm Đế (dựa vào Hỏa đức mà xưng vương). Vị thần đối ứng tháng này là Hỏa thần Chúc Dung. Động vật tiêu biểu tháng này là loài chim có lông vũ. Thanh âm tháng này lấy âm Chủy (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Trọng Lữ.
Con số đối ứng tháng này là số 7.
Đặc điểm của tháng này là lễ tiết. Sự việc tháng này là xem.
Mạnh Thu Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa thu: mặt trời ở vị trí của sao Dực. buổi chiều hôm sao Đẩu ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Canh Tân ( phương Tây). Vị đế vương ứng với tháng này là họ Thiếu Hạo (lấy đức Kim mà xưng vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Kim thần nhục thu (tên là Cai). Động vật tiêu biểu tháng này là loài thú có lông mao. Thanh âm tháng này lấy Thương làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Di Tắc (một trong lục luật).
Con số đối ứng tháng này là số 9(số của Thiếu Âm).
Vị tương ứng tháng này là vị cay. mùi tương ứng tháng này là mùi tanh. tế tự tháng này ở cửa.
Mạnh Đông Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa đông: mặt trời ở vị trí của sao Vĩ. Buổi chiều hôm sao Nguy ở phương chính Nam, buổi sáng sớm Thất tinh ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Nhâm Quý (phương Bắc). Vị đế vương ứng với tháng này là Chuyên Húc (lấy đức Thủy mà xưng vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Huyền Minh (thủy thần). Động vật tiêu biểu tháng này là loài giáp giới (đại biểu là rùa). Thanh âm tháng này là Vũ (một trong ngũ âm). Âm luật tháng này hợp với Ứng chung (một trong lục lã).
Con số của tháng này là số 6.
Vị tương ứng tháng này là vị mặn. Mùi tương ứng tháng này là mùi mục. Tháng này tế tự đất trong cửa. Lúc tế tự, trước phải dâng thận. Tháng này, nước bắt đầu đóng băng, đất bắt đầu đông giá. Gà rừng xuống nước biến thành con sò. Cầu vồng ẩn náu không xuất hiện. Tháng này thiên tử ở trong phòng đầu tây của nhà hướng Bắc, ngồi xe đen, thắng xe bằng ngựa đen, trên xe có cờ đen, mặc áo đen, đeo ngọc đen làm đồ trang sức. ăn kê nếp và thịt lợn. Đồ tế khí to mà chúm miệng.
Qua đoạn trích dẫn trên quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng:
Nếu chúng ta lấy độ số và hành của của 4 mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông - ứng với Mộc, Hoả, Kim, Thuỷ và liên hệ với Hà Đồ thì một lần nữa nó lại trùng khớp.
Tôi xin hân hạnh lưu ý một lần nữa để quí vị quan tâm là:
Với Lạc Thư thì không thể thực hiện được độ số trùng khớp với phương vị.
Như vậy; không chỉ Hoàng Đế mà ngay cả Lã Bất Vi (?) cũng đã sử dụng độ số của Hà Đồ???
Chưa hết! Thập nhị kỷ trong Lã Thị Xuân thu chính là thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký - cũng vốn được coi là của Khổng tử viết - tất yếu cũng có dấu ấn Hà Đồ. Tất cả những sách này đều thuộc về Tiên Tần (?!).
Nhưng cho đến ngày hôm nay:
Các học gỉa tầm cỡ quốc tế (Kể cả của ngay chính Trung Hoa) vẫn không thấy dấu ấn Hà Đồ trong cổ thư trước Tần??? Và chính Kinh Dịch - vốn được coi là của Khổng tử - lại là cuốn sách cổ nhất nói đến Hà Đồ (Hà xuất đồ/ Lạc xuất Thư)????
Nếu như trong sách Thượng Thư - thiên Cổ Mệnh chỉ nhắc đến Hà đồ được vẽ ở vách cung điện nhà Chu một cách mơ hồ, thì Hoàng Đế nội kinh & Lã Thị Xuân thu ghi lại những dấu ấn liên quan đến nội dung của nó.
Phần chứng minh trên đây đã chứng tỏ với quí vị rằng: Học thuyết quái khí ứng với 4 mùa được coi là của Kinh Phòng, Mạnh Hỉ phát minh vào đời Hán, thực chất chỉ là sự lặp lại và diễn đạt dưới một hình thức khác những phát kiến đã có từ trước đó.
Như vậy, cũng chứng tỏ Hà đồ - nguyên lý căn bản của Lý học phương Đông - đã được phát hiện từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông phương và đã được ứng dụng trên thực tế.
Điều này chứng tỏ không hề có tính kế thừa trong sự phát triển liên tục những giá trị của nền Lý học Phương Đông trong cổ thư chữ Hán.
Nếu cuốn Hoàng Đế nội kinh vấn có một xuất xứ mơ hồ, người ta có thể dựa vào cớ thất truyền để giải thích sự vắng mặt của Hà Đồ trải hàng ngàn năm - kể từ đời Hán đến Tống. Nhưng với Lã Thị Xuân thu là một tác phẩm được coi là của chính vị tể tướng đời Tần- mà khoảng cách thời gian không quá 14 năm cho sự bắt đầu của đời Hán - thì thật là một sự vô lý không thể lý giải nổi bằng tính thất truyền.
Tính thất truyền đó chỉ có thể lý giải từ văn minh Lạc Việt với hơn 1000 Hán hoá.
Như vậy, cả ba cuốn sách Hoàng đế nội kinh,Lã thị xuân thu & Lễ Ký đều mang dấu ấn của Hà đồ lưu truyền từ thời Hán cho đến Tống - là thời điểm Hà đồ được công bố. Nhưng trong cả ba cuốn sách nói trên không hề có sự liên hệ lý giải tính ứng dụng của Hà Đồ và cho đến ngày hôm nay Hà đồ vẫn còn là điều bí ẩn:
Từ lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà (?).
Điều này đã chứng tỏ rằng: Không hề có tính kế thừa là một điều kiện cần thiết để chứng tỏ tính phát triển liên tục của một nền văn minh. Nó cũng chứng tỏ tính công bố và phát hiện của các học giả thời Tống về đồ hình Hà Đồ, khi dấu ấn sự ứng dụng của Hà Đồ đã có ở những cổ thư trước Tần.
Về bản chất thực của Hà Đồ, người viết đã viết trong tiểu luận: Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt. Mục “Các môn học khác”. Chanthuyen.org. Hân hạnh được quí vị quan tâm tham khảo.
Trên đây là yếu tố quan trọng – nhưng không phải là duy nhất - để chứng tỏ rằng:
Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán ngay từ trạng thái khởi nguyên của nó.
Vấn đề còn ở chính sự nhất quán trong phương pháp luận của học thuyết này trong các môn bói toán cổ Đông phương mà chính ông Thiệu Vĩ Hoa đã nói tới.
Và mọi chuyện vẫn chưa kết thúc ở đây.
Như vậy; phần trên tôi đã minh chứng tính nhất quán và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành qua cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Từ đó chúng ta liên hệ với Kinh Dịch và dấu ấn Hà Đồ - với tư cách là đồ hình khởi nguyên của nó – thì chúng ta sẽ càng rõ hơn tính mâu thuẫn trong các nội dung liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành trong lịch sử của nền văn minh này. Chính tính mâu thuẫn và vô lý đó, là nguyên nhân để cho đến tận bây giờ - trải đã hàng thiên niên kỷ - Những hậu duệ của văn minh Hán và cả các nhà nghiên cứu quốc tế vẫn chưa biết gì về bản chất và sự ứng dụng thực tế của Hà Đồ.
Trong website nay có lẽ tất cả chúng ta đều biết đến Kinh Dịch là cuốn sách đầu tiên nói đến Hà đồ/ Lạc thư như một nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương. Và cũng chính cuốn Kinh Dịch – với vị trí kỳ vĩ của nó trong văn hoá Đông phương mà chỉ nói tới Âm Dương mà không nói tới Ngũ Hành – là một trong những nguyên nhân quan trọng để các nhà nghiên cứu tách thuyết Âm Dương ra khỏi Ngũ hành. Nhưng đấy chỉ là một cái nhìn rất máy móc và là một sai lầm.
Thực tế đã chứng tỏ rằng: Tất cả các phương pháp ứng dụng phổ biến (Phong thuỷ, Đông y, Tử Vi, Tứ trụ…) đều sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chính ông Thiệu Vĩ Hoa đã đặt v/d này (Đã trích dẫn). Nhưng họ không thể chứng minh được vì tính thiếu nhất quán, tính hoàn chỉnh và sự sai lệch đầy mâu thuẫn về nội dung trong các bản văn cổ chữ Hán. Điều thể hiện rõ nhất chính là sự đảo ngược trình tự thời gian xuất hiện của một học thuyết trong nội dung của các bản văn chữ Hán. Đấy chính là yếu tố quan trọng để chứng tỏ một sự phát triển liên tục và nhất quán của một học thuyết (Ở đây là thuyết Âm Dương Ngũ hành).
Nhưng nếu không người viết chưa đề cập và chứng minh được sự liên hệ giữa các ký hiệu của Chu Dịch với Ngũ Hành thì v/d đặt ra cho sự nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn chưa hoàn chỉnh.
Thực ra thì điều này, đã có ngay trong các bản văn dù rất - rất mơ hồ - đó chính là câu: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tắc chi” . Câu này tự thân đã nói đến nguyên lý căn bản của các ký hiệu Dịch (Bát quái) liên quan đến Đồ Thư. Hay nói một cách khác:
Bát quái có cơ sở là Ngũ hành vì dù là Hà Đồ hay Lạc Thư đều mang nội dung Ngũ hành.
Nhưng chính sự sai lệch trong các nhà trứ tác Hán nho thuộc văn minh Hoa Hạ trải hàng thiên niên kỷ đã khiến người ta không thể nào tìm thấy sự liên hệ này khi cho rằng:
“Tiên thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ “ và "Hậu thiên bát quái lên hệ với Lạc thư”
Xin lưu ý quí vị là:
Những ý tưởng này không có trong chính văn Kinh Dịch, mà do đời sau thêm vào để giải thích. Cũng như thuyết Vô Cực là do Chu Hy thêm vào từ đời Tống.
Buồn thay! Không ít các sách khi nói đến Dịch học hoặc thuyết Âm Dương Ngũ hành đều nhắc lại luận đề này của Chu Hy!? Nhưng nếu đã “Thái Cực sinh lưỡng nghi” lại còn “Thái Cực là Vô cực” thì tự nó đã lưỡng nghi rồi!)
Bởi vậy, phần tiếp theo đây người viết sẽ xin lý giải điều này.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp
HÀ ĐỒ VÀ CHU DỊCH
Thiên Sứ
17-07-2005, 01:29 AM
Thiên Sứ đã viết:
Để chứng minh điều này; xin quí vị quan tâm xem "đoạn trích dẫn" sau đầy:
Lã Thị Xuân Thu và dấu ấn của Hà Đồ
Nay xin được sửa lại là:
Để chứng minh điều này, xin quí vị quan tâm xem "tiếp phần" sau đây:
Lã Thị Xuân Thu và dấu ấn của Hà Đồ
Xin chân thành cáo lỗi.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vi.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
17-07-2005, 08:26 AM
HÀ ĐỒ VÀ CHU DỊCH
Tiếp theo
“Thời tiên Tần có Hà Đồ, Lạc Thư hay không vẫn còn là một câu hỏi?”.
Bí ẩn của bát quái
Trong Chu Dịch, Hà đồ chỉ xuất hiện một cách rất mơ hồ; có vẻ như thoáng qua trong một câu của Hệ từ:
“Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tắc chi”.
Từ khi Nho học trở thành phổ biến trong văn minh Hoa Hạ thì - trong các bản văn chữ Hán - Hà đồ cũng chẳng liên quan gì đến Chu Dịch. Hàng ngàn năm nay, cũng theo sách cổ chữ Hán thì Hà Đồ không hề thấy có chỗ đứng trong các phương pháp ứng dụng của thuật số Đông phương. Cho đến tận bây giờ Hà đồ cũng có vẻ chỉ liên quan đến Hy Dịch:
“Phục Hy tắc Hà đồ hoạch quái”.
Nhưng sự liên quan này cũng chỉ mang tính biểu tượng và không có ứng dụng trên thực tế dù bạn xem bất cứ một cuốn sách nào.
Còn Chu Dịch (Vốn được hiểu theo nghĩa Dịch của nhà Chu) thì liên quan đến Lạc Thư, tất cả chúng ta đều biết điều này. Nhưng ở đây tôi xin được đặc biêt lưu ý quí vị quan tâm là:
Những ý tưởng trên (Lạc thư phối Hậu thiên;Hà Đồ phối Tiên thiên) đều không có trong chính văn của Kinh Dịch (Soán; Hào từ và thập Dưc). Hà Đồ được các nhà nghiên cứu từ đời Hán trở về sau giải thích chỉ như với tư cách minh hoạ cho lịch sử kinh Dịch từ thời Phục Hy và chẳng ai biết mặt mũi nó ra sao cho đến đời Tống. Trong tất cả các phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương đều không thấy bóng dáng của Hà Đồ.
Trước thời Tống người ta cũng không thể biết các phong thuỷ gia tài ba của văn minh Hoa Hạ, họ sử dụng phi tinh huyền không như thế nào khi mà chẳng có cả Hà Đồ lẫn Lạc thư?
Vậy mà vẫn tạo ra những tài danh như Cao Biền ….
Khổng Minh, Quản lộ vẫn xem bói giỏi như thần, mà cũng không cần đến hai đồ hình này?
Bởi vậy – không phải ngẫu nhiên - người viết mới đặt vấn đề về sự bất hợp lý khi tính ứng dụng lại có trước nguyên lý khi hình thành một học thuyết trong lịch sử Lý học Đông phương từ cổ thư chữ Hán, từ sự thất truyền của Hà Lạc.
Qua đó cũng chứng tỏ: Tất cả những phương pháp dự báo của cổ học Đông phương – mà chúng ta đang dùng hiện nay - chỉ là những phần qui tắc ứng dụng. Không phải là những nguyên lý và một hệ thống lý thuyết căn bản.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Nhưng như phần trình bày với quí vị ở trên, đã chứng tỏ:
# Hà Đồ chính là đồ hình biểu kiến cho – nói theo ngôn ngữ hiện đại - những hiệu ứng vũ trụ của Ngũ Tinh – Kim , Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ - tương tác với Địa Cầu. Điều này đã được Chính Ấn và Thiên sứ tôi kiểm chứng trên thực tế và trình thiên văn hiện đại.
# Hà Đồ đã được ứng dụng trong Đông y trong Hoàng Đế nội kinh; Lý giải sự vận động của 4 mùa trong Lã Thị Xuân thu và…ngay trong chiếc La Kinh của các Phong thuỷ gia. Các bạn hãy xét kỹ: Đó chính là chiều vận động Ngũ hành tương sinh của Hà Đồ.
(Xin tham khảo thêm: Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt. Mục “Các môn học khác”. Chanthuyen.org).
Hay tường theo một lẽ khác :
Hà đồ chính là đồ hình biểu kiến có tính nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện sự tương tác của các hiệu ứng vũ trụ liên quan đến Địa Cầu.
Bởi vậy -
- thật sự là vô lý khi Hà đồ liên quan đến con người trong Hoàng Đế nội kinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người từng ngày, thậm chí từng giờ và cả thời tiết trên trái Đất; nhưng Lạc thư lại liên hệ với Hậu thiên bát quái trong các chu kỳ vận động của con người trong dự đoán học?
Trong khi đó: Hậu thiên bát quái lại chứng tỏ tính ứng dụng tuyệt vời của nó đối với từng hành vi của con người và xã hội. Tất nhiên - về mặt lý thuyết – chúng phải có một sự liên quan với nhau thông qua chính thực tế ứng dụng.
Từng bước một, tôi xin chứng minh sự liên hệ rất căn để này của lý học Đông phương. Trên cơ sở: Hà Đồ là sự tương tác của Ngũ tinh với Địa cầu, chúng ta hãy quán xét đồ hình sau:
Đồ hình miêu tả sự liên quan giữa Địa Cầu và Hà Đồ
http://viettop.net/bobeo/nltv1.jpg
Từ đồ hình trên, được thể hiện bằng hình vành khăn và chia làm 8 cung tương ứng với Ngũ hành và trung cung thuộc thổ quí vị quan tâm cũng thấy rằng:
1)Truc Địa cầu = Bắc - Nạm chính là đường phân giác biểu kiến của hai phương Bắc/Nam(45 độ /2 = 22 độ 5 . Đó chính là trục biểu kiến cho độ nghiêng của trục Địa cầu là 21 độ 5).
2) Mặt phẳng Hoàng Đạo biểu kiến của trái Đất chia Hà Đồ thành hai phần: Trên/dưới.
* Phần trên của Địa cầu là Dương (theo nguyên Lý Dương trên; Âm Dưới). Do đó, phần Dương trên thực tế Địa cầu là phần Âm về Lý của Hà Đồ. Bởi vậy cổ nhân dùng độ số Âm 6/8 cho hai hành thuộc Âm là Thuỷ/ Mộc ở phía trên Hà Đồ (Đã trích dẫn ở trên). Hai ô màu đen - Âm cho hình minh hoạ ở trên.
* Phần dưới của Địa cầu là Âm là phần Dương về Lý của Hà Đồ. Bởi vậy cổ nhân dùng độ số Dưong cho hai hành Kim/ Hoả. Hai ô màu đỏ - Dương cho hình minh hoạ ở trên.
Như vậy; đồ hình trên chính là sự liên quan hợp lý về phương vị; hành và các v/đề liên quan trong thuyết Âm Dương Ngũ hành qua Hà đồ với Địa cầu.
Bây giờ, chúng ta đặt Hậu thiên bát quái liên hệ với 8 cung của Hà Đồ phối Địa Cầu ở trên. Căn cứ vào sự định vị của tứ chính quái là:
Khảm Bắc – Ly Nam - Chấn Đông – Đoài Tây thì chúng hoàn toàn trùng khớp về phương vị và quái khí liên quan đến phương vị Hà đồ/ Địa cầu. Xin xem hình dưới đây:
Sự liên hệ Hà Đồ với Hậu thiên
http://viettop.net/bobeo/nltv.jpg
Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua đồ hình trên, quí vị cũng nhận thấy sự trùng khớp hoàn toàn giữa Tứ chính quái và thuộc tính ngũ hành - kể cả phương vị - của nó với Hà Đồ.
Như vậy- Với sự xuất hiện của Hà Đồ là nguyên lý căn để của Kinh Dịch qua câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi” và sự trùng khớp hoàn toàn của Hậu thiên bát quái với Hà Đồ về nhiều mặt (Về vị trí Tốn Khôn xin quí vị quan tâm tham khảo thêm trong: Hà Đồ và văn minh Lạc Việt. Đã dẫn) - Điều này đã chứng tỏ chúng xuất phát từ một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh. Thuộc tính Ngũ hành trên Hà Đồ và thuộc tính của tứ chính quái trong Hậu thiên hoàn toàn trùng khớp đã chứng tỏ:
Hậu thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ là nguyên lý căn để cho tất cả mọi phương pháp ứng dụng theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Những ký hiệu của Kinh Dịch (Tiên thiên và Hậu thiên bát quái) một thời bí ẩn kỳ vĩ từ hàng ngàn năm qua - Chính là ký hiệu siêu công thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành và chúng là một học thuyết hoàn chỉnh, nhất quán. Không hề có Âm Dương trong Dịch kinh và Ngũ hành trong Hồng Phạm. Tất nhiên chúng cũng chẳng cần “Từng bước hoà nhập vào thời Hán”.
Qua những v/d chứng minh ở trên cho chúng ta cơ sở hợp lý của môt giả thuyết đáp ứng đầy đủ những tiêu chí khoa học hiện đại là:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh.
Tiên thiên và Hậu thiên bát quái chính là ký hiệu siêu công thức của học thuyết này.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành có đầy đủ những tiêu chí của một lý thuyết khoa học và của một lý thuyết thống nhất vũ trụ.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Nhưng ngay cả việc giả thuyết đã chứng minh ở trên - được cho là đúng vì sự hợp lý và phù hợp với những tiêu chí cho một lý thuyêt khoa học - thì:
@ Đây cũng mới chỉ là sự khởi đầu cho những công trình nghiên cứu tiếp nối sẽ vô cùng đồ sộ để tiến tới sự hoàn chỉnh - như trên thực tế nó đã chứng tỏ qua các phương pháp ứng dụng tiên tri của nó.Hay diễn tả một cách hình ảnh: Người viết mới chỉ miêu tả được cái chóp trong phần nổi của tảng băng chìm vô cùng đồ sộ.
@ Đó chính là khả năng lý giải một cách hoàn hảo có tính tiên tri cho mọi hành vi của con người và những vấn đề liên quan (Vốn xảy ra hàng giờ ngay trong website này). Đây cũng là một thực tại tiên tri mà chưa có một lý thuyết khoa học nào được coi là tiên tiến nhất của nền khoa học hiện đại có khả năng đáp ứng được điều này. Họ mới chỉ mơ ước và chắc chắn còn trong một giấc ngủ dài.
Để chia sẻ ý niệm này; chúng ta cùng quán xét v/d sau đây:
Kể từ khi Galile phát hiện ra trái Đất quay – là nguyên lý đầu tiên của nền khoa học hiện đại - cho đến khi chúng ta dùng được những điện thoại di động bởi những vệ tinh địa tĩnh bay quanh trái Đất thì gần nửa thiên niên kỷ đã trôi qua với sự phát triển phối hợp của nhiều ngành khoa học. Thực tế này sẽ cho chúng ta thấy rằng: Từ một siêu công thức Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ cho đến việc giải thích một quẻ bói ứng dụng tìm việc làm; hoặc tình duyên cho một con người - vượt ngoài mọi khả năng tiên tri của tất cả các lý thuyết khoa học hiện đại nhất hiện nay - thì còn cần một hệ luận bổ sung lớn như thế nào!
Đến đây – qua phần minh chứng ở trên về sự hoàn chỉnh và nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành - chúng ta mới có cơ sở để bàn tiếp về một lý thuyết thống nhất vũ trụ với thuyết Âm Dương Ngũ hành là ứng cử viên với tư cách là một lý thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, đáp ứng đầy đủ những yếu tố căn bản của một lý thuyết khoa học. Tất nhiên nó nhân danh văn minh Lạc Việt.
Điều này xin được bàn tiếp trong các bài viết sau đây.
Xin cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự khởi nguyên của vũ tru.
Hay
Sai lầm của Bicbang
Thiên Sứ
17-07-2005, 02:09 PM
THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ SỰ KHỞI NGUYÊN CỦA VŨ TRỤ
Hay
Sai lầm của thuyết Bicbang
Kính thưa quí vị quan tâm.
Chân lý chỉ có một. Do đó, nếu thuyết Âm Dương Ngũ hành là Lý thuyết thống nhất vũ trụ thì - Hoặc là nó phải dung nạp được các lý thuyết khác; hoặc là các lý thuyết khác sai. Do đó, những hiện tượng đã được kiểm chứng bằng khoa học thưc nghiêm cho sự khởi nguyên của vũ trụ của thuyết Bicbang sẽ được lý giải theo một nguyên nhân khác từ thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chúng ta bắt đầu từ vấn đề:
SAI LẦM CỦA THUYẾT BICBANG
Sự khởi nguyên của vũ trụ cho đến ngày nay, đối với khoa học hiện đại mới chỉ là những giả thuyết khoa học chưa hoàn chỉnh. Kể cả thuyết Bigbang - một giả thuyết về sự hình thành vũ trụ được coi là có khả năng lý giải khá nhiều hiện tượng vũ trụ hiện nay. Nhưng các nhà khoa học hàng đầu cũng phải thừa nhận những lỗ hổng mà thuyết Bigbang không thể lý giải được. Mặc dù người ta đã chứng minh được sự tồn tại của những bức xạ hóa thạch, như là một sự biện minh bởi tính tiên tri cho một thực tiễn sẽ xảy ra của học thuyết này (Nhưng, hiện tượng này vẫn có thể được giải thích bằng một lý thuyết khác về sự hình thành vũ trụ. Xin chứng minh sau). Một thí dụ cho sự khiếm khuyết của thuyết này là:
"Giây 0 trước Bigbang" vũ trụ đã tồn tại như thế nào? Vũ trụ đang giãn nở hay co rút?
Trong cuốn "Trò truyện với Trịnh Xuân Thuận" (Hay "Cuộc trò truyện của Trịnh Xuân Thuận với nhà báo Jacques Vauthier"). Phạm Văn Thiều dịch. Tạp chí Tia Sáng& Nxb Trẻ 7/2001.
Ông Trịnh Xuân Thuận thừa nhận:
"Nhưng cần phải thấy rằng:
Vật lý học mà chúng ta đã biết không thể lần ngược theo thời gian tới tận điểm zêzô. Nó không còn dùng được nữa ở 10 luỹ thừa -43 giây, một thời gian ngắn không thể tưởng tượng nổi (số khác không đầu tiên đứng ở vị trí thứ 43 sau dấu thập phân) và xác định bức tường "tăm tối" mà tôi đã nói ở trên. Sau bức tường đó, vũ trụ có thể có tới 10, thậm chí 26 chiều thay cho 3 chiều không gian và một chiều thời gian của vũ trụ hôm nay. Người ta thậm chí không thể nói về ngọn sóng thời gian nữa. Quá khứ, hiện tại, tương lai hoàn toàn mất ý nghĩa".(*)
--------------------
* Chú thích: Sách đã dẫn. Trang 168.
Sự khiếm khuyết của thuyết Bicbang còn được chứng tỏ qua đoạn trích dẫn sau đây từ cuốn "Lược sử thời gian".
"Nhưng vào năm 1929, Edwin Hubble đã thực hiện một quan sát có tính chất là một cột mốc, cho thấy dù bạn nhìn ở đâu thì những thiên hà xa xôi cũng đang chuyển động rất nhanh ra xa chúng ta.
Nói một cách khác, vũ trụ đang giãn nở ra.
Điều này có nghĩa là ở những thời gian trước kia các vật gần nhau hơn. Thực tế, dường như có một thời, mười hoặc hai mươi ngàn triệu năm về trước,
tất cả chúng đều chính xác ở cùng một chỗ và do đó mật độ vũ trụ khi đó là vô hạn.
Phát minh này cuối cùng đã đưa câu hỏi về sự bắt đầu của vũ trụ vào địa hạt khoa học.
Nhưng quan sát của Hubble gợi ý rằng có một thời điểm, được gọi là vụ nổ lớn, tại đó vũ trụ vô cùng nhỏ và vô cùng đặc (mật độ vô hạn). Dưới những điều kiện như vậy, tất cả các định luật khoa học và do đó mọi khả năng tiên đoán về tương lai đều không dùng được.
Nếu có những sự kiện ở trước thời điểm đó thì chúng không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra ở hiện tại.
Do đó sự tồn tại của chúng có thể bỏ qua, bởi vì nó không có những hậu quả quan sát được. Người ta có thể nói rằng thời gian có điểm bắt đầu ở vụ nổ lớn, theo nghĩa là những thời điểm trước đó không xác định được.Cũng cần nhấn mạnh rằng sự bắt đầu này của thời gian rất khác với những sự bắt đầu đã được xem xét trước đó. Trong vũ trụ tĩnh không thay đổi, sự bắt đầu của thời gian là cái gì đó được áp đặt bởi một Đấng ở ngoài vũ trụ, chứ không có một yếu tố vật lý nào cho sự bắt đầu đó cả.
Người ta có thể tưởng tượng Chúa tạo ra thế giới ở bất kỳ một thời điểm nào trong quá khứ.
Trái lại, nếu vũ trụ giãn nở thì có những nguyên nhân vật lý để cần phải có sự bắt đầu. Người ta vẫn còn có thể tưởng tượng ra Chúa đã tạo ra thế giới ở đúng thời điểm vụ nổ lớn, nhưng sẽ là vô nghĩa nếu vũ trụ được tạo ra trước vụ nổ lớn. Một vũ trụ giãn nở không loại trừ Đấng Sáng tạo, nhưng nó đặt ra những hạn chế khi Người cần thực hiện công việc của mình"(*).
---------------
* Chú thích: Sách đã dẫn. Trang 27 - 28
Như vậy, qua đoạn trích dẫn trên thì với giả thiết về Bicbang (Vụ nổ lớn), mặc dù hạn chế được phần nào quyền năng của Thượng Đế, nhưng vẫn không phủ nhận được sự hiện hữu của Ngài. Do đó, định mệnh vẫn phải bắt đầu từ Thượng Đế. Vậy, phải chăng những lời tiên tri dù theo phương pháp nào, cũng là sự đoán trước ý muốn của Thượng Đế? Nếu đây được coi là điều vô lý thì chỉ có thể giải thích:
1) Hoặc là:
Bằng sự chưa hoàn chỉnh của thuyết Bicbang. Như vậy, tất cả những hiện tượng quan sát được liên quan đến thuyết Bicbang phải được giải thích bằng một nguyên nhân khác.
2) Hoặc là:
Tất cả các phương pháp tiên tri của chúng ta có xuất xứ từ văn minh Đông phương sẽ thuộc về đặc ân của Thượng Đế. Mặc dù ngay cả trong chuyện cổ tích của nền văn minh Đông phương này, cũng không hề nói đến sự sáng tạo vũ trụ là do Thương Đế.
Khả năng này loại trừ và đã chứng minh ở các phần trên.
Đây cũng là nguyên nhân mà người viết tiểu luận này phải đề cập tới sự khởi nguyên của vũ trụ khi lý giải vấn đề "Định mệnh có thật hay không?" . Một câu hỏi mà cả Thượng Đế và khoa học đều có trách nhiệm trả lời.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy, chủ đề vẫn có thể tiếp tục nếu điều kiện thứ nhất được thực hiện và là sự tiếp tục phải minh chứng, chứ không đơn giản chỉ là lựa chọn.
Bởi vậy:
“Sự chưa hoàn chỉnh của thuyết Bicbang với tất cả những hiện tượng quan sát được liên quan đến thuyết Bicbang phải được giải thích một cách hợp lý từ một nguyên nhân khác”.
Chúng ta bắt đầu quán xét những v/d liên quan đến học thuyết này:
Thuyết Bicbang và vũ trụ giãn nở - Nhận thức và hiện tượng
Qua đoạn trích dẫn ở trên cho thấy:
Thuyết Bicbang đã bắt đầu từ nhận thức hiện tượng:
"Cho dù bạn nhìn ở đâu thì những thiên hà xa xôi cũng đang chuyển động rất nhanh ra xa chúng ta".
Nhưng từ nhận thức hiện tượng liên hệ đến một suy lý được diễn đạt:
"Nói một cách khác, vũ trụ đang dãn nở ra. Điều này có nghĩa là ở những thời gian trước kia, các vật ở gần nhau hơn".
Đến đây đã xuất hiện yếu tố suy luận chủ quan. Từ sự chủ quan này cuối cùng đã dẫn đến sự hình thành thuyết Bicbang. Thực chất học thuyết này là sự lý giải cho một hệ quả suy luận:
"Tất cả chúng đều chính xác ở cùng một chỗ và do đó mật độ vũ trụ khi đó là vô hạn".
Kết quả của sự suy luận chủ quan này - về mặt lý thuyết - đã dẫn đến sự lý giải mâu thuẫn ngay trong nguyên lý của nó. Đó là:
Không thể có cái vô hạn trong sự hữu hạn.
Chỉ có thể có cái hữu hạn trong cái vô hạn.
Sự hữu hạn này chính là ở khái niệm vật chất cô đặc trước Bicbang.
Nhưng ở đấy lại là sự cô đặc của vật chất hữu hạn - trong đó không có không gian và thời gian.
Hay nói theo cách khác:
Nếu vật chất ở thời điểm “Giây O trước Bicbang” là vô hạn thì tự nó đã phủ nhận tính cô đặc của vật chất.
Đó là sự vô hạn của vũ trụ được khởi nguồn từ cái hữu hạn và là sự không hợp lý - một yếu tố cần của tiêu chí khoa học.
Với một sự hữu hạn ban đầu thì kết quả tất nhiên phải là một sự hữu hạn trong không gian dãn nở của vũ trụ. Tính hợp lý tất yếu - của hệ quả suy luận phi lý này - chính là thuyết vũ trụ phải co lại. Bởi vì sự hữu hạn của vật chất cô đặc hay của một cái có sự bắt đầu thì không thể phóng ra mãi trong một không gian vô hạn. Nhưng đây chỉ là tính hợp lý hình thức tương tự như có sự tồn tại một Thiên đường thì tính hợp lý tất yếu là phải có Địa ngục; mặc dù cả hai đều không có thật.
Nhưng học thuyết này đã dựa trên một thực tế được nhìn thấy (Các thiên hà chuyển động ngày càng xa nhau) và lý giải một số hiện tượng liên quan, mà đặc biệt là sự phát hiện những tàn dư của bức xạ vũ trụ được tạo ra sau Bicbang. Nên nó đã được hầu hết các nhà khoa học trên thế giới công nhận. Nhưng chính vì bắt đầu từ tính chủ quan của sự suy luận qua nhận thức hiện tượng, nên cuối cùng nó đã là một trong những nguyên nhân quan trọng để dẫn đến sự bế tắc của khoa học hiện đại. Sự xuất hiện tác phẩm "Thượng Đế và Khoa học" là một hiện tượng chứng tỏ điều này.
Lý thuyết về vụ nổ lớn sẽ không thể giải thích được một số những hiện tượng được trình bày sau đây:
* Với một sự tưởng tượng phong phú nhất, người ta sẽ không thể giải thích được chuyển động cong của các vật thể từ vi mô đến vĩ mô trong vũ trụ bằng thuyết Bicbang?
* Thuyết Bicbang thừa nhận sự tồn tại của những hạt cơ bản trong giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ là một thực tế. Nhưng người ta không thể giải thích được - từ một tâm điểm duy nhất bùng nổ trong một không gian đa chiều - làm thế nào vật chất lại có thể kết hợp với nhau để vũ trụ có một cấu trúc như hiện nay. Hay nói một cách khác: Người ta sẽ không thể cân đối được một năng luợng khổng lồ - tạo ra một nội lực làm vật chất bùng vỡ đến mức độ tan vụn thành dạng hạt và sự tương tác kết hợp các hạt đó với nhau để tạo thành các sao; hành tinh và các Thiên Hà?
* Với sự bắt đầu từ một tâm duy nhất bùng nổ - khiến vật chất bắn vào không gian và tạo nên vũ trụ tiếp tục chuyển động ra xa nhau như hiện nay - thì về lý thuyết sẽ không thể có sự nhận thức quá khứ - khi tất cả mọi sự vận đông của vật chất từ vi mô đến vĩ mô đều chỉ vận động về phía trước; trong khi đây là một thực tế đang hiện hữu mà chúng ta quen gọi là kỷ niệm; trí nhớ… Và những vấn đề nhân quả.
* Khi đã có sự hiện hữu của vật chất ở giai đoạn trước Bicbang (vật chất cô đặc) thì khoảng không vũ trụ do cái gì tạo ra và có hay không có giới hạn ở khoảng không này? ..vv
* Cái gì tạo ra sự hiểu biết của chúng ta nếu thế giới này xuất phát từ một vụ nổ của vật chất cô đặc?
Do đó, với một lý thuyết thống nhất tất cả các định luật vũ trụ thì về nguyên tắc nó phải giải thích được tất cả những hiện tượng đã quan sát được và có khả năng tiếp tục phát triển để có thể lý giải được một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng liên quan đến nó. Tất nhiên nó phải có khả năng tiên tri cũng như giải thích được tính nhận thức quá khứ là một thực tế đang hiện hữu.
Do đó, nếu thuyết Bic bang chưa phải là một học thuyết hoàn chỉnh, nhưng phản ánh đúng thực tế thì nó phải chứng tỏ được sự tiếp tục hoàn chỉnh và phát triển trong việc giải thích những vấn đề liên quan để chứng tỏ tính khách quan và tính chân lý của nó.
Đằng này nó lại dẫn tới sự bế tắc trong việc giải thích những hiện tượng rất cơ bản của vũ trụ. Bởi vậy, hoàn toàn có cơ sở khi đặt vấn đề về sự sai lầm của học thuyết này trong việc giải thích vũ trụ và điều này được tiếp tục chứng minh sau đây.
Như vậy, cũng với tất cả những hiện tượng quan sát được (các Thiên Hà ngày càng chạy xa nhau với tốc độ ngày càng lớn), hoặc chứng nghiệm được (thí dụ như hiện tượng bức xạ hoá thạch chẳng hạn), cũng như những vấn đề đã đặt ra cần phải được giải thích bằng một nguyên nhân khác. Hay nói một cách khác: nó phải được giải thích bằng một lý thuyết vũ trụ khác.
Sai lầm của thuyết Bicbang còn thể hiện ỏ chỗ:
S.W Hawking đã viết:
“Nếu có những sự kiện ở trước thời điểm đó thì chúng không thể ảnh hưởng tới những cái đang xảy ra ở hiện tại”.
Đúng như vậy! Nhưng chỉ đúng với thuyết Bicbang. Khi nó đặt “Cái vô hạn trong cái hữu hạn”. Nếu điều này đúng (Tất nhiên là không) thì về lý thuyết chúng ta sẽ phải đặt ra vấn đề:
Vậy thì bắt đầu từ lúc nào sự vận động trong quá khứ sẽ có ảnh hưởng đến hiện tại và tương lai? Hay nói một cách khác: Thuyết Bicbang sẽ bác bỏ qui luật nhân quả!
Bởi vậy, mặc dù vẫn cảm thấy có một cái gì đó chưa ổn; nhưng người ta vẫn phải tạm công nhận thuyết Bicbang như là một sự giải thích hợp lý . Để rồi cuối cùng thì những nhà khoa học phải ngậm ngùi nhìn Thương Đế ngự trị ở giây O trước Bicbang. Và một hệ quả tất yếu đã xảy ra và là sự sai lầm trong lý thuyết khoa học cuối thiên niên kỷ thứ II:
Cuốn “Thương Đế và Khoa học” có nội dung chứng minh rằng:
Chính Thượng Đế đã tạo ra sự khởi nguyên của vũ trụ và các định luật khoa học là ý muốn của Ngài. Với điều này thì vấn đề “Định mệnh có thật hay không?” sẽ chấm dứt tại đây và chúng ta sẽ dâng số phận của mình cho Thượng đế.
Nhưng vấn đề lại không quá đơn giản như vậy. Bởi vì, trong cuốn “Thương Đế và khoa học” cũng chưa chứng minh được điều này và đó cũng chỉ là một giả thuyết.
Điều này sẽ được tiếp tục minh chứng trong bài viết sau đây.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
THƯỢNG ĐẾ VÀ KHOA HỌC
Thiên Sứ
17-07-2005, 05:14 PM
THƯỢNG ĐẾ VÀ KHOA HỌC
Sự sai lầm trong lý giải hiện tượng
"Toàn bộ vũ trụ được chứa trong một hạt cát. Bởi vì sự giải thích những sự kiện dù đơn giản nhất cũng phải viện đến toàn bộ lịch sử vũ trụ.."
Trịnh Xuân Thuận
Kính thưa quí vị quan tâm.
Như người viết đã hân hạnh trình bày:
Chính vì thuyết Bicbang đã sai lầm về mặt lý thuyết khi cho rằng: Một cái hữu hạn (Vật chất cô đặc trước Bicbang) là nguyên nhân của cái vô hạn (Vũ trụ hiện nay), nên họ đã lúng túng không thể giải thích được những hiện tượng liên quan. Bởi vậy, Thượng Đế (Tính tuyệt đối) phải xuất hiện như một cứu cánh. Những người đặt v/d này trong “Thượng Đế và Khoa học” là những nhà khoa học tên tuổi:
Jean Guiton - Viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp; Grichka Bogdanop & Igor Bogdanov - Tiến sĩ vật lý thiên văn và vật lý lý thuyết.
May mắn thay! Lập luận của họ khiên cưỡng và không đủ sức thuyết phục. Nếu không “Định mệnh sẽ thuộc về quyền năng của Thượng Đế”.
Bởi vây; phần tiếp theo đây, chúng ta quán xét sự giải thích khởi nguyên của vũ trụ và vai trò của Thương Đế, trước khi thuyết Âm Dương Ngũ hành nhập cuộc trong cuốn "Thượng Đế và Khoa học".
THƯỢNG ĐẾ VÀ KHOA HỌC(*)
Sự sai lầm trong lý giải hiện tượng
---------------
* Chú thích: Sách đã dẫn. Nxb Grasset. Paris. Tác giả Jean Guitton viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Grichka Bognov. Igor Bogdanov Tiến sĩ Vật lý thiên văn &Vật lý lý thuyết. Bản dịch của Lê Diên. Nxb Đà Nẵng 2/ 2002.
Ngay từ lời giới thiệu của cuốn sách - được viết rất xuất sắc về mặt văn chương - đã tóm lược và nêu bật chủ đề cũng như nội dung của cuốn sách trong một trang rất ngắn. Bạn đọc có thể xem toàn bộ lời giới thiệu của nhà xuất bản Grasset được trích dẫn sau đây:
"Vào cuối thế kỷ XX này, người ta có quyền nghĩ tới cả Thượng Đế lẫn khoa học không? Có quyền vượt qua cuộc xung đột cũ kỹ giữa người mang đức tin - mà đối với anh ta, Thương Đế không thể chứng minh, cũng không thể tính toán được - và nhà bác học mà đối với anh ta Thượng Đế thậm chí cũng không phải là một giả thuyết nghiên cứu? Nói cho cùng, đó chính là mục tiêu giải quyết của cuốn sách này. Cuốn sách bàn tới một điều hiển nhiên: Ngày nay khoa học đặt ra những câu hỏi mà cho tới tận gần đây chỉ thuộc về thần học và siêu hình học. Vũ trụ từ đâu tới? Cái hiện thực là gì? Quan hệ giữa ý thức và vật chất là thế nào? Tại sao có một cái gì đó còn hơn không có gì hết? Mọi cái đang diễn ra như thể tính phi vật chất của siêu việt trở thành đối tượng có thể có của vật lý. Như thể những điều huyền bí của tự nhiên cũng thuộc về đức tin.
Jean Guitton, Igo và Grichka Bogdanov muốn biến cuộc xung đột cũ giữa người mang đức tin và nhà bác học thành một cuộc tranh luận chủ yếu. Qua sự trao đổi những luận cứ, những câu hỏi và trả lời giữa họ với nhau, chính là vấn đề con người và vị trí của nó trong vũ trụ được đặt ra ở đây.
Jean Guitton, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp, học trò của Bergson và là người thừa kế cuối cùng tư tưởng của Bergson, là một trong những nhà triết học Cơ Đốc giáo xuất xắc nhất hiện nay.
Igor và Grichka Bogdanov, cả hai đều là tiến sĩ vật lý thiên văn và vật lý lý thuyết, là những học trò cũ của Roladn Barthes ở Ecol Pratique des Hautes Etudes (Trường Cao Đẳng thực hành)".
Toàn bộ cuốn sách - đúng như lời giới thiệu đã viết - những luận cứ của nó dẫn đến sự hiện hữu của Thượng Đế trong việc tạo ra vũ trụ và những định luật khoa học hoặc những hiện tượng vật lý dường như là vận động theo ý muốn của Ngài. Nhưng những lập luận - nhằm chứng tỏ sự hiện hữu của Thượng Đế trong vai trò của Ngài ở trạng thái khởi nguyên của vũ trụ - không phải là một hệ luận hợp lý trong việc lý giải các hiện tượng và vấn đề liên quan giữa Thượng Đế và khoa học. Nói cho đúng hơn, cuốn sách này chỉ chứng tỏ sự bất lực của nền khoa học hiện đại trong việc giải thích trạng thái khởi nguyên của vũ trụ. Vì lẽ đó, nên Thượng Đế đã tiếp quản cái khoảng trống của tri thứo con người. Nếu những lập luận trong cuốn "Thương đế và khoa học" chặt chẽ và hợp lý - trong sự liên hệ giữa quyền năng của Thượng Đế và khoa học - thì sự khẳng định cho tính phi Định mệnh đã có thể bắt đầu và nhân danh Thượng Đế. Đương nhiên trong trường hợp này (Sự hoà nhập giữa Thượng Đế và khoa học) thì mọi phương pháp bói toán hoặc sẽ là đều không thể có cơ sở khoa học và là mê tín dị đoan; hoặc đó là sự lý giải những ý muốn của Thượng Đế. Tệ hơn nữa, tất cả các định luật khoa học và cái gọi là "tinh thần khoa học" sẽ chỉ có nghĩa là không sợ ma vì tin vào Thượng Đế.
Nhưng vấn đề lại không đơn giản như vậy. Với chủ đề của chính cuốn sách và cũng là mục tiêu của các tác giả vẫn không thành công, khi tìm sự hoà nhập giữa Thượng Đế và Khoa học. Chính từ sự không hoà nhập đó, kết luận của cuốn sách phải là: Có còn hơn không - Thượng Đế hay là sự bế tắc của tri thức khoa học. Bạn đọc có thể nhận thấy nội dung của cuốn sách nói về sự liên hệ giữa những học thuyết khoa học hiện đại và sự lý giải sự hình thành vũ trụ nhân danh Thượng Đế qua những đoạn trích dẫn sau đây:
GB (Grichka Bogdanov/ Thiên Sứ):
Lần này, chúng ta phải đi ngược lên càng xa càng hay, cho đến khi chính bản thân vũ trụ được sáng tạo ra. Chúng ta đi ngược lên quá khứ tới 15 tỷ năm. Cái gì đã xảy ra hồi đó? Vật lý hiện đại nói với chúng ta rằng: Vũ trụ được sinh ra từ một vụ nổ khổng lồ, nó gây ra sự nở rộng của vật chất còn thấy được ngày nay. Chẳng hạn với các Thiên hà - những đám mây gồm hàng trăm tỷ ngôi sao - rời xa nhau dưới sức đẩy của vụ nổ đầu tiên ấy.
JG (Jean Guitton/ Thiên Sứ): Chỉ cần đo tốc độ rời xa nhau của những Thiên hà này cũng suy ra được thời điểm ban đầu trong đó chúng được tập hợp thành một điểm nào đó. Phần nào giống như chúng ta xem một bộ phim quay ngược.Bằng cách quay ngược cuốn phim vũ trụ vĩ đại ấy - từng hình ảnh một - cuối cùng chúng ta sẽ thấy ra đúng cái thời điểm mà toàn thể vũ trụ chỉ lớn bằng đầu cái kim.Theo tôi, chúng ta phải lấy khoảng khắc ấy làm những bước mở đầu của chúng ta".(*)
----------------------
* Chú thích: "Thượng Đế và khoa học". Sách đã dẫn .Trang 41 - 42.
Đoạn trích dẫn tiếp theo đây là một trong những luận cứ tiêu biểu của cuốn sách nhằm chứng minh sự có mặt của Thượng Đế trong sự sáng tạo ra vũ trụ:
JG:
Nhưng thế thì năng lượng khổng lồ dẫn tới Bigbang từ đâu tới? Tôi linh cảm rằng cái ẩn dấu đằng sau "bức tường Planck" là một dạng năng lượng đầu tiên, một sức mạnh vô hạn. Tôi tin rằng trước Sáng tạo có một thời gian dài vô tận ngự trị. Một tổng thời gian (temps Total) vô tận chưa được mở ra, chưa phân chia thành quá khứ, hiện tại và tương lai.Hồi đó thời gian này chưa được phân chia theo một trật tự đối xúng, trong đó hiện tại chỉ là một tấm gương hai mặt, thời gian tuyệt đối chưa đi qua đó, phù hợp với thứ năng lượng chung vô tận ấy.Đại dương năng lượng vô tận đó là Đấng Sáng Tạo. Nếu như chúng ta không thể đi tới hiểu được cái gì nằm sau "Bức tường"thì đó là vì tất cả các định luật vật lý không đứng vững được trước sự huyền bí tuyệt đối của Thượng Đế và của "Sáng Tạo".(*)
------------------
* Chú thích: Sách đã dẫn. Trang 52 – 53
Qua đoạn trích dẫn ở trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: chính giả thuyết khoa học hiện đại về một vụ nổ lớn (Bicbang) cho nguyên nhân hình thành vũ trụ lại là bước mở đầu cho sự ngự trị của Thượng Đế. Nhưng quí vị cũng nhận thấy rằng: Lập luận của ông Jean Guitton mang tính giải thích áp đặt hơn là một sự minh chứng cho sự tồn tại của Thượng Đế sáng tạo ra vũ trụ. Do đó, đoạn trích dẫn sau đây sẽ tiếp tục trình bày lại với bạn đọc về nguyên nhân sự hình thành giả thuyết khoa học này.
"Nhưng vào năm 1929, Edwin Hubble đã thực hiện một quan sát có tính chất là cột mốc cho thấy dù bạn nhìn ở đâu thì những Thiên hà xa xôi cũng đang chuyển động rất nhanh ra xa chúng ta.Nói một cách khác: vũ trụ đang giãn nở ra. Điều này có nghĩa là ở những thời gian trước các vật ở gần nhau hơn. Thực tế, dường như có một thời, mười hoặc hai mươi ngàn triệu năm về trước, tất cả chúng ta đều chính xác ở cùng một chỗ và do đó mật độ của vũ trụ khi đó là vô hạn. Phát minh này cuối cùng đã đưa câu hỏi về sự bắt đầu của vũ trụ vào địa hạt khoa học.
Những quan sát của Hubble đã gợi ý rằng có một thời điểm, được gọi là vụ nổ lớn, tại đó vũ trụ vô cùng nhỏ và vô cùng đặc (mật độ vô hạn). Dưới những điều kiện như vậy, tất cả các định luật khoa học và do đó mọi khả năng tiên đoán tương lai đều không dùng được".(*)
----------------------------
* Chú thích: "Lược sử thời gian".Sách đã dẫn. Trang 27.
Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Bắt đầu từ sự quan sát phát hiện của ông Hubble thấy các Thiên hà ngày càng chạy xa nhau là một hiện tượng tồn tại thực tế; từ hiện tượng này đã dẫn đến suy diễn vũ trụ phải qui tụ tại một điểm trong quá khứ; từ đó hình thành giả thuyết về vụ nổ lớn. Giả thuyết này được chứng minh bởi những hiện tượng liên quan. Nhưng, cùng một hiện tượng vẫn có thể giải thích bằng một nguyên nhân khác. Do đó, mặc dù thuyết "Vụ nổ lớn" được công nhận vì sự chứng minh cho một số khả năng tiên tri hạn hẹp của nó - như trường hợp sự tồn tại những bức xạ hoá thạch chẳng hạn - thì với tất cả những hiện tượng liên quan đến nó vẫn có thể giải thích bằng một nguyên nhân khác. Đây chính là trường hợp của thuyết Âm Dương Ngũ hành sẽ được lý giải ở phần sau. Bởi vậy, khi đặt Thượng Đế vào khoảng trống của tri thức khoa học hiện đại thì có thể nói rằng: Đây chỉ có thể coi là một luận điểm mang tính nhân bản và đạo đức học, nó có giá trị lịch sử khi con người còn chưa hiểu được chính mình, chứ không phải là một thực tế. Và chính cuốn sách “Thượng Đế và khoa học” cuốI cùng - ở phần kết luận của nó – cũng là phần mở đầu/ đã viết:
LỜI CUỐI SÁCH
Tại sao có một cái gì đó còn hơn là không có gì hết?
Niềm tin chắc nào? Nguồn hy vọng nào? Hiểu biết nào? Từ tiểu luận triết học này, chúng tôi phải giữ lại cái gì cho thật rõ ràng đây?
Trước hết đi tìm ý nghĩa trong cái vô nghĩa; tìm “dự án” trong cái ngẫu nhiên nhỏ bé nhất; tìm sự kiện trong cái tinh tế của các sự vật: Lá cây; tiếng chim hót; giọt nước chảy; gió trong khoảng trống…
Tất cả những sinh vật ấy cùng mưu đồ trong cái vô hình để tạo thành cái hiện thực; hội tụ ở chính bên trong chúng ta cho đến khi làm nảy sinh ở đó một nhu cầu không thể đè nén được: Ham muốn tính hiện thực.
Chính lòng ham muốn ấy thúc đẩy chúng tôi; trong tiến trính đối thoạI tìm kiếm thực thể.
Nhưng chúng tôi đã nhìn thấy thực thể ấy như thế nào? Trước hết là chiều dày của nó; là tính mù mịt của nó; đồng thời cũng là tính tinh tế đa dạng về những hình thức của nó. Cuộc đối thoạI cả chúng tôi do đó đã tìm thấy được ranh giới tự nhiên; điểm dừng cao nhất của nó. Với ý tưởng này: Chúng ta không thể hiểu được tính hiện thực độc lập, cái hiện thực bị che đậy và mãi mãi không thể nhận thức được. (Sự bế tắc/Thiên Sứ)
”Đó có lẽ cũng là lần đầu tiên chúng tôi nhận thức rõ rằng niềm hạnh phúc của một tư tưởng hiện đại, ở nơi giao nhau của vật lý mới và triết học là đã mô tả được điều bí ẩn của vũ trụ; với việc thay thế nó bằng một bí ẩn còn sâu hơn; khó hơn; bí ẩn của chính bản thân tinh thần.
Thế còn lạI câu hỏi cuốI cùng; câu hỏi đáng ngạI nhất. Câu hỏi đã mở đầu và phải khép lại cuộc đối thoại này:
Ý nghĩa của vũ trụ là gì? Tất cả những điều đó dẫn chúng ta đến đâu?
Tại sao có một cái gì đó còn hơn không có gì hết?”
Đoạn trích dẫn trên cho thấy một sự bế tắc trong cuộc hôn phối của Thượng Đế và khoa học từ sự mở đầu cũng như kết thúc. Cuối cùng sự chấp nhận Thượng Đế trong tính lý giảI khởi nguyên của vũ trụ chỉ là:
“Có/ còn hơn/Không”
Đó là một giải pháp mang tính Đạo lý và nhân bản hơn là mang tính thực tế.
Quí vị xem tiếp đoạn trích dẫn sau đây, sẽ tìm thấy nguyên nhân cuốI cùng nữa cho sự bế tắc của tri thức khoa học hiện đại.
”Nói cho cùng; trạng thái hỗn loạn tối đa; đặc trưng cho vũ trụ vào thời điểm biến mất của nó; có thể được lý giải như là dấu hiệu tồn tại của một số lượng thông tin tối đa ở bên kia vũ trụ vật chất.
Cứu cánh của vũ trụ ở đây trùng hợp với sự tận cùng của nó: tạo ra và giải thoát khỏi nhận thức. vào giai đoạn sau cùng ấy; toàn bộ lịch sử vũ trụ, sự tiến hoá hàng trăm tỷ năm sẽ qui thành một tính toàn bộ của nhận thức thuần tuý.”
Qua đoạn trích dẫn trên, quí vị cũng nhận thấy hai mệnh đề mâu thuẫn là:
1) Tạo ra và giải thoát khỏi nhận thức
2) Qui thành tính toàn bộ của nhận thức thuần tuý
Nếu đã ”giải thoát khỏi nhận thức” thì không thể “qui thành tính toàn bộ của nhận thức thuần tuý”. Chính vì chưa lý giải được thực chất của nhận thức và đó là một nguyên nhân bế tắc của nền khoa học hiện đại.
Nhưng vi diệu thay! Đức Thích Ca đã lý giảI một cách hoàn mỹ cho tri thức nhân loại trong tương lai khi Ngài minh giảng về TÍNH THẤY. Đây mới chính là nguyên nhân đầu tiên và là sự kết thúc của vũ trụ và đó cũng là sự "giải thoát khỏi nhận thức ".
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vi.
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
Thiên Sứ
18-07-2005, 09:50 AM
Kính thưa quí vị quan tâm .
Như vậy các phần trên người viết đã chứng minh rằng:
Thuyết Bicbang chỉ là một hệ quả suy luận chủ quan của sự nhận thức đơn điệu về vài hiện tượng thấy được trong vũ trụ. Hệ quả của nó đã dẫn tới sự tồn tại của Thượng Đế trong giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ. Và đây cũng là một cách giải thích không rốt ráo. Nhưng dù bạn nhân danh cái gì: Thượng Đế hay khoa học thì câu hỏi vẫn là:
Định mệnh có thật hay không?
Nếu lý thuyết vũ trụ này nhân danh Thượng Đế thì câu trả lời sẽ là: Không?
Nhưng cho đến lúc này chúng ta vẫn chưa tìm thấy hình ảnh của Thượng đế với tư cách là người sáng tạo vũ trụ.
Nhưng ngay cả bạn nhân danh khoa học thì vấn đề sẽ tiếp tục là:
Có hay không một lý thuyết thống nhất vũ trụ?
Như vậy vấn đề tiếp theo sẽ là:
Có hay không một lý thuyết thống nhất vũ trụ ?.
Vấn đề này người viết cũng đã đặt ra ở trên và chúng ta đã lựa chọn, đồng thời cũng phải chứng minh rằng:
Có một lý thuyết thống nhất vũ trụ tồn tại trên thực tế.
Từ một thực tế đã tồn tại với thời gian tính bằng thiên niên kỷ cho những phương pháp tiên tri của Lý số Đông Phương – hoàn toàn có những yếu tố phù hợp với tiêu chí khoa học hiện đại. Điều này đã dẫn đến một sự chứng minh cho tính hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và là một ứng cử viên cho sự chứng minh một lý thuyết thống nhất vũ trụ đã tồn tại trên thực tế nhân danh khoa học.
Nếu không có một lý thuyết thống nhất vũ trụ thì không có Định Mệnh.
Đó là sự khẳng định của người viết tiểu luận này. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian:
“Đến một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm ra, nếu chúng ta có đủ tài năng”
SW. Hawking
Tiêu đề tiếp theo đây, xin quý vị tiếp tục quán xét những tiêu chí của một lý thuyết thống nhất vũ trụ và so sánh với những yếu tố khởi nguyên của thuyết Âm Dương Ngũ hành – là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán - đã chứng giải của người viết - với các tiêu chí đó.
TIÊU CHÍ & thực tại
Xin quí vị quan tâm xem lại đoạn trích dẫn và xen kẽ dẫn giải sau đây, như là một sự nhập đề quan trọng cho sự minh chứng sau này.
1) SW.Hawking viết:
@ Bây giờ, nếu bạn đã tin rằng –
- vũ trụ không phải là tuỳ tiện mà được điều khiển bởi qui luật xác định thì điều tối hậu là cần phải kết hợp những lý thuyết riêng phần thành một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh có khả năng mô tả được mọi điều trong vũ trụ.
Đây chính là một yếu tố cần trong tiêu chí khoa học hiện đại:
Không có tính quy luật thì không thể có khả năng tiên tri.
Và cũng là yếu tố cho thấy rằng:
Không thể có Định mệnh nếu không có một lý thuyết thống nhất vũ trụ.
@ Nhưng trong quá trình tìm kiếm một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh như vậy, lại vấp phải một nghịch lý rất cơ bản. Những ý niệm về các lý thuyết khoa học được phác ra ở trên xem rằng –
- chúng ta là những sinh vật có lý trí tự do quan sát vũ trụ theo ý chúng ta và rút ra những suy diễn logic từ những cái mà chúng ta nhìn thấy. Trong một sơ đồ như thế, sẽ là hợp lý nếu cho rằng chúng ta ngày càng tiến gần tới các qui luật điều khiển vũ trụ.
Nếu ý thức hoàn toàn phi vật chất và không chịu sự tương tác của vật chất thì con người chỉ có thể “ngày càng tiến gần tới các qui luật điều khiển vũ trụ” và không thể có một lý thuyết thống nhất vũ trụ.
Điều này bị loại trừ và người viết đã chứng minh ở phần trên:
Ý thức có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác mang tính quy luật của vũ trụ.
Có một thực tại không sinh không diệt, không không gian, không thời gian, không lượng số, tồn tại từ vô thuỷ đến vô chung viên mãn tinh khiết, không phải có, không phải không, bao trùm vạn vật, có trong vạn vật, tự nó và do nó. Riêng có tự tính. Đó chính là Tính thấy trong ta, trong vạn hữu và hư không. Đó chính là sự khởi nguyên của vũ trụ, là Thái cực trong thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Nhưng:
Thái cực sẽ sinh lưỡng nghi như thế nào để bắt đầu một vũ trụ như chúng ta đã thấy.
Đây chính là sự huyễn ảo lớn nhất của khoa học hiện đại mở đầu cho một lý thuyết thống nhất vũ trụ - Thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Và cuối cùng là – hệ quả của học thuyết này – chính những phương pháp tiên tri thần diệu, vượt qua moi khả năng của tất cả các lý thuyết khoa học hiện đại nhất đang hiên hữu bây giờ và có thể cả trong tương lai. Vượt qua chính tiêu chí về khả năng tiên tri mà khoa học tự đặt ra cho nó – bây giờ và cả trong tương lai.
Những điều này người viết sẽ không lượng tài hèn để dẫn giải trong những bài tiếp theo đây trước khi kết thúc chủ để:
Định mệnh có thật hay không?
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp
Chính Ấn
18-07-2005, 01:06 PM
Bác Thiên Sứ viết bài này công phu thật.
Thiên Sứ
18-07-2005, 03:30 PM
Chính Ấn thân mến!
Phần thưởng lớn nhất trong năm nay mà Thượng Đế ban cho tôi là phần mềm Thiên Văn của anh Hoả Tinh với sự trợ giúp của Chính Ấn, đã chứng minh rằng:
Qui luật tạo nên Hà Đồ mà tôi đã trình bày hoàn toàn là một thực tế.
"Vứt mõ" thì cũng được. nhưng "đi ăn thịt chó" thì không được đâu! Chỉ có thể ăn trước khi "gõ mõ".
Vài lời tường sở ngộ.
Cảm ơn sự quan tâm và khen ngợi của Chính Ấn.
Chúc vạn sự an lạc.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
19-07-2005, 08:12 AM
TIÊU CHÍ & Thực tại
Tiếp theo
Kính thưa quý vị quan tâm.
Chúng ta lại tiếp tục quán xét những đoan trích dẫn tiếp theo của SW. Hawking:
@ Nhưng nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh, thì nó cũng sẽ có thể quyết định những hành động của chúng ta. Và như vậy tự bản thân lý thuyết đó sẽ quyết định kết quả việc tìm kiếm lý thuyết ấy của chúng ta!
Đoạn trên đây cho thấy nếu Lý thuyết thống nhất vũ trụ là có thật trên thực tế thì tất yếu nó sẽ “quyết định những hành động của chúng ta”. Tức là – trong trường hợp này - sự khẳng định:
“ý thức có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác của các hiệu ứng có tính quy luật của vũ trụ”.
Điều này cũng đồng nghĩa với:
“vũ trụ không phải là tuỳ tiện mà được điều khiển bởi qui luật xác định”.
@ Hơn nữa -
- tại sao nó sẽ quyết định rằng chúng ta sẽ đi tới những quyết định đúng từ những điều quan sát được?
- Hay là tai sao nó không thể quyết định để chúng ta rút ra những quyết định sai?
- Hay là không có kết luận nào hết"(*).
-----------------
* Chú thích: "Lược sử thời gian". Sự phân làm ba phần của đoạn trên và thành từng đoạn có ghi dấu @ là do người viết thực hiện. Nguyên văn là một đoạn văn liền.
--------------------
Đoạn trên đây là hệ quả của một giả thiết cho rằng: “có một lý thuyết thống nhất vũ trụ đang tồn tại”. Trong trường hợp này, nó sẽ quyết định ý thức - vốn mang thuộc tính vật chất của con người - và chính nó sẽ quyết định cho việc con người có nhận thức được sự tồn tại một lý thuyết thống nhất hay không?
Hệ quả của một giả thiết “Có lý thuyết thống nhất vũ trụ” là:
Quy luật vũ trụ của lý thuyết thống nhất sẽ quyết định con người có tìm ra nó hay không, chỉ phản ánh trong tình trạng con người hiện đại chưa tìm ra được một lý thuyết thống nhất vũ trụ.
Nhưng với thực tế tồn tại của các phương pháp tiên tri Đông phương với một phương pháp luận nhất quán chính là hệ quả tiên tri của một lý thuyết thống nhất vũ trụ, lại chứng tỏ một lý thuyết thống nhất vũ trụ đang tồn tại trên thực tế.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua những đoạn trích dẫn trên của nhà khoa học hàng đầu về vật lý thiên văn SW. Hawking, đã chứng tỏ rõ nét hơn rằng:
Các nhà khoa học đang cố gắng tìm kiếm một lý thuyết thống nhất vũ trụ và hoàn toàn có sự nhất quán giữa minh triết cổ Đông phương qua lời minh giảng của Đức Phật và những yếu tố cần của một lý thuyết thống nhất vũ trụ - nếu có theo các nhà khoa học – là:
Ý thức có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác mang tính qui luật của vũ trụ.
Và đây chính là điều quyết định mang tính tiền đề dẫn thẳng tới một lý thuyết thống nhất vũ trụ.
Chúng ta cũng biết rằng: Theo tiêu chí cho một lý thuyết khoa học thì lý thuyết ấy khi hoàn chỉnh phải có khả năng tiên tri. Hay nói theo một cách khác:
Khả năng tiên tri theo phương pháp luận của một lý thuyết khoa học chính là hệ quả của lý thuyết đó.
