Tịnh Ngọc
08-07-2005, 09:08 PM
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn là Anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự, nhà văn hóa tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh và tài năng dân tộc Việt Nam những thế kỷ phục hưng mạnh mẽ và rực rỡ của văn minh Đại Việt độc lập sau cả nghìn năm nô lệ. Người Việt Nam đã tôn ông là Đức Thánh Trần, hằng năm tổ chức ngày giỗ vào 20-8 âm lịch để tưởng nhớ công đức của Người.
Hưng Đạo Đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, Anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự, nhà văn hóa tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh và tài năng dân tộc Việt Nam những thế kỷ phục hưng mạnh mẽ và rực rỡ văn minh Đại Việt độc lập sau cả nghìn năm nô lệ. Truyền thống quật khởi và nhân nghĩa Việt Nam mấy nghìn năm và văn minh độc lập Đại Việt mấy thế kỷ chung đúc nên Người.
Khi Người tại thế, ba đời vua Trần, trăm vạn binh tướng, mười triệu dân Đại Việt ký thác vận mệnh vào Người với ý chí thép và tài thao lược đã trỏ cờ, vung gươm xung trận quét sạch tổng cộng một triệu quân xâm lược.
Khi Người tạ thế, nhân dân tôn Người làm Thánh. Hơn thế, đời đời thờ phụng Người là Cửu thiên Vũ đế, ngự trên ngôi thánh cao nhất, con mắt thiêng của Người thấu dõi suốt ba cõi trên trời, nhân gian và dưới đất.
Trần Quốc Tuấn hóa Thánh trong tâm thức dân ta, bởi nhân cách của Người, tài năng của Người, công nghiệp của Người kỳ vĩ, khác thường, dường như siêu phàm mà người thường không với tới.
Nhân cách Hưng Đạo vương là ở "trái tim hừng hực lòng yêu xứ sở", yêu giống nòi, yêu văn hiến Đại Việt. Khí phách đạp lên muôn vàn gươm đao ngoại tặc để làm nên thắng trận, vận mệnh quốc gia và trăm họ cao hơn hết thảy, hơn cả ngai vàng. Trái tim người làm đuốc lửa dẫn đầu ba quân và trăm họ phá giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, đốt thuyền giặc trên sông Bạch Đằng, nhưng cũng giàu lòng vị tha, nhân ái như suối mát với dòng tộc, với muôn dân.
Trái tim ấy không có chỗ cho hiềm thù nội tộc mà phương hại vận mệnh quốc gia. Lắng nghe lời trăng trối báo thù của cha - An Sinh vương Trần Liễu, người có hiềm khích với vua Thái Tông, cho đúng đạo làm con, nhưng Người không nuôi hiềm khích, không muốn đoạt ngôi dù dễ như trở bàn tay bởi biết loạn triều thì lòng dân ly tán, thì nước nguy vong. Trái tim ấy đùng đùng nổi giận, sáng lòe gươm tuốt, nếu không có người can ngăn thì đầu con trai Quốc Tảng rụng xuống khi người con này cất lời khuyên cha nên đoạt lấy ngôi cao. Trái lại, con tim động lòng đến rơi lệ trước nghĩa cả mà các tỳ tướng Yết Kiêu, Dã Tượng thốt ra lời: "Chúng con không muốn làm như thế (cướp ngôi vua) để tiếng xấu muôn đời". Chính vua Trần Thánh Tông, vào thời khắc khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288) bất chợt thốt lên: "Trung nghĩa (như Quốc Tuấn) thì không ai sánh kịp".
Và trái tim cao cả ấy cháy rực trước nạn ngoại xâm. Giặc xâm lược kéo đến cướp nước, trước vua Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn nói lời quật khởi của núi sông, của trăm họ, với khí phách mà các bô lão đến hội Diên Hồng hô lớn, còn binh lính thì thích chữ vào cánh tay cầm giáo: "Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu thần đi đã". Nghe câu ấy, vua đã hả hê xuất ý tức thì, làm bài văn bia ở đền thờ sống Trần Quốc Tuấn, gọi ông là Thượng phụ.
