PDA

View Full Version : HÀ ĐỒ Trong VĂn Minh LẠc ViỆt


Thiên Sứ
07-07-2005, 12:52 PM
HÀ ĐỒ TRONG VĂN MINH LẠC VIỆT



Lời nói đầu



Trải hàng thiên niên kỷ trôi qua trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại; con người không quên chiêm ngưỡng quá khứ. Nhưng trong quá khứ phát triển của nền văn minh nhân loại; có cái gì đó không liên tục; mặc dù vẫn nằm trên một trục thời gian. Nó như bị ngắt quãng và giống như một sự chuyển dịch nhảy cóc từ không gian văn minh này sang một không gian văn minh khác; không hề có mối liên hệ chuyển tiếp. Hay nói một cách khác: Nó không có sự kế thừa giữa các nền văn minh. Bởi vậy; trong nhận thức của nhân loại hiện đại; khi nhìn lại những không gian văn minh bị ngắt quãng ấy; đã không khỏi kinh ngạc trước những hiện tượng bí ẩn một cách kỳ vĩ trong quá khứ. Đó là:

Kim Tự tháp ở Ai Cập; tượng khổng lồ ở đảo Phục Sinh; những di vật kỳ bí về tri thức thiên văn của nền văn minh Maya …Nhưng tất cả những sự bí ẩn đó đều hiện hữu dưới dạng di vật của quá khứ. Bởi vậy; tuy kỳ vĩ và đầy bí ẩn; nhưng ít mang màu sắc của sự huyền bí. Riêng không gian của văn minh Đông Phương cổ; đã để lại cho nhân loại một di sản văn hóa phi vật thể. Do đó; ngoài sự bí ẩn còn là sự huyền bí và thách đố tất cả những tri thức của nhân loại hiện đại. Đó chính là nền Lý học Đông phương. Những hệ quả ứng dụng của nền lý học Đông phương tỏ ra rất hữu hiệu trên thực tế nhằm phục vụ con người. Từ y lý; thiên văn lịch số; xây dựng đến cả sự tiên tri cho số phận của từng con người….Nhưng tất cả cứ như từ trên trời rơi xuống và xuất phát từ một phương pháp luận rất mơ hồ: Phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành; mà cho đến bấy giờ người ta vẫn chưa công nhận tính hoàn chỉnh và nhất quán của nó. Không ít học giả vẫn cho rằng: Thuyết Âm Dương và Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt; không liên quan đến nhau và thậm chí phủ nhận Ngũ hành trong ứng dụng.

Nếu chúng ta quán xét kỹ thì trong sự mờ ảo hỗn độn của nền Lý học Đông phương có một hiện tượng cũng bí ẩn một cách kỳ vĩ; đó chính là Hà Đồ. Hà đồ được coi như một linh vật thiêng liêng đầu tiên của tạo hóa ban tặng cho con người: Người ta quan niệm rằng: Kỳ Lân – Một linh vật thiêng liêng trong tứ linh thuộc huyền thoại Đông Phương – đã mang Hà đồ đến cho vị thánh nhân đầu tiên của con người và khởi đầu cho nền lý học Đông phương huyền bí: “Phục Hy tắc Hà đồ hoạch quái”.

Dịch viết: “Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”. Hà Đồ chính là sự khởi nguồn của kinh Dịch; một kỳ thư nền tảng của lý học Đông phương.

Sự huyền bí đến kỳ vĩ của Hà đồ không chỉ ở huyền thoại tạo ra nó; mà còn bởi chính nội dung của nó; thách đố trí tuệ của nhân loại trải đã hàng thiên niên kỷ cho đến tận bây giờ: Sự căn nguyên của thuyết Âm Dương trong kinh Dịch lại chính là Hà Đồ mang nội dung Ngũ hành?

Như vậy; ngay từ nguyên lý căn để của Lý học Đông phương là Hà Đồ – tự thân nó tạo ra mâu thuẫn hoàn toàn mang tính phủ định – đã tạo nên sự bí ẩn kỳ vĩ đến huyền bí của một nền văn minh đã chìm sâu trong quá khứ.

Trải hàng thiên niên kỷ; đã bao nhiêu giấy mực viết về Hà Đồ; theo thống kê của tác giả Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh – trong cuốn: Kinh Dịch - Cấu hình tư tưởng của Trung Quốc – thì tính từ thời Tiên Tần đến nay đã có hơn 150 đầu sách viết về Hà Đồ bằng tiếng Hán. Thậm chí người Hoa Hạ đã có hẳn một môn: “Hà Đồ học”; nhưng người ta vẫn chưa biết gì về bản chất của Hà Đồ. Nói theo cách nói của Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng:

“Bí ẩn vẫn hoàn bí ẩn”.

Điều kỳ lạ là hầu hết những bản văn cổ chữ Hán khi nói đến Hà đồ thì có vẻ như nó là đồ hình căn bản của lý học Đông phương. Ngay từ sách Thượng Thư; thiên Cổ Mệnh cũng ghi: ”Vách bên trái cung điện của Văn Vương có vẽ Hà Đồ”.

Khi luận về Kinh Dịch thì từ thời Tiền Hán cho đến nay; hầu hết các học giả và nhà nghiên cứu trên thế giới đều biết:

“Phục Hy tắc Hà Đồ hoạch quái” và những quái hoạch đầu tiên – Tiên thiên bát quái - bắt đầu từ Hà Đồ. Nhưng trong sự ứng dụng theo phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ cổ thư chữ Hán; thì Hà Đồ lại có vẻ như không hề đóng một vai trò gì quan trọng trong thực tế ứng dung?!

Sự huyền bí của Hà Đồ cũng không phải chỉ dừng ở đấy. Nguyên ủy xuất xứ của Hà Đồ là một đồ hính bí ẩn xuất hiện trên lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà; vua Phục Hy thấy được và căn cứ vào đó để hoạch quái; tạo ra tiền đề cho môn Dịch học kỳ vĩ của văn minh Đông phương. Điều huyền bí và kỳ lạ này trải đã hàng ngàn năm và cho đến tận ngày hôm nay; như một tiên đề của Lý học Đông phương. Khi các nhà nghiên cứu viết về Kinh Dịch, hoặc những vấn đề liên quan đến nó thì đều nhắc tới sự huyền bí khó tin này; như sự chấp nhận một thực tế đã tổn tại?

Nhưng từ cái đồ hình trên Long Mã này, liên quan gì đến các phương pháp ứng dụng của học thuật Đông Phương?

Trong Phong thủy chăng? Không thấy nói đến! Vì phi tinh; phân cung thảy đều căn cứ vào Lạc thư?

Trong bói Dịch chăng? Không thấy ứng dụng thực tế! Vì 64 quẻ Hậu thiên căn cứ vào đồ hình Hậu thiên theo bản văn vhữ Hán chỉ liên hệ với Lạc Thư.

Trong Tử Vi chăng? Không rõ ràng; ngoại trừ thiên bàn Tử Vi có chiều ngũ Hành tương sinh thuận giống Hà Đồ. Ngay cả trong Thái Ất phân cung; tính sao; tìm cục đều liên hệ với số Lạc Thư.

Vậy Hà Đồ đóng vai trò gì trong nguyên lý lý học Đông phương và có liên hệ với thực tế ứng dụng của nó? Điều này cổ thư chữ Hán không hề thể hiện; không phải bấy giờ mà đã hàng ngàn năm trôi qua.

Nếu khiên cưỡng mà nói rằng: Từ Hà Đồ vua Phục Hy làm ra Tiên Thiên Bát quái; mà Tiên thiên bát quái là cơ sở của Dịch; do đó: Hà Đồ chính là đồ hình căn bản của Lý học Đông phương. Nhưng với cách giải thích y như trong Kinh này; chúng ta sẽ không thể chỉ ra và chứng minh cho mối liên hệ (Dù chỉ tạm chấp nhận ở tính hợp lý cho mối liên hệ đó) từ một đồ hình được gọi là Hà Đồ với hệ quả trực tiếp của nó là Bát quái Tiên Thiên.

Nhưng; vi diệu thay! Trong nền văn minh Lạc Việt thì lại có một hình vẽ kỳ bí khẳng định một uy lực thiên nhiên chi phối tất cả vạn pháp có liên hệ với Hà Đồ. Đó chính là bức tranh thờ Ngũ Hổ phường Hàng Trống thuộc về văn minh Lạc Việt. Phải chăng bức tranh này chính là chiếc chìa khóa mở cánh cửa huyền bí một cách kỳ vĩ của văn minh Đông Phương?

Viết tiểu luận này; người viết không lượng sức mình; chẳng quản tài hèn; trí thiển làm chuyện “Nực cười! Châu chấu đá xe.”; chứng minh cho một nguyên lý căn để của nền lý học Đông phương; không như những điều trải hàng ngàn năm mà cổ thư chữ Hán nói tới. Nguyên lý này chính là Hà Đồ và thuộc về văn minh Lạc Việt.

Tiểu luận “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt” là một sự tiếp tục của những sách mà tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã nói tới và đi sâu vào một chuyên đề tìm bản chất của Hà Đồ trong nền lý học Đông phương và là sự minh chứng rõ nét hơn cho một tiểu luận đã trình bày trong website Tuvilyso.com:Định mệnh có thật hay không?”. Chính vì là sự tiếp tục này và để thuận lợi trong việc minh chứng; người viết xin được lặp lại không ít những luận điểm đã trình bày. Người viết cho rằng đây là điều cần thiết nhằm chứng tỏ tính hoàn chỉnh và nhất quán của một luận điểm và là sự tiện lợi chung cho tất cả những quí vị lần đầu tìm hiểu một luận điểm mới về cội nguồn và bản chất lý học Đông phương. Người viết hy vọng rằng: Tuy có sự lặp lại một số luận điểm đã trình bày; nhưng sẽ được các quí vị quan tâm đã xem những bài viết trước vui lòng lương thứ; vì nó nhằm diễn tả và minh chứng cho một chủ đề khác là sự phát triển tiếp tục của các luận điểm đã nêu.

Trong tiểu luận này:

Phần trích dẫn được thể hiện bằng chữ có hiển thị “màu xanh blue” .

Chính văn của người viết thể hiện bằng chữ “đứng” viết thường.

Tất cả những chữ “đậm” do người viết thực hiện.

Mặc dù đã hết sức cố gắng; nhưng do tài trí còn kém cỏi so với ước vọng thực hiện đề tài; bởi vậy; rất hy vọng những cao nhân trí giả quán xét và cho ý kiến đóng góp quí báu.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.



Thiên Sứ

Còn tiếp:

LỊCH SỬ HÀ ĐỒ TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN

Thiên Sứ
07-07-2005, 12:57 PM
LỊCH SỬ HÀ ĐỒ TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN

Hầu hết những ai đã từng xem một cuốn sách nói về Kinh Dịch thì đều được biết đến Hà Đồ qua một câu của Hệ từ:
“Hà xuất đồ; lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”
Trong Chu Dịch; duy nhất chỉ có một dòng như vậy nói đến Hà Đồ. Tính mơ hồ của nó đã sinh ra bao truyền thuyết thần kỳ. Cho đến tận bây giờ; thực chất Đồ thư là cái gì chưa thấy ai bàn được rốt ráo. Đã có hẳn một môn “Hà đồ học” với hàng trăm đầu sách viết về Hà Đồ; nhưng Đồ Thư vẫn là những đồ hình bí ẩn.

Trong những cuốn sách nghiên cứu về lý học Đông phương thì – với tôi – có lẽ cuốn “Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương“ của Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng là một bản tổng kết khá hoàn chỉnh về những tài liệu chủ yếu nói về Hà Đồ. Bởi vậy; tôi xin trích dẫn tư liệu trong sách này để quí vị tham khảo. Đoạn sau đây trích trong chương I có tựa là:

http://lyhoc.viettop.net/hdlt.jpg

LONG ĐỒ - QUI THƯ :
(Trong các đoạn trích dẫn từ sách này (Từ trang 77 đến trang 90); tôi lược bỏ những phần phiên âm Hán Việt và phần chữ Hán trích kèm minh họa trong nguyên văn)

http://lyhoc.viettop.net/HaDo-LacThu1.png

A – Nguồn gốc
Nói tới Dịch Lý Đông phương; trước hết phải nói tới Hà Đồ và Lạc Thư.
“Hà đồ Lạc thư vốn là nguồn gốc của quái hoạch” (Đồ thư cố thị quái hoạch chi nguyên). Quái hoạch lại là dấu hiệu tượng trưng cho Âm Dương động tĩnh; biến dịch; doanh hư; sinh thành…Hà Đồ Lạc thư chính là hai tài liệu nền tảng của vũ trụ quan Đông phương. Các bậc thánh nhân; sau khi thấy con Long Mã phụ đồ; con Linh Qui phụ thư xuất hiện ở hai sông Hà; Lạc bèn bắt chước theo; rồi đem dung. Từ đó có Tiên Thiên và Hậu thiên bát quái..v.v..và có cả một hệ thống ý niệm về vũ trụ và nhân sinh. Vì vậy; ngay ở đầu sách “Chu Dịch bản nghĩa” ; Chu Hy đã giới thiệu Hà Đồ Lạc Thư bằng hình vẽ và chú thích sau đây:
“Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc; đấng thánh nhân bắt chước theo”

Như vậy – qua đoạn trích dẫn trên - khi so sánh giữa câu trong Hệ Từ:
“Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”
với câu “Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc; thánh nhân bắt chước theo”; quí vị nhận thấy rằng: Đây là hai nội dung khác hẳn nhau. Câu trên là hiện tượng; câu dưới là cách hiểu hiện tượng mà nội dung câu trên đặt ra.
Nhưng cũng tại sao lại có sự khẳng định này từ ông Chu Hy – Một sự khẳng định đã trải hàng thiên niên kỷ cho đến tận bây giờ? Ông đã căn cứ vào đâu để viết những điều này? Chúng ta tiếp tục quán xét đoạn trích dẫn tiếp theo:

Lại nói: “Trời 1; đất 2; trời 3; đất 4; trời 5; đất 6; trời 7; đất 8; trời 9; đất 10. Trời có năm số; đất có 5 số. Năm ngôi tương đắc đều hợp nhau. Số trời có 25; số đất có 30/ Con số này hình thành sự biến hóa và điều hành việc quỉ thần. Đó là số của Hà đồ Lạc thư lấy tượng rùa; cho nên số của nó thì: Đầu đội 9; chân đạp 1; sườn trái 3; hông phải 7; vai mang 2/ 4; chân đi 6/8.
Thái Nguyên Định nói: “Về cái tượng của Đồ Thư thì từ Khổng An Quốc; Lưu Hâm đời Hán; Quan Lăng tự Tử Minh đời Ngụy; đến Khang Tiết tiên sinh là Thiệu Ung; tự Nghiêu Phu đời Tống; ai cũng đều bảo như vậy. Đến Lưu Mục; ông đổi tên cả hai số và được các học giả dùng theo”.
Khảo sát về Hà đồ; Lạc Thư ta thấy người đầu tiên đã ghi lại nguồn gốc xa xưa của chúng là Khổng An Quốc đời Hán. Họ Khổng viết: “Đời Phục Hy có con Long Mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà. Nhà vua bèn bắt chước theo những vằn của nó để vạch Bát Quái gọi là Hà Đồ. Đời vua Vũ có con thần qui xuất hiện trên sông Lạc. Nhà vua bèn nhân đó sắp đặt thứ tự thành 9 loại; gọi là Lạc Thư.
Theo Từ Nguyên của Trung Hoa thì Phục Hy là vị vua thời Thái Cổ Trung Hoa; tượng trưng cho ánh sáng mặt trời; mặt trăng nên gọi là Thái Hạo. Ngài dạy dân cày ruộng; đánh cá; chăn nuôi các giống vật tế thần để sung vào việc bếp nước nên gọi là Bào Hy. Ngài vạch quái làm thư khế; ở ngôi được 115 năm; truyền dược 15 đời; gồm 1260 năm.


Trong sách đã dẫn; các nhà lý học còn chỉ ra rất cụ thể về địa danh Hoàng Hà và Lạc Thủy như sau:

Hà tức sông Hoàng Hà; là con sông lớn bực nhì Trung Quốc sau Dương Tử. Ngày xưa sông này chỉ gọi là Hà; nhưng về sau người Tàu gọi Hoàng Hà vì nó có nhiều cát vàng. Hoàng Hà xuất phát từ ngọn núi Ba Nhan Khách Thích miền Thanh Hải; chảy về Đông vào tình Cam Túc; chéo lên Đông Bắc qua Tràng Thành tới Tuy Viễn; quặt về nam qua Sơn Tây; Thiểm Tây; Hà Nam; lại chéo về Đông Bắc qua Trục Lệ; Sơn Đông rồi ra bể; dài hơn 8800 dặm. Sông Lạc tức Lạc thủy; phát nguyên từ Thiểm Tây; chảy về Đông Nam qua Bảo An; Cam Tuyền rồi hợp với sông Vị để cùng chảy theo phía Đông vào Hoàng Hà.

Cũng trong sách đã dẫn; những nhà lý học sau Hán còn miêu tả chi tiết con Long Mã cứ như thật và có vẻ còn thật hơn cả quái vật hồ Lokneet:

Long Mã là một con ngựa giống như rồng. Nói Mã Đồ tức là nói chuyện con Long Mã mang tấm đồ xuất hiện trên sông Hà thời Phục Hy. Về sau; khi Đế Nghiêu lên ngôi; Long Mã lại xuất hiện; mình xanh mà vằn đỏ; có mang sách mệnh trời ban cho vua để trị thiên hạ; trong đó ghi rõ việc hưng vong (Từ Nguyên theo sách “Thượng Thư trung hậu”)

Theo sách” Kỳ môn ngữ tổng quy” thì con Long Mã cao 8 thước 5 tấc (Thước Tàu); xương cổ dài; cánh bên phải nhúng xuống nước mà không ướt; trên đó thánh nhân để bức đồ cổ (Tấm đồ xưa). Long Mã xuất hiện trên sông Mạnh Hà còn gọi là Mạnh Độc thuộc huyện Vũ Tiến tỉnh Giang Tô; Trung Hoa.

Những tài liệu của Từ Nguyên trên đây tỏ ra khá tỷ mỷ; khá đầy đủ và rõ ràng. Nhưng thực ra xuất xứ của Đồ thư vẫn bao trùm bí mật và hoài nghi. Bởi vậy; nhiều cuộc bàn cãi sôi động của tiên Nho càng ngày càng gây thêm sự hào hứng. Nhiều bộ sách cổ từ ngày xửa ngày xưa được lôi ra để chứng minh cho xuất xứ lạ kỳ quái đản. Mâu thuẫn càng tăng; dị biệt càng lắm; bí mật càng thêm bí mật.

Sách “Tống thư phù thụy chi” kể rằng:
“ Khi vua Vũ quan sát sông Hà để trị thủy; thấy một người mình cá rất dài xuất hiện. Người này nói: “Ta là Hà Tinh đây!”. Nói xong; trao Hà Đồ cho vua Vũ; bàn việc trị thủy xong; bèn lui tới vực sâu.

Sách “Vỹ thư”; phần Xuân Thu; thiên Nguyên mệnh bào lại kể khác:
“Vua Nghiêu ra chơi hai sông Hà ; Lạc thấy một con rồng đỏ mang tấm đồ xuất hiện.

Sách “Thượng thư trung hậu” không bảo vua Nghiêu; vua Vũ mà lại bảo:
“Vua Thuấn đến Hạ Tắc thì thấy con rồng vàng mang đồ xuất hiện”.

Sách “Luận ngữ sấm ngôn”; trái lại; bảo khi cả vua Nghiêu; và Thuấn cùng đi chơi tới sông Hà và Núi Thủ thì thấy năm ông lão báo cáo cái ngày con Long Mã ngậm tấm đồ xuất hiện.

Đến sách “Hà Đồ”; thiên Đĩnh tá phụ thì Nghiêu; Thuấn; Vũ đều không phải cả mà lại là Hoàng Đế. Sách này nói:
Thiên Lão (Tên một vị quan) tấu với Hoàng Đế: Sông Hà có Long đồ; sông Lạc có Qui thư. Nhà vua nghe lời; ra chơi sông Quỷ Thủy thấy con cá lớn xuất hiện. Khi cá lăn thì tấm đồ hiện ra.

Sách “Trúc thư kỷ niên” còn ghi trường hợp Thiên Lão tâu với Hoàng Đế như sau:
: Năm thứ 50; đời Hoàng Đế sương mù dày đặc. Nhà vua hỏi thì Thiên Lão thưa: “Trời muốn cho ngài những điều huấn giáo quan trọng; ngài chớ nên phạm”. Trời bỗng mưa lớn; Hoàng Đế được đồ thư. Vì tích này nên Lý Bạch mới viết câu: “Thiên Lão chưởng đồ” trong bài Đại Lạp phú.