Như vây, chính khả năng tiên tri là một điều kiện hợp lý và thuyết phục theo tiêu chí của một lý thuyết khoa học . Đây cũng chính là cơ sở để đặt vấn đề:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang tìm kiếm. Và chính khả năng tiên tri theo phương pháp luận của thuyết Âm Dương ngũ hành và những yếu tố theo tiêu chí khoa học của nó, lại là sự bảo chứng cho một lý thuyêt thống nhất đã từng tồn tại trên thực tế trong quá khứ lịch sử nhân loại.
Tất nhiên, đến lúc này có lẽ tôi thấy không cần thiết phải chứng minh:
Lý thuyết thống nhất vũ trụ đã từng tồn tại trong quá khứ lịch sử văn minh nhân loại đó, không thể thuộc về văn minh Hoa Hạ.
2) Bây giờ chúng ta quán xét một tiêu chí nữa mà S.W. Hawking đưa ra cho một lý thuyết thống nhất:
”Một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh có khả năng mô tả được mọi điều trong vũ trụ”.
Khi phát biểu luận điểm trên, chắc chắn ông Stephen W.Hawking không hề có ý định ám chỉ hoặc nói tới thuyết Âm Dương ngũ hành. Nhưng đây lại chính là những điều kiện đang có của thuyết Âm Dương Ngũ hành:
Một lý thuyết vũ trụ quan thống nhất và hoàn chỉnh giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến mọi v/d liên quan đến con người .
Nó bắt đầu từ ý niệm: “Thái Cực sinh lưỡng nghi….” cho đến sự hạnh phúc hay nỗi bất hạnh trong đời một con người qua một quẻ bói - Một khả năng tiên tri vượt ngoài tất cả sự hiểu biết và mơ ước của bất cứ một lý thuyết khoa học hiện đại nhất và cả trong tương lai gần, trong sự tiến bộ nhanh chóng của nền khoa học hiện đại.
Nhưng tôi xin chia sẻ với quí vị một niềm tin rằng:
Chính sự phát triển của nền khoa học hiện đại – đặc biệt là khoa học lý thuyết - đã và sẽ tiếp tục chứng minh cho tính khoa học kỳ vĩ của thuyết Âm Dương Ngũ hành - một học thuyết vũ trụ quan cho rằng vũ trụ là tự nó và do nó, không nhân danh Đấng Chí Tôn.
Hay nói một cách hình ảnh qua truyện Trê & Cóc:
Chính sự phát triển tất yếu có qui luật của tự nhiên, cuộc sống và xã hội thì bầy nòng nọc sẽ trở thành Cóc và trở về với cội nguồn của nó là nền văn minh Khoa đẩu thuộc về người Lạc Việt với lịch sử gần 5000 văn hiến.
“Tự bản thân lý thuyết đó sẽ quyết định kết quả việc tìm kiếm lý thuyết ấy của chúng ta!”.
Hoàn toàn đúng như vây! Và nó đã quyết định rằng:
“Nhân loại trong quá khứ đã tìm thấy một lý thuyết thống nhất vũ trụ. Vấn đề chỉ còn là thời gian để nhân loại hiện địa công nhận điều này".
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH - LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ
Thiên Sứ
19-07-2005, 09:31 AM
THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH - LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ
"Một lý thuyết khoa học được coi là đúng; phải có tính hệ thống, tính khách quan , tính qui luật đồng thời phải có khả năng giải thích hầu hết những vấn đề liên quan đến nó và có khả năng tiên tri".
Tiêu chí khoa học
”Một lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh có khả năng mô tả được mọi điều trong vũ trụ”.
S.W Hawking
Một lý thuyết thống nhất có khả năng giải thích từ sự vận động của các thiên hà khổng lồ cho đến mọi hành vi của con người.
Mơ ước của khoa học hiện đại.
Trên cơ sở những tiêu chí khoa học đã nêu ở trên và từ những giả thuyết đã chứng minh về thuộc tính vật chất của ý thức và về sự nhất quán, hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành; chúng ta bắt đầu xét về mặt định tính đang có của thuyết Âm Dương Ngũ hành:
1) Tính hệ thống:
Là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh - Bát quái là những ký hiệu siêu công thức của học thuyết này.
2)Tính khách quan:
Vũ trụ tự nó và do nó. Tính thấy- Thái Cực là một thực tại có tự tính và không lệ thuộc vào ý chí chủ quan của Thượng Đế.
3)Tính qui luật
Mọi sự vận động tương tác đều tuân thủ theo qui luật sinh khắc của Âm Dương Ngũ hành. Căn cứ trên tính quy luật của các phương pháp tiên tri và những qui luật vũ trụ - cụ thể là ngũ tinh đã kiểm chứng - tạo nên Hà Đồ.
4)Khả năng giải thích những vấn đề liên quan và tiên tri
Đây là một thực tế đã được thẩm định trải hàng ngàn năm lưu truyền trong dân gian và ngay trong trang web chânthuyen.org này.
Như vậy; so sánh những tiêu chí khoa học về một lý thuyết thống nhất với những yếu tố có tính chất định tính - nhưng chưa thể gọi là hoàn hảo - của thuyết Âm Dương Ngũ hành đã chứng tỏ rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành có đầy đủ những yếu tố định tính cho một lý thuyết thống nhất vũ trụ
Từ luận điểm này giả thuyết được tiếp tục phát triển minh chứng giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành - Điều mà thuyết Bicbang đã bế tắc.
Giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ lý giải theo thuyết này ghi nhận trong Kinh Dịch và Hông Pham chỉ là:
“Thái cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng”
(Kinh Dịch)
và
”Thiên nhất sinh Thuỷ…”
(Hồng phạm)
Ngoài những tiêu chí khoa học cho mọi lý thuyết khoa học thì tiêu chí đặc thù cho giai đoạn này theo thiển ý của tôi là:
* Chỉ có thể xảy ra vào trong khoảng 10 luỹ thừa – 43 sau giây IOI đầu tiên của vũ trụ.
* Phải giải thích được chuyển động quay và ngày càng xa nhau của các Thiên hà và bức xạ tàn dư (bức xạ hoá thạch) với tất cả các hiện tượng và giả thuyết khoa học khác đã kiểm chứng trên thực tế trong hiện tại và cả trong tương lai một cách có hệ thống, nhất quán. Tất nhiên nó sẽ không phải giảI thích những giả thuyết khoa học chưa được kiểm chứng.
Có thể còn những tiêu chí và điều kiện cần gì nữa cho việc thẩm định một lý thuyết thống nhất và sự giải thích giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ , hy vọng sẽ được quí vị chỉ giáo, bổ sung.
Để giải thích giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ - trên cơ sở những giả thuyết và lập luận đã trình bày - tôi xin được tường lại như sau:
* Giai đoạn khởi nguyên (Thái Cực) là tính tuyết đối với vận tốc = |O|.
Vận tốc = |O|; được giải thích với ý niệm của sự tuyệt đối.
Tức là - thí dụ - nếu có một vật thể ở đầu bên này của vũ trụ chuyển động sang đầu bên kia thì chuyển động này là tức thì.
Ý niệm của vận tốc tuyệt đối này là một sự diễn đạt khác của tính tuyệt đối: Không không gian; không thời gian;không có cái Có và Không; không Tĩnh không động. Đây là giây |O| trước khi tất cả những thực tại đang hiễn hữu mà tri thức con người đã nhận thấy và sẽ nhận thấy. Chính là tính nhận biết - Tính Thấy cho tất cả mọi sự vận động mang thuộc tính vật chất.
Thái Cực là một thực tại riêng có tự tính, như Đức Thích Ca đã minh giảng.
Ý nghĩa của nó có thể liên hệ với khái niệm Đạo trong Đạo Đức kinh.
Chính vì tính tuyệt đối khó diễn đạt, nên mở đầu Đạo Đức Kinh, Lão Tử viết:
“ Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải Đạo vĩnh cửu bất biến".(Tính tuyệt đối/Thiên Sứ).
"Tên (Danh từ/ Thiên Sứ) mà có thể đặt ra được để gọi nó(Đạo) thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến”
Nhưng vì là một thực tại, nên có thể diễn đạt như một Tính từ trong một điều kiện liên hệ với thực tế nào đó: Tính thấy - tính nhận thức - Trường thông tin - trạng thái năng lượng tĩnh (So với cái Động hiện hữu) ….
Tính thực tại/tuyệt đối này cũng được diễn tả trong Đạo Đức Kinh như sau:
Đạo là cái gì chỉ mập mờ thấp thoáng. Thấp thoáng mập mờ nhưng bên trong có hình tượng. Mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vạn vật. Nó thâm viễn tối tăm, mà bên trong có cái tinh tuý. Tinh tuý đó rất xác thưc và đáng tin!”.
Theo người viết thì khái niệm tối tăm vì tính khó nhận thức; chứ không phải vì bản thể ĐẠO là tối. Điều này Lão Tử đã xác định ở phần sau:
”Ở trên không sáng. Ở dưới không tối”.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Phần trên người viết đã tường về trạng thái giây |O| trước Bicbang. Tức Thái Cực. Nhưng từ đó cái gì đã xảy ra:
Thái Cực sinh lưỡng nghi như thế nào?
Xin được tiếp tục minh chứng ở bài viết tiếp theo đây.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
THÁI CỰC SINH LƯỠNG NGHI - BÁNH CHƯNG BÁNH DẦY
& Sự khởi nguyên của của vũ trụ.
Thiên Sứ
19-07-2005, 04:13 PM
BÁNH CHƯNG BÁNH DẦY
& Mẹ tròn con vuông
Kính thưa quí vị quan tâm!
Có lẽ tất cả những người Việt Nam lớn tuổi đều biết đến một câu thành ngữ nổi tiếng: “Mẹ tròn con vuông” trong văn hoá dân gian Việt Nam. Sở dĩ nó được coi là thành ngữ, vì chỉ thường được chúc lành cho các sản phụ sinh nở với ý nghĩa là sự trọn vẹn, an toàn. Nhưng tại sao lại “Mẹ tròn con vuông”? Tại sao không là “sinh nở vẹn toàn” hoặc là “mọi chuyện suông sẻ” hay một câu gì đó đại loại như vậy?
Rõ ràng ở trong câu thành ngữ này đã dùng một hình tượng không đúng với thực tế! Nhưng nó lại được chấp nhận và lưu truyền trên thực tế. Hay bên trong câu thành ngữ này ẩn chứa một sự minh triết gì chăng?
Còn một điều này - có lẽ không cần phải những người Việt Nam lớn tuổi – mà ngay cả trẻ em được sống ở trong những gia đình Việt Nam vẫn giữ được các phong tục truyền thống đều biết:
Đó là chiếc bánh chưng, bánh dầy trong ngày Tết của người Lạc Việt.
Nếu ta để chiếc bánh chưng, bánh dầy bên cạnh nhau và liên tưởng đến câu tục ngữ trên, thì đây chính là hình ảnh của “Mẹ tròn con vuông”.
Truyền thuyết Việt Nam kể lại rằng:
@ Vào cuối thời Hùng Vương thứ VI, biết rằng giặc Bắc phương có âm mưu xâm lược nước ta, Đức Lạc Long quân đã sai hịch nữ (Thầy bói nữ, thầy cúng nữ) báo cho vua Hùng Vương biết. Nhưng nhà vua chủ quan không phòng bị. Nên cuối cùng bị nhà Ân kéo quân sang xâm lược tàn phá đất nước.
Điều này ghi nhận trong kinh Dịch: Vua Bàn Canh đánh các nước Quỉ ở phương Nam, ba năm thất lợi trở về.
@ Khi đất nước thanh bình vua Hùng Vương thứ VI tập hợp các con lại và yêu cầu mỗi người làm ra một món ăn ngon nhất và có ý nghĩa sẽ lên ngôi vua. Hoàng tử (Quan Lang) Liêu đã làm ra chiếc Bánh chưng bánh dầy và được vua chấm giải nhất. Ngài lên ngôi Vua mở đầu thời Hùng Vương thứ VII.
Chiếc bánh chưng bánh dầy lưu truyền trong dân gian vào những ngày lễ Tết chỉ được coi là thể hiện một ý nghĩa đơn giản như sau:
Trời tròn, đất vuông. Trời là cha, Đất là mẹ. Đất có thịt đậu và màu xanh cây trái nuôi dưỡng con người. Biểu hiện của công cha đức mẹ và hậu ân trời đất….
Kính thưa quí vị!
Cứ cho rằng ý nghĩa đơn giản đó là đúng thì dân tộc Việt Nam vẫn là dân tộc đầu tiên và duy nhất trên thế giới và trong lịch sử văn minh nhân loại, dùng thực phẩm như một biểu tượng thể hiện một ý nghĩa minh triết và trở thành một giá trị văn hoá phi vật thể truyền thống.
Nhưng có thật chiếc bánh chưng bánh dầy của người Việt chỉ giới hạn trong một ý niệm ngây ngô về vũ trụ như thế chăng?
Nếu chỉ đơn giản như vậy thì đĩa xôi, hoặc bánh trôi, bánh chay cũng tròn vậy! Chiếc bánh gai, bánh cốm ….cũng vuông; cũng đủ dinh dưỡng vậy!? Tại sao chỉ bánh chưng, bánh dầy mới được tôn vinh như một linh vật?
Hình tượng vuông tròn của bánh chưng bánh dầy có liên hệ gì với câu thành ngữ bí ẩn - "Mẹ tròn, con vuông" - lưu truyền từ hàng ngàn đời trong văn minh Lạc Việt?
Tất cả những điều này xin được trình bày tiếp trong bài viết sau.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Thái Cực và chiếc bánh dầy Lạc Việt
may man
19-07-2005, 07:34 PM
Chào Hiền Huynh Thiên Sứ,
Bài viết của Quý Huynh cực kỳ công phu và rất tuyệt ! Rất cám ơn.
May Man.
Thiên Sứ
19-07-2005, 09:30 PM
Thái Cực và chiếc bánh dầy Lạc Việt
Tiếp theo
Kính thưa quí vị quan tâm
Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành chúng ta đều biết rằng hình tượng tròn biểu tượng của Dương và vuông là Âm. Vậy tại sao trong câu thành ngữ lưu truyền trong dân gian lại là Mẹ (Nữ - Âm) Tròn? Sinh con vuông (Vuông là hình tượng của Âm)? Tất nhiên, người ta không chúc nhau đẻ con gái!
Phải chăng câu này là một tục ngữ mang tính minh triết?
Trên cơ sở giả thuyết này, người viết cho rằng: Mẹ tròn là một hình tượng của Dương - có trước nên gọi là “Mẹ”. Âm có sau, nên gọi là “con”.
Trên cơ sở này chúng ta lần ngược lên thời gian nguyên thuỷ của vũ trụ - lên giây IOI trước Bicbang thì theo thuyết Âm Dương Ngũ hành: Cái nguyên thuỷ và khởi nguyên chính là Thái Cực, chính là Mẹ tròn - một biểu tượng độc đáo trong chiếc bánh dầy Lạc Việt: Một biểu tượng của Thái Cực.
Chiếc bánh Dấy bằng nếp giã nhuyễn, màu trằng tinh khiết, không mùi vị thể hiện sự thuần khiết: Không thể gọi là có và không thể gọi là không. Hình tròn tượng cho sự viên mãn và tính tuyệt đối. Tính dẻo thể hiện sự thông biến.
Đó chính là Mẹ tròn là cái có trước, là sự khởi nguyên của vũ trụ, là Thái Cực,là Đạo.
“Vạn vật có nguồn gốc. Nguồn gốc đó là Mẹ của vạn vật”
(Đạo Đức kinh).
Thái Cực là Dương khi có cái Động - Âm vuông ra đời đối đại với nó (Con vuông - Bánh Chưng).
Hình tượng của chiếc Bánh Chưng, bánh dày bên nhau chính là Thái Cực sinh lưỡng nghi.
Chiếc bánh chưng độc đáo của người Lạc Việt lại là một sự minh triết tuyệt vời cho sự khởi nguyên của vũ trụ, từ khi cái Động Âm ra đời. Tứ tượng chính là sự tương tác của vật chất hữu hạn, được hình tượng bằng bốn cạnh vuông của chiếc bánh chưng. So với chiếc bánh dầy - không mùi vị, thuần khiết và viên mãn - biểu tượng của thái Cực - thì nội dung chiếc bánh chưng chính là biểu tượng Ngũ hành tương sinh:
Nhân bánh chưng bằng thịt lợn (heo) màu đỏ thuộc Hoả, sinh Thổ chính là sắc vàng của đậu xanh, sinh Kim chính là màu trắng của gạo nếp (nguyên hạt, khác bánh dày là nếp giã), sinh thuỷ chính là màu xanh diệp lục bên ngoài mặt bánh khi luộc (Dụng Thuỷ), sinh Mộc chính là lá dong bọc bên ngoài bánh. Bên ngoài chiếc bánh chưng truyền thống của người Lạc Việt còn là 4 sợi lạt hồng buộc thành hình cửu cung. Đây chính là biểu tượng của Hà Đồ với ngũ hành tương sinh . Xin quí vị lưu ý: Sợi dây buộc bánh chưng, người Bắc gọi là Lạt, đây chính là tiếng gọi chại đi của Lạc.
Bốn sợi Lạc Hồng chính là sự nhắc nhở giống nòi mai sau hướng tới tổ tiên và tìm về nguồn cội.
Dịch viết:
“Trí thì cao siêu, lễ thì khiêm hạ. Cao là bắt chước Trời, thấp thì bắt chước Đất”.
Vào những ngày lễ Tết, nhìn lên bàn thờ tổ tiên với chiếc bánh chưng bánh dầy, tịnh tâm quán tưởng mới thấy được sự khiêm hạ đơn giản của chiếc bánh chưng bánh dầy, nhưng lại chứa đầy tình yêu thương con người mà tổ tiên dành cho hậu thể với trí tuệ siêu việt.
Chiếc bánh chưng, bánh dầy linh vật của nền văn minh Lạc Việt với câu “Mẹ tròn con vuông” chính là biểu tượng vô cùng độc đáo của sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.
BÁNH CHƯNG – LINH VẬT CỦA NỀN VĂN MINH LẠC VIỆT
http://viettop.net/bobeo/banhchung.jpg
Có thể người viết giầu trí tưởng tượng chăng?
Cũng có thể!
Nhưng chiếc bánh chưng bánh dầy là sản phẩm của trí tuệ - thuyết Âm Dương Ngũ hành cũng là sản phẩm của trí tuệ . Tôi nghĩ rằng không lẽ một trí tưởng tượng hoàn toàn chủ quan của người viết, lại có thể liên hệ một cách trùng khớp hợp lý đến từng chi tiết cho hai sản phẩm trí tuệ tự ngàn xưa, nếu tự thân nó không phản ánh một thực tế vốn nhất quán của xã hội đã sản sinh ra nó và được coi là hệ tư tưởng chính thống:
Đó là thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Thậm chí trong sinh hoạt của xã hội đó, những tư tưởng của thuyết Âm Dương Ngũ hành cũng thể hiện đến từng chi tiết: Người Nam là Dương thì cài vạt áo bên trái là Âm. Người Nữ là Âm thì cài vạt áo bên phải là Dương. (Xin xem bài viết: Y PHỤC THỜI HÙNG VƯƠNG. Văn hiến Lạc Viêt. Chanthuyen.org)
Điều này sẽ giải thích vì sao chiếc bánh chưng bánh dầy được tôn vinh trong suốt lịch sử thăng trầm của người Lạc Việt. Chính bởi vì nó phản ánh sự khởi nguyên vũ trụ của thuyết Âm Dương Ngũ hành và cũng chính là sự giải thích vũ trụ phải được hình thành theo một cách khác, không phải như thuyết Bicbang miêu tạ Và tất yếu nó sẽ phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí khoa học hiện đại nhất trong bây giờ và cả trong tương lai.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Đây chính là lý do vì sao người viết phải dành một số bài viết về chiếc bánh chưng , bánh dầy của nền văn minh Lạc Việt. Vì đó sẽ là một biểu tượng trực quan trong trí nhớ của người Việt để chứng minh cho sự khởi nguyên vũ trụ giải thích theo thuyết Âm Dương Ngũ hành sẽ được tiếp tục trình bày sau đây.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Thái cực sinh Lưỡng nghi.
Thiên Sứ
20-07-2005, 09:36 AM
THÁI CỰC SINH LƯỠNG NGHI
Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy, với thuyết Âm Dương Ngũ hành thì Thái cực là sự khởi nguyên của vũ trụ, là một trạng thái tuyệt đối,tự nó và do nó. Thái Cực là một thực tại riêng có tự tính. Đây cũng là điều mà nền minh triết cổ Đông Phương – dù xuất hiện ở không, thời gian khác nhau đã thống nhất xác định tính của nọ Đó là Phật Pháp, Đạo Đức Kinh…vv.. Đây là sự khác biệt hoàn toàn với luận điểm của BicBang khi cho rằng:
Khởi nguyên của vũ trụ là trạng thái cô đặc của vật chất. Cái hữu hạn trong cái vô hạn.
Nhưng vũ trụ đã hình thành như thế nào từ trạng thái tuyệt đối đó?
THÁI CỰC SINH LƯỠNG NGHI.
Trạng thái tuyệt đối – Thái Cực – mà tôi trình bày với quí vị ở trên tồn tại bao lâu thì không thể tính được. Vì trong đó không thể nói đến không - thời gian. Vận tốc của trang thái khởi nguyên này là Tuyệt đối = |O|.
Không thể gọi là Động và cũng không thể nói là Tĩnh. Nhưng sự hiện hữu của chúng ta và tất cả vũ trụ hiện nay đã chứng tỏ cái Động – cái tương đối đã xuất hiện.
Động - Tĩnh phân biệt đó chính là Thái Cực sinh Lưỡng Nghi.
1)*Thiên Nhất sinh Thuỷ:
Sự vận động khởi nguyên trong trạng thái một không gian không có bắt đầu và không có kết thúc, sẽ phải là một chuyển động cong (*) và đẳng hượng Chuyển động này là hỗn loạn trong một không gian nhiều chiều. Trạng thái tương tác xuất hiện cùng lúc khi có phân biệt.
--------------------
*Chú thích: Bởi vì nếu là chuyển động thẳng thì có bắt đầu và kết thúc. Thiên Sứ
2)*Thiên nhị sinh Hoả:
Sự va chạm của các quỹ đạo cong trong không gian nhiều chiều với vận tốc vô cùng lớn trong vũ trụ, đã bùng nổ một trạng thái năng lượng động vô cùng lớn. Đây cũng chính là trạng thái hỗn độn mà trong các cổ thư Đông phương nói đến về sự khởi nguyên của vũ trụ. Sự bùng nổ này mang tính đều khắp và tràn ngập.
3)* Thiên tam sinh Mộc:
Trạng thái hỗn độn ban đầu dần tự ổn định, dẫn đến sự vận động theo một chiều quay đẳng hướng (Nếu không tự ổn định thì sự bùng nổ vẫn tiếp tục do va chạm với tốc độ cực lớn, gần tuyệt đối). Đây chính là chiều quay của các thiên hà trong vũ trụ hiện nay - theo tính hợp lý của nó phải hình thành một trung tâm vũ trụ không ổn định.
4)*Thiên tứ sinh Kim
Từ tâm vũ trụ này, hình thành hướng chuyển động vòng xoáy ly tâm cực nhanh đẳng hướng.
5)*Thiên Ngũ sinh Thổ
Khối năng lượng động tích tụ dần hình thành dạng vật chất đầu tiên của vũ trụ.
Cùng một lúc với sự xuất hiện của các trạng thái trên là sự tương tác của Âm Dương Ngũ Hành:
"Lưỡng nghi sinh Tứ Tượng”
Tứ tượng chính là :
Tương sinh - Tương khắc - Tương thừa - Tương vũ của Ngũ Hành.
Tượng: chính là hình thức bên ngoài, sự thể hiện bên ngoài tính chất của sự vật hoặc sự việc.
Với luận điểm này thì Tứ tượng là sự tương tác của thể tính (Âm Dương Ngũ hành) chứ không phải Thể Tính. Điều này khác hẳn với cách giải thích của các nhà Lý học từ thời Hán về sau cho rằng:
Tứ tượng là Thái âm; Thái Dương; Thiếu Âm; Thiếu Dương.
Với khái niệm của các nhà Lý học Hán thì Tứ tượng có thể tính và là sự phát triển hoặc suy giảm của thể tính đó (Âm & Dương). Điều này không thể lý giải được sự tương tác về mặt lý thuyết ngay từ sự khởi nguyên của vũ trụ cho dù lý thuyết đó trong cổ thư chữ Hán gọi là cái gì (Thuyết Âm Dương hoặc Ngũ hành; hoặc cả hai). Bởi vì: Chỉ cần lấy bất cứ hai hiện tượng đối lập nhau theo quan niệm tứ tượng từ cổ thư chữ Hán tự nó đã phân Âm Dương . Thí dụ:
Thái Âm đối đãi với Thiếu Dương là đã có sự phân biệt, đã là Âm Dương rồi.
Điều này tương tự như lời Đức Thích Ca đã minh giảng:
“Thể và tính xen lộn. Tôi với ông và thế gian không thành lập được”.
Sở dĩ có sự hiểu sai này vì họ đã tách thuyết Âm Dương ra khỏi Ngũ hành. (Đúng hơn là họ đã tiếp thu không hoàn chỉnh học thuyết này). Bởi vậy họ không thể tìm được giá trị đích thực của tứ tượng chính là sự tương tác ngay từ khi xuất hiện tính động. Sự hiểu sai trải hàng ngàn năm cũng chính là sự cản trở việc tìm hiểu giá trị đích thực của thuyết Âm Dương ngũ hành. Điều này góp phần quan trọng trong việc đẩy nền văn minh Đông phương vào sự huyền bí. Trong các bản văn cổ chữ Hán còn lưu truyền; chúng ta có thể thấy khái niệm Thiếu Âm; Thiếu Dương; Thái Âm; Thái Dương trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn.
Nhưng những khái niệm này luôn đi kèm với Ngũ Hành; như:
Thiếu Dương tướng Hoả; Thái dương hàn Thuỷ.vv….Những khái niệm này – Thái Dương hàn Thuỷ….- cũng là một bằng chứng sắc sảo nữa cho thấy: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh ngay từ những khái niệm khởi nguyên của nó. Chứ không phải hoà nhập vào thời Hán như các nhà nghiên cứu hiện đại quan niệm.
Về sự tương tác có ngay từ giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ trong thuyết Âm Dương Ngũ hành thì khoa học hiện đại cũng chứng tỏ rằng:
"Tương tác là nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân cuối cùng của vạn vật. Nguồn gốc và bản thể của thế giới được nghiên cứu nhận thức theo nguyên lý tương tác. Hình thức tương tác như thế nào thì bản chất của sự việc như thế đó."
Chính vì thế nên Dịch kinh mới viết về sự quán xét Tượng khi đoán quẻ. Tức là quán xét sự tương tác. Và chính các nhà lý số khi đoán quẻ cân nhắc ngũ hành sinh khắc, thực chất là quán xét sự tương tác giữa các thể tính trên thực tế. Tức là quán xét diễn biến hiện tượng mà quẻ tìm được. Mặc dù họ không có ý thức điều đó.
Tất cả mọi hiện tượng trên chỉ xảy ra trong khoảng thời gian cực ngắn, do xuất phát điểm là một trạng thái tuyệt đối. So với cái tuyệt đối thì 10 luỹ thừa – 43 giây là một thờI gian quá dài. Tốc độ khởi nguyên của vũ trụ =|O| cũng chính là tốc độ giới hạn của vũ trụ (Chứ không phải tốc độ ánh sáng).
Quí vị có thể so sánh hình ảnh sự vận động của vũ trụ hiện nay trong hình dưới đây với ba đỉnh của tam giác biểu tượng cho vị trí quan sát trong vũ trụ:
http://viettop.net/bobeo/xoay.JPG
Như vậy; với cách giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành; chúng ta có thể so sánh với những hiện tượng vật lý vũ trụ mà khoa học hiện đại đã phát hiện để chứng tỏ tính hợp lý của nó:
* Với hình trên; dù quan sát ở bất kỳ vị trí nào trong vũ trụ chúng ta cũng thấy các Thiên Hà đang chạy xa nhau. Nhưng nguyên nhân của nó được giải thích theo một cách khác:
Đó là sự ổn định sau những va chạm bùng nổ trong sự vận động nhiều chiều của một trạng thái tuyệt đối và vô hạn. Khác với sự bùng nổ từ trạng thái hữu hạn - vật chất cô đặc – trong thuyết Bicbang.
* Hiện tượng bức xạ tàn dư tồn tại trong vũ trụ: Được giải thích như nhau sau sự bùng nổ. Nhưng theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì bức xạ này chỉ hình thành khi vũ trụ đã xuất hiện ổn định những chuyển động cong định hướng (Thiên Ngũ sinh Thổ)
Nhưng thuyết Âm Dương Ngũ hành - với quan niệm của nó còn giải thích được nhiều hiện tượng khác mà thuyết Bicbang không thể giải thích đươc:
* Sự chuyển động cong của tất cả mọi thể tính trong vũ trụ từ các hạt vật chất nhỏ nhất đến các Thiên Hà khổng lồ, không thể có chuyển động thẳng khi bắt đầu từ trạng thái tuyệt đối - không có bắt đầu và kết thúc.
* Các nhà khoa học hiện đại với các phát minh mới nhất của họ đã chứng tỏ trên thực tế một tốc độ vũ trụ lớn hơn tốc độ ánh sáng và trên lý thuyết gấp 310 lần tốc độ ánh sáng (Lý thuyết này chưa được công nhận). Trong khi đó thuyết Âm Dương Ngũ hành với khái niệm Thái Cực, chứng tỏ tốc độ giới hạn của vũ trụ là tuyệt đối =|O|. Đây là một thực tại chỉ có tính lý thuyết và không thể kiểm chứng.
Cái tương đối không thể kiểm chứng được cái tuyệt đối.
Nhưng hy vọng sự kiểm chứng của khoa học trong tương lai có khả năng tiệm cận với các tốc độ nhanh hơn tốc độ ánh sáng sẽ chứng minh điều này.
* Khoa học đã nhận thức được rằng: Các Thiên hà chạy ngày càng nhanh và xa nhau. Sự giải thích của thuyết Âm Dương Ngũ hành đã cho thấy một chuyển động cong theo hình xoáy trôn ốc của các thiên Hà - (Điều này được minh giảng rất rõ trên bãi đá cổ Sapa). Như vậy, với cách giải thích này thì trong vũ trụ phải hình thành một “đỉnh” của vòng xoáy trôn ốc đó.Tốc độ chuyển động của các Thiên hà được tính bằng tốc độ góc (Radian). Bởi vậy khi ra xa vùng xoáy trôn ốc với đường cung càng lớn thì tốc độ chuyển động ngày càng nhanh. Đó là nguyên nhân giải thích hiện tượng:
“Các thiên hà chạy ngày cành nhanh ra xa chúng ta” (Xin xem hình minh hoạ ở trên - hoặc phụ đề về bãi đá cổ Sapa sẽ tường sau tiểu luận này).
* Chính sự chuyển động ngày càng nhanh đó khi các Thiên Hà ra tới những vòng cong phía ngoài lớn hơn thì – ngoài sự bùng vỡ tự nhiên của các sao do tuổi thọ của chúng - khi đạt đến một tốc độ giới hạn của cấu tạo vật chất – chúng sẽ bùng vỡ. Đó chính là lý do vì sao các nhà khoa học nhìn thấy ở ngoài rìa các Thiên Hà là những quầng sáng chói – chúng trở về với Thái Cực . Không hề có vũ trụ giãn nở hoặc co lại. Sự vận động của toàn vũ trụ trong tám phương của không gian vật chất hữu hạn, chính là
TIÊN THIÊN BÁT QUÁI.
* Thái Dương hệ của chúng ta - một vì sao nhỏ nhoi trong một thiên Hà khiêm tốn của hàng trăm tỷ Thiên Hà trong Vũ trụ. Tổ tiên ta đã lấy những hiệu ứng tương tác có qui luật gần gũi nhất - thể hiện sự tiếp nối cụ thể của các qui luật vũ trụ lớn hơn - để ứng dụng cụ thể những tương tác lên Địa Cầu và con người. Đó chính là sự tương tác của Ngũ Tinh - một thực tại tạo nên Hà Đồ (Xin xem “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt”. Môn học khác. Chanthuyen.org). Và Hà Đồ chính là cơ sở của
HẬU THIÊN BÁT QUÁI.
* Chính tính tuyệt đối này giải thích tính nhận biết (Tính thấy) của các trạng thái vận động của vật chất trong quá trình hình thành và tiến hoá trong vũ trụ - thông qua các phương tiện nhận biết có thuộc tính vật chất trong những cá thể - do ĐỘNG/TĨNH phân biệt. Đây cũng là điều mà Đức Thích Ca minh giảng: ”Tất cả chúng sinh đều có Phật tính và bình đẳng trước Phật”…. Đây cũng chính là cơ sở của nền văn hiến Lạc Việt:
Tình yêu thương con người và sự hoà nhập với thiên nhiên.
Tất cả vũ trụ đang vận động có qui luật; sau khi sự bùng nổ trở lại trạng thái ổn định. Chính tính qui luật được nhận thức này thể hiện trong thuyết Âm Dương Ngũ hành đã làm nên khả năng tiên tri của nó. Với nhận thức của khoa học thì không có tính qui luật sẽ không có khả năng tiên tri. Về vấn đề này - cho dù có thể xuất phát từ những cái nhìn khác nhau về khả năng lý giải hiện tượng tiên tri - thì tính chân lý, tính hợp lý của một lý thuyết thống nhất buộc nó phải giải thích được theo những tiêu chí khoa học và phải lý giải cả những hiện tượng tiên tri mà không ít quí vị cho rằng: do trực giác tâm linh. Tôi cho rằng: Tính tiên tri là hệ quả của một lý thuyết và có sau lý thuyết. Thực tế hiện hữu của lịch sử hình thành những lý thuyết khoa học hiện nay, chứng minh điều này. Do đó; những phương pháp luận lý giải khả năng tiên tri của học thuyết này chỉ xuất hiện sau khi lý thuyết đã hoàn chỉnh.
Chính sự phát triển của khoa học hiện đại - đặc biết là các lý thuyết khoa học hiện đại – đã hé mở cho chúng ta cánh cửa huyền bí của nền văn minh Đông phương - mà cho đến nay; một số nhà khoa học hàng đầu đã có sự liên hệ về mặt hiện tượng (Đạo của vật lý/ đã trích dẫn). Điều này cũng chứng tỏ sự tiên tri kỳ vĩ của nền văn minh Lạc Việt qua truyện Trê Cóc.
Tôi xin chia sẻ với quí vị một niềm tin rằng:
Với những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của nền văn minh Lạc Việt, kết hợp với những thành tựu mà khoa học hiện đại trong hiện hữu và trong tương lai, sẽ dẫn đến sự tiếp tục phục hồi sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành:
Một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước.
Như vậy; với sự lý giải sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành là một bằng chứng nữa chứng tỏ giả thuyết đã chứng minh qua cổ thư còn lại:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất và hoàn chỉnh trên thực tế trong quá khứ đã tồn tại của nó. Ngũ hành là những khái niệm diễn tả thực tại vẫn động có thuộc tính vật chất ngay từ giai đoạn đầu hình thành vũ trụ mang tính biểu kiến. Bởi vây; ngũ hành - Kim, Mộc ,Thuỷ, Hoả, Thổ - không phải là những khái niệm cụ thể, thô sơ trực quan khi con ngườI nhận thức thực tế môi trường trái Đất: Thuỷ là nươc; Mộc là Cây… Tất cả chỉ là hình tượng của Ngũ hành.
Nhưng vấn đề chắc chắn chưa thể dừng lại ở đây. Vì chúng ta đều thấy rằng:
Từ khi con người – trong chuỗi thời gian lịch sử hiện nay đã nhận thức đươc - nhận thấy trái đất quay, cho đến khi làm ra một phương tiện mà cách đây hơn 100 năm có thể coi là thần thánh là chiếc điện thoại cầm tay - thời gian đã là gần 500 năm vớI sự phát triển đếu khắp của các mặt trong quan hệ xã hội và khoa học. Vậy từ sự khởi nguyên vũ trụ theo cách giải thích của một học thuyết cho đến một phương pháp tiên tri đến chi tiết, đòi hỏi hàng ngàn năm đã trôi qua. Nên sự phục hồi hoàn chỉnh một học thuyết đã thất truyền không thể đơn giản. Có lẽ nó cần đến một sự cộng tác của nhiều ngành khoa học và có tính quốc tế. Hoặc chí ít cũng là sự cộng tác của nhiều nhà nghiên cứu thực sự có nhiệt tình và khả năng. Nhưng, nếu quả thực thuyết Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết thống nhất mà nhân loạI đang mơ ước - Tức là nó vượt xa trí thức của nhân loại hiện đại - Vấn đề tiếp tục được đặt ra sẽ là:
Nó thuộc về nến văn minh nào trong lịch sử nhân loại?
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
NỀN VĂN MINH ATLANTIC
Thiên Sứ
21-07-2005, 11:55 AM
NỀN VĂN MINH ATLANTIC
Tiếp theo
Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong lịch sử văn minh nhân loại mà chúng ta nhận thức được thì – cách đây 7 – 8 ngàn năm trở về trước – vẫn chỉ là sự tiếp tục của một quá trình tiến hoá của nhân loại. Người ta phân biệt các giai đoạn đó là thời Thượng cổ, Trung cổ và hiện đại.
Thời hiện đại mà chúng ta đang sống là sự tiếp tục của sự tiến hoá và văn minh nhất so với lịch sử quá khứ. Những tri thức mà chúng ta có, là sự kế thừa của những kiến thức trong quá khứ.
Tất nhiên có những kiến thức đã thất truyền hoặc vì thiên tai, loạn lạc, hoặc vì nó không còn cần thiết với cuộc sống hiện đại. Nhưng những sự mất mát đó chỉ ở qui mô nhỏ, có tính cụ bô. Còn tính kế thừa và hoà nhập trao đổi một kiến thức chung của nhân loại trong quá trình tiến hoá, vẫn là yếu tố phổ biến.
Trên cơ sở tiêu chí và là một thực tại này, chúng ta nhìn lại quá khứ phát triển của nền văn minh nhân loại trên cơ sở những di sản văn hoá sử:
Hình như nó có cái gì đó không liên tục; mặc dù vẫn nằm trên một trục thời gian. Nó như bị ngắt quãng và giống như một sự chuyển dịch nhảy cóc từ không gian văn minh này sang một không gian văn minh khác; không hề có mối liên hệ chuyển tiếp. Hay nói một cách khác: Nó không có sự kế thừa giữa các nền văn minh trong sự liên tục của thời gian lịch sử nhận thức được. Bởi vậy; trong nhận thức của nhân loại hiện đại; khi nhìn lại những không gian văn minh bị ngắt quãng ấy; đã không khỏi kinh ngạc và khó hiểu trước những hiện tượng bí ẩn một cách kỳ vĩ trong quá khứ.
Trong trục Đông Tây của trái Đất; những nhà khoa học đã tìm thấy những dấu tích của một nền văn minh kỳ vĩ gây ngạc nhiên cho trí thức khoa học hiện đại. Những Kim tự tháp từ Ai Cập đến Trung Mỹ; tượng khổng lồ trên đảo Phục Sinh; những đaì quan sát thiên văn bằng đá thuộc về nền văn minh Maya…..Một điều rất đáng chú ý là: Hầu như tất cả đều chứng tỏ một tri thức thiên văn kỳ vĩ, trong đó có cả trồng đồng Lạc Việt…các nhà nghiên cứu đã xếp tất cả những di sản đó vào nền văn minh Cổ đại trong lịch sử phát triển của nền văn minh hiện nay. Đây là một sai lầm! Bởi vì; với cách sắp xếp như vậy; họ không thể nào giải thích được sự kỳ vĩ của những tri thức trong những di sản đó. Hay nói một cách khác: Cách sắp xếp này đã tạo ra một mâu thuẫn giữa một xã hội lạc hậu - theo quan niệm phổ biến hiện nay - vào thời cổ đại ở giai đoạn đầu của sự phát triển với tri kiến kỳ vĩ thể hiện ở những di vật thuộc về thời đại này.
Những di vật đồ sộ đó đã chứng tỏ một tri thức tuyệt vời của người xưa. Nhưng liệu những tri thức đã tạo nên một nền văn minh huy hoàng trong quá khứ đó, có được kế thừa trong văn minh hiện đại không? Tất nhiên là không.
Bởi vì, cả nhân loại hiện nay, người ta không biết gì về những tri thức đó. Chúng ta cũng chưa bao giờ đặt câu hỏi:
Liệu những di sản của nền văn minh đó có phải là một giai đoạn tiến hoá liên tục trong không gian lịch sử hiện đại, hay nó thuộc về một không gian lịch sử khác. Người ta đã giải thích rất nhiều, nhưng chưa bao giờ chứng minh những di vật - nói đúng hơn là những tri thức tạo ra những di vật đó – có thực ở trong không gian lịch sử hiện đại của nhân loại trong quá trình tiến hoá hay không? Hay nó thuộc về một không gian lịch sử khác và đã bị huỷ diệt?
Nếu như những tri thức tạo nên những di vật kỳ bí đó thuộc về không gian lịch sử văn minh hiện đại thì nó phải được kế thừa trong tri thức hiện đại. Nhưng cho đến nay, nhân loại hiện đại hoàn toàn không hiểu gì về những tri thức đã tạo nên những di vật kỳ bí đó. Hay nó là một bộ phận thuộc về không gian lịch sử của văn minh hiện đại bị huỷ diệt? Nếu giả thiết này là đúng thì nó lại không giải thích được tính chất giống nhau, hoặc gần giống nhau giữa những nền văn minh này ở trên toàn cầu. Thí dụ như Kim Tự tháp ở Ai Cập và ở Nam Mỹ và những tri kiến thiên văn siêu việt của các nền văn minh này. Trong không gian lịch sử hiện đại của văn minh nhân loại, người ta không thể chứng minh sự giao lưu văn hoá giữa hai vùng đất không hề có giao lưu này.
Bởi vậy, hoàn toàn có cơ sở để đặt một giả thuyết cho rằng:
Trước không gian lịch sử của nền văn minh hiện đại, đã có một nền văn minh nhân loại tồn tại trên trái đất. Nó thuộc về không gian lịch sử khác. Nền văn minh này đã bị huỷ diệt một cách thảm khốc và những di vật huyền bí, chính là sản phẩm trí tuệ còn lại của nền văn minh này.
Chính ở nền văn minh này, họ đã đạt tới những giá trị tri thức mà nhiều mặt vượt xa nền văn minh hiện nay. Lý thuyết thống nhất vũ trụ - thuyết Âm Dương Ngũ hành – đã ra đời trong nền văn minh này. Sự liên hệ về thời gian và không gian địa lý, đã khiến những di sản của nó hoặc những giá trị tri thức của nó còn tồn tại đến ngày nay một cách mơ hồ.
Tất nhiên phần tôi trình bày với quí vị ở trên mới chỉ tồn tại như một giả thuyết. Vấn đề tiếp theo đây là phải chứng minh khả năng thực tế của giả thuyết này.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Ở các bài trên tôi đã chứng minh một lý thuyết thống nhất vũ trụ đã tồn tại trong quá khứ; đó là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đấy thì sự chứng minh sẽ thiếu tính hoàn chỉnh. Chính bởi vì: Trong nền khoa học kỹ thuật hiện nay, con người hãy còn xa mới đạt đến một lý thuyết như vậy.
Bởi vậy, hoàn toàn hợp lý cho một thắc mắc có tính phản biện:
Một lý thuyết thống nhất vũ trụ đã từng tồn tại trong quá khứ thì nó thuộc về nền văn minh nào trong không - thời gian lịch sử của văn minh nhân loại hiện đại?
Khi mà trong lịch sử văn minh hiện đại - thời thượng và trung, cận đại, thậm chí hiện đại - không hề có cơ sở vật chất, cơ sở khoa học kỹ thuật, cơ sở quan hệ xã hội, những giá trị tri thức ..v.v… là tiền đề cần có để hình thành một lý thuyết như vậy!
Bởi vậy, sự hoàn chỉnh của một giả thuyết khoa học là phải có sự chứng minh nền văn minh nào là chủ nhân đích thực của lý thuyết thống nhất vũ trụ. Đó là lý do của tiểu mục: “Văn minh Atlantic”.
Nếu như từ trước đã không ít học giả đặt giả thuyết một cách mơ hồ về sự tồn tại của một xã hội có nền văn minh tiên tiến là Atlantic trong lịch sử văn minh nhân loại. Giả thuyết này chủ yếu giữa trên một số văn bản tối cổ - gần như truyền thuyết về văn minh Atlantic. Nên nó không có sức thuyết phục. Đúng hơn nó thậm chí không phải là một giả thuyết, mà chỉ là một sự lưu ý về những hiện tượng được ghi nhận trong các văn bản cổ.
Nhưng nếu quả thực có một nền văn minh toàn cầu đã từng tồn tại và phát triển trên trái đất này, trong một không gian lịch sử khác - tất nhiên nó vẫn tuân theo những qui luật tiến hoá – thì việc chứng minh cũng sẽ cực kỳ khó khăn. Nhưng hy vọng rằng: Nếu có một nền văn minh như vậy, thì với sự liên hệ của chiều thời gian và không gian địa lý, nó phải có những di sản trí tuệ để lại ngày nay. Mà trong đó – ngoaì những di sản vật thể có thể nhận thấy - sẽ phải có những giá trị văn hoá khác của nó.
Những phương pháp và nguyên lý cho sự chứng minh dưới đây của người viết sẽ là sự tiếp tục một cách nhất quán với những luận đề mà người viết đã trình bày , trong tiểu luận này và trong các bài viết khác. Người viết hy vọng rằng:
Cùng với những tri kiến thu thập được của những chứng minh bằng những phương pháp khác của những người đi trước – thì bài viết dưới đây mong muốn sẽ góp phần làm sáng tỏ quá khứ. Và nó cũng chứng tỏ tính hoàn chỉnh trên phương diện tổng quát về sự chứng minh giả thuyết cho rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang tìm kiếm.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
NỀN VĂN MINH ATLANTIC
Thiên Sứ
21-07-2005, 06:48 PM
VĂN MINH ATLANTIC
Tiếp theo
Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy, ngoài những giá trị văn hoá vật thể mà chúng ta nhận thấy được ở trên – mà có không ít sự trùng khớp về hình thức và nội dung rải rác trên khắp thế giới, cộng với những vấn đề đặt ra một cách mơ hồ qua những bản văn cổ về một nền văn minh từng tồn tại trong quá khứ của nhân loại – là cơ sở của một giả thuyết cho rằng:
Trước lịch sử của nền văn minh hiện đại, đã có một nền văn minh nhân loại tồn tại trên trái đất, thuộc về không gian lịch sử khác. Nền văn minh này đã bị huỷ diệt một cách thảm khốc và những di vật huyền bí chính là sản phảm trí tuệ còn lại của nền văn minh này.
Giả thuyết này cần được chứng minh.
Kính thưa quí vị.
Người viết đặt tên cho nền văn minh này là Atlantic, chỉ là một biểu tượng được nhiều người biết tới để ví với một nền văn minh huy hoàng một thời bị huỷ diệt. Hoàn toàn không có nghĩa rằng bài viết này chứng minh cho tính thực tế cho lục địa này.
Những hiện tượng mà người viết sẽ trưng dẫn và trình bày nhằm chứng minh cho giả thuyết trên, hoàn toàn dựa trên cơ sở những giá trị văn hoá phi vật thể. Những di sản này thuộc về những nền văn minh cổ - trong nhận thức lịch sử văn minh hiện tại. Những nền văn minh thời cổ đại – trong tri thức lịch sử hiện đại - lại không hề có sự liên hệ giao lưu về không - thời gian lịch sử, nhưng chúng lại có sự trùng khớp kỳ lạ giữa những di sản văn hoá phi vật thể, chứng tỏ tính nhất quán về tri thức và sự thống nhất về cội nguồn văn hoá.
Xin quý vị quan tâm lưu ý:
Tất cả sự trùng khớp liên hệ này phải bắt đầu từ:
Hậu thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ
Điều này mới có thể tạo ra sự liên hệ trùng khớp sẽ chứng tỏ dưới đây. Nếu không công nhận giá trị văn hoá Việt với 5000 năm văn hiến và nguyên lý căn để của lý học Đông phương là Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt thì sự trùng khớp này không thể chứng minh được. Lúc ấy, chúng chỉ là những sản phẩm rời rạc và thực sự huyền bí. Chính vì vậy, ở bài trên, người viết đã khẳng định:
“Và nó cũng chứng tỏ tính hoàn chỉnh trên phương diện tổng quát về sự chứng minh giả thuyết cho rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang tìm kiếm”.
Tức là trong đó đã chứng tỏ nguyên lý đã chứng minh cho tính hoàn chỉnh ấy:
Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ.
Sự trùng khớp hợp lý của hầu hết những di sản văn hoá phi vật thể từ những nền văn hoá còn lại trong thời cổ đại với nguyên lý căn để: Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ sẽ lại là một minh chứng nữa chứng tỏ tính nhất quán, tính hoàn chỉnh, tính khách quan và khả năng giải thích hợp lý của nguyên l ý: Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt cho tất cả mọi vấn đề liên quan đến nó - Từ lý thuyết thống nhất vũ trụ cho đến lý giải những thuộc tính Ngũ Hành trong một quẻ bói (Xin xem: Hà Đồ trong văn minh Lạc Viêt. Những môn học khạc Chanthuyen.org).
Trước hết chúng ta bắt đầu từ chữ Vạn và tiếp cận hình tượng này qua bài nghiên cứu dưới đây của ông Trương Minh Hiền (*):
-------------
* Chú thích: Bài này đã trình bày trong mục Lịch Sử. Chanthuyen.org.
Chữ Vạn trong lịch sử
http://vanhoalacviet.com/media/images/chuvan1.gif
CHỮ VẠN
Ngày Tết, người Việt Nam chúng ta thường vào chùa lễ Phật. Ai cũng nhận thấy trên ngực tượng Phật trang nghiêm thờ giữa chính điện thường có dấu chữ vạn. Dường như đây là một biểu tượng đặt trưng của Phật giáo ?
Hồi còn bé, tôi đã chú ý và có nhiều thắc mắc về ý nghĩa của dấu hiệu này. Tôi hỏi sư, sư bảo:
“Đó là chữ Vạn, biểu tượng của đức Phật. Nó tượng trưng cho đức Đại Hùng , Đại Lực, Đại Từ bi của Phật . Nó là hình tượng của “ Bánh xe Pháp luân “đang vận động. Bốn cánh của chữ Vạn còn mang ý nghĩa của Tứ Diệu Đế, tức là Khổ Tập Diệt Đạo.
Có người còn gọi đó là Tứ khổ hải: Sinh – Lão- Bệnh-Tử. Nó nói lên vòng luân hồi bất tận của kiếp người trầm luân".
Tôi nghe vậy thì biết vậy thầm nghĩ đạo phật thật cao siêu, chỉ có một dấu hiệu nhỏ mà mang bao nhiêu ý nghĩa thâm thuý. Sau này đọc lại trong tạp chí Indochine số 126 ngày 28 tháng Giêng năm 1943, tôi thấy có một bài viết về chữ Vạn ở trang 15, có đoạn khá ngộ nghĩnh. Tôi tạm dịch ra để hiến các độc giả trẻ hiếu học. Bài có tựa: Chữ Vạn với người An Nam :
“Đây là dạng cổ nhất của chữ thập (+)[La croix], có tên gọi là Swastika.
Swastika là biểu tượng của Đạo Phật, nói lên sự toàn thiện, toàn mỹ của Đức Phật. Đó là dấu hiệu của sự giải thoát.
Người Ấn Độ đã khắc chữ vạn (Swastika) lên ngực tượng Phật, coi như dấu hiệu tối thượng của sự toàn thiện, toàn mỹ.
Những nhà sư Việt Nam tiếp tục tôn thờ dấu hiệu này mà chẳng hiểu nó có ý nghĩa như thế nào (?!) . Họ gọi đó là “ Chữ Vạn Thiên Trúc” có nghĩa là “ chữ Vạn của nước Ấn Độ”. Và có người đã giải thích sự hiện diện của chữ Vạn trên ngực Đức Phật như thế này:
“Một tên bạc ác ngày nọ đã đâm một nhát giáo lên ngực của Đức Phật nên Ngài đã giữ mãi vết tích đó suốt đời để nhắc nhở mọi người lánh xa điều ác” .
( Viết theo Dumoutir)
Bài báo còn một đoạn nói về dấu chữ Vạn đã được dùng rất nhiều trong nghệ thuật trang trí của người Việt Nam ở Bắc Bộ, trên các bức chạm trổ và điêu khắc bằng gỗ hay kim loại, để trang trí bàn, ghế, tủ và các đồ dùng nội thất: Tứ bình , diềm cửa, phủ thờ, viền câu đối v..v..
Còn một đoạn khác quan trọng hơn Dumoutier viết thế này:
” Những người phụ nữ của bộ tộc Mán hiện đang sống trên các đỉnh núi Ba Vì ở hai bên bờ sông Đáy, thường sống tập trung thành các cụm dân cư rải rác trên các vùng Thượng du đấy núi non sứ Bắc kì. Họ thuường mặc những bộ quần áo bằng vải thô màu xanh dương có mang hằng dải dài những chữ Vạn thêu màu đỏ hay trắng”
Đây mới là điều lạ. Người Mán cũng tôn thờ Đạo Phật hay Đạo Bà La Môn?. Hay họ tôn thờ một đấng thiêng liêng nào khác có nguồn gốc thật xa xưa? Điều này xin đặt câu hỏi cho các nhà dân tộc học và phong tục học nước ta.
Nhưng sau khi đọc một quyển sách xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1969 do nhà sưu tầm cổ vật James Churchward viết, có tựa đề : The lost continent of MU (MU, Đại lục bị tiêu trầm)(1) tôi dần nghiệm ra, tuy chưa hẳn hoàn toàn tin tưởng vào những điều giải mã và lý giải trong sách.
Theo James Churchward thì chữ Vạn là biểu tượng không phải chỉ riêng của Phật giáo hay Ấn giáo mà là biểu tượng chung của toàn thể nhân loại, trên khắp thế giói. Nó xuất phát từ những kí hiệu tượng hình được ghi trên các linh bài bằng đất thô có độ tuổi hàng vạn năm, tìm được ở Ấn Độ, được cất giấu trong các ngôi đền thật xưa.
J. Churchward đã phân tích và giải mã chữ Vạn thật chi li. Ông khẳng định chữ Vạn chỉ là biến thẻ của chữ thập (+) tượng trưng cho “Tứ Đại Nguyên Động Lực” (Nước, gió, lửa, sấm, sét) = Four Great Primary Forces. Chữ thập và chữ Vạn, cũng như thạch trụ, (pylone, pilier) là những vật biểu tượng có tính tôn giáo, được tôn thờ từ lục địa MU, được truyền sang bờ Tây Thái Bình Dương qua ngõ Miến Điện, Nepal, Ấn Độ, sang Ba Tư, tới Lưỡng Hà, Ai Cập, Hi Lạpv..v.. và Mu được xem như là miền đất mẹ (Morther land) của nhân loại từ đó xuất phát mọi nền văn minh cổ nhất thế giới. MU thờ Mặt trời nên tất cả các dân tộc nào trên thề giới thờ Mặt Trời đều chịu ảnh hưởng của nền tôn giáo nguyên thuỷ của MU và J. Churchward phân tích sự tiến triển của chữ Vạn như sau (hình2)
Hình A: Chữ thập (+) hình ảnh tièn khởi, tuợng trưng cho Tứ Đại Nguyên Động Lực
Hình B: Chữ thập nằm trong vòng tròn. Vòng tròn tượng trưng cho Mặt TRời và Vũ Trụ, trong đó bao hàm Tứ Đại Nguyên Động Lực. Các động lực vận hành trong vũ trụ tạo ra sinh vật, nên hình số 2 này nói lên sự Sáng Tạo ( biểu tượng của Đấng Sáng Tạo = Tạo Hoá = Hoá Công).
Hình C: Bốn cánh của chữ Vạn xoay quanh vòn tròn có chấm. Vòng tròn tượng trưng cho Đấng Sáng Tạo. Mặt trời nằm ở trung tâm: Vũ trụ xoay quanh Mặt Trời. Tứ Đại Nguyên Động lực làm cho vũ trụ vận hành. Các cánh của chữ Vạn đều xoay về hướng Tây, diễn tả vũ trụ vận hành từ Tây sang Đông (Theo chiều kim đồng hồ).
Hình D: chữ Vạn không có vòng tròn ở giữa, chiều xoay từ tây sang Đông) Trong hình này biểu tượng về Đấng Sáng Tạo bị mất hẳn, chỉ còn lại bọ liên hợp 4 cánh gamma. (L) là chữ của người Kiu xưa, sau được người Hy Lạp dùng làm chữ gamma, và người La Mã biến thành chữ L. L là cái ê-ke vuông góc (Thước thợ nề) nói về “Người xây dựng” (builder). Bốn vị “Builders” này kết hợp lại thành “Bộ tứ Builders” gọi là “Tứ Đại Hùng Nhân” (The Four Great Strong Ones) chữ Vạn từ đó lưu truyền đến ngày nay.
http://vanhoalacviet.com/media/images/chuvan5.gifhttp://vanhoalacviet.com/media/images/chuvan3.gif
http://vanhoalacviet.com/media/images/chuvan4.gif
Có điều chúng ta nên lưu ý về chữ Vạn dã được phân tích trên đây có bốn cánh xoay về hướng Tây. Còn chữ Vạn của Phật Giáo Việt Nam và của Đức Quốc Xã thời Hitler lại có cánh xoay về hướng Đông. Biểu tượng chữ Vạn của người Naacal và chữ Vạn nguyên thuỷ ở xứ MU cũng có cánh quay về hướng Đông
. Sự thay đổi hướng xoay của chữ Vạn xảy ra từ lúc nao không ai hiểu rõ. Chỉ thấy trên hoa văn một lọ chum đựng hài cốt tìm được ở Ý, có niên đại vào thời đồng khí, in trong sách Chemin de Sagese – Traité du Labyrinthe (Con đường Đạo Lý - Luận về Ma Trận) của Jacques Âttli, do Fayard xuất bản năm 1996 lại có cả hai chữ Vạn ngược chiều nhau. Nhưng chữ Vạn của Đức Quốc Xã (cũng giống như chữ Vạn Phật Giáo, có cánh xoay về phải) lại mang ý nghĩa khác. Hitler dùng chữ Vạn trên lá cờ tượng trưng cho Quyền năng của Tạo hoá, để gây niềm tin vào lý tưởng ưu việt của tộc người Aryen thuần chủng (Nhật Nhĩ Man = Normand = Người Đức) theo học thuyết Siêu Nhân = Surhomme”của Nietzsche đã được tác giả phác hoạ trong Ainsi parlait Zarathoustra (Zarathoustra đã nói thế). Hitler kêu gọi người Đức tàn sát người Do Thái vì sợ giáo thuyết “ Do Thái giáo” của họ mê hoặc tư tưởng người Nhật - Mỹ - Man. Họ kết tội dân Do Thái đã tố cáo Chúa Jésus khiến người La Mã hành hình Chúa, là hành vi đê tiện đáng trừng phạt nên đã có hàng vạn người Do Thái bị sát hại trong thời Thế Giới Chiến Tranh thứ hai.
Hiện nay ở Châu Âu đang có một bọn người phát xít toan đề xướng thuyết “Tân Phát Xít” (Néo-Frascisme) và khôi phục lại chữ “Vạn” của Hitler. Nhưng như chúng ta đã thấy, chủ nghĩa phát xít Đức đã gây racuộc đệ II Thế Chiến tàn hạibao nhiêu triệu nhân mạng trên thế giới, nhất là nó tàn sát người Do Thái rất dã man. Và chữ Vạn, khi còn là biểu tượng tôn giáo có ý nghĩa tuyệt vời, trái lại là huy hiệu của phát xít, nó đã gây ra bao nhiêu điều tàn ác.
TRƯƠNG MINH HIỂN
(Theo tạp chí Xưa và Nay)
Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy, quí vị cũng nhận thấy rằng: Hình tượng chữ Vạn có trong hầu hết các miền văn hoá cổ đại (Theo quan niệm lịch sử hiện nay) của thế giới. Điều này chứng tỏ chữ Vạn là một biểu tượng được lựa chọn và là một sự thống nhất cho không phải của một quốc gia hoặc khu vực nào đó trên địa cầu, mà là khắp mọi nơi ở cái thời gian mà lịch sử hiện nay quen gọi là thời Cổ đại.
Vậy bản chất chữ Vạn biểu tượng cho cái gì?
Xin quí vị quan tâm xem bài viết tiếp theo dưới đây.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Ý nghĩa của chữ Vạn
Thiên Sứ
22-07-2005, 01:35 AM
NỀN VĂN MINH ATLANTIC
Tiếp theo
Ý nghĩa của chữ Vạn
Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua bài trích dẫn trên, chúng ta cũng nhận thấy chữ Vạn là một biểu tượng rất phổ biến ở khắp nơi trên thế giới mà chúng ta quen gọi là thuộc về nền văn hoá cổ đại.
Chúng ta không thể có một cách giải thích nào hợp lý hơn về tính biểu tượng của chữ Vạn cho một giá trị thực tế của nó, khi sự phổ biến của biểu tượng này là gần khắp các miền văn hoá của thế giới trong một quá khứ rất xa chúng ta ngày nay. Bài viết trên cũng đã cho thấy chữ Vạn là một biểu tượng của quyền lực vũ trụ. Vậy thực tế quyền lực vũ trụ ấy là gì?
Bây giờ, xin quí vị hãy quán xét và so sánh hình dưới đây:
Hình chữ Vạn & Đường cong vận đông biểu kiến của các Thiên hà trong vũ trụ
http://viettop.net/bobeo/chuthapxoay.jpg
Hình trên là hai chữ Vạn ngược chiều nhau, mà chúng ta có thể ý niệm được ngay một sự liên quan giữa hình chữ Vạn ngược theo chiều kim đồng hồ (Bên trái của quí vị khi xem trên màn hình) và hình biểu kiến sự vận động của các Thiên Hà. Chúng ta có thể nhận ra ngay chữ Vạn chính là biểu tượng cô đọng nhất của chiều xoay của các thiên Hà trong vũ trụ mà khoa học hiện đại đã khám phá. Chữ Vạn là biểu tượng của Phật Pháp thể hiện nội dung chính của Phật học là sự luân hồi nhân quả. Đó chính là biểu tượng cô đọng nhất sự vận động của vũ trụ và những quy luật của nó bao trùm lên cả kiếp người mà người viết đã minh chứng ở trên. Về nội dung và hình thức của hai biểu tượng này hoàn toàn trùng khớp.
Vậy còn chữ Vạn xuôi biểu hiện cho cái gì? Đây chính là sự tương tác ngược chiều với chiều xoay của các Thiên Hà trong vũ trụ. Nếu bây giờ chúng ta liên hệ hình chữ Vạn với cửu cung Lạc Thư và Hà Đồ thì cũng hoàn toàn trùng khớp: Hình Chữ Vạn xuôi chính là chiều thuận kim đồng hồ của Hà Đồ - chiều tương tác của Vũ Trụ.
Kính thưa quí vị quan tâm
Như vậy cả hai hình chữ Vạn đều mang một ý nghĩa là biểu tượng cô đọng cho sự vận đông tương tác của vũ trụ.
Các nhà khoa học đã phát hiện những di vật mang hình chữ Vạn trong các cổ vật có niên đại từ 8/10.000 năm. Điều này chứng tỏ những tri kiến vũ trụ cao cấp đã tồn tại từ thời xa xưa trên trái đất, trước khi nền văn minh hiện đại phát hiện ra những đường cong vận động của vũ trụ hiện nay.
Điều đáng lưu ý là: Nền thiên văn vũ trụ hiện nay mới chỉ phát hiện những đường cong xoắn ốc cho sự vận động của vũ trụ và chưa hiểu hết nội dung của nó. Còn ở nền văn minh chủ nhân của chữ Vạn đã biểu tượng hoá những đường cong này và thể hiện trong cuộc sống thường nhật, qua các di vật tìm được. Hiện tượng này đã chứng tỏ tính phổ biến của sự nhận thức qui luật vũ trụ và ứng dụng vào đời sống. Điều này cũng giống như tính phổ biến của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong văn minh Lạc Việt, được thể hiện qua nguyên lý “Nam tả, nữ hữu” ngay cả trên y phục (Xin xem: “Y phục thời Hùng Vương”. Văn hiến Việt Nam. Chanthuyen.org).
Điều quan trọng hơn cả và cũng là sự thể hiện trí tuệ thiên văn vượt trôi của nền văn minh đã tồn tại trong quá khứ:
Chính là hình chữ Vạn thể hiện chiều tương tác của vũ trụ.
Lực tương tác ngược chiều với chiều quay của các thiên thể này là gì? Điều này còn chờ sự tiến bộ của khoa học hiện đại trong tương lai!