Trái tim ấy, khi đập những nhịp cuối cùng (vào ngày 20-8 Âm lịch năm 1300), còn chan chứa niềm yêu dân, gửi lại muôn đời lời trăng trối: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, ấy là thượng sách để giữ nước". Trái tim Trần Quốc Tuấn vằng vặc như mặt trời, lớn rộng như biển cả, trọn vẹn đau đáu niềm yêu nước thương dân, cao cả và thánh thiện. Tài ba Trần Quốc Tuấn gồm cả văn lẫn võ.
Văn của Người ở tầm "đại học vấn, đại uyên bác" như sử gia triều Nguyễn ngợi ca. Văn Người bất hủ với Hịch tướng sĩ: "Ta ngày thường quên ăn, đêm thường quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìạ..", tâm, óc và lời cuồn cuộn như lửa cháy, làm sáng bừng lên nghĩa khí Đại Việt, cuốn thiêu đi cạn hẹp lòng người, truyền khí phách từ Người tới ba quân tướng sĩ, trào lên muôn nghìn ngọn giáo xung trận trong trống thúc hồi hồi.
Võ ở tầm nhà chiến lược, quân sự phương Đông, hơn thế, nhà lập thuyết quân sự và bày binh Đại Việt. Lý thuyết và nghệ thuật dùng binh thuở ấy được người hội nhập và sáng tạo bộ chủ gia binh pháp, gọi là Binh thư yếu lược, từ đó soạn ra Bát quái cửu cung đồ, gọi là Vạn kiếp tông bí truyền thư, làm nền tảng cấu trúc quân đội thời Trần và luyện quân, tập tướng. Con mắt nhà chiến lược sáng tỏ cả tạo thế, dùng lực và trận pháp trước mỗi cuộc kháng chiến với tương quan lực lượng chẳng giống nhau. Kháng chiến lần thứ nhất (1258) Người ung dung "lấy quân nhàn thắng giặc mệt", giáp trận ngay, tiến công mãnh liệt, khi giặc còn ở ngoài cửa ngõ Thăng Long một trận lớn Đông Bộ Đầu (Phú Xuyên, Hà Tây) đã kết thúc chiến tranh. Ba cuộc kháng chiến, tổn thất nặng nề, kinh thành bị phá phách, lăng miếu ở Long Hưng (Thái Bình) bị tiêu hủy, đến tượng ngựa đá cũng chịu nạn gươm đao, nhưng đất nước sạch bóng thù, ý chí xâm lăng của quân thù sụp đổ, "giang sơn vững âu vàng".
Nhà chiến lược thiên tài cũng là vị chủ soái áo bào nhuốm khói cùng tướng sĩ. Người có mặt ở cả những trận đánh ác liệt nhất, rời trận địa cuối cùng ở những lần rút lui chiến thuật. Có lần, sau tất cả các vua, vương tộc và binh sĩ, Người chỉ kịp xuống thuyền Yết Kiêu, Dã Tượng đợi sẵn bờ sông Hồng thì quân giặc đã tràn đến la hét vang động mặt đê. Một bộ óc chiến lược thiên tài tính toán như thần, ít thời có được, mang cờ tiết và binh phù nguyên soái, trong một tư cách công dân - chiến sĩ như muôn quân.