Nhưng phải đến “Sơn Hải kinh” của Quách Phác thì sự ngạc nhiên của chúng ta mới lên tới cùng độ. Sách này ghi rằng ở cả ba đời Phục Hy; Hoàng Đế và Liệt Sơn thị (Tức Thần Nông) đều có Hà đồ xuất hiện cả. Vì vậy Lý Quá trong sách “Tây Khê Dịch thuyết” mới cho biết cứ mỗi khi thánh nhân ra đời thì Hà Đồ xuất hiện; chứ chẳng riêng gì đời Phục Hy. Ông nói:
“Căn cứ theo Sơn Hải Kinh; ta thấy Phục Hy được Hà Đồ thì Hạ Hậu nhân đó nói Liên Sơn. Hoàng Đế được Hà Đồ thì người Thương nhân đó nói Qui Tàng; Liệt sơn thị được Hà đồ thì người Chu đó nói Chu dịch. Như vậy; Hà đồ không phải đạc xuất từ thời Phục Hy. Đức Khổng tử nói: “Chẳng thấy tấm đồ xuất hiện trên sông Hà thì đời ta hết rồi!”. Câu nói đó có nghĩa là cứ hễ có thánh nhân ra đời thì Hà Đồ xuất hiện. Bởi thế nên Phục Hy; Hoàng đế và Liệt Sơn thị đều được Hà Đồ mà làm dịch”.

Qua đoạn trích dẫn trên đây; quí vị cũng nhận thấy rằng: Hà Đồ qua bản văn cổ chữ Hán hoàn toàn được giải thích mang tính thần vật huyền bí có tính tôn vinh. Nhưng cũng qua các bản văn cổ chữ Hán; chúng ta không hề tìm thấy một sự khẳng định Hà Đồ như một cơ sở lý thuyết trong ứng dụng thực tế. Ngoại trừ việc cho rằng: Hà Đồ là cơ sở của Tiên thiên Bát quái; nhưng điều này cũng chỉ được nói tới như một tiên đề. Hay nói một cách khác: Trong các phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương – qua bản văn chữ Hán – người ta không thể tìm thấy tính ứng dụng của Hà Đồ. Nhưng Hà Đồ lại được coi như nguyên lý đầu tiên thiêng liêng và huyền bí đến kỳ ảo của nền lý học Đông phương? Sự mâu thuẫn này khiến nhà nghiên cứu nổi tiếng – Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng cũng phải chào thua mà đặt bút viết trong tác phẩm của ông:

Thật là loạn! Hậu thế chẳng biết sở cứ vào đâu! Phục Hy; Thần Nông; Hoàng Đế; Nghiêu Thuấn đều là những vị vua thời Thái cổ. Chữ nghĩa lúc đó chưa có; biết lấy gì ghi chép thành sách để tin dùng? Do đó hậu thế viết sách bất quá chỉ nghe truyền thuyết. Mà truyền thuyết thì mỗi nơi một khác; chẳng ai giống ai; nhất là thời xa xưa đó. Còn ở thời man rợ; loài người sống thành bộ lạc; trí thức nông cạn; chỉ ham mê vu nghiễn; ma thuật thì làm sao mà Đồ thư có một xuất xứ rõ ràng đích xác được.
Duy có một điều gây thắc mắc cho chúng ta hiện nay là đứng trước sự hỗn loạn của các truyền thuyết đó; tại sao Hán nho như Khổng An Quốc; Lưu Hâm; vv…lại dám quả quyết Đồ xuất hiện ở sông Hà thời Phục Hy; Thư xuất hiện ở sông Lạc thời Hạ Vũ? Chính sự võ đoán của Nho gia đầu tiên phát huy Dịch thuyết này đã gây nên những cuộc bàn cãi sôi nổi; những lời phê bình chỉ trích kịch liệt của đời sau; nhất là khi hậu thế không thể tin ở truyền thuyết mà chỉ biết căn cứ vào lời của Khổng tử trong Dịch hệ thượng: “Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc; đấng thánh nhân bắt chước theo đem ứng dụng”.

(Còn tiếp)
Thiên Sứ

Thiên Sứ
07-07-2005, 01:08 PM
Kính thưa quí vị!
Qua đoạn trích dẫn trên của giáo sư Nguyễn Hữu Lượng; quí vị cũng thấy sự hỗn tạp và đầy mâu thuẫn trong các bản văn chữ Hán nói về Hà Đồ. Và chính giáo sư tác giả cũng bị cuốn hút vào mớ bòng bong ấy; khi ông viết đoạn cuối: “trong Dịch Hệ thương:” Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc…”. Đây chính là lời của Khổng An Quốc và Lưu Hâm chú giải Dịch; chứ không phải ý nghĩa đích thực của câu này trong Hệ Từ của Kinh Dịch – mà ai cũng biết – chỉ vỏn vẹn là:
“Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”.
Để kiểm chứng lại; ai là người đầu tiên đưa ý nghĩa “Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc” có phải do đám Hán Nho đưa ra không; giáo sư tác giả đã viết:

Hán Nho có phải là người đầu tiên quả quyết như trên khiến hậu thế có người - Tiền Nghĩa Phương đời Nguyên – lên án họ là tội nhân của Dịch mà người đầu tiên chính là Khổng An Quốc: “Khổng An Quốc thành dịch chi tội nhân”.

Như vậy; với một mình Tiền Nghĩa Phương chưa đủ bằng cớ chứng tỏ Lưu Hâm và Khổng An Quốc là người đầu tiên chú giải dịch một cách chủ quan. Giáo sư tác giả còn cẩn thận khảo sát tiếp:

Phải hay không ta chỉ cần xem chú giải của Từ Nguyên qua hai chữ Hà Lạc thì rõ ngay:
Đây chú giải chữ Hà Đồ: “Khi vua Phục Hy làm vua thiên hạ; thấy con Long Mã mang tấm đồ xuất hiện trên sông Hoàng Hà bèn bắt chước những vằn nét của nó để vạch bát quái. Vằn nét của nó thì 1; 6 ở dưới; 2;7 ở trên; 3 và 8 ở bên tả; 4 và 9 ở bên hữu; còn 5; 10 ở giữa. Hà Đồ còn là tên một bộ sách ghi những lời sấm truyền đời xưa; do người đời Minh biên tập trong sách Cổ Vĩ Thư. Sách này có nhiều thiên: Quát Địạ tượng; Thủy khai quan; Giáng tượng; Kế Hạ câu; Đế Lâm hy; Đĩnh Tá phụ; Hà đồ Ngọc bản; Long Ngư Hà Đồ ….Lại còn có Lạc Thư sấm gồm những thiên: Linh Hoài thỉnh; Trích lục tích; Lục Vân pháp…. Sách này cùng với sách Hà đồ phụ tá lẫn nhau; cho nên đời mới gọi là sách “Hà Lạc đồ sấm”. Sách này đã mất từ lâu. Có người cố sưu tầm lại ; nhưng còn thiếu sót rất nhiều. Tùy thư kinh tịch chí chép: Hà đồ 20 quyển; Hà đồ Long văn 1 quyển. Đời Lương; Hà đồ; Lạc thư có 24 quyển; mục lục một quyển. Cả hai đều nói: Những sách đó xuất hiện từ thời Tiền Hán; có Hà đồ 9 thiên; Lạc thư 6 thiên; rồi từ Hoàng đế đến Châu Văn Vương lại có thêm 30 thiên khác nữa. Hai sách trên còn nói: Từ lúc sơ khởi đến Khổng Tử; những lời thêm pha vào 9 bậc thánh (?)được bọn tục nho lấy làm chuộng đem ra học hỏi khảo sát cho nên thiên mục ngày càng nhiểu mãi. Đời Tống; đời Lương mới bắt đầu cấm. Tùy Dạng Đế còn cho tìm sách đốt đi; nếu ai phạm pháp sẽ bị xử tử. Từ đó những sách này mới không ai học nữa.
Và đây chú giải chữ Lạc Thư: “Vua Đại Vũ trị thủy thấy con thần qui mang chữ có nét trên lưng; đếm số từ 1 đến 9; bèn nhân đó xếp đặt thứ tự làm thành 9 trù. Những nét đó được bố trí như sau: Đầu đội 9; chân đạp 1; bên tả 3; bên hữu 7; đôi vai 2;4; đôi chân 6;8 và giữa số 5. Theo Hậu Hán thư ngũ hành chí nói về thiên Hồng Phạm của Chu Thư thì từ trù 1 của Ngũ hành trở xuống có 65 chữ đều là bản văn của Lạc thư. Nhưng sách “Thư chính nghĩa” trưng dẫn thuyết của Lưu Hướng lại bảo 38 chữ là bản văn; và thuyết của Lưu Hâm thì chỉ có 20 chữ là bản văn. Những thuyết của Hán nho đều bảo Lạc Thư có văn tự chứ không thấy nói tới đồ. Đại Đái Lễ chép Minh Đường cổ chế có những điểm 2; 9; 4; 7; 5; 3; 8; 6; 1. Đó là phép Cửu cung. Về sau bọn phương kỹ dựa vào đó để phụ họa mà làm Lạc Thư. Đám hậu Nho sau này cũng theo thuyết đó”
Nhờ chú giải của Từ Nguyên trên đây; ta có thể tin đám Hán Nho là người đầu tiên đã quả quyết: “Đồ xuất hiện ở sông Hà đời Phục Hy; Thư xuất hiện ở sông Lạc đời Hạ Vũ”. Từ đó đến nay; mỗi người hình như lặng lẽ chấp nhận một sự võ đoán táo bạo của Hán nho không một phản ứng. Chẳng thế mà ngày nay các học giả Đông Tây; ai cũng đều cho sự kiện này như một sự kiện lịch sử hiển nhiên.

Như vậy; qua đoạn trích dẫn trên chúng ta đã nhận chân sự thật là: Huyền thoại Hà Đồ Lạc thư chỉ bắt đầu từ thời Hán. Chính văn Kinh Dịch / Hệ từ thượng chỉ viết:
“Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”.
Nhưng những luận điểm của Hán nho lại được coi là luận điểm chính thống về nguyên ủy của Hà đồ truyền tới ngày nay.
Bây giờ chúng ta tiếp tục tham khảo các luận điểm phản bác của chính các nhà nghiên cứu Trung Hoa trong lịch sử phát triển của nền văn minh này qua các đoạn trích dẫn tiếp theo.

Tuy nhiên không phải ai cũng dễ tính như ai! Ngay trong làng Nho; thiếu gì người lên tiếng đả kích Hán nho; nhất là đả kích Khổng An Quốc. Du Diễm đời Tống căn cứ vào câu nói của Khổng Tử trong Dịch hệ thượng: “Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sống lạc; Đấng thánh nhân bắt chước theo” mà cho rằng Đồ Thư đều xuất hiện ở thời Phục Hy; chứ không phải hai thời khác nhau như họ Khổng chia ra. Ông nói: Phục Hy bắt chước Hà đồ; Lạc thư mà hoạch quái. Thế mà Khổng An quốc lại bảo Phục Hy hoạch quái phải bắt chước theo Hà Đồ; còn Đại Vũ bày cửu trù phải bắt chước Lạc Thư. Vì sao họ Khổng lại chia làm hai như vậy? Sách “Cửu kinh biện nghi” của họ Trần xét theo Ngọc xuyên văn tập có nói: “Nếu bảo Phục Hy hoạch quái gốc Hà đồ thì Khổng Tử chỉ cần nói Đồ xuất hiện ở sông Hà; đấng thánh nhân bắt chước theo là đủ rồi. Hà tất phải nói gồm cả Lạc thư vào nữa làm gì? Đã nói: Bắt chước theo Đồ; Thư để làm Dịch thì như thế Đồ ; Thư đều phải có từ thời Phục Hy; chứ sao lại phải đợi mãi tới khi vua Vũ trị thủy sau này mới có Lạc Thư? Họ Du tiếp thêm: “Số của Dịch bất quá từ trời 1 đến Đất 10 chỉ có 55 số mà thôi; chứ chưa từng được mệnh danh là Hà đồ; cũng như chưa từng được mệnh danh là Lạc Thư. Thế mà Khổng An Quốc dám bảo “Thời Phục Hy có con Long Mã mang Đồ xuất hiện ở sông Hà; nhà vua thấy vậy bèn bắt chước theo để vạch Bát quái; gọi là Hà đồ; và thời Đại Vũ có con thần qui mang Thư xuất hiện ở sông Lạc; nhà Vua thấy vậy bèn nhân đó xếp đặt điểm số để lập thành cửu trù; gọi là Lạc Thư. Họ Khổng căn cứ vào đâu vậy?”.
Chưa hết; Du còn phê bác; chỉ trích nhiều điểm khác: “Thời vua Phục Hy chưa có văn tự. Nhà vua nhân những chấmcủa Hà Đồ; Lạc thư mà hoạch quái; chứ chẳng phải Đồ thư có những số trời sinh sẵn để cho ngài lấy dùng! Nếu Dịch Hệ từ nói: Ngửa trông tượng ở trên trời; cúi xem phép ở dưới đất; quan sát hình nét của chim muông cùng với sự thích nghi của đất; gần thì lấy ở mình; xa thì lấy ở vật. Do đó mới vách Bát quái. Vậy thì Phục Hy hoạch quái há chỉ riêng Hà đồ; Lạc thư thôi sao?”
“ Ngoài Dịch ra; không sách nào nói tới Lạc Thư . Thiên Vũ cống chỉ nói tới khơi sông Lạc chứ không nói tới Thư xuất hiện. Khổng An Quốc chú giải Hồng Phạm lấy Cửu trù làm Lạc thư; nên nói: Trời cho vua Vũ Lạc thư. Con thần qui mang Thư xuất hiện; nét chấm bày trên lưng; đếm số từ 1 đến 9. Nhà vua nhân đó xếp đặt điểm số để lập thành cửu trù. Nói như vậy; họ Khổng thực đã dùng số đội 9; đạp 1 của phép cửu cung trong Vĩ thư. Số Cửu cung là số của bọn thuật sĩ chứ đâu có phải số của Dịch! Trong sách Đại Đái Lễ; Minh Đường cổ chế có thuyết 2 – 9; 4 – 7; 5; 3 – 6;1 – 8. Họ Trình chú giải việc bắt chước theo nét chấm; điểm của con rùa vốn bắt gốc từ thuyết họ Khổng. Trương Nam Hiên nói: Trinh Khang Thành say mê Vĩ thư; lấy Hà Đồ làm Bát quái; Lạc thư làm cửu trù. Đó chỉ là điều dơ dáy làm nhớp Thánh Kinh mà thôi. Theo thiển ý của kẻ ngu này; thì Cửu trù mà Cơ tử trình bày không phải Lạc thư. Nếu lấy Cửu trù của Hồng phạmcố ép làm Lạc thư thì của Trung Dung cũng có thể cố ép làm Lạc thư được. Số Cửu cung mà Từ Hoa Tử; cũng như Kiền tạc độ đã nói đó;lúc đầu có ai biết số ấy là của Lạc thưvà cũng có ai lấy số ấy làm Hà đồ bao giờ đâu? Tô Đông Pha nói: Cửu cung chẳng có trong Kinh Dịch; bởi vì số mà Vĩ thư nói đó không phải Dịch số. Chu Tử nói: Đấng thánh nhân nói số thì nói một cách giản lược; cao xa; rộng rãi. Số Cơ; số Ngẫu; từ Trời 1 đến Đất 10 là số tự nhiên; số Đại diễn là số đếm cỏ thi: Kinh Dịch chỉ có hai số đó mà thôi. Kẻ ngu này xin thưa: Nếu bỏ hai số đó ra thì Dịch há chỉ còn lại có cái số gọi là số đội 9; đạp 1 nữa ư? Bọn Hán nho thực đã ghép bừa bãi vào đó thôi!”

Tiền Nghĩa Phương đời Nguyên cũng lên tiếng đả kich Hán nho. Ông chê cả Chu Tử; vì họ Chu đã nghe theo bọn Khổng An Quốc và Lưu Hâm đời Hán. Quốc và Hâm đều bào Phục Hy bắt chước Hà Đồ để vạch quái; hậu thế tin theo hết đời nọ sang đời kia mà chẳng biết tỉnh ngộ. Hiền tài như Chu Tử mà cũng không tránh khỏi quanh co khúc thuyết; cuối cùng cũng chẳng thông hiểu vấn đề!”
Đến cả Chu Tử vốn một tay kiệt hiệt trong làng Nho mà còn chẳng hiểu vấn đề. Thử hỏi những kẻ dung tài; lục lục thử bối; xa tải đấu lượng (Lúc nhúc như lũ chuột; đông đến nỗi lấy xe mà chở; lấy đấu mà đong cũng không hết) thì còn hiểu được gì nữa?
Họ Tiền còn trách Khổng An Quốc lầm lẫn không phải chỉ có một đối với Dịch. Ông nêu ra luận về chế khí thượng tượng gốm 13 quẻ thì lưới vó một việc do Phục Hy; giao dịch hai việc do Thần Nông và thư khế 9 việc là do Hoàng đế; Nghiêu; Thuấn. Những sự kiện này ghi chú hết sức phân minh; thế mà Khổng An Quốc khi viết tựa sách cho mình lại đưa thư khế của Hoàng Đế; Nghiêu; Thuấn qua cho Bào Hy. Đức Khổng Tử còn nói: Bào Hy ngửa trông; cúi xét để vạch Bát quái; thế mà An Quốc dám bảo Bào Hy bắt chước Hà Đồ để vạch Bát quái! Lưu Hâm tin thuyết của Khổng An Quốc nên nối gót lý luận. Thực ra; An Quốc lầm ở trước; Lưu Hâm lầm ở sau; hậu thế tin theo; ngàn thu nhất luật! An Quốc chính là người có tội đối với Dịch!”