Theo thiển ý của người Viết:
Chữ Vạn ngược chiều quay của các thiên thể chính là chữ Vạn thể hiện sức mạnh vũ trụ. Chữ Vạn này chính là “Pháp Đại uy nỗ” theo cách gọi của văn minh Lạc Việt.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Vấn đề về sự tồn tại của văn minh Atlantic cũng không dừng lại ở đây. Những giá trị văn hoá phi vật thể của các nền văn minh được coi là thời cổ đại còn những yếu tố trùng khớp hợp lý tiếp tục chứng minh cho sự tồn tại của nó trong quá khứ.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Ngôi sao David của dân tộc Do Thái và Hậu thiên Lạc Việt
Thiên Sứ
24-07-2005, 07:31 AM
Ngôi sao David của dân tộc Do Thái và Hậu thiên Lạc Việt
Chúng ta tiếp tục so sánh và quán xét những di sản văn hoá khác giữa các vùng ghi nhận dấu ấn văn minh trong thời cổ đại - theo quan niệm lịch sử hiện đại - Mà ở đó, người ta không thể chứng minh được sự giao lưu với các nền văn minh, nhưng chúng lại có sự tương hợp kỳ lạ và cùng hướng về một nội dung: Những tri thức về những qui luật của vũ trụ với cuộc sống con người.
Bắt đầu từ Ngôi sao David của dân tộc Do Thái.
Từ hình ngôi sao David nay quí vị so ánh với đồ hình Hậu thiên Lạc Việt mà các cặp Điên đảo Dịch đã kết hợp dưới đây:
1) Ngôi sao David của dân tộc Do Thái và Hậu thiên Bát quái Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn & Khôn).
http://viettop.net/bobeo/lg.jpg
Qua hình trên; quí vị cũng thấy sự trùng khớp về nội dung và hình thức cho hai biểu tượng.
Ngôi sao David:
Biểu tượng của sức mạnh vũ trụ cho sự phát triển và huỷ diệt.
Hậu thiên Lạc Việt:
Thể hiện Âm Dương tiêu trưởng và liên hệ với Địa Cầu. Chỉ có Hậu Thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn & Khôn. mới có thể kết hợp hai quái điên đảo dịch thành một cặp quái bất dịch và tạo thành 6 cực như ngôi sao David.
Nếu chúng ta tách rời ngôi sao David trong tổng thể văn hoá cổ nhân loại; tức là chỉ giới hạn nó trong lịch sử văn hoá Do Thái - thì biểu tượng này chỉ có thể được coi như một biểu tượng thần quyền với quyền lực vũ trụ. Nhưng, Hậu thiên bát quái Lạc Việt lại không phải là một biểu tượng, mà là một siêu công thức phản ánh một thực tại là sự tương tác của vũ trụ với Địa cầu. Hay nói cách khác:
Hậu thiên Lạc Việt phản ánh nhận thức của con người với thực tại tương tác có qui luật của vũ trụ.
Khi chúng ta liên hệ ngôi sao David với Hậu thiên Lạc Việt thì chúng hoàn toàn trùng khớp. Sự trùng hợp về nội dung và sát sao về hình thức, cho thấy:
Ngôi sao David của dân tộc Do Thái là một biểu tượng được lựa chọn có ý thức về một qui luật tương tác của vũi trụ trên Địa Cầu, qua nội dung thực tế của nó là Hậu thiên Lạc Việt.
2) 64 quẻ Chu Dịch và 32 lá bài Tây huyền bí
Nếu quí vị sắp 64 quẻ Dịch thuộc hệt thống Hậu Thiên Bát quái thành 32 cặp quẻ có số thứ tự chẵn lẻ liên tiếp là:
Càn/ 1 & Khôn/ 2;
Truân/ 3 & Mông/ 4…đến hết 64 quẻ, chúng sẽ có tính chất sau đây:
* Khi sắp như vậy ta sẽ có 32 cặp quẻ đối xứng, hoàn toàn trùng khớp với một phương pháp bói bài Tây dùng 32 lá.
* Các cặp quẻ đều có tính đối xúng Âm Dương và hình tượng. Điều này trùng khớp với 32 lá bài Tây cũng có tính đối xứng qua hình tượng mỗi lá bài.
* Trong bộ bài 52 lá; khi bói người ta bỏ tất cả các lá bài có số từ 2 đến 6 thì đây cũng chính là số Cục của Tử Vi:
Từ Hoả Nhị Cục đến Thuỷ Lục cục (Theo Lạc thư hoa giáp).
Xin quí vị xem hình minh hoạ sau đây:
http://viettop.net/bobeo/bai.jpg
Qua hình trên, quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng:
Số lượng lá bài Tây dùng để tiên tri hoàn trùng khớp với 32 cặp qủe Hậu Thiên và cùng một chức năng là dùng để xem bói. Mối quan hệ giữa Hậu Thiên và Hà Đồ qua lá bài Tây cũng không chỉ dừng ở đây. Mỗi lá bài trong 32 lá cũng đối xứng nhau như 32 cặp quẻ.
Sự trùng khớp giữa hai giá trị tri thức cho cùng một mục đích ở hai vùng địa lý khác nhau, chứng tỏ trước đây chúng phải xuất phát cùng một cội nguồn văn hoá.
Vấn đề cũng không dừng lại ở đây.
3) Hậu thiên bát quái & Hà Đồ với 4 chất trong bộ bài Tây
Khi Hậu thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ và chúng ta quán xét, so sánh với 4 chất Cơ - Rô - Chuồn - Pic trong bài Tây lại có sự trùng khớp sau đây.
* Pic - màu đen:
Tính xui xẻo; hiểm độc cùng tính chất với quẻ Khảm/ Thuỷ/ Bắc. Chúng ta thay quái Khảm/Thuỷ / Bắc - Thuộc phần Âm - trên Hà Đồ.
* Chuồn- màu đen:
Sự phát triển, may mắn cùng tính chất với Chấn /Mộc/Đông. Chúng ta thay thế quái Chấn/Mộc/Đông - thuộc phần Âm - trên Hà Đồ. Chuồn cũng biểu tượng là cây, hoa (Thuộc Mộc).
* Cơ- màu đỏ:
Thể hiện tình yêu, tình cảm. Biểu tượng là trái tim cùng tính chất với quái Ly /Quân Hoả: Trái Tim. Chúng ta thay thế quái Ly /Hoả / Phương Nam - Thuộc phần Dương - trên Hà Đồ.
* Rô – màu đỏ:
Sự may mắn; hạnh phúc cùng tính chất với quái Đoài /Kim / Phương Tây. Chúng ta thay thế quái Đoài /Kim / Phương Tây - Thuộc phần Dương - trên Hà Đồ.
Sự trùng hợp này còn thể hiện rõ hơn cho hiện tượng và v/d tôi đã tường ở bài trên (Trang 4 trong tiểu luận này) trên:
Thuỷ & Mộc thuộc Âm (Dùng số Âm 6 – 8 trong Hoàng Đế nội kinh).
Hoả & Kim thuộc Dương (Dùng số Dương 7 - 9 trong Hoàng Đế nội kinh).
Khi chúng ta đặt các lá bài trên cùng tính chất và hình tượng vào Hà Đồ, chúng cũng phân biệt thành hai màu rõ rệt: Đỏ (Dương) và Đen (Âm).
Xin quí vị xem hình sau đây:
http://viettop.net/bobeo/hdbai.jpg
* Hai lá bài “Phăng” phải chăng là biểu tượng, biểu kiến của hai số 5/ 10 thuộc Thổ ở trung cung Hà đồ theo nguyên lý “Vạn vật qui ư Thổ”. Cho nên hai lá bài “Phăng” chấm dứt tất cả cuộc chơi sát phát của bộ bài Tây?!
4) Văn minh Sumer (Irak) với Hậu Thiên Bát quái Lạc Việt
Những bản văn bằng đất sét tìm thấy ở Sumer có niên đại ước tính từ 6 đến 8000 năm trước CN có một trong những nội dung sau:
Ai là kẻ thanh cao trên Trời?
Chỉ có ba!
Ai là kẻ thanh cao dưới Đất?
Chỉ có ba!
Trong Kinh Dịch, khi nói đến những hiện tượng sau khi vũ trụ đã hình thành thì khái niệm Trời Đất thay thế cho Âm Dương trong sự miêu tả tương quan các v/d và hiện tượng giữa Trái Đất và vũ tru. Hậu thiên Lạc Việt chính là siêu công thức biểu tượng cho sự tương tác này. Chúng lại có sự trùng khớp về nội dung và hình thức biểu tượng với câu trên.
Xin quí vị xem hình dưới đây:
http://viettop.net/bobeo/tg.jpg
Qua hình trên thì Hậu Thiên Lạc Việt tạo thành 6 cực và phân làm hai phần:
* Phần Âm:
Gồm 3 cực là Khảm / Khôn/ Tốn & Đoài. Trong đó số hào Âm trội hơn số hào Dương.
Tương đương với câu: “Dưới Đất (Âm) chỉ có 3”.
* Phần Dương:
Gồm ba cực là Càn / Ly/ Cấn & Chấn. Trong đó số hào Dương trội hơn số hào hào Âm.
Tương đương với câu: “Trên Trời (Dương) chỉ có 3”.
Thiên Sứ
Còn tiếp
Thiên Sứ
24-07-2005, 11:04 PM
Tiếp theo
Kính thưa quí vị quan tâm
Như vậy, những nguyên lý khởi nguyên của vũ trụ và sự tương tác với Địa cầu, đã được thể hiện qua những giá trị văn hoá phi vật thể - mặc dù rất ít ỏi - của các nền văn minh cổ, có sự trùng hợp gần như hoàn toàn về nội dung qua hình tượng thể hiện liên hệ với nền văn minh Lạc Việt
(Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán với nguyên lý căn để là Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ).
Những hiện tượng di sản văn hoá phi vật thể này, thuộc về những nến văn minh cổ không hề có sự giao lưu văn hoá ở thời điểm những hiện tượng đó xuất hiện (Theo quan niệm hiện đại). Như vậy; sự lý giải hợp lý cho tất cả những hiện tượng văn hoá vật thể và phi vật thể mà di sản còn để lại thuộc về những nền văn minh cổ đã chứng tỏ:
@ Chúng phải có chung một cội nguồn văn hoá và xuất phát từ một nền văn minh cao cấp có tính toàn cầu. Điều này thể hiện qua các hình tượng khác nhau nhưng lại hoàn toàn thống nhất về nội dung như đã chứng minh ở trên.
@ Lý thuyết thống nhất vũ trụ đã hoàn chỉnh ở nền văn minh này và đã ứng dụng trên thực tế (Tính tiên tri qua phương pháp bói bài Tây và bói Dịch…). Bởi vì:
Không thể có một nền văn minh cao cấp, đạt đến trình độ siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ; lại chỉ có thể được phát hiện riêng rẽ và ứng dụng ở từng miền khác nhau trên trái Đất và không có giao lưu văn hoá – (Vào thời Cổ đại trong lịch sử văn minh hiện tại/theo các nhà nghiên cứu).
Hay nói một cách khác:
Để có một lý thuyết thống nhất vũ trụ thì nền văn minh đó phải có một tri thức vũ trụ, đủ để tổng hợp những tri kiến nhận thức được thành một lý thuyết thống nhất.
Do đó tri thức đó phải có một nền tảng hạ tầng rất phát triển với nền khoa học kỹ thuật ưu tú tương đương, làm cơ sở cho nó.
Thực trạng xã hội hiện đại của chúng ta ngày nay – với sự trao đổi thông tin toàn cầu – mới chỉ mơ ước tới một siêu lý thuyết và còn chưa biết nó có hiện hữu hay không; đã chứng tỏ điều này.
@ Nền văn minh này đã bị huỷ diệt. Chính những bộ phận nhân loại còn sống sót ở những vùng khác nhau trên trái Đất đã lưu giữ trong ký ức của họ những biểu tượng của siêu lý thuyết này. Loài người đã phải làm lại từ đầu và tạo dựng nên lịch sử văn minh hiện nay. Điều này giải thích: Khi các vùng văn minh khác nhau của nhân loại hội nhập trong các xa lộ thông tin toàn cầu, thì chúng lại có sự liên hệ trùng khớp những dấu ấn cổ xưa của một nền văn minh cao cấp, mà các bộ phận khác nhau của nhân loại còn giữ được.
@ Sự hợp lý của việc đổi chỗ Tốn & Khôn cũng như sự chứng minh Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ - đã không dừng lại ở việc giải thích những luận đề bí ẩn trong các phương pháp ứng dụng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành - mà còn chứng tỏ sự hợp lý trong việc lý giải những hiện tượng liên quan đến nội dung của nó:
Chứng minh cho một Lý thuyết thống nhất vũ trụ đã từng tồn tại trong quá khứ, một cách nhất quán với hầu hết mọi hiện tượng liên quan và giải thích một cách hợp lý tất cả các hiện tượng đó.
Bởi vậy, chính những tên tuổi cụ thể được nhắc tới với tư cách là tác gia của nền văn minh Hoa Hạ làm nên thuyết Âm Dương, thuyết Ngũ hành và các phương pháp ứng dụng liên quan, như Tử Vi, Kinh Dịch....lại chính là sự tự phản bác bởi nội dung kỳ vĩ của học thuyết này.
Bởi vì: Lý thuyết thống nhất vũ trụ - mà nhân loại hiện đại còn đang mơ ước – không thể ra đời trên nền tảng xã hội của thời Xuân Thu chiến quốc hoặc thời nhà Chu (?).
Kính thưa quí vị quan tâm.
Về sự tồn tại của một nền văn minh toàn cầu nhưng đã bị huỷ diệt trong quá khứ - ngoài sự ghi nhận của Kinh Thánh - còn được ghi nhận trên những bản văn bằng đất sét của nền văn minh cổ Sumer như sau.
Cơn mưa lớn bẩy ngày bảy đêm.
Cầy sới trên mặt đất.
Một quá khứ chìm sâu.
Sự im lặng bao trùm tất cả.
Mọi người thành đất sét.
Và đến ngày nay, những nhà khoa học cũng đã chứng minh được cơ sở khoa học của trân Đại Hồng Thuỷ. Nhưng hình như ít ai chú ý đến một không gian văn minh đã tồn tại trong quá khứ, vì nó có vẻ như không liên hệ gì với sự phát triển của cuộc sống hiện đại. Nhưng tôi dự đoán rằng:
Trong tương lai không xa, nhân loại sẽ phải cần đến nó, chính vì những giá trị tri thức siêu việt của nó. Lúc đó, người ta sẽ phải nhìn lại qúa khứ vì quyền lợi và sự phát triển của chính con người. Tất nhiên sự bắt đầu phải từ văn minh Lạc Việt.
Bây giờ, nếu chúng ta có thể tin được tính hợp lý trên hầu hết những vấn đề liên quan đến nó và cơ sở của một lý thuyết thống nhất đã tồn tại, thì chúng ta có thể tiếp tục quay trở lại những cơ sở hợp lý cho câu hỏi:
Định mệnh có thật hay không?
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Đại Hồng Thuỷ và khoa học hiện đại
Thiên Sứ
27-07-2005, 12:54 PM
ĐẠI HỒNG THUỶ VÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI
Kính thưa quí vị quan tâm
Bài viết được trích dẫn và giới thiệu tiếp theo đây, là một bằng chứng tham khảo, liên quan đến sự huỷ diệt của nền văn minh Atlantic. Nhưng bằng chứng này lại được chứng minh bằng một phương pháp khác: Phương pháp khoa học thực nghiệm bằng phương tiện hiện đại. Mặc dù kết luận của sự chứng minh này chưa thuyết phục hoàn toàn được cộng đồng khoa hoc. Và cũng có thể phương pháp chứng minh sai, hoặc đúng. Nhưng điều đó cũng không phải là căn cứ để có thể phản bác khả năng về một trận Đại hồng thuỷ đã xảy ra. Bài viết được trích dẫn sau đây như là một phụ bản cần thiết để tham khảo về các vấn đề liên quan.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA KHOA HỌC
Về trận Đại hồng thủy, Kinh thánh viết rằng:
"... tất cả các vòi phun nước từ sâu thẳm đã vỡ ra..."
và
"mưa liên tục trong 40 ngày đêm liền".
Tiến sĩ người Mỹ Baumgardner mới đây đã xây dựng một chương trình siêu máy tính, chứng minh kịch bản đó là hoàn toàn có thể.
Đại hồng thủy, truyền thuyết hay sự thật?
Chúa trời trong vòng 6 ngày đã sáng tạo ra vũ trụ và con người, với Adam và Eva là tổ tiên ban đầu của con người hiện nay. Nhưng từ những ngày đầu khi mới được Chúa tạo ra, Eva đã bị con mãng xà quyến rũ, lừa cho vợ chồng họ ăn trái cấm, vi phạm vào lời răn của Chúa. Từ đó, cùng với sự sinh con đàn cháu đống, loài người ngày càng gia tăng tội lỗi, đến mức Chúa trời cảm thấy đau khổ, không chịu đựng thêm được nữa, đành phải quyết định hủy bỏ mọi sự sống trên trái đất. Tuy vậy, trong mắt Chúa trời, Noah là một người công chính mà Chúa trời tin tưởng, cho nên thay vì phá hủy tất cả để làm lại từ đầu sự sống trên trái đất, Chúa đã làm một Đại hồng thủy nhằm hủy diệt tất cả, trừ gia đình Noah cùng với một số động vật (mỗi loại một cặp đực cái). Sóng thần nổi lên, mưa liên tục 40 ngày đêm, tất cả các ngọn núi đều đắm chìm trong nước, lâu đến 150 ngày.
Tiến sĩ Địa vật lý John Baumgardner, hiện làm việc tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, trực thuộc Bộ Năng lượng Mỹ, là tác giả của chương trình máy tính có tên Terra, một chương trình đặc biệt có giá trị trong nghiên cứu động đất, núi lửa và sự di chuyển của các mảng thạch quyển. Một trong những lĩnh vực mà ông đã bỏ rất nhiều công sức và gặt hái được một số thành quả là: kiến tạo vỏ trái đất có liên quan đến trận Đại Hồng thủy. Sau đây là tóm tắt các kết quả nghiên cứu của ông.
Để hiểu được nghiên cứu này, trước hết bạn hãy làm quen với cấu trúc quả địa cầu mà chúng ta đang sống trên đó.
Hãy tưởng tượng trái đất giống như một quả trứng luộc lòng đào, với đường kính trung bình 12.750 km. Vỏ cứng ngoài cùng của trái đất (tương tự vỏ trứng) rất mỏng so với các lớp trong, độ dày chỉ từ vài đến 100 km. Dưới đại dương là chỗ mỏng nhất của vỏ cứng trái đất (khoảng 5km). Trung bình, lớp vỏ này ở phần lục địa khoảng 30 km, còn tại những dãy núi cao có thể lên đến 100 km. Cũng giống như vỏ trứng, vỏ cứng trái đất rất giòn và dễ vỡ.
Dưới vỏ cứng là lớp vỏ giữa trái đất (manti) tương tự như lớp lòng trắng trứng, có bề dày 2.900 km. Đây là lớp đá bán đặc (không đặc chắc hoàn toàn như lớp vỏ cứng) có mật độ vật chất cao. So với lớp vỏ cứng, lớp này chứa nhiều sắt, magie và canxi hơn. Nhiệt độ tất nhiên cũng cao hơn vì càng tiến sâu vào nhân trái đất, nhiệt độ càng cao.
Tại trung tâm quả đất, giống như lòng đỏ trứng (ở dạng lòng đào), là phần nhân, hay lõi. Phần này gồm 2 lớp: lớp lỏng ở bên ngoài (2.200 km), lớp đặc ở bên trong (1.250km). Nhân quả đất có mật độ cao hơn nhiều phần vỏ vì nó chứa hợp kim sắt - niken.
Lớp vỏ cứng và phần trên của vỏ giữa tạo thành một lớp thạch cầu cứng, có bề dày trung bình 80 km, nhưng không đồng đều giữa đại dương và lục địa. Các nhà khoa học tin rằng bên dưới lớp thạch cầu là một lớp mỏng, khá động của vỏ giữa, được tạo thành từ các vật chất nóng, bán đặc - còn gọi là lớp yếu của vỏ giữa. Lớp này thường bị nóng lên, mềm đi và có thể trôi chảy dưới lớp thạch cầu. Đúng hơn, lớp thạch cầu nổi và di chuyển chậm chạp trên lớp yếu này. Tốc độ trôi của các đĩa thạch cầu phụ thuộc vào độ nhớt của lớp yếu.
Quay lại với công trình của tiến sĩ Baumgardner và chương trình siêu máy tính Terra. Terra chia vỏ giữa của trái đất thành 10 triệu hình lục giác. Mỗi lục giác này được gán cho một giá trị như sức nóng, độ nhớt, phương hướng và các thông số cần tìm kiếm khác. Hãy tưởng tượng một khối rubic tròn với 10 triệu khối lục giác nhỏ cấu thành. Terra bắt đầu chạy từng lục giác theo thời gian, quan sát xem các lục giác đó đi đâu và kết quả sẽ di động các đĩa thạch cầu như thế nào. Với kỹ thuật đồ họa máy tính hiện nay, bạn có thể tưởng tượng khi chạy Terra, ta sẽ thấy trên màn hình một hình ảnh thu nhỏ của quá trình di chuyển vỏ trái đất qua hàng triệu năm.
Dựa vào cơ sở lý luận nào mà có thể chạy được các tiểu lục giác cấu thành lớp vỏ giữa trái đất? Như đã nói ở trên, lớp vỏ giữa trái đất được tạo bởi loại đá silicat khá mẫn cảm với nhiệt, tức ở nhiệt độ cao loại đá này dễ dàng hóa lỏng (bạn hãy liên tưởng đến quá trình nấu chảy thủy tinh). Khi bị hóa lỏng, độ nhớt tăng lên. Càng đi sâu vào lòng đất, nhiệt độ càng tăng lên. Ở độ sâu khoảng 150 km, đá silicat của vỏ giữa trái đất có thể đạt đến 70-80% nhiệt độ nóng chảy. Vật chất (đá) của lớp vỏ giữa bắt đầu một quá trình đối lưu, giống như hiện tượng đối lưu khi ta đun một nồi nước. Vật chất nặng hơn và lạnh hơn ở bề mặt sẽ chìm xuống đáy, trong khi lớp vật chất nhẹ, nóng hơn ở gần nguồn nhiệt sẽ nổi lên bề mặt. Hiện tượng này tạo nên một quá trình đối lưu vật chất trong lòng vỏ giữa trái đất, và vì vậy vỏ giữa không còn ở trạng thái tĩnh, mà động.
Một khái niệm địa vật lý mà tiến sĩ Baumgardner đã dùng là quá trình sụt trôi (runaway subduction). Theo đó, lớp vỏ cứng nặng nề của trái đất chứa một năng lượng giống như thế năng có trong một hòn đá được nâng khỏi mặt đất vậy. Thả cho hòn đá rơi, thế năng sẽ biến thành động năng và khi hòn đá chạm đất, động năng sẽ biến thành nhiệt năng. Tương tự vậy, các đĩa của vỏ cứng trái đất luôn bị lực hấp dẫn của nhân trái đất lôi vào trong, nên luôn chứa trong nó một thế năng khổng lồ. Do bề dày không đồng đều, ở những chỗ mỏng, yếu của vỏ cứng bị nứt rạn, dẫn đến cả một nền đáy đại dương bị kéo chìm vào phần vật chất nhẹ hơn, nóng hơn của vỏ giữa, là nơi cấu tạo bởi đá silicat. Khi các đĩa vỏ cứng "rơi" vào vỏ giữa, nó tạo nên sự biến dạng của lớp đá silicat viền xung quanh. Năng lượng này cuối cùng sẽ được chuyển thành nhiệt, dẫn đến một vành đai bao quanh đĩa vỏ cứng trở nên cực nóng. Do đá silicat nhạy cảm với nhiệt nên nó bị hóa lỏng dưới nhiệt độ cao này, làm cho đĩa vỏ cứng chìm càng nhanh hơn vào lớp vỏ giữa. Khoảng cách rạn nứt giữa các đĩa của lớp vỏ cứng vì thế ngày càng rộng ra, tạo khe hở cho phần vật chất nhẹ, nóng và lỏng trong vỏ giữa trái đất phun trào. Quá trình này dẫn đến sự biến dạng toàn bộ bề mặt trái đất. Lục địa vốn là một khối, lúc này tách ra thành các mảng trôi giạt và rời xa nhau như hiện nay. Quá trình suy sụp vỏ cứng này xảy ra rất nhanh. Nước đại dương khi theo các vết sụt và lỗ hổng mới tạo thành ở đáy biển rơi vào lớp vỏ giữa lập tức biến thành những luồng hơi cực nóng và bị phun ngược trở lại không gian với tốc độ siêu âm. Luồng phản lực hơi này khi xuyên qua bề dày đại dương đã cuốn theo nước biển, bắn nước biển lên không trung theo những quỹ đạo mở rộng về mọi phía, tạo ra mưa liên tục cho đến khi quá trình phun hơi nước chấm dứt. Kinh thánh viết: "... tất cả các vòi phun nước từ sâu thẳm đã vỡ ra..." và "mưa liên tục trong 40 ngày đêm liền". Kết quả tất yếu của kịch bản này là Đại Hồng Thủy.
Để chấp nhận được kịch bản này, vẫn còn 3 câu hỏi lớn cần phải trả lời.
Thứ nhất, theo thuyết sụt trôi thì vùng vỏ cứng của đáy đại dương ở những chỗ rạn nứt sẽ có nhiệt độ rất cao, và quá trình chìm sụt tiếp tục mãi, nhưng tại sao sau trận lụt, vỏ trái đất lại nguội ngay và quá trình chìm sụt không diễn ra nữa?
Thứ hai, nước từ đâu ra lắm thế để có thể mưa 40 ngày đêm liên tục?
Thứ ba, theo cơ chế kích hoạt nào để quá trình sụt trôi có thể bắt đầu
Để chấp nhận được kịch bản Đại Hồng Thủy, TS Baumgardner phải trả lời được 3 câu hỏi lớn: Tại sao sau trận lụt, vỏ trái đất lại nguội ngay và quá trình chìm sụt không tiếp diễn; nước ở đâu nhiều thế để có thể mưa suốt 40 ngày; và cơ chế kích hoạt nào để quá trình sụt trôi bắt đầu?
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, Baumgardner cùng nhà khoa học trẻ Nathanial Morgan tại phòng thí nghiệm quốc gia Los Almos, dựa vào nguyên lý của quá trình truyền nhiệt đa pha đã khẳng định:
1) Việc hình thành cột hơi nước bắn lên với tốc độ siêu âm tại những vết nứt là có căn cứ khoa học,
2) Chính tốc độ cao của các cột hơi nước này đã làm nguội lớp vỏ cứng trái đất. Với tốc độ 14km/giây, 1 kg hơi nước chứa 108 J động năng. Đây chính là năng lượng từ đá nóng chuyển qua. Lượng năng lượng này đủ làm nguội đi 1000 độ K của 140 kg đá. Khi lớp thạch cầu nguội lại, quá trình phun hơi nước kết thúc, quá trình chìm sụt cũng bị ngừng, vỏ trái đất trở lại trạng thái tĩnh cho đến ngày nay. Vấn đề thứ hai đã được lý thuyết cuốn nước, tức nước biển bị cuốn theo các cột hơi nước giải đáp. Do các cột hơi nước được phóng ngược ra ngoài vỏ trái đất với tốc độ cực lớn (tốc độ siêu âm), khi xuyên qua lớp nước biển nó rất ít bị hòa trộn vào nước biển, đồng thời cuốn nước biển theo. Cũng vì thế biển chỉ nóng lên chút ít, chưa thể đạt đến nhiệt độ sôi để nước biến thành hơi rồi thành mây, mưa như trong kịch bản “mây-mưa” mà nhiều người đề nghị.Do quá trình sụt trôi diễn ra ở quy mô lớn, vết nứt của lớp thạch cầu xuất hiện liên tục, ngày càng lan rộng ở vị trí biên giới giữa đại dương và đất liền, lượng nước biển bị cuốn theo các cột hơi nước là khổng lồ, đủ sức làm ngập chìm toàn bộ trái đất.
Hai câu trả lời trên có thể thuyết phục được bởi tính khoa học của nó, song đến câu hỏi thứ ba, những người theo trường phái Sáng tạo chưa thể tìm được bằng chứng mang tính khoa học. Thay vì thế, họ khẳng định: Chúa trời tạo ra cơ chế đó, hay nói nôm na, Chúa trời đã kéo cò cho sự sụt trôi vỏ trái đất. Với các dữ liệu cho trước, chương trình Terra đã chứng minh Đại Hồng Thủy là chính xác, đúng hơn là Có thực. Tuy nhiên, chạy Terra theo cách này, ta thấy có Đại hồng thủy xảy ra cách đây khoảng 6000 năm; chạy theo cách khác ta thấy kết quả là trái đất có tuổi 4,6 tỷ năm như kết luận chung của cộng đồng các nhà địa vật lý hiện nay. Tại sao như vậy? Tiến sĩ Baumgardner cho rằng, ông đúng và các nhà khoa học khác sai! Cái nhầm lẫn của các nhà khoa học, theo ông là ở chỗ các thông số ban đầu nạp vào cho Terra, bởi kết quả làm việc của Terra phụ thuộc vào dữ liệu ban đầu nạp cho nó.Các nhà khoa học sở dĩ cho rằng Trái đất đã 4,6 tỷ năm tuổi là vì họ giả thuyết các giá trị địa vật lý là một thông số khá ổn định kể từ khi trái đất được hình thành. Sự thay đổi độ nhớt của lớp yếu trong vỏ giữa (nói cách khác tốc độ thay đổi trạng thái từ dạng đặc cứng sang dạng mềm lỏng của đá silicat) là quá trình chậm chạp và có chu kỳ. Chu kỳ đó theo các nhà khoa học là 100 triệu năm. Điều đó có nghĩa cứ sau 100 triệu năm, quá trình biến dạng vỏ trái đất lại xảy ra một lần. Căn cứ vào tốc độ di chuyển của đĩa vỏ cứng (các lục địa chẳng hạn), và với hằng số chu kỳ 100 triệu năm, số tuổi của trái đất đã được ước đoán.Song tiến sĩ Baumgardner lại không cho rằng các quá trình địa chất xảy ra ổn định theo thời gian. Có rất nhiều bằng chứng chứng tỏ đã có sự hoạt động bất thường, rất đột ngột, với quy mô và tốc độ rất lớn, xảy ra trong lịch sử. Ở đây chỉ tạm đưa ra 3 trong số nhiều vấn đề mà tiến sĩ Baumgardner sử dụng để chứng minh ý kiến của mình.Trước hết, các phương pháp dùng chất phóng xạ khác nhau đã cho ra kết quả rất khác nhau về tuổi quả đất. Có 3 nguyên tố phóng xạ được các nhà địa vật lý dùng phổ biến hiện nay: samarium (tan rã thành neodymium), rubidium (tan rã thành strontium) và potassium (kali) (tan rã thành argon). Tốc độ tan rã của các nguyên tố này đã được biết rõ. Nhưng oái oăm ở chỗ, cùng một mẫu đá, mỗi phương pháp cho một kết quả khác nhau. Ví dụ, mẫu đá bazan cardenas, một dạng đá núi lửa thuộc thời kỳ tiền cambri (cách đây 4 tỷ đến 750 triệu năm) tìm thấy ở Grand Canyon đã được xác định là 1,7 tỷ năm nếu dùng samarium, 1,1 tỷ năm nếu dùng rubidium và 0,7 tỷ năm nếu dùng potassim.Thứ hai, hiện tượng tích tụ “hóa thân của thực vật” ở các mỏ than đã chứng tỏ một điều rằng nhất thiết phải có một Đại hồng thủy xảy ra. Sức nước mãnh liệt đến mức cuốn theo tất cả rừng trên đường đi của nó, dồn vào những hố trũng trên mặt đất để sau này hình thành các mỏ than.Nếu không, làm sao giải thích được hiện tượng cây cối thì rải rác khắp nơi, còn than thì lại dồn về một chỗ?Thứ ba, sự đồng thời có mặt các vỉa cắt trong đá silicat, đá vôi ở thời Paleozic, Meseozic và thậm chí trong đá Cenozoic đã chứng thực rõ ràng về một sự vận chuyển nhờ năng lượng nước rất cao của các trầm tích này. Thật thú vị, kết cấu, kiểu sắp xếp các trầm tích đá này khá tương đồng với bề mặt hành tinh Venus, đứa em rất giống chị trái đất về kích cỡ và vật liệu cấu thành. Những hình ảnh mà tàu thám hiểm vũ trụ Magellan đầu những năm 1990 thu được khá rõ nét cho thấy, Venus cũng mới trải qua một quá trình trôi sụt, giống hệt kịch bản của tiến sĩ Baumgardner về trận Đại Hồng Thủy. Đương nhiên, các nhà khoa học vô thần chưa "tâm phục khẩu phục" trước lý thuyết sụt trôi. Tuy cho đến lúc này chưa ai có thể bác bỏ, hoặc tìm ra những sai sót thuộc về toán học, hoặc các giả thuyết địa vật lý mà tiến sĩ Baumgardner sử dụng cho Terra, các nhà địa chất học vẫn cho rằng, không thể có quá trình đột biến của kiến tạo vỏ trái đất, mà chỉ có sự thay đổi từ từ với chu kỳ 100 triệu năm mà thôi. Về phía mình, tiến sĩ Baumgardner cương quyết khẳng định giả thuyết như vậy là hoàn toàn sai lầm. Cuộc tranh luận vẫn chưa có hồi kết.
Nguồn Vnexpess 18/2/2004
(Theo Tia sáng, Nguyễn Tiến Vởn)
Kính thưa quí vị quan tâm
Như vậy, với những luận điểm mà người viết đã trình bày ở trên – căn cứ theo tiêu chí khoa học - có thể coi là tạm đủ những yếu tố định tính căn bản dẫn đến một kết luận cho câu trả lời:
Định mệnh có thật hay không?
Nhưng nếu chỉ với một kết luận đơn giản như vậy - về sự có thật của Định mệnh với sự chi phối của những qui luật vũ trụ ngay cả với tư duy của con người - thì vấn đề tiếp theo cho kết luận này sẽ là:
Con người có trách nhiệm gì cho cuộc đời mình và các mối quan hệ của nó, khi mà Định mệnh đã sắp đặt tất cả mọi hành vi của con người?
Kính thưa quí vị quan tâm.
Những bài viết sau đây sẽ tiếp tục bàn về vấn đề này và là một kết luận có thể trình bày trước khi minh chứng, đó chính là:
Tình yêu thương và những giá trị nhân bản chính là cứu cánh của con người. Đây cũng là nền tảng của danh xưng VĂN HIẾN trong truyền thống lịch sử văn hoá Việt trải gần 5000 năm.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp
Thiên Sứ
28-07-2005, 12:24 PM
Kính thưa quí vị quan tâm
Như vậy để trả lời cho câu hỏi tự ngàn xưa của con người:
Định mệnh có thật hay không?
Tiểu luận này đã dẫn chúng ta đến một sự suy nghiệm trên cơ sở tính hợp lý tất yếu giữa các vấn đề liên quan và đã đưa chúng ta đến một hệ quả của nó là:
Đã tồn tại một nền văn minh siêu việt của nhân loại trên trái Đất. Nền văn minh này đã bị huỷ diệt. Lịch sử văn minh nhân loại hiện nay chỉ là sự tiếp tục lặp lại những gì đã xảy ra có tính quy luật.
Hay nói một cách khác:
Suy suy nghiệm – trên cơ sở tương quan hợp lý của những vấn đề và hiện tượng liên quan – đã dẫn đến việc chứng minh cho một lý thuyết thống nhất vũ trụ đã tồn tại trong quá khứ của nhân loại và thuộc về một không gian văn minh khác. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà hệ quả của nó là những phương pháp tiên tri còn lại cho đến ngày nay của chúng ta:
Tử Vi, Tử bình, Thái Ất….chính là một minh chứng sắc sảo nhất.
Nếu như những luận cứ trên đây được coi là đúng - không có một giả thuyết khác, có hệ thống và hợp lý hơn - tôi hy vọng sẽ là tiền đề cho sự phát triển cho những nghiên cứu tiếp theo trong tương lai, để tìm về những giá trị của một nền văn minh đã bị quên lãng. Tất nhiên nó phải là sự tiếp tục phát triển trí tuệ và giúp ích cho con người.
Trước khi đến phần kết luận cho tiểu luận này, người viết xin được tóm lược lại toàn bộ những vấn đề và sự chứng giải liên quan.
TÓM LƯỢC TIỂU LUẬN:
ĐỊNH MỆNH CÓ THẬT HAY KHÔNG?
* Tiêu chí khoa học cho một giả thuyết khoa học là kim chỉ nam cho tất cả mọi phương pháp của tiểu luận này là:
Một lý thuyết hay một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phải có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó, có tính nhất quán, hoàn chỉnh, có tính qui luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.
I - HIỆN TƯỢNG VÀ VẤN ĐỀ:
Những phương pháp tiên tri đã tồn tại từ lâu trong lịch sử nhân loại. Trong đó có những phương pháp tiên tri Đông phương, mang đầy đủ những yếu tố theo tiêu chí khoa học hiện đại. Hiệu quả của phương pháp tiên tri đã đặt ra vấn đề:
Định mệnh có thật hay không?
II – QUI LUẬT VŨ TRỤ VÀ BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC
Chính khả năng tiên tri trong các phương pháp bói toán cổ Đông phương đã chứng tỏ sự tương tác của những qui luật vũ trụ đến cuộc sống và con người. vấn đề được đặt ra là:
Sự tương tác mang tính qui luật của vũ trụ có tác động lên ý thức của con người hay không? Trên cơ sở lời minh giảng của Đức Thích Ca kết hợp với sự khám phá ban đầu của khoa học hiện đại, đã cho thấy tính hợp lý kết luận cho rằng: Ý thức có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác của vũ trụ.
III – LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ
Chính khả năng tiên tri vốn là hệ quả của một lý thuyết đã đặt ra vấn đề:
Có hay không một lý thuyết thống nhất vũ trụ? Hay nói một cách khác: Chính khả năng tiên tri theo phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành đã đặt ra vấn đề này. Nếu không có một lý thuyết thống nhất vũ trụ thì không có khả năng tiên tri.
Lý thuyết Âm Dương Ngũ hành đã thoả mãn những yếu tố định tính cho tiêu chí của một lý thuyết thống nhất. Luận cứ này lại là sự bổ sung cho vấn đề đặt ra ở trên: Ý thức có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác có tính qui luật của vũ trụ:
SW. Hawking đã viết:
”Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất vũ trụ hoàn chỉnh, thì nó cũng sẽ có thể quyết định những hành động của chúng ta. Và như vậy, tự bản thân lý thuyết đó sẽ quyết định kết quả việc tìm kiếm lý thuyết ấy của chúng ta.”
IV – VĂN MINH ATLANTIC
Sự tồn tại của lý thuyết thống nhất vũ trụ - thuyết Âm Dương Ngũ hành – đã đặt ra một vấn đề:
Nền văn minh nào trong lịch sử nhân loaị hiện nay là chủ nhân đích thực của học thuyết này?
Vấn đề được đặt ra trên cơ sở hợp lý của các nền tảng căn bản trong xã hội là tiền đề cần có để tạo nên một lý thuyết khoa học. Không có một nền văn minh nào trong không gian lịch sử hiện nay của nhân loại có khả năng tạo ra lý thuyết thống nhất - thuyết Âm Dương Ngũ hành. Những bản văn cổ nhất của nhân loại và hầu hết những truyền thuyết còn lại trong những dân tộc có nền văn hoá lâu đời đều nhắc tới một nền văn minh bị huỷ diệt vì Đại Hông thuỷ. Những di sản văn hoá cổ ít ỏi còn lại trong văn minh nhân loại đã chứng tỏ sự thống nhất từ cội nguồn văn hoá của nó: Chữ Vạn, bài Tây…Bằng phương pháp khác, khoa học hiện đại cũng chứng tỏ một kết luận tương tự.
Những ý tưởng của tôi có thể xin được bổ xung thêm phần minh chứng của nó là:
Trong cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” đã rất nhiều lần những tác giả của nó (Hoàng Đế; Quỷ Du Khu; Kỳ Bá…) nhắc tới những cổ thư như là sự biện minh cho những luận giải của mình. Điều này chứng tỏ rằng:
Từ thời rất xa xưa, nhân loại đã có một nền văn minh có một lý thuyết rất kinh điển làm cơ sở lý luận cho cuốn Hoàng Đế nội kinh - vốn chỉ là sự vận dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong thực tế ứng dụng của Đông y và cuốn sách này không phải là nội dung của học thuyết đó.
Phần tiếp theo đây sẽ là sự lý giải cho chủ đề đã được đặt ra và những v/d liên quan tới nó:
Kính thưa quí vị quan tâm!
Như vậy! Những tiền đề cho việc lý giải “Định mệnh có thật hay không?” tôi đã
tường theo ý thức chủ quan của tôi – Nhưng không thể coi là đã hoàn chỉnh cho một hệ thống lý thuyết liên quan – đã có thể dẫn tới một kết luận cho nó.
Định mệnh hoàn toàn có thật và đang chi phối con người.
Mặc dù chỉ là những giả thuyết được lý giải trên cơ sở sự tương quan hợp lý giữa các hiện tượng và v/d liên quan. Nhưng tôi hy vọng sẽ được sự lưu ý của quí vị về tính hợp lý không phải chỉ giới hạn trong những hiện tượng và v/d thuộc một phạm trù nào đó. Mà nó liên quan từ sự hình thành vũ trụ cho đến những v/d xã hội và con người. Tính hợp lý trong việc lý giải các v/d và hiện tượng liên quan là yếu tố cần đầu tiên cho một giả thuyết nhân danh khoa học theo tiêu chí của nó. Như vậy; chính với kết luận cho rằng:
Thuyết Âm dương Ngũ hành là lý thuyết thống nhất vũ trụ đã chứng tỏ:
Ngay cả cuộc sống con người; xã hội và tự nhiên đều tuân theo những quy luật xác định mà con người nhận thức được và ứng dụng để tìm hiểu chính mình và cuộc sống . Đó chính là bản chất của Định mệnh.
Những qui luật này chi phối cả ý thức của con người. Và nói theo cách nói của SW.Hawking: Nó đã quyết định con người tìm ra nó và đã tìm ra nó từ thời Hoàng Kim của loài người, từ rất xa xưa của một nền văn minh đã bị huỷ diệt. Nhưng con người không phải là Robo của tạo hoá, không phải “Đồng như cây đất”. Chính bởi vì, mỗi sinh vật trong vũ trụ này, đều có Tính Thấy (Phật tính) để nhận biết tất cả sự tương tác xảy ra. Tính thấy này chính là Thái cực ở cả trong và ngoài những phương tiện nhận biết. Tính Thấy có trong tự thân mỗi sinh vật và ngoại cảnh. Cho dù phương tiện nhận biết có thể khác nhau trong mỗi loài, mỗi sinh vật cùng loài.
Vấn đề còn lại lại chính là: Khi con người nhận thức được bản chất của Định Mệnh và hiểu được tính tất yếu của qui luật – mà nhân quả là một hiện tượng trong pham trù của nó - thì chính con người sẽ tìm cách “Giải thoát khỏi Định mệnh”. Và điều này sẽ dẫn tới một giải pháp tất yếu cho các mối quan hệ xã hội của con người:
Lòng vị tha và những giá trị nhân bản, chính là cứu cánh cuối cùng của con người. Đây cũng chính là nền tảng của một danh xưng Văn Hiến trong lịch sử gần 5000 của dân tộc Việt.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Giải thoát khỏi Định mệnh.
Thiên Sứ
16-11-2005, 10:00 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Do bị trục trặc về kỹ thuât, hầu hết những bài viết có hình ảnh minh hoạ của tôi và bài "Định Mệnh có thật hay không?" đã bị mất. Bởi vậy, có nhiều tiểu luận hoặc bài viết không tiếp tục được, do không có hình ảnh minh hoạ. Nay được sự trợ giúp của ban quản trị và có điều kiện lưu dữ hình ảnh, tôi bắt đầu phục hồi lại những hình ảnh trong các bài viết bị mất và tiếp tục bài mới.
Rất cảm ơn quí vị quan tâm sẽ tiếp tục tìm hiểu những bài viết này.
Chúc quí vị và anh em vạn sự an lạc.
Thiên Sứ
donau
17-11-2005, 04:30 AM
Gửi anh thiên sứ,
đọc bài anh có rất nhiều điều có giá trị, tất nhiên có một số lý thuyết tôi vẫn chưa đồng tình với anh(và cũng chưa có đủ khả năng bác bỏ).
Dù sao cũng rất cảm ơn anh đã chia sẻ quan điểm và những nghiên cứu của anh(một số phần theo tôi rất hữu ích và có giá trị).
Thân ái.
Thiên Sứ
17-11-2005, 07:41 AM
Anh Donau và quí vị quan tâm thân mến.
Một lần nữa xin cảm ơn sự quan tâm của anh. Anh và quí vị cũng biết rằng: Đã từng có những tranh luận, phản bác giữa luận điểm của tôi và những bậc trí giả quan tâm. Nhưng có rất ít người không hề phản bác và họ thuộc vào hàng uyên bác - như anh Trumetin. Quảng Đức. Riêng với anh Trumetin, tôi có một kỷ niệm không quên - khi mà cho đến bây giờ chúng tôi chưa hề một lần trao đổi với nhau một câu - đó là: Anh giới thiệu với anh em bên Tuvilyso.com cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" của tôi. Ngày ấy, Thiên Sứ tui còn ở..."bên Pháp" và là "bạn" của Nguyễn Vũ Tuấn Anh, vì nhiều lý do. Người đầu tiên, công khai đặt vấn đề phản biện tôi là anh Sài Vi Tử với một tinh thần học thuật thật sự. Chính trong nhưng cuộc phản biện này, đã cho tôi tiếp thu được nhiều tài liệu mà tôi không thể có được trong hoàn cảnh của tôi trước đây. Và cũng vì vậy, tôi biết được nhiều người trí quân tử. Như VDTT. Lê Minh Chi. ASVN...Chính những cuộc tranh biện với những bậc trí giả này, đã khiến cho những luận điểm của tôi được chú ý bắt đầu từ Tuvilyso.com.
Bởi vậy, dù ngày nay tôi không còn sinh hoạt bên tuvilyso.com nữa. Nhưng tôi vẫn nhớ đến anh Hoàng Quí Sơn - Thiên Kỳ Quí và anh em quản trị viên bên tuvilyso.com sự biết ơn với những người đã tạo một điều kiện cần, để tôi có cơ hội minh chứng cho:
Dân tộc Việt với gần 5000 văn hiến.
Nhưng cũng chính từ những cuộc tranh luận này là nguyên nhân sâu xa, dẫn đến sự đóng mục VHLV. Bởi vậy, cho đến bây giờ tôi vẫn buồn và cho rằng thật là một sai lầm lớn khi Tuvilyso.com đóng mục VĂN HIẾN LẠC VIỆT. Cũng may, bên Chanthuyen - Vietlyso.com mở mục này, nếu không mục đích của tôi sẽ đi vào bế tắc. Trước đó, tôi đã cảnh báo ban quản trị rằng: Nếu đóng mục VHLV thì sẽ là một sai lầm chiến lược cho trang web Tuvilyso.com. Hình như tôi đã nói đúng.
Dù sao chăng nữa, tôi vẫn nhớ đến anh em quản trị viên và anh Thiên Kỳ Quí một tình cảm chân thành với nhiều kỷ niệm và lòng biết ơn đối với nơi đã cho tôi cơ hội đầu tiên, thể hiện một cách rộng rãi quan điểm của mình. Bởi vậy, nhân đây, tôi vẫn mong muốn Tuvilyso.com mở lại mục VĂN HIẾN LẠC VIỆT.
Chính cũng vì vậy, tôi không muốn sa đà vào những cuộc tranh luận mà không có mục đích làm sáng tỏ chân lý.
Cũng chính vì nhưng va chạm như vậy, mà tôi thấy rất ít có ai công khai bày tỏ quan điểm như anh:
"tất nhiên có một số lý thuyết tôi vẫn chưa đồng tình với anh (và cũng chưa có đủ khả năng bác bỏ)."
Sách xưa viết:
"Biết thì nói rằng biết. Không biết nói là không biết. Đấy là người trí quân tử."
Tôi chẳng phải vì tham danh mà cố bảo vệ quan điểm của mình về một dân tộc Việt với lịch sử gần 5000 văn hiến. Nếu chỉ tham danh, chắc tôi đã chẳng dám sửa chữa Càn Khôn, mà hàng ngàn năm thiên hạ vẫn tin như sấm ấy. Mà vì tôi nhận thấy và đã chứng minh đó là chân lý. Vì chân lý đó mà tôi cố gằng thôi. Nếu như tôi cảm thấy liều lượng vừa đủ, lúc đó tôi cũng gác kiếm giang hồ - hoặc trở về với thân cát bụi, bỏ lại sự phù du của thế nhân.
Hy vọng rằng: Lúc ấy sẽ cùng với những người bạn chân tình và với anh, nhâm nhi ly rượu , kể chuyện cười dân gian.
Chúc anh vạn sự an lành.
Thiên Sứ
trinha
17-11-2005, 02:37 PM
Kính gởi Bác Thiên Sứ
Rất cảm ơn những bài viết của Bác Thiên Sứ giúp Trinha được học hỏi rất nhiều , vì hiên nay việc tìm hiểu các kiến thức Phương đông Trinha trong tình trạng không Thầy không bạn và tài liệu học tập rất thiếu thốn.
Trinha có một thắc mắc về vị trí Tốn (Đông Nam) Khôn (Tây nam) nếu như khi áp dụng mà rơi vào hai vị trí này thì kết quả sẽ bị sai lệch phải không ? ví dụ như trong Mai Hoa dịch số căn cứ phương vị đ ể suy ra quẻ - trong thí dụ Ông già có sắc mặt lo âu t ừ phương Tốn (Đông nam ) tới thì có được quẻ Thiên Phong Cấu thay vì Thiên địa Bĩ (Khôn ở Đông nam).
Trước đây lúc Thầy của Trinha còn sống có nghe Thầy k ể vào thời kỳ Trung quốc đô hộ , thầy đ ịa l ý Trung quốc có trấn ếm long mạch của Việt Nam nh ưng không thành công vì múi giờ và phương vị khác nhau (phía Bắc vùng đất Bắc – Trung quốc - khác phía Bắc vùng đất Nam – Việt Nam – Thầy có nói vị trí Bát quái có lẻ là tr ên Lac Thư nhưng rất tiếc Trinha không nhớ rõ , Thầy cũng khẳng định là Kinh dịch là của Người Việt , ngưới Trung Quốc đã lấy bộ sách Việt dịch , sau đó là người Nhật Bản lấy bộ sách này từ người Trung quốc và dùng vào việc canh tân nước Nhật trong câu chuyên này có nghe Thầy nhắc tên Hồ Quý Ly , Trinha không nhớ chắc lắm .
Kính chào.
Thiên Sứ
22-11-2005, 09:53 PM
TriNha thân mến.
Tôi nhớ có một lần bên tuvilyso có bói về việc Giáo Hoàng là người nước nào. Có Minh Thuận toán quẻ. Tôi thấy trong quẻ có quẻ Tốn , tôi đoán là người phía Tấy nước Ý. Quẻ nghiệm. Thuyết đổi chỗ Tốn Khôn và liên hệ Hà Đồ tôi đã ứng dụng lâu rồi và rất nghiệm.
Người Hán - đặc biệt là Cao Biền trấn yểm long mạch Việt Nam thất bại chính vì sự sai lệch này.
Tôi chưa có thời gian để hiòan chỉnh tất cả các môn. Nhưng tôi tin rằng:
Hậu Thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn Khôn liên hệ Hà Đồ là nguyên lý đúng.
Rất cảm ơn sự quan tâm của bạn.
Vài bữa tôi rảng sẽ phục hồi lại hình ảnh trong bài Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt và hoàn tất tiểu luận này.
Chúc bạn vạn sự an lành.
Thiên Sứ
trinha
24-11-2005, 09:02 AM
Kính gởi Bác Thiên sứ
Trinha cám ơn Bác đã hồi âm giải đáp thắc mắc, không biết sắp tới Bác có mở chuyên đề Phong Thủy Lạc Việt không? Trinha biết Bác đang dành thời gian cho lớp Lạc Việt Độn Toán, nếu có thời gian Trinha nhờ Bác giải đáp dùm thắc mắc về Phong thủy, khi thay đổi vị trí Tốn Khôn, thì 24 sơn hướng có thay đổi gì không?
Chúc Bác nhiều sức khỏe
Kính chào.
Thiên Sứ
24-11-2005, 03:10 PM
TriNha thân mến.
Tham vọng của tôi là phục hồi lại toàn bộ phương pháp ứng dụng của Lý số Đông phương trên nguyên lý căn bản là Hậu Thiên Lạc Việt liên hệ với Hà Đồ.
Tôi cũng muốn làm sáng tỏ một chân lý là:
Chính sự tương tác có tính qui luật trong vũ trụ là thực tại của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bát quái chỉ là những ký hiệu siêu công thức của học thuyết này.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước.
Tôi sẽ phục hồi môn phong thuỷ trước tiên trong các phương pháp ứng dụng Đông phương. Về việc này tôi luôn quan niệm cho rằng:
Tất cả những cái gọi là trường phái Phong thuỷ trong lịch sử văn minh Hán , chỉ là sự phát hiện và Hán Hoá nhanh chậm những mảng khác nhau của một phương pháp thống nhất chính là Phong Thuỷ Lạc Việt, khi nền văn minh Lạc Việt đã bị xoá sổ từ hàng ngàn năm trước đó.
Có lẽ tôi hơi chủ quan khi cho rằng: Tất cả đã hoàn chỉnh. Tôi chỉ cần thời gian và phương tiện.
Bạn Tri Nha thân mến.
Rất cảm ơn bạn đã quan tâm hỏi thăm về vị trí 24 sơn và ứng dụng thay đổi Tốn Khôn.
Tôi xin được trình bày như sau:
Trước đây là Thìn - Tốn - Tỵ theo sách Hán. Thì bây giờ là Thìn - Khôn - Tỵ theo sách Việt. Tương tự như vậy với 3 sơn ở Tây Nam.
Cảm ơn sự quan tâm của bạn.
Thiên Sứ
trinha
24-11-2005, 04:30 PM
Kính gởi Bác Thiên sứ
Cám ơn Bác đã hồi âm rất nhanh thắc mắc của Trinha.
Chúc Bác có nhiều thuận lợi để thực hiện hoài bảo của mình.
Kính chào.
Thiên Sứ
28-11-2005, 02:01 PM
Thay lời kết
GIẢI THOÁT KHỎI ĐỊNH MỆNH
Kính thưa quí vị quan tâm!
Trong các bài viết trên tôi đã trình bày và chứng minh rằng:
Thuyết Âm dương Ngũ hành là lý thuyết thống nhất vũ trụ.
Điều này đã chứng tỏ:
Cuộc sống con người, xã hội và tự nhiên, đều tuân theo những quy luật xác định mà con người có thể nhận thức được và ứng dụng để tìm hiểu chính mình và cuộc sống .
Đó chính là bản chất của Định mệnh.
Những qui luật này chi phối cả ý thức của con người.
Hay nói theo cách nói của SW.Hawking:
Nếu quả thật có một lý thuyết thống nhất vũ trụ thì nó sẽ quyết định con người tìm ra nó hay không(Tức là nó quyết định khả năng trí tuệ và định hướng tư duy của con người/ Thiên Sứ).
Tôi đã chứng minh rằng:
Con người đã tìm ra nó - thuyết Âm Dương Ngũ hành - từ thời Hoàng Kim của loài người, từ rất xa xưa của một nền văn minh đã bị huỷ diệt.
Như vậy, về lý thuyết:
Định mệnh hoàn toàn có thật!
Tôi có thể khẳng định rằng: Nếu phủ nhận định mệnh thì nền khoa học lý thuyết trong tương lai của nhân loại sẽ bế tắc. Bởi vì, sự phủ nhận tự nó đã chứng tỏ không có tính thống nhất các qui luật trong vũ trụ (SW. Hawking . sđd) . Như vậy, trong tương lai sẽ không thể có lý thuyết thống nhất vũ trụ.
Về lý thuyết thì Định mệnh chi phối cả ý thức của con người, của tôi, của bạn, của tất cả thế nhân.
Điều này giải thích câu: “Nhất ẩm, nhất trác. Giai do tiền định” .
Hay nói một cách khác: Tất cả mọi hành vị của chúng ta đang bị chi phối bời Định Mệnh, kể cả những gì chúng ta đang suy nghĩ.
Luận điểm của tôi có thể là táo bạo. Nhưng tôi hy vọng rằng: Những người có tri thức khoa học nhạy cảm và cả những người có đức tin tuyệt đối vào Đấng Chí Tôn đầy quyền năng, sẽ không vội phản bác tôi. Vì đấy sẽ là sai lầm lớn nhất của họ. Cho dù Khoa học và Thượng Đế đang tranh luận với nhau ở hai phía đối xứng của cái bàn tròn.
- Nếu các nhà khoa học phủ nhận luận điểm của tôi thì chắc chắn chính họ sẽ phủ nhận khả năng tồn tại của một lý thuyết thống nhất, theo tiêu chí mà SW. Hawking đã trình bày.
- Nếu các bậc lãnh đạo mọi giáo phái và các tôn giáo trên thế gian này phủ nhận luận điểm của tôi thì Thượng Đế không còn quyền năng gì với con người. Bởi vì lúc đó họ sẽ thừa nhận ý thức của con người là tự nó và do nó. Tất nhiên nó không thuộc quyền năng chi phối của Đấng Tối cao và cũng có nghĩa là nó có quyền lựa chọn hoặc không công nhận Thượng Đế.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Định mệnh hoàn toàn có thật và đang chi phối cả tư duy con người .
Nhưng, điều này không có nghĩa rằng con người đã hoàn toàn bế tắc trước Tạo hoá, khi mà sự tương tác của vũ trụ đang chi phối ý thức của con người.
Bởi vì:
Khi một sự thật đang hiện hữu – dù là cực lớn, cực nhỏ, vi mô hãy vĩ mô - thì tất yếu về mặt lý thuyết phải có cái nhận biết được thực tại đó.
Đây chính là giá trị tột cùng của nhận thức khi mà mọi giá trị của ý thức hay các trạng thái mà con người quen gọi là tinh thần là một thực tại của vật chất. Nhưng mỗi sinh vật trong vũ trụ này, đều có Tính Thấy (Phật tính) để nhận biết tất cả sự tương tác xảy ra (Tất nhiên vấn đề còn là phương tiện để nhận biết nó). Tính thấy này chính là Thái cực ở cả trong và ngoài những phương tiện nhận biết. Tính Thấy có trong tự thân mỗi sinh vật và ngoại cảnh. Cho dù phương tiện nhận biết có thể khác nhau trong mỗi loài, mỗi sinh vật cùng loài. Tính Thấy – không sinh, không diệt có từ vô thuỷ đến vô chung chính là Thái Cực trong Lý học Đông phương, là Đạo trong Đạo Đức Kinh.
Cũng chính vì sự hiện hữu của Tính Thấy – Thái Cực - mà con người phải chịu trách nhiệm về hành vị của mình.
Tính Thấy – cũng chính là khả năng kiểm soát được ý thức và đạt đến giải thoát, là “Tự do đầu tiên và cuối cùng”(*) của mỗi con người. Đó cũng chính là nguyên nhân để mỗi con người phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình.
Hệ quả của các phương pháp tiên tri Đông Phương, có đầy đủ các tiêu chí khoa học hiện đại đã chứng tỏ rằng: Nó là hệ quả của một Lý thuyết thống nhất vũ trụ có khả năng giải thích từ sự hính thành vũ trụ đến mọi hành vi của con người.
Thông qua những phương pháp tiên tri này - hệ quả của một lý thuyết, chúng ta cũng nhận thấy một tri thức đồ sộ và siêu việt của nền văn minh đã nhận thức được nó và là tiền đề của nó.
Vấn đề còn lại là:
Khi con người nhận thức được bản chất của cái mà con ngươì quen gọi là Định Mệnh và hiểu được tính tất yếu của qui luật – mà nhân quả là một hiện tượng trong pham trù của nó - thì chính con người sẽ tìm cách “Giải thoát khỏi Định mệnh”. Và điều này sẽ dẫn tới một giải pháp tất yếu cho các mối quan hệ xã hội của con người:
Lòng vị tha và những giá trị nhân bản, chính là cứu cánh cuối cùng của con người đang sống kiếp trần gian.
Tính thấy có trong tất cả mọi sinh vật trên thế gian và trong từng suy niệm của con người.
“Vạn vật đồng nhất thể”.
“Tất cả chúng sinh đều có Phật tính”.
“Cha ta ở trong ta và ta ở trong Cha ta. Chúa ở cùng anh chị em và ở cùng cha” .
Chính là cơ sở thực tại của tình yêu thương con người
Đây cũng chính là cơ sở của danh xưng Văn Hiến trong lịch sử gần 5000 năm của dân tộc Việt.
Nền văn hiến Lạc Việt có nền tảng thực tại là sức mạnh của những qui luật vũ trụ - Sức mạnh của Rồng và giá trị nhận thức được nó bằng trí tuệ của Tiên thánh. Đây cũng chính là thực tại của một hình tượng đầy tự hào trong con ngươì Việt:
Con Rồng - Cháu Tiên.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
-----------
* Chú thích: Tựa một cuốn sách đã được dịch ra tiếng Việt. Tôi quên mất tên tác giả.
Thiên Sứ
12-12-2005, 11:09 PM
TƯ LIỆU KHOA HỌC CẬP NHẬT
Kính thưa quí vị quan tâm
Trong tiểu luận: "Định mệnh có thật hay không?" tôi đã đề cập đến khả năng tồn tại của một nền văn minh trước thời gian lịch sử của nền văn minh hiện đại - Tôi gọi là nền văn minh Atlantic.
Tư liệu khoa học mới đây đang tải trên VnExpress có thể làm rõ hơn điều này. Xin trích lại để tham khảo.
Người Sume cổ hiểu hệ mặt trời trước khi có kính thiên văn?
Phải đến tháng 8 năm 1986, Voyager 2, con tàu thăm dò liên hành tinh do Mỹ phóng đi vào năm 1977, mới bắt đầu gửi về trái đất những hình ảnh cận cảnh đầu tiên về Hải Vương tinh, hành tinh thứ 8 trong hệ mặt trời. Nhưng trước đó 6.000 năm, người Sume cổ "đã biết điều đó".
http://vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2005/12/3B9E4FB0/htinh2.jpg
Hệ mặt trời. Từ trong ra là Thuỷ tinh, Kim tinh, Trái đất, Hoả tinh, Mộc tinh, Thổ Tinh, Thiên Vương tinh, Hải Vương tinh và Diêm Vương tinh.
Các nhà khoa học tại Phòng thí nghiệm lực đẩy ở Pasadena, bang California, đã tìm thấy rất nhiều dữ liệu kinh ngạc trong khi tìm hiểu những bức ảnh do Voyager 2 gửi về. Đầu tiên, màu sắc của Hải Vương tinh đã làm sửng sốt các nhà khoa học. Đó là một quả cầu xanh lơ nhạt với vài đốm mây trắng. Thứ hai, trục quay của hành tinh này nghiêng một góc, cho thấy nó có nhân bên trong lỏng, nóng rực và từ trường mạnh.
Căn cứ vào dữ liệu và hình ảnh do tàu Voyager gửi về từ vùng biên Thiên vương tinh năm 1986, cũng như thông tin trên sao Mộc và sao Thổ do con tàu này gửi về trước đó, con người đã có thể nhìn sâu hơn vào hệ mặt trời theo cách hoàn toàn khác trước đây.
Tuy nhiên, liệu chúng ta có phải là những người đầu tiên quan sát các hành tinh xa nhất trong thái dương hệ?
Nhà ngôn ngữ học và sử học Zachariah Sychin tin rằng dữ liệu từ tàu Voyager đơn giản chỉ xác nhận lại những dự đoán của ông được công bố đầu tiên trong cuốn sách có tựa đề Hành tinh thứ 12, xuất bản năm 1976.
Sychin cũng tin rằng dữ liệu thu được từ tàu thăm dò thống nhất với các văn bản của người Sume cổ - những văn bản được viết ra 6.000 năm trước. Nền văn minh Sume nổi lên ở vùng Lưỡng Hà (một phần Iraq ngày nay) khoảng 4.000 năm trước Công nguyên. Theo Sychin, người Sume đã phát minh ra bánh xe, lò luyện đất nung và hệ thống tưới tiêu. Quan trọng hơn, họ đã phát minh ra các khái niệm cơ bản về thiên văn học.
Họ sử dụng chữ viết hình nêm để mô tả các phát hiện của mình lên những cái bàn đất sét, các bức tượng nhỏ và những thanh lăn bằng đá, bằng cách khắc ngược những biểu tượng và hình vẽ. Ảnh thật được tạo ra khi người ta lăn các thanh đá này lên đất sét mềm.
Sychin đã nghiên cứu những bài viết về nền văn minh Sume trong hơn 30 năm qua. Một ngày kia, ông tìm thấy một thanh lăn hiếm hoi trong một bảo tàng ở Tây Berlin. Ngoài hình ảnh một vị thần đang đưa cái cày cho con người, thanh lăn còn thể hiện một họa đồ đáng kinh ngạc về bầu trời, cho thấy các hành tinh với mặt trời ở trung tâm. Tổng cộng, đồ họa này chứa 12 hành tinh, trong đó bao gồm cả mặt trời và mặt trăng.
Sychin đã kinh ngạc khi nhìn thấy bức ảnh về Thiên Vương tinh mà tàu Voyager 2 gửi về hồi tháng 1 năm 1986. Bản mô tả của người Sume về hành tinh này - mash.sig, nghĩa là "xanh lục sáng" - phù hợp gần như hoàn toàn với bức tranh màu hơi lục của Thiên Vương tinh trên màn hình tivi. Bản dịch của Sychin về mô tả của người Sume "hum.ba", đọc là "thực vật đầm lầy".