Các vua Trần, ba quân và trăm họ, thảy đều tôn vinh Người có công đầu không chỉ trong võ công hiển hách ba lần cả phá giặc ngoại xâm, như vị cứu tinh. Vua phong ông tới tột bậc: Đại vương, Thượng quốc công. Các đời sau, tướng lĩnh xuất quân, đều đến thắp hương ở một trong hàng trăm đền miếu thờ Người khắp nước, đặng đủ dũng lược và tài trí để mà thắng trận. Bởi hùng khí dân tộc, uy linh sông núi là bất tử, đã hun đúc nên con người Trần Quốc Tuấn, còn vận nước thời Trần thì đặt lên vai Người gánh nặng giúp vua trùng hưng như nhà chính trị, đặt vào tay người cây gươm chủ soái, cho nên thời ấy và mọi thời có Người thác rồi mà luôn linh hiển cùng sông núi và chúng dân, "hiển thánh" cùng các đời phá giặc, cái uy linh của "thanh kiếm dài tựa ngoài trời cao khi xưa, đêm thường kêu rít như gió trong vỏ hộp".
Võ công lẫy lừng, phẩm tước tột bậc, nhưng nước yên, Người vẫn không ngước lên ngôi báu, mà trở về với thái ấp cũ vùng Kiếp Bạc. Người sống cho hậu thế, bằng những lời răn dạy đạo làm người. Bầy tôi phải tận trung. Anh em phải tận hòa. Vợ chồng phải tận kính. Bè bạn phải tận tín. Làm điều thiện. Bỏ điều ác. Bỏ uống rượu. Cấm tham ô. Chăm lo các nghề sĩ, nông, công, thương. Thế thì trăm điều lành đến, vạn phúc sẽ về...
Từ giã cuộc đời, Người muốn hóa thân vào sông núi. Người không dặn xây lăng tẩm, lập đền đài, khắc bia vĩnh cửu. 72 năm, ba lần trận mạc, sống trọn vẹn với nước với dân, Hưng Đạo đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn mất ngày 20-8 Âm lịch năm 1300, tại Thái ấp Vạn Kiếp của Người. Dân ta coi ngày đó là Giỗ cha (tháng 3, lễ Thánh Mẫu của Tín ngưỡng từ thời Hùng Vương mở nước, là Giỗ mẹ). Mãi mãi trong lòng dân ta. Người là vị Anh hùng dân tộc tiêu biểu cho khí phách, trí tuệ và tâm hồn con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, xứ sở Việt Nam - Đức Thánh Trần.
Thế Văn
Hưng Đạo Đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, Anh hùng dân tộc, nhà chiến lược chính trị, thiên tài quân sự, nhà văn hóa tiêu biểu cho khí phách, bản lĩnh và tài năng dân tộc Việt Nam những thế kỷ phục hưng mạnh mẽ và rực rỡ văn minh Đại Việt độc lập sau cả nghìn năm nô lệ. Truyền thống quật khởi và nhân nghĩa Việt Nam mấy nghìn năm và văn minh độc lập Đại Việt mấy thế kỷ chung đúc nên Người.
Khi Người tại thế, ba đời vua Trần, trăm vạn binh tướng, mười triệu dân Đại Việt ký thác vận mệnh vào Người với ý chí thép và tài thao lược đã trỏ cờ, vung gươm xung trận quét sạch tổng cộng một triệu quân xâm lược.
Khi Người tạ thế, nhân dân tôn Người làm Thánh. Hơn thế, đời đời thờ phụng Người là Cửu thiên Vũ đế, ngự trên ngôi thánh cao nhất, con mắt thiêng của Người thấu dõi suốt ba cõi trên trời, nhân gian và dưới đất.
Trần Quốc Tuấn hóa Thánh trong tâm thức dân ta, bởi nhân cách của Người, tài năng của Người, công nghiệp của Người kỳ vĩ, khác thường, dường như siêu phàm mà người thường không với tới.
Nhân cách Hưng Đạo vương là ở "trái tim hừng hực lòng yêu xứ sở", yêu giống nòi, yêu văn hiến Đại Việt. Khí phách đạp lên muôn vàn gươm đao ngoại tặc để làm nên thắng trận, vận mệnh quốc gia và trăm họ cao hơn hết thảy, hơn cả ngai vàng. Trái tim người làm đuốc lửa dẫn đầu ba quân và trăm họ phá giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, đốt thuyền giặc trên sông Bạch Đằng, nhưng cũng giàu lòng vị tha, nhân ái như suối mát với dòng tộc, với muôn dân.