Sau khi kết án như vậy; Tiền Nghĩa Phương viện dẫn lời bình luận của Dương Tử Văn tức Dương Hùng về những kẻ “hồ ngôn loạn thuyết” này: “Họ nói lộn xộn; tạp nhạp có hại cho chư thánh”
Mặc dù có những Nho gia cao lời chỉ trích như trên; nhưng hậu thế vẫn vui lòng chấp nhận sự võ đoán của Hán nho. Phải chăng đó là do tính dễ dãi của đại chúng? Đại chúng dễ tính chỉ vì đọa tính câu thúc hoặc vì kém trí để tìm tòi kê cứu thì chẳng nói làm gì! Các nhà tri thức tên tuổi ở nhiều thời mà cũng chẳng có ý kiến đối nghịch nào thì quả thật đáng chê trách. Thái Tây Sơn kể rằng: Truyện ký xưa nay cho rằng Khổng An Quốc; hai cha con Lưu Hướng và Ban Cố đều lấy Hà Đồ dành riêng cho Phục Hy; Lạc thư dành riêng cho Đại Vũ. Còn Quan Tử Minh; Thiệu Khang Tiết thì lại lấy số 10 làm Hà Đồ; lấy số 9 làm Lạc thư
Đối với Du Diễm; những Nho gia theo thuyết của An Quốc như Quan Tử Minh chẳng hạn; đều lầm cả! Ông công kích Tử Minh và Lưu Mục: Quan Tử Minh lấy số 55 làm Hà Đồ; lấy số 45 làm Lạc thư. Lưu Mục lại đổi ngược hai số; lấy 55 làm Lạc thư; lấy 45 làm Hà Đồ. Có thể nói lấy lầm lại đổi lầm vậy!
Tại sao Hán Nho lại lầm lẫn quá vậy?
Chỉ tại họ dùng “Vĩ thư” để chú giải kinh điển. Theo Từ Nguyên thì “Vĩ thư” là một bộ sách dựa vào nghĩa của kinh điển để nói về bùa chú điềm mộng: “Bộ sách này gồm 7 loại: Dịch Vỹ; Thư Vỹ; Thi vỹ; Lễ Vỹ; Nhạc Vỹ; Xuân Thu Vỹ; Hiếu Kinh Vỹ. Vì sách có 7 loại nên còn gọi là “Thất Vỹ”. Sách nói Khổng Tử đã sáng tác; nhưng thực ra sách xuất hiện vào cuối thời Tây Hán. Cùng truyền với Vỹ Thư có “Hà Lạc đồ sấm”. Hán Quang Vũ vốn là người thích sấm vỹ; nên những sách này thịnh hành lắm. Đại Nho như Trịnh Huyền mà cũng đem ra chú giải. Do đó; Kinh Vỹ được đời rất trọng. Đến đời Tống; đồ sấm mới bị cấm. Tùy Dạng Đế sai người đi khắp nơi sưu tầm đem đốt đi. Những bản truyền ngày nay đều không đấy đủ.[/B]
Như vậy; Vỹ Thư vốn là một loại sách sấm ký; vu nghiễn; ít có điều xác thực đáng tin. Nó ghi lại những truyện truyền kỳ bí hiểm; thần thoại hoang đường. Ấy chính Vỹ Thư đã để lại biết bao điều sai bậy mà Du Diễm nêu ra để chỉ trích Hán Nho: “Vỹ Thư có hiều sai bậy; thế mà Hán Nho cho đó là sách của Khổng Tử nên dùng để chú giải Kinh Điển! Có thể nói là lấy bậy để tập bậy vậy!”
Vậy chủ trương của Du Diễm - kiện tướng số một chống Hán Nho – như thế nào? Ông không cho phép Hán Nho chia Hà đồ; Lạc thư ra làm hai thời khác nhau. Ông căn cứ vào câu nói của Khổng Tử trong Hệ từ để quyết rằng thánh nhân đây chỉ Phục Hy và Phục Hy đã lấy cả hai Đồ ; Thư để hoạch quái. Đối với ông ta; Đại Vũ không liên quan gì tới Lạc thư; và Lạc thư không xuất hiện ở thời Hạ Vũ. Ông nói: “Nay ta xét câu nói của Đại truyện: Đồ xuất hiện ở sông Hà; Thư xuất hiện ở sông Lạc; đấng thánh nhân bắt chước theo. Thánh nhân đây chỉ Phục Hy; Phục Hy khi hoạch quái lấy nguyên tắc từ ở Hà đồ và Lạc thư”
Còn Tiền Nghĩa Phương - kiện tướng bậc nhì chống Hán Nho - chủ trương của ông ra sao? Trong một cuộc phỏng vấn về lý do tại sao người xưa nói tới Hà Đồ liền nhắc luôn tới Lạc Thư mà riêng ông lại loại bỏ Lạc thư ra ngoài; thì ông trả lời:” Hà đồ được vua Phục Hy lấy đem dùng đã hơn ngàn năm; rồi Lạc thư mới xuất hiện. Đức thánh ta (Khổng Tử) lấy cả hai; chẳng qua vì hai việc Long Quy phụ văn xuất hiện ở hai sông Hà Lạc giống nhau. Đến khi đấng thánh nhân bắt chước đem dùng để khai sáng mọi vật; hoàn thành mọi việc thì công dụng của chúng cũng giống nhau. Đó tức là lấy lý mà suy số. Hai việc ấy lại có thể tương thông nhau; cho nên ngài đều nói tới cả hai chứ không phải bảo cứ làm Dịch là phải lấy cả Lạc thư. Vì phát minh Dịch lý nên căn cứ vào Hà đồ chứ không căn cứ vào Lạc thư; đó là điều nên lắm.
Đến đời Minh; một người chủ chương dung hòa xuất hiện. Đó là Hồ Cư Nhân. Ông chủ trương tương tự Du Diễm cho rằng: Đồ thư đều xuất hiện ở thời Phục Hy; nhưng không loại bỏ Lạc thư và Hạ Vũ ra ngoài như Tiền Nghĩa Phương. Ông nói: “Đồ và Thư đều xuất hiện ở đời Phục Hy. Đời thường nói: “Trời cho vua Vũ Hồng Phạm cửu trù”; phải chăng là đến thời vua Vũ; nhân vì việc truyền bá Lạc Thư mà phải diễn cái nghĩa của nó thành Cửu Chương đại pháp; chứ chẳng phải đến thời vua Vũ Lạc thư mới xuất hiện. Hoặc có kẻ nói: “Cùng với Qui thư thông dụng ở đời vua Vũ; còn có Huyền khuê là điềm lành”. Nhân vua Vũ diễn ra để làm trù; nên nói: “Trời cho vua Vũ Hồng phạm cửu trù”; lại nói: “Vũ cho Huyền khuê; báo cáo sự thành công”.
Ai đúng? Ai sai? Ai phải? Ai trái? Thật khó trả lời. Một thời đại quá xa xôi; như thời đại Phục Hy; Hạ Vũ; không thể cho phép chúng ta khảo cứu tường tận được vấn đề. Hơn nữa; những sử liệu bác tạp rải rác khắp nới; thường chịu cái cảnh tam sao thất bổn; không thể có một sự chuẩn xác đáng tin cậy. Chấp nhận ý kiến của Hán Nho chỉ là sự bất đắc dĩ; mà phủ nhận những phản ứng của hậu nho lại là một điều chẳng nên. Nếu bảo:
“Từ những cuộc thảo luận nảy sinh ánh sáng” thì trong trường hợp này; quả chưa có một ánh sáng nào khả dĩ phá tan được màn bí mật vẫn bao trùm nguồn gốc của Đồ Thư.

(Còn tiếp)

Thiên Sứ

Thiên Sứ
07-07-2005, 01:16 PM
Tiếp theo

Như vậy; qua phần trích dẫn trên; quí vị cũng nhận thấy một điều là:
Xuất xứ Đồ thư trong bản văn chữ Hán hết sức mơ hồ. Tất cả những luận điểm của Hán Nho và Hậu Nho tuy trải hàng Thiên niên kỷ; nhưng cho nay vẫn chưa hề có một sự sáng tỏ về bản chất đích thực của Đồ thư.
Nhưng sự bí ẩn này không chỉ dừng lại ở cội nguồn xuất xứ của hai đồ hình này mà còn là thời điểm xuất hiện của nó. Chính thời điểm xuất hiện của Đồ Thư trong lịch sử văn hóa Hán đã góp phần làm tối thêm sự huyền bí của văn hóa Đông phương và là nguyên nhân chính tạo ra các luận điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu hiện đại liên quan đến thuyết Âm Dương và Ngũ hành. Nhưng tại sao đám Hán Nho và Hậu Nho sau đó lại có thể tiếp tục tin vào những điều huyễn hoặc tạp loạn như vậy?
Theo người viết cho rằng: Đồ Thư không phải đơn giản chỉ thấy nói đến trong Kinh Dịch và những sách Sấm Vỹ. Mà nó còn được bảo chứng trong một câu nói nổi tiếng trong sách Luận Ngữ (Thiên Tử Hãn) vốn được coi là của Khổng Tử là:

“Phượng điểu bất tri; Hà bất xuất Đồ. Ngô dĩ hĩ phù”

Với câu này; hầu hết các sách tự cổ chí kim đều hiểu như sau:
“Không thấy chim Phượng Hoàng xuất hiện; chẳng thấy tấm đồ trên sông Hoàng Hà; ta không còn hi vọng nữa”.
Như vậy; cùng với Hệ từ trong Kinh Dịch - vốn được coi là của Khổng tử - thì chính Luận Ngữ đã bào chứng cho hiện tượng con Long Mã trên sông Hoàng Hà một cách hợp lý trong tri thức của con người hơn 2000 năm trước; được bổ sung cho đến bây giờ! Sự hợp lý này cũng giống như sự hợp lý của trái Đất vuông trong tri thức của văn minh Âu Châu thời Trung cổ vậy.
Luận Ngữ và Hệ từ trong Kinh Dịch đều được coi là cùng do Khổng Tử viết. Khổng Tử lại được coi là người sáng lập Nho giáo; thì đám Hậu Nho làm sao dám bác bỏ với cách hiểu như trên?! Tất nhiên; điều này đã làm cho vấn đề trở nên tạp loạn và huyễn ảo trải hàng thiên niên kỷ cho đến tận bây giờ. Xin quí vị tiếp tục xem những đoạn trích dẫn sau đây; trong sách: “Bí ẩn của Bát quái” (Nxb VHTT 1993. Giáo sư: Vương Ngọc Đức; Diêu Vĩ Quân; Trịnh Vĩnh Tường. Người dịch Trần Đình Hiến; từ nguyên bản tiếng Hán do Nhân dân Quảng Tây xuât bản xã ấn hành); chứng tỏ điều này.
Sách viết:

Hà đồ Lạc thư là gì? Từ xưa đến nay có rất nhiều người thử tìm hiểu mong tìm ra câu giải đáp. Đã hình thành môn “Hà Đồ học”; nhưng chưa có ai giải đáp được câu hỏi này.
Trong thư tịch cổ; Thượng Thư; Cố mệnh là sách ghi chép sớm nhất về Hà Đồ. Chép rằng: Sau khi Văn Vương chết; tại trái nhà phía Đông có trưng bày Hà Đồ. Cố mệnh truyện gắn Hà Đồ với Bát Quái. Phục Hy cầm đầu thiên hạ; có con Long Mã nhô lên mặt nước; do đó; phỏng theo văn của nó mà vẽ Bát quái ; gọi là Hà đồ. “Xuân Thu vĩ” thì tán thưởng: “Hà thông với Càn (Trời); nhô lên hoa thần; Lạc chảy vào Khôn (Đất) nhả Địa phù”. Ngay cả Chu Dịch; Hệ từ cũng chép: “Hà xuất đồ; Lạc xuất thư thánh nhân tác chi”.
Từ thời Hán đến thời Tống; luôn có những cuộc tranh luận về Hà Đồ Lạc thư. Đến khi Chu Hy biên soạn “Dịch học khởi mông” thì mới có kết luận sơ bộ; còn như thời Tiên Tần có Hà đồ Lạc thư hay ko thì vẫn là một câu hỏi”.

Trong sách “Chu Dịch và dự đoán học” ông Thiệu Vĩ Hoa viết:

Thuyết “Hà đồ” “Lạc Đồ” trong cuốn Thượng Thư của Tiên Tần. Luận ngữ của Mạnh Tử và trong Hệ từ đều có ghi lại. Nhưng “đồ “ và “thư” thực chất là cái gì; chưa có ai nhìn thấy; càng chưa thấy ai nói đến.. Trước thời Tống; không ít Dịch gia khi viết về Dịch; rất ít nói đến “Hà đồ” “Lạc đồ”; một vài người có nói đến thì cũng chỉ lướt qua. Phong trào nói đến “Hà đồ” “Lạc thư” vào những năm Thái bình hưng quốc (Niên hiệu Tống Thái Tôn).”

Như vậy – mặc dù từ thời Hán – các đồ hình căn bản của lý học Đông phương như: Hà đồ; Lạc Thư; Tiên Thiên Bát quái; Hậu thiên Bát quái đều được nhắc tới theo cổ thư chữ Hán. Nhưng thời gian thực tế lại do các Đạo gia Thiệu Khang Tiết và Trần Đoàn công bố vào đời Tống cách đời Hán cả hàng ngàn năm. Qua các đoạn trích dẫn chứng minh ở trên; quý vị cũng nhận thấy tính bất hợp lý về trình tự thời gian theo kiểu đèn cù trong sự xuất hiện các hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương và Ngũ hành trong các bản văn chữ Hán: Chính vì tính bất hợp lý đó đã khiến nhiều nhận xét và ý kiến khác nhau; thậm chí mâu thuẫn gay gắt; dẫn đến tự phủ định về lịch sử và nội dung của thuyết Âm Dương và Ngũ hành.
Điều rất đáng lưu ý với quí vị quan tâm là:
Qua các đoạn trích dẫn trên cho chúng ta thấy - Dù phản bác hay công nhận – thì cả hai phe công kích nhau kịch liệt ấy đều mặc nhiên thừa nhận:

Con Long mã hiện trên sông Hoàng Hà mang Hà Đồ và con thần Qui hiện trên sông Lạc Thủy mang Lạc Thư .
Cuộc tranh luận bằng những “luận cứ” kiểu này với Hà Lạc; cũng giống như việc các giáo sĩ tranh luận xem các thiên thần đã dịch chuyển các vì sao trên bầu trời trái Đất bằng cách nào. Nghe nói cuộc tranh luận của các giáo sĩ thời Trung Cổ về cách vận chuyển các vì sao của các thiên thần; cũng rất ư là sôi nổi và không kém phần gay cấn. Người thì bảo họ chở sao bằng xe ngựa; người cãi lại thì cho rằng họ vác sao trên lưng như nhà nông vác bao bột từ cối xay lúa; kẻ thì nói thiên thần lăn sao trên trời như người ta lăn thùng rượu vậy….
Đương nhiên họ không thể tìm ra một cái đúng từ một căn bản sai lầm.
Vậy bản chất thật của Hà Đồ Lạc thư là cái gì? Trước khi chứng minh điều này từ văn minh Lạc Việt; xin quí vị tiếp tục tìm hiểu nội dung của Hà Đồ qua bản văn cổ chữ Hán.

Thiên Sứ

Còn tiếp

Thiên Sứ
07-07-2005, 01:27 PM
NỘI DUNG HÀ ĐỒ TRONG BẢN VĂN CỔ CHỮ HÁN
Tiếp theo

Trước thời Tần Hán; người ta không thể nào chứng tỏ được một bản văn miêu tả nội dung của Hà Đồ.
Ông Thiệu Vĩ Hoa đã viết trong cuốn “Chu Dịch và dự đoán học”:

“Thuyết “Hà đồ” “Lạc Đồ” trong cuốn Thượng Thư của Tiên Tần. Luận ngữ của Mạnh Tử và trong Hệ từ đều có ghi lại. Nhưng “đồ“ và “thư” thực chất là cái gì; chưa có ai nhìn thấy; càng chưa thấy ai nói đến”.

Đến đời Tống Hà Đồ Lạc Thư do Thiêu Ung (Tức Thiệu Khang Tiết) và Trần Đoàn mới công bố hai đồ hình này và Chu Hy kiến giải trong “Dịch học khởi mông” . Do đó; nội dung Hà đồ chỉ có thể tìm hiểu từ các trước tác của các nhà Lý học Tống Nho; mà tiêu biểu là Chu Hy; Trình Di. Nhưng tinh hoa của những trước tác của hai vị này lại nằm trong cuốn “Chu Dịch Đại toàn”. Bởi vậy; những kiến giải về nội dung của cuốn sách này sẽ là những tri kiến tiêu biểu. Xin quí vị xem đoạn trích dẫn dưới đây trích trong sách :Kinh Dịch. Dịch giả Ngô Tất Tố. Nxb T/p HCM 1991/Trang 14.

Kinh Dịch là một pho sách rất cổ trong triết học sử Á Đông. Từ đời nhà Hán trở đi đến đời nhà Thanh; kể có hàng trăm học giả chú thích. Mỗi nhà chú thích tất nhiên có bộ sách riêng. Học thức hẹp hòi như dịch giả (Tức Ngô Tất Tố. Người viết) ;cũng biết tên được vài chục bộ; lấy trí tưởng tượng mà đoán; số sách chú thích của các nhà Dịch học; ít ra cũng phải có hàng trăm bộ. Nguyên văn bản dịch này là bộ “Chu Dịch Đại toàn” của bọn Hồ Quảng và Kim Âu Tư vâng mệnh Thành Tổ nhà Minh mà soạn ra; nội dung gom góp hầu khắp các lời chú giải của tiên nho. Trong các kinh Dịch lưu hành từ trước đến giờ; bộ này đầy đủ hơn hết. Điều đáng nói là trong bộ Chu Dịch Đại toàn; soạn giả lấy hai cuốn Dịch truyện của Trình Di và Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hy làm phần chính; còn lời chú giải của các học giả khác chỉ là phần khảo cứu mà thôi…

Vậy các tiên Nho như Chu Hy… nói về nội dung Hà Đồ như thế nào. Xin quí vị tiếp tục xem đoạn trích dẫn sau đây:

* Đồ thuyết của Chu Hy
Hệ từ truyện nói:” Sông Hà hiện đồ;Sông Lạc hiện thư; thánh nhân bắt chước các thứ đó”; Lại nói: “Trời một; đất hai; Trời ba; đất bốn; Trời năm; đất sau; Trời bảy; đất tám; Trời chín; đất mười. Số của trời là năm; số của đất là năm”. Ngôi “năm” tương đắc với nhau mà số nào lại có sự hội họp của số ấy; thì số của trời là 25; số của đất là 30. Cộng cả số trời đất là 55. Đó là cái để làm thành sư biến hóa mà thông hành với quỉ thần. Ấy là số của Hà Đồ…”

* Lời bàn của tiên nho
Khổng An Quốc nói rằng:
“Hà đồ là khi họ Phục Hy làm vua thiên hạ; có con Long Mã hiện ở sông Hoàng Hà; họ ấy bèn bắt chước cái vằn ấy của nó để vạch ra tám quẻ. Lạc thư là do vua Vũ chữa được nước lụt; có con rùa thần đội vằn; trên lưng có số tới 9; vua Vũ bèn nhân đó mà làm ra chín loài”.

Lưu Hâm nói: rằng:
“Họ Phục hy nối trời làm vua; nhận đồ sông Hà mà vạch ra tám quẻ. Vua Vũ chữa được nước lụt; trời ban cho Thư ở sông Lạc; vua ấy bắt chước thư đó xếp thành chín loại. Đó là chín trù”.

Quan Lăng nói rằng:
“Nét của Hà Đồ; bảy trước; sáu sau; tám ở tả; chín ở hữu. Nét của Lạc thư; chín trước; một sau; ba tả; bảy hữu; bốn tả đằng trước; hai ở phía hữu đằng trước; tám ở phía tả đằng sau; sáu ở phía hữu đằng sau”.

Thiệu Ung nói rằng:
“Tròn là hình sao; số của lịch kỷ có lẽ gây từ đó chăng? Vuông là hình đất; những cách chia Châu; đặt “tỉnh” có lẽ phỏng theo đó chăng?
Bởi vì tròn là số của Hà Đồ; vuông là nét của Lạc Thư; cho nên vua Hy; vua Văn nhân đó mà làm ra Kinh Dịch; vua Vũ; ông Cơ theo đó mà làm ra thiên Hồng Phạm”.

Chu Hy nói rằng:
“Trong khoảng trời đất; chỉ có một vật là khí; chia làm hai thì là Âm Dương; năm hành gây dựng; muôn vật trước sau đều bị cai quản trong đó. Cho nên ngôi Hà Đồ; một và sáu cùng tông mà ở về phía Bắc; hai và bảy làm bạn mà ở về phía Nam;ba và tám đồng đạo mà ở về Đông;; bốn và chín thành lứa mà ở về Tây; năm và mười giữ lẫn cho nhau mà ở chính giữa. Nghĩa là cái số của nó chẳng qua chỉ có một Âm ; một Dương; một lẻ; một chẵn để làm gấp đôi năm hành mà thôi.
Gọi là trời tức là khí Dương nhẹ trong; ngôi ở bên trên. Gọi là đất tức là khí Âm nặng đục; ngôi ở phía dưới. Số Dương lẻ nên 1;3;5;7;9 đều thuộc về trời. Đó là số của trời có 5. Số Âm chẵn; cho nên 2;4;6;8;10 đều thuộc về đất. Đó là số của đất có 5. Số của trời và số của đất; đằng nào theo loại đằng ấy; mà cũng tìm nhau. Ngôi “năm” tương đắc với nhau vì thế.
Trời lấy số 1 mà sinh hành Thủy; đất lấy số 6 mà làm cho thành.(*) Đất lấy số 2 mà sinh hành Hỏa; trời lấy số 7 mà làm cho thành. Trời lấy số 3 mà sinh hành Mộc; đất lấy số 8 mà làm cho thành. Đất lấy số 4 mà sinh hành Kim; trời lấy số 9 mà làm cho thành. Trời lấy số 5 mà sinh hành Thổ; đất lấy số 10 mà làm cho thành. Đó là “Các số đều có hợp nhau”.
“Chất 5 số lẻ thành 25; chất 5 số chẵn thành 30. Hợp cả hai sô thành 55; tức là toàn số của đồ sông Hà. Đó là ý của Phu tử và thuyết của chư nho.”
“Đến như Lạc Thư; tuy là Phu tử chưa hề nói tới; nhưng tượng và thuyết của nó đã có đủ ở trên đây.

Có người hỏi rằng: “Tại sao ngôi và số của Hà Đồ/ Lạc Thư lại không giống nhau?”.
Đáp rằng: “Hà Đồ dùng năm số sinh tóm năm số thành cùng ở một phương; ấy là nêu cái toàn hình để bảo người ta mà nói về thể của số thường. Lạc Thư dùng năm số lẻ tóm bốn số chẵn; mà số nào ở riêng chỗ của số ấy; đó là chủ về “Dương để tóm Âm” mà gây cái dụng của số biến.