Ông tin rằng điều đó chứng tỏ sự có mặt của loại vật liệu nửa lỏng được khám phá trên Hải Vương tinh 3 năm sau đó. Người Sume coi Thiên Vương tinh như anh em sinh đôi của Hải Vương tinh. Dữ liệu thu được bởi tàu thăm dò dường như xác nhận quan điểm này. Không giống với Thiên Vương tinh, màu của Hải Vương tinh là xanh lơ. Hành tinh này có từ trường mạnh, một khối nhân nửa lỏng nóng bỏng và nhiều nước.
Câu hỏi ở đây là:
Bằng cách nào người Sume có thể biết những điều trên ở vào thời điểm mà kính thiên văn lẫn vệ tinh đều chưa ra đời?
Sychin khẳng định ông có thể trả lời câu hỏi này. Theo ông, người Sume nhận được những lời khuyên bí mật từ những người xa lạ sống trên hành tinh Nibiru - hành tinh thứ 12 nằm giữa Mộc tinh và Hoả tinh. Những người này được cho là đến thăm trái đất sau mỗi chu kỳ 3000 năm.
"Có thể thấy điều đó trong những văn bản bao gồm cả các thần thoại về Anki và trái đất", Sychin nói.
Andy Cheng, một nhà nghiên cứu trong nhóm liên lạc với tàu Voyager thứ hai, thừa nhận rằng có nhiều sự tương đồng giữa hai hành tinh "sinh đôi" Hải Vương và Thiên vương tinh. Tuy nhiên, ông tin rằng bất kỳ hành tinh nào (trừ trái đất) đều không thể tồn tại sự sống nếu nó nằm trong hệ mặt trời, bởi khi đó khoảng cách của nó sẽ là quá gần hoặc quá xa để sự sống có thể được nuôi dưỡng.
Cũng theo Cheng, thanh lăn của người Sume cổ có thể chỉ chứa hình ảnh cách điệu hoá của những vì sao ngẫu nhiên nào đó mà không ám chỉ một biểu đồ chính xác về bầu trời. Francesca Roshberg-Halton, một chuyên gia hàng đầu về người Sume tại Đại học Notre Dame, thì bình luận nặng nề hơn: "vô giá trị". "Các ký tự hình nêm có thể được phiên mã theo một cách thái quá. Đôi khi, một số nhà giải mã có kinh nghiệm còn làm mọi chuyện rối lên. Chẳng có gì giống như vậy là thiên văn học của người Sume cả", bà nói.
Cũng theo Roshberg-Halton, nghiên cứu của Sychin đã mắc phải vài sai lầm. "Người Sume chỉ biết đến 7 hành tinh trong đó có mặt trời và mặt trăng. Vì thế, 12 hành tinh là điều vô ích. Ngôi sao sáng nhất ở tâm của bức tranh cũng không phải là mặt trời, mà là sao Kim", bà nói.
T. An (theo Pravda)
Kính thưa quí vị quan tâm
Riêng Thiên Sứ tôi cho rằng:
Người Sume là hậu duệ còn sống sót của nền văn minh Atlantic. Họ cố gắng ghi lại những tri kiến mà họ còn giữ lại trong ký ức với hy vọng lưu truyền cho đời sau những tri kiến của họ.
Bởi vì: Không có lý do gì mà một nền văn minh đồ đá cần đến tri kiến thiên văn dù chỉ là biết tới sao Kim.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Thái-Âm
13-12-2005, 05:05 PM
Thật đáng khâm phục chú Thiên Sứ. Cháu đã xem liền một mạch tất cả chủ đề này mà không nghỉ ăn trưa. Chú quả thực là một người có lòng tự tôn dân tộc rất lớn.
Cảm ơn chú nhiều và chúc chú mạnh khoẻ.
Thiên Sứ
13-12-2005, 05:51 PM
Thái Âm thân mến.
Cảm ơn sự khen ngợi của Thái Âm.
Tôi nghĩ mỗi con người trên thế giới ai cũng có lòng tự hào về cội nguồn dân tộc. Người Việt cũng vậy. Nhưng vấn đề ở đây là:
Niềm tự hào gần 5000 năm văn hiến của dân tộc Việt chỉ dựa trên nền văn hoá truyền thống với những truyền thuyết và huyền thoại, hay đó là một chân lý xứng đáng với niềm tự hào đó.
Tôi tin và đã chứng minh rằng:
Lịch sử gần 5000 năm văn hiến của dân tộc Việt là một chân lý.
Thiên Sứ
Thái-Âm
14-12-2005, 12:10 PM
Để tiện cho việc lưu trữ và in ra cho dễ đọc, Thái âm đã copy tất cả tiểu luận của bác Thiên Sứ và làm thành một file word (khoảng 130 trang) ai có nhu cầu xin gửi địa chỉ e-mail tôi sẽ cung cấp.
khonglaai
14-12-2005, 01:08 PM
Để tiện cho việc lưu trữ và in ra cho dễ đọc, Thái âm đã copy tất cả tiểu luận của bác Thiên Sứ và làm thành một file word (khoảng 130 trang) ai có nhu cầu xin gửi địa chỉ e-mail tôi sẽ cung cấp.
Xin gởi đến cho tôi. tuvilyso@mail.ru
Cảm ơn bạn Thái Âm.
Thân.
khonglaai
Thái-Âm
15-12-2005, 10:36 AM
Xin gởi đến cho tôi. tuvilyso@mail.ru
Cảm ơn bạn Thái Âm.
Thân.
khonglaai
Tôi đã gửi rồi. Nhận được rồi hoặc chưa xin confirm lại cho tôi biết.
Chân Trân
15-12-2005, 11:28 AM
Để tiện cho việc lưu trữ và in ra cho dễ đọc, Thái âm đã copy tất cả tiểu luận của bác Thiên Sứ và làm thành một file word (khoảng 130 trang) ai có nhu cầu xin gửi địa chỉ e-mail tôi sẽ cung cấp.
Thái Âm vui lòng gửi cho Trân với nha, please. Cám ơn nhiều.
Xin gửi vào đây dùm nghen : btranb703@yahoo.com (Xinbtranb703@yahoo.com)
trananh2004
15-12-2005, 01:36 PM
Xin chào Thái Âm - ban đã là được một việc tuyệt quá - mong bạn gửi cho mình với
email : namanh2005@gmail.com
Xin cảm ơn nhiều
Trần Anh
trinha
15-12-2005, 03:13 PM
Xin chào Thái Âm
Cho trinha xin 1 bản. Địa chỉ email : trinha@hcm.vnn.vn
Chân thành cám ơn
Trinha
trananh2004
15-12-2005, 03:30 PM
Cảm ơn Thái âm
Tôi đã nhận được rồi
Trần Anh
khonglaai
15-12-2005, 06:17 PM
Tôi đã gửi rồi. Nhận được rồi hoặc chưa xin confirm lại cho tôi biết.
Vô tình quá mất. Tôi đã nhận rồi. Xin cảm ơn nhiều.
Sorry, bận lu bu quá mà.
khonglaai
Chân Trân
16-12-2005, 05:44 AM
Cám ơn bạn Thái Âm. Mình đã nhận được rồi . http://www.vietlyso.com/forums/images/smilies/yb63.gif -hihi-
trinha
16-12-2005, 03:10 PM
Trinha đã nhận được rồi. Cảm ơn Thái âm
Trinha.
tanmi
04-01-2006, 02:32 PM
Xin cho toi mot ban ạ, email cua toi la small_swan@yahoo.cọm Cam on thai am truoc nhẹ
DongTuu
04-01-2006, 02:45 PM
Bạn Thái Âm cho tôi xin 1 bản với nhé. Xin cảm ơn. Email của tôi là
dongtuu @ yahoo.com.
Thiên Sứ
15-02-2006, 01:11 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong tiểu luận: "Định mệnh có thật hay không?" tôi đã chứng minh cho sự tồn tại của một nền văn minh có mặt trên Địa cầu mà tôi gọi là: Văn minh Atlantic. Chính nền văn minh này đã đạt đến tri thức của Lý thuyết thống nhất vũ trụ - thuyết Âm Dương ngũ hành - nó đã bị huỷ diệt bởi thiên tai. và dân tộc Việt chính là hậu duệ còn sống sót thuộc về nền văn minh này. Một hiện tượng được phát hiện dưới đây của các nhà nghiên cứu, cũng sẽ được giải thích một cách hoàn chỉnh bởi giả thuyết này trong "Định mệnh có thật hay không?".
Xin trân trọng giới thiệu cùng quí vị:
Thứ tư, 15/2/2006, 09:52 GMT+7
Từng có một nền văn minh ở Nam cực?
Một tấm bản đồ ra đời từ thế kỷ 16 đã vẽ lại chính xác bờ biển phía Bắc Nam cực, nhưng là khi nó chưa hề bị băng bao phủ. Làm sao con người có thể biết rõ lục địa này ở thời điểm họ chưa hề có dụng cụ đo đạc hiện đại như ngày nay? Phải chăng một nền văn minh xa xưa đã làm điều đó.
Sự tồn tại của nền văn minh thời tiền sử ở Nam cực bắt đầu được các nhà sử học quan tâm từ sau Thế chiến II. Giả thuyết này có thể được chứng minh bởi các bản đồ thời trung cổ cùng nhiều cuộc nghiên cứu của các chuyên gia địa chất và địa lý.
Tháng 1/1820, đại úy Mikhail Lazarev thuộc Hạm đội hoàng gia Nga đã khám phá lục địa mới này. Vào đầu thế kỷ 20, bộ Từ điển bách khoa nổi tiếng của Nga Brockhaus and Efron có ghi một đề mục về Nam cực, theo đó lục địa này chưa được khảo sát đầy đủ và không có hệ động thực vật.
http://vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2006/02/3B9E6B36/bando.jpg
Tấm bản đồ của Piri Reis, chỉ rõ Nam Mỹ, bắc châu Phi và bờ biển phía bắc của Nam cực. (world-mysteries)
Năm 1929, người đứng đầu bảo tàng quốc gia Istanbul, Halil Edhem, tìm thấy một bản đồ cổ vẽ trên da linh dương trong khi xem xét lại thư viện của các hoàng đế Byzantine... Tác giả bản đồ mô tả rất kỹ bờ biển phía Bắc châu Phi, phía Nam của Nam Mỹ và bờ biển phía Bắc của Nam cực. Halil rất ngạc nhiên với khám phá này. Ông thấy trên bản đồ rìa băng Queen Maud Land ở vĩ tuyến 70 không có băng, mà thay vào đó là một dải núi... Tên của tác giả bản đồ này không xa lạ gì với Edhem. Đó là đô đốc Piri Reis, thuộc hạm đội của đế quốc Ottoman, sống vào nửa đầu thế kỷ 16.
Điều kỳ lạ không chỉ ở chỗ làm sao đô đốc Piri Reis có thể lập bản đồ chính xác về khu vực Nam cực từ 300 năm trước khi nó được phát hiện, mà câu hỏi tập trung vào việc tại sao tấm bản đồ thể hiện được vùng Nam cực từ khi vùng này chưa bị băng che phủ. Piri giải thích bên lề của bản đồ rằng ông đã dựa theo nhiều nguồn tài liệu cũ trước đây, một số thuộc về thời đại của ông, số khác có niên đại xa hơn, khoảng thế kỷ 4 trước Công nguyên. Một trong những tài liệu này có từ thời Alexander Đại đế. Theo bản đồ của Reis, phần ven biển của lục địa không phủ băng.
Năm 1949, một toán thám hiểm hỗn hợp Anh - Thuỵ Điển đã tiến hành thăm dò vùng cực Nam của lục địa qua lớp băng dày 1,6 km. Kết quả đã khẳng định phần bản đồ thể hiện vùng đất Queen Maud Land có độ chính xác tuyệt đối so với số liệu đo đạc bằng phương pháp địa chấn. Điều đó chứng tỏ vùng bờ biển này đã được vẽ lên bản đồ trước khi bị băng che phủ.
Điều trùng hợp là tấm bản đồ Piri Reis cũng được vẽ theo phương pháp phân định địa cầu theo kinh tuyến và vĩ tuyến. Nhưng theo lịch sử thì tấm bản đồ về trái đất đầu tiên theo phương pháp này do John Harrison, người Anh, vẽ từ năm 1761. Như vậy có phải từ hơn 6.000 năm trước người ta đã biết trái đất hình cầu?
Khoa học chính thống luôn cho rằng băng bao phủ bề mặt Nam cực có độ tuổi 1 triệu năm. Với toàn bộ phần phía Bắc của châu lục này được thể hiện như vậy trước khi băng bao phủ thì có thể suy ra là bản đồ được vẽ từ 1 triệu năm trước, nhưng điều này thật khó giải thích, bởi lúc đó con người còn chưa có mặt. Vậy liệu tấm bản đồ Piri Reis có được ghép từ sản phẩm của một nền văn minh mà ta chưa từng biết?
Trong cuốn sách Bản đồ về những đại dương cổ xuất bản năm 1979, giáo sư Charles Hapgood nhận định tấm bản đồ Piri Reis lấy nguồn tư liệu từ những tấm bản đồ của người Minoans và Phoenicians, những tộc người có nhiều nhà hàng hải giỏi. Những tấm bản đồ họ vẽ ra được lưu giữ trong thư viện Alexandria và Constantinople. Trong cuộc Thập tự chinh lần thứ 4 vào năm 1204, những tấm bản đồ đó được chuyển về châu Âu. Theo Hapgood thì trong số đó có cả những tấm bản đồ về châu Mỹ, Nam cực và biển Nam cực. Thật là kỳ diệu khi người xưa có thể vẽ ra Nam cực lúc nó chưa hề bị đóng băng. Và chuyện trở nên hấp dẫn bởi làm sao họ có thể đo đạc chính xác trên bản đồ đến vậy.
Từ câu chuyện về tấm bản đồ Piri Reis, người ta nêu lên giả thuyết rằng đã có những nền văn minh bị biến mất cùng với trình độ công nghệ phát triển khá cao. Năm 1953, một sĩ quan hải quân gửi tấm bản đồ này đến Trung tâm nghiên cứu bản đồ lục quân Mỹ. Kỹ sư trưởng của trung tâm cùng nhà nghiên cứu bản đồ cổ Arlington H. Mallery đo đạc và so sánh Piri Reis với những bản đồ hiện đại. Họ đi đến kết luận tấm bản đồ này có độ chính xác tuyệt đối mà chỉ có thể dùng phương pháp định vị qua vệ tinh để đo đạc mà thôi. Vậy ai là người đã vẽ bản đồ 6.000 năm trước để ông Piri Reis sử dụng làm cơ sở vẽ cho bản đồ của mình?
Có một giả thuyết cho rằng:
Giữa thiên niên kỷ thứ 5 và thứ 10 trước Công nguyên, một nền văn minh của loài người từng tồn tại trên hành tinh. Con người thời đó sở hữu kiến thức to lớn về hàng hải, nghiên cứu bản đồ, thiên văn... với trình độ không kém hơn so với nền văn minh thuộc thế kỷ 18. Người ta cho rằng đây là nền văn minh do loài người tạo dựng chứ không phải của người ngoài hành tinh. Nó có thể khởi phát trên bờ biển phía Bắc của Nam cực hoặc ở các quần đảo của lục địa này, vốn có khí hậu ôn hoà vào thời điểm đó. Sau đó, nền văn minh này có thể lấn chiếm sang vùng Đông Bắc lục địa Phi châu.
Nền văn minh chưa được biết này có thể đã biến mất do sự xâm lấn của băng, bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ 10 trước Công nguyên. Một lý do khác của sự biến mất này có thể là cơn đại hồng thuỷ đưa đến ngập lụt kéo dài. Các thảm họa thiên nhiên như vậy có thể tàn phá toàn bộ nền văn minh sơ khai.
(Theo Tài Hoa Trẻ, Pravda)
Nguồn VnExpress
Xin cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ giới thiệu.
Thiên Sứ
20-02-2006, 03:51 PM
TƯ LIỆU KHOA HỌC
Thông tin bổ sung:
Về khả năng tồn tại một nền văn minh tiền Atlantic.
Trên Tuổi trẻ Online ngày 20. 2. 2006 có đăng bản tin khoa học sau đây:
Thứ Hai, 20/02/2006, 13:58 (GMT+7)
Con người đã biết ghi âm từ 6.500 năm trước?!
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=116030
TTO - Các nhà khoa học Bỉ cho rằng mình đã phát hiện ra một "thiết bị ghi âm” cổ nhất thế giới...
Họ đã dùng máy tính để quét toàn bộ các rãnh xoắn nằm trong lòng một chiếc bình cổ có đến 6.500 tuổi để xem những rãnh xoắn này mang ý nghĩa gì. Điều hết sức thú vị là sau khi được giải mã bằng các kỹ thuật giải mã âm thanh hiện đại thì những rãnh xoắn này lại phát ra những âm thanh kỳ lạ, bao gồm cả tiếng người nói và cười.
Bạn đọc quan tâm có thể vào đây (http://www.zalea.org/article.php3?id_article=496) để tải video clip MP4 miêu tả sự kiện này về tham khảo.
THIÊN TRANG (Theo Therawfeed)
Kính thưa quí vị.
Không thể coi rãnh khắc có chủ ý trong bình gốm và có khả năng phát âm lại tiếng nói là một hiện tượng ngẫu nhiên. Mặc dù để khắc các rãnh này người ta có thể sử dụng phương pháp thô sơ. Nhưng vấn đề tôi tiếp tục đặt ra ở đây với các nhà nghiên cứu khoa học là:
1) Ít nhất người sống cách đây 6500 năm phải có một dụng cụ phát lại những âm thanh này.
2) Hoặc chí ít họ cũng ý thức về một khả năng về một phương tiện có thể phát lại những âm thanh này.
1) Trường hợp I thì vấn đề là:
Dụng cụ phát âm lại là dụng cụ gì? Nguyên lý của dụng cụ này như thế nào?
2) Trường hợp 2 thì vấn đề sẽ là:
Tại sao họ có ý thức về một phương tiện phát âm để phục chế những âm thanh mà họ đã ghi lại?Tại sao tồn tại ý thức đó?
Chúng tôi rất hy vọng có sự công tác và giúp đỡ của những nhà khoa học và các tổ chức khoa học quan tâm tìm hiểu về các vấn đề liên quan.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
ThanhNgoc
20-02-2006, 06:55 PM
Bạn thai-am gửi cho mình 1 bản với nhé. D/c email của mình là thanhngoctvls@yahoo.com. Cám ơn bạn nhiều nhé !
Cho Luke một bản nhé -hihi-
lucke2811@yahoo.com
thanks
Thái-Âm
21-02-2006, 11:35 AM
Computer của tôi đang trục trặc. Mọi người chịu khó đợi nhé. Có thể chiều nay máy ok thì tôi sẽ gửi.
Thiên Sứ
21-02-2006, 02:04 PM
Thái _Am thân mến.Chú còn nợ Thái _ Âm một lá số của đứa nhỏ. Nhưng chú bận quá, nên chưa xem được. Thái Âm ở Hanoi hay Sai Gòn? Chú có thể gặp trực tiếp Thái _Âm để luận lá số này.
Chúc Thái _Âm vạn sự an lành.
Thiên Sứ
alcalcalc
22-02-2006, 03:16 AM
Để tiện cho việc lưu trữ và in ra cho dễ đọc, Thái âm đã copy tất cả tiểu luận của bác Thiên Sứ và làm thành một file word (khoảng 130 trang) ai có nhu cầu xin gửi địa chỉ e-mail tôi sẽ cung cấp.
Kính gủi Thái Âm,
Thái Âm vui lòng gủi cho ALC một bản.
alcalcalc@gmail.com
ALC xin cảm ơn Thái Âm.
Kính chúc Thái Âm luôn vui khỏe.
ALC
Thái-Âm
22-02-2006, 09:25 AM
Tôi đã gửi đến địa chỉ e-mail của mọi người. Nhận được hay chưa xin mọi người confirm lại nhé.
Thái-Âm
22-02-2006, 09:31 AM
Thái _Am thân mến.Chú còn nợ Thái _ Âm một lá số của đứa nhỏ. Nhưng chú bận quá, nên chưa xem được. Thái Âm ở Hanoi hay Sai Gòn? Chú có thể gặp trực tiếp Thái _Âm để luận lá số này.
Chúc Thái _Âm vạn sự an lành.
Thiên Sứ
Cháu cảm ơn chú còn nhớ đến lá số. Cháu biết chú rất bận mà. Khi nào rảnh chú giúp cháu nhé. Rất tiếc là cháu ở Hà Nội - hihihi, điều này chú biết rồi nhưng chắc chú quên đấy - nên chắc sẽ chỉ được gặp chú trực tiếp khi chú đi công tác ra HN thôi. Vậy khi nào ra HN chú báo cho mọi người biết với nhé.
alcalcalc
23-02-2006, 12:31 AM
Tôi đã gửi đến địa chỉ e-mail của mọi người. Nhận được hay chưa xin mọi người confirm lại nhé.
Kính gủi Thái Âm,
ALC đã nhận được rồi.
ALC xin cảm ơn Thái Âm .
Chúc Thái Âm luôn bình an , hạnh phúc.
ALC
thien duc
23-02-2006, 12:59 AM
Để tiện cho việc lưu trữ và in ra cho dễ đọc, Thái âm đã copy tất cả tiểu luận của bác Thiên Sứ và làm thành một file word (khoảng 130 trang) ai có nhu cầu xin gửi địa chỉ e-mail tôi sẽ cung cấp.
Chào Thái Âm !
Xin gửi cho tôi theo địa chỉ thienduc@mail.ru
Cám ơn Thai Âm nhiều.
Thiên Đức-clap-
gacum
23-02-2006, 01:10 AM
Thái Âm có thể gửi cho tôi được ko, thank u so much.
Địa chỉ của tôi là phamgiatu2003@yahoo.com
ThanhNgoc
23-02-2006, 04:13 AM
Cám ơn bạn Thái Âm, mình nhận được mail của bạn rồi
ninhthuan
23-02-2006, 02:38 PM
Xin Thai Am gửi cho Ninh Thuận 01 bản
Email : pngtuan@hcm.vnn.vn
Xin cám ơn Thai Am nhiều
thien duc
24-02-2006, 01:46 AM
Chảo bạn Thái Âm, tôi đã nhận được mail của bạn rổi.Cám ơn bạn nhiều
Thiên Đức
maika
28-02-2006, 06:36 PM
Thái âm cho Maika xin một bản nhé, cảm ơn Thái âm rất nhiều.
spikekid92@yahoo.co.uk
maika
01-03-2006, 02:03 PM
Maika nhận được rồi, cảm ơn Thái âm nhiều.
ninhthuan
01-03-2006, 05:30 PM
Ninh Thuận nhận được rồi. Cám ơn Thái Âm nhiều
Cô Bé Hạnh Phúc
04-03-2006, 01:29 PM
Nhờ Thái Âm gởi 1 bản đến cho CBB tới địa chỉ cobebuon@hotmail.com. Cảm ơn Thái Âm nhiều nhiều.
whatdoineed
05-03-2006, 10:00 PM
Thái âm có thể gửi cho W 1 bản vao whatdoineed79@yahoo.com đc ko?
Thxxxxxxxxxxx.
thanhdc
07-03-2006, 05:18 PM
Thái âm cho thanhdc xin một bản nhé, cảm ơn Thái âm rất nhiều.
thanhdc.dtcorp@gmail.com
Thiên Sứ
27-05-2006, 12:36 PM
Kinh thưa quí vị quan tâm.
Trong tiểu luận: "Định mệnh có thật hay không?" tôi đã hân hạnh trình bầy sự tương quan giữa Tính Thấy với phương tiện nhận biết. Dưới đây là một thực tế minh hoạ cho luận điểm trong tiểu luận này.
Nguồn VnExperss
Phân biệt màu sắc bằng tay
Sergei Fetisov, một người khiếm thị ở thành phố Vladimir, Nga có khả năng đặc biệt: phân biệt màu sắc bằng xúc giác. Ngoài ra, ông còn có thể "thấy" được quầng sáng của một người và biết được người đó bị đau ở đâu.
Sergei bị mù ở tuổi 14 từ một lỗi lầm của chính mình. Do hiếu động, cậu bé nghĩ cách chế tạo một khẩu súng ngắn rồi đem ra bắn thử. Khẩu súng nổ ngay trên tay, một viên đạn bay vào mắt trái và làm tổn thương phần sọ của Sergei. Các bác sĩ cho rằng cậu bé này sẽ không sống nổi, nhưng em đã vượt qua được tuy phải chịu đựng cảnh mù vĩnh viễn.
Không còn thấy ánh sáng, nhưng Sergei Fetisov không đầu hàng số phận, ông đã sống và lao động với một nghị lực mạnh mẽ. Ông tham gia Hội những người khiếm thị Nga, học để đọc sách bằng chữ nổi và đảm trách công việc của người giao hàng. Cách đây vài năm, trong một dịp tình cờ, Sergei phát hiện mình có một năng lực đặc biệt. Một phụ nữ đến Hội người khiếm thị để dạy cho những người mù phân biệt màu sắc bằng xúc giác. Đa số những người ở hội đều không thể nói được màu sắc từ tấm thẻ của bà đưa ra, chỉ có Sergei là phân biệt được cả. Sau giai đoạn rèn luyện kiên trì, Sergei đã thành thạo trong việc phân biệt màu sắc bằng cách sờ lên một vật.
Tuy nhiên, không phải ai cũng tin vào khả năng đặc biệt của Sergei, ngay cả những người bạn thân của ông cũng hoài nghi về khả năng phân biệt màu sắc bằng những ngón tay này. Họ thường tìm dịp để thử tài ông.
Có lần, một người phụ nữ quen đến đánh đố Sergei về màu tóc của bà. Sergei nắm lấy mớ tóc, giữ nó trong tay thật lâu mà chưa nói được chính xác màu gì. Sau đó, ông lúng túng nói: "thật ra tóc của chị có nhiều màu... Hơi lạ là nó có cả màu đỏ, trắng và đen". Nghe thế, người phụ nữ phá lên cười. Bà nói rằng đã nhuộm tóc với nhiều màu cách nay không lâu. Và Sergei đã nói đúng các màu trong số nhiều màu tóc kỳ quặc đó.
Không lâu sau, Sergei đã làm cho mọi người ngạc nhiên khi ông bộc lộ một số năng lực khác nữa, ví dụ như có thể "thấy" được hào quang phát ra của một người và nói được người đó đang bị đau ở đâu. Ông nhấn mạnh rằng mình không thể chẩn đoán bệnh mà chỉ cảm nhận được khi người đối diện bị nhức đầu hay đau răng. Ông thấy được quầng sáng bằng cách sờ vào đối tượng. "Quầng sáng của mỗi người mỗi khác, nhưng nó không bao giờ là đơn sắc. Hào quang tốt thì sáng, màu vàng hay đỏ, còn hào quang xấu thì có màu đen hay nâu", ông giải thích.
Sergei cho rằng mình không phải là một thuật sĩ. Theo ông, đôi khi người ta phát lộ một kỹ năng đặc biệt sau khi bị một chấn thương nghiêm trọng nào đó. Hiện nay, Sergei tận dụng mọi cơ hội để đi du lịch và hoạt động thể thao như bơi lội, chạy bộ. Chơi cờ là sở thích mới của ông. Ông có thể dùng những quân cờ bình thường để chơi vì phân biệt được màu sắc của chúng bằng những ngón tay.
Trưởng phòng kiểm tra sự hồi phục thuộc Hội người khiếm thị, Andrey Bannikov cho rằng những ngón tay của người mù có độ nhạy cảm rất cao. Họ có thể đọc sách bằng chữ nổi rất nhanh, một số người còn có thể đọc được những bản chữ đã mòn, nhưng dùng những ngón tay phân biệt được màu sắc là chuyện ông chưa hề nghe thấy trước đây. Không ai trong số 202.000 người mù của hội có thể chứng tỏ được tài năng đặc biệt này, trừ Sergei Fetisov. Và năng lực này của ông có thể liên quan đến lĩnh vực thần bí mà con người chưa giải mã được.
(Theo Tài Hoa Trẻ, Pravda
Thiên Sứ giới thiệu.
testsuda
27-05-2006, 11:18 PM
.Mong anh Thai am gui cho toi 1 ban, chan thanh mang on anh
testsuda@yahoo.com
Thái-Âm
29-05-2006, 11:56 AM
Vì lâu không vào mục này nên Thái Âm không nhớ là đã gửi cho những ai. Vừa rồi đã gửi cho những bạn sau: Cobebuon, Whatdoineed, Thanhdc và Testsuda.
Nếu ai nhận được rồi xin confirm lại để tránh việc bị nhận 2 lần~*~
Thái âm
hạt gạo làng
29-05-2006, 02:16 PM
cảm phiền anh Tha-am gui cho Menone một bản nhé. Cám ơn anh nhiều.
venguon@gmaịlcom
Kẻ Hành Khất
01-06-2006, 02:32 AM
Vào link dưới để download nà các bác
http://viettop.net/bobeo/DinhMenhCoThatHayKo.rar
testsuda
02-06-2006, 06:46 PM
vang ,toi da nhan duoc, xin chan thanh cam on anh
testsuda
02-06-2006, 08:03 PM
.Kính thưa Sư Phụ, đọc qua tiểu luận về Định mệnh của Sư Phụ, con có vài théc méc sau, có lẽ do trình độ nhận thức và tri thức của con còn kém cỏi, nêu ra đây chỉ mắc công bận lòng Sư Phụ.Nếu Sư Phụ có rảnh thì chỉ bảo thêm cho.
1) Về vấn đề "con người cỏ phải là Robot sinh học hay không" , con vẫn chưa tiếp thu hết.Vì : nếu như ý thức đã chịu tác động của các quy luật Vũ trụ thì cái ranh giới nào , phạm vi nào mà trong đó ý thức tự thân nó không bị tác động ? Vì nếu ý thức bị tác động 1 cách tuyệt đối thì rõ ràng con người phải là 1 Robot sinh hoc.
2) Đức Thích Ca Mâu Ni là người đã thoát khỏi Định mệnh, kiếp luân hồi.Thế thì chỉ ngay trước thời điểm mà Đức Thích Ca giác ngộ, Ngài vẫn còn chịu sự chi phối của Định mênh.Hay rõ ràng hơn là : cả 1 quá trình tu hành công phu gian khổ của Ngài vẫn hoàn toàn chịu sự chi phối của Định mệnh chỉ cho đến thời điểm Ngài giác ngô.Liệu có gì mâu thuẫn uẩn khúc chăng, khi quá trình mà Ngài suy tư để thoát khỏi Định mệnh, trong suốt quá trình ấy tư duy của Ngài vẫn bị những Qui luật của Vũ trụ chi phối. Hay chính Định mệnh đã chi phối tư duy của Ngài để dẫn dắt Ngài đến cõi Niết Bàn. Nói cho bình dân là : chính Định mệnh đã xui khiến để Ngài được giài thoát khỏi Định mệnh
Vài lời mọn, ý thô, mong Sư Phụ để tâm nếu có chút thời giờ rảnh rỗi.
Thiên Sứ
10-06-2006, 08:07 PM
Testsuda thân mến.
Cả hơn tuần nay tôi không vào mục này, không ngờ Testsuda có câu hỏi. Nên tôi trả lời chậm. Những thắc mắc của Testsuda làm tôi có phần thú vị vì có người quan tâm đến tiểu luận của tôi. Tôi trả lời những thắc mắc đó như sau:
Testsuda hỏi:
1) Về vấn đề "con người cỏ phải là Robot sinh học hay không" , con vẫn chưa tiếp thu hết.Vì : nếu như ý thức đã chịu tác động của các quy luật Vũ trụ thì cái ranh giới nào , phạm vi nào mà trong đó ý thức tự thân nó không bị tác động ? Vì nếu ý thức bị tác động 1 cách tuyệt đối thì rõ ràng con người phải là 1 Robot sinh hoc.
Thiên Sứ:
Chỉ có hai dạng tồn tại hai của ý thức.
# Ý thức phi vật chất.
Trong khả năng này thì ý thức không chịu sự tương tác của vật chất. Bởi vậy, trong khả năng này thì ý thức hoàn toàn tự thân. Đây là điều mà SW Hawking đã đặt ra - và tôi đã trích dẫn - thì sẽ không thể có một lý thuyết thống nhất vũ trụ.
# Ý thức là một dạng tồn tại của vật chất
Trong trường hợp này thì ý thức chịu sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ và không có vấn đềnhư Testsuda đặt ra:"Nếu như ý thức đã chịu tác động của các quy luật Vũ trụ thì cái ranh giới nào , phạm vi nào mà trong đó ý thức tự thân nó không bị tác động" . Vì đã là một dạng tồn tại của vật chất thì nó phải chịu sự tương tác tuyệt đối theo các quy luật tương tác của vật chất. Và chính xác là con người là một robo sinh học - Nếu con người không tự hiểu được điều đó. Cũng SW Hawking đặt vấn đề này: "Nếu có một lý thuyết thông nhất thì nó sẽ quyết định chúng ta có tìm ra nó hay không". Hay nói cách khác, nó sẽ quyết định ý thức của chúng ta. Tại sao nó quyết định được ý thức của chúng ta? Nếu như ý thức không chịu sự tương tác có tính qui luật của vũ trụ. Và chỉ trong điều kiện này mới khẳng định được: Khả năng tồn tại của một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà các nhà khoa học đang mơ ước. Trong tiểu luận này của tôi, tôi đã chứng minh:
Đó chính là Thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Testsuda hỏi:
2) Đức Thích Ca Mâu Ni là người đã thoát khỏi Định mệnh, kiếp luân hồi.Thế thì chỉ ngay trước thời điểm mà Đức Thích Ca giác ngộ, Ngài vẫn còn chịu sự chi phối của Định mênh.Hay rõ ràng hơn là : cả 1 quá trình tu hành công phu gian khổ của Ngài vẫn hoàn toàn chịu sự chi phối của Định mệnh chỉ cho đến thời điểm Ngài giác ngô.Liệu có gì mâu thuẫn uẩn khúc chăng, khi quá trình mà Ngài suy tư để thoát khỏi Định mệnh, trong suốt quá trình ấy tư duy của Ngài vẫn bị những Qui luật của Vũ trụ chi phối. Hay chính Định mệnh đã chi phối tư duy của Ngài để dẫn dắt Ngài đến cõi Niết Bàn. Nói cho bình dân là : chính Định mệnh đã xui khiến để Ngài được giài thoát khỏi Định mệnh.
Thiên Sứ
Đúng như vậy và không có gì mâu thuẫn cả. So sánh hiện tượng giác ngộ của Đức Phật vơí cách nhìn của SW Hawking là - Hawking viết:
"Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất vũ trụ thì nó sẽ quyết định chúng ta có tìm ra nó hay không?". Đức Phật khi chưa giác ngộ thì Ngài cũng phải chịu sự chi phối của các qui luật tương tác của vũ trụ: Sinh ra, sống, lớn lên, lấy vợ, có con...Nhưng Ngài đã được sự dẫn dắt của những qui luật để đến suy nghiệm tự thân và giác ngộ ra chân lý tuyệt đối : Sự giải thoát khỏi Định mệnh. Hay nói theo Phật pháp - Giải thoát khỏi nghiệp chướng luân hồi. Điều này tương tự như những qui luật tương tác của vũ trụ quyết định con người sẽ tìm được "Lý thuyết thống nhất vũ trụ".
Chính vì vậy, sự trích dẫn những lời thuyết giảng của Đức Phật và giải thích theo cách hiểu của tôi, đã là yếu tố cấu thành rất cần thiết cho tiểu luận này.
Hoàn toàn không có gì mâu thuẫn.
Testsuda thân mến.
Thực ra, vấn đề mà tôi đặt ra trong tiểu luận này là hết sức táo bạo. Tôi chứng minh: Thuyết Âm Dương ngũ hành là lý thuyết thống nhất vũ trụ. Đây là điều mà các nhà khoa học hàng đầu cũng chưa dám khẳng định điều này. Tất nhiên nó không thể là một kiến thức phổ thông để ai cũng có thể thẩm thấu. Tôi hết sức khách quan và khiêm tốn khi viết những dòng này. Chỉ nội cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" đã đủ cho tôi gặp rất nhiều phiền phức. Huống chi là một tiểu luận với những vấn đề phức tạp hơn nhiều. Bởi vậy, tôi thật sự thất vọng và muốn né tránh những cuộc chất vấn tranh luận. Thậm chí có lúc tôi không muốn viết gì cả. Mọi việc đã có qui luật thì hãy để quy luật quyết định. Ngay từ khi quán xét bãi đá cổ Sapa, tôi đã có ý tưởng này. Nòng nọc cuối cùng cũng sẽ thành cóc thôi, hơi đâu kiện cáo tranh luận lôi thôi.
Tiểu luận :"Định mệnh có thật hay không?" đã được chính thức xuất bản do Nxb Tôn Giáo với tựa: "Đức Phật khai ngộ về tính thấy". Đây là điều tôi hoàn toàn thất vọng vì một cái tựa ngớ ngẩn. Có lẽ đây cũng là một nguyên nhân để xuất hiện ý kiến cho rằng: Nhưng ý tưởng của tôi thuộc về pham vi tôn giáo!? Híc! Nói vậy Testsuda hiểu được phần nào nguyên nhân sự chán nản của tôi.
Nhưng vì sự khiêm tốn mà hỏi của Testsuda nên tôi trả lời như vậy. Sau này tôi có thể im lăng. Những điều tôi đã viết ra, đã chính thức được in, đều có thể tự suy nghiệm.
Một luận điểm được coi là khoa học thì người ta có thể phản biện được nó.
Tất cả những sách và bài viết của tôi đều có thể phản biện được trên cơ sở tri thức khoa học..
Một lần nữa thành thật cảm ơn Testsuda quan tâm đến tiểu luận của tôi.
Thiên Sứ
testsuda
10-06-2006, 11:06 PM
.Xin cám ơn Sư Phụ rất nhiều.Tâm sự của Sư Phụ , testsuda phần nào hiểu được. Không cần Sư Phụ nói, testsuda cũng biết nhiều người không có cảm tình với các vấn đề mà Sư Phụ nêu ra. testsuda luôn chủ trương tự do tư tưởng, luôn chấp nhận mọi luồng quan điểm, ý kiến trái ngược nhau, vì thực ra theo testsuda : chân lý chỉ tương đối.Và xét trên vấn đề quyền lợi thì rõ ràng thái độ kình chống nhau hoàn toàn mang tính phá hoại chứ không phải xây dựng.
.Về vấn đề Định Mệnh của Sư Phụ, testsuda cảm thấy được học hỏi nhiều điều khi đọc Tiểu luận này.Nói gì thì nói, cũng phải công nhận rằng Tiểu luận của Sư Phụ đã khơi gợi mặc cảm tự ái của Nhân Loại. Đơn giản vì khi cho rằng: con người là Robot Sinh Học , thì coi như đã gián tiếp hạ thấp vị thế của con người, con người so với món đồ chơi điện tử, có khác gì ? Và testsuda nghĩ đa phần những người phản đối Sư Phụ là vì cái mặc cảm này chứ không phải vì những khúc mắc mang tính lý luân. Có lẽ cần phải thông cảm cho họ.
.testsuda nghĩ chắc Sự Phụ sẽ không vui khi quá nhiều người phản đối vấn đề mà Sư Phụ đặt ra.Nhưng mặt khác, cũng phải công nhận rằng, chính họ cũng rất bối rối và thậm chí hoang mang bởi những điều mà Sư Phụ đưa ra.
.Kính
Thiên Sứ
10-06-2006, 11:56 PM
Testsuda thân mến.
Để nói rõ hơn về vấn đề "robot sinh học", tôi cần phải có vài lời với hy vọng tránh mặc cảm về mặt tâm lý. Đây cũng là điều tôi đã nói trong tiểu luận này. Thực ra chính Đức Phật đã nói điều này và Ngài Anan đã phải thốt lên:"Như vậy con người đồng như cây đất chăng?".
"Đồng như cây đất" là nói theo cách diễn đạt cổ. Còn nói theo ngôn ngữ hiện đại thì chính là "Robot sinh học". Nhưng chính vì việc này, Đức Phật mới chỉ ra chân lý của sự giải thoát. Tức là khi con người kiểm soát được ý thức - đây là một trong những yêu cầu cao cấp của thiền học. Khi ấy, con người sẽ hoà nhập với tính thấy. Bởi khi thấy rằng "Định mệnh là có thật!" và ý thức là một dạng tồn tại của vật chất và chịu sự tương tác có tính qui luật của vật chất thì lúc ấy con người sẽ ngộ ra rằng: Cái gì nhận biết được điều đó? Hay nói rõ hơn: Cái nhận biết được định mệnh và biết được sự suy nghĩ trong ta đang nghĩ gì. Cái đó chính là vô thượng chánh đẳng giác và không thuộc về định mệnh. Đó là sự giải thoát.
Einstein đã từng nói rằng: "Phật giáo chính là tôn giáo của tương lai!". Vào thời điểm này, tôi cho rằng: Phật giáo chính là sự minh triết của tương lai!".
Thiên Sứ
Thiên Sứ
07-07-2006, 02:16 PM
KÍNH THƯA QUÍ VỊ QUAN TÂM
Bài viết dưới đây về bí ẩn tượng sư tử mặt người Shinx ở Ai Cập. Nếu giả thuyết của những nhà địa chất đúng trong bài viết này thì đây sẽ là một bằng chứng nữa cho thấy khả năng tồn tại một nền văn minh trước nền văn minh của chúng ta. Trong tiểu luận: "Định mệnh có thật hay không?" tôi đặt tên là "Nền văn minh Atlantic".
Trân trong giới thiệu.
Bí mật về tượng sư tử mặt người "Shinx"
Trên quảng trường đại Kim tự tháp Phi-Lin (Guy Zeh) gần Cai-rô thủ đô Ai Cập có một tượng thần sư tử mặt người rất nỗi tiếng . Đó là tượng Shinx mà người ta thường nói đến . Tương truyền SHinx học được nhiều câu đố của nữ thần trí tuệ Mu-Si na-li đã làm hại không biết bao nhiêu người . Sự tồn tại của bản thân nó đã trở thành bí mật văn hóa lớn nhất trong lịch sử Ai Cập.
Tượng Shinx được điêu khắc từ một tảng đá tự nhiên cực lớn cao 22m, dài khoảng 57 m, tai dài 2 m, nguy nga sừng sững khiến mọi người phải ngạc nhiên. Đặt biệt là nụ cười mỉi cao sau khó lường mà nưới dãi chảy ra từ 2 bên mép lại càng làm khuynh đảo du khách bốn phương đến thăm.
Tương truyền Shinx là yêu quá thời đại xa xưa, sống ở ngoài thành Ti-bai Ai Cập, là một quái vật do người khổng lồ Ti-phen và yêu quái rắn E - héc - na lấy nhau sinh ra. Tuy có chiếc đầu xinh đẹp nhưng thân lại là sư tử và có đôi cánh . Hắn đã từng theo học nữ thần trí tuệ Mu-si nên rất có bản lĩnh nhưng tính nết hung tàn, thích ăn thịt người . Để cho người bị nó ăn thịt phải tâm phục, khẩu phục, nó thường đúng chờ ở cửa rừng, cạnh núi, đầu đường, bắt ép người qua đường phải đoán những câu đố mà nó đưa ra . Những câu đố này học từ thần Mu-si thì người thường làm sao đoán nổi . Mượn cớ không đoán được, nó bèn xé xác người giải đố đáng thương thành từng mảnh rồi bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến .
Một hôm, con trai của quốc vương Ai Cập Khơ - ri - ông cũng bị Shinx bắt phải giải đố . Do ông đã không đoán nổi câu đố mà trở thành mồi ngon trong miệng SHinx. Quốc vương nghe tin vô cùng thương xót bèn truyền lệnh ra toàn quốc và thông báo cho các nước láng giềng: Ai có thể hàng phục được Shinx, khiến nó không hại người nữa thì ông sẽ trao quyền ngôi vị quốc vương và người hoàng hậu xinh đẹp của ông cũng trở thành vợ người hùng ấy .
Mệnh lệnh của quốc vương làm kinh động bốn phương. Có một người thanh niên Hy Lạp ở bên bờ biển bên kia tên là E-ti-pus dũng mãnh và mưu trí, rất hay ra tay trước những việc bất bình . Khi biết nhân dân Ai Cập gặp nạn, anh liền vượt biển sang, bóc tờ cáo thị của vua.
Anh đến tìm Shinx, quả nhiên nó lại đưa ra một câu đố bắt ai phải giải:
"Ngươi hãy đoán xem, con gì ... hừm, hừm ... Nó có thể phát ra tiếng (âm thanh). Buổi sáng đi bằng 4 chân, buổi trưa đi bằng 2 chân, buổi tối đi bằng 3 chân. Trong muôn loài, chỉ có nó mới đi đường trong thời gian khác nhau thì dùng bước chân khác nhau. Khi nó đi nhiều là lúc tốc độ và sức lực nhỏ nhất ?"
Shinx nói xong thản nhiên nở nụ cười thần bí - cái nụ cười của Shinx nổi tiếng bốn phương . Sau đó, nó lặng lẽ đứng chờ câu trả lời của người thanh niên nước khác tự đến tìm nó . Nào ngờ, E-ti-pus chả cần phải nghĩ gì thêm, lập tức đáp lại:
"Đó chính là người! Khi còn bé, là buổi sáng của sinh mệnh, trẻ con mới học đi đều phải dùng chân lẫn tay mà bò, đó chẳng phải là bằng 4 chân đấy sao. Lúc này tuy phải dùng nhiều chân nhưng tốc độ và sức lực lại nhỏ nhất. Sau đó lớn lên vào lúc tráng niên, cũng là buổi trưa của sinh mệnh, đi lại bằng 2 chân. Tới tuổi về già, cơ thể suy nhược, đi lại phải dùng đến gậy, đó có phải là 3 chân đấy sao!"
Shinx không ngờ người thanh niên trước mặt lại thông minh hơn nó . Nó cảm thấy xấu hổ lạ thường, không biết trốn vào đâu, nó ngã từ trên cao xuống mà chết .
Quốc vương Ai Cập sau khi nghe được tin vui, không nói thêm một câu, giữ đúng lời hứa trao quyền ngôi vua và người vợ xinh đẹp cho E-ti-pus để tỏ lòng cảm ơn người dũng sĩ . Trước khi nhường ngôi, quốc vương còn ra lệnh cho thợ tạc khác tượng Shinx ở nơi nó thường xuất hiện (chính là chỗ có pho tượng Sư tử mặt người hiện nay). Pho tượng này to bằng cả một mảng núi, để cho mọi người nhớ đến các con ác quỷ đã từng xuất hiện trong lịch sử Ai Cập
Về lai lịch của pho tượng sư tử mặt người các nhà học giả đưa ra một số giải thích khác hẳn với truyền thuyết nổi tiếng nói trên. Trong đó có ý kiến cho rằng tượng sư tử mặt người không phải do con người tạc mà đó là tảng đá tự nhiên do phong hóa mà có . Cách giải thích này cũng viện dẫn một tài liệu bia miệng để chứng minh. Đó là 3400 năm trước, vương tử trẻ tuổi nước Ai Cập là Tua-mô đi săn, thấy người mệt mỏi bèn nằm xuống bãi cát ngủ, mơ thấy một quái vật mình sư tử đầu người . Quái vật nói với vương tử: "Tôi là Hu-vơ-u-her vĩ đại (nghĩa là thần chim ưng, một đại thần mà người Ai Cập sùng bái), nay tôi bị bùn đất phủ kín người . Nếu chàng nào gạt hết đất cát giúp tôi, tôi sẽ để chàng làm quốc vương Ai Cập". Tua-mô giật mình tỉnh dậy, liền ra lệnh cho binh lính lấy cuốc xẻng đào bới ngọn núi này . Sau một ngày đêm vất vả cũng đào hết đất đá, để lộ ra tượng sư tử mặt người .
Một số học giả lại phê phán thuyết cho rằng tượng này là đá tự nhiên, họ cho rằng tượng đá sinh động đủ đầu, mắt, tai ... nếu hoàn toàn là đá tự nhiên mà có thì chẳng ai tin được . Nhưng họ cũng chưa thỏa mãn về cách giải thích theo truyền thuyết Shinx. Vì vậy, họ đưa ra cách giải thích khác:
Đại khái vào khoảng 2,500 trước CN (tức là vào thời pháp lão Ha-phu-la triều vua thứ tư vương quốc Ai Cập cổ . Một năm Ha-phu-la đi kiểm tra lăng tẩm Kim tự tháp của mình đang xây, nhìn thấy một tảng đá to bỏ phí ở một bên, thấy tiếc của, ông bèn ra lệnh cho thợ tạc pho tượng sư tử mặt người có tướng mạo như mặt ông để kỷ niệm việc Kim tự tháp đã hoàn thành .
Về cách giải thích sư tử có bộ mặt của Ha-phu-la, còn có một truyền thuyết khác là khi Ha-phu-la đi kiểm tra Kim tự tháp, thấy ở đây không có dấu hiệu về quyền uy pháp lão của mình thì tỏ ý không bằng lòng . Mộg người thợ thấy vậy mới đề nghị dùng ngay khối đá lớn nặng tới 2000 tấn ở công trường để tạc nên cho pho tượng sư tử mặt người . Pho tượng này có điệu cười cao sâu khôn lường mà Ha-phu-la thường có để tượng trưng có trí tuệ và sự uy nghiêm của pháo lão Ha-phu-la.
Tới tháng 10-1991, tại hội nghị hàng năm địa chất học nước Mỹ tổ chức tại San Diego, có vài nhà địa chất học tuyên bố là họ có những kết quả nghiên cứu mới nhất về tượng sư tử mặt người . HỌ cho rằng tượng đá này không đúng như yêu quái Ha-phu-la theo truyền thuyết, cũng không phải pháp lão Ha-phu-la, lại càng không phải là đá tự nhiên. Họ đã dùng khoa học địa chất xác định: Tượng sư tử mặt người này đã điêu khắc rất sớm, vài nghìn năm trước Ha-phu-la. Đó là niên đại thành tượng thực tế phải là khoảng 5000-7000 năm trước CN. Có nghĩa là cách nay đã 7000-9000 năm. So với thời gian thành tượng theo truyền thuyết thì có trước hàng ngàn năm. Đương nhiên, cách giải thích mới này cũng được thừa nhận, bởi phần đuôi tượng được hoàn thành vào thời Ha-phu-la. Có nghĩa là tốp thợ thời Ha-phu-la tiếp tục tu sứa tượng sư tử mặt người đã tồn tại vài nghìn năm rồi nhập vào quần thể mộ Kim tự tháp Ha-phu-la.
Thuyết mới của các nhà địa chất làm cho các nhà khảo cổ phải ngạc nhiên. Họ cho rằng những kiến thức mà họ nắm được thì vài ngàn năm trước khi (Kê Ốp) Ha-phu-la thống trị Ai Cập, người sống ở vùng Cai rô ngày nay không thế có khả năng tạc được tượng sư tử mặt người, thậm chí cũng không có nhu cầu này . Nếu thừa nhận cách giải thích của các nhà địa chất tức là tượng sư tử mặt người này đã có 7000-9000 năm lịch sử . Vậy thì làm ra pho tượng này sẽ không phải là người Ai Cập mà chỉ là một nhóm sinh vật có trí tuệ cao cấp ở bên ngoài trái đất thực hiện .
Nhưng việc xác định "tuổi đời" của pho tượng mà các nhà khoa học địa chất đưa ra thì các nhà khảo cổ lại hoàn toàn phủ định . Thế là các chuyên gia thiên văn học vũ trụ đang đứng ngoài vòng liền khắng định tương sư tử mặt người thực sự do người ngoài trái đất thực hiện . Vì đã cho rằng Kim tự tháp do người ngoài trái đất thực hiện mà tượng sư tử mặt người này cũng là kiệt tác đồng thời thì tại sao lại không phải?
Cuộc tranh luận trên ai cũng bảo lưu cách giải thích của mình đến nay vẫn chưa giải đáp được bí mật về tượng sư tử mặt người .
Ngoài ra, ở pho tượng này đã từ lâu không thấy có mũi, cũng là một dạng quái vật. Còn một việc nữa là cho tới hiện nay mỗi khi mặt trời nhô lên khỏi đường chân trời thi bên thân pho tượng lớn này lại có các tiếng ca tiếng khóc thảm thương từng đợt, vang bốn phía mà quanh đó không một bóng người .
Đây cũng là một điều bí hiểm nữa về pho tượng sư tử mặt người chưa có lời giải đáp .
Thiên Sứ giới thiệu
thailangtu
13-07-2006, 10:18 PM
Đây là một lời khâm phục muộn mằn gửi đến bác Thiên Sứ. Trước đây , tôi có đọc một tiểu luận về định mệnh , cho rằng :"con người nhất định trong một hoàn cảnh nhất định sẽ làm một điều nhất định , và sự thay đổi trong hành động đó ở lần sau là bị quy định , những cái nhất định lại quy định lẫn nhau , đó là định mệnh ". Bai tiểu luận dài với đầy đủ luận lý nhưng chỉ ko ổn rằng cái quy định cao nhất là gì thì ko nói được. Đến khi đọc bài của bác tôi mới nghĩ ra được , Rất cảm ơn bác. Chúc bác mạnh khỏe.
Thiên Sứ
14-07-2006, 11:43 AM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" Thiên Sứ tôi đã chứng minh rằng:
Ý thức có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác của vật chất.
Trên bản tin Tuổi Trả Online công bố phát minh mới nhất của các nhà khoa học Nhật Bản liên quan đến ý thức, cho thấy luận điểm trên hoàn toàn chính xác .
Xin quí vị tham khảo bản tin dưới đây.
Thứ Sáu, 14/07/2006, 07:02 (GMT+7)
Cánh tay robot điều khiển bằng ý nghĩ
http://tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=140622
Cánh tay robot ra dấu kéo được điều khiển bằng ý nghĩ
TTO - Các nhà khoa học Nhật Bản đã chế tạo thành công một cánh tay robot được điều khiển bằng ý nghĩ, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc chế tạo các bộ phận cơ thể thay thế bộ phận cơ thể người và có thể điều khiển được bằng ý nghĩ.
Cánh tay robot này bắt chước sự chuyển động của cánh tay người dựa vào sự nhận dạng cộng hưởng từ trường trong tính năng thời gian thực (fMRI) của hoạt động não người. Hệ thống do Yukiyasu Kamitani và các đồng sự tại phòng thí nghiệm Khoa học thần kinh tính toán ATR (ở Kyoto) và các nhà khoa học của Viện nghiên cứu Honda (ở Saitama) nghiên cứu và chế tạo.
Tiến hành thực nghiệm với việc yêu cầu ra dấu bằng tay các hình dạng đơn giản như “kéo”, “búa” và “bao”, các nhà khoa học đã sử dụng 1 máy quét MRI dùng để ghi các hoạt động của não trong khi xử lý nhận dạng mỗi hình dạng này và sau đó cung cấp dữ liệu cho máy tính.
Sau một khoảng thời gian ngắn huấn luyện, máy tính có khả năng nhận dạng các hoạt động của não tương thích với từng dấu hiệu khác nhau và các lệnh này sẽ được đưa qua bộ phận điều khiển cánh tay robot. Một máy fMRI sẽ thăm dò các hoạt động trong não bằng cách kiểm tra lưu lượng máu tại các vùng khác nhau. Nó sử dụng từ trường kết hợp với xung tần số vô tuyến để thăm dò trạng thái từ của nguyên tử hydro trong phân tử nước của các mô thần kinh.
Ngoài ra còn có thể sử dụng một phương pháp khác thuận tiện hơn là đo điện não sử dụng các điện cực cấy vào mô não dưới da hoặc gắn da đầu. Các điện cực gắn trên sọ người cũng có thể điều khiển di chuyển con trỏ trên màn hình vi tính như nghiên cứu của Klaus-Robert Mueller ở Viện Fraunhofer berlin, Đức. Klaus-Robert Mueller cho rằng kỹ thuật fMRI phức tạp và đắt tiền nhưng có thể giúp các nhà khoa học hiểu tốt hơn về sự làm việc của não vì chúng đưa ra độ phân giải cao hơn.
Mặc dù kỹ thuật này có giá thành quá cao và tốc độ xử lý chậm nhưng nó rất đáng quan tâm bởi có thể thực hiện khá nhiều công việc phức tạp. Kamitani và các đồng sự đã chỉ ra rằng việc quét fMRI có thể sử dụng để phân biệt các hình ảnh đơn giản mà con người đang nhìn và suy nghĩ về nó.
Kamitani tin rằng một ngày nào đó cánh tay robot có thể đáp ứng nhanh hơn so với một con người thực. Bước kế tiếp dành cho nhóm nghiên cứu này là giải mã nhanh hơn, thậm chí trước khi con người thực hiện chuyển động chấp hành trên cánh tay mình bằng cách đọc các hoạt động của não và liên hệ với khái niệm tương ứng.
Nhưng các nhà khoa học Nhật Bản cũng thừa nhận kỹ thuật quét fMRI phải được cải thiện trước khi ứng dụng vào thực tế, nó đòi hỏi đòi hỏi các công nghệ liên quan với kỹ thuật này như phần cứng máy quét phải được cải thiện hơn trước khi ứng dụng vào trong đời sống hàng ngày.
TƯỜNG VY (Theo Newscientist)
Kính thưa quí vị.
Hiện tượng trên cho thấy rằng:
Nếu ý thức không có thuộc tính vật chất, thì nó không thể có năng lượng tương tác với vật chất. Sự hiện hữu của robot điều khiển bằng ý nghị cho thấy điều này.
Từ đó chúng ta có thể liên hệ tới sự tương tác có tính qui luật của vũ trụ ảnh hưởng đến suy nghĩ của chúng ta.
SW Hawking đã đặt vấn đề:
Nếu có một lý thuyết thống nhất vũ trụ thì nó sẽ quyết định chúng ta có tìm ra nó hay không?
Tất nhiên trong trường hợp này thì mọi sự vận động và tương tác của vũ trụ dù vô cùng phúc tạp cũng phải mang tính quy luật và nhất quán .
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
12-08-2006, 03:51 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong tiểu luận này. Thiên Sứ tôi đã căn cứ vào những di sản văn hóa phi vật thể chứng minh về sự tồn tại của một nền văn minh huyền vĩ đã từng tồn tại trên địa cầu và đã bị hủy diệt. Tôi đặt tên cho nó là : Văn Minh Atlantic
Bản tin trên VnExpress hôm nay cho thấy một chứng tích vật thể góp phần vào việc làm sáng tỏ nền văn minh này.
Thứ bảy, 12/8/2006, 07:30 GMT+7Kim tự tháp cổ đại xuất hiện ở Ukraine
http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2006/08/3B9ED017/ktt.jpg
Ảnh: pravda.
Những kim tự tháp khổng lồ, tương tự như các công trình ở Ai Cập, mới được phát hiện ở Luganshchina. Các nhà khoa học kết luận rằng 5000 năm trước, một nền văn minh phát triển đã tồn tại trên mảnh đất là Ukraine ngày nay.
Phát hiện lý thú này do các em học sinh phổ thông trong một chuyến tham quan khảo sát đã tìm ra. Đến nay, chỉ phần đỉnh của công trình đồ sộ là được hé mở và các nhà khoa học cho biết cần cả một thập kỷ để quét sạch đất cát khỏi kim tự tháp.
Không có vàng hay vật quý nào được tìm thấy trong kim tự tháp. Tuy nhiên, bản thân công trình là vô cùng quý giá bởi các nhà khoa học tin rằng cuộc điều tra kỹ lưỡng về công trình này sẽ thay đổi đáng kể sự hiểu biết về lịch sử châu Âu cổ đại.
M.T. (theo Pravda)
Kính thưa quí vị quan tâm.
Sự tồn tại của Kim Tự Tháp tại Ukraina co thấy sự thống nhất về tri thức văn hóa ở hai địa điểm cách xa nhau là Ai Cập và Ukraina. Và điều này cho thấy đã từng sự tồn tại của một nền văn minh kỳ vĩ trên trái đất, mà trí thức của nó có tính phổ biến toàn cầu.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
12-11-2006, 07:49 AM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Những thành tự khoa học mới nhất ngày càng đi tới một kết luận cho rằng:
Ý thức là một dạng vận động của vất chất và chịu sự tương tác có qui luật của vật chất.
Bài viết dưới đây trên Người Lao Động. com cho thấy sự tác động của năng lương tới ý thức. Chứng tỏ ý thức có thuộc tính vật chất.
Người... điều khiển từ xa!
12-11-2006 02:20:37 GMT +7
http://www.nld.com.vn/img/3786/chuot.jpg
Một camera gắn trên đầu “chuột robot” sẽ cho phép người kiểm soát thấy được những gì nó thấy
Nếu đã từng xem bộ phim The Manchurian Candidate, chắc bạn không thể quên cảnh nhân vật chính bị biến thành cỗ máy giết chóc vô thức sau khi bị những kẻ âm mưu bí mật cấy thiết bị công nghệ cao vào cơ thể, đặc biệt là não. Với thời điểm năm 1962, đó là sự hư cấu hoàn toàn, được đạo diễn Frank Sinatra lấy cảm hứng từ ý tưởng về “người-robot”. Nhưng hiện nay, công nghệ tương tự cũng đang được khai thác cho những ứng dụng thực tế... Khi bạn đang đọc bài báo này thì các quan chức cao cấp của chính phủ Mexico cũng đang trở thành “vật thí nghiệm” cho việc cấy những con chip giám sát dưới da. Tuy nhiên, không như nhân vật trong The Manchurian Candidate do diễn viên Denzel Washington thủ vai, các chính khách này hoàn toàn ý thức được mục tiêu của việc làm này.
Tổng chưởng lý Rafael Macedo de la Concha và 160 quan chức cao cấp ngành luật của Mexico đã tình nguyện được cấy một thiết bị có tên VeriChip trong khuôn khổ kế hoạch nhằm vào khả năng giải thoát an toàn nếu họ bị bắt cóc.
Thiết bị nhận diện cá nhân
Là thành tựu mới nhất của công nghệ điện tử hiện đại, VeriChip có kích cỡ như hạt gạo, với vỏ bọc silicon nhằm tránh bị loại thải sau khi cấy vào cơ thể. “Hạt gạo” điện tử này chứa một microchip cực nhỏ, được nối với bên ngoài qua một ăng- ten như sợi lông. “Việc cấy chỉ mất 2 phút - Keith Bolton, Chủ tịch Công ty VeriChip có trụ sở tại Delray Beach, Florida giải thích.
Được đặt trên đầu công cụ cấy có hình mũi kim, chỉ cần luồn mũi kim này dưới da và con chip sẽ ở lại như một mảnh dằm nhỏ. Nó sẽ “ngủ yên” cho đến khi được kích hoạt bằng máy quét nhận diện sử dụng sóng bức xạ tần số ngắn RFID. Ngay lập tức, các dữ liệu sẽ được chuyển sang dạng mật mã, và chỉ có máy quét đúng dữ liệu mới có thể giải mã tín hiệu và hiển thị kết quả...”
Cho đến gần đây, VeriChip chỉ được cấy trên động vật với hơn 4 triệu trường hợp thí nghiệm như thiết bị nhận diện và xác định vị trí khi chúng bị lạc. Sau sự kiện tấn công khủng bố 11-9, chính những khó khăn trong việc tìm kiếm và nhận diện nạn nhân đã khiến công ty quyết định cấy thiết bị này trên người.
Thiết bị giám sát
Thời gian qua, đã có hàng loạt quan chức trong ngành bị đồng tiền làm lóa mắt, không ngần ngại đánh cắp thông tin để bán cho những băng nhóm tội phạm có tổ chức. Mục tiêu chính của việc cấy VeriChip vào cơ thể các quan chức Mexico là vì lý do an ninh, và chỉ có những người này mới có thể thâm nhập vào trung tâm thông tin chống tội phạm của liên bang. Với việc cấy VeriChip, chính phủ sẽ giám sát chặt chẽ những ai thâm nhập bất hợp pháp vào các file nhạy cảm.
Và xa hơn, Mexico cũng có kế hoạch cho bước tiếp theo, là sẽ đưa ứng dụng VeriChip đến gần hơn với nhân vật trong phim The Manchurian Candidate. “Họ muốn công nghệ này sẽ giúp bảo đảm tính mạng cho các quan chức sau khi bị bắt cóc – Bolton tiết lộ. Kết hợp với vệ tinh định vị toàn cầu GPS, VeriChip sẽ cho phép giám sát các đối tượng được cấy ở bất cứ nơi nào trên hành tinh...”
Công ty của Bolton cũng đang có kế hoạch kết nối VeriChip với thiết bị chuyển dữ liệu GPS tí hon được giấu trong đồng hồ đeo tay hay nịt lưng. Nếu một người bị bắt cóc, các vệ tinh định vị GPS sẽ cho biết vị trí chính xác của họ...