Trái tim ấy không có chỗ cho hiềm thù nội tộc mà phương hại vận mệnh quốc gia. Lắng nghe lời trăng trối báo thù của cha - An Sinh vương Trần Liễu, người có hiềm khích với vua Thái Tông, cho đúng đạo làm con, nhưng Người không nuôi hiềm khích, không muốn đoạt ngôi dù dễ như trở bàn tay bởi biết loạn triều thì lòng dân ly tán, thì nước nguy vong. Trái tim ấy đùng đùng nổi giận, sáng lòe gươm tuốt, nếu không có người can ngăn thì đầu con trai Quốc Tảng rụng xuống khi người con này cất lời khuyên cha nên đoạt lấy ngôi cao. Trái lại, con tim động lòng đến rơi lệ trước nghĩa cả mà các tỳ tướng Yết Kiêu, Dã Tượng thốt ra lời: "Chúng con không muốn làm như thế (cướp ngôi vua) để tiếng xấu muôn đời". Chính vua Trần Thánh Tông, vào thời khắc khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288) bất chợt thốt lên: "Trung nghĩa (như Quốc Tuấn) thì không ai sánh kịp".
Và trái tim cao cả ấy cháy rực trước nạn ngoại xâm. Giặc xâm lược kéo đến cướp nước, trước vua Thánh Tông, Trần Quốc Tuấn nói lời quật khởi của núi sông, của trăm họ, với khí phách mà các bô lão đến hội Diên Hồng hô lớn, còn binh lính thì thích chữ vào cánh tay cầm giáo: "Nếu bệ hạ muốn hàng, hãy chém đầu thần đi đã". Nghe câu ấy, vua đã hả hê xuất ý tức thì, làm bài văn bia ở đền thờ sống Trần Quốc Tuấn, gọi ông là Thượng phụ.
Trái tim ấy, khi đập những nhịp cuối cùng (vào ngày 20-8 Âm lịch năm 1300), còn chan chứa niềm yêu dân, gửi lại muôn đời lời trăng trối: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, ấy là thượng sách để giữ nước". Trái tim Trần Quốc Tuấn vằng vặc như mặt trời, lớn rộng như biển cả, trọn vẹn đau đáu niềm yêu nước thương dân, cao cả và thánh thiện. Tài ba Trần Quốc Tuấn gồm cả văn lẫn võ.
Văn của Người ở tầm "đại học vấn, đại uyên bác" như sử gia triều Nguyễn ngợi ca. Văn Người bất hủ với Hịch tướng sĩ: "Ta ngày thường quên ăn, đêm thường quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìạ..", tâm, óc và lời cuồn cuộn như lửa cháy, làm sáng bừng lên nghĩa khí Đại Việt, cuốn thiêu đi cạn hẹp lòng người, truyền khí phách từ Người tới ba quân tướng sĩ, trào lên muôn nghìn ngọn giáo xung trận trong trống thúc hồi hồi.
Võ ở tầm nhà chiến lược, quân sự phương Đông, hơn thế, nhà lập thuyết quân sự và bày binh Đại Việt. Lý thuyết và nghệ thuật dùng binh thuở ấy được người hội nhập và sáng tạo bộ chủ gia binh pháp, gọi là Binh thư yếu lược, từ đó soạn ra Bát quái cửu cung đồ, gọi là Vạn kiếp tông bí truyền thư, làm nền tảng cấu trúc quân đội thời Trần và luyện quân, tập tướng. Con mắt nhà chiến lược sáng tỏ cả tạo thế, dùng lực và trận pháp trước mỗi cuộc kháng chiến với tương quan lực lượng chẳng giống nhau. Kháng chiến lần thứ nhất (1258) Người ung dung "lấy quân nhàn thắng giặc mệt", giáp trận ngay, tiến công mãnh liệt, khi giặc còn ở ngoài cửa ngõ Thăng Long một trận lớn Đông Bộ Đầu (Phú Xuyên, Hà Tây) đã kết thúc chiến tranh. Ba cuộc kháng chiến, tổn thất nặng nề, kinh thành bị phá phách, lăng miếu ở Long Hưng (Thái Bình) bị tiêu hủy, đến tượng ngựa đá cũng chịu nạn gươm đao, nhưng đất nước sạch bóng thù, ý chí xâm lăng của quân thù sụp đổ, "giang sơn vững âu vàng".