Lại hỏi: “Tại sao Hà Đồ Lạc Thư lại có số 5 ở giữa?
Đáp rằng: “Các số lúc đầu chỉ là một Âm một Dương mà thôi. Tượng của Dương tròn; tròn thì đường kính một phần; chu vi ba phần. Tượng của Âm vuông; vuông thì đường kính một phần chu vi bốn phần. Chu vi ba phần thì lấy số một làm “một”(**); cho nên nhân với một Dương mà thành ra ba. Chu vi bốn phần thì lấy số hai làm “một” cho nên nhân với một Âm mà thành ra hai. Đó là nhân ba với Trời; nhân hai với Đất vậy. Hai và ba hợp lại thì thành ra năm; vì vậy Hà Đồ Lạc Thư đều lấy số năm làm giữa. Nhưng mà Hà Đồ thì lấy số sinh làm chủ; cho nên giữa phải là năm; cho đủ tượng của năm số sinh. Một chấm ở dưới là tượng số một của trời; một chấm ở trên là tượng số hai của đất; một chấm phía tả là tượng số ba của trời; một chấm phía hữu là tượng số bốn của đất; một chấm chính giữa là tượng số năm của trời. Lạc thư thì lấy số lẻ làm chủ; cho nên ở giữa phải là năm cho đủ các tượng của năm số lẻ: Một chấm ở dưới cũng tượng số một của trời; một chấm phía tả cũng tượng số ba của trời; một chấm chính giữa cũng tượng số năm của trời; một chấm phía hữu là tượng số bảy của trời; một chấm ở trên tượng số 9 của trời. Số và ngôi của hai thứ đó có ba chỗ giống nhau; hai chỗ khác nhau là vì Dương không thể đổi mà Âm thì có thể đổi; số thành tuy thuộc về Dương nhưng cũng là Âm của số sinh vậy.

Lại hỏi: “Năm ở chính giữa đành là tượng của năm số; thế còn cái số của nó thì sao?
Đáp rằng: “Nói về số thì suốc trong một “đồ” đều có những số đích thực để ghi chép. Nhưng 1; 2; 3; 4 đều ở bên ngoài phương chốn của năm tượng và 6; 7; 8; 9 thì lại nhân có số 5 mà được cái số của nóđể phủ bên ngoài số “Sinh”.. Một; ba; bảy; chín của Lạc Thư cũng đều ở bên ngoài phương chốn của 5 tượng; mà hai; bốn; sáu; tám lại số nào nhân loại của số ấy để phụ vào cạnh số lẻ. Bởi vì ở trong là chủ mà ở ngoài là khách; ở giữa là vua mà ở bên cạnh là tôi; đều có ngành ngọn mà không thể trái lẫn.

Lại hỏi: “Bên nhiều bên ít là cớ làm sao?”
Đáp rằng: “Hà đồ chủ về hoàn toàn; nên nó cùng cực đến số 10; mà ngôi lẻ; ngôi chẵn của nó đều xét về sự tích thực thì sau mới thấy chẵn thừa mà lẻ thiếu. Lạc Thư chủ về biến đổi; nên nó cùng cực đến số 9 mà ngôi vị và thực chất của nó đều lẻ thừa mà chẵn thiếu (***). Ắt đều để trống chỗ giữa rồi sau số của Âm Dương mới đều hai mươi.”

Lại hỏi: “Thứ tự của nó không giống nhau sao?”
Đáp rằng: “Hà đồ nói về thứ tự sinh ra thì bắt đầu từ dưới lên trên; đến tả; đến hữu; vào giữa rồi lại bắt đầu từ dưới. Nói về thứ tự vận hành bắt đầu từ Đông; đến Nam; đến giữa; đến Tây; đến bắc theo phía tả mà xoay một vòng rồi lại bắt đầu từ Đông. Trong các số sinh ở trong: Số Dương ở dưới bên tả; số Âm ở trên về phía hữu. Trong các số thành ở ngoài: Số Âm ở dưới về phía tả; số Dương ở trên về phía hữu. Thứ tự Lạc Thư thì số Dương bắt đầu từ Bắc đến Đông; đến giữa; đến Tây; đến Nam. Số Âm bắt đầu từ TâyNam; đến Đông Nam; đến Tây Bắc; đến Đông Bắc. Hợp lại mà nói thì bắt đầu từ Bắc; đến Tây Nam; đến Đông; đến Đông Bắc cuối cùng ở Nam. Còn vận hành của nó thì Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ theo phía hữu mà xoay một vòng rồi Thổ lại khắc Thủy. Hai thứ đều có thuyết cả”.

Lai hỏi: “Tại sao những số 6; 7; 8; 9 của hai thứ lại không giống nhau?
Đáp rằng: “Các số 6; 7; 8; 9 của Hà Đồ đã phụ bên ngoài số sinh rồi. Đấy là phần chính của Âm Dương: Già trẻ; tiến lui thừa thiếu. Số chín của nó tức là mấy số 1; 3; 5 trong số Sinh tích lại mà thành ra.; cho nên nó phải từ Bắc sang Đông; từ Đông sang Tây để làm thành phía ngoài của số 4. Số 6 của nó tức là hai số 2; 4 trong số Sinh tích lại mà thành ra. Cho nên nó phải từ Nam sang Tây; từ Tây sang Bắc để làm cho thành phía ngoài của số 1. Số 7 tức là số 9 từ Tây sang Nam; số Tám tức là số 6 từ Bắc sang Đông. Đó lại là sự biến đổi của các số Âm Dương; già trẻ đắp đổi ở “nhà” của nhau(*). Lạc thư ngang dọc 15 mà 7; 8; 9; 6 đắp đổi tiêu; lớn bỏ trống số 5; chia sẻ số 10; mà số 1 ngậm số 9; số 2 ngậm số 8; số 3 ngậm số 7; số 4 ngậm số 6; số 5; 3 lộn góp tới đâu cũng gặp số hợp(*); vì vậy sự biến hóa vô cùng mới thành ra sự mầu nhiệm.”….

Xem đến đây; người viết tuy tài hèn; trí thiển nhưng ko thể tránh khỏi ngán ngẩm mà than rằng:
Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng đã viết:
"Hiền tài như Chu Tử mà chẳng tránh khỏi quanh co khúc thuyết”.
Phải chăng đoạn trên đây chính là một đoạn khúc thuyết của ông Chu Hy?
Nhưng nếu sự trích dẫn không đầy đủ thì e rằng có người khó tính sẽ hoài nghi chăng? Bởi vậy nên người viết xin được tiếp tục trích dẫn sự lý giải quanh co khúc thuyết nhàm chán này. Xin quí vị vui lòng lượng thứ.

Chu Hy nói rằng:
Ngôi của Lão Dương (Số Dương già tức là Thái Dương) ở số 1; ngôi của Lão Âm (Số Âm già tức Thái Âm) ở số 4. Nay Hà Đồ để số 9 của Lão Dương ngoài số 4; mà số 6 của Lão Âm thì lại ngoài số 1. Đó là Lão Âm; Lão Dương ở lẫn nhà nhau. Ngôi của Thiếu Âm (Số Âm non) ở số 2; ngôi của Thiếu Dương (Số Dương non) là ở số 3; mà Hà Đồ lại để số 8 của Thiếu Âm ngoài số 3; Số bảy của Thiếu Dương thì lại ở ngoài số 2. Đó là Thiếu Âm; Thiếu Dương ở lẫn nhà nhau.”

Hồ Ngọc Trai chua rằng:
“ Lạc thư tuy là ngang dọc có số 15; thật ra đều là những số 7; 8; 9; 6 đắp đổi tiêu lớn: Số 1 được 5 thành 9; mà đăp đổi tiêu lớn với số 9 ở phương Nam. Số 4 được 5 thành 8 mà đắp đổi tiêu lớn với số 7 ở phương Tây. Số 2 được 5 thành 7 mà đắp đổi tiêu lớn với số 8 ở Đông Bắc. Những số tiến lên là lớn; lui đi là tiêu. Số lớn đã lui thì phải tiêu đi; số tiêu đã tiến thì phải lớn lên.Sáu tiến đến 9 thì 9 lớn mà 6 tiêu; 9 lui làm sáu thì 9 tiêu mà 6 lại lớn; 7 tiến làm 8 thì 8 lớn mà 7 tiêu; 8 lui làm 7 thì 8 tiêu mà 7 lại lớn. “Bỏ trống số 5; chia sẻ số 9” nghĩa là đem số 5 ở giữa mà trừ đi các số ở ngoài thì các bề nganh; bề dọc chỉ còn 10. Đem số 10 ấy mà chia sẻ đi thì 9 là số thừa của 1 trừ 10; 8 là số thừa của 2 trừ 10; 7 là số thừa của 3 trừ 10; 6 là số thừa của 4 trừ 10. Thế là “3; 5 lộn góp; tới đâu cũng gặp số hợp”.


(Còn tiếp)
Thiên Sứ

……………………
Chú Thích (Trong sách đã dẫn):
* Hoàng Miễn Trai chua rằng: “Từ 1 đến 10 chỉ nói về sự nhiều ít của số lẻ; chẵn; không phải nói về thứ tự. Trời được số lẻ mà làm ra nước. Cho nên nói rằng: “Số 1 sinh hành Thủy. Số 1 cùng cực thì thành số 3; cho nên nói rằng: “Số 3 sinh hành Mộc”. Đất được số chẵn mà làm ra Lửa; cho nên nói rằng: “Số hai sinh ra hành Hỏa”. Số 2 cùng cực thì thành số 4; cho nên nói rằng: “Số 4 sinh ra hành Kim”. Sao lại là vậy? Là vì dùng một cạnh mà vặn cho tròn thì thành 3 cạnh; thế là số một cùng cực thì thành số 3; dùng hai cạnh mà bẻ cho vuông thì thành bốn cạnh; thế là số 2cùng cực thì thành số 4….Số 6 hoàn thành hành Thủy cũng giống như tượng quẻ Khảm; một hào Dương ở giữa; tức là số trời 1 sinh Thủy; số 6 của Đất bao bọc bên ngoài. Dương ít; Âm nhiều thì Thủy mới thịnh. Số 7 hoàn thành hành Hỏa cũng giống như tượng quẻ Ly; một hào Âm ở giữa tức là số 2 của Đất sinh hành Hỏa; số 7 của trời bao bọc bên ngoài. Âm ít Dương nhiều thì Hỏa mới thịnh. Khảm thuộc về Dương; Ly thuộc về Âm; ở trong là cái để sinh; ở ngoài là cái để làm cho thành.
* * Số để sinh sản.
*** Hà Đồ số chẵn thừa mà lẻ thiếu; tức là số Trời 25 (5x5); số Đất 30 (5x6). Lạc Thư lẻ thừa mà chẵn thiếu; tức là số trời 25 (5x5); số Đất 20 (5x4). Hà Đồ để trống số 15 ở giữa;Lạc thư để trống số 5 ở giữa thì số của Âm Dương đều đúng 20. Chu Hy chua vậy.

Thiên Sứ
07-07-2005, 09:04 PM
Tiếp theo

Sự trích dẫn dưới đây là tiếp tục của đoạn trên trong sách đã dẫn; để quí vị tham khảo những nhận xét về nội dung Hà Đồ của các nhà lý học Hoa Hạ.

Lại hỏi:
“Thế thì thánh nhân bắt chước hai cái hình đó ra sao?”
Đáp rằng:
“Hà Đồ thì bỏ trống ở giữa; Lạc thư thì tóm thực tượng . Hà Đồ bỏ trống số 5 và 10; đó là Thái cực; số lẻ 20; số chẵn 20; đó là hai nghi. Lấy 1; 2;3;4 làm 5; 6; 7; 8; đó là tứ tượng;.Chia số hợp của bốn phương để làm Kiền; Khôn; Ly; Khảm. Bù chỗ trống của bốn góc để làm Đoài;Chấn;Tốn; Càn. Đó là 8 quẻ (*). (Tức Tiên thiên bát quái phối với Hà Đồ. Người viết)
Thực tượng Lạc Thư thì: Một là Ngũ hành; hai là Ngũ tự; ba là Bát chính; bốn là Ngũ kỷ; năm là Hoàng cực; sáu là Tam đức; bày là Kê nghi; tám là Thứ trưng; chín là Phúc cực. Ngôi và số của nó càng rõ rệt lắm.

Lại hỏi: Lạc thư mà nếu bỏ trống số 5 ở giữa thì tức cũng là 20; cũng là hai nghi; chiều ngang là Thái cực; lẻ chẵn ngang dọc đều 15; có thể đắp đổi làm ra 7; 8; 9; 6 cũng là tứ tượng; bốn phương chính cũng để làm Kiền; Khôn; Ly ; Khảm; bốn góc chéo để làm Đoài ; Chấn; Tốn; Cấn thì cũng là 8 quẻ. Hà Đồ 1; 6 là Thủy; 2; 7 là Hỏa; 3; 8 là Mộc; 4; 9 là Kim; 5; 10 là Thổ thì vẫn là năm hành của thiên Hồng phạm; mà số 55 lại là mục con của chín trù. Thế thì Lạc thư vẫn có thể làm ra Kinh Dịch; mà Hà Đồ vẫn có thể làm ra Hống Phạm. Biết đâu “Đồ” không là “Thư”; “Thư” không là “Đồ”?
Sở dĩ có câu hỏi này vì sự lý giải mập mờ; khúc thuyết của ông Chu Hy; xuất phát từ sự không hiểu biết bản chất của Hà đồ; Lạc thư. Bởi vì với cách giải thích (Chứ không phải chứng minh) của ông Chu Hy thì hiện tượng Đồ và Thư không có sự phân biệt về nội dung. Bây giờ chúng ta tiếp tục quán xét xem ông Chu Hy trả lời câu hỏi này như thế nào?
Đáp rằng: Thời đại tuy có trước sau; số mục tuy có nhiều ít; nhưng lý của nó chỉ có một. Có điều Kinh Dịch là do vua Phục Hy được Hà đồ trước; không cần đợi đến Lạc thư. Thiên Hống phạm là do vua Vũ được riêng ở Lạc thư không cần nhắc lại ở Hà đồ. Vả lại đem Hà Đồ bỏ trống số 10; tức là sô 45 của Lạc thư;bỏ trống số 5 tức là số 50 của phép Đại Diễn. Cộng 5 với 10 là số ngang dọc 15 của Lạc Thư. Đem 5 nhân 10; đem 10 nhân 5 lại đều là số Đại Diễn. Lạc thư thì 5 lại tự ngậm 5 thì được 10; cũng thông nhau với số của phép Đại diễn. Cộng 5 với 10 thì được 15 cũng thông nhau với số Hà đồ. Nếu rõ lẽ đó thì dù ngang tréo; cong; thẳng không cách nào không thông. Hà Đồ với Lạc thư há có trước sau; kia nọ khác nhau?

Như vậy; qua cách trả lời của ông Chu Hy thì có lẽ chính ông cũng chẳng hiều mình đang nói gì!
Những đoạn trích dẫn tiếp theo đây là của Âu Dương Tu - một danh nho đời Tống – trong sách đã dẫn để quí vị tham khảo những ý kiến khác nhau của các nhà Lý học cổ Hoa Hạ.

Cho Hà đồ Lạc thư là không đủ tin; từ ông Âu Dương trở lại đã có thuyết ấy. Nhưng mà ở thiên Cố mệnh; thiện Hệ từ và sách Luận ngữ đều có nói thế cả và cái số trong hai đồ của chư Nho truyền lại tuy có na ná giống nhau; nhưng không sai trái với nhau. Tính xuôi; suy ngược; ngang dọc; cong thẳng đều có phép tắc rõ ràng không thể phá bỏ đi được. Cũng như Hà đồ từ số 1 của Trời đến số 10 của Đất hợp lại thành số 55 của Trời Đất thì Kinh Dịch chính ở đó mà ra. Lạc thư từ thứ 1 đến thứ 9 hợp lại đủ số của chín trù thì thiên Hồng Phạm vẫn do ở đó mà ra. Thiên Hệ từ tuy không nói rõ vua Phục Hy nhận Hà Đồ làm kinh Dịch (Theo sách chữ Hán thì vua Phục Hy căn cứ vào Hà Đồ làm ra Tiên Thiên Bát quái/Người viết) ; nhưng ở đó có nói việc :”Ngửa xem; cúi xét; nghiệm gần; nghiệm xa”; thì biết đâu Hà Đồ chẳng là một việc trong các việc đó? Đại để nguyên do chế tác của thánh nhân; không phải chỉ có một chiều; xong cái khuôn khổ của Pháp tượng chắc phải có chỗ rất quan hệ. Như đời Hồng Mông; khoảng giữa trời đất; khí của Âm Dương đều có tượng; nhưng m2 chưa từng có số. Đến khi Hà Đồ hiện ra; rồi sau cái số 55; hoặc lẻ; hoặc chẵn; hoặc sinh; hoặc thành rõ ràng có thể trông thấy; cái đó là để mở mang trí riêng của thánh nhân; không thể đem ví với những khí tượng mênh mang. Vì vậy; thánh nhân :ngửa lên mà xem; cúi xuống mà xét; gần nghiệm ở mình; xa nghiệm ở vật” tời đó mà sau những sự Âm Dương chẵn lẻ của hai nghi; tứ tượng; tám quẻ có thể nói rõ ra được. Thiên Hệ từ nói về nguyên do thánh nhân làm ra Kinh Dịch; tuy không phải là một điều; nhưng bảo nhờ có Hà Đồ rồi sau việc làm ra Kinh Dịch mới quyết cũng không hại gì”.

Như vậy; qua các đoạn trích dẫn trên về “Nội dung Hà đồ trong cổ thư chữ Hán” cho thấy: Những nhà Lý học Hán nho – trải hàng ngàn năm – hoàn toàn vẫn rất mơ hồ về nội dung của Hà đồ và Lạc thư. Với những tri kiến của một nền văn minh thời Trung cổ; họ vẫn phải chấp nhận một xuất xứ huyền bí từ trên lưng con Long mã hiện trên sông Hoàng Hà và một sự lý giải quanh co qua nhận thức thực tế hình tượng của Hà đồ được lưu truyền trong dân gian. Họ không thể lý giải được bản chất thật của Hà đồ Lạc thư và tính ứng dụng trên thực tế của hai đồ hình này trong Lý học Đông phương. Cho đến tận ngày hôm nay; các nhà nghiên cứu vẫn cứ phải lặp đi lặp lại rằng: “Hà Đồ là đồ hình do con Long Mã hiện trên sông Hoàng Hà” và “Lạc thư từ trên lưng con thần qui hiện lên ở sông Lạc Thủy”. Tất nhiên; với quan niệm như vậy; nền văn minh kỳ vĩ của Đông phương vẫn chìm sâu trong sự huyền bí và vẫn như đang thách đố trí tuệ của con người.


Thiên Sứ


Còn tiếp
HÀ ĐỒ VỚI CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU HIỆN ĐẠI
----------------------
* Chú thích trong sách đã dẫn:
Chu Hy chua rằng: Đem hình Tứ tượng mà xem thì Thái Dương ngôi ở một mà số là 9. Kiền được số ấy; Đoài được ngôi ấy cho nên Kiền là 9 mà Đoài là 1. Thiếu Âm ở ngôi hai mà số là 8; Ly được số ấy mà Chấn được ngôi ấy; cho nên Ly là 8 mà Chấn là 2. Thiếu Dương ở ngôi 3 mà số là 7; Khảm được số ấy; Tốn được ngôi ấy; cho nên Khảm là 7 mà Tốn là 3. Thái Âm ngôi ở bốn mà số là 6; Khôn được ngôi ấy; Tốn được số ấy; cho nên Khôn là 6 mà Tốn là 4. Nay chia số hợp của 6; 7; 8; 9 để làm Kiền; Khôn; Ly; Khảm mà để vào bốn ngôi chính; theo thứ tự của 1; 2; 3; 4 để làm Chấn; Đoài: Tốn; Cấn bù vào chỗ trống của bốn góc.

Thiên Sứ
07-07-2005, 09:13 PM
HÀ ĐỒ VỚI CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU HIỆN ĐẠI
Tiếp theo

Có thể nói rằng:
Tất cả các luận điểm về Hà Đồ và Lạc thư đều mơ hồ; huyễn hoặc. Điều chứng minh rất đơn giản là: Người ta không thể nào tìm ra một cái đúng từ một cái sai – Hà đồ và Lạc thư không thể bắt đầu từ trên lưng con Long Mã và Rùa thần. Người ta sẽ không thể tìm được bản chất của Hà đồ và Lạc thư từ sai lầm rất căn bản đó. Nhưng đấy cũng chưa phải nguyên nhân chính yếu. Bởi vì – nếu vấn đề chỉ dừng lại ở sự huyền bí huyễn hoặc cho xuất xứ của Đồ; Thư – thì trong hơn 2000 năm kể từ khi văn minh Lạc Việt sụp đổ; những nhà nghiên cứu Hoa Hạ cũng có thể tìm ra bản chất của hiện tượng Hà Đồ. Sự bí ẩn của Hà đồ chính là ở chỗ: Không hề có một bản văn cổ chữ Hán nào nói đến sự ứng dụng của Hà đồ trong Lý học cổ Đông phương. Ngoại trừ người ta cho rằng: “Vua Phục Hy căn cứ vào Hà đồ để lập ra Tiên thiên Bát quái”một cách rất mơ hồ. Sự mơ hồ này khiến chính nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê cũng phải viết trong cuốn sách nổi tiếng của ông – “Kinh Dịch/ Đạo người quân tử” – như sau:

Sao hai hình đó (Hà đồ và Lạc thư/ Thiên Sứ) giống nhau thế: Số Dương lẻ đều là 25; ở giữa đều có số 5; những vòng tròn giống hệt nhau mà sao hình bên phải (Lạc Thư/Thiên Sứ) hông gọi là Đồ như hình bên trái lại gọi là Thư?ất là so sánh những hình đó với hình Bát quái thì dù giàu trí tưởng tượng tới mấy cũng không thể bảo rằng Bát quái phỏng theo hai đồ hình đó được”.