Thí nghiệm http://www.nld.com.vn/img/3786/phihanhgia.jpg
Việc cấy thiết bị điều khiển vào não sẽ cho phép kiểm soát suy nghĩ và cả hành vi con người, có thể biến đối tượng thành kẻ sát nhân vô hồn
Mỗi ngày, BS John K.Chapin và đồng nghiệp Sanjiv Talwar đã có thể kiểm soát được các “bệnh nhân” của họ chỉ với việc sử dụng thiết bị tương tự, được cấy vào não. Nhưng hai nhà khoa học này không sử dụng kỹ thuật kiểm soát tinh thần để thao túng đối tượng hay lôi kéo các chính khách như trong phim The Manchurian Candidate, vì đối tượng của họ là những con chuột thí nghiệm... Tất cả bắt đầu khi một nhóm các nhà khoa học quốc tế ở ĐH Quốc gia New York đề xuất khả năng liệu máy tính có thể tác động trực tiếp đến não hay không; và họ đã cấy loại thiết bị như thế vào não chuột, với hy vọng sẽ kiểm soát hành vi của chúng với những xung điện tử khác nhau.
Họ còn cấy một thiết bị vào trung tâm kiểm soát hành vi của vật thí nghiệm, và con vật như bị thôi miên, ngoan ngoãn làm theo sự điều khiển của các chuyên gia. Ông còn cho biết đã thử cấy vào trung tâm tạo cảm giác hạnh phúc của não bộ của một số bệnh nhân, và họ đã có được cảm giác hạnh phúc cực độ...
Thế nhưng, hạnh phúc không thực sự đến một cách dễ dàng, thậm chí cả trên chuột thí nghiệm. Vì dưới gây mê, những dây dẫn nhỏ như sợi tóc được luồn vào khu vực đặc trưng trong não là một công việc không đơn giản, hiện chỉ một số ít chuyên gia phẫu thuật hàng đầu mới thực hiện được những ca cấy ghép như thế.
Mối nguy tiềm tàng
Trong khi các quốc gia Mỹ La-tinh là thị trường tiềm tàng trị giá hàng tỉ đôla của VeriChip, nhưng tại những nước có luật về bí mật đời tư cá nhân, một con chip cỡ 12 mm được gắn lên người chắc chắn sẽ gây nhiều bàn cãi... “VeriChip còn gợi lên những quan ngại khác về nguy cơ xâm phạm những giới hạn cơ thể, như trường hợp bị trục trặc, sẽ là một cuộc xâm lược thực sự với việc can thiệp thô bạo vào tâm trí, tinh thần và cả hành vi của người được cấy...”, Bolton nói. Giống như nhân vật trong phim The Manchurian Candidate, VeriChip còn mang theo cả nỗi sợ. Liệu việc cấy chúng vào não có thể biến một người thành cỗ máy vô hồn, và khi ấy, điều gì sẽ xảy ra khi những kẻ âm mưu nắm quyền kiểm soát anh ta?.
Tuy nhiên, ông cho biết mục tiêu chính sẽ là tạo cảm giác hạnh phúc, nhưng khi một người được cấy điện cực vào trung tâm hạnh phúc, sẽ nhanh chóng nghiện nặng hơn bất cứ loại thuốc gây nghiện nào... “Cocaine và heroine tác dụng lên não bộ dưới dạng hóa chất, trong khi điện cực lại tác động trực tiếp dưới dạng xung điện - Chapin giải thích... Và, sẽ là ác mộng khi bọn khủng bố có thể sử dụng công nghệ này cho những kẻ nghiện nặng và điều khiển họ làm những việc nguy hiểm như thâm nhập các kho vũ khí hạt nhân hay phát tán bệnh chết người...”
Gia Đạo
Thiên Sứ giới thiệu
Thiên Sứ
27-11-2006, 11:52 AM
THÔNG TIN KHOA HỌC
Kính thưa quí vị và anh chị em quan tâm .
Trong tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?", tôi có đặt vấn đề và chứng minh trên di sản văn hoá phi vật thể còn lại về một nền văn minh bị hủy diệt có trước nền văn minh của chúng ta trên Địa cầu . Những phát hiện khảo cổ gần đây ngày càng chứng minh điều này .
Bài viết dưới đây trên Dân Trí .com cho thấy khả năng tồn tại một nền văn minh như vậy .
Thứ Sáu, 24/11/2006 - 6:17 PMBimini: đường tới đảo Atlantis huyền bí?
http://images4.dantri.com.vn/Uploaded/vandt/atlantis7-1106.jpg
Những phiến đá liền khít nhau không thể là thiên tạo.
(Dân trí) - Nằm trên vùng biển Caribbe gần Mexico Florida, đã có thời Atlantis được tôn sùng như một thiên đường nhiệt đới. Nói “đã từng” là bởi, đến thế kỷ thứ 16 trước Công nguyên, toàn bộ hòn đảo, cư dân và nền văn mình của nó đột ngột biến mất không dấu tích, như thể nó đã bị một thuỷ quái khổng lồ nuốt chửng
Chuyện hoang đường về đảo mất tích được dịp khơi lại vào năm 1968, khi một phi công đưa ra những bức hình “không thể thật hơn” chụp từ trên máy bay, làm bằng chứng cho việc đã chứng kiến “một quần thể kiến trúc kỳ lạ” trên vùng nước phía bắc Atlantis. Nước biển trong vắt hiền hòa, nhờ thế mà anh phi công có thể thấy rõ mồn một hầm hào, thành quách, đường sá... tận dưới đáy sâu, thậm chí còn cả bóng dáng kim tự tháp và những vòng tròn bằng đá.
Sự việc đã chẳng thể rùm beng đến vậy nếu như người ta không tình cờ phát hiện ra: mô tả này giống hệt với lời tiên đoán của Edgar Cayce - nhà tiên tri đã chết 14 năm về trước.
Kể riêng về cuộc đời của Edgar Cayce thôi cũng đã không ít điều kỳ lạ. Sinh năm 1877, hồi bé Cayce từng bị bố đánh ngã sấp mặt xuống sàn vì không thể phát âm chuẩn từ “cabin”. Chính vào lúc nằm trên nền nhà với cơn đau tê tái, Cayce bỗng nghe một giọng nói vang vọng rõ ràng: “Ngủ đi một lát, chúng tôi sẽ giúp cậu”.
Kể từ lúc ấy cho đến cuối đời, Cayce làm chủ một “phép lạ” vô cùng kỳ diệu: với một cuốn sách xa lạ gối đầu giường, chỉ sau giây lát chợp mắt Cayce sẽ đọc vanh vách từng nội dung bên trong. Sau này, khả năng đặc biệt của ông còn được phát triển cao hơn nữa: Cayce thâm nhập trạng thái hôn mê như lên đồng, chẩn đoán chính xác bệnh tật cho người đối diện và đưa ra lời khuyên về cách chữa trị. Cũng vào thời gian này, Cayce bắt đầu sự nghiệp tiên tri.
Ngoài tiên đoán về hai cuộc Thế Chiến đẫm máu và tình trạng sa lầy của hai cường quốc Mỹ, Nhật, năm 1963 Cayce đưa ra lời khẳng định chắc như đinh tán: khoảng giữa năm 1967-1968, “sẽ xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên về việc đảo Atlantis “tỉnh giấc” trên vùng biển Bahamas, gần đảo Bimini”.
http://images4.dantri.com.vn/Uploaded/vandt/atlantis2-1106.jpg
Vậy là ngay trong năm 1968, một đội quân hùng hậu lao vào cuộc truy tìm “dấu vết đảo Atlantis” và rốt cuộc cũng phát hiện ra kỳ quan choáng ngợp đến không ngờ: những hòn đá phẳng lì, đen thẫm, xếp ngay ngắn nối tiếp nhau tạo thành một con đường hoàn chỉnh rộng hun hút dưới đáy biển Bahamas.
Một số người cho rằng đây đơn thuần chỉ là kiến tạo của tự nhiên, chẳng có gì kỳ lạ để dân tình phải xôn xao lên như thế. Số khác lại nghĩ: rất có thể nó là tác phẩm của Hạm đội thuộc triều đình Trung Quốc thế kỷ thứ 15, do gặp bão lớn giữa đường đã dùng những phiến đá ballat hình chữ nhật để tạo nên một “cầu cảng” lưu động, làm nơi tiến hành sửa chữa tàu. Ấy thế nhưng phần đông vẫn hết mực tin tưởng vào lời tiên đoán của Cayce, rằng đó là con đường bí mật cổ xưa dẫn đến quốc đảo Atlantis huyền bí.
http://images4.dantri.com.vn/Uploaded/vandt/atlantis4-1106.jpg
Dù vậy, tới nay vẫn chưa có bằng chứng thuyết phục nào về nguồn gốc những phiến đá kỳ lạ. Giới thợ lặn cừ khôi lặn xuống đáy sâu Bahamas và tận mắt chứng kiến công trình kỳ diệu kể lại: hàng trăm tấm đá bằng phẳng, chiều rộng bằng nhau như khuôn đúc, xếp liền khít kín kẽ tạo thành đường thẳng tắp hoàn hảo - khó tin được đó là kiến tạo của thiên nhiên.
http://images4.dantri.com.vn/Uploaded/vandt/atlantis1-1106.jpg
http://images4.dantri.com.vn/Uploaded/vandt/atlantis5-1106.jpg
http://images4.dantri.com.vn/Uploaded/vandt/atlantis6-``06.jpg
Hải Minh
Sưu tầm
Thiên Sứ giới thiệu
bảo bình
27-11-2006, 08:18 PM
Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải:
Chìm nổi với khoa học ngoại cảm - Người ta có số hay không ?
Gặp nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải ở ngoài đời, ít ai nghĩ rằng ông đã bước sang tuổi “xưa nay hiếm”. Vẫn thích hát karaoke, quay “valse”... Bất chấp nhiều thiệt thòi do từng bị cho là mê tín dị đoan, ông vẫn say mê với nhiều đề tài tâm huyết của mình
http://www.sgtt.com.vn/web/data/news/2006/11/17174/02.jpg Ông sinh năm 1934. Ông vào đời với nghề dạy học môn sinh vật tại trường Bổ túc công nông Trung ương.
Năm 1963, cuốn sách Những kỳ lạ trong thế giới sinh vật của ông được giải thưởng của Nhà xuất bản Giáo dục trong tủ sách “Hai tốt”. Năm 1977, tái bản lần thứ 3 tại TP.HCM với số lượng kỷ lục 8 vạn bản. Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên đã gửi tặng bằng khen cho cuốn sách này.
Biên chế vào Viện Khoa học tự nhiên, làm Tổ trưởng bộ môn di truyền học. Đến 1.5.1976, Viện Khoa học Việt Nam cho ông thôi việc vì cho rằng nghiên cứu của ông là mê tín dị đoan.
1.5.1990, ông được viện mời trở lại làm việc.
Bị đuổi việc
“Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, hiện đang giữ chức Chủ nhiệm bộ môn Dự báo, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam), Uỷ viên Ban chấp hành Hội thiên văn Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành TW Hội các ngành Sinh học VN, cố vấn khoa học cho một số chương trình truyền hình…”
Chuyện bắt đầu xảy ra từ năm 1974. Ở Đại Yên, Đội Cấn, Hà Nội có ông cụ tên Nguyễn Đức Cần chữa bệnh rất kỳ lạ và đặc biệt: không dùng thuốc và có thể chữa từ xa.
“Ông Trần Quỳnh, Bí thư Đảng Đoàn, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học nhà nước lúc đó bị đau lưng. Tôi đã đưa ông đến ông cụ Cần để chữa”, ông Hải kể.
Ông cụ Cần cho miếng giấy, ông Quỳnh đặt vào chỗ đau thấy hết đau nên ông Quỳnh rất ngạc nhiên và đồng ý tạo điều kiện cho ông Hải nghiên cứu hiện tượng này. Cùng thời điểm đó, PGS - TS Hoàng Phương, Tổ trưởng bộ môn vật lý trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, thấy chuyện hay quá, đi kể cho rất nhiều người nghe. Ông Hải, ông Phương được mời nói chuyện tại Bộ Công an về cơ sở khoa học của lĩnh vực khoa học ngoại cảm này. Bộ trưởng Bộ Công an lúc đó là ông Trần Quốc Hoàn, cũng tới dự nghe và tuyên bố đây là một hiện tượng khoa học cần được nghiên cứu.
Vì thế rất nhiều nhân vật quan trọng cũng đến ông cụ xin chữa bệnh, khiến cho dư luận lại càng ồn ào thêm.
Giám đốc Sở Y tế Hà Nội lúc ấy đã báo cáo rằng hiệu quả chữa bệnh chỉ là hiện tượng “tự kỷ ám thị”, còn hình thức chữa bệnh bằng miếng giấy là mê tín dị đoan. Vậy là người ta cho đó là việc đi tuyên truyền cho sự thần bí. Sau đó, Sở Y tế đã cấm cụ Cần hành nghề. Đến 1.5.1976, Viện Khoa học Việt Nam đã chính thức đưa ông ra khỏi biên chế của viện.
Vợ con ly tán
Thời còn bao cấp, ra khỏi biên chế nhà nước thì gặp rất nhiều khó khăn. Con người phải phụ thuộc vào biên chế nhiều thứ: tiền lương, sổ thực phẩm, phiếu vải. “Tôi đã bị cắt tất cả”, ông Hải nói. Khi đó, tôi tròn 30 tuổi và đã lấy vợ, có 2 con. Vợ tôi nghe người ta nói vấn đề của tôi rất nghiêm trọng, mang tính chất chính trị, ảnh hưởng đến lý lịch con cái sau này. Và nhiều người khuyên cô ấy khuyên tôi tự nhận là bị bệnh tâm thần. Vợ tôi hoang mang, nghe vài người khác xúi nên muốn ly dị để con cái không còn ảnh hưởng lý lịch của bố, mà theo lý lịch của mẹ. Cô ấy quyết định chia tay. Năm 1977, vợ tôi đi vào Sài Gòn theo diện giáo viên tăng cường cho miền Nam.
Tôi lại quay về nghề gõ đầu trẻ. Con cái của bạn bè, học sinh cũ đến học luyện thi, tôi dạy. Và số tiền thu được cũng đủ sống. Cứ vậy, kéo dài tròn 15 năm. Mỗi năm tôi đều làm kháng cáo. Người ta cứ chuyển đơn của tôi từ chỗ này sang chỗ kia nhưng tôi không nản chí.
Đến thời điểm năm 1990, ở Liên Xô có hiện tượng ngoại cảm. Truyền hình Việt Nam thường xuyên đưa tin một nhà ngoại cảm Liên Xô chữa bệnh từ xa cho người xem truyền hình. Ông Hoàng Phương lại có những bài viết đưa nhiều trường hợp trên thế giới cũng có khả năng ngoại cảm, trùng với bản chất sự việc mà tôi đã nghiên cứu nên người ta đã nhìn nhận lại.
Cuối cùng thì Viện Khoa học Việt Nam chấp nhận và giải quyết tất cả các tiền lương, chế độ của tôi trong thời gian bị đưa ra khỏi biên chế, coi như là tôi vẫn liên tục công tác.
Người có số?
http://www.sgtt.com.vn/web/data/news/2006/11/17174/01.jpg Tôi muốn nói về một sự trùng hợp kỳ lạ đã dẫn tôi đến lý thuyết “mã số vũ trụ”. Ngày vợ tôi ra đi, bốn thành viên gia đình chúng tôi, hai vợ chồng hai đứa con, cùng ký vào 4 quyển lịch túi của báo Nhân dân vào đúng ô có ngày chia tay. Đó là ngày 16.1.1977 (ngày 27 tháng 1, năm Đinh Tỵ). Ngày đi ấy là ngày của đoàn, không do vợ tôi quyết định, nhưng trùng vào ngày cưới của chúng tôi. Khi để ý, tôi thấy rằng đó cũng là ngày âm lịch của ngày cưới 19 năm trước của chúng tôi, ngày 16.1.1958: ngày 27 tháng 1, năm Đinh Dậu.
Chu kỳ 19 năm này chính là chu kỳ METON do nhà thiên văn Hy Lạp METON phát hiện cách đây hơn 2.500 năm. Chính phát hiện này đã dẫn tôi vào thiên văn học và tôi đã phát hiện hàng loạt những con số trùng hợp khác trong vũ trụ.
Không phải ngẫu nhiên mà con người chúng ta có 23 nhiễm sắc thể trong tế bào sinh dục. Cũng không phải ngẫu nhiên 1 năm có 365 ngày và nguyên tử tự nhiên nặng nhất là Uranium có khối lượng nguyên tử là 238... Những con số vũ trụ, đều là nghiệm của những phương trình số học đặc biệt.
Còn con người có “số” hay không? Nếu không có những bất hạnh, có lẽ tôi đã không tìm hiểu “lý thuyết về con số”, về thiên văn, Kinh Dịch, về dự báo và tiên tri, về Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm...
Lá số tử vi của tôi có Tuần, Triệt ở đường công danh sự nghiệp và cũng thể hiện khá rõ về việc đứt gánh giữa đường trong hôn nhân.
Đinh Thu Hiền - Ảnh : Na Sơn
http://www.sgtt.com.vn/web/tintuc/images/transparent.gif
Thiên Sứ
27-11-2006, 09:45 PM
Cảm ơn Bảo Bình cho thông tin .
Những phát kiến của ông Nguyễn Phúc Giác Hải đã hỗ trỡ rất nhiều cho luận điểm của tôi trong tiểu luận:
Định mệnh có thật hay không?"
Thiên Sứ
dienbatn
27-11-2006, 10:54 PM
Riêng tôi thì tôi không đồng ý với một số luận điểm của NGUYỄN PHÚC GIÁC HẢI . Cụ thể cuốn sách sắp xuất bản của ông , ông đã không gắn liền Âm - Dương và Ngũ hành , mà coi chỉ có âm dương , còn Ngũ hành thì không có ý nghĩa gì hết . Trong một cuộc trò chuyện tại Quán trà Đạo - 13 NGÔ TẤT TỐ , tôi đã phản bác ông về điều này . Tôi chờ cuốn sách ra đời sẽ có một bài viết về vấn đề này .
dienbatn và NNC NGUYỄN PHÚC GIÁC HẢI .
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/93_1164639241.jpg
Thiên Sứ
27-11-2006, 11:42 PM
Dienbatn nhận xét chính xác.
Âm Dương ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh .
Có thể ông Nguyên Phúc Giác Hải chưa nghiên cứu sâu về v/d này và có thể luận điểm của ông về thuyết Âm Dương Ngũ hành không phải là một hệ thống mà chỉ là sự phân tích những hiện tượng riêng lẻ .
Nhưng dù sao Ông NPGH cũng có những luận điểm rất hợp lý trong nhiều lĩnh vực khác và có thể dùng làm tài liệu tham khảo, dẫn chứng . Thí dụ như việc tìm hiểu quốc hiệu Việt Nam có từ bao giờ , ông đưa ra được những chứng cứ rất khả tín và thuyết phục .
Thiên Sứ
Thiên Sứ
28-11-2006, 12:40 AM
Đây là nội dung một bài báo nói về công trình nghiên cứu của ông Nguyễn Phúc Giác Hải .
Ai đặt quốc hiệu Việt Nam đầu tiên?
Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải cho biết, ông và một số đồng nghiệp đã phát hiện tổng số 12 bia niên đại thế kỷ 16, 17 có hai tiếng Việt Nam. Ngoài ra, còn một bản in khắc gỗ từ năm 1752 cũng có danh xưng Việt Nam. Như vậy, hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu, và theo ông Giác Hải, Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể là người đầu tiên sử dụng tên gọi này như quốc hiệu.
* Vì sao ông lại quan tâm đến vấn đề này?
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải:
Cách đây nhiều năm, tôi tình cờ đọc được một thắc mắc đăng trên báo quốc hiệu Việt Nam có từ bao giờ. Câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản nhưng tôi dám chắc phần lớn học sinh trung học, thậm chí đại học không trả lời được, vì đại đa số các sách giáo khoa của chúng ta không đề cập đến vấn đề này, còn tại sao thì xin dành cho các nhà biên soạn sách và các sử gia.
Ngay cuốn Lịch sử Việt Nam do Ủy ban Khoa học xã hội xuất bản năm 1976 cũng không hề nói tới điều này. Còn cuốn Bách khoa toàn thư Anh (1992) thì cho nhận định, hai tiếng Việt Nam bắt đầu từ thời Nguyễn do việc nhà Thanh bên Trung Hoa năm 1804 đã đảo ngược hai chữ Nam Việt mà Gia Long đề nghị sắc phong năm 1802. Điều này quả cũng có thực. Trong cuốn chính sử nhà Nguyễn Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất ký có ghi lại sự kiện này.
* Chính sử thời ấy đã khá rõ ràng, vì sao ông, một nhà nghiên cứu về sinh học và ngoại cảm lại không bằng lòng với cách giải thích này?
- Năm 1974, khi công tác ở Viện Khoa học Việt Nam, tôi bắt đầu nghiên cứu về ngoại cảm, về khoa học dự báo và tôi có được đọc tập sách dự báo Sấm Trạng Trình, được coi là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Khi nghiên cứu tập sấm này, đến bản AB 444 trong kho sách của Viện Hán Nôm, tôi bất đồ tìm thấy hai chữ Việt Nam ngay trong những dòng đầu tiên: Việt Narn khởi tổ xây nền. Theo quan niệm chính thống, hai chữ Việt Nam không được phép có mặt trước năm 1804, trong khi cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm lại sống cách ta 500 năm. Vấn đề đặt ra là có thật hai chữ Việt Nam đã được dùng cách đây hơn 500 năm để chỉ tên gọi đất nước? Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm còn những ai đã dùng danh xưng Việt Nam? Liệu có những bằng chứng khảo cổ về vấn đề này? Song lúc đó không có điều kiện tiếp xúc với bản gốc nên phải tạm gác lại. Đến 1980, khi được tiếp xúc với bản gốc, tôi đã dành hơn 20 năm nay để nghiên cứu. Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (thế kỷ 19), thì từ thời nhà Trần, tiến sĩ Hồ Tông Thốc đã viết bộ sách Việt Nam thế chí. Cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi, trong thế kỷ 15 cũng đã nhiều lần nhắc đến hai tiếng Việt Nam. Song đáng tiếc, Việt Nam thế chí không còn nữa, chỉ còn được dẫn bài tựa trong Lịch triều hiến chương loại chí; còn Dư địa chí chỉ được khắc ván in ở thế kỷ 19 khi đã có quốc hiệu Việt Nam rồi, những bản trước không có niên hiệu rõ ràng.
* Ông có thể nói rõ hơn về quá trình tìm kiếm nguồn gốc tên gọi đất nước?
- Sau khi đọc được bản gốc Sấm Trạng Trình, tôi đã khẳng định được hai tiếng Việt Nam đã được sử dụng từ thế kỷ 15. Song bản sấm này được truyền lại qua những bản chép tay, cũng không ai dám chắc tác giả là cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tôi liền chuyển qua tra cứu thơ văn của cụ để so sánh. Thật bất ngờ, hai tiếng Việt Nam được cụ nhắc tới bốn lần: Trong tập thơ Sơn hà hái động thường vịnh (Vịnh về núi non sông biển) đã đề cập tới. Rõ hơn, trong các bài thơ gửi trạng Giáp Hải, cụ có viết: "Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại, Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam"; còn trong bài gửi trạng Nguyễn Thuyến, "Tiền đồ vĩ đại quân tu ký / Thùy thị công danh trọng Việt Nam".
Dẫu sao, đó cũng mới chỉ là những văn bản chép tay. Để khẳng định thêm, tôi đã đi tìm trong bi ký (bài ký trên bia đá). Nhờ một số nhà khoa học Viện Hán Nôm, tôi đã tìm ra trong bia trùng tu chùa Phúc Thánh (Quế Võ, Bắc Ninh) năm 1664, phần bài Minh có câu Việt Nam cảnh giới, Kinh Bắc thừa tuyên. Sau đó là bia trùng tu chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương) năm 1558, Việt Nam đại danh lam bất tri kỳ cơ, bia chùa Cam Lộ (Hà Tây), năm 1590, Chân Việt Nam chi đệ nhất. Tuy nhiên, phát hiện quan trọng nhất là tấm bia Thủy Môn Đình ở biên giới Lạng Sơn do trấn thủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc soạn năm Cảnh Trị thứ tám (1670), có câu : Việt Nam hầu thiệt trấn bắc ải quan (Cửa ải phía Bắc Việt Nam). Đây là tấm bia có niên đại muộn hơn song nó có danh tính người soạn, hơn nữa đây là một mệnh quan triều đình, là phát ngôn chính thức.
Cho đến nay, sau tôi một số nhà nghiên cứu khác đã phát hiện tổng số 12 bia có hai tiếng Việt Nam. Tất cả đều có niên đại thế kỷ 16, 17. Ngoài ra, còn một bản in khắc gỗ có danh xưng Việt Nam năm 1752. Như vậy, hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu, và cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên sử dụng, sử dụng nhiều nhất và có ý thức nhất.
* Theo những nghiên cứu của ông, có thể lý giải vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm là nguời đầu tiên sử dụng hai tiếng Việt Nam?
- Dân tộc ta bắt nguồn từ một bộ tộc Việt trong Bách Việt - chỉ tất cả các dân tộc phía nam Trung Hoa. Trong toàn bộ lịch sử, ta luôn dùng tử việt, để chỉ dân tộc và đất nước ta. Song cha ông ta cũng dùng từ "Nam" với ý nghĩa tương tự. Bài thơ Thần-tuyên ngôn độc lập đầu tiên, Lý Thường Kiệt viết: Nam quốc sơn hà nam đế cư. Từ Nam được dùng với nghĩa phương Nam để đối lại với phương Bắc (Trung Quốc). Trong thế kỷ 18, danh y Tuệ Tĩnh khi viết bộ sách khảo cứu về cây thuốc nước ta, lấy tên là Nam dược thần hiệu. Ngày nay ta vẫn nói thuốc nam-thuốc bắc.
Vì sao có thể coi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên sử dụng Việt Nam như là quốc hiệu? Thế kỷ 15, nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê ở nước ta, nhà Minh bên Trung Quốc lấy cớ đem quân can thiệp. Nhà Mạc đầu hàng, Đại Việt lúc đó bị biến thành một quận của Trung Quốc, không còn quốc hiệu. Mạc Đăng Dung được nhà Minh phong làm An Nam đô sứ ty. Trên thực tế Mạc Đăng Dung vẫn là vua một nước, để vừa đối phó với triều đình phương Bắc, vừa an dân, tên nước được gọi là Việt Nam. Lúc ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm là học giả đứng đầu cả nước, nên nhiều khả năng ông đặt ra cách gọi này.
Do Trạng Trình được coi là một nhà tiên tri lỗi lạc, cũng có người muốn thần bí hóa bằng cách giải thích: Do nhìn thấy trước việc nhà Thanh phong vương cho Gia Long và gọi nước ta là Việt Nam nên ông đã gọi trước tên nước là Việt Nam để tránh sự lúng túng cho hậu thế: Tên gọi là do ngoại quốc áp đặt. Trên thực tế, vài chục năm sau, nhà Nguyễn để tránh bị phụ thuộc đã đổi tên nước là Đại Nam.
Dù giải thích thế nào, thì quốc hiệu Việt Nam cũng được Trạng Trình sử dụng đầu tiên, nhiều nhất và có ý thức nhất. Từ nguồn gốc này, lịch sử quốc hiệu đất nước không còn phụ thuộc vào hai triều đại phong kiến nữa.
* Nhân đây, ông có thể giải thích thế nào là quốc danh, quốc hiệu?
- Các tên gọi Văn Lang, Vạn Xuân, Đại Việt... đều được các sử gia sử dụng làm quốc hiệu. Còn các học giả xưa vẫn viết "Ngã Việt quốc, ngã Nam nhân" (Nước Việt ta, người Việt ta). Hai tiếng Việt Nam, qua các thư tịch cổ thì mới chỉ là quốc danh, song rất hạn chế. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tên gọi Việt Nam chính thức thành tên gọi đất nước (quốc danh). Hiến pháp 1946 viết "Nước Việt Nam là một nước theo chế độ dân chủ cộng hòa". Như vậy, Việt Nam dân chủ cộng hòa mới trở thành quốc hiệu, đến nay 1976 quốc hiệu này được đổi thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nguyễn Phúc Giác Hải,
nhà sinh học trở thành chủ nhiệm môn Khoa học Dự báo
Xuất thân là dân sinh vật học, sau khi ra trường, Nguyễn Phúc Giác Hải về dạy ở Trường Bổ túc văn hóa Trung ương, Trường Trung cấp sư phạm Trung ương, năm 1964, ông về Viện Khoa học Việt Nam nghiên cứu di truyền học.
Sau thời gian nghỉ việc tới năm 1990 ông trở lại Viện Khoa học Việt Nam (nay là Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia), làm đúng công việc từng khiến ông phải ra đi: Nghiên cứu ngoại cảm. Hiện giờ, Nguyễn Phúc Giác Hải đang là chủ nhiệm bộ môn Khoa học Dự báo (Dự báo học) thuộc Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người. "Tôi phải cảm ơn số phận, nhờ có 14 năm long đong, tôi có điều kiện tự do nghiên cứu những gì mình thích. Nếu như cuộc đời cứ bình lặng, có lẽ tôi đã đi sâu nghiên cứu về di truyền, làm vài công trình, rồi bảo vệ luận án... Nếu không đi sâu tìm hiểu về ngoại cảm, có lẽ tôi đã không đọc sấm trạng Trình và cũng chẳng tìm ra nguồn gốc hai tiếng Việt Nam và cũng chẳng dính dáng gì đến Khoa học Dự báo" - ông tâm sự.
Còn một năm nữa, ông sẽ bước sang tuổi "cổ lai hy". Ông đang chạy đua với thời gian để hoàn chỉnh bốn nghiên cứu mới của mình: Mã số vũ trụ; Những vấn đề bí ẩn về hoạt động của bộ não; kinh dịch dưới ánh sáng của khoa học; Dự báo học và những nhà tiên tri xuyên thế kỷ. Còn trước mắt, ông sẽ cho ra đời cuốn sách "Đi tìm cội nguồn tên gọi đất nước: Hai tiếng Việt Nam có từ bao giờ?
THÀNH LÂN thực hiện
(Báo Đại đoàn kết)
Nguồn tuvilyso .com .
Khoa học huyền bí
Trích bài viết do Thiên Nhân .
Thiên Sứ giới thiệu
bảo bình
29-11-2006, 10:03 PM
Bí ẩn Nguyễn Phúc Giác Hải11:21' 25/01/2006 (GMT+7) Ông là nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực tìm hiểu những điều kỳ lạ của con người. Đam mê nghiên cứu, ông sẵn sàng rũ bỏ tất cả để theo đuổi đề tài cuốn hút mình.
http://vietnamnet.vn/dataimages/200601/original/images887717_Nguyenphucgiachai.jpg (http://vietnamnet.vn/dataimages/200601/original/images887717_Nguyenphucgiachai.jpg) Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải.
Gặp Nguyễn Phúc Giác Hải một lần người ta không thể nào quên. Trán hói, cao và rộng, ánh mắt có thần. Nhưng ấn tượng hơn là niềm hăng say và giọng nói cuốn hút người nghe.
Nguyễn Phúc Giác Hải sinh năm Giáp Tuất, 1934 vào giờ Chính Ngọ. Nhà tử vi học nổi tiếng thời đó là Phạm ứng Long (tục gọi là Nhì Lùng người Hoa) chính tay lập lá số tử vi cho cậu bé. Cứ theo tử vi mà xét, cậu bé này lắm tài, nhưng bị tuần triệt vào cả hai cung quan và điền. Nhưng còn may ở chỗ “tuần triệt đắc địa”.
Đi học say mê môn vật lý và có ý định theo học ngành này. Ngay khi đang là học sinh đã sáng tác truyện thám hiểm Tây Nguyên. Tưởng tượng ra cuộc chiến sinh tử giữa Voi và Sư tử. Truyện được in. Người bố của bạn đọc và khen, nhưng lại chê... vì Tây Nguyên làm gì có ...sư tử. Ông nhớ lại, lúc ấy mình rất xấu hổ, quyết tâm lao vào học sinh vật. Bởi thế thi vào Đại học khoa học ngành Lý - Hoá - Vạn, sau đó chuyển sang lớp sinh học Đại học Sư phạm. Dạy sinh học tại Trường Bổ túc công nông trung ương, từng dạy Thủ tướng Phan Văn Khải, nhưng lại tham gia vào tổ tuyên truyền về du hành vũ trụ của GS Tạ Quang Bửu.
Rời bục giảng ông về Uỷ ban Khoa học Nhà nước nghiên cứu về di truyền học, một lĩnh vực mới mẻ , chưa được quan tâm ở nước ta. Năm 1965, trong khi sinh học thời đó còn bị chi phối bởi quan điểm Lưxencô, Nguyễn Phúc Giác Hải đã viết bài bênh vực học thuyết di truyền của Menđen nhân 100 năm học thuyết này ra đời. Rồi năm 1966 ông đề xuất việc thành lập Hội di truyền học Việt Nam, và ông đóng vai trò như tổng thư ký hội đầu tiên.
Những khả năng chữa bệnh kỳ lạ của cụ Trưởng Cần thu hút sự chú ý đặc biệt của ông. Vào thời ấy, chưa thể đặt ra vấn đề nghiên cứu những hiện tượng “phi khoa học” như thế được. Ông bèn lẳng lặng tiến hành tìm hiểu. Tình cờ một quan chức cao cấp nhờ ông đưa đến chữa bệnh có hiệu quả. Vị quan chức này ký giấy cho phép ông tiến hành nghiên cứu. Nguyễn Phúc Giác Hải đưa ra khái niệm và thuật ngữ “Trường sinh học” đầu tiên trong giới khoa học. Công việc tiến triển thuận lợi và đến ngày 30- 4- 1974 thì tổ chức quay phim tư liệu. Đùng một cái ngày 19-5 trên báo Hà Nội mới đăng thông báo của Sở Y tế Hà Nội cấm cụ Trưởng Cần hành nghề “mê tín”. Đồng loạt nhiều tờ báo nhảy vào đánh hội đồng. Có một tờ báo đăng bài Lão phù thuỷ và “nhà khoa học”, hàm ý nhà nghiên cứu là một nhà khoa học gà mờ. Bên cạnh đó là sức ép từ nhiều phía, khiến cho GS Hoàng Phương, người cộng tác cùng ông rút lui. Và vị quan chức cao cấp quay lưng lại 180o. Bị đưa ra hội đồng kỷ luật, nếu như ông tự nhận khuyết điểm thì sẽ chỉ bị xử lý phê bình. Nhưng ông khẳng định mình không vi phạm kỷ luật, không vi phạm pháp luật, nên đến giữa năm 1976 người ta buộc ông thôi việc, chỉ cho hưởng một tháng lương.
Ông bảo trong hoạ có phúc. Vì ra khỏi những công việc nghiên cứu trong khuôn khổ cứng nhắc, ông có điều kiện tự do nghiên cứu những gì trực giác mách bảo là có ý nghĩa quan trọng. Mãi đến 14 năm sau, do kiên trì khiếu nại ông mới được trở lại công tác tại Viện Khoa học Việt Nam và chính thức được giao nghiên cứu những khả năng tiềm ẩn của con người theo đúng nguyện vọng của mình.
Tiên tri như một đề tài khoa học
Tuy nhiên việc cơm áo thời bao cấp không phải chuyện đùa. May có người học trò cũ nhờ ông dạy ôn thi đại học môn sinh cho một nhóm con em. Nhưng ông chỉ nhận dạy một lớp đủ sống mà nghiên cứu. Ngày ngày ông miệt mài đến thư viện đọc sách. Sau ngày giải phóng ông có dịp vào TP Hồ Chí Minh sục tìm trong các thư viện các loại sách có liên quan mà ở miền Bắc không có. Một số sách của ông được tái bản, có tiền nhuận bút, ông dành tất cả để mua sách, đặc biệt mua được hai bộ Kinh Dịch của Ngô Tất Tố và của Phan Bội Châu. Từ đó ông bước vào nghiên cứu Kinh Dịch và ngộ ra rất nhiều điều.
http://vietnamnet.vn/dataimages/200601/original/images887719_Giachai.jpg (http://vietnamnet.vn/dataimages/200601/original/images887719_Giachai.jpg) Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải trước tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm tại quê hương Trạng.
Khi viết bài tóm tắt lịch pháp và đối chiếu với những trùng hợp ngẫu nhiên trong đời tư của mình, ông nhận ra trong tự nhiên có những chu kỳ bí ẩn. Thế là với niềm say mê vật lý từ ngày còn trẻ, ông say sưa tìm hiểu để giải mã những hằng số vũ trụ. Nguyễn Phúc Giác Hải công bố một loạt bài về mã số vũ trụ và ông tham gia vận động thành lập Hội Thiên văn học Việt Nam và cho đến nay ông vẫn là một thành viên trong ban chấp hành Hội.
Sau khi về hưu, ông vẫn tiếp tục công việc của mình trên cương vị chủ nhiệm bộ môn Dự báo trong Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà lý học nổi tiếng thế kỷ 15-16 của nước ta, Nguyễn Phúc Giác Hải đã đưa ra một số lý giải thú vị về Sấm ký của Trạng Trình. Chẳng hạn những đoạn sấm viết về sự ra đời của Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh, sự bùng nổ của Cách mạng Tháng 8- 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hồ Chủ tịch về tiếp quản Thủ đô.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra cách đây vừa hơn 500 năm và mất cách đây 420 năm. Lời sấm ứng với thời đại của chúng ta ngày nay là:
Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ diên trường ức vạn xuân.
(Đất nước Hồng Lam này 500 năm sau sẽ là thời kỳ hưng thịnh ức vạn xuân).
Cũng trong khi nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm ông giật mình gặp trong đó có hai chữ Việt Nam. Thì ra quốc hiệu Việt Nam không phải mãi đến năm 1804 thời nhà Nguyễn mới đặt ra. Thông báo này của ông đã gây bất ngờ cho những nhà sử học “chính thống”. Vấn đề này thôi thúc ông đi đến cùng sự thật. Ông tự bỏ tiền túi lặn lội đi bất cứ nơi nào được mách bảo có bia ký đề hai chữ Việt Nam. Đích thân ông đã tập hợp được 4 tấm bia như vậy. Trong đó tấm bia năm 1670 ở Đồng Đăng có khắc rõ câu: “Đây là cửa ngõ yết hầu Việt Nam trấn giữ ải quan phương Bắc”( dịch nghĩa). Đến nay cộng thêm 7 tấm bia của Viện Hán Nôm tìm thấy đã có 11 tấm bia có chữ Việt Nam. Trong các văn bản, cũng đã tìm thấy Ngô Thì Nhậm từng ghi danh: Việt Nam hậu học Y Doãn Ngô Thì Nhậm. Còn Ngô Thì Vị khi đi sứ Trung Quốc cũng đã đề thơ trên lầu Hoàng Hạc có câu: Việt Nam sứ giả Ngô Thì Vị.
Nhưng ông vẫn muốn tìm cho được một tấm bản đồ đầu tiên có tên Việt Nam. Thì mới đây được biết ở Thư viện Hoàng gia Anh quốc có một tấm bản đồ như vậy, ông đã lặn lội sang tận London. Và quả “trời chẳng phụ lòng”, ông được nhìn tận mắt, sờ tận tay tấm bản đồ viết bằng chữ Hán cổ với bốn màu mực: Việt Nam địa dư đồ của Sa Khâu Từ Diên Húc (người Trung Quốc) vẽ vào năm 1870, có lời thuyết minh Việt Nam quốc toàn đồ thuật lược.
Theo quy định ở đây tuyệt đối không được phôtô, chụp ảnh tài liệu, nhưng ông đã thuyết phục được cho chụp và in vào đĩa CD. Chiếc đĩa này đang trên đường gửi về, cho đến lúc này ông chưa nhận được. Chắc chắn sau khi nhận được tài liệu ông sẽ cho công bố tấm bản đồ quý báu đó.
Giải thích vì sao ông quan tâm đặc biệt đến vấn đề dự báo và tiên tri, ông cho biết: “Đây là một vấn đề bí ẩn lớn nhất của khoa học. Vì sao một nhà ngoại cảm, không dựa vào những quan trắc nào lại có thể biết trước mọi điều sẽ xảy ra trong tương lai. Phải chăng trong vũ trụ đã có chứa một trường thông tin về vấn đề đó? Hiểu biết về vấn đề đó cũng chính là hiểu biết về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ”.
Nhữ Nguyên (KH&ĐS Xuân 2006)
bảo bình
29-11-2006, 10:07 PM
Bài này hơi bị "hành lang" đối với đề tài của chú Thiên Sứ, nhưng thấy nội dung nói về nhà nghiên cứu NPGH cũng khá độc đáo nên BB post lên đây để mọi người tham khảo .
Thiên Sứ
29-11-2006, 10:50 PM
Ông Nguyễn Phúc Giác Hải nói:
“Đây là một vấn đề bí ẩn lớn nhất của khoa học. Vì sao một nhà ngoại cảm, không dựa vào những quan trắc nào lại có thể biết trước mọi điều sẽ xảy ra trong tương lai. Phải chăng trong vũ trụ đã có chứa một trường thông tin về vấn đề đó? Hiểu biết về vấn đề đó cũng chính là hiểu biết về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ”.
Bảo Bình thân mến .
Câu nói của ông Nguyễn Phúc Giác Hải "Hiểu biết vấn đề đó (Khả năng tiên tri) cũng chính là hiểu biết về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ".
Đâu có hành lang đâu? Nó nằm trong đề tài của chú đấy chứ .
Thiên Sứ
Thiên Sứ
11-04-2007, 03:42 PM
Kinh thưa quí vị quan tâm
Trong tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" tôi có đặt giả thiết về một trận Đại Hồng thuỷ huỷ diệt một nền văn minh kỳ vĩ trên Địa cầu. Theo luận điểm của tôi thì đây chính là nền văn minh sáng tạo ra thuyết Âm Dương Ngũ hành và là lý thuyết thống nhất. Nay có một tư liệu khoa học dưới đây củng cố bthêm tính xác tín trong luận điểm của tôi. Xin trình bày để tham khảo.
Nguồn Người Lao Động.com.
Phát hiện 2 đại dương trong lòng trái đất?
10-04-2007 10:45:55 GMT +7
Ở độ sâu hơn 1.000km trong lòng đất, các nhà khoa học Mỹ vừa phát hiện ít nhất... 2 đại dương.
Nước từ đâu ra?
Nạn đại hồng thủy được tả trong Kinh Thánh tưởng chỉ là thần thoại, song nhiều nhà khoa học tin rằng có thật. Trên các lục địa có vô số dấu vết lụt lội, rồi các hồ nước mặn ở cách bờ biển... hàng ngàn cây số. Nhưng trái đất lấy đâu ra nhiều nước để gây nên thảm họa là đại hồng thủy toàn cầu, khiến ông già Noe phải ghé thuyền vào đỉnh núi Ararat? Có vô số giả thuyết:
Một thiên thạch rơi xuống đại dương tạo nên đợt sóng thần khổng lồ. Hoặc các khối băng tan vì khí hậu ấm lên, khiến tất cả ngập lụt. Hoặc ngược lại, trái đất lạnh đi, băng phủ kín các dòng sông, đẩy nước còn lại trong các đại dương dâng cao ghê gớm... Song mãi gần đây vẫn chưa có những tư liệu khoa học nghiêm túc làm chỗ dựa cho các giả thuyết.
Đến tháng 2 vừa qua, có tin chấn động về phát hiện của 2 nhà khoa học Mỹ, làm cơ sở cho một giả thuyết (nếu xuất hiện trước kia sẽ bị xem là... điên rồ): nước gây ra đại hồng thủy đến từ... lòng đất.
http://www.nld.com.vn/img/3929/0010.jpg
Trong lòng trái đất có 2 đại dương?
2 đại dương trong lòng đất
Trên trái đất có một hệ thống máy ghi địa chấn, ghi lại các trận động đất, thể hiện trên các địa chấn đồ. So sánh những ghi chép này ở các khu vực khác nhau, có thể theo dõi sóng lan truyền trên vỏ và trong lòng trái đất. Michael Wysseion, giáo sư địa chấn học Đại học Washington và Jesse Lawrence, học trò của ông, hiện làm việc tại Đại học California, đã nghiên cứu 600.000 địa chấn đồ. Kết quả phân tích của thầy trò Wesseion làm chấn động giới khoa học, vì cho thấy ít nhất ở 2 nơi – bên dưới phần phía Đông của lục địa Á-Âu và bên dưới Bắc Mỹ – có... 2 biển nước khổng lồ.
Các nhà khoa học đã lập mô hình 3 chiều ở 2 nơi trên và xác định rằng nước ở đây không ít hơn ở Bắc Băng Dương. Nước ở độ sâu từ 1.200 đến 1.400km. Giữa năm 2006, các nhà khoa học Anh ở Đại học Manchester cũng từng phát hiện có nước biển trong lòng đất. Họ nhận ra dấu vết của nó trong khí CO2 thoát ra từ độ sâu gần 1.500km. Nhưng bấy giờ họ chưa tin.
Nước đã chui vào lòng đất như thế nào, chưa biết chính xác, không loại trừ rằng nó được tạo ra cùng với hành tinh, nghĩa là nước đã luôn nằm sẵn ở đó. Song nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nước trong lòng đất định kỳ phun lên bề mặt. Và ngược lại, nước ở các đại dương trên bề mặt ngấm dần xuống. Nói theo ngôn ngữ khoa học, khối lượng thủy quyển của trái đất có thể thay đổi. Cần nói thêm, dưới đáy đại dương có các lỗ, từ đó nước nóng 400OC phun mạnh lên. Có thể đó là nước từ trong lòng đất.
Không loại trừ khả năng vào thời hồng hoang, các bể nước ngầm bị bục vỡ, nước mặn và nóng cùng hơi nước bắt đầu phun lên như từ chiếc nồi hơi bị vỡ. Mực nước các đại dương dâng cao, trên không trung thì do hơi nước gặp lạnh hóa thành mưa lớn đổ xuống suốt 40 ngày đêm. Vậy là xảy ra nạn đại hồng thủy. Sau đó nước ngấm trở lại vào lòng đất.
Điều đó có nghĩa, ít ra về mặt lý thuyết, thảm họa tương tự có thể lặp lại. Giáo sư Wysseion nói, bên dưới 2 đại dương mà ông phát hiện cũng còn có nhiều, rất nhiều nước. Khối lượng nước, theo đánh giá của ông, có thể nhiều gấp 5 lần lượng nước hiện có ở tất cả các đại dương.
Theo SGGP
Thiên Sứ giới thiệu
vinhvinh
16-06-2007, 04:58 PM
Cháu đã đọc hết tiểu luận của bác Thiên Sứ về tính thấy của phật giáo. Giờ cháu mới hiểu câu dặn dò của cụ Trần Thái Tông với ngài Pháp Loa trước khi viên tịch ở Ngọa Vân am : "Hết thảy pháp không sinh/ hết thảy pháp không diệt , hiểu như thế chư phật thường hiện ra trước mắt" . Pháp ở đây chính là tính thấy
Nếu bác Thiên sứ đã đọc quyển "lược sử thời gian " thì bác nên đọc tiếp quyển "lý thuyết dây và bản giao hưởng vũ trụ " , quyển này viết rất dễ hiểu và cho ta một cái nhìn rõ hơn về thế giới vật chất , sự mâu thuẫn giữa thuyết tương đối và thuyết lượng tử khi ở khoảng cách dưới chiều dài Plank . Do nguyên lý bất định Hesenberg mà dẫn tới những hệ quả kì lạ : nếu bảo một khoảng không gian trống rỗng thì trong nó không có gì là sai , vì khi khảo sát một khoảng cực nhỏ thì sẽ xuất hiện những thăng giáng lượng tử mãnh liệt..Cháu liên tưởng tới thái cực sinh lưỡng nghi , từ không thành có...Mong bác đọc qua cuốn này .
Thiên Sứ
16-06-2007, 05:15 PM
Cảm ơn Vinhvinh. Tôi sẽ đi tìm mua cuốn này.
Thiên Sứ
ganda
05-08-2007, 12:19 PM
Chúng ta đang nói về định mệnh về vật chất và ý thức nhưng chúng ta vẫn không thấy trong bài này khái niệm thế nào là vật chất ? thế nào là ý thức? thế nào là định mênh?
Riêng hai xung phạm trù vật chất và ý thức thì đã có vô vàn khái niệm, và vô vàn cuộc tranh luận trong cả hàng nghìn năm vậy quan niệm của chúng ta là thế nào?
Còn tôi xin phép đựoc bàn một chút về định mệnh và tiên tri.
Định mệnh là thế nào? Chúng ta tạm lấy khái niệm trong từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam vậy:
"quan niệm triết học cho rằng quá trình thế giới, kể cả đời sống con người đều được quy định từ trước bởi một ý chí tối cao, bởi số kiếp, số phận. Con người dù muốn hay không cũng không thể tránh được. Do đó chỉ còn có thể có thái độ cam chịu".
Vậy nôm na ta hiểu định mệnh là qui định trước và chúng ta không thể tránh đuợc, tất cả mọi hành động, tư duy của chúng ta là do định mệnh quyết định.
Với quan niệm như vậy thì nền văn minh Văn Lang phát triển kỳ vỹ ở phía nam Duong tử, tạo ra được những học thuyết vĩ đại cho ngày nay ta ứng đụng cũng là do định mệnh xui khiến, sự sụp đổ của nền văn minh này dù có trong tay khả năng tiên tri cả nghìn năm (theo quan niệm của ta) cũng là do định mệnh sắp đặt, sự lệ thuộc hàng nghìn năm và sự tụt hậu của đất nước chúng ta ngày nay cũng là do định mệnh, sự phát triển của Hoa kỳ, sự phục hồi và vươn lên mạnh mẽ từ con số 0 của Nhật và Đức sau chiến tranh thế giới cũng là do định mệnh, Tôi đang viết bài trên trang Web của chúng ta cũng là do định mệnh cả thôi. Ôi định mệnh!!!!
Vậy theo bạn thì đinh mệnh có hay không?
Tác giả (chú Thiên Sứ) bàn về định mệnh trên cơ sở tính Thấy của Đức Phật nhưng Phật giáo lại không chấp nhận định mệnh. Phật giáo cho rằng mọi chuyện đều do nghiệp. Nghiệp là hành động có dung tâm và con người chúng ta là chủ của nghiệp, chúng ta tạo nghiệp và nhận nghiệp báo. Đó chính là nhân quả. Sự hiện hữu của con người không đơn giản chỉ tùy thuộc vào các nhân đã gieo trong đời sống quá khứ, mà nó còn tùy thuộc ngay nơi các hành động (nghiệp mới) tạo tác trong hiện tại.
Vậy Đức phật nói với chúng ta là không có định mệnh. (Đây cũng chính là nguyên nhân tại sao quyển sách được xuất bản với cái tên "Đức Phật khai ngộ về tính Thấy" không như mong muốn của tác giả).
Thực ra luật nhân quả rất gần gũi với chúng ta. Ông bà ta có nói "ở hiền gặp lành","gieo gió gặt bão". Luật này phổ biến khắp toàn nhân loại. Đức Je -su cũng khuyên răn chúng ta hãy gieo đức để nhận phúc. Các lý thuyết về Luận tuổi gia đình, Phong Thủy... của chúng ta chỉ tồn tại khi chấp nhận luật này. Đất nứoc chúng ta có phát triển hay không phụ thuộc vào chúng ta chứ không phải định mệnh.
Còn tiên tri?
Trước tiên thế nào là tiên tri. Theo tôi tiên tri chính là sự biết trước, đoán trứoc các sự việc sẽ xảy ra ở khoảng thời gian nào đó trong tương lai trong những điều kiện nhất định. Hầu hết chúng ta đều có khả năng này và đây là câu chuyện chúng ta gặp và thấy hàng ngày. Dự báo bão, dự báo thời tiết... chính là sự tiên tri. Tôi (hay bạn) dự đoán nếu đi từ Vũng Tàu bằng otô thì khoảng 2 đến 3 tiếng sau sẽ đến TP HCM chính là khả năng tiên tri
của chúng ta. Tiên tri chính là sự trả lời cho câu hỏi "nếu... thì sẽ...".
Chúng ta thấy có người có khả năng dự đoán xa và chính xác. Vậy khả năng này phụ thuộc vào những gì?
Bạn cũng rõ để dự đoán được 2 đến 3 tiếng sau chúng ta sẽ đến SG nếu đi từ Vũng Tàu bằng ô tô (với giả thiêt là trong đk bình thường) thì chúng ta phải có đựoc các dữ kiện Vận tốc và quãng đường.
Như vậy để dự đoán hay tiên tri chúng ta phải có công thức, cần các thông số đầu vào. Nhưng để tiên tri các vấn đề liên quan đến nhân sinh, xã hội thì chúng ta cần các công thức cao cấp hơn và ông cha ta với nền văn minh Văn Lang kỳ vỹ đã để lại cho chúng ta những học thuyết, các siêu công thức để thực hiện điều này.
Vấn đề còn lại là chúng ta hiểu các siêu công thức này như thế nào sau hàng nghìn năm thất lạc, vận dụng (toán) nó ra sao để phất triển cá nhân mỗi chúng ta và chấn hưng đất nước. Đây cũng chính là nhân quả và chúng ta sẽ làm được. Chúng ta không thể chấp nhận nghèo hèn và cho đó là định mênh.
Thiên Sứ
05-08-2007, 08:05 PM
Lần đầu tiên có một sự gọi là "phản biện" tiểu luận này, kể từ khi nó được viết trên tuvilyso.com năm 2004. Với lập luận của Ganda, tôi có thể nói ngắn gọn thế này:
Lập luận của Ganda chẳng để giải quyết một vấn đề gi, mà chỉ là một cách đặt lại những vấn đề cho kết luận của tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" , trong khi để có kết luận đó, tôi đã chứng minh trong toàn bộ tiểu luận.
Chúng ta hãy xem một tiền đề của Ganda dẫn để làm cơ sở cho lập luận của mình:
"Quan niệm triết học cho rằng quá trình thế giới, kể cả đời sống con người đều được quy định từ trước bởi một ý chí tối cao, bởi số kiếp, số phận. Con người dù muốn hay không cũng không thể tránh được. Do đó chỉ còn có thể có thái độ cam chịu".
Rất tiếc! Trong tiểu luận này tôi lại không thừa nhận một "Ý chí tối cao" quyết định "tất cả quá trính thế giới, kể cả đời sống con người".
Không chỉ có Phật giáo, mà có thể nói hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều không công nhận định mệnh như ....Ganda vậy, thí dụ như Thiên Chúa giáo (Điều này tôi đã phân tích rõ trong tiểu luận này). Như vậy, khái niệm về "định mệnh" mà Ganda lấy làm cơ sở lý luận để phản biện tôi đã sai ngay từ đầu và nó thể hiện một khái niệm về định mệnh mà tôi đã phủ nhận trong tiểu luận.
* Định mệnh theo chứng minh của tôi trong tiểu luận trên là sự tương tác có tính quy luật bởi sư vận động của vũ trụ, tác động và chi phối cả ý thức con người.
* Khái niệm "ý thức" trong tiểu luận của tôi đã chứng minh:
Ý thức con người là sự vận động có thuộc tính vật chất và chịu sự tác động của những tương tác có tính quy luật của vật chất.
Nhưng trong bài phản biện của Ganda thì lại là:
Chúng ta đang nói về định mệnh về vật chất và ý thức nhưng chúng ta vẫn không thấy trong bài này khái niệm thế nào là vật chất ? thế nào là ý thức? thế nào là định mênh?
"Định mệnh có thật hay không?" chính là tựa của bài viết và là vấn đề được đặt ra trong tiểu luận này và nó đã được giải quyết trong tiểu luận này. Xem xong thì Ganda lại đặt vấn đề: "thế nào là định mệnh"? Rồi sau đó lại áp đặt một khái niệm về định mệnh - chưa được chứng minh - trong "Từ điển Bách khoa toàn thư", và giải quyết nó theo cách hiểu của Ganda và cho rằng không có định mệnh.
Ganda muốn chứng minh luận điểm của tôi sai - thì cần dẫn chứng những chứng minh của tôi sai và phản biện thẳng vào những luận cứ của nó. Còn Ganda lấy một tiêu chí khác để phản biện thì không khác gì một tín đồ theo Hồi Giáo tranh luận với một tín đồ Thiên Chúa giáo về Đấng tối cao tên thật là gì. Hic.
Ganda và quí vị có quan điểm phản biện lưu ý:
Tiểu luận của tôi viết nhân danh khoa học và có tiêu chí khoa học rõ ràng.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
06-08-2007, 08:10 AM
Ganda viết:
Vậy theo bạn thì đinh mệnh có hay không?
Tác giả (chú Thiên Sứ) bàn về định mệnh trên cơ sở tính Thấy của Đức Phật nhưng Phật giáo lại không chấp nhận định mệnh. Phật giáo cho rằng mọi chuyện đều do nghiệp. Nghiệp là hành động có dung tâm và con người chúng ta là chủ của nghiệp, chúng ta tạo nghiệp và nhận nghiệp báo. Đó chính là nhân quả. Sự hiện hữu của con người không đơn giản chỉ tùy thuộc vào các nhân đã gieo trong đời sống quá khứ, mà nó còn tùy thuộc ngay nơi các hành động (nghiệp mới) tạo tác trong hiện tại.
Bây giờ có thời gian xem kỹ lại mới thấy đoạn này. Ganda đã thật sự xem tiểu luận này chưa vậy? Ganda xem qua mạng hay có cuốn "Đức Phật khai ngộ về tính thấy". Nếu xem cuốn sách thì tôi có thể thông cảm. Vì cuốn sách này cũng làm tôi rất buồn vì số phận hẩm hiu của nó. Người ta cũng im lặng và không thấy nói năng gì đến giấy phép xuất bản cả. Đến khi in thì cái tựa đã thay đổi toàn bộ ý nghĩa của cuốn sách. Đã vậy lại bị in ngược, chương II lên đầu và chương I vào giữa, chương III xuống dưới. Bởi vậy, nếu Ganda xem cuốn sách và không hiểu tôi có thể thông cảm và xin được nhắc nhở là:
Chương i của cuốn sách từ trang 131 đến hết 176. Chương II bắt đầu từ đầu sách đến 130. Chương III là phần còn lại.
Bây giờ chúng ta bàn vào ngay luận cứ phản biện của Ganda. Ganda viết:
Tác giả (chú Thiên Sứ) bàn về định mệnh trên cơ sở tính Thấy của Đức Phật
Đây là một sai lầm đầu tiên. Tính Thấy của Phật Giáo không phải cơ sở của toàn bộ luận cứ trong tiểu luận này. Mà nó chỉ được giải thích rõ để minh họa cho luận điểm của tôi khi cho rằng: "Ý thức là một dạng tồn tại của vật chất" - và sự giải thích này là hệ quả tiếp tục của việc giải thích và minh chứng cho một bản chất vật chất của ý thức. Những bạn đọc người Việt trên cả hai trang web tuvilyso.com và vietlyso.com đều nhận thấy điều này. Vì vây, việc giải thích khái niệm tính thấy của Phật giáo, không phải là cơ sở căn bản của luận đề này. Nhưng ngay bản thân khái niệm "tính thấy", trong hầu hết các bộ kinh phật và các luận giải của các thiền sư cổ kim đều không rõ ràng. Do đó, có thể nói, đây là lần đầu tiên, khái niệm về "Tính thấy" được giải thích kỹ - theo cái nhìn của tôi - trong luận đề này. Bởi vậy, có thể làm cho người đọc hiểu nhầm, lại thêm một cái tựa rất ấn tượng là "Đức Phật khai ngộ về tính thấy" . như nhắc nhở điều này, làm cho người đọc có thể hiểu nhầm.
Ganda viết:
nhưng Phật giáo lại không chấp nhận định mệnh. Phật giáo cho rằng mọi chuyện đều do nghiệp. Nghiệp là hành động có dung tâm và con người chúng ta là chủ của nghiệp, chúng ta tạo nghiệp và nhận nghiệp báo.
Thiên Sứ tôi trong tiểu luận của mình cho rằng :"Mọi sự vận động trong vũ trụ đều có tính quy luật và sự tương tác của vạn vật - từ các thiên hà khổng lồ đến các hạt vật chất nhỏ nhất - Tương tác có qui luật thì hệ quả có thể tiên tri, đây chính là tiêu chí của khoa học hiện đại:
* Một giả thuyết, một phương pháp khoa học được coi là đúng. Nếu nó giải thích một cách hợp lý hầu hết các trường hợp liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh, nhất quán. có tính khách quan, tính qui luật và có khả năng tiên tri.
** Một giả thiết , một phương pháp khoa học bị coi là sai, nếu người ta chỉ ra được một vấn đề không hợp lý trong chuỗi mắt xích hệ luận của nó, mà không thể biện minh được.
Do đó - căn cứ vào tiêu chí khoa học **, thì một sự phản biện phải phân tích được chính tính không hợp lý ngay trong lập luận của nó, chứ không phải lấy một cái nhìn khác để thể hiện quan điểm. Ganda có thể tham khảo cách tôi phản biện chỉ ra cái sai của ông Đào Duy Anh trong cuốn " Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp". Tôi chỉ ra sai lầm vì mâu thuẫn của ông này trong chính lập luận của ông chứ không dẫn sách khác so sánh rồi nói ông ta sai.
Trên cơ sở tính quy luật là nguyên nhân của khả năng tiên tri, chúng ta so sánh với thuyết Nhân - quả trong Phật giáo thì đây chính là một quy luật. Quy luật nhân quả. Hay nói cách khác: "Nhân nào quả đấy, chính là một quy luật". Sự phủ nhận định mệnh của Phật giáo chỉ là khi con người giác ngộ được bản chất của "Như lai tạng tính" - "Tính Thấy", chứ hoàn toàn Phật giáo không phủ nhận tính quy luật tương tác có khả năng tiên tri qua thuyết nhân quả.
Những lập luận của Ganda không có tính phản biện mà chỉ là đưa một cái nhìn khác để so sánh, mà cái nhìn đó đã được tổng hợp và phân tích trong tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" . Cái nhìn của Ganda không đưa ra được một kết luận và tác dụng nào trên thực tế. Ngược lại, tiểu luận "Định mệnh có thât hay không?" đưa ra một kết luận về "Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiếm" (Bởi vậy, một cái tựa thứ hai được đề nghị để khẳng định giá trị của cuốn sách chính là "Thuyết Âm Dương Ngũ hành - Lý thuyết thống nhất vũ trụ").
Ganda thân mến.
Trước đây khi có một người bạn có thể dịch các sách của tôi ra nước ngoài thì cuốn đầu tiên tôi đề nghị dịch thuật chính là tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?". Tất nhiên khi đề nghị dịch cuốn này , tôi phải hiểu giá trị tổng hợp và mục đích của nó. Một tiểu luận đề cập đến lý thuyết thống nhất vũ trụ mà những tri thức hàng đầu nhân loại đang tìm kiếm thì không dễ gì tiếp thu. Bởi vậy, tôi cũng thông cảm với sự hiểu của một số người, nhưng điều đó không có nghĩa tôi không ngậm ngùi cho thân phận của nó.
Tôi vẫn hy vọng một ngày nào đó nó sẽ được dịch ra tiếng Anh và người xem nó sẽ là W. S. Hawking, hoặc hội đồng khoa học của viện hàn lâm khoa học Thụy Điển.
Ganda có nhã ý giúp tôi dịch các tác phẩm của tôi ra tiếng Anh. Tôi xin được công bố trên mạng là:
Tất cả các tác phẩm của Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh , nếu được dịch ra tiếng ngoại quốc thì tác giả không hề lấy tiền bản quyền; dịch giả không cần xin phép tác giả. Nhưng mọi bản dịch chỉ được coi là có giá trị khi được tác giả kiểm định chấp thuận giá trị trung thực khi chuyển tải nội dung sang ngôn ngữ khác. Bởi vì, tất cả các tác phẩm của Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh là những đề tài khoa học chứ không phải tác phẩm văn chương.
Bởi vậy, Ganda khi dịch xong, cũng đưa cho chú xem lại trước khi công bố.
Thiên Sứ
ganda
06-08-2007, 09:59 AM
Thưa chú
1.Cháu không quá quan tâm vào những điều chú trình bày đông tây trong bài, cái cháu quan tâm là sự kết luận của nó: định mệnh là có thật.
Dù với cách hiểu nào thì định mệnh vẫn là thứ qui định trước, chúng ta bị xui khiến dẫn dắt chi phối. Chú cũng đồng ý cho rằng Đức Phật bị định mệnh xui khiến phải đi tu để thoát khỏi định mệnh????
Chú cũng đồng ý rằng Đức Phật không chấp nhận là có định mệnh mà chú thì lại "trích dẫn những lời thuyết giảng của Đức Phật và giải thích theo cách hiểu của tôi" để cho rằng định mệnh là có thật. Như thế hiểu Đức Phật nói ra sao là việc riêng tùy vào mỗi người, nhưng hiểu để khẳng định ngược lại với người nói ra thì tự nó đã nói lên vấn đề có hợp lý không.
Cháu cho rằng nó không có thật vì nó có thật thì chúng ta sẽ không lý giải đc vô vàn sự việc khác.
Nếu chú vẫn khẳng định là có thật. Cháu phải tin thôi. Chắc là chú gặp "Ông" ta rồi. Ông bà ta có câu cung kính không bằng nghe theo mà.