Nhà chiến lược thiên tài cũng là vị chủ soái áo bào nhuốm khói cùng tướng sĩ. Người có mặt ở cả những trận đánh ác liệt nhất, rời trận địa cuối cùng ở những lần rút lui chiến thuật. Có lần, sau tất cả các vua, vương tộc và binh sĩ, Người chỉ kịp xuống thuyền Yết Kiêu, Dã Tượng đợi sẵn bờ sông Hồng thì quân giặc đã tràn đến la hét vang động mặt đê. Một bộ óc chiến lược thiên tài tính toán như thần, ít thời có được, mang cờ tiết và binh phù nguyên soái, trong một tư cách công dân - chiến sĩ như muôn quân.
Các vua Trần, ba quân và trăm họ, thảy đều tôn vinh Người có công đầu không chỉ trong võ công hiển hách ba lần cả phá giặc ngoại xâm, như vị cứu tinh. Vua phong ông tới tột bậc: Đại vương, Thượng quốc công. Các đời sau, tướng lĩnh xuất quân, đều đến thắp hương ở một trong hàng trăm đền miếu thờ Người khắp nước, đặng đủ dũng lược và tài trí để mà thắng trận. Bởi hùng khí dân tộc, uy linh sông núi là bất tử, đã hun đúc nên con người Trần Quốc Tuấn, còn vận nước thời Trần thì đặt lên vai Người gánh nặng giúp vua trùng hưng như nhà chính trị, đặt vào tay người cây gươm chủ soái, cho nên thời ấy và mọi thời có Người thác rồi mà luôn linh hiển cùng sông núi và chúng dân, "hiển thánh" cùng các đời phá giặc, cái uy linh của "thanh kiếm dài tựa ngoài trời cao khi xưa, đêm thường kêu rít như gió trong vỏ hộp".
Võ công lẫy lừng, phẩm tước tột bậc, nhưng nước yên, Người vẫn không ngước lên ngôi báu, mà trở về với thái ấp cũ vùng Kiếp Bạc. Người sống cho hậu thế, bằng những lời răn dạy đạo làm người. Bầy tôi phải tận trung. Anh em phải tận hòa. Vợ chồng phải tận kính. Bè bạn phải tận tín. Làm điều thiện. Bỏ điều ác. Bỏ uống rượu. Cấm tham ô. Chăm lo các nghề sĩ, nông, công, thương. Thế thì trăm điều lành đến, vạn phúc sẽ về...
Từ giã cuộc đời, Người muốn hóa thân vào sông núi. Người không dặn xây lăng tẩm, lập đền đài, khắc bia vĩnh cửu. 72 năm, ba lần trận mạc, sống trọn vẹn với nước với dân, Hưng Đạo đại vương, Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn mất ngày 20-8 Âm lịch năm 1300, tại Thái ấp Vạn Kiếp của Người. Dân ta coi ngày đó là Giỗ cha (tháng 3, lễ Thánh Mẫu của Tín ngưỡng từ thời Hùng Vương mở nước, là Giỗ mẹ). Mãi mãi trong lòng dân ta. Người là vị Anh hùng dân tộc tiêu biểu cho khí phách, trí tuệ và tâm hồn con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam, xứ sở Việt Nam - Đức Thánh Trần.
Thế Văn