Bởi vậy; mặc dù có rất nhiều cố gắng; những nhà nghiên cứu cổ kim chỉ có thể có những phát hiện qua hình thức của nó với những hiện tượng tương quan (Đã trích dẫn) và không thể tìm thấy bản chất của Hà Đồ và Lạc thư. Điều bí ẩn này xảy ra ngay cả với những nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa (Đã trích dẫn ở trên).
Sự bí ẩn của Hà Đồ Lạc thư không phải là điều được chú ý mới vài chục; vài trăm năm mà đã trải hàng Thiên niên kỷ.
Do đó; mặc dù những phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương tỏ ra có hiệu quả trên thực tế; nhưng sự tìm hiểu về các nguyên lý Lý học Đông phương qua các bản văn chữ Hán cổ đã hoàn toàn bế tắc. Bởi vì: Một tiền đề căn bản của nền Lý học Đông phương là Hà Đồ vẫn còn chìm trong huyền bí; từ đó kéo theo một hệ thống lý thuyết cần có – là nguyên nhân của phương pháp luận Âm Dương ngũ hành trên thực tế ứng dụng – chìm trong huyễn ảo. Điều này làm cho tất cả những phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương; như: Thiên văn; địa lý (Phong Thủy); Tử vi …và cả y thuật; đều cứ như từ trên trời rơi xuống mà chẳng biết sở cứ vào đâu. Từ những đoạn trích dẫn tiêu biểu ở trên – với khoảng cách trải hàng thiên niên kỷ từ ngàn xưa đến hiện đại – tôi nghĩ rằng: Hoàn toàn đủ cơ sở để đi tìm một hướng khác cho việc mở cánh cửa bí ẩn của nền Lý học Đông phương.
Để giải mã sự huyền bí Đông phương; người viết cho rằng: cần có sự lựa chọn đúng về cội nguồn xuất xứ và phương pháp hợp lý. Cả hai vế trên: Cội nguồn & một phương pháp hợp lý đều là hai yếu tố cần yếu bổ xung cho nhau; không thể thiếu một trong hai yếu tố này.
Về cội nguồn của nền Lý học Đông phương là Hà Đồ, tôi luôn khẳng định thuộc về nền văn hiến trải gần 5000 của người Lạc Việt một thời kỳ vĩ ở miền nam sông Dương Tử. Tức là một vế của tiêu chí trên đã được xác định trong tiểu luận này và sẽ được minh chứng tiếp theo trong các bài viết dưới đây.
Như vậy; một điều kiện của tiêu chí đã được xác định; phần còn lại là sự lựa chọn một phương pháp hợp lý.
Không phải bây giờ mà đã trải hàng thiên niên kỷ cho sự huyền bí kỳ vĩ của văn minh Đông phương. Đã có quá nhiều luận chứng và tiêu chí thể hiện trong sự cố gắng khám phá những bí ẩn của nền văn minh này.
Nhưng tôi có thể khẳng định rằng:
Dù bạn nhân danh bất cứ một phương pháp luận nào; kể cả Thượng đế; hoặc một tri thức trực cảm tâm linh thì chân lý luôn là duy nhất.

Đức Phật đã dạy:
“Có tám vạn bốn ngàn Pháp môn; tất cả đều tới vô thượng chánh đẳng giác”

Ngay trong Kinh Thánh:
“Thượng Đế là chí tôn (Duy nhất)

Trong ngạn ngữ phương Tây; điều này được mô tả là:
“Tất cả các con đường đều tới La Mã”.

Hoặc gần đây hơn; giáo sư Trịnh Xuân Thuận phát biểu:
“Toàn bộ vũ trụ được chứa trong một hạt cát. Bởi vì giải thích những sự kiện dù đơn giản nhất cũng phải viện dẫn đến toàn bộ lịch sử vũ trụ”.

Như vậy:
* Chính vì tính duy nhất đó của chân lý mà mọi sự liên hệ giữa các hiện tương phải hợp lý. Do đó; hợp lý chính là tiêu chuẩn thứ nhất của chân lý; mặc dù chưa phải chân lý. Nhưng không bao giờ có chân lý mà lại không bao hàm tính hợp lý.
* Chính vì tính duy nhất đó của chân lý, nên dù bạn nhân danh bất cứ một phương pháp luận nào thì phải có tính hoàn chỉnh và nhất quán.
* Chính vì tính duy nhất đó của chân lý mà mọi hiện tượng đều phải có mối quan hệ tương tác (Phải viện dẫn đến toàn thể vũ trụ).
Trên cơ sở sự biện minh này; thì dù nhân danh bất cứ một phương pháp luận nào trong lịch sử tri thức của nhân loại; tính hợp lý vẫn là một trong những tiêu chuẩn của chân lý. Trong các bản văn cổ chữ Hán không có tính hợp lý cho mối quan hệ giữa các hiện tượng và vấn đề mà nó đã nêu ra.
Như vậy; cho dù có thừa nhận Long Mã và Thần Qui là những con vật có thật; đã từng hiện ra ở sông Hoàng Hà và Lạc Thủy mang trên nó hình ảnh Đồ Thư; thì hiện tượng đó cũng không nói lên được điều gì; cũng đủ chứng tỏ tính bất hợp lý của nó.
Cũng trên cơ sở của những vấn đề đặt ra về một tiêu chí cho việc khám phá những bí ẩn của văn minh Đông phương; người viết căn cứ vào tiêu chí khoa học hiện đại sau đây:

Một giả thiết khoa học được coi là đúng; phải giải thích một cách hợp lý hầu hết các hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh và nhất quán; phải có tính hệ thống; tính khách quan; tính quy luật với khả năng tiên tri.

Từ cơ sở tiêu chí cho những lý thuyết khoa học này; người viết nhận xét thấy rằng:
Hầu hết những giả thuyết đã viết về Hà đồ từ trước đến nay chưa tìm được bản chất đích thực của Hà Đồ. Hay nói một cách khác: Nó hoàn toàn bất hợp lý và không đủ sức thuyết phục. Sự huyễn ảo đến mức độ bị coi là mê tín của nền văn minh Đông phương cho đến tận ngày nay chứng tỏ điều này. Bởi vậy; việc tìm hiểu giá trị và cội nguồn văn minh Đông phương căn cứ vào tiêu trí của khoa học hiện đại – tức tri thức hiện đại – là một phương pháp có cơ sở. Tôi sở ngộ cho rằng: Chúng ta sẽ không thể tìm được một cái đúng mà bắt đầu từ một cái sai và đây cũng là lý nhân quả.
Việc đi tìm bản chất của Hà Đồ – nguyên lý của nền lý học Đông phương – sẽ tiếp tục bế tắc như nó đã bế tắc trải hàng thiên niên kỷ; nếu chúng ta vẫn chấp vào những hiện tượng được đặt ra trong các bản văn cổ chữ Hán. Bởi vậy; người viết cho rằng:
Cần phải đi tìm ở một nền văn minh khác; đó chính là nền văn hiến Lạc Việt qua những di sản còn lại của nền văn minh này trên cơ sở tiêu chí khoa học.
Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của quí vị.



Thiên Sứ
Còn tiếp: HÀ ĐỒ TRONG VĂN HIẾN LẠC VIỆT

Dala
08-07-2005, 01:35 AM
Từ cơ sở tiêu chí cho những lý thuyết khoa học này; người viết nhận xét thấy rằng:
Hầu hết những giả thuyết đã viết về Hà đồ từ trước đến nay chưa tìm được bản chất đích thực của Hà Đồ. Hay nói một cách khác: Nó hoàn toàn bất hợp lý và không đủ sức thuyết phục. Sự huyễn ảo đến mức độ bị coi là mê tín của nền văn minh Đông phương cho đến tận ngày nay chứng tỏ điều này. Bởi vậy; việc tìm hiểu giá trị và cội nguồn văn minh Đông phương căn cứ vào tiêu trí của khoa học hiện đại – tức tri thức hiện đại – là một phương pháp có cơ sở. Tôi sở ngộ cho rằng: Chúng ta sẽ không thể tìm được một cái đúng mà bắt đầu từ một cái sai và đây cũng là lý nhân quả.
Việc đi tìm bản chất của Hà Đồ – nguyên lý của nền lý học Đông phương – sẽ tiếp tục bế tắc như nó đã bế tắc trải hàng thiên niên kỷ; nếu chúng ta vẫn chấp vào những hiện tượng được đặt ra trong các bản văn cổ chữ Hán. Bởi vậy; người viết cho rằng:
Cần phải đi tìm ở một nền văn minh khác; đó chính là nền văn hiến Lạc Việt qua những di sản còn lại của nền văn minh này trên cơ sở tiêu chí khoa học.
Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của quí vị.



Thiên Sứ
Còn tiếp: HÀ ĐỒ TRONG VĂN HIẾN LẠC VIỆT

--g-- -clap- hay hay.. đúng là nhận xét của bác Thiên Sứ rất ư là khoa học và logic. Mời bác viết tiếp, cháu đang chờ đọc.

Kính chúc bác mọi sự an lành

Thiên Sứ
08-07-2005, 05:44 AM
HÀ ĐỒ TRONG VĂN HIẾN LẠC VIỆT

Hệ từ viết:“Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”


Kính thưa quí vị!
Có thể nói rằng: Nếu nền văn minh Hoa Hạ – mà đại biểu là Khổng An Quốc và Lưu Hâm – có thể áp đặt một cách chủ quan; hiện tượng con Long Mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà trên lưng mang Hà đồ và con thần Qui xuất hiện trên sông Lạc mang Lạc thư vào việc giải thích nội dung câu trên trong Hệ từ; thì câu trên cũng có thể giải thích hợp lý hơn là:

Sự vận động của Thiên Hà là cơ sở của nền thiên văn học Lạc Việt. Đó chính là thực tại của nền lý học Đông phương. Những qui luật vận động và tương tác của nó do các bậc trí giả Lạc Việt chép trong sách của nền văn minh này; nên gọi là Lạc Thư. Tức là sách của nền văn minh Lạc Việt.

Hai cách giải thích này khác nhau hoàn toàn ở chỗ: Cách giải thích của Hán nho đã không thể chứng minh được sự lý giải của mình; không phải chỉ vài chục; vài trăm năm mà là hàng thiên niên kỷ. Ngược lại; cách giải thích từ nền văn minh Lạc Việt hoàn toàn có khả năng minh chứng một cách hoàn hảo và chứng tỏ được một nền văn hiến huy hoàng trong quá khứ đến nay trải gần 5000 năm (2789 trước CN – 2005 sau CN).

Để chứng tỏ điều này; quí vị quan tâm xem hình dưới đây:


TRANH THỜ NGŨ HỔ HÀNG TRỐNG(*)
http://lyhoc.viettop.net/tranhdg/HODH.jpg


Sự giải mã cho hình ảnh này sẽ là phần nhập đề cho nội dung chính của tiểu luận này. Nhưng người viết xin được lưu ý các quí vị quan tâm là:
Tất cả những sự giải mã các hiện tượng văn hóa dân gian Việt Nam để tìm vào sự bí ẩn văn hóa Đông phương; đều không là bằng chứng trực tiếp chứng minh cho “cội nguồn văn hóa Đông phương thuộc về người Lạc Việt”. Sự giải mã này chỉ có tính hướng dẫn – khi sự giải mã đúng – để khám phá bản chất đích thực của nền văn minh huyền bí này. Chỉ khi sự khám phá được sáng tỏ thì chính tính chân lý của sự việc sẽ là bằng chứng chứng minh cho luận điểm trên.

Kính thưa quí vị!
Hình trích dẫn ở trên; hoàn toàn không xa lạ với người Việt. Trong bức tranh này; điều dễ nhận thấy nhất là: Ngũ Hổ được vẽ với 5 màu của Ngũ Hành sắp theo chiều tương sinh với Hổ vàng lớn hơn hẳn đứng uy nghi ở giữa. Trên đầu Hổ vàng; dưới mặt trời đỏ rực có 7 chấm trắng huyễn ảo. Chân Hổ vàng trấn lên một miếng phù có ghi: “Pháp đại uy nỗ”.Hai bên Hổ Vàng: bên phải có 5 thanh kiếm; bên trái có 5 lá cờ lệnh. Chung quanh phía trên là những đám mây vần vũ huyễn ảo; phía dưới là hai tảng núi cách điệu đối xứng cho hai Ngài Hổ đứng. Đặc biệt những cặp mắt hổ trong tranh đều mở to với màu sắc tương phản tạo cảm giác sáng rực đầy uy dũng. Phong cách vẽ của bức tranh tuy nặng tính qui ước; nhưng hình tượng rất có thần. Chính tính qui ước của những hình tượng đã cho thấy sự suy nghĩ của người sáng tạo ra nó phải gửi gấm vào đây một ý tưởng.
Đó là ý tưởng gì?
Nếu chúng ta lấy cửu cung chồng lên tranh Ngũ Hổ thì chúng ta sẽ nhận thấy ngay đây chính là hình Ngũ hành tương sinh của Cửu cung Hà đồ. Xin quí vị xem hình dưới đây:

TRANH NGŨ HỔ PHỐI CỬU CUNG(*)
http://lyhoc.viettop.net/tranhdg/HOHTCC.jpg

Như vậy; hình tượng Ngũ Hổ với 5 màu của Ngũ hành chính là thể hiện nội dung của Hà Đồ cửu cung. Nhưng nếu mọi việc chỉ dừng ở đây thì đấy là điều mà ai cũng biết:
“Hà đồ thể hiện qui luật Ngũ hành tương sinh”. Vấn đề tiếp theo khác hẳn sự miêu tả của cổ thư chữ Hán cho rằng “Long Mã hiện trên sông Hoàng Hà mang Hà đồ” là: Hình bẩy chấm trên đầu ông Hổ vàng?
Người viết bài này đã sưu tầm được rất nhiều tranh Hổ của phường hàng Trống thì nhận thấy rằng: Hầu hết các tranh Hổ (Vẽ đơn hay Ngũ Hổ) đều có đủ 7 chấm như hình vẽ trên. Mặc dù với thời gian lưu truyền có nhiều tranh vẽ không theo một qui luật nhất định; nhưng đều có hình tượng tương tự. Điều đặc biệt hơn nữa là: Trên lưng ông Khiết (Dân gian thường gọi là: Con Cóc Tàu) cũng có 7 chấm tương tự. Và điều may mắn là người viết đã phát hiện 7 chấm này chính là biểu tượng của chòm sao Tiểu Hùng Tinh; chòm sao định hướng Bắc trên bầu trời. Xin quí vị xem hình dưới đây:

http://lyhoc.viettop.net/tranhdg/VTHO.jpg
CHÒM TIỂU HÙNG TINH VÀ HÌNH TƯỢNG TRONG VĂN HOÁ DÂN GIAN(*)

Tại sao Tranh Ngũ Hổ lại có hình tượng của chòm sao Thiên Cực Bắc trên bầu trời? Phải chăng đây chính là một mật ngữ cho thấy Hà Đồ liên quan đến bầu trời mà ở đó có sự vận động của các thiên thể? Và phải chăng chính ở đây; trên dải Ngân Hà chia đôi mối tình Ngưu Lang Chức Nữ; mới là cội nguồn đích thực của Hà Đồ trong câu: “Hà xuất Đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”?

Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp:
HÀ XUẤT ĐỒ
-------------------
* Chú thích:
Hình sẽ được gửi lên sau. Xin quí vị thông cảm. Trân trọng cảm ơn.

Thiên Sứ
08-07-2005, 06:01 AM
HÀ XUẤT ĐỒ…

Hệ từ viết:"Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”

Mọi sự suy luận và giải mã sẽ bế tắc; nếu như không có một tư liêu được phát hiện sau đây. Tư liệu này được trích dẫn trong sách:”Chu Dịch – Vũ trụ quan” (Nxb Giáo Dục -1995. Trang 44 - 51) của Giáo sư Lê Văn Quán; như sau:

1.10LẠC THƯ HÀ ĐỒ
Hà đồ và Lạc Thư được phát hiện từ trong quan trắc hiện tượng thiên văn; cấu tạo giản đơn rất tiện cho việc ghi nhớ và lưu truyền. Theo truyền thuyết:

Đồ xuất hiện ở sông Hà đời Phục Hy; Thư xuất hiện ở sông Lạc đời Hạ Vũ.

Hệ từ thượng; chương thứ XI đã viết:
”Thị cố thiên sinh thần vật; thánh nhân tắc chi; thiên địa biến hóa; thánh nhân hiệu chi; thiên thùy tượng; hiện cát hung; thánh nhân tương chi. Hà xuất Đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tác chi”.
(Cho nên trời sinh ra thần vật, thánh nhân áp dụng theo; trời đất biến hoá, thánh nhân bắt chước; trời bày ra hình tượng, hiện ra sự tốt xấu, thánh nhân phỏng ra ý tượng. Bức đồ hiện ra ở sông Hoàng hà, hình chữ hiện ra ở sông Lạc, thánh nhân áp dụng theo).

Hệ từ thượng, chương IX lại viết:
“Thiên nhất, địa nhị, thiên tam, địa tứ, thiên ngũ, địa lục, thiên thất, địa bát, thiên cửu, địa thập. Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tương đắc nhi các hữu hợp. Thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập. Phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ. Thử sở dĩ thành biến hoá, nhi hành quỷ thần dã”.
(Trời số 1, đất số 2, trời số 3, đất số 4, trời số 5, đất số 6, trời số 7, đất số 8, trời số 9, đất số 10. Trời có 5 số (1, 3, 5, 7, 9 những số lẻ), đất có 5 số (2, 4, 6, 8, 10 những số chẵn), năm ngôi tương đắc đều hợp nhau. Số trời có 25 (1+3+5+7+9=25), đất có 30 (2+4+6+8+10=30).Tổng số trời đất có 55 (=25+30). Do đó mà thành ra biến hoá và hành động như quỷ thần).
Ở đầu sách “Chu Dịch bản nghĩa”, khi giới thiệu hai hình vẽ Hà đồ, Lạc thư, Chu Hy cũng đã trích dẫn đoạn hệ từ trên để chú thích. Ông viết tiếp, và chỉ ra mọi người thấy:
“Thử Hà đồ chi số dã, Lạc thư cái thủ quy tượng, cố kỳ số đái cửu, lý nhất, tả tam hữu thất, nhi tứ vi kiên, lục bát vi túc”.
(Đó là số Hà đồ, Lạc thư lấy tượng rùa, cho nên số của nó là đầu đội 9, chân đạp 1, bên trái 3, bên phải 7, vai là 2, 4, chân là 6, 8)
Rõ ràng là miêu tả hình Lạc thư.