Hôm nào chú gặp ]"Ông" [/B] ấy chú làm ơn hỏi rằng:"người dân Việt hiền lành hòa hiếu chất phác chịu khó, tuy cũng có lúc ]"Ông" [/B] ấy "xui" phát triển rực rỡ nhưng đã lâu lắm-khoảng 2500 năm rồi, nhưng đã từng ấy thời gian phải chịu nhục, giờ đây lại lắm tai ương, ]"Ông" [/B] ấy nỡ lòng nào "xui" một ngày người Việt chết hơn 80 người vì tai nạn giao thông, "xui" phải chịu ngèo đói lạc hậu. Trong khi đó ]"Ông" [/B] ấy lại "xui" Nhật bản phát triển cao, nhân dân sung sướng, tại nạn giao thông ít. Có thể ]"Ông" [/B] ấy "thương" người Nhật không có tài nguyên chăng? người Việt và người Nhật cũng máu đỏ da vàng mà, thậm chí thời cổ đại người Việt có thể đã sang Nhật sinh sống, ]"Ông" [/B] ấy nỡ lòng nào "xui khiến" như thế, mong ]"Ông" [/B] ấy "nghĩ " lại."
Chú cháu mình sẽ bàn thêm mong ]"Ông" [/B] ta hồi tâm chuyển ý, nếu không 80 tr người Việt sẽ đương đầu ]"Ông" [/B] ấy thôi, chúng ta đang đứng ở chân tường rồi.
2. Chú nói rằng:
Ý thức con người là sự vận động có thuộc tính vật chất và chịu sự tác động của những tương tác có tính quy luật của vật chất.
Cháu xin hỏi " Vật chất là gì?
ý thức hình thành từ khi nào? như thế nào? như thế mới rõ khái niệm của chú.
Và cháu cũng hiểu rằng chú chỉ nói đến ý thức con người có đúng không a?
Chú có chấp nhận công thức thời gian= quãng đường/ vận tốc có khả năng tiên tri của nó không? dự báo thời tiết cũng có phải là một trong nhưng kết quả của pp tiên tri không? Nếu có thì cháu chẳng thấy yếu tố nào xác định ý thức con người phải có thuộc tính vật chất thì mới tiên tri được.
Theo chú thì Tử Vi (là một phương pháp tiên tri phải không a?) có cần đến Ý thức con người là có thuộc tính vật chất thì mới giải đựoc không? đâu là yếu tố thể hiện đièu này?
Chúc chú khỏe và bình tâm, có thêm nhiều nghiên cứu.
ganda
06-08-2007, 10:17 AM
Cháu nhận thấy chú luôn bị cảm giác "thù địch" bao quanh. Chú cứ bình tâm cháu chỉ muốn trao đổi về học thuật thôi. Chú có thể có 999 thứ đúng nhưng 1 thứ vẫn có thể sai. Cháu xin khẳng định là khi tranh luận với chú nếu có, dù thế nào chú vẫn là thần tượng của cháu.
ganda
06-08-2007, 10:30 AM
Cháu viết chưa đúng:
Cháu xin khẳng định là khi tranh luận với chú nếu có hoàn toàn không vì bất kỳ ý niệm cá nhân nào. dù thế nào chú vẫn là thần tượng của cháu.
Thiên Sứ
06-08-2007, 05:26 PM
Ganda thân mến .
Khi tôi bắt đầu viết về văn hiến Lạc Việt tải gần 5000 năm, tôi thực tình không có ý định trở thành thần tượng của ai cả.
Nhưng Ganda lưu ý là: Khi phản biện một luận điểm khoa học và đúng hơn là một giả thuyết khoa học thì phải chứng tỏ luận điểm đó sai (Hay đúng) ở điểm nào. Còn như những vấn đề mà Ganda viết thì chỉ là cách trình bày quan điểm của mình và là cách đặt vấn đề với kết luận của tôi.
Chú luôn cảnh giác, mà từ đầu trong tâm chú không có vấn đề này. Đây là cuộc đời nó sau dó nó đặt ra cho chú. Chú thích sống vô tư và thật với chính mình.
Thiên Sứ
ganda
06-08-2007, 06:26 PM
Thưa chú
Nền tảng cho lý luận của chú chính là: ý thức phải có thuộc tính vật chất, nếu không chứng minh đc điều này- tức nền tảng không có, bài viết này sẽ sụp đổ, Chứng minh đc có thể chú sẽ thành triết gia vĩ đại đấy.
Trong này cũng có một bài viết như thế nhưng lý luận vẫn còn sơ sài nên cháu không tranh luân và nó chẳng ảnh hửong đến ai cả. Bài viết của chú thì khác nó sẽ ảnh đến rất nhiều người.
Theo thiển ý cháu chúng ta tại thời điểm hiện tại chưa thể chứng minh đc vì xung quanh ta đâu chỉ có ý thức mà còn nhiều trường năng lượng khác mà ta chưa biết hoặc chưa khẳng định. Không biết chú có dự đoán về vấn đề này không nhưng theo ông Thiệu Vỹ Hoa thì phải sau năm 2035 (?)mới có thêm nhiều khám phá mới.
Cháu cũng rất muốn dịch Thuyêt am dương ngu hành. Trc mắt thế đã chú a.
Chúc chú khỏe.
Thiên Sứ
06-08-2007, 08:52 PM
Ganda viết:
"...xung quanh ta đâu chỉ có ý thức mà còn nhiều trường năng lượng khác mà ta chưa biết hoặc chưa khẳng định....."
Ganda thân mến .
Tôi có không ít lần dự báo sai, nhưng ít ra tôi là người duy nhất trên thế giới báo trước trận sóng thần Indo trên mạng và còn nhiều v/d khác. Tất nhiên tôi rất hiểu các trường năng lượng đang tương cách một cách mơ hồ đến tôi.
Còn vấn đề ý thức chính là vật chất thì nó lại thế này: Có một nhà khoa học nói với tôi: "Vấn đề ý thức chính là vật chất đã được giới khoa học chứng minh lâu rồi, tôi chứng minh lại là thừa.." . Điều này làm tôi hơi ngạc nhiên vì cứ tưởng mình là người đầu tiên chứng minh điều này. Bởi vì cách đây mới có khoảng 10 năm, trong cuộc tranh luận của ông Trần Thanh Đạm với ông Huệ Chi, ông Trần Thanh Đạm cũng cho rằng ý thức mang thuộc tính vật chất. Nay Ganda nói thế thì để tôi thẩm định lại.
.Còn một phát minh ảnh hưởng đến nhiều người thì phát minh đó nên dừng lại chăng? Suy cho cùng phát minh nào mà chẳng ảnh hưởng đến nhiều người - thí dụ như học thuyết Mitsurin của Lư sen cô chẳng hạn.
Thiên Sứ
Doremon360
07-08-2007, 02:55 AM
Bác Ganda có biết hiện tượng ngoại cảm không ạ ? Một số người có khả năng giao tiếp được với người đã khuất để tìm mộ liệt sĩ. Người đã khuất chỉ mộ của họ cho người còn sống tìm ra.
Đó là trường sinh học của sinh vật .
Trường này là trường điện từ ở dạng tổ hợp đặc biệt.
Những trường sinh học này có thể tương tác như một người bình thường với nhà ngoại cảm. "Họ" có cảm xúc, vui, buồn, giận, trí nhớ, ... . Và các nhà khoa học đang nghiêm túc tìm hiểu về trường sinh học với cái nhìn khách quang đối với một hiện tượng bí ẩn mà con người chưa hiểu hết.
Vậy đâu là ranh giới giữa vật chất và ý thức.
Thực ra người ta phân biệt vật chất và ý thức vì họ có thể cầm nắm đụng chạm vào vật chất. Còn ý thức thì không thể tương tác trự tiếp như vậy mà phải thông qua ngôn ngữ, hành động, tình cảm, ... mà tác động đến chủ thể của ý thức.
Nhưng bi giờ thì chúng ta hiểu rằng các giác quan của con người thì hạn chế, vì thế cần những công cụ để giúp con người tương tác với những sự vật hiện tượng xung quanh vượt qua giới hạn của con người, trong đó có cả ý thức. Ví dụ đơn giản cho việc vật chất ảnh hưởng đến ý thức đó là ... bảng cấm chạy xe ngược chiều. Nếu là người có hiểu biết luật lệ giao thông họ hiểu ngay ý nghĩa của bản cấm và ý thức của họ sẽ điều khiển cơ thể vật chất của họ lái xe ... ra chổ khác !
Vậy có phải tôi vừa chứng minh ý thức có thuộc tính vật chất không ạ ?
Vì nếu 2 đối tượng không có cùng thuộc tính thì không thể tương tác với nhau được. VD :Vật trung hòa điện không thể tương tác với vật mang điện. Chỉ có những vật mang điện mới tương tác được với nhau, dù có thể là hút hay đẩy nhau do thuộc tính "cùng trạng thái" hay "ngược trạng thái".
Không cần phải là triết gia vĩ đại mà bất kỳ người nào cũng hiểu được vật chất và tinh thần thực ra là những dạng tồn tại của thực tại khách quang.
"Triết gia làm những vấn đề đơn giản trở nên phức tạp, nhà kinh doanh biến những việc phức tạp thành đơn giản"
Doremon360
07-08-2007, 03:28 AM
Trở lại với vấn đề định mệnh.
.
Theo kiến thức nông cạn của em thì định mệnh là có thật nhưng dự đoán chỉ có thể đúng với một xác suất nhất định. Nguyên nhân không thể chính xác 100% là do thông tin hay nhiễu loạn của môi trường.
.
Em xin lấy 2 ví dụ để chứng minh phát biểu của mình :
.
* Khi thông tin dễ xử lý, môi trường bên ngoài ít tác động đến sự kiện cần dự đoán thì "định mệnh" có thể được phát biểu chính xác 100%. Ví dụ bạn ném nhẹ một đồng xu lên trời, nó chắc chắn phải rơi xuống đất.
.
*Khi thông tin nhiều và môi trường xung quanh tác động mạnh đến sự kiện cần dự đoán thì nhiều khả năng dự đoán thiếu chính xác. Ví dụ bạn ném một đồng xu lên trời ở chổ đông người, nhiều khả năng đồng xu không rớt xuống đất mà ... vào túi một anh chàng nhanh tay hoặc nằm trên nóc chiếc xe buýt đang chạy qua hoặc ....
.
Vậy nếu có đủ thông tin về môi trường xung quanh thì hoàn toàn bạn có thể dự đoán được đồng xu sẽ vào tay ai, có rơi trên nóc xe buýt không hay rơi trở lại mặt đất chổ bạn đứng.
.
Vậy định mệnh hay "sự diển tiến của sự việc theo một chiều hướng nhất định" là sự thất khách quan. Cái quan trọng ở đây là làm sao dự đoán được chiều hướng tiến triển của sự vật hiện tượng.
.
Mỗi nền văn minh có cách dự đoán của riêng nó.
.
Nền văm minh phương Tây dùng toán học và logic trong suy luận để dự đoán. Họ thành công trong việc dự đoán quỹ đạo tên lửa, dự đoán sự tạo thành của nước khi kết hợp Hidro và Oxi trong điều kiện nhất định, dự đoán được ngày mai giá chứng khoán sẽ lên hay xuống, ......
Tuy vậy họ cũng bị hạn chế trong việc dự đoán 10 năm nữa chứng khoán TG sẽ như thế nào, làm sao trị dứt bệnh tật chop con người, bỏ qua ô nhiểm môi trường mặc dù hoàn toàn có thể dự đoán trước hậu quả của nó vào thời đại công nghiệp bùng nổ ngày xưa ...
.
Nền văn minh Đông phương cũng có phương pháp dự đoàn của mình. Cái này em không dám múa rìu qua mắt thợ.
.
Tùy vào "nội công" và công cụ, hiểu biết, cảm nhận, tri ngộ, .... của nhà dự đoán mà có thể ước lượng chính xác tới mức nào "sự diển tiến của sự việc theo một chiều hướng nhất định", tức là định mệnh.
.
Cho nên định mệnh không phải là cái gì đã an bài, không thể thay đổi được.
.
Con người là một phần của Thế Giới nên cũng góp phần tạo ra định mệnh của chính mình.
Thiên Sứ
07-08-2007, 07:58 AM
Cảm ơn Doremon có sự nhận xét rất chính xác.
Thực ra tất cả những điều Ganda đặt ra và vấn đề liên quan đến "Định mệnh" tôi cũng đã đặt ra và phân tích rất kỹ trong tiểu luận. Ngay cả vấn đề - khi định mệnh có thật - tức là một sự tồn tại khách quan thì nó lại trở thành một đối tác nghiên cứu của con người. Nhưng với cách định nghĩa "Định mệnh" là sản phẩm của tư duy chủ quan (Ý chí tối cao), rất, rất nhiều người đã nhảy dựng lên từ góc nhìn đó để phản bác tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?". Hay nói cách khác: Họ đang nhân danh Thượng Đế một cách vô ý thức để phản bác tôi, mà cứ tưởng mình có tư duy khoa học.
Ganda nói chính xác là: Nếu không chứng minh được "Ý thức là một dạng tồn tại có thuộc tính vật chất" thì toàn bộ tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" sẽ sụp đổ.
Điều này tôi đã chứng minh rồi - tất nhiên là bằng sự phân tích và giải quyết vấn đề trên sự suy luận hợp lý chứ không thể bằng thực nghiệm - từ đó mới dẫn đến kết luận cho vấn đề được đặt ra "Định mệnh có thật hay không?". Sự suy nghiệm về khái niệm "tính thấy" trong minh triết Phật học, chỉ là hệ quả của vấn đề "Ý thức có thuộc tính vật chất", chứ không phải lấy khái niệm "tính thấy" để chứng minh cho ý thức, như cách hiểu của Ganda.
Cuốn sách này cũng có một số phận không mấy may mắn, khi được phép in thì lại in ngược. Bởi vậy, tôi không dám đem phát hành tại các hiệu sách, mà bán cho mấy hiệu sách cũ.
Một lần nữa, tôi nhắc lại rằng:
Thuyết Âm Dương ngũ hành là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà tất cả những tri thức hàng đầu của nhân loại đang tìm kiếm.
Mọi người có quyền không tin điều này và tôi cũng không cố gắng thuyết phục điều này. Bởi vì từng cá thể con người trong cuộc sống của họ không cần điều này. Cũng như thuyết Tương Đối đúng hay sai chẳng ảnh hưởng đến cuộc sống của cá thể nào.
Và ngay cả điều đó cũng là phương tiên để tôi chứng minh:
Lich sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến.
Thiên Sứ
ganda
07-08-2007, 08:13 AM
Thưa bác DRM360
Tôi cũng ưa thích cái món trường sinh học và những khả năng kỳ lạ của con người nên cũng đọc và xem chút ít.
Nhiều thứ chúng ta biết nó tồn tại nhưng dựa trên khoa học để thuyết phục người khác thì theo thiển ý của tôi thật muôn vàn khó khăn và nó cần nhiều điều kiện khách quan ủng hộ.
Ví dụ ta nói về linh hồn, hay vong hay sự sống sau khi chết. Ta nhận thấy dừong như chúng tồn tại thật, nhất là ở Việt Nam ta. Nhưng không chứng minh đc (theo khoa học).
Chúng ta không thể dựa vào sự "nhìn" thấy của một số rất ít người để chứng minh, lại càng không thể dựa vào tôn giáo để chứng minh.
Ý thức và vật chất tôi không dám bàn nhiều tôi thấy mình chưa đủ khả năng nhưng theo tôi đây là vấn đề còn lâu mới thôi tranh cãi. Chúng ta còn chưa hiểu bản thân mình, nhất là bộ não thậm chí cả tế bào nữa. (Gần đây người ta có nêu hiện tượng những người đc ghép tim của người khác đã hoàn toàn thay đổi sở thích giống với người cho tim, xung quanh chuyện này đã có bao câu hỏi rồi).
Thưa chú thiên sứ.
ý cháu là ảnh hưởng tiêu cực.
ganda
07-08-2007, 08:17 AM
.
Con người là một phần của Thế Giới nên cũng góp phần tạo ra định mệnh của chính mình.
Câu này theo tôi là chính xác.--cf--
Thiên Sứ
07-08-2007, 09:35 AM
Ganda viết:
Thưa chú thiên sứ.
ý cháu là ảnh hưởng tiêu cực.
Ganda thân mến .
Định mệnh đã có một nửa - hoặc hơn - số lượng nhân loại tin vào điều đó. Định mệnh theo những người có niềm tin tôn giáo là do Đấng tối cao của họ an bài. Sự thay đổi Định mệnh là do Đấng Tối cao quyết định - cho dù Đấng tối cao là Ala hay Jesu. Hoặc cũng có người không có niềm tin tôn giáo, họ tin vào định mệnh chỉ vì bói toán chính xác..v.v..Cuốn sách này đặt ra vấn đề và chứng minh bản chất của định mệnh như là một thực tại khách quan, chứ không phải là một niềm tin tôn giáo. Bởi vậy, quan điểm của Ganda cho là gây "ảnh hưởng tiêu cực" là một sai lầm. Nhưng tôi biết rằng, đây không phải cái nhìn của Ganda, mà của không ít người, thâm chí không ít trường hợp, cái nhìn chủ quan ,sai lầm đó tìm cách gây ảnh hưởng đến các tác phẩm của tôi. Thí dụ - có trường hợp cho rằng: Cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" của tôi sẽ gây chiến tranh, ảnh hướng đến quan hệ ngoại giao đến nước lân bang. Híc. Thực tế đã cho thấy những nhận định đó là sai lầm và hoàn toàn chủ quan. Chính một người Hoa đã đến nhà xuất bản Đại học quốc gia (Nxb đầu tiên in cuốn sách của tôi) đề nghị được dịch ra tiếng Hoa. Tất nhiên tôi đồng ý và còn nhắn thêm: Không lấy tiền bản quyền.
Nay phải chăng chính cái quan niệm áp đặt không chứng minh được về tính tiêu cực khi cuốn sách được phổ biến với quan niệm "Định mệnh" có thật, đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc phổ biến cuốn sách này. Tôi hơi buồn khi cả một viện hàn lâm khoa học Liên Xô - tức thông minh hơn nhiều những suy luận tưởng tượng ấy - lên tiếng phản bác thuyết di truyền của Mendel. Thời tôi đi học, tôi được dạy rằng: Thuyết di truyền của Mendel là một học thuyết phản động, nhằm chứng minh cho niềm tin tôn giáo. Rằng: Chỉ có thuyết của Mitsurin là một học thuyết khoa học, nhằm chứng minh cho sự sáng tạo của con người, rằng nó chứng tỏ khả năng cải tạo thiên nhiên của con người...v.vv...và....vv . Đến nay, tôi không thấy ai nói đến học thuyết Misurin cả. Híc.
Một giả thuyết được chứng minh bằng những luận cứ theo tiêu chí khoa học, thì có người cho rằng ảnh hưởng tiêu cực. Vậy với trình độ trực quan , đơn giản - chắc không thông minh hơn Lư Sen Kô - viện trường viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô trong mảng sinh học - tôi có thể so sánh cho Ganda và những người đồng quan điểm "tiêu cực" là: Việc gọi hồn còn cha nội của Định mệnh - theo cách định nghĩa của họ căn cứ vào Từ điển bách khoa. Nếu Ganda và những người đồng quan điểm thích đúng thì tôi im lặng.
Thiên Sứ
ganda
07-08-2007, 10:20 AM
Thưa chú Thiên sứ
cháu rất hiểu là chú đang cố gắng nêu ra một cách khoa học và cháu cũng hiểu mong muốn của chú còn nằm ở vấn đề khác nữa. Để thỏa mãn mong muốn này, chú phải tìm cách tiếp cận khác thôi, không thể dựa vào tôn giáo được.
Doremon360
07-08-2007, 10:49 AM
Bác Ganda có thể tìm đọc cuốn "Bí ẩn các nhà ngoại cảm Việt Nam" để thấy những bằng chứng cụ thể từ khả năng "thấy và tương tác" với trường sinh học của người đã khuất.
.
Đó là những bằng chứng khoa học đáng tin cậy. Đó là những câu chuyện do chính nhà khoa học ghi chép trong quá trình "khảo sát" khả năng của nhà ngoại cảm....
.
Khả năng ngoại cảm đem lại nhiều ứng dụng tích cực : Tìm mộ liệt sĩ. Tìm mối liên hệ giữa hài cốt và thân nhân. Người ta lập cả chương trình tìm mộ liệt sĩ (người Việt và người Mỹ đã hi sinh trong chiến tranh Việt Nam) bằng phương pháp ngoại cảm. Những kết quả tới nay cho thấy sự chính xác trong việc xác định vị trí và thân nhận là rất cao.
.
GS .Đào Vọng Đức từ một người bình thường mà luyện khả năng ngoại cảm bằng thiền vẫn có thể có được những khả năng đặc biệt.
.........
Vậy đó là những bằng chứng rất cụ thể và khoa học cho mối liên hệ giữa vật chất và ý thức. Cà 2 chỉ là những dạng khác nhau của thực tại khách quan.
.
Định mệnh đúng là một thực tại khách quan. Đó chính là những quy luật tương tác trong Vũ Trụ.
.
Còn tác động tích cực hay tiêu cực là do con người dùng những hiểu biết của mình cho việc gì. Cái gì mà không có 2 mặt của nó. Âm dương không chỉ tồn tại ở dạng vật chất vi mô,bất kể cái gì cũng đều có tính Âm và tính Dương tồn tại song hành. Quan trọnh là con người thúc đẫy tính nào mạnh hơn để có lợi cho mình mà thôi. Nhưng đó là những thúc đẩy ngắn hạn. Vì về dài hạn, mặc đối lập còn lại sẽ tự vận hành để thiết lập cân bằng.
http://www.electronics.dit.ie/staff/dclarke/Student%20Web%20Pages/Brendan%20Beagon/images/fractal.jpg
http://images.google.com.vn/url?q=http://leorigini.qwankido.org/modules/Archives/files/Am_duong2.gif&usg=AFQjCNFXSWNhGJqfw8P-_FPau1484ZnlRA
.
Doremon360
07-08-2007, 10:50 AM
http://leorigini.qwankido.org/modules/Archives/files/Am_duong2.gif
thichmactien
07-08-2007, 01:17 PM
Tôi không dám xen ngang tranh luận của mọi người, chỉ muốn nói là rất đồng tình với ý kiến của Doremon360
Còn tác động tích cực hay tiêu cực là do con người dùng những hiểu biết của mình cho việc gì. Cái gì mà không có 2 mặt của nó.
Các nhà khoa học phát minh ra nước nặng chắc không thể ngờ được là dân Nhật bản mà cụ thể là Hiroshima sẽ phải gánh thảm họa kinh hoàng về phát minh của họ.
Khi ai đó tin vào việc Định mệnh là có thật, như vậy sẽ có tác động tích cực hay tiêu cực? Nó hoàn toàn phụ thuộc vào tính cách, phản ứng của mỗi cá nhân. Như vậy phải chăng định mệnh vẫn có dung sai? có thể là A hoặc tốt hơn A hoặc xấu hơn A (trong phạm vi dung sai và vẫn ko làm thay đổi để biến từ A thành B) đều tùy vào tính cách và hành động của mỗi cá nhân.
Thiên Sứ
07-08-2007, 03:21 PM
Ganda viết:
Thưa chú Thiên sứ
cháu rất hiểu là chú đang cố gắng nêu ra một cách khoa học và cháu cũng hiểu mong muốn của chú còn nằm ở vấn đề khác nữa. Để thỏa mãn mong muốn này, chú phải tìm cách tiếp cận khác thôi, không thể dựa vào tôn giáo được.
Ganda càng viết tôi càng không hiểuGanda viết cái gì? Căn cứ vào đâu mà Ganda cho rằng tôi dựa vào tôn giáo để chứng minh cho vấn đề Định mệnh?
Ganda đã thực sự xem hết tiểu luận của tôi chưa vậy? Ganda có hiểu gì về phương pháp, tiêu chí và mục đích của tiểu luận này không?
Cách đặt vấn đề và những ý kiến của Ganda khiến tôi phải xem lại sự ủng hộ của Ganda với quan niệm về một lịch sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến, có thật là xuất phát từ sự hiểu biết nên ủng hộ, hay chỉ thể hiện sự ủng hộ bề ngoài?
Ngày trước có người đưa tôi một cuốn sách xuất bản hợp pháp của ông Võ Trần Thái - nếu tôi nhớ không nhầm tên tác giả - trong đó có nói việc phát hiện ra mộ Lạc Long Quân đâu ở Vĩnh Phú - có chụp ảnh hẳn hoi và khuyên tôi nên lấy làm tư liệu để chứng minh cho quan điểm của mình. Tôi nhìn người này từ đâu đến chân và bảo họ đem cuốn sách về. Bởi vì tôi không hiểu đây là phần tử khiêu khích hay là kẻ ngớ ngẩn.
Thiên Sứ
Chính Ấn
07-08-2007, 03:41 PM
Khi đã nói là định mệnh thì không nói tới cái thay đổi được hay không thay đổi được. Định mệnh bao gồm cả việc tiên đoán trước 1 cá thể có tác động lên hay không. Đại khái như trong tử vi, nó vẫn có các bộ sao thể hiện những người có thể tin vào tử vi nhưng khi hành sự thì lại tận lực, không bao giờ đem học thuật ra sử dụng.
Những cái mà người ta nói là định mệnh và định mệnh ấy có thể tác động được bằng sức người thì thực tế nó chỉ là bản nháp của định mệnh mà thôi.
Giống như tử bình, nó đoán về vận mệnh một người X và có các phương pháp để hóa giải, từ A thành A', trong khi đó dùng tử vi khi xem mệnh cho người X sẽ đoán ra kết quả là A'.
Định mệnh là kết quả cuối cùng. Xem một lá số có thể thấy được cá nhân đó có lòng tin rằng bản thân họ nắm giữ số mệnh họ hay không, rằng bản thân họ tác động vào số mệnh họ hay không. Nhưng thực tế, những người này không tác động vào số mệnh B mà chỉ tác động vào tiệm cận của B để biến nó thành B.
ganda
07-08-2007, 05:32 PM
Thưa chú Thiên Sứ
Chú viết
Chỉ có hai khả năng tồn tại của ý thức:
1)Phi vật chất.
Như vậy sẽ không thể có khả năng tiên tri theo những phương pháp có tính quy luật, tính hệ thống, tính khách quan… như Tử Vi; Từ bình…Bởi vì, nó còn phải chịu ảnh hưởng của một đại lượng không thể kiểm chứng là ý thức phi vật chất không mang tính quy luật. Vấn đề sẽ đuợc kết thúc tại đây:
“Không có Định Mệnh!”.
Đoạn này cháu cũng đã nói trước đây, chú không có đủ cơ sở cho kết luận nếu ý thức là phi vật chất thì không dùng đc các phương pháp tiên tri dự đoán. Và tất nhiên chú chuyển sang:
2) Ý thức là một dạng vận động của vật chất và chịu sự tương tác mang tính quy luật; mà nhân loại đã khám phá trong hiện tại hoặc có thể khám phá trong tương lai.
Với dạng tồn tại này thì ý thức và những hiện tượng liên quan đến nó: Tư duy; tình cảm; tiềm thức; vô thức; trực giác; cảm giác…v.v...đều có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác có tính quy luật có thể tiên tri.
Như vậy, trong trường hợp này:
Định mệnh đang hiện hữu và chi phối cả ý thức con người
Sau khi phân tích bài giảng của Đức phật chú viết:
Đức Phật đã chỉ ra ý thức có thuộc tính vật chất. Như vậy, đủ để chúng ta kết luận về Định mệnh hoàn toàn có thật.
Thưa chú, cháu cũng nói nói thêm để chú rõ, đây là tranh luận về học thuật cháu có thể đúng có thể sai, đều chỉ là những cơ hội học hỏi, không liên quan gì đến nền văn hiến Việt 5000 năm.
Và cũng xin nói thêm rằng, nền văn hiến Việt không phải là tài sản riêng của chú, chỉ chú có quyền ủng hộ hay không, ai có phản đối chú là phản đói nền văn hóa Việt. Nền văn hiến này là của 80tr đồng bào Việt Nam còn rất nhiều ngừoi ngaòi chú ra ủng hộ nó.
ganda
07-08-2007, 05:56 PM
Ngày trước có người đưa tôi một cuốn sách xuất bản hợp pháp của ông Võ Trần Thái - nếu tôi nhớ không nhầm tên tác giả - trong đó có nói việc phát hiện ra mộ Lạc Long Quân đâu ở Vĩnh Phú - có chụp ảnh hẳn hoi và khuyên tôi nên lấy làm tư liệu để chứng minh cho quan điểm của mình. Tôi nhìn người này từ đâu đến chân và bảo họ đem cuốn sách về. Bởi vì tôi không hiểu đây là phần tử khiêu khích hay là kẻ ngớ ngẩn.
[COLOR=red]Thiên Sứ
xin noi them vơi chú la cháu chưa dùng một lời lẽ thiếu lễ nào đối với chú. Chú nên nhớ rằng khi mình muốn được tôn trọng thì phải tôn trọng người khác.
ganda
07-08-2007, 06:32 PM
.
Khả năng ngoại cảm đem lại nhiều ứng dụng tích cực : Tìm mộ liệt sĩ. Tìm mối liên hệ giữa hài cốt và thân nhân. Người ta lập cả chương trình tìm mộ liệt sĩ (người Việt và người Mỹ đã hi sinh trong chiến tranh Việt Nam) bằng phương pháp ngoại cảm. Những kết quả tới nay cho thấy sự chính xác trong việc xác định vị trí và thân nhận là rất cao.
.
Thưa bác DRM 360
Tôi cũng có xem chương trình tìm mộ Liệt Sỹ trên kênh DISCOVERY (nước ngoài cũng đang tìm hiểu?) và cũng có biết đến chị Phan Thị Bích Hằng (?) khoa cận tâm lý ĐHQGHN và tôi hoàn toàn tin tưởng vào điều này: có sự sông sau khi chết (đây chỉ là niềm tin cá nhân). Biết là tồn tại cái gì đó đến biét chính xác là cái gì còn khoảng cách rất xa. Nó đấy mà chắc gì đã phải nó.
còn câu này của bác: Định mệnh đúng là một thực tại khách quan. Đó chính là những quy luật tương tác trong Vũ Trụ. xin phép được nói thêm: va chúng ta vừa là khách thể và chủ thể của sự tương tác này.
Riêng 2 từ Định mệnh theo thiển ý tôi nên tìn từ khác thay thế như vận mệnh chẳng hạn (???) chứ về mặt từ ngữ tra từ điển nào cũng tương tự:
定命 định mệnh
Số mệnh do trời sắp đặt. ☆Tương tự: định số 定數, thiên mệnh 天命.
hahung
07-08-2007, 06:53 PM
xin noi them vơi chú la cháu chưa dùng một lời lẽ thiếu lễ nào đối với chú. Chú nên nhớ rằng khi mình muốn được tôn trọng thì phải tôn trọng người khác.
Mình nghĩ là Ganda hơi quá lời rồi đấy.
Thiên Sứ
07-08-2007, 07:30 PM
Ganda viết:
Trích:
Thưa chú Thiên sứ
cháu rất hiểu là chú đang cố gắng nêu ra một cách khoa học và cháu cũng hiểu mong muốn của chú còn nằm ở vấn đề khác nữa. Để thỏa mãn mong muốn này, chú phải tìm cách tiếp cận khác thôi, không thể dựa vào tôn giáo được.
Ganda hãy dẫn chứng cụ thể việc tôi dùng tôn giáo để chứng mịnh cho luận điểm của tôi. Đối với tôi việc này rất nhậy cảm. Đừng nói rằng tôi dẫn những lời Đức Phật giảng về "tính thấy" là lấy tôn giáo để minh chứng nhé, "Tính Thấy" không làm nên tôn giáo. Cũng như nếu tôi dẫn chứng W,S Hawking thì không có nghĩa tôi là đệ tử của ông ta.
Thiên Sứ
Doremon360
07-08-2007, 07:47 PM
Cho nên định mệnh không phải là cái gì đã an bài, không thể thay đổi được.
.
Con người là một phần của Thế Giới nên cũng góp phần tạo ra định mệnh của chính mình.
.
Em có nói rõ điều này trước đó đúng không ạ ?!
.
Còn danh sách các nhà ngoại cảm Việt Nam thì rất nhiều, chị Hằng chỉ là một trong những người nổi tiếng trong số đó. Mỗi người có những khả năng khác nhau, cứ như fim X.men ấy.
.
Biết là tồn tại cái gì đó đến biét chính xác là cái gì còn khoảng cách rất xa. Nó đấy mà chắc gì đã phải nó.
.
Bác biết phương pháp của khoa học là thế nào không ạ ?
.
Là dùng mô hình lý thuyết để giải thích các dữ kiện thực tế. Chứng nào còn giải thích tốt thì mô hình còn được xem là gần đúng nhất với thực tế. Khi có những kết quả thí nghiệm hoặc dữ kiện mới ngoài sức giải thích của mô hình thì mô hình củ không sai nhưng là một trường hợp đặc biệt của một mô hình còn tổng quát hơn. Và người ta bắt đầu tìm kiếm mô hình tổng quát hơn này, tiếp tục sử dụng nếu tìm ra, đến một ngày lại phải tìm một mô hình tốt hơn nữa .......
.
Có nghĩa là những tri thức khoa học mà chúng ta biết ngày nay là rất thực dụng, và không phải phần nào cũng rõ ràng đúng với sự vận hành của thực tại khách quan.
.
Hơn nữa ngưới ta đã chụp được ảnh trường sinh học của sinh vật, vậy đó là bằng chứng rất rõ cho sự tồn tại của nó. Còn việc trường sinh học này có hình hài thế nào thì nhà ngoại cảm biết rõ hơn chúng ta. Giống như con thỏ nhìn TG xung quanh gần 360 độ nên hình ảnh mà nó thấy khác chúng ta thấy. Con rắn nhìn bằng hồng ngoại nên hình ảnh nó thấy khác chúng ta thấy.
.
Thế mà các nhà ngoại cảm xác định chính xác vị trí của rất nhiều mộ liệt sĩ qua giao tiếp với chính các liệt sĩ, nhận diện được họ hàng do các đặt điểm cơ thể, khuôn mặt, của người đã khuất, .... vậy hình ảnh mà nhà ngoại cảm nhìn thấy cũng gần giống với chúng ta thấy vậy. Cũng có nghĩa là trường sinh học phản ánh rất tốt đặt điểm vật chất của sinh vật vậy.
.
http://www.biofieldsciences.com/biofieldsciences.com/index.htm
.
http://www.herenow.co.kr/image/sym/9th-10-ki.jpg
http://www.pipbiofieldimaging.com/images/Omkargif.gif
http://www.pipbiofieldimaging.com/images/sequence.gif
.
Mấy cái ni chỉ là trường sinh học của người "luyện công" hoặc được chữa bệnh bằng phương pháp ngoại cảm. Hy vọng thời gian tới người ta có thể chụp được ảnh trường sinh học khi nhà ngoại cảm giao tiếp với người đã khuất.
Doremon360
07-08-2007, 08:19 PM
À, mà tôn giáo đâu phải là mù quán xấu xa đâu ta ?
.
Tôn giáo là niềm tin của con người mà. Còn tốt hay xấu, mù quán hay sáng suốt là do người theo tôn giáo đó muốn làm gì chứ đâu phải do bản thân tôn giáo ?
.
Hơn nữa, khoa học là một tôn giáo ! Nói đúng hơn là một tôn giáo mở (tức là liên tục phát triển)
.
Nghe chắc nhiều bạn nhảy dựng lên. Nhưng vì nghiên cứu nền tảng của khoa học nên mới dám phát biểu một câu xanh rờn thế này.
.
Khởi điểm của một lý thuyết khoa học là tiên đề.
Tiên đề thì không chứng minh. Ai chấp nhận thì xem tiếp các lập luận của tác giả lý thuyết đó, còn không thì thôi. VD : Thuyết tương đối hẹp của Einstein được xây dựng từ 2 tiên đề, trong đó có tiên đề "vận tốc ánh sáng là hằng số trong mọi hệ quy chiếu quán tính" (tức là không gia tốc cho ánh sáng được). Tiên đề này bắt nguồn từ thực nghiệm giao thoa ánh sáng để xác định sự ảnh hưởng của chuyển động Trái Đất đối với tốc độ ánh sáng...
.
Sau khi đã chấp nhận tiên đề, các bước tiếp theo là dùng logic, toán học, mô hình, công cụ, ... để phát triển các lập luận và tạo ra các hệ quả. Để khẳng định tiên đề đúng hay sai, lý thuyết hữu ích hay chỉ để ngắm, thì thực nghiệm kiểm chứng các hệ quả của nó là bước cuối cùng để khẳng định tính "đúng" của lý thuyết khoa học.
.
Vậy mấy bước này có khác gì một tôn giáo ?
.
Từ tiên đề "gieo gió gặt bảo" hay "ở hiền gặp lành" ( mà xuất xứ từ sự trải nghiệm cuộc sống của "tác giả" ) ai tin thì làm theo và nhận kết quả của nó.
.
Còn việc tôn giáo bị thần thánh hóa hay bị lợi dụng để làm chính trị thì do người ta ứng dụng nó vào việc gì chứ đâu phải bản thân những niềm tin trong "lý thuyết" đó ?!
.
Cho nên đừng đánh đồng tôn giáo với sự mù quán. Hổng đúng đâu.
.
Niềm tin xuất phát từ quá trình trải nghiệm cuộc sống.
Tiên đề khoa học xuất phát từ những trải nghiệm trong quá trình làm thực nghiệm hoặc phát triển lý thuyết.
.
Chỉ có phương pháp là khác nhau.
Tôn giáo dùng thế giới tinh thần nhiều hơn. Thế giới vật chất đa phần dùng làm biểu tượng cho những niềm tin bên trong tôn giáo đó.
Khoa học dùng thế giới vật chất nhiều hơn. Vì thế mà tạo ra nhiều công cụ và trang thiết bị .
.
Nếu không có niềm tin thì khoa học không thể phát triển.
Niềm tin của khoa học dựa vào thực nghiệm.
Niềm tin của tôn giáo dựa vào trải nghiệm.
Con người dùng niềm tin của mình để đối xử tốt với người khác để có một cộng đồng phát triển, hay để tạo ra chiếc Civic để bán kiếm tiền nuôi vợ là do mục đích của họ.
hahung
07-08-2007, 09:10 PM
Mình đồng ý với Doremon360. Có thể khoa học không phải hoàn toàn là một tôn giáo theo định nghĩa tôn giáo, nhưng khoa học, tôn giáo, tín ngưỡng, đức tin... đều có xây dựng trên cơ sở một tập hợp các tiên đề và dựa trên các tiên đề đó để giải thích một cách hợp lý những vấn đề liên quan.
Thời gian vừa rồi mình khá là bận, chưa có điều kiện đọc và suy ngẫm kỹ lưỡng về những vấn đề trong tiểu luận này của chú Thiên Sứ, nên cũng chưa nói là hiểu hết được. Tuy nhiên mình cũng thấy có nhiều điểm tương đồng trong luận điểm của chú Thiên Sứ với cách nhìn nhận của mình về vấn đề này. Mình không có ý xây dựng thành học thuyết riêng như DungKQ (mình chưa đọc hết học thuyết này, mới lướt qua thôi), nhưng thấy cũng khá là giống với cách nghĩ của mình. Nhưng vì Ganda đã có phản biện căng thẳng như vậy với lập luận của chú Thiên Sứ thì mình cũng sẽ cố gắng dành thời gian để tìm hiểu kỹ hơn và chia sẻ suy nghĩ của mình, biết đâu có thể làm mọi người hiểu nhau hơn. Vì mình đã gặp nhiều trường hợp mọi người có cùng quan điểm, nhưng chỉ vì cách trình bày khác nhau mà dẫn đến mất hòa khí, thật đáng tiếc.
Thiên Sứ
08-08-2007, 01:20 AM
Hahung thân mến.
Khi chú chứng minh Kinh Dịch là của Việt Nam, từ bà bán ve chai lông vịt đến các học giả khả kính đều nhảy dựng lên và bảo chú sai. Đã có rất nhiều ngừoi phản ứng. Chú rất có ý thức về việc làm của mình và chú nhân danh khoa học. Cái gì mà đã gọi là phát minh thì nó không thể là cái nhận thức phổ thông của đại đa số. Có điều chú may mắn hơn Galile là chú sống ở thế kỷ 21. Nếu không thì có lẽ chú cũng phải nói khẽ "Thật là vô lý khi kinh Dịch không phải của Việt Nam".
Đây không phải là vấn đề hòa khí hay không hòa khí - Chú không biết Ganda là ai - chú và Ganda đều chỉ là cái Nick trên mạng ảo - mà là vấn đề chân lý. Có thể ở ngoài đời Ganda rất thân với chú, đã đi nhậu với chú và rất quí nhau. Nhưng chú rất nghiêm túc trong nghiên cứu nhân bdanh khoa học. Chú có thể sai. Nhưng ít nhất cái sai đó phải được chỉ ra rất rõ ràng mà chú không thể biện minh được, chứ không phải là sai chỉ vì "nó ảnh hưởng tiêu cực tới cuộc sống", hoặc sai vì chú "không nên lấy tôn giáo để minh chứng"....
Doremon nói chính xác: Tiền đề của tôn giáo là Đấng Toàn năng. Với tiền đề này tôn giáo đã giải thích bthế giới, cuộc sống và con người. Hình học phẳng thì có hai tiên đề. Thuyết Tương Đối cũng có tiên đề mà Doremon đã nhắc tới. Còn tiên đề của tất cả các sách và tiểu luận của chú là tiêu chí khoa học. Nếu tiêu chí khoa học được cả thế giới phủ nhận thì mọi lập luận của chú sẽ sụp đổ. Ganda nói: "5000 năm văn hiến Việt không phải của riêng của chú". Hoàn toàn chính xác.
Nhưng vấn đề ở đây là sự chứng minh cho 5000 năm văn hiến ấy thì không thể là chung với "Hầu hết những nhà khoa học trong nước" được "cộng đồng khoa học thế giới công nhận" với quan điểm coi "Thời Hùng Vương chỉ là một liên minh bộ lạc , cùng lắm chỉ là một nàh nước sơ khai" với những người dân "ở trần đóng khố".
Chú chứng minh lịch sử Việt với 5000 năm văn hiến tức là đi ngược lại với "Hầu hết những nhà khoa học trong nước " và "công đồng khoa học thế giới". Nếu chịu suy luận một chút thì việc này không đơn giản với các danh từ và câu chữ. Mà là sự trắc trở, khó khăn với mọi hệ qui chiếu.
Ganda cứ việc đưa ý kiến của mình và phản biện tối đa. Nhưng phải đúng theo tiêu chí khoa học:
Một lý thuyết khoa học bị coi là sai. Nếu người ta chỉ ra một điểm sai trong chuỗi mắt xích của nó. mà lý thuyết đó không thể biện minh được.
Như vậy, tất cả các công trình nghiên cứu vĩ đại nhân danh khoa học, đều có thể sai, nếu người ta chỉ ra chỉ cần một điểm sai.
Thí dụ: Thuyết tương đối cho rằng: Tốc độ giới hạn của vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng là sai.
Bởi vì nếu vũ trụ có tốc độ giới hạn thì mọi thông tin sẽ không tồn tại. Cho dù giới hạn đó là vô cùng lớn. Thuyết thống nhất - Âm Dương Ngũ hành - thuộc về nần văn hiến kỳ vĩ của người Lạc Việt cho rằng:
Tốc độ giới hạn của vũ trụ = /O/. Tức là tuyệt đối.
Nếu ai phản biện được điều này, thuyết của Thiên Sứ sai.
Thiên Sứ
Doremon360
08-08-2007, 03:37 AM
Thực ra thuyết tương đối không nói C là maximum của tốc độ. C là hằng số tốc độ ánh sáng trong chân không.
.
Thông tin ( Hay đúng hơn là sự ảnh hưởng ) hoàn toàn có thể tác động với vận tốc truyền lớn hơn C.
.
Nếu thay một tốc độ > C vào các phương trình của thuyết tương đối hẹp, sẽ thấy khối lượng, chiều dài, ... thành số phức. Tức là số không không phải số thực. (Đừng nhầm lẫn vì tên gọi. Số phức vẫn được dùng để giải các phương trình vô nghiệm thực. Nó vẫn là thực tại khác quan).
.
Điều đó không có nghĩa là thuyết tương đối hẹp sai, chỉ đơn giản khi đó chúng ta đã đến điểm giới hạn ứng dụng của lý thuyết.
.
Như đã nói, mỗi lý thuyết khoa học có giới hạn ứng dụng của nó. Nếu tìm ra lý thuyết bao quát hơn, thì lỳ thuyết củ trở thành trường hợp đặc biệt hữu dụng trong một phạm vi nhất định.
.
Cho nên nếu thực nghiệm xác nhận thông tin có thể truyền nhanh hơn tốc độ ánh sáng, thì thuyết tương đối hẹp sẽ trở thành trường hợp đặt biệt của vật chất liên kết bằng trường điện từ đơn giản (khác với trường điện từ phức hợp, như trường sinh học chẳng hạn), và trong điều kiện sóng điện từ không thể được gia tốc như môi trường "chân không" mà các nhà vật lý làm thí nghiệm đo tốc độ C.
Doremon360
08-08-2007, 04:07 AM
Xin nói thêm "chân không" này là chân không vật lý, tức là môi trường không trọng lực, vật chất chỉ tồn tại ở dạng thăng gián lượng tử nhỏ. Nhưng những thành phần nào khác của thực tại khách quan còn ẩn mình trong môi trường "chân không vật lý" thì cho tới nay chưa thấy có thông tin nào mới. Hy vọng tương lai con người sẽ phát hiện thêm những dạng tồn tại khác ngoài các thăng gián lượng tử.
.
Tuy nhiên môi trường đáng quan tâm đó là trường sinh học. Ghi nhận các trường hợp ngoại cảm tại VN cho thấy trường sinh học của người đã khuất có thể được cùng lúc 2 nhà ngoại cảm khác nhau "giao tiếp" với "họ". Cho nên trường hợp này giống như sự bất định về vị trí của hạt vi mô trong một khoảng không gian đủ nhỏ ( tức là vùng không gian mà xác suất tồn tại của hạt vi mô là lớn nhất ). Nhưng hiện tượng này lại xẩy ra ở TG vĩ mô của con người. Thật là khó giải thích nếu vận tốc thông tin của trường sinh học bị giới hạn bởi hằng số C.
.
Chưa dàm nói đây là một bằng chứng cho sự tồn tại của tốc độ thông tin vượt tốc độ ánh sáng, vì cần phải làm thực nghiệm kiểm chứng nghiêm túc và phải có sự hợp tác của "trường sinh học" với một số nhà ngoại cảm ở những khoảng cách xa nhau nhất có thể được.
.
Hy vọng trong thời gian tới VN mình và các nhà khoa học Quốc Tế có thể quan tâm hơn đến ý nghĩa của hiện tượng ngoại cảm đối với sự phát triển của vật lý học và khoa học.
ganda
08-08-2007, 08:45 AM
Thưa mọi người.
Chúng ta đang nói về vấn đề : Định mênh có thật hay không?
Tôi xin được đưa ra ý kiến: Định mẹnh không có thật
(Tôi xin nói rõ là chúng ta dùng từ định mệnh theo ngôn ngữ Việt nên sẽ hiểu theo nghĩa của nó (như đã trình bày), chúng ta không thể đưa ra một nghĩa khác và cho là là ngôn ngữ của chúng ta sai, tất cả các văn bản, tài liệu từ điển từ xưa đến nay phải sửa theo cách của cả nhân ta. Đó là điều hoang đường.)
Bởi vì theo (tài liệu của chú Thiên Sứ) "Một giả thiết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu nó giải thích được hầu hết những vấn đề liên quan đến nó và có khả năng tiên tri"., nếu có định mệnh chúng ta sẽ không giải thích được nhiều hiện tượng như tại sao quốc gia này phát triẻn và quốc gia khác thì không...
Con người chỉ có vận mệnh của mình.
Nói theo Đức Phật là Nghiệp và nhân quả
Nói theo ý của DRM 360 là: Con người là một phần của Thế Giới nên cũng góp phần tạo ra vận mệnh của chính mình.hay: Vận mệnh đúng là một thực tại khách quan. Đó chính là những quy luật tương tác trong Vũ Trụ, chúng ta vừa là khách thể vừa là chủ thể của sự tương tác này.
Nói theo Hành trình về phương đông là (xin nói đại ý tôi đọc lâu quá rôi) vận mệnh con người được qui định bởi một đường gọi là Vũ trụ tuyến, sự vận động của con người có tương tác với đường này.
Với quan niệm như thế thì tất cả các ứng dụng của nền văn minh Văn lang như Tử Vi, Phong thủy, luận tuổi Lạc việt...đều có chỗ đứng và chúng ta có thể giải thích được hầu hết các hiện tương liên quan.
Thưa chú Thiên sứ:
Cháu hôm qua có hơi nóng nên lời lẽ không được hòa nhã, xin chú bỏ quá cho. Chúng ta cùng một hội, không có lý gì vì một tranh luân nhỏ mà ảnh hưởng đến hành trình của chung ta.
Về lý thuyết của chú nói về định mệnh nhưng lại không phải nói về định mẹnh. Xin chú cứ tiếp tục. Theo thiển ý cháu nên đỏi tên là: có hay không sự tương tác của quy luật vũ trụ lên ý thức của con người (?). Cháu xin nhấn mạnh từ Ý thức, vì sự tương tác của các hành tinh lên con người thì khoa học đã cho là có Vd như sự tương tác của Mặt trăng, nhưng chỉ là sự tương tác lên nước trong cơ thể hay một cái gì đó tương tự. Vấn đề mấu chốt vẫn là ý thức là gì? được hình thành ntn? từ khi nào?
Có rất nhiều người đang trên con đường khẳng định nền văn hiến Việt 5000 năm, thậm chí là hơn. Sự ủng hộ còn mang tầm nhà nước. Trong các văn kiện giờ đây không chỉ còn Việt Nam 4000 năm văn hiến nứa và thay vào đó là Nhiều nghìn năm văn hiến. Chú không đơn độc.
Chúc chú thành công.
Chúc mọi người tốt lành.
Doremon360
08-08-2007, 10:21 AM
Vậy là chưa ngộ chân lý rồi !
.
Định mệnh là quy luật của vũ trụ.
.
Đó không phải là cái gì cứng ngắt, không thay đổi đựơc. Mà là logic của sự tiến triển trong vũ trụ.
.
Con người là một phần của vũ trụ.
.
Sự vận động của con người cũng ảnh hưởng đến cả vũ trụ.
.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng tới đâu, là do nội lực và "thời thế".
.
Nếu nội lực đủ lớn, thời thế thuận lợi, người đó có thể dời non lấp biển.
.
Nếu nội lực yếu ớt, thời thế không phù hợp, người đó đành thuận theo xu hướng bên ngoài.
.
Nếu nội lực rất lớn, người đó có thể tạo ra thời thế cho mình, và thay đổi cục diện.
.
Cho nên nếu nghĩ định mệnh là cái gì cứng ngắt cho tương lai thì không đúng.
.
Mọi dự đoán, khoa học cũng như đạo học, đếu có xác suất chính xác nhất định, không bao giờ là 100%. Vì như đã nói là vì tùy "nội công" của nhà khoa học hoặc nhà dự đoán, và tùy lượng thông tin mà nhà khoa học có thể hiểu được và có được, tùy lượng thông tin mà nhà dự đoán có thể cảm nhận được.
.
Còn việc một quốc gia này phát triển, quốc gia kia tụt hậu, thì đều có quy luật cả. Và điều đó không có nghĩa là sẽ mãi mãi như vậy. Nếu bạn có tham gia TTCK thì sẽ hiểu rõ điều này. CP giá cao cũng chỉ duy trì đựơc trong một thời gian ngắn rồi sẽ rớt giá, nhường vị trí top của mình cho CP khác.
http://www.nguyenkynam.com/ylydongy/hocth2.gif
.
Tuy vậy, có người dự đoán đúng, có người dự đoán sai, có người hên, có người xiu, .... Cuộc sống là vạn biến. Vì sao có người dự đoán đúng, có người dự đoán sai. Do nội lực của họ và thời thế xung quanh họ. Vì cũng biết chút ít về tài chính chứng khoán, nên mới dám phát biểu. Vì cách đây 4 tháng đã dự đoán CK rớt giá, và ngày nay đã là sự thât (VNindex 1100 --> 890 ), nên tin rằng dự đoán hoàn toàn có cơ sở, vì dựa vào quy luật, tâm lý, tình hình phát triển kinh doanh, động thái của những người có ảnh hưởng lớn tham gia TT, .... Như vậy, việc rớt giá CK trong khoản thời gian này là định mệnh, bắt nguồn từ sự phát triển nóng trong quá khứ. Tuy nhiên có người dự đoán được nó, có người xiu xẻo vào không đúng lúc nên tội nghiệp cho người ta, .... Dù sao dự đoán tương lai thì chắc chắn là tăng trưởng trong dài hạn, dù trong ngắn hạn có thể có những dao động mạnh.
.
Rõ ràng qua ví dụ trên, cho thấy dự đoán có thể đạt những mức độ chính xác nhất định khi nắm được quy luật trong quá khứ và thông tin mới cập nhật từ môi trường hiện tại. Sự chính xác đó không ai dám chắc 100% trừ khi đã hội đủ tất cả các yếu tố cần thiết để kết quả xẩy ra.
.
Còn việc một quốc gia thì tụt hậu, quốc gia khác thì phát triển, đó là quy luật của sự phát triển. Điều này hoàn toàn có thể dự đoán ở mức độ chính xác nhất định.
.
Rõ ràng là người Việt không hề muốn mình tụt hậu, bằng chứng là sự vươn lên không ngừng từ trong quá khứ đến hiện tại. Và tương lai sẽ là một trong những cường quốc của TG hiện đại.
.
Cho nên việc tìm hiểu định mệnh thực chất là tìm hiểu quy luật vận động. Nếu nội lực không đủ lớn thì đành ngã theo logic của vấn đề đang tiến triển.Nếu nội lực đủ lớn thì có thể thay đổi định mệnh của mình.
http://www.electronics.dit.ie/staff/dclarke/Student%20Web%20Pages/Brendan%20Beagon/images/fractal.jpg
thichmactien
08-08-2007, 11:06 AM
Bạn doremon360 viết rất dễ hiểu.
Thiên Sứ
08-08-2007, 11:23 AM
Ganda viết:
có hay không sự tương tác của quy luật vũ trụ lên ý thức của con người (?).
Bây giờ chúng ta có hai lời giải cho cách đặt vấn đề này:
A) Có.
B) Không.
Và có thì sao và không thì sao? Sau đó nó phải là một hệ quả gì nữa tiếp theo - theo sự phát triển hợp lý của vấn đề đặt ra mà nó phải giải quyết. Và điều này tôi đã giải quyết rồi:
Ý thức hoàn toàn bị sự tương tác của vũ trụ.
Tất nhiên với tư cách là một dạng tồn tại của vật chất thì nó cũng tương tác với các vật thể khác. Và tất cả đều có quy luật có khả năng tiên tri (Lưu ý là khả năng tiên tri có tính định tính, chứ không buộc nó phải tiên tri một cách chính xác và chi tiết một vấn đề liên quan đến nó).
Bởi vậy với cách đặt câu hỏi như của Ganda là không có cơ sở.
Sau khi đã kết luận về ý thức chịu sự tác động của qui luật vũ trụ - thì hệ quả của nó chính là Định mệnh - hoàn toàn có thật - với tư cách là vũ trụ tương tác có quy luật có khả năng tiên tri.
Không thể lấy một định nghĩa về Định mệnh khác để cho rằng Định mệnh này là sai. Nếu thế thì không có tiêu chí để thẩm định . Điều này cũng giống như người theo Thiên Chúa thì Định mệnh là do Chúa an bài, còn người theo Ala thì do Đức Ala vậy. Khái niệm Định mệnh trong trường hợp này Doremon đã giải thích.
Hệ quả của vấn đề - định mệnh có thật - được lý giải tiếp tho chính là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là lý thuyết thống nhất vũ trụ. Còn nếu định mệnh không có thật thì hệ quả tiếp theo là gì?
Thiên Sứ
ganda
08-08-2007, 11:56 AM
Thưa chú Thiên sứ
dấu (?) ở đây là cháu không biết cái tên có hợp ý chú không, không phải câu hỏi.
Thưa mọi người.
Tôi có một đoan hình rất vui tôi không biết tải lên thê nào, nên đua link vào đây
http://mail.google.com/mail/?attid=0.1&disp=attd&view=att&th=11117e75b3baba7a
các bạn xem thử cho thư giãn.
Chúc tốt lành
ganda
08-08-2007, 12:40 PM
Chính xác đoạn hình vui dó nằm ở đây
http://www.dailymotion.com/tag/gag/video/x2dw8y_outch-nautique
chúc vui vẻ
Thiên Sứ
08-08-2007, 01:07 PM
Còn truyện này thì thật là buồn.
Một công trình khoa học thuộc mặt bằng kiến thức hiện đại, có thể kiểm chứng bằng thực tế và những công thức toán lý. Nhưng đã 25 năm mà các đẳng cấp Giáo sư - tiến sĩ khoa học cũng còn tranh luận, phản biện chưa ngã ngũ. Bởi vậy Thiên Sứ tôi không khỏi ngậm ngùi cho số phận những luận điểm của mình thuộc dạng khám phá và mang tính lý thuyết thì lại luôn luôn được phản biện theo chiều hướng phủ định ở những tri thức còn phổ thông hơn nhiều.
Một "kỳ án" khoa học 25 năm vẫn chưa kết thúc ! 21:51:03, 07/08/2007
http://www2.thanhnien.com.vn/Uploaded/hoangnam/03.08.07/7b.jpg
GS Bùi Vạn Trân đang trình bày quan điểm của mình tại buổi tọa đàm - Ảnh: L.Q.H
Ngày 4.8, tại Hà Nội, một cuộc tọa đàm về nội dung trong cuốn giáo trình dành cho sinh viên ngành xây dựng đã được tổ chức nhằm đi đến kết luận xem "chi tiết đó đúng hay sai". Mục đích của sự kiện nhằm khép lại một "vụ kiện cáo" kéo dài 25 năm trong giới khoa học. Tuy nhiên, nhân vật chính của sự kiện không có mặt, "quan tòa" cũng chẳng có ai...
25 năm đi kiện
Sự việc bắt đầu từ năm 1982. Thời điểm đó, tiến sĩ (nay là giáo sư - tiến sĩ khoa học (GS TSKH) Phạm Ngọc Đăng được xuất bản 2 cuốn sách Vật lý xây dựng - phần 1: Nhiệt và khí hậu (NXB Xây dựng 1981) và Cơ sở khí hậu học của thiết kế kiến trúc (NXB KH&KT 1981). Một đồng nghiệp của GS TSKH Phạm Ngọc Đăng - PTS (nay là PGS TS) Bùi Vạn Trân phát hiện trong 2 cuốn sách đó (được coi là giáo trình giảng dạy cho SV các trường xây dựng, kiến trúc) có một số điểm sai sót. Cũng năm 1982, một hội đồng khoa học được thành lập để giám định 2 cuốn sách của GS Phạm Ngọc Đăng và kết luận 2 cuốn sách đó "có nội dung tốt và độ chính xác cao". Nhưng theo PGS Trân thì có sự mờ ám trong việc thành lập hội đồng này bởi các thành viên tham gia thẩm định đều là đồng tác giả viết sách với GS Đăng!
Ngoài ra, PGS Trân còn tố cáo với các cơ quan chức năng rằng, trong 2 cuốn sách trên của GS Đăng, có 3 trang sao chép y nguyên tài liệu khoa học in rô-nê-ô (giáo trình lưu hành nội bộ) mà PGS Trân là tác giả.
Vụ việc đã được Báo Khoa học & Đời sống nêu ra trong một bài điều tra gồm 2 kỳ. Theo đó, trong khi PGS Trân kiên trì nêu vấn đề suốt 25 năm qua thì GS Đăng lại né tránh việc làm rõ vấn đề. Lý do GS Đăng nêu ra là: "Ông ấy (GS Trân - PV) không xứng đáng ngồi với tôi để bàn luận về vấn đề này", rằng "tôi không chấp một kẻ gàn dở".
Khi nhân vật chính vắng mặt
Cuộc tọa đàm có sự góp mặt của khoảng trên dưới chục nhà khoa học, trong đó chủ yếu là các nhà khoa học về Vật lý xây dựng. Tuy nhiên, nhân vật chính là GS TSKH Phạm Ngọc Đăng thì vẫn không đến dự dù đã được mời. Đại diện cơ quan quản lý chuyên ngành và quản lý nhà nước là Bộ Xây dựng cũng không có mặt.
Sau phần PGS Trân "vạch tội" về các công thức sai trong các cuốn sách của GS Đăng, nhà giáo Nguyễn Đăng Khôi (nguyên giảng viên môn Toán trường ĐH Xây dựng) ghi các công thức lên bảng rồi giải để tất cả các nhà khoa học có mặt theo dõi và kết luận: "Đứng về góc độ toán học, kết quả các phương trình mà anh Đăng nêu là sai và ý kiến của anh Trân là đúng. Tuy nhiên, tôi nhận thấy vấn đề không có gì to tát bởi trong các tài liệu toán học, chúng tôi thỉnh thoảng cũng bắt gặp các sơ suất như vậy và chỉ cần một cái đính chính là ổn".
Tuy nhiên, thầy Vũ Trọng Thắng (nguyên Phó chủ nhiệm bộ môn Vật lý xây dựng, ĐH Kiến trúc Hà Nội) lại cho rằng, nếu nói vấn đề không "có gì to tát" là không đúng. Có trong chuyên ngành Vật lý xây dựng thì mới thấy cái sai của GS Đăng là sai về mặt tư duy, có ảnh hưởng lớn tới xã hội bởi nội dung sai đó không chỉ giảng dạy cho SV mà đã được đưa vào phần tham khảo của bộ Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (cuốn Tiêu chuẩn xây dựng công trình). Thầy Vũ Trọng Thắng cho biết, áp dụng công thức của GS Đăng đã cho "kết quả phi lý không thể chấp nhận được": "Thoạt tiên tôi cũng không để ý. Nhưng chính SV của tôi phát hiện ra rồi thắc mắc, còn tôi thì không biết giải thích thế nào! Với tư cách người làm khoa học, tôi xin nói thẳng rằng, sự vì nể anh Đăng trong tôi giảm đi ít nhiều bởi thái độ né tránh của anh ấy!".
Ai đúng, ai sai?
Cuộc tọa đàm càng sôi nổi hơn khi TS Nguyễn Văn Muôn (ĐH Kiến trúc) đưa ra những luận điểm cho rằng GS Đăng "có lý". TS Nguyễn Văn Muôn đưa ra một số công thức của các giáo trình Nga, Mỹ... để chứng minh cho điều này rồi nói thêm rằng một số nhà khoa học về chuyên ngành Vật lý xây dựng ở ta cũng đồng ý với cách hiểu này. Tuy nhiên, ý kiến này ngay sau đó đã được một số nhà khoa học có mặt tại cuộc tọa đàm phản biện. Thầy Thắng nói: "Sách của Mỹ đưa ra một giá trị cụ thể. Còn thầy Đăng rõ ràng không có ý đó mà lại đưa ra một loạt các giá trị. Nếu cho rằng thầy Đăng đã có sự vận dụng thì vận dụng sai. Nếu nói công thức của thầy Đăng là để xây nhà chống nóng trong điều kiện nhiệt độ 29,5 độ C là vô lý. Với người Hà Nội, 29,5 độ C không thể gọi là nóng mà là mát - không có gì phải chống! 34 - 35 độ C trở lên mới gọi là nóng. Nhưng trong điều kiện nhiệt độ như vậy mà áp dụng công thức của thầy Đăng để xây nhà thì không thể nào chống được nóng!".
Cuộc tọa đàm kết thúc trong trạng thái "mở". Có chăng, chỉ những người có mặt ngầm hiểu với nhau rằng, "phe GS Đăng" đuối lý. Tuy nhiên, điều đó chẳng có ý nghĩa gì bởi nhân vật chính là GS Đăng không có mặt để bảo vệ chính mình cũng như không có vị "quan tòa" nào tuyên bố các nội dung được "nghi" là sai của thầy Đăng cần được rút ra hay giữ nguyên trong các giáo trình dạy cho SV các trường xây dựng, kiến trúc, trong cuốn Tiêu chuẩn xây dựng công trình của bộ Tiêu chuẩn Việt Nam.
Còn chúng tôi, người viết bài báo này thì thấy thật "tội nghiệp" cho mấy chục thế hệ sinh viên đã và sẽ được đào tạo bởi những kiến thức chưa ai biết là đúng hay sai!
Thư Hiên
PS: Không biết Gs Bùi Văn Trân có phải ngày xưa tốt nghiệp Phó tiến sĩ ở Nga về không? Và Ts Nguyễn Văn Muôn - có phải Muôn Tàu ngày xưa ở Lý Thái Tổ học Vật lý không? Nếu đúng như vậy thì ngày xưa hai người đã có dịp làm chung với nhau, một thời gian ngắn, cách đây gần 40 năm trước.
Tên thật vị giáo sư này nếu tôi nhớ không nhầm là Bùi Văn Trân. Vào lúc tôi biết anh thì anh đã hơn ba mươi tuồi, có bằng phó tiến sĩ và chưa vợ. Anh em đùa có thơ rằng:
Ông Bùi có vạn cái chân
Đi xa về gần mà vẫn e vơ (Ế vợ)
Lúc ấy, chính tôi cũng có lúc nhầm tưởng anh là Bùi Vạn Trân thật.
Thiên Sứ
ganda
08-08-2007, 01:07 PM
Vậy là chưa ngộ chân lý rồi !
.
Định mệnh là quy luật của vũ trụ.
.
Đó không phải là cái gì cứng ngắt, không thay đổi đựơc. Mà là logic của sự tiến triển trong vũ trụ.
.
Con người là một phần của vũ trụ.
.
Sự vận động của con người cũng ảnh hưởng đến cả vũ trụ.
.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng tới đâu, là do nội lực và "thời thế".
.
Nếu nội lực đủ lớn, thời thế thuận lợi, người đó có thể dời non lấp biển.
.
Nếu nội lực yếu ớt, thời thế không phù hợp, người đó đành thuận theo xu hướng bên ngoài.
.
Nếu nội lực rất lớn, người đó có thể tạo ra thời thế cho mình, và thay đổi cục diện.
.
Thưa mọi người
từ đầu quan điểm của tôi cũng hoàn toàn nhất quán và nhất trí với những điều trên.
Ở đây chúng ta chỉ gặp trục trặc theo tôi là kỹ thuật thôi.
Các bạn có thể linh động hơn khi cho là Trời có thật và Trời ngày nay khác Trời cũ, Hằng và Định là những từ có thể hiểu là biến đổi . Điều đó không sao, vấn đề chính chúng ta vẫn đồng ý với nhau là đc.
Thưa chú Thiên sứ
Cái gì cần nói cháu đã nói hết rồi, cái gì cần hỏi cháu cũng đã hỏi hết rồi, nói là cạn vốn cũng đúng. Cháu không nói thêm đc gì nữa.
Chúc mọi người khỏe và vui vẻ
--cf--
Thiên Sứ
30-09-2007, 06:51 AM
Tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?" sẽ được biên tập lại và sẽ đăng ký xuất bản với chỉ một trong hai tựa sau đây:
1) Thuyết Âm Dương Ngũ hành - lý thuyết thống nhất.
2) Định mệnh có thật hay không?
Lần tái bản này sẽ bổ sung những tư liệu khoa học mới nhất về khảo cổ và những lý thuyết hoặc thí nghiệm khoa học đã được kiểm chứng liên quan đến các vấn đề được chứng minh.
Hy vọng lần này sẽ được quí vị và anh chị em quan tâm để Thiên Sứ tôi có đủ năng lực tài chính dịch qua tiếng Anh. Mục đích duy nhất của bản dịch này là tặng SW. Hawking và Viện Hàn lâm khoa học Anh quốc.
Thiên Sứ
thx1347
19-10-2007, 10:38 AM
Cháu tin chắc chú sẽ thành công.
Chúc chú luôn mạnh khỏe!
Cháu cũng đang chờ cuốn sách này của chú được xuất bản.
quangnx
05-11-2007, 11:05 PM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Tôi vừa phải đi công tác vùng sâu vùng xa (không có internet) nên tạm thời gián đoạn liên lạc 5 ngày. Tôi vừa về nhà, rất vui được cộng tác với anh về đề tài anh đã gợi ý...
Trước mắt, để thuận tiện cho việc trao đổi tôi xin đưa ra một số khái niệm vật lý có mối quan hệ 1-1 với các khái niệm của Thuyết âm dương ngũ hành.
Vật lý
quangnx
06-11-2007, 12:10 AM
1. Cấu trúc - Thể
2. Động lực - Dụng
3. Tích động lực (vd điện tích âm, dương; lepton tích, barion tích...) - Lưỡng nghi
4. Không-thời gian vật lý - liên quan đến tứ tượng (phần kích thước choán vật chất khả tri của con người)
5. Không-thời gian đồng vị (đúng hơn là thời gian đồng vị) - liên quan đến phần vượt qua tứ tượng đến bát quái (phần kích thước choán vật chất vượt quá khả năng cảm nhận trực tiếp của con người)
6. Cấu trúc lớn vũ trụ - liên quan đến bát quaí
7. Trường tương tác yếu (có tác dụng phân hủy hạt..) - liên quan đến hành Hỏa
8. Tường tương tác điện từ - liên quan đến hành Kim
9. Trường tương tác mạnh (tác dụng mạnh ở tầm ngắn) - liên quan đến hành mộc
10. Trường tương tác hấp dẫn (chảy về chổ trủng) - liên quan đến hành thủy
11. Khoa học hiện tại chưa phát hiện và khái quát được một loại tương tác vật lý rất phổ biến thứ năm là Trường Tương tác thông tin (Information Interaction) tương ứng với hành Thổ. Trong tương tác thông tin phương tiện (sóng điện từ, lực hấp dẫn, vật thể, nguyên tử,...) không có vai trò chính mà chinh nội dung cần chuyển tải hoặc phương thức kết cấu, sắp xếp, liên kết,.. mới là bản chất của tương tác. Ví dụ chính cái cấu trúc xoắn kép độc đáo của ADN mới quan trọng hơn hết chứ không phải một số nguyên tử C,H,O,N,P,.. và các liên kết điện từ; hoặc trong hội thoại ý nghĩa của câu nói là chính chứ không phải sóng âm,.. ;Hoặc trong chiếc xe máy chính cái cấu trúc liên kết phù hợp của các khối kim loại, nhựa, cao su,... mới làm nên công dụng của nó.
12. Cấu trúc lớn mà trong đó đối xứng tuyệt đối (mọi đại lượng động lực đều bảo toàn và = 0, liên tục, mở) - Vô cực
13. Cấu trúc nhỏ (nội tại) có bất đối xứng nội tại dẫn đến lượng tử hóa không gian và thời gian (phân cực) - Thái cực. Bắt đầu từ Thái cực không tồn tại điểm vật lý có kích thước = 0 mà chỉ có giới hạn = 0 (lim-->0); Tương tự không tồn tại (thật) không gian (đại lượng choán) vô số chiều mà chỉ có bậc độ choán (số chiều) tối đa bằng cấu trúc lớn
quangnx
06-11-2007, 12:41 AM
14. Cấu trúc nhỏ có sự phá vở đối xứng chính là thế giới vật chật của chúng ta. Trong chu trình tương sinh chính sự vi phạm nguyên lý đối xứng gương trong tương tác yếu (Hỏa) đã ngăn cản một phần sự tái hợp ngay lập tức của các cặp hạt-phản hạt ( Mộc), qua đó các cấu trúc liên kết (Thổ) của các hạt cơ bản có cơ hội xác lập và hình thành nguyên tử vật chất.
Thiên Sứ
06-11-2007, 03:38 AM
Rất cảm ơn anh Quangnx .
Nhưng những khái niệm mà anh đưa ra ở trên gần như không đồng nhất với nhau. Những khái niệm của thuyêt Âm đưong ngũ hành ở trên, nếu như đồng nhât hầu hêt với khái niệm của khoa học hiện dại thì bản chất của vũ tru đươc tri thức khoa hoc hiện đại khám phá từ lâu rồi. Nhưng tôi có thể khẳng định rằng:
Trí tuệ tiên tiến nhất của nền khoa học hiện nay - kể cả những khái niệm phát minh ưu tú nhất đang hình thành ở dạng ý tưởng - cũng còn là một khoảng cách không thể so sánh vớí những tri thức được tổng hợp trong thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Chuúng ta hãy suy nghiệm một thành quả tiên tiến nhất của nền văn minh hiện đại - thí dụ như ngay cái điện thoại di động mà chúng ta đang dùng.
Đây là một phương tiện sử dụng sản phẩm của khoa hoc kỹ thuật hiện đại. Sản phẩm này là sự tổng hợp rất nhiều tri thức đã hình thành trong lịch sử tiến hoá của nhân loại. Thí dụ nó gồm: kỹ thuật tên lửa vũ trụ, vệ tinh địa tĩnh, hoá công nghiệp, điện tử, hóa dầu ...vv..
Bây giờ chúng ta so sánh sản phẩm DTDĐ ấy với một quẻ bói. Vâng! Mọt quẻ bói mà gần hết cái thế giới văn minh này nhảy dựng lên gọi là "mê tín dị đoan' để che dấu sự dốt nát nhân danh khoa học. Quẻ bói ấy là sản phẩm của một lý thuyêt sản sinh ra nó. hay nói một cách khác: nó chính là sự tổng hợp những tri thức của thời đại đã sinh ra nó. cũng như cái DTDĐ là sự tổng hợp hợp của tri thức nhân loại hiện nay vậy. Vậy chúng ta có thể suy luân ra rằng: hệ thống tri thức là nguyên lý sản sinh ra phương pháp boí toán có hiệu quả ấy phải vô cùng vĩ đại mới tìm ra qui luật vận động của từng hành vi và ý thức của con người - và người ta quen gọi là "định mệnh", mới có thể "bói toán" được ."Không có tính qui luật thì không có khả năng tiên tri" - chính những tri thức khoa học tiên tiến nhất của nhân loại thừa nhan điều này. Chúng ta cũng biết rằng: hành vi và ý thức của con người lại là hệ quả của sự vận động và tương tác rất phức tạp. Nhưng nó càng phức tạp bao nhiêu thì tính tiên tri của quẻ bói càng chứng tỏ khả năng tổng hợp những qui luật đó bấy nhiêu. Qua đó chúng ta mới thấy rằng: Những tri thức của một nền văn minh phát minh ra phương pháp bói toán đó vượt rất xa trí thức của nhân loại hiên đại - khi mà quẻ bói chính là hệ quả của sự tổng hợp những tri thức đó, giống như cái DTDD vậy...Từ đó chúng ta thấy rằng: Kiến thức của nền văn minhđó phải là sự tổng hợp những thực taị vũ trụ và thiên nhiên mà tri thức nhân loại chưa đat tới.
Thế thì những khái niệm của sự nhận thức từ nền văn minh đó - phản ánh những thực tai mà trí thức hiện đại chưa biêt, không thể đồng nhất hoàn toàn với khái niệm của nến văn minh hiện đại. Nhưng những trí thức tiên tiên nhất của nhân loại hiện đại có thể hiểu được nó. Bởi vậy, chúng ta mớí có thể trao đổi với nhau được.
Ngày mai, lúc rảnh tôi sẽ trình bày những khái niệm tương ứng hoặc không tương ứng giữa tri thức khoa học hiên đại mà anh đề cập ở trên và thuyết Âm dương ngũ hành.
Thiên Sứ
quangnx
06-11-2007, 02:04 PM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Đúng như anh nhận xét, các khái niệm của Thuyết âm dương ngũ hành có ý nghĩa và tầm khái quát bao la rộng lớn hơn nhiều so với các khái niệm vật lý thông thường. Nhưng điểm nhất quán đáng lưu ý ở đây là: Trong thuyết âm dương ngũ hành chân chính đã bao hàm các chân lý khoa học mà con người đa và sẽ khám phá dù được biểu diễn dưới bất kỳ hình thức nào. Ngay cả các lý thuyết khoa học hiện đại nhất bây giờ như lý thuyết tương đối rộng, lý thuyết xoắn tử (lý thuyêt dây), lý thuyết sắc động lực lượng tử hay lý thuyết điện động lực lượng tử cũng đã được đề cập đến trong lý thuyết âm dương ngũ hành từ ngàn xưa rồi anh ạ. Tôi chưa bao giờ cảm thấy nhà khoa học nào kể cả Albert Einstein là vượt trội hơn các nhà dịch lý chân chính cả.
Thuyết âm dương ngũ hành theo tôi hoàn toàn có thể diễn đạt các qui luật tương tác, sinh hủy của các hạt cơ bản một cách chi tiết bằng chính ngôn ngữ và phương pháp luận của khoa học hiện tại.
Đối với vũ trụ thì qui luật hình thành vận động phát triển và hủy diệt các sao,thiên thể, thiên hà, lỗ đen và sự tái phun trào vật chất... thì Thuyết âm dương ngũ hành diễn đạt chính xác hơn nhiều so với các học thuyết vũ trụ hiện tại.
Đối với vật chất có cấu trúc đa thông tin (chất sống, sinh vật, con người,..) thì Thuyết âm dương ngũ hành có khả năng xác định qui luật hình thành vận động phát triển và tiêu hủy của các đối tượng này một cách đăc biệt xuất sắc.
Theo tôi thì Thuyết âm dương ngũ hành giúp cho con người hiện đại có được một nền tảng triết học và phương pháp luận nhất quán khi nghiên cứu từ con người đến vạn vật mà không phải sa vào lối tư duy hiện tượng luận thô thiển và rời rạc, thiếu nhất quán ...
Anh Thiên Sứ ơi, để khẳng định những điều này em đã mất hơn 20 năm nghiền ngẫm chứ không phải là những suy nghĩ hồ đồ bộc phát đâu nên anh đừng lo lắng nhiều... Em hoàn toàn nhất trí với anh ý thức của con người là vật chất (tinh túy) nên tất yếu phải chịu sự tác động của vũ trụ và hoàn toàn có thể liên thông với vũ trụ và tương tác với van vật. Nhân loại hiên tại thì đang cố gắng tìm ra một phương trình trường thống nhất nhưng cái khó khăn đến từ việc giải phương trình đó dù là gần đúng đã và đang làm nản chí các nhà khoa học đương đại anh ạ...
quangnx
06-11-2007, 08:10 PM
Điều tôi đang quan tâm muốn bổ sung là thuyết lượng tử với phương pháp bốc dịch (Gieo đồng tiền một cách ngẫu nhiên để dự báo). Tôi cho rằng có một sự liên hệ tương tác mang tính qui luật giữa ý thức của người gieo quẻ với sự sấp ngửa của đồng tiền mang đến một khả năng dư báo. Trong những thí nghiệm liên quan đế thuyết lượng tử đã công bố, người ta nhận thấy ý thức tác động đén các hạt cơ bản
Anh Thiên Sứ kính mến!
Quả thật con người là thực thể hết sức đặc biệt được sở hửu một nguồn năng lượng lập trình được cực kỳ lớn (cấp độ lớn hơn nhiều so với năng lượng hạt nhân vì hằng số tuyệt đối Ci >> tốc độ ánh sáng). Rất tiếc nguồn năng lượng này có thuộc tính 4 kích thước (đại lượng choán 4 lần), trong khi chúng ta chỉ mới đạt được 3 kích thước (kích thước thứ 4 là thời gian chưa hoàn thành) nên không tương tác trực tiếp được. Nguồn năng lượng này được sinh ra do hoạt động thần kinh (nhiều nhất là khi tư duy hợp qui luật) vì thực chất con người ít nhất là một hệ trạng thái phức hợp như hạt nhân nguyên tử vậy. Khi một hệ trạng thái bị kích thích nó sẽ phải phản nhiễu loạn để trở về trạng thái cân bằng như trước đó - độ lệch trạng thái giữa 2 trạng thái cân bằng tương ứng với năng lượng được phóng thích có thuộc tính của tham số bị thay đổi. Khi tiếp nhận một thông tin hầu như mọi đại lượng vật lý của con người đều cân bằng (bảo toàn) sau khi xử lý tin, duy chỉ có ý thức thì khó mà như trước đó được.
quangnx
06-11-2007, 08:15 PM
Điều tôi đang quan tâm muốn bổ sung là thuyết lượng tử với phương pháp bốc dịch (Gieo đồng tiền một cách ngẫu nhiên để dự báo). Tôi cho rằng có một sự liên hệ tương tác mang tính qui luật giữa ý thức của người gieo quẻ với sự sấp ngửa của đồng tiền mang đến một khả năng dư báo. Trong những thí nghiệm liên quan đế thuyết lượng tử đã công bố, người ta nhận thấy ý thức tác động đén các hạt cơ bản
Anh Thiên Sứ kính mến!
Quả thật con người là thực thể hết sức đặc biệt được sở hửu một nguồn năng lượng lập trình được cực kỳ lớn (cấp độ lớn hơn nhiều so với năng lượng hạt nhân vì hằng số tuyệt đối Ci >> tốc độ ánh sáng). Rất tiếc nguồn năng lượng này có thuộc tính 4 kích thước (đại lượng choán 4 lần), trong khi chúng ta chỉ mới đạt được 3 kích thước (kích thước thứ 4 là thời gian chưa hoàn thành) nên không tương tác trực tiếp được. Nguồn năng lượng này được sinh ra do hoạt động thần kinh (nhiều nhất là khi tư duy hợp qui luật) vì thực chất con người ít nhất là một hệ trạng thái phức hợp như hạt nhân nguyên tử vậy. Khi một hệ trạng thái bị kích thích nó sẽ phải phản nhiễu loạn để trở về trạng thái cân bằng như trước đó - độ lệch trạng thái giữa 2 trạng thái cân bằng tương ứng với năng lượng được phóng thích có thuộc tính của tham số bị thay đổi. Khi tiếp nhận một thông tin hầu như mọi đại lượng vật lý của con người đều cân bằng (bảo toàn) sau khi xử lý tin, duy chỉ có ý thức thì khó mà như trước đó được.
Thiên Sứ
06-11-2007, 08:16 PM
PHÂN TÍCH 14 KHÁI NIỆM HIỆN ĐẠI TƯƠNG ĐƯƠNG KHÁI NIỆM CỔ
theo quan niệm của Quangnx
1. Cấu trúc - Thể.
Thể là một khái niệm bao trùm và rộng hơn rất nhiều khái niệm cấu trúc. Khái niệm cấu trúc chỉ là một hiện tượng trong phạm trù của Thể.
2. Động lực - Dụng.
Dụng là một khái niệm bao trùm gồm cả khả năng tạo thành một cái gì đó; hoặc tạo ra cụ thể một cái gì đó.
3. Tích động lực (vd điện tích âm, dương; lepton tích, barion tích...) - Lưỡng nghi.
Khái niệm Lưỡng nghi chỉ dành duy nhất cho một trạng thái của vũ trụ sau Thái Cực. Không phải Âm Dương. Âm dương là hiện tượng trong nội hàm của lưỡng nghi, cụ thể hơn lưỡng nghi
4. Không-thời gian vật lý - liên quan đến tứ tượng (phần kích thước choán vật chất khả tri của con người).
Tứ tượng là hình tướng của 4 trang thái tương tác khởi nguyên của vũ trụ. Không liên quan tới không thời gian vật lý.
5. Không-thời gian đồng vị (đúng hơn là thời gian đồng vị) - liên quan đến phần vượt qua tứ tượng đến bát quái (phần kích thước choán vật chất vượt quá khả năng cảm nhận trực tiếp của con người).
Bát quái chỉ là ký hiệu toán học theo hệ nhị phân, mô tả qui luật tương tác của vũ trụ.
6. Cấu trúc lớn vũ trụ - liên quan đến bát quaí.
Bát quái là ký hiệu mô tả một trạng thái của vật chất đã phân loại theo quan niệm của nó. Không giới hạn chỉ ở cấu trúc vật chất, mà còn bao hàm khái niệm về khả năng tương tác.
7. Trường tương tác yếu (có tác dụng phân hủy hạt..) - liên quan đến hành Hỏa.
Hỏa là một trạng thái tồn tại và vận động của vật chất - có thể coi như là một dạng của cấu trúc vật chất, có tính quyết định hệ quả tương tác.
8. Trường tương tác điện từ - liên quan đến hành Kim.
Kim là một trạng thái tồn tại và vận động của vật chất - có thể coi như là một dạng của cấu trúc vật chất, có tính quyết định hệ quả tương tác.
9. Trường tương tác mạnh (tác dụng mạnh ở tầm ngắn) - liên quan đến hành mộc
Mộc là một trạng thái tồn tại và vận động của vật chất - có thể coi như là một dạng của cấu trúc vật chất, có tính quyết định hệ quả tương tác.
10. Trường tương tác hấp dẫn (chảy về chổ trủng) - liên quan đến hành thủy
Thủy là một trạng thái tồn tại và vận động của vật chất - có thể coi như là một dạng của cấu trúc vật chất, có tính quyết định hệ quả tương tác.
11. Khoa học hiện tại chưa phát hiện và khái quát được một loại tương tác vật lý rất phổ biến thứ năm là Trường Tương tác thông tin (Information Interaction) tương ứng với hành Thổ. Trong tương tác thông tin phương tiện (sóng điện từ, lực hấp dẫn, vật thể, nguyên tử,...) không có vai trò chính mà chinh nội dung cần chuyển tải hoặc phương thức kết cấu, sắp xếp, liên kết,.. mới là bản chất của tương tác. Ví dụ chính cái cấu trúc xoắn kép độc đáo của ADN mới quan trọng hơn hết chứ không phải một số nguyên tử C,H,O,N,P,.. và các liên kết điện từ; hoặc trong hội thoại ý nghĩa của câu nói là chính chứ không phải sóng âm,.. ;Hoặc trong chiếc xe máy chính cái cấu trúc liên kết phù hợp của các khối kim loại, nhựa, cao su,... mới làm nên công dụng của nó.
Thổ là một khái niệm rất trừu tượng ngay trong thuyết Âm dương ngũ hành, nó kết thúc một chu kỳ vận động từ vi mô đến vĩ mô - đều có thể coi là Thổ.
12. Cấu trúc lớn mà trong đó đối xứng tuyệt đối (mọi đại lượng động lực đều bảo toàn và = 0, liên tục, mở) - Vô cực.
Khái niệm Vô cực không có trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đây là cách hiểu sai của các triết gia Trung hoa khi tìm cách giải thích những khái niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Người đề xướng khái niệm này là Chu Hy đời Tống.
13. Cấu trúc nhỏ (nội tại) có bất đối xứng nội tại dẫn đến lượng tử hóa không gian và thời gian (phân cực) - Thái cực. Bắt đầu từ Thái cực không tồn tại điểm vật lý có kích thước = 0 mà chỉ có giới hạn = 0 (lim-->0); Tương tự không tồn tại (thật) không gian (đại lượng choán) vô số chiều mà chỉ có bậc độ choán (số chiều) tối đa bằng cấu trúc lớn.
Thái cực là một khái niệm miêu tả trang thái khởi nguyên của vũ trụ.Nếu nói cho dễ hiểu thì đây chính là giây /0/ của vũ trụ.
14. Cấu trúc nhỏ có sự phá vở đối xứng chính là thế giới vật chật của chúng ta. Trong chu trình tương sinh chính sự vi phạm nguyên lý đối xứng gương trong tương tác yếu (Hỏa) đã ngăn cản một phần sự tái hợp ngay lập tức của các cặp hạt-phản hạt ( Mộc), qua đó các cấu trúc liên kết (Thổ) của các hạt cơ bản có cơ hội xác lập và hình thành nguyên tử vật chất.
Nhưng điều trên chỉ là một hiện tượng trong quá trình vận động của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Những khái niệm của sự nhận thức từ nền văn minh đó - phản ánh những thực tai mà trí thức hiện đại chưa biêt, không thể đồng nhất hoàn toàn với khái niệm của nến văn minh hiện đại. Nhưng những trí thức tiên tiên nhất của nhân loại hiện đại có thể hiểu được nó.
Thiên Sứ
quangnx
07-11-2007, 12:23 AM
Bát quái là ký hiệu mô tả một trạng thái của vật chất đã phân loại theo quan niệm của nó. Không giới hạn chỉ ở cấu trúc vật chất, mà còn bao hàm khái niệm về khả năng tương tác.
Anh Thiên Sứ kính mến, theo ngôn ngữ của vật lý lý thuyết nếu 8 quái trong bát quái là các thành phần độc lập thì tự thân nó bát quái đã trở thành đa tạp choán 8 lần (không chỉ là ký hiệu đâu anh TS ) mà nhờ đó sẽ xác định được trạng thái các sự vật hoặc hiện tượng thuộc về nó. Khi kết hợp bát quái với qui luật tương sinh tương khắc của ngũ hành... thì đó chính là dạng phát biểu hết sức xúc tích và quá đẹp về một phương trình trường thống nhất - Giải được nó ta sẽ xác định được qui luật vận động của vạn vật.
Trong vật lý lý thuyết có khái niệm độ đo (metric) và để mô tả nó người ta dùng đại số tensor, nhờ đó người ta phân biệt được bản chất của đại lượng choán so với một chiều bình thường của không gian . Tính độc lập của các đại lượng choán về cơ bản mô tả được bậc của đa tạp choán. Vì vậy nếu thái âm, thiếu dương, thiếu âm, thái dương không phụ thuộc lẫn nhau thì về căn bản tứ tượng phải thuộc về đa tạp choán 4 lần (4 thành phần độc lập). Hiểu được tứ tượng là không-thời gian cho thấy người xưa là thâm thúy biết dường nào... Hơn nữa nếu không có vật chất thì cũng không có không-thời gian (vì chẳng để làm gì)... thì điều này cho ta thấy vũ trụ lúc khởi nguyên chưa có kích thước và đi theo quá trình phun trào vật chất thì không-thời gian phải mở rộng liên tục.
quangnx
07-11-2007, 01:14 AM
Khái niệm Vô cực không có trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đây là cách hiểu sai của các triết gia Trung hoa khi tìm cách giải thích những khái niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Người đề xướng khái niệm này là Chu Hy đời Tống.
Cảm ơn anh Thiên Sứ, đúng là vô cực chỉ là một ý niệm mang tính giả định. Em sẽ đọc thuyết Âm Dương Ngũ Hành như anh nói từ sách nào, anh Tuấn Anh giúp em với... Ah! hình như anh đang không được khỏe, anh ráng giữ gìn để còn làm thiên sứ cho đời nhe anh..
Thiên Sứ
07-11-2007, 01:26 AM
Anh Quangnx viết:
Theo ngôn ngữ của vật lý lý thuyết nếu 8 quái trong bát quái là các thành phần độc lập thì tự thân nó bát quái đã trở thành đa tạp choán 8 lần (không chỉ là ký hiệu đâu anh TS ) mà nhờ đó sẽ xác định được trạng thái các sự vật hoặc hiện tượng thuộc về nó. Khi kết hợp bát quái với qui luật tương sinh tương khắc của ngũ hành... thì đó chính là dạng phát biểu hết sức xúc tích và quá đẹp về một phương trình trường thống nhất - Giải được nó ta sẽ xác định được qui luật vận động của vạn vật.
Hoàn toàn chính xác!
Có hai dang cấu trúc của Bát quái - mà anh cũng biết:
1) Tiên Thiên bát quái:
Phản ánh quy luật tương tác biến hóa chung của cả vũ trụ.
2) Hậu thiên bát quái:
Phản ánh qui luật biến hóa tương tác đặc thù liên quan đến Thái Dương hệ và trung tâm quan sát chính là vị trí của con người trên trái đất. Bởi vậy gọi là Hậu Thiên.
Có nhiều mô hình Hậu Thiên Bát quái luu truyền trong dân gian. Mô hình phổ biến và được coi là cổ nhất tạm gọi là Hậu Thiên bát quái Văn Vương được công bố vào đời Tống. Mô hình này phối hợp với Lạc thư.
Nhưng mô hình đáp ứng đầy đủ theo tiêu chí khoa học hiện đại và có khả năng mở ra sự khá phá tiếp tục những bí ẩn của vũ trụ là mô hình Hậu Thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ.
- Khái niệm Thái Âm - Thái Dương - Thiếu Âm - Thiếu Dương và Tứ tượng hoàn toàn khác nhau.
Thiên Sứ
quangnx
07-11-2007, 01:08 PM
Anh Thiên Sứ ơi, em thấy các khái niệm được diễn đạt trong thuyết Âm dương ngũ hành tuyệt vời quá anh ạ... nó vừa có ý nghĩa trực tiếp đơn giản mà ai cũng có thể tiếp cận được, lại vừa hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa đến mức bất cứ cái gì có liên quan, nó cũng bao hàm được. Về tứ tương thì như anh đã nói, nói chung nó mô tả hình tướng thì anh cũng đã chỉ ra rằng nó vừa là sân khấu vừa là diễn viên để thể hiện cái có thể tri kiến trực tiếp được anh ạ.. Hiện tại chưa cần bàn đến ý nghĩa của từng thành phần (thái dương,thái âm,...) chỉ cần thuyết Âm dương ngũ hành chỉ ra rằng nó được SINH từ lưỡng nghi và các thành phần của nó là độc lập thì về mặt toán học hay vật lý nó đã là đa tạp choán 4 lần - có thể hiểu trong trường hợp đơn giản nhất (tensor metric chỉ khác zero và là hằng số ở các thành phần trên đương chéo) thì nó là không-thời gian 4 chiều với metric giả Mincovsky.
Trong vật lý lý thuyết khái niệm SINH được sử dụng nhiều tuy rằng rất trừu tượng. Ví dụ người ta xác định rằng : Điện tích là SINH của phép biển đổi quay trong không gian đồng vị (thành phần ảo); năng lượng là SINH của phép biến đổi tịnh tiến theo thời gian,... và SINH hoàn toàn không có nghĩa là suy ra mà là một tác động vật lý thực sự anh TS ạ.
Thiên Sứ
07-11-2007, 02:32 PM
Anh Quangnx viết:
Em sẽ đọc thuyết Âm Dương Ngũ Hành như anh nói từ sách nào, anh Tuấn Anh giúp em với...
Anh Quangnx thân mến.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành không có trong bất cứ một cuốn sách nào trên thế gian, cho dến tân bây giờ - 13g 10 phút - ngày 7 - 11 - 2007, khi tôi đang gõ những hàng chữ này... Mặc dù nó đã từng tồn tại trên thực tế trước thế kỷ thứ III trước CN ở miền Nam sông Dương tử và thuộc về nền văn hiến trải gần 5000 năm lịch sử của người Lạc Việt. Khi nền văn minh huyền vĩ của quốc gia Văn Lang sụp đổ thì thuyết này bị thất truyền. Hàng ngàn năm trôi qua những mảnh vụn của thuyết Âm Dương Ngũ hành và các phương pháp ứng dụng của nó lần lượt được chuyển ngữ một cách rời rạc và không có hệ thống sang Hán Văn lưu truyền đến nay. Chưa một nhà nghiên cứu nào chỉ ra được một sự nhât quán và hoàn chỉnh về học thuyết này. thâm chí có người còn cho rằng Thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt. Ngay cả các phương pháp ứng dụng như Phong Thuỷ, Tử Vi....cũng vì vậy mà không thể nào tim được bản chất tương tác thực tại trong sự ứng dụng của nó.
Bởi vậy, thật là vô cùng khó khăn khi tôi khẳng định rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh. Bát quái chỉ là những ký hiêu siêu công thức phản ánh qui luật vũ trụ theo học thuyết này. Đây chính là lý thuyết thống nhất mà những tri thức tiên tiến nhất của nhân loại đang mơ ước.
Thiên Sứ
khonglaai
07-11-2007, 10:20 PM
Anh Thiên Sứ thân mến!
Xin hỏi anh là vụ sách "Hoàng đế nội kinh" của anh đến nay thế nào rồi? Liệu anh có thể cung cấp cho tôi bản E-book chưa phải là ấn bản của anh cho tôi được không? Tôi muốn kiểm tra lại một số kết luận, luận giải của mình trong công trình nghiên cứu hay nói đúng hơn là những kết quả suy luận của mình.
Mong anh gởi bản E-book của sách "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" của anh cho tôi với. Nếu được, cũng mong anh cho biết những kiến giải của anh về vấn đề "Hệ Từ Thượng". Tất cả đều để tham khảo và trao đổi học thuật. Ngoài ra, không có ý gì khác.
E-mail của KLA là tuvilyso@mail.ru .
Anh quangnx thân mến!
Trước đây, KLA có nghĩ gần giống như anh về vụ bốn lực tương tác. Tuy nhiên, vì bận bịu quá nên KLA chưa có những kiểm chứng cụ thể cho giả thuyết của mình. Khi nghiên cứu Dịch, cũng như anh đã viết về 4 lực, thì theo logic KLA nhận ra phải tồn tại một lực thứ 5 nữa. Lực này vô cùng đặc biệt là không thể dùng bất cứ thí nghiệm gì của khoa học hiện đại để tính toán ra nó (ấy là giả thuyết của KLA là vậy). Nhưng lực này lại có thể chỉ ra rõ ràng và minh bạch ở Kinh Dịch. Lực thứ 5 này tự thân nó được biểu hiện rất rõ qua những kiến thức tri đoán định mệnh, những kiến thức tâm linh. Nó biến hóa vô cùng tận nên nó sẽ vượt ra ngoài các công thức toán học hay vật lý bình thường nào.
Ngoài ra khi nghiên cứu sâu thêm thì KLA thấy Kinh Dịch có đầy đủ mọi phương tiện để tính toán ra mọi công thức vật lý và toán học đang có. Lạ lùng vô cùng là tôi đã nhận ra (hay mơ hồ nhận ra) mặc dù kiến thức khoa học của con người đi hoàn toàn theo hướng khác nhưng các kết quả nhận được từ nó (ví dụ như các đại lương hệ SI) lại gần như hoàn toàn trùng khớp với Dịch lý. Phải chăng, con người đã chịu ảnh hưởng một cách bản năng của Kinh Dịch nhiệm mầu?! Nói cách khác như Lão Giáo là: Nó (Thái Cực) có mọi nơi. Chi phối mọi việc, mọi người.
Viết vậy chứ thật ra cũng chỉ là những cảm nhận mơ hồ của tôi mà thôi. Mong quý vị đừng nghĩ là có dụng ý gì. Đến bây giờ thì tôi đã hoàn toàn tin Kinh Dịch trên nền móng của Âm Dương Ngũ Hành chính là lý thuyết thống nhất để giải thích tất cả mọi việc, vật và hiện tượng xảy ra trong vũ trụ này.
Nếu anh quangnx vui lòng thì chúng ta có thể thảo luận thêm về các vấn đề này qua E-mail. E-mail của tôi đã dẫn trên.
Thân mến.
KLA
P/S: sorry, nhưng không phải Dịch Trung Hoa thiên về bói toán kia. Phải là Dịch Nòng Nọc của người Văn Lang mới có khả năng như vậy.
Thiên Sứ
08-11-2007, 01:50 AM
Anh Quangnx thân mến.
Thiên Sứ viết:
I - Thuyết Âm Dương Ngũ hành không có trong bất cứ một cuốn sách nào trên thế gian, cho dến tân bây giờ
Sở dĩ tôi khẳng định như vậy, vì tất cả những sách Hán cổ vốn được cho là cội nguồn của thuyết Âm Dương và Ngũ hành đều không chỉ ra nội dung dù là sơ lược nhất về học thuyết này. Nó chỉ tồn tại một cách mơ hồ về mặt phương pháp luận trong các phương pháp ứng dụng, như: Đông y, Tử Vi, Phong thuỷ....Bởi vậy, nếu chỉ căn cứ vào văn bản còn lại thì không có cơ sở nào để chứng tỏ được rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh. Ngay cả những nhà nghiên cứu Trung Hoa nổi tiếng như: Phùng Hữu Lan, Thiệu Vĩ Hoa....Hay các nhà nghiên cứu Việt Nam như giáo sư Lê Văn Quán...đều cho rằng: Thuyết Âm Dươngvà thuyết Ngũ hành xuất phát từ hai nền văn minh thượng cổ - trong lịch sử văn minh hiện đại - là văn minh Chu làm ra thuyết Âm Dương, văn minh Ngô - Việt làm ra thuyết Ngũ hành và sau đó chúng hòa nhập vào thời Hán. Và cho đến bây giờ, ngay trên các trang web có tính nghiên cứu bằng tiếng Việt, vẫn không ít các nhà nghiên cứu đôi khi phủ nhận thuyết Ngũ hành trong ứng dụng vì cho rằng chưa hoàn chỉnh bằng thuyết Âm dương. Ở Việt Nam, duy nhất có ông Lê Văn Sửu đặt vấn đề cho rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất. Nhưng ông cũng mới chỉ dừng lại ở việc đặt vấn đề.
II - Nhưng mô hình đáp ứng đầy đủ theo tiêu chí khoa học hiện đại và có khả năng mở ra sự khá phá tiếp tục những bí ẩn của vũ trụ là mô hình Hậu Thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ.
Thiên Sứ tôi đã chứng minh tính mâu thuẫn trong quá trình lịch sử hình thành thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành trong lịch sử văn minh Hán. Chứng minh tính mâu thuẫn trong nội dung các văn bản chữ Hán liên quan đến thuyết này và chứng minh rằng: bản chất thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh, bát quái chỉ là siêu công thức toán học, mô tả học thuyết này. Nó thuộc về nền văn minh Lạc Việt một thời huyền vĩ ở miền nam sông Dương tử với lịch sử dân tộc Việt trải gần 5000 năm văn hiến.
Cũng từ những mâu thuẫn trong nội dung những bản văn chữ Hán cổ, tôi cũng chỉ ra tính sai lệch từ nguyên lý căn để của các phương pháp ứng dụng trong cổ thư chữ Hán là Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư ; từ đó chứng minh nguyên lý căn để của các phương pháp ứng dụng trong tất cả mọi vấn đề liên quan phải là "Hậu Thiên LạcViệt phối Hà Đồ".
Đối chiếu "Hậu Thiên LạcViệt phối Hà Đồ" với các tiêu chí khoa học tiên tiến nhất - mà tôi nghĩ anh Quangnx biết rất rõ - thì nó đáp ứng đầy đủ những yếu tố của tiêu chí khoa học. Và chính vì những khả năng này của "Hậu Thiên LạcViệt phối Hà Đồ" đã chứng tỏ thuyết Âm dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất mà tri thức tiên tiên nhất của nhân loại đang tìm kiếm.
Bản quyền của thuyết Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết nhất quán, hoàn chỉnh và là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiếm với nguyên lý căn để là Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ thuộc về nền văn minh huyền vĩ của người Lạc Việt một thời lừng lẫy ở miền nam sông Dương Tử, đến nay trải gần 5000 năm lịch sử văn hiến.
Thiên Sứ
quangnx
08-11-2007, 01:53 PM
Anh Thiên Sứ và KLA kính mén!
Khi đã bỏ ra rất nhiều công sức để ngụp lặn trong đại dương toán học của các lý thuyết như : Lý thuyết tương đối rộng (trường hấp dẫn), lý thuyết điện động lực lượng tử (trường điện từ), lý thuyết sắc động lực lượng tử (tương tác mạnh và các quark), lý thuyết dây,... tôi nhận ra rằng các nhà khoa học đương đại đã quá tin tưởng và hơi có phần lạm dụng (và bị khớp) vê Toán Học mà bỏ qua việc nghiên cứu sâu sắc hơn về Triết Học . Nhưng phải công nhận khối lượng công việc mà họ đã làm được là rất lớn (trong sự nghiệp tìm ra Lý thuyết thống nhất lớn). Khi tìm đến Thuyết Âm dương Ngũ hành thì chỉ cần gạt bỏ lớp màn U Minh (định kiến) thì chỉ với các khái niệm Thái cực-Lưỡng nghi-Tứ tượng-Bát quái-Ngũ hành và khẩu quyết Thái cực sinh Lưỡng nghi - Lưỡng nghi sinh Tứ tượng - Tứ tượng sinh Bát quái - Bát quái biến hóa vô cùng - và vạn vật vận động theo Ngũ hành ta sẽ cảm nhận chân lý vĩ đại đã được người xưa tìm ra và vận dụng hiệu quả trong mọi mặt dời sống xã hôi rồi.
Về luận điểm cho rằng chủ thể sáng tạo ra Thuyết Âm dương Ngũ hành là con người sống cách đây vài ngàn năm (<6000) tôi khẳng định ngay là không đúng (nếu có chăng chỉ là sự kế thừa khi loài người bắt đầu hồi phục lại sau những thảm họa tuyệt diệt khủng khiếp) vì Thuyết Âm dương Ngũ hành đã hàm chứa các kiến thức khoa học đỉnh cao của nhân loại hiện đại. Để giải thích vì sao một nền văn minh vĩ đại như vậy lại không để lại nhiều vết tích hiển hiện như xác tàu vũ trụ, xác máy bay hay các máy móc phương tiện khác... thì chúng ta hảy để ý rằng: Phía sau nền văn minh kỹ thuật (nền văn minh phát triển mọi lợi ích - làm ra mọi giá trị định hướng con người) chính là một nền văn minh bền vững định hướng môi trường và muôn loài - tạm gọi là nền văn minh môi trường. Ta có thể hiểu được nền VĂN MINH MÔI TRƯỜNG sẽ không cho phép tạo ra bất cứ phương tiện vật chất nào mà không có THỜI HẠN SỬ DỤNG và THỜI HẠN TỰ TIÊU HỦY. Một khi thời hạn tự tiêu hủy có hiệu lực thực tế thì việc tìm lại dấu vết qua hàng chục ngàn năm phân hủy là việc làm khó khăn biết dường nào...
Thiên Sứ
08-11-2007, 02:44 PM
Anh Quangnx viết
Về luận điểm cho rằng chủ thể sáng tạo ra Thuyết Âm dương Ngũ hành là con người sống cách đây vài ngàn năm (<6000) tôi khẳng định ngay là không đúng (nếu có chăng chỉ là sự kế thừa khi loài người bắt đầu hồi phục lại sau những thảm họa tuyệt diệt khủng khiếp) vì Thuyết Âm dương Ngũ hành đã hàm chứa các kiến thức khoa học đỉnh cao của nhân loại hiện đại. Để giải thích vì sao một nền văn minh vĩ đại như vậy lại không để lại nhiều vết tích hiển hiện như xác tàu vũ trụ, xác máy bay hay các máy móc phương tiện khác... thì chúng ta hảy để ý rằng: Phía sau nền văn minh kỹ thuật (nền văn minh phát triển mọi lợi ích - làm ra mọi giá trị định hướng con người) chính là một nền văn minh bền vững định hướng môi trường và muôn loài - tạm gọi là nền văn minh môi trường. Ta có thể hiểu được nền VĂN MINH MÔI TRƯỜNG sẽ không cho phép tạo ra bất cứ phương tiện vật chất nào mà không có THỜI HẠN SỬ DỤNG và THỜI HẠN TỰ TIÊU HỦY. Một khi thời hạn tự tiêu hủy có hiệu lực thực tế thì việc tìm lại dấu vết qua hàng chục ngàn năm phân hủy là việc làm khó khăn biết dường nào...
-clap--clap--clap-
Hoàn toàn chính xác bởi một tư duy khoa học thực sự. Đây là điều tôi đã chứng minh từ lâu. Ít nhất lần công bố đầu tiên về vấn đề này vào đầu năm 2001 trong cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" và chứng minh rõ ràng hơn trong tiểu luận "Định mệnh có thật hay không?".
Nay bằng một phương pháp luận và một hệ qui chiếu khác khác, anh Quangnx cũng thừa nhận điều này.
Qua đó chúng ta thấy rằng; Thuyết Âm dương ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhât quán, thuộc về một nền văn minh kỳ vĩ đã tồn tại trên Địa cầu là chân lý.
Anh Quangnx thân mến.
Những thành tựu mới nhất của ngành khảo cổ là việc tìm ra Kim Tự Tháp ở biển Nhật Bản. Đây là di vật khảo cổ đã hoàn tất mắt xích cuối cùng minh chứng cho một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ đã tồn tại trên Địa cầu. Thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái chính là sản phẩm của nến văn minh này. Dân tộc Việt chính là hậu duệ còn sống sót, khi nền văn minh này bị hủy diệt và sở hữu những tri thức đó.
Bởi vậy, Thuyết Âm dương Ngũ hành mới đủ tư cách lịch sử là một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước, khi mà nó đã được chứng tỏ tính vượt trội so vơi tri thứcc khoa học hiện đại về nội dung.
Thiên Sứ
quangnx
08-11-2007, 09:30 PM
Trước đây, KLA có nghĩ gần giống như anh về vụ bốn lực tương tác. Tuy nhiên, vì bận bịu quá nên KLA chưa có những kiểm chứng cụ thể cho giả thuyết của mình. Khi nghiên cứu Dịch, cũng như anh đã viết về 4 lực, thì theo logic KLA nhận ra phải tồn tại một lực thứ 5 nữa. Lực này vô cùng đặc biệt là không thể dùng bất cứ thí nghiệm gì của khoa học hiện đại để tính toán ra nó (ấy là giả thuyết của KLA là vậy). Nhưng lực này lại có thể chỉ ra rõ ràng và minh bạch ở Kinh Dịch. Lực thứ 5 này tự thân nó được biểu hiện rất rõ qua những kiến thức tri đoán định mệnh, những kiến thức tâm linh. Nó biến hóa vô cùng tận nên nó sẽ vượt ra ngoài các công thức toán học hay vật lý bình thường nào.
Anh KLA thân mến!
Để chỉ ra được hành Thổ tương ứng với môt loại tương tác vật lý phổ biến của vũ trụ người xưa chỉ cần nói một câu thán :"Sau hết mọi việc thì trở về với đất!...". Hiểu theo nghĩa vật lý thì :"Sau hết mọi tương tác biến hóa ta sẽ được kết cấu". Ngay trong tự nhiên đất cũng không phải dễ dàng có được (phải có quá trình phong hóa tác động) và trong các lớp trầm tích của nó ta biết chứa biết bao nhiêu câu chuyện lịch sử thần kỳ...
Trên thực tế, qua thời gian dài do phải chịu sự tương tác đa dạng, vật chất tất yếu phải tích lủy và tăng dần mật độ liên kết đa dạng tương ứng. Khi đó các cấu trúc liên kết khi tương tác với nhau không còn là sự tương tác của các thành phần riêng lẽ mà là sự tương tác của cả cụm theo phản ứng chung - tương tự như sự mã hóa.
Tóm lại, vật chất trong quá trình vận động tích cực không chỉ có tích điện, tích khối lượng, tích năng lượng,... mà còn có sự tích liên kết (tích thông tin). Vì vậy sự tương tác giữa các vật chất tích thông tin phải có đặc thù riêng và trường tương tác dành cho chúng gọi là TRƯỜNG TƯƠNG TÁC THÔNG TIN.
quangnx
09-11-2007, 01:11 AM
Điều dễ nhận thấy Trường tương tác thông tin có vai trò chủ dạo trong trong lực lượng vật chất có cấu trúc đa thông tin như chất sống, sinh vật,.. và nhất là con người. Đây là một trường tương tác hết sức đặc biệt, một vài đặc điểm cơ bản có thể dẫn ra như sau:
- Phi tuyến : phần tử trường vừa là toán tử (tác động) vừa là hàm (bị tác động).
- Phân lớp : phần tử trường tương tác theo lớp phủ thông tin.
- Mở : phần tử trường có thể thay đổi và mở rộng lớp phủ thông tin.
- Mờ : phần tử trường tiếp nhận tác động theo logic mờ.
Nói về hành thủy có thể nói: ta sẽ không thể tìm được sự liên hệ của hành thủy với tương tác hấp dẫn nếu thuyết tương đối rộng chưa ra đời. Lực hấp dẫn nếu chỉ dừng lại ở định luật vạn vật hấp dẫn của Newton thì không gian - thời gian vẫn cứ phẳng, tuyệt đối và có sẳn, vật chất có lấy ra hết cũng chẳng sao cả thì ta cũng chẳng thể nào liên hệ nỗi với tính thủy vốn mang đặc trưng của metric và đại lượng choán.
Thật may mắn, với nguyên lý tương đương: "Hệ qui chiếu phi quán tính tương đương với trường hấp dẫn" A. Einstein đã xây dựng lại lý thuyết trường hấp dẫn có căn nguyên tương tác từ metric của không-thời gian và độ cong (tensor) không gian. Và qua đó tính thủy đã được thể hiện rõ trong tương tác hấp dẫn.
Thiên Sứ
09-11-2007, 04:02 AM
Anh Quangnx thân mến.
Anh viết:
1- Điều dễ nhận thấy Trường tương tác thông tin có vai trò chủ dạo trong trong lực lượng vật chất có cấu trúc đa thông tin như chất sống, sinh vật,.. và nhất là con người. Đây là một trường tương tác hết sức đặc biệt, một vài đặc điểm cơ bản có thể dẫn ra như sau:
- Phi tuyến : phần tử trường vừa là toán tử (tác động) vừa là hàm (bị tác động).
- Phân lớp : phần tử trường tương tác theo lớp phủ thông tin.
- Mở : phần tử trường có thể thay đổi và mở rộng lớp phủ thông tin.
- Mờ : phần tử trường tiếp nhận tác động theo logic mờ.
Khái niệm "Trường tương tác thông tin" trong vật lý hiện đại có khả năng tương đương với khái niệm khí trong Lý học Đông phương. Tôi chỉ đặt vấn đề khả năng thôi. Vì muốn xác định điều này cần có những đối chiếu về các tính năng của "Khí" và "Trường tương tác thông tin". Trong lý học đông phương thì "khí" có thuộc tính của Ngũ hành".
2 -Thật may mắn, với nguyên lý tương đương: "Hệ qui chiếu phi quán tính tương đương với trường hấp dẫn" A. Einstein đã xây dựng lại lý thuyết trường hấp dẫn có căn nguyên tương tác từ metric của không-thời gian và độ cong (tensor) không gian. Và qua đó tính thủy đã được thể hiện rõ trong tương tác hấp dẫn.
Khái niệm ngũ hành không liên quan gì dến tương tác cả. Ngũ hành là một chủ thể tương tác chứ không phải bản chất tương tác. Ít nhất theo cách hiểu của tôi đến lúc này. Hay có thể tôi chưa hiểu rõ ý đoạn trên của anh.
Theo tôi hiểu đoạn trên anh viết có nội dung cho rằng: "HànhThủy liên quan đến tương tác hấp dẫn". Có thể tôi hiểu sai.
Thiên Sứ
quangnx
09-11-2007, 01:14 PM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Về cơ bản, các trường tương tác vật lý phải xác lập được thuộc tính của nó trong Ngũ hành, vì trường tương tác mang ý nghĩa vừa là vật thể vừa là tương tác đặc thù giữa các phần tử trường. Vì vậy việc xác lập thuộc tính trong Ngũ hành của các trường là việc hết sức tự nhiên anh TS ạ. Cụ thể thì:
- Trường tương tác điện từ thuộc Kim
- Trường tương tác mạnh thuộc Mộc
- Trường tương tác hấp dẫn thuộc Thủy
- Trường tương tác yếu thuộc Hỏa
- Trường tương tác thông tin thuộc Thổ.
Riêng hành Thổ như anh Thiên Sứ nói là rất trừu tượng nên trường tương tác thông tin cũng có tính chất trừu tượng từ bản chất. Những luận điểm quan trọng anh đã đưa ra không có gì mâu thuẩn với các lý thuyết vật lý đâu anh ạ...
Thiên Sứ
09-11-2007, 02:15 PM
Anh Quangnx thân mến.
Nếu sự phân loại là:
- Trường tương tác điện từ thuộc Kim
- Trường tương tác mạnh thuộc Mộc
- Trường tương tác hấp dẫn thuộc Thủy
- Trường tương tác yếu thuộc Hỏa
- Trường tương tác thông tin thuộc Thổ.
Thì sẽ không giải thích được hiện tượng được đề cập đến trong Lý học Đông phương về tính bao trùm có qui luật của hành khí theo Ngũ hành trong vũ trụ liên quan đến Địa cầu.
Thí dụ: Trong hội Ngọ - có thời gian một hội bằng 12. 960 năm - thuộc Dương Hoả, theo Lý học Đông phương. Do đó, nếu áp dụng cho rằng: "Trường tương tác yếu thuộc Hỏa" thì phải chăng không gian vũ trụ hiện nay đang chịu sự chi phối chủ đạo của trường tương tác yếu. Điều này có thể không hợp lý.
Tôi chỉ đặt vấn đề để chúng ta cùng trao đổi nhằm tìm sự tương quan hợp lý giữa những khái niệm của thuyêt Âm dương ngũ hành với khái niệm của tri thức khoa học hiện đại. Không tự cho là đúng. Anh có thể tham khảo.
Thiên Sứ
quangnx
09-11-2007, 03:14 PM
Anh Thiên Sứ ơi, tương tác yếu vốn có trong vạn vật ở cấp độ hạt cơ bản, các hat neutrino và neutrino phản là sứ giả của tương tác yếu có đóng góp như là thành phần chính của các vật chất đen đi xuyên qua mọi cấu trúc vật chất trừ lỗ đen. Lực lượng vật chất đen này góp công rất đáng kể trong việc hình thành và ổn định cấu trúc vỉ mô hiện tại của vũ trụ. Tương tác yếu chỉ là người lính tận tụy của hành Hỏa được biên chế ở mặt trận hạt cơ bản thôi anh ạ... nó đâu đủ tư cách để thay vị chỉ huy là hành Hỏa kiêu hùng đã có công quyết định sự phân lập để thành tạo vũ trụ ... anh Thiên Sứ đừng lo. ... không có mâu thuẩn nào đâu anh ạ.
Thiên Sứ
09-11-2007, 04:35 PM
Anh Quangnx thân mến.
Trong thuyết Âm DươngNgũ hành thì tất cả vạn vât đều được phân loại theo Ngũ Hành. Từ khởi nguyên của vũ trụ tính tương tác được coi là xuât hiện đầu tiên - đó chính là "Tứ tượng". Nhưng "Tứ tượng' thì không phải ngũ hành mà chỉ là 4 trạng thái tương tác.
- Bốn trạng thái tương tác này và 4 trường tương tác mà khoa học hiện đại khám phá có thể là giống nhau không thì cũng là vấn đề cần bàn.
Đồng thời với 4 trạng thái tương tác này là sự xuất hiện của "Ngũ hành". Như vậy, có thể nói "Ngũ hành" chính là dạng tồn tại vật chất khởi nguyên của vũ trụ. Trong vũ tru - theo thuyết Âm Dương Ngũ hành - thì tất cả mọi cấu trúc vật chất đều được phân loại theo Ngũ hành. Từ những cấu trúc nhỏ như "Cây cỏ, côn trùng" cho đến các Thiên Hà, đều nằm trong Ngũ hành. Sự phân loại này rất phức tạp; như 'cây' nói chung thuộc Mộc, nhưng trong "Mộc / Cây" lại có sự tiếp tục phân loại theo Ngũ hành. như "cây có lõi cứng và to thuộc Thuỷ".....
Bởi vậy, việc đặt vấn đề chia các "trường tương tác" theo Ngũ hành có thể không sai. Nhưng nếu vậy thì tính tương tác trong thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện ở khái niệm nào?
Tôi nghĩ đây là môt vấn đề rất đáng suy ngẫm, khi chúng ta đối chiếu những khái niệm của Lý học Đông phương với lý thuyết khoa học hiện đại.
Thiên Sứ
quangnx
09-11-2007, 08:48 PM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Em đọc đi đọc lại những đoạn miêu tả như vậy hàng nghìn lần rồi anh ạ, nhưng em chỉ thấy đó là cách trình bày đã được mã hóa theo ngôn ngữ dân dã, không thể chỉ hiểu theo ngữ nghĩa trực tiếp được anh TS ơi... vì nó buồn cười thế nào ấy, anh công nhận không!... Nếu chỉ hiểu đơn giản như vậy thì nó không thể nào là lý thuyết thống nhất được anh ạ.
1. Tứ tượng không thể là 4 trường tương tác được. Bản chất của tứ tượng là độc lập lẫn nhau, trong khi khoa học hiện nay đã thống nhất được tương tác điện từ và tương tác yếu và phần nào đã thống nhất được tương tác mạnh và tương tác hấp dẫn. Điều này có nghĩa là chúng có sự phụ thuộc và chuyển hóa lẫn nhau (gần tiệm cận đên ý nghĩa của sự tương sinh tương khắc) nên người ta mới đi tìm Lý thuyết thống nhất lớn để thống nhất cả 4 loại trường tương tác này anh TS ạ. Nói chung là khoa học hiện đại đang đi tìm phương trình trường thống nhất và cả cách giải phương trình đó.
2. Các trường tương tác vật lý bao gồm cả các "vật thể nguyên thủy" và tương tác đặc thù giữa chúng. Đến đây thì em khẳng định HÀNH trong thuyết Âm dương Ngũ hành cũng có ý nghĩa hoàn toàn tương tự nhưng tầm khái quát cao hơn vì nó đã thể hiện được tính thống nhất (tương sinh tương khắc) trong bát quaí.
3. Không gian, thời gian và số chiều thể hiện hình tướng của vạn vật (cao, ngang, dọc) không thể xem nhẹ được. Vật chất và không-thời gian đồng thời xuất hiện, không thể nói cái nào có trước và có sẳn.
Thiên Sứ
09-11-2007, 09:09 PM
anh Quangnx thân mến.
Nếu tứ tượng không được coi như trường tương tác và Ngũ hành được coi như trường tương tác thì chúng ta phải đi tìm khái niệm tương ứng với vật chất của khoa học hiện đại trong thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết khoa học.Đây là điều chúng ta thống nhất về nguyên tắc. Chúng ta đang tìm sự tưong quan khái niệm của học thuyết này với khoa học hiện đại.
Thiên Sứ
quangnx
09-11-2007, 09:11 PM
4. Bát quái chính là phương trình trường thống nhất quyết định qui luật tương tác của vạn vật, ngũ hành là đối tương để qui luật tương tác (chỉ là qui luật tương tác chứ không phải tương tác) đó thể hiện và dựa vào qui luật tương sinh tương khắc và độ số mà người xưa và anh đã vận dụng rất xuất sắc để giải phương trình trường thống nhất trong từng đối tượng cụ thể.
Thiên Sứ
09-11-2007, 09:19 PM
Anh Quangnx viết:
2. Các trường tương tác vật lý bao gồm cả các "vật thể nguyên thủy" và tương tác đặc thù giữa chúng. Đến đây thì em khẳng định HÀNH trong thuyết Âm dương Ngũ hành cũng có ý nghĩa hoàn toàn tương tự nhưng tầm khái quát cao hơn vì nó đã thể hiện được tính thống nhất (tương sinh tương khắc) trong bát quaí.
Nếu như vậy tôi sẽ suy ngẫm thêm về ý nghiã của Tứ Tượng và có thể anh đúng khi so sánh Ngũ hành với trường tương tác.
Thiên Sứ
quangnx
09-11-2007, 11:42 PM
5. Vạn vật tồn tại thực tế (trừ những hạt cơ bản trong trạng thái tự do) hầu như phải thỏa mản điều kiện căn cơ: "hòa hợp âm dương và ngũ hành", tuy nhiên luôn tồn tại hành ưu thế làm chủ. Tức là:
- Thổ : xác lập cấu trúc liên kết phức hợp, kích thước choán.
- Thủy: xác định khối lượng nghỉ và tác nhân nhiễu loạn hấp dẫn lên không -thời gian.
- Mộc: tạo thành từ nguyên tử và thể hiện trong liên kết cao phân tử.
- Hỏa: đều chịu sự ảnh hưởng qui luật hủy và chuyển hóa (giải phóng năng lượng).
- Kim: gắn kêt các phần tử theo nguyên tắc trao đổi khí (chồng lấn các đám mây điên tử liên kết của các nguyên tử).
Ví dụ để giải thích câu: "Sự phân loại này rất phức tạp; như 'cây' nói chung thuộc Mộc, nhưng trong "Mộc / Cây" lại có sự tiếp tục phân loại theo Ngũ hành. như "cây có lõi cứng và to thuộc Thuỷ"...". Ta thấy hành mộc trong 'cây' có ưu thế lớn (thể hiện trong liên kết cao phân tử) nhưng khi cây có lõi cứng và to thuộc Thủy vì hành thủy trong "lõi cứng và to lại chiếm ưu thế.
quangnx
10-11-2007, 05:24 AM
6. Theo ngôn ngữ vật lý thì vũ trụ tồn tại 5 loại tích động lực (5 loại vật chất nguyên thủy) đó là:
- Thuộc Kim: Điện tích.
- Thuôc Hỏa: Lepton tích.
- Thuộc Mộc: Barion tích.
- Thuộc Thủy: Tích khối lượng.
(Bốn loại tích động lực này đều bảo toàn).
- Thuộc Thổ: Tích thông tin (có thể gọi là tích nghiệp), loại tích động lực này do tính mở và tính mờ nên nói chung là không bảo toàn.
Thiên Sứ
10-11-2007, 05:40 AM
Anh Quangnx viết:
I - 5. Vạn vật tồn tại thực tế (trừ những hạt cơ bản trong trạng thái tự do) hầu như phải thỏa mản điều kiện căn cơ: "hòa hợp âm dương và ngũ hành",
Không có trừ những hạt cơ bản - thâm chỉ nhỏ hơn hạt cơ bản mà tri thức khoa học có thể tìm ra trong tương lai. Âm Dương Ngũ hành chỉ bản chất của tồn tại nói chung; Nhỏ thì đến vô cùng, lớn thì gồm cả vũ trụ.
Cũng xin lưu ý anh Quangnx là:
Sự hòa hợp này không có ý nghĩa tuyệt đối. Trong Vũ trụ này - theo thuyết Âm Dương Ngũ hành - khái niệm tuyệt đối thuộc phạm trù của Thái Cực.
II -Ví dụ để giải thích câu: "Sự phân loại này rất phức tạp; như 'cây' nói chung thuộc Mộc, nhưng trong "Mộc / Cây" lại có sự tiếp tục phân loại theo Ngũ hành. như "cây có lõi cứng và to thuộc Thuỷ"...". Ta thấy hành mộc trong 'cây' có ưu thế lớn (thể hiện trong liên kết cao phân tử) nhưng khi cây có lõi cứng và to thuộc Thủy vì hành thủy trong "lõi cứng và to lại chiếm ưu thế.
Điều này có khả năng đúng.
Anh Quangnx thân mến.
Tôi không có kiến thức sâu về một lý thuyêt nào đó của khoa học hiện đại. Bởi vậy khi so sánh những khái niệm thuộc về vật lý lý thuyết với những khái niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì tôi chỉ có thể khẳng định một phía thuộc về thuyết Âm Dương Ngũ hành và thận trong với với khái niệm tương đương trong vật lý hiện đại. Bởi vậy, để sự hợp tác hoàn hảo, anh có thẻ giúp tôi định nghĩa những khái niệm của vật lý hiện đại. Thí dụ như:
"Liên kết cao phân tử".
Bởi vậy tôi chỉ có thể cho rằng: có khả năng đúng.
Rất cảm ơn sự quan tâm của anh.
Thiên Sứ
quangnx
10-11-2007, 10:16 AM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Anh và các bạn quan tâm đến chủ đề này cứ hỏi cho ra vấn đề anh ạ, như là thầy phản biện để em được dịp trình bày rõ ràng hơn.
Về liên kết cao phân tử, nói sát nghĩa thì nó thể hiện như là khái niệm cao phân tử của hóa học. Khái quát hơn là để chỉ các liên kết của các phần tử gần đồng dạng, trong đó sự liên kết chủ yếu ở số đông chứ không phái là liên kết đa dạng và lực gắn kết mạnh chỉ có ở tầm ngắn. Khi anh cắt ra từng phần hoặc ghép thêm thì nó cũng không khác mấy so với trước đó.
Về các hạt cơ bản tự do thì vì nó còn độc thân và còn bé nên em định ưu tiên chỉ cần nói nó hòa hợp ngũ hành là đủ.
bigdog69
10-11-2007, 02:22 PM
Định mệnh là có thật, và nó là một hàm có quá nhiều biến.
Đôi khi để xác định giá trị của hàm này cần những biện pháp nằm ngoài khả năng của khoa học hiện tại.
Minh` nghĩ vậy :).
quangnx
10-11-2007, 03:10 PM
Nếu giải phương trình thống nhất theo hướng sử dụng công cụ giải tích hiện tại (tìm nghiệm là một hàm giải tích nào đó ví dụ Feymann cho rằng để xây dựng hàm của một vật đi từ A -> B ta phải tính một tích phân lộ trình vô hạn lớp (cũng là vô hạn biến) có cận từ -vô cùng đên +vô cùng) tôi e rằng không phù hợp. Hiện tại tạm thời tiếp tục sử dụng tâm linh cảm ứng của con người để làm thiết bị nhập để tìm nghiệm (Quẻ) và dùng kinh nghiệm để giải đoán vậy.
Tôi tin rằng chỉ đứng trên nền tảng khoa học cơ bản đỉnh cao của nhân loại hiện đại mới có thể NGỘ được Chánh lý của thuyết Âm dương Ngũ hành dù nó đã xưa như Trái Đất. Cách tiếp cận theo kiểu đọc Kinh (giáo điều) chỉ càng làm nó càng huyễn hoặc và xa rời Chánh lý của người xưa hơn.
quangnx
11-11-2007, 07:01 AM
Tôi tin rằng chỉ đứng trên nền tảng khoa học cơ bản đỉnh cao của nhân loại hiện đại mới có thể NGỘ được Chánh lý của thuyết Âm dương Ngũ hành dù nó đã xưa như Trái Đất. Cách tiếp cận theo kiểu đọc Kinh (giáo điều) chỉ càng làm nó càng huyễn hoặc và xa rời Chánh lý của người xưa hơn.
Thành thật xin lỗi nếu có lỡ xúc phạm các bạn, tôi chỉ bất chợt thốt lên sau khi vô tình đọc một vài bài rất ư là khiêu khích của tay tubinh_gg và vài bạn khác hết sức giáo điều trong bài HTBQ Văn Vương của trang tuvilyso. Vài lời chân thành tâm sự cùng các bạn, tôi không biết anh TS và KLA là ai nhưng qua các bài viết của các anh tôi cảm thấy kính trọng và mến các anh rất nhiều. Xuyên suốt các vấn đề các anh đặt ra, tôi nhận ra được các anh chỉ muốn truyền đạt một thông điệp hết sức khiêm tốn rằng:" Các bạn trẻ Việt Nam hảy tự tin và sáng tạo trong học tập nghiên cứu hay trong công việc, hảy giũ bỏ sự tự ti và tâm lý nhược tiểu, hảy tự hào vì mình là người Viêt Nam - vì Ông cha các bạn cũng là một trong những chủ thể làm nên nền văn minh này".
Thật là hay nếu diễn đàn này trở thành một Viện nghiên cứu khoa học của mọi người.