A. Kết cấu Lạc thư
Như trên đã nói, Lạc thư cấu tạo bởi những vòng tròn đen trắng: đầu đội 9, chân đạp 1, bên trái 3, bên phải 7, vai bên trái 4, vai bên phải 2, chân trái 8, chân phải 6, lưng (ở giữa) 5.Vòng tròn đen là số âm (xem hình vẽ). Con số Lạc thư vốn từ Cửu cung, dùng số biểu diễn hình tượng sao. Thực tế là tượng trời của Lạc thư, có thể xem “Lạc thư cửu tinh đồ” (hình Lạc thư 9 sao) đời xưa truyền lại:

HÌNH LẠC THƯ CỬU TINH ĐỒ

http://lyhoc.viettop.net/LTCTD.jpg

Qua hình vẽ chúng ta thấy phương vị và con số của 9 chòm sao, tức là phương vị và con số của Lạc thư. Cung giữa 5 sao gọi là “toà Ngũ đế”, là đầu ngũ hành, ở giữa và giám ngự bốn phương. Dưới “toà Ngũ đế” là ngôi sao “Bắc cực”, luôn luôn ở phương Bắc, lấy đó định vị trí; Bắc cực đối với phía nam cung là chín sao “Thiên kỷ”. Chính giữa phía đông là ba sao “Hà bắc”. Chính giữa phía tây là bảy sao “Thất công”. Bên trái “Thiên kỷ” là bốn sao “Tứ phụ”, bên phải “Thiên kỷ” là hai sao “Hổ bôn”. Bên trái “Bắc cực” là tám sao “Hoa cái”, bên phải “Bắc cực” là sáu sao “Thiên trù”.
Con số 9 cung của Lạc thư 1, 3, 7, 9 là số lẻ, gọi là số dương: 2, 4 , 6, 8 là số chẵn, gọi là số âm. Số dương là chính, vị trí ở bốn điểm chính giữa, đại biểu khí trời. Số âm là phụ, vị trí ở bốn góc, đại biểu khí đất. Số 5 ở giữa thuộc khí đất (thổ), là tổ của ngũ hành, vị trí ở cung giữa.
Các nhà thuật số cho cung ở giữa là hư số, là số không, để quan trắc và tính toán điểm cơ bản của bốn mùa bát tiết. Con số Lạc thư nhiều ít là tiêu chí biến đổi khí hậu ấm, lạnh, mạnh, yếu của ngày đêm, sớm tối.

B. Kết cấu Hà đồ
http://lyhoc.viettop.net/dohinhhado.jpg
Hà đồ lấy 10 số hợp với ngũ phương (năm phương), ngũ hành, âm dương, trời đất. Hình tròn trắng số lẻ, dương, là trời; chấm đen số chẵn, âm; là đất, và lấy trời đất hợp với ngũ hành (xem hình vẽ), kết cấu của nó có mấy đặc điểm như sau:
Số 1 và số 6 cùng dòng họ, ở phương Bắc, vì trời 1 sinh thuỷ, đất 6 thành nước. Số 2 và số 7 là bằng (bè bạn), ở phương nam, vì đất 2 sinh hoả, trời 7 hoá thành lửa. Số 3 và số 8 là bạn bè (hữu), ở phương đông, vị trời 3 sinh mộc, đất 8 hoá thành gỗ. Số 4 và số 9 là đồng đạo (cùng đường), ở phương tây, vì đất 4 sinh kim, trời 9 hoá thành vàng. Số 5 và số 10 trông giữ nhau, ở giữa, vì trời 5 sinh thổ, đất 10 hoá thành đất. Đúng như Chu tử đã nói:
“Thiên dĩ nhất sinh thuỷ nhi địa dĩ lục thành chi. Địa dĩ nhị sinh hoả nhi thiên dĩ thất thành chi. Thiên dĩ tam sinh mộc nhi địa dĩ bát thành chi. Địa dĩ tứ sinh kim nhi thiên dĩ cửu thành chi. Thiên dĩ ngủ sinh thổ nhi địa dĩ lập thành chi”.
(Trời lấy 1 sinh thuỷ mà đất lấy 6 thành nước. Đất lấy 2 sinh hoả mà trời lấy 7 thành lửa. Trời lấy 3 sinh mộc mà đất lấy 8 thành gỗ. Đất lấy 4 sinh kim mà trời lấy 9 thành vàng. Trời lấy 5 sinh thổ mà đất lấy 10 thành đất).
Vẽ thành Hà đồ là căn cứ vào 5 sao lặn, mọc, lấy 55 số diễn hình tượng 5 sao. Năm sao xưa gọi là “ngũ vị”, là 5 hành tinh trên trời : Mộc gọi là “Tuế tinh”, Hoả là “Huỳnh hoặc”, thổ là “Chấn tinh”, kim là “Thái bạch”, thủy là “Thần tinh”. Năm sao vận hành, phân chia bởi nhị thập bát tú (28 ngôi sao), do quỹ đạo của nó không xa đường mặt trời, cho nên người xưa dùng để ghi ngày. Năm sao vận hành, thời tiết đều biến đổi, nói chung theo tuần tự Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ, kế tiếp nhau xuất hiện ở bầu trời Bắc cực. Mỗi sao đều vận hành 72 ngày, năm sao vận hành tròn vòng trời 360 độ. Đường quỹ đạo của ba sao: Mộc, Hoả, Thổ lớn cho nên ở ngoài, vừa khéo hợp với số 216 thẻ Kiền. Đường quỹ đạo của hai sao Kim, Thuỷ nhỏ cho nên ở trong, vừa khéo hợp với số 144 thẻ Khôn. Vì 5 sao định giờ lặn, mọc có quy luật như dưới đây, cho nên cấu tạo thành hình Hà đồ như đã giới thiệu ở trên .

*Hằng ngày sao Thuỷ: Giờ thứ 1 (giờ Tý) và giờ thứ 6 (giờ tỵ) xuất hiện ở phương Bắc.
- Hàng tháng ngày 1, 6; 1; 16; 21; 26; mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Thuỷ ở phương Bắc.
- Hằng năm: Tháng 11, tháng 6 lúc hoàng hôn thấy ở phương Bắc.
Cho nên nói “Trời 1 sinh thuỷ, đất 6 mà thành nước”.

* Hàng ngày sao Hoả: Giờ thứ 2 (giờ Sửu) và giờ thứ 7 (giờ Ngọ) xuất hiện ở phương nam.
- Hàng tháng ngày 2, 7 (tức là mồng 2, mồng 7, 12; 17; …) mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Hoả ở phương Nam.
- Hàng năm tháng 2, tháng 7, lúc hoàng hôn thấy ở phương Nam.
Cho nên nói: “Địa nhị sinh hoả, thiên thất thành chi” (đất hai sinh hoả, trời bảy thành lửa).

* Hằng ngày sao Mộc: Giờ thứ ba (giờ Dần) và giờ thứ 8 (giờ Mùi) xuất hiện ở phương Đông.
- Hàng tháng ngày 3, ngày 8 (mồng ba, mồng 8, mười ba, mười tám…) mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Mộc ở phương Đông.
- Hàng năm tháng 3, tháng 8, lúc hoàng hôn thấy ở phương Đông.
Cho nên nói “Trời ba sinh mộc, đất tám thành gỗ”.

Hằng ngày sao Kim: Giờ thứ 4 (giờ mão) và giờ thứ 9 (giờ thân) xuất hiện ở phương Tây; - Hằng tháng ngày 4, 9 (mồng 4, mồng 9…) mặt trời, mặt trăng gặp sao kim ở phương Tây.
- Hằng năm tháng 4, tháng 9, lúc hoàng hôn thấy ở phương Tây.
Cho nên nói “Đất 4 sinh Kim, trời 9 hoá thành vàng”.

* Hằng ngày sao Thổ: Giờ thứ 5 (giờ Thìn) và giờ thứ 10 (giờ Dậu) xuất hiện ở giữa.
- Hằng tháng, ngày 5, 10 (mồng 5, mồng 10…) mặt Trời, mặt Trăng gặp sao Thổ ở giữa.
- Hằng năm tháng 5, tháng 10 lúc hoàng hôn thấy ở giữa trời.
Cho nên nói: “Trời 5 sinh thổ, đất 10 hoá thành đất”.

Qua đó, có thể thấy, Hà đồ không phải do con người tuỳ ý vẽ vạch. Vạch ra như vậy, là căn cứ vào tượng trời, năm sao lặn và mọc, đó cũng là nguồn gốc của ngũ hành: Thuỷ, Hoả, Thổ, Kim, Mộc. Vì hằng năm tháng 11 trước tiết Đông chí, sao Thuỷ thấy ở phương Bắc, đang lúc giao thời mùa đông, muôn vật ngủ đông (ở ẩn), trên mặt đất chỉ có băng tuyết và nước. Khái niệm hành “Thuỷ” hình thành là như vậy.
Tháng 7, sau tiết Hạ chí sao Hoả thấy ở phương Nam, đang lúc giao thời mùa hè, trên mặt đất khô nóng. Khái niệm hành “Hoả” ra đời là như vậy.
Tháng 3 Xuân phân, sao Mộc thấy ở phương Đông, đương lúc giữa thời mùa xuân, cây cỏ nảy mầm sinh trưởng. Khái niệm hành “Mộc” hình thành là như vậy.
Tháng 9 Thu phân, sao Kim thấy ở phương Tây, đời xưa lấy kim loại tôi luyện thành binh khí, cho nên lấy “Kim”biểu thị mùa thu khí trời sát phạt. Khái niệm hành “Kim” hình thành là như vậy.
Tháng năm sao Thổ thấy ở giữa trời, biểu thị lúc bấy giờ đất ẩm thấp, Mộc, Hoả, Kim, Thuỷ đều lấy cái đó làm điểm giữa, sao Mộc, Hoả, Kim, Thuỷ lặn mọc dẫn đến khi hậu bốn mùa biến đổi, đều là quan trắc từ mặt đất, khái niệm hành “Thổ” hình thành là như vậy.
Trên đây; chúng tôi đề cập kết cấu Hà đồ và Lạc thư theo thiên văn.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua đoạn trích dẫn trên cho chúng ta thấy một cơ sở về thiên văn học cho nguồn gốc của Hà Đô Lạc Thư. Tư liệu này không thấy giáo sư tác giả cho biết đã trích dẫn hoặc sưu tầm từ đâu. Nhưng trên cơ sở những tài liệu tham khảo ở cuối sách; người viết cho rằng: Nguồn tư liệu này có thể có xuất xứ từ Nhật Bản. Bản vẽ “Lạc Thư cửu tinh đồ” đã chứng tỏ rằng đây là một tư liệu tối cổ vì khái niệm “Lạc Thư” cho tên gọi của bản vẽ này. Chính bản đồ này với tên gọi Lạc thư đã phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ của nó; bởi những điều căn bản sau đây:

# Hình mà chúng ta quen gọi là Lạc thư trong sách cổ chữ Hán chính là hình biểu tượng qui ước của Lạc thư cửu tinh đồ. Và chính “Lạc Thư cửu tinh đồ” với nội dung của nó phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ của đồ hình mà chúng ta vẫn quen gọi là Lạc thư. Đồng thời cũng chính bản đồ thiên văn với tên gọi ”Lạc thư cửu tinh đồ” đã cho thấy xuất xứ Lạc Việt của nó; bởi chính tên Lạc thư trong tên gọi của bản đồ Cửu tinh này; khó có thể giải thích là đồ hình từ trên “lưng rùa”; sự giả thích hợp lý hơn cả là sách của người Lạc Việt. Với sự giải thích này có tính nhất quán và hoàn chỉnh với khả năng giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan. Chinh bản đồ “Lạc thư cửu tinh đồ” – mặc dù chưa rõ xuất xứ tư liệu – đã phủ nhận tính huyền thoại của đồ hình mà chúng ta quen gọi là “Lạc thư” trong cổ thư chữ Hán trải hàng ngàn năm; khi nó cho rằng: Xuất xứ từ lưng rùa trên sông Lạc thủy. Tức là phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ của những tiền đề căn bản của Lý học Đông phương thuộc về văn minh Hoa Hạ.

# Cũng từ tư liệu trích dẫn ở trên cho thấy: Hà Đồ – vốn được coi là xuất xứ từ trên lưng con Long Mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà trong cổ thư chữ Hán – chính là biểu tượng cô đọng của sự vận động có tính qui luật của Ngũ tinh trên bầu trời. Chính nội dung này đã phủ nhận xuất xứ Hoa Hạ của đồ hình mà chúng ta vẫn quen gọi là Hà Đồ.

Kính thưa quí vị.
Để kiểm chứng tính chính xác của tư liệu đã trích dẫn; chúng ta chỉ cần chịu khó nhìn lên bầu trời; lặp lại hiện tượng mà tổ tiên người Việt đã làm và bị thất truyền theo lịch sử thăng trầm của người Lạc Việt: “Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn”; thì chúng ta sẽ thấy ngay tính hiện thực của nội dung: Hà xuất đồ . Từ nay sẽ được hiểu rằng: Những phương vị và sự vận động của các vì sao trên Thiên Hà của chúng ta (Ngân Hà) mang tính qui luật của sự tương tác trong vũ trụ và được ghi nhận trong sách của nên văn hiến Lạc Việt: “Lạc xuất thư”. Điều này chứng tỏ tính hướng dẫn của chòm sao Tiểu Hùng tinh trên tranh thờ Ngũ Hổ của người Lạc Việt. Điều này cũng chứng tỏ rằng: Ông Khiết chính là biểu tượng của nền văn minh Khoa Đẩu với tri kiến thiên văn kỳ vĩ có một thời Hoàng kim lộng lẫy ở miền Nam sông Dương Tử.

Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp: PHÁP ĐẠI UY NỖ

Thiên Sứ
08-07-2005, 06:21 AM
KÍNH THƯA QUÍ VỊ QUAN TÂM.

Vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Ất Dậu.
Nhằm thứ Năm , ngày 7 tháng Bảy, năm 2005.

Thiên Sứ tôi cùng Chính Ấn và được sự hỗ trợ kỹ thuật của anh Hoả Tinh đã sử dụng phần mềm Skymap pao để kiểm chứng qui luật vận động các sao thuộc Ngũ Tinh trên Thái Dương hệ làm nên nội dung Hà Đồ. Cuộc kiểm chứng cho thấy nội dung Hà Đồ như đã trình bày ở trên HOÀN TOÀN CHÍNH XÁC.
Như vậy, một lần nữa cho chúng ta thấy một thực tại và cơ sở khoa học từ những tri kiến thiên văn vũ trũ chính là nền tảng của LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG.
Đồng thời cũng khẳng định niềm tin trong tôi:

Dân tộc Việt Nam với gần 5000 văn hiến.
Xin chia sẻ với các bạn là hội viên Chân Thuyên và Tử Vi Lý số niềm vui này của tôi.
Niềm vui này cũng xin được chia sẻ với anh em và quí vị đã có tấm lòng đồng cảm với tôi trên đường tìm về cội nguồn lịch sử Việt.

Thiên Sứ

Thiên Sứ
08-07-2005, 07:36 AM
PHÁP ĐẠI UY NỖ

Trong cổ thư chữ Hán trải hàng ngàn năm cho đến nay; người ta không thể nào tìm thấy sự ghi nhận tính ứng dụng của Hà Đồ. Ngoại trừ một lần ghi nhận duy nhất; nhưng cũng rất mơ hồ:
“Phục Hy tắc Hà Đồ hoạch quái” .
Hàng ngàn năm trôi qua; người ta ko thể nào hiểu nổi vua Phục Hy đã lấy cơ sở nào của Hà đồ để làm ra Tiên thiên bát quái? Tất cả mọi phương pháp ứng dụng của nền lý học Đông phương được ghi nhận trong cổ thư chữ Hán đều liên quan đến Lạc Thư. Điều này những ai đã từng một lần xem qua các môn ứng dụng như căn bản như: Chu Dịch; Thái Ất; Phong thủy….. đều biết điều này. Vậy trên thực tế Hà Đồ dùng để làm gì?
Không phải bây giờ mà đã hàng ngàn năm trôi qua trong văn minh Hán; trong bản văn chữ Hán cho đến tận ngày hôm nay – khi bạn đang đọc dòng chữ này – Hà đồ không có chỗ đứng trong thực tế ứng dụng; nhưng lại rất đắc địa trong những giá trị tâm linh về tính huyền bí của nó. Trong văn minh Lạc Việt nó được thể hiện một cách bí ẩn trong tranh thờ Ngũ Hổ. Và điều quan trong hơn cả là: Trong văn minh Việt thì Hà Đồ được giải thích khác hẳn các bản văn chữ Hán với chòm sao Tiểu Hùng Tinh (Đã chứng giải) và với sự khẳng định là “Pháp Đại Uy Nỗ” . Hay dịch theo ngôn ngữ hiện đại là:
Quy luật chủ yếu bao trùm lên tất cả.

Kính thưa quí vị!
Như người viết đã hân hạnh trình bày ở trên: Không hề tìm thấy tính ứng dụng của Hà đồ trong cổ thư chữ Hán. Trong Kinh Dịch lần duy nhất được ghi nhận trong cổ thư chữ Hán về tính dụng của Hà đồ là “Phục Hy tắc Hà đồ hoạch quái” và – theo các nhà Lý học Hán nho – ngài Phục Hy dùng Hà Đồ làm ra Tiên thiên bát quái. Từ thời Hán đến nay trải đã hơn 2000 năm. Và nếu theo truyền thuyết về văn minh Hán thì điều này đã hơn 6000 năm; từ thời Phục Hy.
Bây giờ chúng ta quán xét đồ hình Tiên thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ.

http://lyhoc.viettop.net/TT-HD.jpg

Quán xét đồ hình này – Theo tính chất quái vị lưu truyền qua cổ thư chữ Hán – chúng ta không hề thấy một sự liên hệ tương thích nào.
* Càn (Trời/ Kim) nằm ở độ số 1 Dương Thủy/ Chính Bắc; Đoài (Kim) thì nằm ở độ số 6 là Âm Thủy/ Tây Bắc trên Hà đồ.
Như vậy; trường hợp này: Kim quái sinh Thủy.vị
* Ly (Hỏa) nằm ở độ số 9 Dương Kim/ Chính Tây của Hà Đồ.
Như vậy; trường hợp này: Hỏa quái khắc Kim vị.
* Chấn (Mộc) nằm ở độ số 4 Âm Kim/ Tây Nam của Hà Đồ.
Như vậy; trường hợp này: Kim vị khắc Mộc quái.
* Khôn (Thổ) nằm ở độ số 7 Dương Hỏa / Chính Nam của Hà Đồ. Cấn (Thổ) nằm ở độ số 2 Âm Hỏa/ Đông Nam của Hà Đồ.
Trường hợp này: Hỏa vị sinh Thổ quái.
* Khảm (Thủy) nằm ở độ số 3 Dương Mộc/ Chính Đông của Hà Đồ.
Trường hợp này Thủy quái sinh Mộc vị.
* Tốn (Gió/ Mộc) nằm ở độ số 8 Âm Mộc/ Đông Bắc của Hà Đồ.
Trường hợp này; Mộc quái tương hòa Mộc vị.


Quán xét hiện tượng trên; chúng ta cũng nhận thấy ngay rằng: Không hề có sự tương thích nào giữa hành của quái theo cổ thư chữ Hán (Cụ thể là theo Mai Hoa dịch số do Thiêu Khang Tiết công bố vào đời Tống) với Hành của phương vị trên Hà Đồ. Hơn nữa; Tiên thiên bát quái chỉ là một trong những phương tiện để gieo quẻ trong sự tiên tri; chứ không làm nên tính tiên tri. Cái dụng của sự tiên tri lại ở trong Hậu thiên bát quái. Chính Hậu thiên bát quái mới là: “Pháp đại uy nỗ”. Vậy thì tại sao ông cha ta – Tổ tiên người Lạc Việt – lại khẳng định Hà đồ mới chính là đồ hình căn bản; là “Pháp đại uy nỗ”; là qui luật chủ yếu; bao trùm qua sự giải mã chủ quan của người viết?
Để tiếp tục tìm sự bí ẩn qua câu hỏi này; chúng ta tiếp tục quán xét sự tương thích theo cổ thư chữ Hán là: “Hậu thiên bát quái bản Lạc thư dã” (Đồ hình Hậu thiên bát quái xuất phát từ với Lạc thư/ Chu Hy). Xin quí vị quan tâm xem hình dưới đây:

http://lyhoc.viettop.net/HT-LT.jpg


Quán xét đồ hình trên – theo tính chất quái vị lưu truyền qua cổ thư chữ Hán – chúng ta cũng không hề thấy một sự liên hệ tương thích nào. Điều này được chứng minh như sau:
* Càn (Trời /Kim) nằm ở Âm Thủy; độ số 6/ Tây Bắc của Lạc thư.
* Khảm (Thủy) nằm ở Dương Thủy; độ số 1/ Chính Bắc của Lạc thư.
* Cấn (Thổ) nằm ở Âm Mộc; độ số 8/ Đông Bắc của Lạc Thư.
* Chấn Mộc nằm ở Dương Mộc; độ số 3/ Chính Đông của Lạc thư.
Các quái vị trên coi như tạm ổn; nhưng sự sai lệch nằm ở phần dưới đây:
* Tốn Mộc/ Gió nằm ở Âm Kim; độ số 4/ Đông Nam của Lạc Thư.
* Ly Hỏa nằm ở Dương Kim; độ số 9/ Chính Nam của Lạc thư.
*Khôn Thổ nằm ở Âm Hỏa; độ số 2/ Tây Nam của Lạc Thư.
* Đoài Kim nằm ở Dương Hỏa; độ số 7/ Chính Tây của Lạc thư.
Như vậy; với ngay cả Hậu thiên bát quái vốn là một cơ sở của những phương pháp ứng dụng bao trùm trên mọi lĩnh vực cũng không hề có sự tương thích với Lạc Thư. Đây chính là nguyên nhân để học giả uyên bác Nguyễn Hiến Lê cho rằng:

Nhất là so sánh những hình đó với hình Bát quái thì dù giàu trí tưởng tượng tới mấy cũng không thể bảo rằng Bát quái phỏng theo hai đồ hình đó được”.