Thiên Sứ
11-11-2007, 08:17 AM
Anh Quangnx viết:
Nếu giải phương trình thống nhất theo hướng sử dụng công cụ giải tích hiện tại (tìm nghiệm là một hàm giải tích nào đó ví dụ Feymann cho rằng để xây dựng hàm của một vật đi từ A -> B ta phải tính một tích phân lộ trình vô hạn lớp (cũng là vô hạn biến) có cận từ -vô cùng đên +vô cùng) tôi e rằng không phù hợp.
Theo tôi, nếu toán học cao cấp chứng minh cho một phương trình thống nhất thì trong phương trình đó một vật đi từ điểm A trong vũ trụ đến điểm B, Thì dù A và B là bất kỳ vị trí nào trong vũ trụ, thời gian vận động cũng bằng 0. Bởi vậy sẽ không có vấn đề lớp không thời gian.
Khi trí thức của khoa học hiện đại tiếp cận tới lý thuyết thống nhất, thì sự chứng minh cho lý thuyết thống nhất sẽ là những phân tích và lý luận có tính minh triết và hợp lý. Lúc ấy không một phương tiên khoa học nào trong tương lai có thể tìm thấy điều này.
Thiên Sứ
quangnx
11-11-2007, 09:11 AM
Anh Thiên Sứ kính mến!
một phương trình thống nhất thì trong phương trình đó một vật đi từ điểm A trong vũ trụ đến điểm B, Thì dù A và B là bất kỳ vị trí nào trong vũ trụ, thời gian vận động cũng bằng 0. Bởi vậy sẽ không có vấn đề lớp không thời gian..
Nhận định của anh rất xác đáng (đúng là cảm nhận của thiên tài!!), chính xác là phương trình trường thống nhất phải có thuộc tính như vậy (vế phải = 0) - Không có gì thay đổi ở cấp độ cao nhất mà phương trình trường thống nhất mô tả... chỉ có sự thay đổi ở cấp độ nhỏ hơn và hoàn toàn mang tính nội tại (không-thời gian chỉ là đa tạp để thể hiện hình tướng).
lý thuyết thống nhất sẽ là những phân tích và lý luận có tính minh triết và hợp lý
Hoàn toàn nhất trí...!!!
quangnx
11-11-2007, 07:47 PM
Các bạn thân mến! Nếu có vấn đề gì chưa thỏa đáng các bạn hảy tham gia thảo luận, vì trong đề tài này chúng ta đang từng bước đi vào lảnh địa khoa học đương đại với vô số những ý tưởng...
Ngay bây giờ có thể chúng ta chưa tìm được tiếng nói chung, nhưng thú thật với các bạn, bản thân tôi khi càng nghiên cứu sâu về thế giới vật lý hiện đại thì tôi càng thấy hiện rõ bóng dáng của thuyết Âm dương Ngũ hành và cả những lời răn dạy của Đức Phật. Thế giới thật sự không đơn giản như cái chúng ta thường thấy, tìm hiểu căn nguyên chân chính của nó theo tôi là tiền đề tốt nhất để đạt được sự giác ngộ và nhờ đó mà cuộc sống hằng ngày của mỗi người cũng sẽ bình an và hanh thông hơn...
quangnx
12-11-2007, 02:18 PM
Các bạn thân mến !
Theo tôi thuyết Âm dương Ngũ hành thực chất là Lý thuyết vật lý tổng quát của người xưa. Phạm vi áp dụng của nó là vạn vật trong vũ trụ bao gồm cả trong lỉnh vực sinh học vũ trụ, con người vũ trụ và xã hội vũ trụ,.. dĩ nhiên là trong đó bao gồm cả chúng ta và xã hội của chúng ta. Tuy nhiên chắc là còn lâu lắm nhân loại mới phục hồi được nguyên tác của thuyết Âm dương Ngũ hành như là một Lý thuyết vật lý tổng quát hoàn chỉnh.
- Nói đến Âm dương thì thuyết Âm dương Ngũ hành đã chỉ ra rằng vũ trụ khởi nguyên là không có gì : chân không tuyệt đối (trạng thái lắp đầy trong vật lý lý thuyết).
- Nói đến Tứ tượng thì thuyết Âm dương Ngũ hành cho ta biết rằng : thế giới vật chất bắt đầu là thể hiện hình tướng trong khuông khổ không-thời gian 4 chiều.
- Nói đến Ngũ hành thì thuyết Âm dương Ngũ hành đã tiết lộ rằng : thế thới thật sự của chúng ta đang vận động dưới sự chi phối thật sự của 5 loại thời gian - gồm 1 thời gian mà ta đã biết và 4 thời gian đồng vị mà ta không thể cảm nhận trực tiếp được.
- Nói đến Bát quái thì thuyết Âm dương Ngũ hành đã bật mí cấu trúc thật của mình và cho biết không có gì vận động biến đổi khi đạt đến cấu trúc này - đây cũng chính là phát biểu chính thức của phương trình trường thống nhất.
Thiên Sứ
12-11-2007, 04:48 PM
Anh Quangnx thân mến!
Anh viết:
= Nói đến Âm dương thì thuyết Âm dương Ngũ hành đã chỉ ra rằng vũ trụ khởi nguyên là không có gì : chân không tuyệt đối (trạng thái lắp đầy trong vật lý lý thuyết).- Nói đến Tứ tượng thì thuyết Âm dương Ngũ hành cho ta biết rằng : thế giới vật chất bắt đầu là thể hiện hình tướng trong khuông khổ không-thời gian 4 chiều.
- Nói đến Ngũ hành thì thuyết Âm dương Ngũ hành đã tiết lộ rằng : thế thới thật sự của chúng ta đang vận động dưới sự chi phối thật sự của 5 loại thời gian - gồm 1 thời gian mà ta đã biết và 4 thời gian đồng vị mà ta không thể cảm nhận trực tiếp được.
- Nói đến Bát quái thì thuyết Âm dương Ngũ hành đã bật mí cấu trúc thật của mình và cho biết không có gì vận động biến đổi khi đạt đến cấu trúc này - đây cũng chính là phát biểu chính thức của phương trình trường thống nhất.
Tôi tự nhiên mệt quá! Đang chờ quan Đốc tờ đến khám. Nên chưa viết được gì nhiều. Nhưng Thuyết Âm Dương Ngũ hành và bản chất của nó để chứng tỏ là một lý thuyết thống nhất không như bạn nói. Có thể mai tôi sẽ diễn giải kỹ hơn về điều này. Nếu tính trạng sức khỏe ổn định.
Thiên Sứ
quangnx
12-11-2007, 06:55 PM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Anh cố gắng giử gìn sức khỏe, đừng thức khuya làm việc quá độ rồi sinh bệnh. Em nghĩ mọi người đều mong anh khỏe mạnh và thực sự sung sức nữa kìa...
Những điều em nêu ở bài trên chỉ là cách dịch ra ngôn ngữ của các nhà vật lý thôi anh ạ, không làm thay đổi gì thuyết Âm dương Ngũ hành đâu. Khi viết như vậy các nhà khoa học đương đại mới hiểu được công việc của họ đang làm đang ở đâu so với thì thuyết Âm dương Ngũ hành. Những khái niệm là lạ nói trên họ thường sử dụng, ví dụ câu: "đây cũng chính là phát biểu chính thức của phương trình trường thống nhất" đối với các nhà khoa học sẽ là : Toán tử Bát quái tác động lên sự vật, sự vật không thay đổi gì - viết gọn hơn là [toán tử Bát quaí]Sự vật = 0. Đến khi xác định được dạng thức cụ thể của toán tử Bát quái thì nếu không sử dụng qui luật tương sinh tương khắc của Ngũ hành và độ số và vị trí của các Quái (họ sẽ hiểu là giá trị của các tensor metric,..) họ không thể nào giải nỗi phương trình ấy.
Còn vấn đề không gian đông vị hoặc thời gian đồng vị các nhà vật lý lý thuyết trên thế giơi cũng quen rồi không có gì cao siêu đâu anh ạ. Đó chỉ là cách đặt vấn đề của hệ
qui chiếu phi quán tính mở rộng khi xét sự vận động biến đổi của đối tượng một cách tổng quát thôi.
quangnx
12-11-2007, 09:30 PM
[toán tử Bát quaí]Sự vật = 0
Thưa anh Thiên Sứ và các bạn, vì vế phải của phương trình = 0 nên ta không cần phải viết ra, sự vật thì đương nhiên là đối tượng cần tác động nên ta cũng không cần phải viết, vì vậy cuối cùng chỉ cần vẽ mỗi cái Bát quái trong mặt phẳng cũng ta đã đủ để mô tả phương trình trường thống nhất ..., qua đó ta nhận ra rằng anh Thiên Sứ hoàn toàn đúng khi khẳng định Bát quái là siêu công thức để xác định qui luật tương tác của lý thuyết thống nhất vũ trụ !!!
phapvan
12-11-2007, 10:41 PM
Các bạn thân mến !
Theo tôi thuyết Âm dương Ngũ hành thực chất là Lý thuyết vật lý tổng quát của người xưa. Phạm vi áp dụng của nó là vạn vật trong vũ trụ bao gồm cả trong lỉnh vực sinh học vũ trụ, con người vũ trụ và xã hội vũ trụ,.. dĩ nhiên là trong đó bao gồm cả chúng ta và xã hội của chúng ta. Tuy nhiên chắc là còn lâu lắm nhân loại mới phục hồi được nguyên tác của thuyết Âm dương Ngũ hành như là một Lý thuyết vật lý tổng quát hoàn chỉnh.
- Nói đến Âm dương thì thuyết Âm dương Ngũ hành đã chỉ ra rằng vũ trụ khởi nguyên là không có gì : chân không tuyệt đối (trạng thái lắp đầy trong vật lý lý thuyết).
- Nói đến Tứ tượng thì thuyết Âm dương Ngũ hành cho ta biết rằng : thế giới vật chất bắt đầu là thể hiện hình tướng trong khuông khổ không-thời gian 4 chiều.
- Nói đến Ngũ hành thì thuyết Âm dương Ngũ hành đã tiết lộ rằng : thế thới thật sự của chúng ta đang vận động dưới sự chi phối thật sự của 5 loại thời gian - gồm 1 thời gian mà ta đã biết và 4 thời gian đồng vị mà ta không thể cảm nhận trực tiếp được.
- Nói đến Bát quái thì thuyết Âm dương Ngũ hành đã bật mí cấu trúc thật của mình và cho biết không có gì vận động biến đổi khi đạt đến cấu trúc này - đây cũng chính là phát biểu chính thức của phương trình trường thống nhất.
Anh Quangnx kính mến,
Một tiếng động nơi trái đấy này có thể tác động lan tỏa toàn vũ trụ - ngược lại khắp vũ cũng có thể tác động lại trái đất. Vậy không lẽ "thế thới thật sự của chúng ta đang vận động dưới sự chi phối thật sự của 5 loại thời gian" và chỉ có 5 lọai thời gian thôi.
Tôi nghĩ nếu có n thế giới (n không - thời gian) thì sẽ có n thời gian và khắp Tam Giới đều liên quan mật thiết. Điều này Đức Phật đã ví "khẩy cái móng tay cũng động đến tam thiên đại thiên thế giới"
Vài dòng suy nghĩ
Phapvan
Thiên Sứ
12-11-2007, 10:59 PM
Trịnh Xuân Thuận nói:
Để giải thích một hiện tượng dù rất nhỏ cũng phải viện dẫn đến toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ.
Khi nói câu này, ông ta có thể chịu ảnh hưởng của những suy nghiệm về một lý thuyết thống nhấtv hay không thì chưa rõ. Nhưng ít nhất câu nói này của ông cũng cho thấy một sự tương tác có tính quy luật vượt không gian (Toàn vũ trụ) và thời gian (Lịch sử hình thành vũ trụ). Như vậy , về lý thuyết ông ta đã gián tiếp thừa nhận có một sự liên hệ thống nhất trong vũ trụ. Hay nói cách khác: Có sự tồn tại trên thực tế về một lý thuyết thống nhất.
Lý thuyết đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành và siêu công thức của nó chính là Tiên - Hậu thiên bát quái.
Thiên Sứ
quangnx
13-11-2007, 12:45 AM
Ban Phapvan thân mến!
Câu Đức Phật đã ví "khẩy cái móng tay cũng động đến tam thiên đại thiên thế giới"
không có nghĩa là "Một tiếng động nơi trái đấy này có thể tác động lan tỏa toàn vũ trụ - ngược lại khắp vũ cũng có thể tác động lại trái đất". Vũ trụ mà bạn đang nói đến không tương đồng với Tam thiên Đại thiên mà Đức Phật đã dạy..., tuy vậy tiếng động xuất phát từ tâm linh của bạn có thể làm được như vậy.
Với 5 và chỉ 5 thời gian thôi bạn ạ và cũng chỉ có Tam thiên Đại thiên Thế giới thôi, không thể phóng túng mà mở rộng đến n thế giới làm chi... Bạn phải thực sự tịnh tâm để chiêm nghiệm xem "Thời gian là gì ?" - "Không gian là gì ?" thế nào mình cũng tìm được tiếng nói chung bạn Phapvan ạ.
Trước đây mình không hề biết về Tam thiên Đại thiên một tí gì dù chỉ là khái niệm. Khi mình nghiên cứu thật sâu về thế giới vật lý dưới sự hướng dẫn của triết thuyết Âm dương Ngũ hành thì mình cũng dần dần nhận ra phải tồn tại 3 cấp thế giới mới đủ và tất cả đều thuộc về một thế giới vỉnh hằng..., mình cứ đinh ninh đây là một phát hiện thật đặc biệt cho đến một hôm mình gặp nhà sư Thich Trí Hưng, mình cao hứng thổ lộ ra thì Thầy phán ngay rằng :"Đúng, Phật Tổ đã dạy rằng có Tam thiên Đại thiên Thế giới,..". Thực sự mình không cần nghe thêm câu nào đã thấy thấm thía vô cùng tận... bạn Phapvan ạ.
Thân mến.
Thiên Sứ
13-11-2007, 04:43 AM
Điều đáng ngạc nhiên hơn là cái thế giới vi mô và vĩ mô mà những tri thức hàng đầu của nền khoa học hiện đại còn đang ngơ ngác, ngỡ ngàng, ngơ ngẩn đến ngượng ngùng ấy thì Đức Phật đã nói từ lâu rồi. Khi so sánh các hạt cơ bản của vật lý hiện đại với các "vi trần" trong Phật pháp thì các hạt cơ bản chưa phải là nhỏ nhất. Chẳng thế mà cái đầu to nhất của nền khoa học hiện đại là Albert Einstein cũng phải phát biểu: Phật giáo là tôn giáo của tương lai.
Trong tương lai, sự minh triết và nền tảng khoa học lý thuyết của con người sẽ là thuyết Âm Dương Ngũ hành và siêu công thức Tiên Hậu thiên bát quái.
Thiên Sứ
phapvan
13-11-2007, 09:31 AM
Anh Quangnx kính mến,
Đức Phật dạy : Một hạt bụi chứa đựng cả vũ trụ.
Lão giáo dạy : Vạn vật đồng nhất thể.
Nếu các thế giới (tạm phân như vậy) không tương đồng với nhau làm sao các nhà chiêm tinh tiên tri được. Phân tích đến cùng cực thì thế giới vật chất và thế giới tâm linh là dạng chuyển hóa khác nhau của tiếng động thanh hay trọc, nặng hay nhẹ (động vọng tưởng) nên sinh diệt tương tục.
Chúng ta đều biết Một chiếc Lá rơi, hay một cảm xúc chiêm tinh gia có thể tiên tri được sự thành hoại của một sự vật. Đấy mới chỉ là chiếc Lá động. Còn như Trái đất và các hành tinh động xung quanh Mặt trời, Mặt trăng động xung quanh Trái Đất, Hệ Mặt trời động xung quanh Thiên Hà, Thiện hà động xung quanh Tâm Vũ trụ. Và hơn 100 sao trong Tử Vi động ngay thời điểm sinh ra PV và mỗi người cũng ảnh hưởng tác động đến Hình dáng và cá tính, tâm linh của mỗi người trong thời động đó.
Anh Quangnx thân mến, vấn đề "thời gian" và "không gian" vẫn là đề tài muôn thủa của nhân loại, là nỗi day dứt của các triết gia và các nhà khoa học.
Vài dòng suy nghĩ
Thân mến
Phapvan
quangnx
13-11-2007, 02:27 PM
Bạn Phapvan thân mến, một vài lời bày tỏ cùng bạn.
Bạn viết rằng:
Nếu các thế giới (tạm phân như vậy) không tương đồng với nhau làm sao các nhà chiêm tinh tiên tri được
1. Việc phân lập ra các thế giới như vậy là do Trời Đất chứ không phải do tôi hoặc do bạn, mình chỉ phản ảnh vậy thôi không nên nói quá nhiều về chuyện đó bạn nhỉ. Về mặt khoa học chứng minh được một điều như vậy đã là chuyện lớn lắm rồi bạn đồng ý không...
2. Mình dùng từ không tương đồng không đồng nghĩa với không có sự tương tác vượt cấp giữa các thế giới mặc dù điều này (tương tác) cũng không dễ dàng chút nào... Chính vì sự không tương đồng này mà cho đến bây giờ chúng ta vẫn phải cần đến những nhà chiêm tinh, những nhà tiên tri, nhà dịch lý (là con người) chứ không phải các thiết bị hay cỗ máy tiên tri... nếu cần đến sự tiên đoán có độ tin cậy nhất định.
3. Điểm quan trong nhất là chính nhờ sự tồn tại các thế giới phân lập này mà tốc độ ánh sáng không phải là giới hạn cuối cùng (không mâu thuẩn với thuyết tương đối), đây là điều mà anh Thiên Sứ đã trăn trở nhiều.
Còn vấn đê:
Phân tích đến cùng cực thì thế giới vật chất và thế giới tâm linh là dạng chuyển hóa khác nhau của tiếng động thanh hay trọc, nặng hay nhẹ (động vọng tưởng) nên sinh diệt tương tục
Sự phân biệt giữa thế giới vật chất và thế giới tâm linh là có thật nhưng không đến nỗi rối rắm như bạn đã miêu tả. Chánh đạo và Chánh lý không bao giờ mâu thuẩn với khoa học... bởi vậy khi đứng trước những sự thực hiển hiện của khoa học, không cần thiết phải dùng đến sự hoài nghi cho dù là nhân danh ai đi nữa vì sự hoài nghi vốn có tính vô cùng và thường thì lợi bất cập hại.
Tôi rất dị ứng với "giáo điều" vì tôi thường không thuộc bài. Nhưng tôi nghĩ rằng "giáo điều" rất dễ có nguy cơ "bóp chết" chân lý, có khi ngay từ trong trứng nước. Thực tế lịch sử cũng đã chứng minh hàng ngàn lần nó (sự giáo điều) đã dẫn con người đến những cuộc tranh luận (tranh chấp, xung đột, chiến tranh,..) vô bổ và phi lý biết chừng nào... Phải thoát ra khỏi vòng kim cô của giáo điều mới hy vọng đến được với sự sáng tạo và giác ngộ ngay trong "điều được giáo". Tôi nghĩ bạn đồng ý điều này.
Trái đất và các hành tinh động xung quanh Mặt trời, Mặt trăng động xung quanh Trái Đất, Hệ Mặt trời động xung quanh Thiên Hà, Thiện hà động xung quanh Tâm Vũ trụ. Và hơn 100 sao trong Tử Vi động ngay thời điểm sinh ra PV và mỗi người cũng ảnh hưởng tác động đến Hình dáng và cá tính, tâm linh của mỗi người trong thời động đó.
Điều này thuyết Âm dương Ngũ hành đã nói nhiều, để sau này mình sẽ trình bày lại ở góc độ khác...
vấn đề "thời gian" và "không gian" vẫn là đề tài muôn thủa của nhân loại, là nỗi day dứt của các triết gia và các nhà khoa học
Mình nghĩ những hiểu biết của các các triết gia và các nhà khoa học bị day dứt bởi vì họ thiếu triết thuyết nhất quán dẫn đường thôi... mình cho rằng chỉ vì nó quá đơn giản như ngay trước mắt mà họ cứ đi tìm đâu đâu nên công việc trở nên khó khăn. Chỉ cần tịnh tâm và quên hết những điều người ta dạy bạn đi bạn sẽ nhận ra ngay thôi. Điều quan trọng là bạn phải tự nhìn ra vì mình mà càng nói thời gian là gì, không gian là gì thì bạn lại càng không hiểu nó là gì... vậy mới vui mặc dù không phải mình nói sai đâu.
Thân mến
quangnx
13-11-2007, 09:09 PM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Em viết vài dòng khi nào anh khỏe thì anh đọc cho vui...
Chẳng thế mà cái đầu to nhất của nền khoa học hiện đại là Albert Einstein cũng phải phát biểu: Phật giáo là tôn giáo của tương lai.
Anh TS ơi, Em vẫn nhớ nằm lòng (và chỉ nhớ thôi) là câu nói của Albert Einstein khi được hỏi về vấn đề tôn giáo lúc Ông sắp mất là: "Phật giáo là tôn giáo của vũ trụ"... Giữa 2 câu nói em thấy câu "vũ trụ" nó sâu sắc và đáng ngưỡng mộ hơn câu "tương lai" một chút... Em cứ thấy kì kì và thiêu thiếu sao ấy khi đọc câu của Ông Đầu Bự là :"Phật giáo là tôn giáo của tương lai" vì đã vài ngàn năm rồi Phật giáo vẫn là một TÔN GIÁO chính thống mà, anh có thấy vậy không ?. Nếu được anh cho kiểm tra lại thử xem ...
Em sẽ nêu tóm tắt những điểm chính của lý thuyết tương đối để anh dễ tham khảo:
Về thuyết tương đối hẹp thì A. Einstein xây dựng dựa vào nguyên lý bất biến khoảng và công cụ toán là phép biến đổi Lorentz. Kết quả:
1. Xác lập mối quan hệ giữa khối lượng nghỉ và năng lượng qua hệ thức E=mc2.
2. Ánh sáng - photon di chuyển với vận tốc ~ 300.000km/s và không phụ thuộc vào hệ qui chiếu.
3. Vật chất có m>0 không thể đạt đến được tốc độ ánh sáng, dẫn đến sự hiệu chỉnh lý thuyết cơ học lượng tử để hình thành lý thuyết trường lượng tử
B]Về thuyết tương đối rộng[/B] thì A. Einstein xây dựng lại lý thuyết trường hấp dẫn dựa vào nguyên lý tương đương :"Hệ qui chiếu phi quán tính TƯƠNG ĐƯƠNG với trường hấp dẫn và công cụ toán là phép tính tensor và hình học cong Rieman. Kết quả là: làm ra vô số những thay đổi về quan niệm về vật lý và vũ trụ. Nổi bật là:
1. Không gian vật chất bị bẻ cong do chính khối lượng của vật chất.
2. Sự hấp dẫn được giải thích là do sự nhiễu loạn hấp dẫn của vật thể làm không gian giữa chúng co lại.
3. Sự suy sập hấp dẫn - bán kính hấp dẫn - Lỗ đen.
.....
phapvan
13-11-2007, 11:34 PM
Xin có vài lời cùng anh Quangnx,
1. Tôi rất trân trọng những nghiên cứu, sáng tạo của Anh Quangnx và mọi người. Đối với anh những nội dung đã trình bày trên và anh cho "Về mặt khoa học chứng minh được một điều như vậy đã là chuyện lớn lắm rồi bạn đồng ý không..." . Riêng tôi thấy chưa có gì phải thỏa mãn. Ngay ở cấp độ liên thông các khái niệm đã bất cập. Điều đó tôi nghĩ anh hiểu chưa sâu về Thuyết Âm Dương Ngũ Hành. (chỗ này anh Thiên Sứ đã sơ bộ phân tích ở 14 khái niệm)
2. Tôi dẫn lời Đức Phật vì Đức Phật là nhà Tiên tri vĩ đại, lời dạy đó là Chân lý cũng như lời dạy của Lão giáo. Đã là Chân lý thì không sợ bị "bóp chết", chỉ có "giả chân lý" mới sợ thôi. Chúng ta lại đang bàn về Học Thuyết Tiên Tri.
Hiểu về Giáo Điều và thế nào là giáo điều? Đức phật cũng dạy rằng: kẻ nào tin ta mà không hiểu ta , chính là phỉ báng ta.
3. Xin mượn lời bạn "Điều quan trọng là bạn phải tự nhìn ra vì mình mà càng nói thời gian là gì, không gian là gì thì bạn lại càng không hiểu nó là gì... vậy mới vui mặc dù không phải mình nói sai đâu." gửi lại bạn để bạn suy gẫm thêm cho hoàn chỉnh lý thuyết của mình.
Lập thuyết có thể mâu thuẫn với bất kỳ thuyết nào, nhưng mình không thể tự mâu thuẫn với chính mình.
4. Trở lại vấn đề Tứ Tượng. Tôi đồng nhận xét của anh Thiên Sứ về điểm Tứ Tượng là chỉ "4 trạng thái tương tác" và cũng có nghĩa chỉ trạng thái cấu trúc của Hành. Vì sự thống nhất giữa các lực và cấu trúc vật chất không thể tách rời. Không thể có lực mà không có cấu trúc vật chất và ngược lại. Và trong mỗi Tượng cũng có đủ bốn lực.
Vài dòng suy nghĩ đến anh
Thân mến
Thiên Sứ
13-11-2007, 11:58 PM
1) Tiêu chí cho một lý thuyết khoa học là:
Một lý thuyết được coi là khoa học phải giải thích được hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách nhất quán, hoàn chính, có tính hệ thống, tính khách quan, tính quy luật và khả năng tiên tri.
2) Tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất - Do Thiên Sứ tổng hợp - và chủ quan cho rằng:
Một lý thuyết thống nhất mang tính khoa học phải thỏa mãn tất cả các yếu tố theo tiêu chí khoa học và giải thích được mọi vấn đề liên quan đến từ sự hình thành và vận động của vũ trụ, thiên nhiên, xã hội và con người.
Thỏa mãn được điều kiện của 2 tiêu chí trên (Chí ít là tiêu chí 1, vì tiêu chí 2 là chủ quan của Thiên Sứ - tạm thời có thể không được chấp nhận) thì chỉ có thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Thiên Sứ
quangnx
14-11-2007, 12:58 AM
Bạn Phapvan thân mến!
Rất tiếc là đã để bạn hiểu nhầm thiện ý của tôi, giờ đọc lại bài đã gửi đúng là có nhiều từ ngữ dễ gây hiểu lầm, thành thật xin lỗi bạn. Tuy vậy tôi nghĩ mình cũng nên nói với nhau một lần thôi rồi bỏ qua sự cố, cám ơn vì bạn đã có những nhắc nhở rất cần thiết và đúng lúc.
1. Về câu :"Về mặt khoa học chứng minh được một điều như vậy đã là chuyện lớn lắm rồi bạn đồng ý không..." đó chỉ câu giả định thôi, mong bạn đừng nghĩ mình là tự mản.
2. Bạn nhận định :"Ngay ở cấp độ liên thông các khái niệm đã bất cập. Điều đó tôi nghĩ anh hiểu chưa sâu về Thuyết Âm Dương Ngũ Hành", nếu không có gì phiền thì mời bạn cùng tham gia để vấn đề được giải quyết ổn thỏa hơn.
3. Mình nhắc đến từ giáo điều là mong được sự chia sẻ của bạn chứ mình không hề có ý xúc phạm bạn. Bạn bỏ qua nhé!
4. Nhưng với đoạn này:
Trở lại vấn đề Tứ Tượng. Tôi đồng nhận xét của anh Thiên Sứ về điểm Tứ Tượng là chỉ "4 trạng thái tương tác" và cũng có nghĩa chỉ trạng thái cấu trúc của Hành. Vì sự thống nhất giữa các lực và cấu trúc vật chất không thể tách rời. Không thể có lực mà không có cấu trúc vật chất và ngược lại. Và trong mỗi Tượng cũng có đủ bốn lực
Tôi thấy rất hay, cần phải cùng nhau làm sáng tỏ bạn đồng ý nhé!.
Rất cám ơn vì bạn đã thẳng thắn!
Thân mến
Thiên Sứ
14-11-2007, 01:03 AM
Có lẽ phải nói thêm rằng:
Phong thuỷ, Tử Vi, Bốc Dịch và Lạc Việt độn toán chỉ là những phương pháp ứng dụng phi vật thể còn lại và là hệ quả của Lý thuyết thống nhất Âm Dương Ngũ hành. Còn rất lâu tri thức khoa học trong tương lai của thế giới mới có thể tạo ra những phương pháp tiên tri ấy. Còn những sản phẩm vật thể ứng dụng của nền văn minh tạo ra thuyết đó là gì?
Cho dù thừa nhận tính khoa học của các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành là đối tượng nghiên cứu khoa học một cách thực sự nghiêm túc (Chưa nói đến chưa hoặc không thừa nhận) thì những tri thức hàng đầu của nền khoa học hiện đại cũng chỉ nhìn thấy phần nổi của tảng băng chìm đang ẩn hiện trong sương mù.
Đó không phải toàn bộ tảng băng. Điều này cũng như tàu vũ trụ, bom nguyên tử chỉ là phần nổi của tri thức khoa học hiện đại vậy. Nó không phải là tất cả tri thức của nền khoa học hiện đại.
Chúng ta thử đặt một giả thuyết rằng: Một trận Đại Hồng Thủy nhấn chìm thế giới hiện tại và còn rất ít những bộ phận của nhân loại sống sót. Thì nền văn minh này sẽ để lại cho thế hệ sau cái gì? Tất cả những sản phẩm vật thể sẽ không tồn tại! Vậy giá trị phi vật thể mà nền văn minh của chúng ta để lại sẽ là cái gì nhỉ? Chắc may ra còn bản cửu chương và các phép toán cấp II trở xuống.
Bây giờ chúng ta xem xét những giá trị của nền văn minh cổ đã để lại cho chúng ta những sản phẩm của một lý thuyết thống nhất - Thuyết Âm Dương Ngũ hành - chúng ta sẽ thấy nền văn minh ấy vĩ đại thế nào trước khi bị hủy diêt!
Thiên Sứ
Thiên Sứ
14-11-2007, 11:18 AM
Anh Quangnx thân mến.
Tôi xin được trả lời anh theo cách hiểu của tôi về những vấn đề anh hỏi. Không dám tự cho là đúng nhưng tôi nghĩ có thể suy nghiệm.
A) Em vẫn nhớ nằm lòng (và chỉ nhớ thôi) là câu nói của Albert Einstein khi được hỏi về vấn đề tôn giáo lúc Ông sắp mất là: "Phật giáo là tôn giáo của vũ trụ"... Giữa 2 câu nói em thấy câu "vũ trụ" nó sâu sắc và đáng ngưỡng mộ hơn câu "tương lai" một chút... Em cứ thấy kì kì và thiêu thiếu sao ấy khi đọc câu của Ông Đầu Bự là :"Phật giáo là tôn giáo của tương lai" vì đã vài ngàn năm rồi Phật giáo vẫn là một TÔN GIÁO chính thống mà, anh có thấy vậy không ?. Nếu được anh cho kiểm tra lại thử xem ...
Giữa cụm từ "Tôn giáo của tương lai" hay "tôn giáo của vũ trụ" thực ra chỉ là cách thể hiện khác nhau của một sự khẳng định có mục đích cho rằng: Phật giáo sẽ là một bộ phận quan trọng trong văn hoá, trí thức của nhân loại trong tương lai. Khi tìm hiểu sách vở, tư liệu, tôi thường chỉ xem những đoạn cốt yếu để biết ý chính, không chú trọng lắm vào câu chữ. Trừ những trường hợp khác hẳn nhau về nội dung. Thí dụ câu nói của Đề Các có hai cách hiểu là "Tôi tư duy nên tôi tồn tại" và "Tôi tư duy nên tôi thực tại". Hiểu theo câu trên thì được coi là hệ quả của duy tâm luận. Hiểu theo câu dưới thì là sự tự tin vào khả năng trí tuệ của con người đi tìm chân lý. Trường hợp này phải xem lại toàn bộ trước tác của ông ta. Nhưng với câu của Einstein thì không cần phải tra cứu kỹ như vậy.
B) Em sẽ nêu tóm tắt những điểm chính của lý thuyết tương đối để anh dễ tham khảo:
Về thuyết tương đối hẹp thì A. Einstein xây dựng dựa vào nguyên lý bất biến khoảng và công cụ toán là phép biến đổi Lorentz. Kết quả:
1. Xác lập mối quan hệ giữa khối lượng nghỉ (Có thể hiểu là tĩnh được không?) và năng lượng qua hệ thức E=mc2.
Điều này tương đương với thuyết Âm Dương Ngũ hành về sự chuyển hóa của Ngũ hành từ dạng tồn tại vật thể sang khí. Cũng tương đương với minh triết Phật giáo cho rằng: Khi vật thể vô cùng nhỏ (Mà Phật gọi là "Lân vi trần") sẽ tan biến thành hư không. Nên phát hiện này của Einstein có sự tương thích gần giống.
2. Ánh sáng - photon di chuyển với vận tốc ~ 300.000km/s và không phụ thuộc vào hệ qui chiếu.
Điều này chính xác trong giới hạn của câu trên. Nhưng nếu cho rằng: Ánh sáng là tốc độ giới hạn của vũ trụ thì sai. Bởi vì nó không hợp lý trong việc giải thích các vấn đề và hiện tượng khác liên quan trong vũ trụ. Nó chỉ thích hợp trong việc giải thích một vũ trụ có giới hạn. Và điều này phi lý.
3. Vật chất có m>0 không thể đạt đến được tốc độ ánh sáng, dẫn đến sự hiệu chỉnh lý thuyết cơ học lượng tử để hình thành lý thuyết trường lượng tử.
Điều này sai khi cho rằng:Vật chất có m>0 không thể đạt đến được tốc độ ánh sáng
* Bởi vì giới hạn của tri thức khoa học hiện đại giữa những vật thể nhìn thấy được bằng những phương tiện hiện có và cái không nhìn thấy được mà họ gọi là chân không.
* Mâu thuẫn với chính quan niệm vất chất có thể chuyển hóa thành năng lượng. Tức vật chất bằng 0. Do đó, nếu cho rằng "Vật chất có m>0 không thể đạt đến được tốc độ ánh sáng" , tức là xác định giới hạn của sự vận động năng lượng nhỏ hơn . Trong khi năng lượng có thể chuyển hóa thành vật chất theo công thức của chính thuyết tương đối. Vậy thì vật chất không thể có tốc độ vượt trội hơn cái sinh ra nó. Mà chỉ có thể chậm hơn hoặc bằng. Điều này phi lý.
C) Về thuyết tương đối rộng thì A. Einstein xây dựng lại lý thuyết trường hấp dẫn dựa vào nguyên lý tương đương :"Hệ qui chiếu phi quán tính TƯƠNG ĐƯƠNG với trường hấp dẫn và công cụ toán là phép tính tensor và hình học cong Rieman. Kết quả là: làm ra vô số những thay đổi về quan niệm về vật lý và vũ trụ. Nổi bật là:
1. Không gian vật chất bị bẻ cong do chính khối lượng của vật chất.
Điều này hoàn toàn phù hợp với thuyết Âm Dương Ngũ hành. Vũ trụ này cong ngay từ khởi nguyên theo thuyết này. Không chỉ không gian vật chất, thuyết Âm Dương Ngũ hành cho rằng tất cả đều cong. Dù nó là cái gì.
2. Sự hấp dẫn được giải thích là do sự nhiễu loạn hấp dẫn của vật thể làm không gian giữa chúng co lại.
Tôi chưa hiểu rõ ý câu này. Nhưng tôi cảm giác nó mâu thuẫn với lý thuyết vũ trụ đang giãn nở.Hoặc là nó là hai vế của một vấn đề và nếu như thế đều sai. Thuyết Âm Dương Ngũ hành không cho rằng vũ trụ đang dãn nở và vì thế nó không co lại.
3. Sự suy sập hấp dẫn - bán kính hấp dẫn - Lỗ đen.
Sai. Nếu vật chất bị suy sụp trong bán kính nào đó để trở thành "lỗ đen" thì mâu thuẫn với sự chuyển hóa vật chất thành năng lượng. Như vậy"lỗ đen sẽ hoàn toàn đen", Điều này chính S,W Hawking đã thừa nhận sai lầm. Và thuyết Âm Dương Ngũ hành cũng bác bỏ.
Xin chia sẻ những suy nghiệm.
Cảm ơn sự quan tâm của anh.
Thiên Sứ
quangnx
14-11-2007, 12:00 PM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Chúc mừng anh đã sung sức trở lại..
2. Sự hấp dẫn được giải thích là do sự nhiễu loạn hấp dẫn của vật thể làm không gian giữa chúng co lại.
Tôi chưa hiểu rõ ý câu này. Nhưng tôi cảm giác nó mâu thuẫn với lý thuyết vũ trụ đang giãn nở.Hoặc là nó là hai vế của một vấn đề và như thế đều sai. Thuyết Âm Dương Ngũ hành không cho rằng vũ trụ đang dãn nở và vì thế nó không co lại.
Với câu :"Sự hấp dẫn được giải thích là do sự nhiễu loạn hấp dẫn của vật thể làm không gian giữa chúng co lại", là chỉ xét trong phạm vi 2 vật thể thôi anh ạ. Ý nói sự hút nhau giữa chúng không cần phải có một trường vật chất trung gian nào. Khác với việc sự hút hoặc đẩy của các vật thể mang điện tích là do sự trao đổi photon của trường điện từ anh ạ.
Khi mở rộng ra đến phạm vi vũ trụ, họ giải phương trình Einstein, rồi họ lại xét đến mật độ vũ trụ hiện tại và so sánh nó với hằng số vũ trụ mới xem rằng nó là co hoặc giản hoặc dừng (ổn định). Ngay khi còn sống A. Einstein vẫn cho rằng vũ trụ là ổn định anh ạ. Tuy nhiên bằng việc áp dụng hiệu ứng Doppler khoa học xác nhận có sự giản nở của các Thiên hà (ở cấp thiên hà mới có). Anh suy nghĩ xem có mâu thuẩn gì không chỉ ở vấn đề này?
Thiên Sứ
14-11-2007, 12:20 PM
Anh Quangnx thân mến
Tôi xin nói thêm: Một hiện tượng người ta có thể giải thích bằng một cách khác , hoặc bằng một lý thuyết khác. Thí dụ:
Các nhà khoa học quan sát thấy rằng: các thiên hà ngày càng chạy xa nhau. Từ đó họ suy luận: Trước đấy nó phải ở gần nhau. Hệ quả của sự suy luận này là khởi điểm của vụ trụ vật chất phải đậm đặc đến giới hạn tuyệt đối. Từ đó suy ra thuyết Bicbang.
Học thuyết này giải thích hiện tượng "Các thiên hà ngày càng chạy xa nhau" và nó được coi là đúng vì một khả năng tiên tri giới hạn về sự tồn tại của các "bức xạ hóa thạch" phải tồn tại trong vũ trụ.
Nhưng hiện tượng "bức xạ hóa thạch" và vũ trụ dãn nở theo thuyết Âm Dương Ngũ hành giải thích khác và hoàn chỉnh hơn nhiều.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
14-11-2007, 12:39 PM
Anh Quangnx viết:
1) Ý nói sự hút nhau giữa chúng không cần phải có một trường vật chất trung gian nào. Khác với việc sự hút hoặc đẩy của các vật thể mang điện tích là do sự trao đổi photon của trường điện từ anh ạ.
Khoa học hiện đại mới chỉ nhận thức đến đó thôi. Ngay cả việc trao đổi photon cũng cần đến một trường vật chất trong gian. Thuyết Âm Dương Ngũ hành cho rằng đó là Khí.
2) Khi mở rộng ra đến phạm vi vũ trụ, họ giải phương trình Einstein, rồi họ lại xét đến mật độ vũ trụ hiện tại và so sánh nó với hằng số vũ trụ mới xem rằng nó là co hoặc giản hoặc dừng (ổn định). Ngay khi còn sống A. Einstein vẫn cho rằng vũ trụ là ổn định anh ạ.
Điều này chính xác. Bản chất cuối cùng của vũ trụ là ổn định và cân bằng. Đó là lý do Tốn Khôn phải đổi chỗ để phản ánh điều đó.
3) Tuy nhiên bằng việc áp dụng hiệu ứng Doppler khoa học xác nhận có sự giản nở của các Thiên hà (ở cấp thiên hà mới có). Anh suy nghĩ xem có mâu thuẩn gì không chỉ ở vấn đề này?
Trước một thực tại đang giãn nở là các Thiên Hà chạy xa nhau; hoặc giãn nở trong nội tại của nó thì người ta có thể lý thuyết hoặc công thức hóa nó. Không có mâu thuẫn gì nếu công thức, hoặc lý thuyết đó chỉ giới hạn ở các Thiên Hà , hoặc trong Thiên Hà. Nhưng từ đó suy ra sự giãn nỡ của toàn vũ trụ thì sai.
Thiên Sứ
quangnx
14-11-2007, 01:05 PM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Ánh sáng là tốc độ giới hạn của vũ trụ thì sai
Theo em, thì A. Einstein chưa bao giờ nói rằng tốc độ ánh sáng là giới hạn của tốc độ của vũ trụ và lúc sinh thời bản thân Ông ta cũng không ưa món Cơ học lượng tử, vì các vấn đề về hàm sóng mang tính xác suất, về hệ thức bất định, về hiệu ứng đường ngầm... Việc cho rằng tốc độ ánh sáng là giới hạn của tốc độ của vũ trụ là những suy luận của các nhà khoa học sau này, và họ cũng rất thích lượng tử hóa trường hấp dẫn của Einstein và các vấn đề về sóng hấp dẫn,.. nhưng cho đến bây giờ chuyện này vẫn chưa rõ ràng anh ạ.
Anh viết rằng:
Nhưng hiện tượng "bức xạ hóa thạch" và vũ trụ dãn nở theo thuyết Âm Dương Ngũ hành giải thích khác và hoàn chỉnh hơn nhiều
Em rất muốn biết cách giải thích đó và em rất mong mỏi chính anh viết lại hoặc biên soạn lại Thuyết Âm dương Ngũ hành chính thống của người Việt như là một cẩm nang cho mọi người. Để đở mất nhiều sức lực của anh, em đề nghị anh chỉ cần viết một cách hệ thống, có tính khái quát cao và không cần giải thích nhiều đâu anh... Mong lắm lắm..
Thiên Sứ
14-11-2007, 03:54 PM
1) Theo em, thì A. Einstein chưa bao giờ nói rằng tốc độ ánh sáng là giới hạn của tốc độ của vũ trụ và lúc sinh thời bản thân Ông ta cũng không ưa món Cơ học lượng tử, vì các vấn đề về hàm sóng mang tính xác suất, về hệ thức bất định, về hiệu ứng đường ngầm... Việc cho rằng tốc độ ánh sáng là giới hạn của tốc độ của vũ trụ là những suy luận của các nhà khoa học sau này, và họ cũng rất thích lượng tử hóa trường hấp dẫn của Einstein và các vấn đề về sóng hấp dẫn,.. nhưng cho đến bây giờ chuyện này vẫn chưa rõ ràng anh ạ.
Einstein nói hay ai nói thực sự tôi không quan tâm. Nhưng đã có những nhà khoa học hàng đầu ủng hộ quan điểm này . Và hậu quả là người ta phải tốn kém rất nhiều vào các cuộc thí nghiệm để thấy rằng tốc độ có thể nhanh hơn gấp 325 lấn tốc độ ánh sáng. Trong khi đó thì không cấn những thí nghiệm tốn kém đó, người ta có thể bằng sự lập luận hợp lý để chứng minh điều đó sai.
2) Anh viết rằng:
http://www.vietlyso.com/forums/images/misc/quotes/quot-top-left.gifTrích:http://www.vietlyso.com/forums/images/misc/quotes/quot-top-right.gifhttp://www.vietlyso.com/forums/images/misc/quotes/quot-top-right-10.gifNhưng hiện tượng "bức xạ hóa thạch" và vũ trụ dãn nở theo thuyết Âm Dương Ngũ hành giải thích khác và hoàn chỉnh hơn nhiềuhttp://www.vietlyso.com/forums/images/misc/quotes/quot-bot-left.gifhttp://www.vietlyso.com/forums/images/misc/quotes/quot-bot-right.gif
Em rất muốn biết cách giải thích đó và em rất mong mỏi chính anh viết lại hoặc biên soạn lại Thuyết Âm dương Ngũ hành chính thống của người Việt như là một cẩm nang cho mọi người. Để đở mất nhiều sức lực của anh, em đề nghị anh chỉ cần viết một cách hệ thống, có tính khái quát cao và không cần giải thích nhiều đâu anh... Mong lắm lắm..
Có thể tôi sẽ viết. Nhưng chắc không phải bây giờ. Tôi phải in lại cuốn "Định mệnh có thật hay không?" đã. Cuốn sách này không được in thì không có tiền đề cho các lập luận tiếp theo. Cũng như không thể có "Phong Thủy Lạc Việt" nếu không có "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" ra đời.
Thiên Sứ
quangnx
14-11-2007, 06:48 PM
Anh thiên Sứ kính mến!
Vừa rồi, tôi có xem xét kỹ lại khái niệm "trạng thái tương tác". Hóa ra khái niệm này rất hay nó thể hiện thuộc tính tác động đượccủa không-thời gian. Trong vật lý cũng có đề cập đến trong phương trình trường lượng tử (phương trình Klein-Gordon). Vì vậy có thể nói Tứ Tượng vừa là để chỉ "4 trạng thái tương tác" về mặt động lực và vừa là để thể hiện hình tướng về mặt cấu trúc là hoàn toàn phù hợp.
Nhưng 4 trường tương tác vật lý đã biết không phải là Tứ tượng... Đây chỉ là chút trục trặc do cách dùng từ thôi anh TS ạ.
Thiên Sứ
14-11-2007, 07:24 PM
Anh Quangnx thân mến.
Anh viết:
Nhưng 4 trường tương tác vật lý đã biết không phải là Tứ tượng... Đây chỉ là chút trục trặc do cách dùng từ thôi anh TS ạ.
* 4 trưởng hợp tương tác vật lý và khái niệm về tính tương tác của Tứ Tượng trong vũ trụ có khoảng cách rất xa. Nhưng không phải là sự phủ định. Có thể nói rằng: 4 trường hợp tương tác vật lý mà nền khoa học hiện đại khám phá là những trường hợp riêng của khái niệm "Tứ Tượng" trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nó cũng giống như thuyết vật lý cơ học của Newton là trường hợp riêng của thuyết Tương đối vậy.
* Không có vấn đề trục trặc về danh từ . Mặc dù chúng cùng diễn tả về tương tác, nhưng khoảng cách rất xa như tôi đã nói ở trên. Cũng hgiống như tất cả những lý thuyết của nền khoa học hiện đại là sự tổng hợp những trí thức thực tại đưa lên thành lý thuyết và diễn đạt thực tại theo ngôn ngữ của nó. Thí dụ: Trường tương tác, trường hấp dẫn....và các khái niệm ngôn ngữ khoa học khác. Những người không chuyên ngành thì sẽ không hiểu những khái niệm đó diễn tả một thực tại nào và cảm thấy khó hiểu trướcc những khái niệm và ngôn từ trong các lý thuyết khoa học hiện đại. Tương tự như vậy, thuyết Âm Dương Ngũ hành cũng là sự tổng hợp những trí thức nhận thức thực tại và trở thành một lý thuyết và nó diễn tả thực tại theo ngôn ngữ và khái niệm của nó về những thực tại nó nhận biết được. Trong khi đó , những thực tại mà - nên văn minh tiến Atlantic (Theo khái niệm của tôi) nhận thức được vượt xa cái mà tri thức nhân loại hiện nay nhận thức được. Do đó thành khó hiểu. Nhưng trong các phương pháp ứng dụng thì lại sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ với những khái niệm của nó. Tính hiệu quả thì quá rõ bởi những thực nghiệm trải hàng ngàn năm trong xã hội Đông phương cổ. Chưa một lý thuyết khoa học hiện đại nào trải qua một thời gian thực nghiệm vĩ đại về thời gian như vậy. Nhưng vì tính thất truyền của một học thuyết và những khái niệm khó hiểu mà tôi đã nhiều lần trình bày. Do đó những con người trong xã hội Đông phương cổ ứng dụng những phương pháp này, đã giải thích một cách sai lệch về những khái niệm đó. Thâm chí theo chiều hướng dị đoan. Cho nên lại càng khó hiểu.
Chỉ đến khi nền văn minh toàn cầu xuất hiện và phát triển như hiện nay, mới có thể tạm đủ điều kiện về lý thuyết khoa học để chứng giải những bí ẩn của Lý học Đông phương.
Đây là điều mà tôi đã tiên tri từ lâu qua việc giải mã truyện "Trê Cóc".
Tôi tin rằng: Sự tham gia của anh là rất đáng quí. Lần đầu tiên trong bao gian nan của tôi liên quan chỉ riêng với lĩnh vực này có một nhà khoa học thực sự tham gia công khai liên hệ so sánh giữa lý thuyết khoa học hiện đại với thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi từ nền văn minh Việt.
Bởi vậy, tôi rất trân trọng và cảm ơn anh rất nhiều. Hy vọng sự công tác của chúng ta để chỉ ra bản chất thật của một lý thuyết thống nhất đã từng tồn tại trên Địa cầu.
Tất cả các phương pháp ứng dụng tiên tri từ Thái Ất, Lạc Việt độn toán, Tử Vi...cho đến Đông Y, Phong Thủy đều chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Mục đích hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành của nền văn minh Atlantic không chỉ để ...coi bói.
Cũng như những trí thức hàng đầu của nhân loại với những lý thuếyt vĩ đại không có mục đích làm ra xe hơi hay điện thaoi di động cho những người sành điệu vậy.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
14-11-2007, 08:30 PM
Có lẽ tôi phải thêm một ý là: Người đầu tiên dùng toán học xác nhận Hậu Thiên Bát quái Lạc Việt có nhiều ưu điểm hơn Hậu Thiên Văn vương là TS Trần Quang Bình. Có điều là anh Trần Quang Bình lại cho rằng: Mô hình Hậu Thiên bát quái Âu Lạc của anh đưa ra có sự cân bằng hơn về Toán học. Tôi và anh ấy không phản biện lẫn nhau. Nhưng tôi vẫn vững tin vào lý thuyết của tôi khi đối chiếu với các vấn đề liên quan theo tiêu chí khoa học. Bởi vậy, Hậu thiên Lạc Việt đã triển khai ứng dụng trong hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, theo đúng tiêu chí khoa học hiện đại.
Thiên Sứ
quangnx
14-11-2007, 08:34 PM
Tất cả các phương pháp ứng dụng tiên tri từ Thái Ất, Lạc Việt độn toán, Tử Vi...cho đến Đông Y, Phong Thủy đều chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Mục đích hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành của nền văn minh Atlantic không chỉ để ...coi bói.
Cũng như những trí thức hàng đầu của nhân loại với những lý thuyết vĩ đại không có mục đích làm ra xe hơi hay điện thoại di động cho những người sành điệu vậy.
Anh Thiên Sứ kính mến, rất cảm ơn sự ghi nhận của anh.
Những nhận định của anh hết sức chí lý và thấm tình người...
Nhưng anh Thiên Sứ ơi, nếu mình không giao quá nhiêu việc cho Tứ Tượng như anh viết:" 4 trưởng tương tác vật lý và khái niệm về tính tương tác của Tứ Tượng trong vũ trụ có khoảng cách rất xa. Nhưng không phải là sự phủ định. Có thể nói rằng: 4 trường tương tác vật lý mà nền khoa học hiện đại khám phá là những trường hợp riêng của khái niệm "Tứ Tượng" trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nó cũng giống như thuyết vật lý cơ học của Newton là trường hợp riêng của thuyết Tương đối vậy"
thì không đủ cơ sở để triển khai tính toán.
Tất cả những điều tôi đã trình bày với anh không chỉ là những lập luận đâu anh ạ. Trước đây (hơn 20 năm) tôi chỉ nghe lơ mơ về thuyết Âm dương Ngũ hành thôi, trong quá trình thực hiện đề tài của mình, tôi cũng chỉ thừa nhận một tiên đề mà tôi gọi là "Tiên đề tồn tại"có phát biểu gần giống như "Thái cực" và tôi xây dựng mãi cuối cùng tôi nhận được một phương trình viết ra giông giống cái "bát giác"... Khi đó tôi thấy hình như có một sự tương đồng với Bát quaí... Lúc ấy tôi mới đi tìm và chỉ mượn được một cuốn sách duy nhất là quyển "Kinh dịch - Đạo của người quân tử". Tôi đọc thấy cũng giông giống nhưng đến đoạn HTBQVV tôi nuốt không nỗi (mặc dù thuyết tương đối tôi đọc một lèo không bị vướng gì và thấy nó cũng bình thường ). Không một ai để chia sẻ, tôi đành âm thầm nghiên cứu một mình. Tôi có biết cố GS N.H.Phương nhiều lần định liên hệ nhưng rồi thôi vì tôi cảm thấy con đường mình đi không giống với thầy Phương. Thầy tôi là cố GS D.V.Phi là người giúp tôi rất nhiều về tư tưởng và phương pháp nghiên cứu KH, mặc dù tôi không phải là học trò cưng của thầy. Tôi đã biết thuyết Âm dương Ngũ hành là Lý thuyết thống nhất từ rất lâu rồi vì tôi đã nhận ra những điều mình đã làm (LTVLTQ) chỉ là viết lại bằng ngôn ngữ KH thôi. Thầy tôi nhận xét ý tưởng của tôi là "không bắt bẽ được về mặt KH" nhưng đã khuyên tôi: 'hảy âm thầm nghiên cứu và hoàn thiện nó, đừng vội vàng đưa ra sẽ tự mình giết chết nó".
Đến khi tôi vô tình vào trang Web này, được đọc những bài viết của anh, tôi thực sự mừng lắm lắm vì những kết luận quan trọng của anh sao mà... nên tôi đã ví như "tri kỷ ngàn năm mới được gặp lại" .
Vài lời bày tỏ, nếu có gì thất thố anh Thiên Sứ bỏ qua cho.
Kính
Thiên Sứ
14-11-2007, 08:42 PM
À! Tôi cũng cần nói thêm rằng:
Hậu thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ đã giải thích một cách hợp lý tất cả những vấn đề liên quan đến nó: Từ cội nguồn vũ trụ cho đến mọi vấn đề trong các phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành và chứng minh cả lịch sử 5000 năm văn hiến của dân tộc Việt. Nếu không có một chân lý đứng đằng sau nó thì không thể thực hiện được điều này!
Giáo sư viện sĩ thật (Xin lỗi vì phải ghi rõ như vậy để phân biệt với các vị "giả") Nguyễn Cảnh Toàn đã phát biểu - Đại ý:
Tính hợp lý không phải từ trên trời rơi xuống. Nếu đàng sau nó không phải là một chân lý!(*)
Thiên Sứ
--------------------
* Tôi có tài liệu ghi nguyên văn câu nói này. Nhưng bây giờ chưa biết nằm đâu.
Thiên Sứ
14-11-2007, 09:04 PM
20giờ rồi. Tôi định xuống ăn cơm tối. Nhưng thấy câu này của anh, nên tôi phải gõ vài chữ.
Thầy tôi nhận xét ý tưởng của tôi là "không bắt bẽ được về mặt KH" nhưng đã khuyên tôi: 'hảy âm thầm nghiên cứu và hoàn thiện nó, đừng vội vàng đưa ra sẽ tự mình giết chết nó".
Tôi rất vội vàng. Nhưng có lý do của nó. Những di sản văn hóa phi vật thể truyền thống của dân tộc Việt, ngày càng mai một do thất truyền và hiểu sai , thậm chí xuyên tạc.
Nếu không thực hiện thì vĩnh viễn sẽ đi vào bóng tối. Quan niệm cội nguồn dân tộc Việt - "Thời Hùng Vương chỉ có 300 năm tồn tại với những người dân ở trần đóng khố" đã rất phổ biến. Đã có một bài báo dọa tôi khi trích dẫn câu của cụ Lê Gia trong lời giới thiệu khen tôi can đảm và muốn thử tôi có cam đảm hay không, đăng trên Kiến thức ngày nay- người viết Ngọc Vinh. Thầy Dương Văn Phi nói đúng. Mọi chuyện cũng không suông sẻ . Mặc dù bây giờ có vẻ dễ thở hơn. Nhân đây tôi cũng xin trả lời bài báo (Đăng cũng lâu rồi, Vào khoảng từ 2002 đến 2004): Tôi không can đảm lắm, rất sợ ma và sợ vợ.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
14-11-2007, 09:12 PM
Để hoàn thiện một lý thuyết thông nhất như ý của các nhà khoa học thế giơí. Không âm thầm nghiên cứu được đâu anh Quangnx thân mến ạ. Nó phải là sự cộng tác của nhiều học giả thứ thật. Tôi biết rất rõ về điều này. Một cá nhân, hoặc một nhóm nhỏ chỉ có thể để xướng - đại loại như tôi mà thôi. Sau này may ra chúng ta chỉ được thừa nhận như một người tiên phong cũng là tốt lắm rồi. Chặng đường hoàn thiện lý thuyết thống nhất còn dài lắm trong tương lai lịch sử gần cùa văn minh nhân loại. Tiếng nói của chúng ta mới chỉ giới hạn ở trang web này. Nhưng tôi rất tự tin và có cơ sở cho niềm tin đó..
Thiên Sứ
phapvan
14-11-2007, 11:43 PM
Xin gửi đôi dòng suy nghĩ đến anh Quangnx ,
Nền tảng Vật Lý học hiện nay để giải thích được bản chất của thế giới tự nhiên dựa trên ba căn bản : Các định luật tương tác cơ bản, Cấu tạo vật chất và các phương trình chuyển động.
Anh đã mượn thành quả của nghành khoa học Vật Lý để so sánh với “Thuyết Âm Dương Ngũ Hành là thuyết thống nhất Vũ Trụ”, khi đọc đề tài này tôi rất thích.
Tôi nghĩ bắt đầu từ đâu trong các cặp phạm trù, khái niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành: Thái Cực; Lưỡng Nghi; Tứ Tượng; Bát Quái; Ngũ Hành.
1. Giả định khởi đầu từ Ngũ Hành và dùng Hà Đồ để minh họa.
2. Đối với Vật Lý bắt đầu từ cấu trúc vật chất.
2.1 Các Hạt cơ bản được cấu tạo từ các Quark
2.2 Các Quark có bên trong là các lượng tử số
2.3 Các Lượng tử số gọi là màu
2.4 Một Quark có 3 màu.
Giả định mỗi Quark ứng Mỗi Phương của Hà Đồ. Nếu chỉ xét bốn phương của hà Đồ thì coi như Tứ Tượng. (hoặc giả định mỗi phương đồng với hạt cơ bản thì Hà Đồ là Nguyên Tử.)
Cám ơn anh và cảm nhận anh là nhà nghiên cứu chân chính. Chỉ là góp thêm một ý tưởng anh tham khảo. Anh có thời gian nên đọc kỹ sách Hà Đồ anh Thiên Sứ viết, theo tôi đây là chiếc chìa khóa.
Chúc anh sớm hòan thành luận án của mình.
Thân mến
Thiên Sứ
15-11-2007, 11:31 AM
Tôi nói thêm điều này nhưng không chứng minh để anh Quangnx tham khảo:
Qui luật vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô gần như đồng nhất chỉ có hình tương khác nhau thôi.
Đây là lý do để bát quái Tiên Thiên và Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ là siêu công thức giải mã tất cả các hiện tượng vũ trụ và mọi chi tiết về con người có khả năng tiên tri.
Thiên Sứ
quangnx
15-11-2007, 12:07 PM
Anh Thiên Sứ kính mến!
Anh phán rằng:
Qui luật vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô gần như đồng nhất chỉ có hình tương khác nhau thôi.
Đây là lý do để bát quái Tiên Thiên và Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ là siêu công thức giải mã tất cả các hiện tượng vũ trụ và mọi chi tiết về con người - có khả năng tiên tri
Thì moi việc phải như vậy...,
Nói về phương diện ĐẠO (đức tin) đương nhiên là đúng.
Nói về mặt KHOA HỌC điều đó cũng đúng luôn..., ít nhất là nếu làm khác đi thì phải mất thêm nhiều thời gian để quay lại...
Anh luôn nhấn mạnh Ngũ hành - Hà đồ , chí lý lắm, chí lý lắm..
Thiên Sứ
15-11-2007, 01:41 PM
Anh Quangnx viết:
Nói về phương diện ĐẠO (đức tin) đương nhiên là đúng.
Tôi không theo hẳn một Đạo nào và cũng không có một đức tin nào. Tôi luôn tư duy.
Nói về mặt KHOA HỌC điều đó cũng đúng luôn..., ít nhất là nếu làm khác đi thì phải mất thêm nhiều thời gian để quay lại...
Riêng tôi sẵn sàng quay lại và làm lại từ đầu - Nếu tôi sai. Tôi hy vọng điều này cũng sẽ xảy ra ở những nhà khoa học chân chính.
Thiên Sứ
quangnx
15-11-2007, 07:20 PM
Anh Thiên Sứ và các bạn thân mến!
Tỷ lệ 2/3: Âm 2, Dương 3 được cho là có được từ Dịch - quangnx nhờ mọi người vui lòng cho lời kiến giải từ căn nguyên, vì đây chính là sự bất đối xứng nguyên thủy..
Thiên Sứ
15-11-2007, 09:16 PM
Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành thì đây không phải là tính bất đối xứng nguyên thuỷ. Theo thuyết này thì tính bất đối xứng nguyên thủy của vũ trụ có thể hiểu là 0 - 1.
Thiên Sứ
quangnx
15-11-2007, 09:40 PM
Thưa các bạn, "Tỷ lệ 2/3: Âm 2, Dương 3" đã được khoa học kiểm chứng và đi với nó là kết luận nguyên lý đối xứng gương bị vi phạm trong tương tác yếu...
Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành thì đây không phải là tính bất đối xứng nguyên thuỷ. Theo thuyết này thì tính bất đối xứng nguyên thủy của vũ trụ có thể hiểu là 0 - 1.
Anh Thiên Sứ kính mến, nếu bảo rằng chẳn âm, lẻ dương mới chỉ là qui ươc thôi, vấn đề là tỷ số 2/3 chứ không phải 4/5, 6/7, 8/9 hoặc 0/1 .... dĩ nhiên 2/3 = 144/216 em cần một lời giải thích 2/3 và 144/216 cái nào là cơ sở anh ạ..
Thiên Sứ
15-11-2007, 09:45 PM
Nếu qui ước theo ký hiệu toán học thì cơ sở của vũ trụ là 0 - 1.
Tất cả các con số - kể cả khoa học hiện đại chứng minh tỷ lệ các phần tử Âm và Dương là 2/3 trong vật lý hiện đại cũng chỉ là những cái có sau sau sự khởi nguyên của vũ trụ. Nó là những hệ quả của 0 - 1.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
15-11-2007, 09:51 PM
Nói thêm để anh Quangnx nghiên cứu: Con số 216 là con số chính xác của những hòn đá trên bãi đá cổ Sapa mà tôi đã quan sát. Các chỗ khác không biết.
Thiên Sứ
quangnx
15-11-2007, 10:23 PM
Con số 216 là con số chính xác của những hòn đá trên bãi đá cổ Sapa mà tôi đã quan sát
Anh Thiên Sứ kính mến, 216 vậy là anh đã kiểm tra được chính xác số các hòn đá bị đưa qua Pháp và bị phá để làm đường rồi hả anh, kỳ bí quá anh nhỉ. Ở VN mình chắc anh đã tìm được người đọc được chữ khoa đẩu...
Thiên Sứ
15-11-2007, 10:44 PM
Tôi biết có một chương trình truyền hình cách đây trên 8 năm, nói về một dòng họ truyền từ đời này sang đời khác luôn học chữ Khoa Đẩu. Để làm gì thì không biết. Giáo sư Lương Kim Định trong một cuốn hồi ký của ông khi còn ở miến Bắc cũng nói đến điều này. Người có thể dịch được chữ Khoa Đẩu theo tôi biết là giáo sư Lê Trọng Khánh. Nhưng tôi chưa có tài liệu nào để nhờ giáo sư dịch. Cụ cũng già lắm rồi. Không biết còn sống không nữa.
Thiên Sứ
quangnx
15-11-2007, 11:02 PM
Người có thể dịch được chữ Khoa Đẩu theo tôi biết là giáo sư Lê Trọng Khánh. Nhưng tôi chưa có tài liệu nào để nhờ giáo sư dịch. Cụ cũng già lắm rồi. Không biết còn sống không nữa.
Anh Thiên Sư ơi, nếu cụ Lê Trọng Khánh đã mất rồi thì thật là oan nghiệt. Bây giờ, nếu mình không có văn bản nào để cụ dịch thì ít ra cũng được cụ dạy cho bao nhiêu vấn đề về chữ khoa đẩu... Anh TS thử nhờ người đi liên hệ xem có manh mối gì không anh..
Thiên Sứ
15-11-2007, 11:11 PM
Anh Quangnx thân mến.
Vấn đề là chúng ta phải có tài liệu mới cần người dịch chứ. Những chữ Khoa Đẩu trên bãi đá cổ Sapa nếu có dịch ra thì cũng giống như "sấm" vậy thôi. Dịch được chính xác đã mệt rồi. Còn phải giải mã ra nữa. Nhà giáo sư Khánh ở đường Pháo Đài Láng - Hanoi, đến đó hỏi ai cũng biết.
Thiên Sứ
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.