Chính vì tính bất hợp lý của sự liên hệ giữa Tiên Thiên với Hà đồ và Hậu thiên với Lạc thư - được lưu truyền trong cổ thư chữ Hán từ hàng ngàn năm nay - đồng thời với sự xuất hiện muộn mằn của chính những đồ hình này – sau hơn 1000 năm - tính từ thời Hán; nên đã tạo cơ sở cho những luận điểm sai lầm là:
1) Âm Dương trong Kinh Dịch ko liên quan gì đến Ngũ Hành.
2) Âm Dương Ngũ hành là của người Việt và Bát quái là của người Hán.
Những sai lầm của luận điểm này vì những nhà nghiên cứu đã ko xuất phát từ một tiêu chí và phương pháp luận khoa học; chỉ nhìn thấy một cách trực quan từ những sự sai lầm theo nội dung trong bản văn chữ Hán. Sai lầm của những luận điểm này là:
# Luận điểm 1:
* Không giải thích được những hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành trong chính Kinh Dịch; như “Hà xuất đồ; Lạc xuất thư” và được cho rằng là cơ sở của Bát quái; khi mà Hà Đồ Lạc thư tự nó đã bao hàm cả Âm Dương và ngũ hành.
* Không giải thích được các hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành được coi là có trước Kinh Dịch; như:
- Trong “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” – Thể hiện phương pháp luận của thuyết Âm Dương ngũ hành như là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán; và thực tế là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán.

# Luận điểm 2:
* Bát quái và tất cả các quẻ; chỉ là một hệ thống ký hiệu chứ không phải là một hệ thống văn tự có nội dung. Nếu tách ra khỏi thuyết Âm Dương Ngũ hành thì nó sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả. Cũng như với công thức E = m.c2 của thuyết tương đối; nếu tách hệ thống ký hiệu này ra khỏi thuyết Tương đối sẽ ko thể có nội dung. Và không thể cho rằng: Thuyết Tương đối thuộc về Anhxtanh còn công thức E =mc2 lại thuộc về một nền văn minh khác ko liên quan hoặc là sự kế thừa tiếp tục của học thuyết này. Tuy nhiên; luận điểm 2 chứng tỏ một tư duy cao cấp hơn. Bởi vì – so với luận điểm 1 – nó còn thể hiện tính đối chiếu văn bản và nghiên cứu nghiêm túc. Sự sai lầm là do chưa hiểu được bản chất của thuyết Âm Dương Ngũ hành và mối liên hệ của nó với Kinh Dịch.

Kính thưa quí vị quan tâm
Tôi luôn cho rằng:
“ Âm Dương Ngũ hành là một siêu lý thuyết vũ trụ quan; hoàn chỉnh và nhất quán; Bát quái chỉ là hệ thống siêu công thức của học thuyết này”
Luận đề này là sự tiếp tục minh chứng luận điểm trên.
Trên cơ sở này với sự hướng dẫn của những di sản văn hóa phi vật thể thuộc về nền văn minh Lạc Việt còn lại đến nay; chúng ta tiếp tục quán xét và sự minh chứng tính chất của Hà Đồ trong tính ứng dụng của nó. Từ đó; chúng ta sẽ thấy được giá trị của thông điệp gửi qua bức tranh dân gian lưu truyền qua bao thế hệ người Lạc Việt:
“Pháp Đại Uy Nỗ”.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị!

Thiên Sứ

Còn tiếp


HẬU THIÊN BÁT QUÁI LIÊN HỆ HÀ ĐỒ

Thiên Sứ
08-07-2005, 08:23 AM
HẬU THIÊN BÁT QUÁI LIÊN HỆ HÀ ĐỒ

Hệ từ viết: Hà xuất đồ; Lạc xuất thư thánh nhân tác chi



Kính thưa quí vị.
Trên cơ sở phân tích và chứng minh ở phần trên về tính mâu thuẫn bất hợp lý trong cổ thư chữ Hán với quan niệm cho rằng:

@ Hà Đồ liên quan đến Tiên Thiên Bát quái

@ Lạc thư liên quan đến Hậu thiên bát quái

Bởi vậy; người viết hoàn toàn có cơ sở khi cho rằng câu:

Hà xuất đồ ;Lạc xuất thư thánh nhân tác chi của Hệ từ trong Kinh Dịch mà cụ thể là Chu Dịch, cần được hiểu đúng với nội dung của nó là:

“Đồ hình trên Thiên Hà (Hà xuất đồ) được ghi nhận trong sách của người Lạc Việt (Lạc xuất thư) do các vị thánh nhân Lạc Việt làm ra.

Chu Dịch – Hậu thiên bát quái chính là cuốn sách ứng dụng huyền vĩ tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên; cuộc sống và con người; chính là Pháp Đại Uy Nỗ . Như vậy; chúng ta hoàn toàn có cơ sở ngay từ chính cuốn Chu Dịch để cho rằng:

HÀ ĐỒ chính là cơ sở của HẬU THIÊN BÁT QUÁI

Bởi vì; chỉ duy nhất cuốn Chu Dịch nói về sự khởi nguyên của Hà Đồ. Điều này cũng hoàn toàn trùng khớp với sự giải mã bức tranh dân gian nổi tiếng của người Lạc Việt: Pháp Đại uy nỗ

Xin quí vị quán xét đồ hình dưới đây:

HẬU THIÊN BÁT QUÁI LIÊN HỆ VỚI HÀ ĐỒ
http://lyhoc.viettop.net/HD-HT.jpg

Qua đồ hình trên – tạm thời để sang một bên những vấn đề liên quan đến vị trí Tốn & Khôn – quí vị quan tâm cũng nhận thấy một sự trùng khớp hoàn toàn cho 4 phương vị chính Đông – Tây – Nam – Bắc là:

* Khảm Thủy/ Chính Bắc trong ứng dụng của Hậu Thiên Bát quái nằm ở độ số 1 chính Bắc/ Thủy của Hà Đồ.

* Chấn Mộc/ Chính Đông trong ứng dụng của Hậu Thiên Bát quái nằm ở độ số 3 chính Đông/ Mộc của Hà đồ.

* Đoài Kim/Chính Tây trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái nằm ở độ số 9 chính Tây/ Kim của Hà Đồ.

* Ly Hoả/ Chính Nam trong ứng dụng của Hậu thiên Bát quái nằm ở độ số 7 chính Nam/ Hoả của Hà Đồ.

Tính chất Ngũ Hành của hai phương vị chính trong Hậu Thiên bát quái với Hà đồ không đổi so với Hậu Thiên bát quái liên hệ với Lạc Thư theo cổ thư chữ Hán là Khảm/ Thuỷ Bắc và Chấn/ Mộc Đông .
Nhưng tính hợp lý và nhất quán hoàn toàn với 4 chính quái vị trên lại chỉ có ở Hà Đồ liên hệ với Hậu Thiên bát quái từ văn minh Lạc Việt là:

* Ly Hỏa/ Chính Nam trong ứng dụng của Hậu Thiên bát quái nằm ở chính vị với độ số 7 chính Nam/ Dương Hỏa của Hà đồ (Theo cổ thư chữ Hán phối Hậu Thiên với Lạc Thư thì Ly Hỏa nằm ở độ số 9 /Dương Kim trên Lạc Thư)

* Đoài Kim/ Chính Tây trong ứng dụng của Hậu Thiên bát quái nằm ở chính vị với độ số 9 chính Tây/ Dương Kim của Hà Đồ.

Như vậy; chỉ có Hà đồ liên hệ với Hậu Thiên bát quái – được hướng dẫn từ những mật ngữ lưu truyền trong văn hóa phi vật thể trong dân gian Lạc Việt – mới chứng tỏ sự trùng khớp một cách hợp lý; nhất quán với mối liên hệ thực tế của sự khởi nguyên nền Lý học Đông phương. Sự kết hợp của Hà đồ với Hậu Thiên bát quái chính là cái chìa khóa rất quan yếu để mở kho tàng văn hóa Đông Phương đầy huyễn ảo một cách kỳ vĩ; khi bụi thời gian phủ dầy lên nền văn hiến một thời vàng son của người Lạc Việt.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Sự kết hợp Hà Đồ với Hậu Thiên Bát quái chính là cơ sở của PHÁP ĐẠI UY NỖ khi Hậu thiên bát quái đã chứng tỏ sự ứng dụng một cách hiệu quả và kỳ vĩ trải hàng ngàn năm.
Nhưng tất cả chúng ta đều biết:
Hà Đồ Lạc Thư là cơ sở của Bát quái. Vậy; nếu như Hà Lạc là biểu lý cô đọng của thuyết Âm Dương và Ngũ hành thì Bát quái không thể coi là một ký hiệu tự thân; biểu lý cho một nội dung độc lập không liên quan đến Hà Lạc được. Bởi vì; nếu Bát quái là những ký hiệu tự thân biểu lý cho nội dung độc lập không liên quan đến Hà Lạc thì nó sẽ phải xuất phát từ một thực tại khác. Đây là điều vô lý và người viết đã chứng minh ở bài trên về hai luận điểm sai lầm xuất hiện từ những thập niên cuối của thế kỷ trước là:
1) Âm Dương trong Kinh Dịch ko liên quan gì đến Ngũ Hành.
2) Âm Dương Ngũ hành là của người Việt và Bát quái là của người Hán.
Như vậy; điều giải thích hợp lý nhất phù hợp với những tiêu chí của khoa học hiện đại là:

Bát quái chính là những ký hiệu theo thuật toán của hệ nhị phân và là siêu công thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành được biểu lý cô đọng trong Hà Đồ và Lạc Thư.

Hay nói một cách khác:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước. Bát quái chính là ký hiệu siêu công thức của học thuyết này.


Kính thưa quí vị quan tâm.
Tất cả những phần chứng minh ở trên mới chỉ mang tính chứng minh cho một nguyên lý lý thuyết căn cứ vào một giả thuyết hợp lý. Theo tiêu chí khoa học hiện đại thì sự chứng minh này chỉ được coi là đúng; nếu từ nguyên lý lý thuyết này lý giải một cách hợp lý tất cả mọi trường hợp liên quan đến nó một cách nhất quán; hoàn chỉnh và khách quan; có tính qui luật và khả năng tiên tri; theo đúng tiều chí khoa học hiện đại.
Bởi vậy; phần tiếp theo đây sẽ là sự minh chứng tính hoàn chỉnh và nhất quán của luận đề này.
Chân thành cảm tạ sự quan tâm của quí vị.


Thiên Sứ

Còn tiếp:
SƯC MẠNH CỦA QUI LUẬT VŨ TRỤ
(Pháp Đại Uy Nỗ)

Thiên Sứ
08-07-2005, 01:03 PM
SƯC MẠNH CỦA QUI LUẬT VŨ TRỤ
(Pháp Đại Uy Nỗ)

"Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng; nếu giải thích một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng liên quan đến nó một cách có hệ thống; hoàn chỉnh và nhất quán; có tính khách quan; tính quy luật và khả năng tiên tri”.
Tiêu chí khoa học hiện đại


Kính thưa quí vị quan tâm.
Sự phối hợp Hậu thiên bát quái liên quan đến Hà Đồ; là sự thay đổi có tính căn để nguyên lý của các phương pháp ứng dụng liên quan đến thuyết Âm Dương và Ngũ hành. Nhưng tính hợp lý đã chứng minh mới chỉ giới hạn trong chính nó. Với luận điểm cho rằng: Hà Đồ là quy luật chủ yếu bao trùm (Pháp Đại uy nỗ) là cơ sở của Hậu Thiên bát quái Lạc Việt; có nguồn gốc là những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ đến Địa cầu; liên quan đến tất cả mọi vấn đề thiên nhiên; cuộc sống và con người – thì nó phải chứng tỏ một tính lý giải hợp lý cho tất cả mọi phương pháp ứng dụng và hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành; theo đúng các tiêu chí khoa học hiện đại.
Trên thực tế những phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành bao trùm trên mọi lĩnh vực liên quan đến thiên nhiên và con người. Bởi vậy; sự lý giải một cách hợp lý cho một nguyên lý căn để của học thuyết này là “Hà Đồ liên hệ với Hậu thiên bát quái”; cũng phải thỏa mãn trong sự hợp lý bao trùm đó.
Nhưng sự chứng minh này sẽ không thể hoàn chỉnh; nếu không giải thích một nguyên lý có tính căn để nữa liên quan là. “Hậu thiên bát quái đổi chỗ Tốn & Khôn”. Cơ sở của sự chứng minh này; t/g Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã trình bày trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” Nxb VHTT 2002; quí vị có thể tham khảo. Nhưng trong luận đề này – Để tiện cho việc tìm hiểu và quán xét của quí vị quan tâm – người viết xin được trình bày lại những luận cứ chính như sau:

@ - Luận đề thứ nhất:
Trên thực tế cấu tạo của Bát quái; các nhà nghiên cứu Dịch học cổ kim đã phân loại thành hai nhóm là:
A) Nhóm bất Dịch gồm: Càn ; Khôn ;Ly; Khảm
Đặc tính của 4 quái này là: Không thay đổi thuộc tính quái khi xoay chuyển các quái.

http://lyhoc.viettop.net/batdich.jpg

B) Nhóm điên đảo Dịch gồm: Đoài Tốn; Cấn Chấn
Nhóm này lại phân làm có hai cặp:
1) Đoài & Tốn.
2) Cấn & Chấn có tính chất sau:
*) Những quái trong cùng một cặp (Đoài& Tốn hoặc Cấn &Chấn) nếu xoay 180 độ thì thay đổi đặc tính quái cho nhau.

http://lyhoc.viettop.net/daodich.jpg

*) Nếu kết hợp hai quái trong cùng một cặp thì ta sẽ được một cặp Bất Dịch. Chúng ta tạm đặt tên là: “Cặp điên đảo Dịch cùng tính chất ”

http://lyhoc.viettop.net/capdaodich.jpg


@ - Luận đề thứ hai

Từ thuận tự của 64 quẻ được ghi nhận trong Chu Dịch và được bảo chứng bằng Tự quái truyện; t/g Nguyễn Vũ Tuấn Anh sắp lại từng cặp liên tiếp và được 32 cặp quẻ có tính chất đối xứng như sau:

http://lyhoc.viettop.net/32cap.jpg

Trên cơ sở 32 cặp quẻ trình bày ở trên; quí vị quan tâm sẽ nhận thấy ngay rằng: Mỗi cặp là một đồ hình đối xứng nhau. Trong đó có 4 cặp đối xứng Âm Dương và 28 cặp đối xứng nghịch đảo.

Thiên Sứ
Còn tiếp

Thiên Sứ
08-07-2005, 01:07 PM
Tiếp theo

Quí vị cũng nhận thấy rằng:
Để có 32 cặp quẻ có tính đối xứng thì chúng có 3 phương thức tạo cặp sau đây:
1) Hai quái bất Dịch kết hợp với nhau.
Thí dụ:

http://lyhoc.viettop.net/khamly.jpg

2) Một quái bất Dịch kết hợp với một “cặp Điên Đảo Dịch cùng tính chất”. Thí dụ:

http://lyhoc.viettop.net/doaitoncan.jpg

3) Hai“Cặp điên đảo Dịch cùng tính chất” kết hợp với nhau.
Thí dụ:

http://lyhoc.viettop.net/doaitoncanchan.jpg


Như vậy; khi một quái “Điên đảo Dịch” cùng kết hợp với một quái “Điên đảo Dịch” cùng tính chất với nó thành một “Cặp điên đảo Dịch cùng tính chất” và tương đượng một quái bất Dịch trong việc tạo 32 cặp quẻ..
Như vậy:
* Căn cứ vào luận đề thứ nhất về các “Cặp điên đảo Dịch cùng tính chất”;
* Căn cứ vào luận đề thứ hai về qui luật tạo nên tính đối xứng của các cặp quẻ.
Đó là:
Để có được 32 cặp quẻ theo đúng thuận tự 64 quẻ trong Chu Dịch thì qui luật đó sẽ gồm hai quái bất dịch kết hợp; hoặc hai “Cặp điên đảo dịch cùng tính chất” kết hợp; hoặc một “Cặp điên đảo dịch cùng tính chất” kết hợp với một quái bất dịch.
Xét đồ hình Hậu thiên Bát quái trong bản văn cổ chữ Hán; chúng ta thấy rằng:
“Cặp điên đảo dịch cùng tính chất” Cấn & Chấn có vị trí ở cạnh nhau cùng tính chất Âm Dương/ Mộc trên Hà Đồ. Trong sự tạo thành thuận tự 64 quẻ/32 cặp quẻ đối xứng; chúng kết hợp để tạo thành một cặp điên đão Dịch cùng tính chất. Vì vậy “cặp điên đảo dịch cùng tính chất” Đoài &Tốn ko thể ở vị trí cách nhau như đồ hình Hậu thiên bát quái được mô tả trong bản văn chữ Hán. Tính hợp lý của thuận tự 64 quẻ Dịch được minh chứng trong Tự quái truyên và đó là sự ứng dụng hữu hiệu trên thực tế trải hàng thiên niên kỷ (Trước khi đồ hình HTBQ được công bố vào đời Tống) – lý giải tất cả mọi chuyện liên quan đến con người với khả năng tiên tri – đã chứng tỏ vị trí Tốn & Khôn phải thay đổi theo Hậu thiên bát quái nguyên thủy từ văn minh Lạc Việt.
Xin quí vị xem hình dưới đây:

HẬU THIÊN LẠC VIỆT

http://lyhoc.viettop.net/hauthiendiendao.jpg


HẬU THIÊN BÁT QUÁI THEO SÁCH HÁN

http://lyhoc.viettop.net/hauthienhan.jpg


Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy; sự thay đổi vị trí Tốn & Khôn đã chứng tỏ tính hợp lý trong việc giải thích tính kết hợp của Đoài & Tốn trong việc tạo ra thuận tự 64 quẻ/ 32 cặp quẻ trên thực tế. Chính sự thay đổi này và tiếp theo đó là:
Hậu Thiên bát quái nguyên thủy từ văn minh Lạc Việt kết hợp với Hà đồ sẽ là nguyên lý căn để cần yếu trong việc tiếp tục giải thích tất cả mọi trường hợp liên quan một cách hợp lý; hoàn chỉnh và nhất quán; giải thích tính quy luật; tính khách quan và khả năng tiên tri của siêu lý thuyết Âm Dương Ngũ hành; một lý thuyết thống nhất vũ trụ. Đó là những trường hợp thể hiện ở phương pháp ứng dụng trong Thái Ất; Tử Vi; Độn giáp; Tử Bình; Mai Hoa…..và tất nhiên cần có thời gian.
Hay nói một cách khác: Đó chính là cái chìa khóa để mở Cánh cửa bí ẩn của văn minh Đông phương . Tất nhiên nó thuộc về VĂN MINH LẠC VIỆT
Tính hợp lý của Hậu thiên Lạc Việt còn được chứng tỏ ở những vấn đề lịch sử liên quan:
@ Người Hán khi biết đến đồ hình Hậu thiên và Tiên thiên vào đời Tống; thì trước khi đó cả ngàn năm vẫn ứng dụng 64 quẻ Dịch để coi bói. Và cho đến ngày này khi Chu Dịch lan truyền cả thế giới; nếu như ông Thiệu Khang Tiết ko công bố hai đồ hình Tiên và Hậu thiên Bát quái thì có lẽ chúng ta cũng vẫn coi bói y như người Hán trước Tống và cũng có những tên tuổi như Quản Lộ; Khổng Minh (Thời Hán trước Tống cả ngàn năm) vv… Điều này đã cho thấy rằng: Đồ hình Hậu thiên và Tiên thiên liên hệ với Hà Lạc mang tính nguyên lý lý thuyết và khoảng cách của hai đồ hình này cho đến thực tế ứng dụng vào khả năng tiên tri rõ ràng là một khoảng cách rất lớn. Chỉ riêng hiện tượng này đã cho thấy: Nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của Kinh Dịch; khi mà một đồ hình căn để có tính nguyên lý của Kinh Dịch xuất hiện sau sự ứng dụng ngót 2000 năm – tính từ thời Chu Văn Vương được coi là tác giả của Dịch?
Bởi vậy; chính sự sai lệch từ nguyên lý căn để này trong sách Hán và một khoảng cách rất xa từ nguyên lý căn để đến ứng dụng thực tế; đã khiến cho nền lý học Đông phương chìm sâu trong sự huyền bí trải hàng thiên niên kỷ; khi văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử.
Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai.
Chính vì tính ứng dụng có trước khi đồ hình Tiên & Hậu thiên ra đời – thì ngoài việc chứng tỏ tính mâu thuẫn về lịch sử phát triển của nó nếu coi thuộc về văn minh Hán - còn chứng tỏ: Sự hiểu chỉnh này cũng chỉ mang tính phục hồi một nguyên lý lý thuyết và sự hiệu chỉnh những vấn đề liên quan. Vào thời Hán - trước Tống cả ngàn năm - Quản Lộ đã từng bói như thần mà chẳng cần biết đến Tiên thiên và Hậu thiên bát quái với Hà Lạc ra sao – ít nhất về mặt lịch sử văn bản. Sự hiệu chỉnh đúng sẽ dẫn đến khả năng phục hồi toàn bộ hệ thống lý thuyết là nguyên lý của Kinh Dịch và khả năng cho chúng ta biết đến một thực tại nào là cơ sở nhận thức dẫn đến hình thành hệ thống lý thuyết đó? Căn cứ trên tiêu chí khoa học hiện đại thì tất cả các môn ứng dụng mà chúng ta đang dùng ở đây là: Thái Ất; Tử Vi…..thì chúng hoàn toàn đáp ứng đầy đủ yêu cầu của tiêu chí khoa học hiện đại.
@ Xét về lịch sử văn bản thì đồ hình Hậu thiên do ông Thiệu Khang Tiết công bố vào đời Tống hoàn toàn có thuận tự trùng khớp với tiết V thuyết quái truyện nếu xét thuận tự theo chiều kim đồng hồ từ quái Chấn (“Đế xuất hồ Chấn”…). Nhưng thực tế Tiết V thuyết quái truyện có phải là nguyên lý cho đồ hình Hậu thiên bát quái không?
Xin quí vị quan tâm xem tiếp bài viết sau:

GIẢI MÃ NHỮNG HIỆN TƯỢNG VĂN HÓA DÂN GIAN LIÊN QUAN & TIẾT V – Thuyết quái truyện
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp

Thiên Sứ
08-07-2005, 05:18 PM
GIẢI MÃ NHỮNG HIỆN TƯỢNG VĂN HÓA DÂN GIAN LIÊN QUAN & TIẾT V – Thuyết quái truyện

Kính thưa quí vị quan tâm.

Người viết một lần nữa xin được lưu ý quí vị quan tâm là:
Tất cả những sự giải mã một số hiện tượng văn hóa dân gian Việt Nam để tìm vào sự bí ẩn văn hóa Đông phương; đều không là bằng chứng trực tiếp chứng minh cho “cội nguồn văn hóa Đông phương thuộc về người Lạc Việt”. Sự giải mã này chỉ có tính hướng dẫn – khi sự giải mã đúng – để khám phá bản chất đích thực của nền văn minh huyền bí này. Chỉ khi sự khám phá được sáng tỏ thì chính tính chân lý của sự việc sẽ là bằng chứng chứng minh cho luận điểm trên.

Nhưng vấn đề không chỉ dừng lại ở sự giải mã những giá trị văn hóa dân gian Việt Nam; mà nó còn nằm ngay trong cả những truyền thuyết dân gian vốn được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ và của chính Kinh Dịch.

GIẢI MÃ TIẾT V- THUYẾT QUÁI TRUYÊN.

Một hiện tượng có vẻ như là một sự bảo chứng cho thuận tự của đồ hình Hậu thiên bát quái lưu truyền trong cổ thư chữ Hán chính là đoạn văn sau đây trong “Tiết V – thuyết quái truyên”:
* “Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Trí dịch hồ Khôn. Thuyết ngôn hồ Đoài. Chiến hồ Càn. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn”.
Sau đó hàng ngàn năm; đồ hình Hậu Thiên bát quái được các đạo gia là Thiệu Khang Tiết công bố vào đời Tống thì hoàn toàn trùng khớp với thuận tự của đoạn văn trên. Xin quí vị quan tâm xem hình dưới đây:

THUÂN TỰ HẬU THIÊN BÁT QUÁI VÀ TIẾT V THUYẾT QUÁI TRUYỆN
(Theo cổ thư chữ Hán)
http://lyhoc.viettop.net/thuyetquai.jpg

Như vậy; qua đồ hình trên chúng ta thấy rằng: Hoàn toàn có sự trùng khớp theo thuận tự của Đồ hình Hậu thiên bát quái theo cổ thư chữ Hán - được công bố vào đời Tống - với bản văn Kinh Dịch cổ lưu truyền từ thời Hán trong Tiết V - Thuyết quái truyện. Bởi vậy; có một số nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng: Đồ hình Hậu thiên bát quái do các đạo gia thời Tống căn cứ vào Thuyết quái tạo ra.
Nhưng thực tế thì ngay đoạn văn trên của Tiết V – Thuyết quái truyện lại không hề có một chữ nào xác định đây là cơ sở của đồ hình Hậu Thiên bát quái được công bố vào đời Tống. Nghĩa đen của đoạn trên chỉ là:

Đế xuất hồ Chấn = Vua ra cửa Chấn.

Tề hồ Tốn = Làm bằng cửa Tốn.

Tương kiến hồ Ly = Gặp gỡ ở cửa Ly.

Trí dịch hồ Khôn = Suy nghĩ chuyển cửa Khôn.

Duyệt ngôn hồ Đoài = Vui vẻ ở Đoài (hoặc nói chuyện ở Đoài).

Chiến hồ Càn = Tranh chấp ở Càn.

Lao hồ Khảm = Khó nhọc ở Khảm.

Thành ngôn hồ Cấn = Nói xong ở Cấn.

Ngay trong Thuyết quái truyện cũng có một lời giải thích sơ sài về đoạn văn bí ẩn trên.
Chúng ta cùng quán xét toàn bộ đoạn giải thích đó như sau:

** Vạn vật xuất hồ Chân. Chấn; Đông phương dã. Tề hồ Tốn. Tốn Đông Nam dã. Tề dã giả; ngôn vạn vật chi khiết tề dã. Ly dã giả; minh dã; vạn vật giai tương kiến; Nam phương chi quái dã. Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ; hưởng minh nhi trị; cái thủ chư thử dã. Khôn dã giả; địa dã; vạn vật giai trí dưỡng yên. Cố viết: “Trí dịch hồ Khôn”. Đoài chính Thu dã; vạn vật chi sở duyệt dã. Cố viết: “Duyệt ngôn hồ Đoài”. Chiến hồ Càn; Càn Tây Bắc chi quái dã; ngôn Âm Dương tương bạc dã. Khảm dã; Thủy dã; chính Bắc phương chi quái dã; lao quái dã. Vạn vật chi sở quy dã. Cố viết: “Lao hồ Khảm”. Cấn Đông Bắc chi quái dã; vạn vật chi sở thành chung nhi sở thành thủy dã. Cố viết: “Thành ngôn hồ Cấn”.

Bản dịch của Hải Ân “Kinh Dịch với đời sống”(Nxb VHDT 1998):

Vạn vật xuất ra ở Chấn. Chấn ở phương Đông. Hoàn thành mọi việc ở Tốn; Tốn Đông Nam. Hoàn thành có nghĩa là vạn vật trở nên trong sạch hoàn toàn. Ly là sáng; vạn vật đếu thấy nhau; là quẻ của phương Nam. Thánh nhân quay mặt về phương Nam mà trị; là lấy tượng ở đây. Khôn là đất; lo cho vạn vật được nuôi dưỡng; cho nên nói rằng: “Làm cho chúng giúp ích nhau ở Khôn”. Đoài là giữa mùa Thu; vạn vật đều vui vẻ; cho nên nói rằng: “Làm cho chúng vui ở Đoài”. Chiến đấu ở Kiền; Kiền là quẻ chủ ở Tây Bắc; có nghĩa là ở đó Âm Dương kích động nhau vậy. Khảm là nước; là quẻ của phương Bắc; là quẻ khó nhọc; mà mọi vật đều quy phục; cho nên nói rằng: “Khó nhọc ở Khảm”. Cấn là quẻ Đông Bắc; nơi mà lúc đầu và lúc cuố của vạn vật hoàn tất; cho nên nói rằng: “Thành tựu ở Cân”.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy; Tiết V/ Thuyết quái truyện được chia làm hai phần: Phần một (*) là luận đề và phần hai (**) là sự giải thích của phần trên. Do đó; vấn đề được đặt ra là: Tại sao cùng một ngôn ngữ (Chữ Hán); cùng một tác giả (Vốn được coi là Khổng Tử) lại phải có phần này diễn giải chú thích cho phần kia? Phải chăng phần một (*) là thừa; vì chỉ phần hai (**) cũng đủ nghĩa?
Trên cơ sở sự mâư thuẫn này; người viết cho rằng: Phần một (*) chính là một mật ngữ cho thấy vị trí Tốn Khôn cần phải sửa lại; phần hai là sự che dấu mật ngữ này:
Toàn bộ mật ngữ này đượcgiải mã nghư sau:

1) Đế xuất hồ Chấn = Vua ra cửa Chấn: Sự tìm hiểu phục hồi cố sử thời Hùng Vương (Đế) sẽ gây chấn động; do những thay đổi từ căn để những nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành.

2) Tề hồ Tốn = Làm bằng cửa Tốn: Bỏ vị trí của quái Tốn ở Đông Nam.

3) Tương kiến hồ Ly = Sự việc bắt đầu từ phương Nam.

4) Trí dịch hồ Khôn = Suy nghĩ một phương pháp luận hợp lý để chuyển cửa Khôn. Đương nhiên là chuyển về Đông Nam khi đã bỏ quái Tốn khỏi vị trí này.

5) Duyệt (Có sách dịch là thuyết) ngôn hồ Đoài = Điều này sẽ đúng với nguồn gốc của Kinh Dịch.

6) Chiến hồ Càn = Từ đây sẽ phục hồi một siêu lý thuyết vũ trụ quan (Càn) và gây tranh luận.

7) Lao hồ Khảm = Khó nhọc ở phương Bắc. Cũng có thể hiểu là: Thủy Khảm chủ thần trí; cần có sự suy nghĩ lao tâm mới có thể tìm hiểu được sự thật bao trùm bởi bức màn huyền bí.

8) Thành ngôn hồ Cấn = Cấn chính là tượng của Trái đất (Xin xem “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”. Tiêu đề:”Lý giải về nguyên nhân hiện tượng quẻ Cấn ở trung cung trong ứng dụng của thuật phong thủy từ văn minh Văn Lang”; trang 281. Tủ sách tuvilyso đã lý giải). Mọi chuyện sẽ sáng tỏ và hoàn chỉnh khi đặt vị trí Trái Đất là trung tâm của mọi sự diễn dịch.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Vấn đề sẽ tiếp tục đặt ra là: Tại sao trong chính cuốn Kinh Dịch lại tồn tại một mật ngữ cần giải mã để góp phần tìm giá trị đích thực của nó. Để giải thích điều này; người viết cho rằng: Chính tổ tiên người Lạc Việt đã viết tiết V thuyết quái truyện; cài những mật ngữ cho con cháu đời sau tìm về cội nguồn của tổ tiên và phục hồi lại một giá trị tri thức siêu việt bị thất truyền. Các học giả cận - hiện đại bằng phương pháp thẩm chứng văn bản cũng đã có ý kiến cho rằng: “Thuyết quái truyện” được viết rất muộn sau thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Tức là tương đương thời điểm nền văn minh vĩ đại của người Lạc Việt bị sụp đổ ở Nam sông Dương Tử (Năm 258 trước CN). Và không phải chỉ ở Tiết V thuyết quái truyện; mà những di sản văn hóa phi vật thể còn lại của người Lạc Việt cũng ẩn chứa nhiều mật ngữ để giải mã những bí ẩn của sự huyền bí Đông phương. Một trong những hiện tượng của truyền thuyết liên quan đến vị trí Tốn Khôn chính là “Sự tích bà Nữ Oa vá trời” vốn được coi là sản phẩm của văn hóa Hoa Hạ.

Giải mã truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời”
Nội dung truyền thuyết này như sau:
Vào thời Hiên Viên; thần nước Cộng Công đánh nhau với thần lửa Chúc Dong. Cộng Công thua trận; húc đầu vào núi Bất Chu; khiến cột trời đổ gẫy. Trời nghiêng về phía Tây Bắc; đất lệch về phía Đông Nam. Nước từ trên trời đổ xuống gây ngập lụt ở khắp nơi. Bà Nữ Oa đốt cỏ Lư thành tro ngăn nước lụt; lấy đá ngũ sắc dưới biển vá trời. Sau đó bắt con rùa lớn đứng đội trời lên. Từ đó; cuộc sống trở lại yên bình.


Thiên Sứ

Còn tiếp

Thiên Sứ
08-07-2005, 05:40 PM
Giải mã truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời”
(Tiếp theo)

Kính thưa quí vị quan tâm.
Những chi tiết trong truyền thuyết này theo cái nhìn chủ quan của ngưòi viết chính là sự hướng dẫn tới một luận điểm cho rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là siêu lý thuyết vũ trụ quan và Bát quái chỉ là ký hiệu siêu công thức của học thuyết này. Nguyên lý căn để của học thuyết này là Hậu thiên bát quái đổi chỗ Tốn Khôn liên hệ với Hà Đồ và thuộc về văn minh Lạc Việt. Điều này được giải mã qua truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” như sau:

@ Trong Tiên Thiên Bát quái: trục Càn Khôn là trục thẳng đứng. Nếu ta kẻ một đường thẳng thì đây chính là cột “chống trời” (Chống trên đất Khôn; đỡ trời Càn).
Trong Hậu thiên bát quái thì thay thế Càn /Khôn bằng Khảm /tượng bằng thần nước Cộng Công và Ly/ tượng bằng thần lửa Chúc Dung. Thủy Hỏa xung khắc tượng cho cuộc chiến của hai vị thần. Danh từ “Bất Chu”còn có nghĩa là Hậu thiên bát quái ko phải do nhà Chu (Chu Văn Vương) làm ra.

@ Trong Hậu thiên bát quái từ bản văn cổ chữ Hán thì Càn ở phía Tây Bắc. (Trời nghiêng về phía Tây Bắc); Khôn ở Tây Nam. Nhưng theo sự hướng dẫn của truyền thuyết này thì Khôn phải ở phía Đông Nam (Khôn/ Đất lệch về phía Đông Nam).

http://lyhoc.viettop.net/thuyetnuoa.jpg

@ Bà Nữ Oa lấy đá ngũ sắc vá trời tức là cơ sở của Bát quái chính là thuyết Âm Dương ngũ hành. Hình tượng “lấy cỏ Lư; đốt thành tro ngăn nước” cho thấy “đốt” là Hỏa; thành “tro” là Âm Hỏa; “ngăn nước” là Thổ. Như vậy là Khôn Thổ khắc Thuỷ 9”ngăn nước” phải ở cung Âm Hỏa.
Nếu Hậu thiên bát quái đổi chỗ Tốn Khôn và liên hệ với Hà đồ sẽ trùng khớp một cách kỳ lạ và thỏa mãn tất cả điều kiện trên. Xin quí vị quan tâm xem lại đồ hình Hà Đồ liên hệ với Hậu Thiên Bát quái nguyên thủy từ văn minh Lạc Việt ở bài trên.

@ Bà Nữ Oa còn có thể hiểu là “Mẹ Cóc”; biểu tượng của sự khai sinh ra chữ Khoa Đẩu (Chữ hình con nòng nọc); ghi lại những giá trị của nền văn minh Lạc Việt; lưu truyền trong Lạc thư là sách của người Lạc Việt.

ÔNG KHIẾT - BIỂU TƯỢNG CỦA NỀN VĂN MINH KHOA ĐẨU
Minh họa: Thiên Sứ

http://lyhoc.viettop.net/cocvasao.jpg


Kính thưa quí vị quan tâm.
Sự giải mã truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” cho thấy sự trùng khớp hoàn toàn những hình tượng được nhắc tới trong truyền thuyết với quan niệm: “Đồ hình Hậu Thiên Bát quái đổi chỗ Tốn Khôn liên hệ với Hà Đồ” và thuộc về văn minh Lạc Việt. Người viết xin thống kê những chi tiết trùng khớp sau đây để quí vị tham khảo:

1) Cột chống trời Bất Chu = Không phải nhà Chu tạo ra Kinh Dịch.

2) Thần Lửa và Thần Nước xung khắc; nước từ trên trời đổ xuống = Khảm /Ly thay thế Càn / Khôn.

3) Trời nghiêng về phía Tây Bắc = Quái Càn nằm ở phía Tây Bắc của HTBQ. Đây là sự thể hiện rất rõ về phương vị của quái Càn.

4) Dùng đá Ngũ sắc để vá trời = Ngũ hành chính là cơ sở của Bát quái.

5) Đât lệch về phía Đông Nam = Quái Khôn phải ở phía Đông Nam.

6) Đốt cỏ Lư thành Tro – ngăn nước = Tro chính là Âm Hỏa. Nhưng tất cả những ai đã có kiến thức căn bản về sự sinh khắc của Ngũ hành đều biết rằng: Chỉ có Hoả mới sinh Thổ. Như vậy; Khôn Thổ phải ở cung Âm Hỏa. Điều này chỉ có thể thực hiện được ở Hà Đồ liên hệ với HTBQ đổi chỗ Tốn Khôn. Vì như vậy Khôn/ Thổ sẽ nằm ở cung Âm Hoả độ số 2/ Đông Nam của Hà Đồ.

Như vậy; cho dù sự giải mã xuất phát từ tính chủ quan của t/g thì tính trùng khớp đến kỳ lạ của truyền thuyết “Bà Nữ Oa vá trời” với các vấn đề của Kinh Dịch; cũng chứng tỏ nó phải được hình thành một cách có chủ ý; để phản ánh một thực tế đã khuất lấp trong văn hóa Đông Phương. Vậy ai là chủ nhân sáng tạo của truyền thuyết này? Người Hoa Hạ sáng tạo ra để tự phản bác họ chăng? Điều này chỉ có thể giải thích rằng: Chỉ có chính chủ nhân của học thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch - một tri kiến vũ trụ quan siêu việt – mới biết rõ mình phải làm gì để bảo vệ những giá trị đích thực của một nền văn minh bị sụp đổ cho con cháu mai sau.
Chính tính hướng dẫn của sự giải mã những truyền thuyết vốn được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ và của chính Kinh Dịch này; lại chứng tỏ một cách sắc sảo hơn nữa của luận điểm cho rằng: Nền văn minh Văn Lang một thời huy hoàng và lừng lẫy ở miền nam sông Dương tử đã sụp đổ vào thế kỷ thứ 3 trước CN và đã bị Hán hóa.

Kính thưa quí vị quan tâm
Có những giá trị văn hoá phi vật thể cần được giải mã; như bài “Chi chi trành trành”; hoặc truyền thuyết bà Nữ Oa vá trời”. Nhưng không phải bất cứ một giá trị nào cũng phải giải mã ; mà là bằng chứng trực tiếp; thí dụ như tục ăn trầu ở Đài Loan..v.v…
Sự giải mã những giá trị văn hoá phi vật thể để từ đó tìm ra tính hướng dẫn nhằm khám phá những bí ẩn của văn hoá Đông phương; tạm thời người viết bài này tạm thời chưa coi là bằng chứng khoa học; trong việc minh chứng cho sự tồn tại của một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa nó không thực sự là một bằng chứng khoa học. Trong tương lai phát triển của tri thức nhân loại; sự giải mã những giá trị văn hoá phi vật thể sẽ được công nhận là bằng chứng khoa học bởi những tiêu chí khoa học cho sự giải mã này (Thiên Sứ tôi dự đoán rằng: Cuối vận 8 hoặc đầu vận 9; sự giải mã những giá trị văn hoá phi vật thể sẽ được thừa nhận với tiêu chí khoa học). Khi ấy; chính những giá trị văn hoá phi vật thể được giải mã sẽ là một yếu tố chứng minh rõ nét cho nền văn minh Việt một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương tử và trải gần 5000 văn hiến. Điều này sẽ xảy ra giống như trước đây; những giá trị văn hoá phi vật thể chưa được công nhận là bằng chứng khoa học. Nhưng vào năm 2002; cơ quan văn hoá Liên Hợp quốc đã thừa nhận những giá trị văn hoá phi vật thể là bằng chứng khoa học.
Để tiếp tục minh chứng tính hợp lý trong việc giải thích những hiện tượng liên quan – theo đúng tiêu chí khoa học – xin quí vị quan tâm xem tiếp những bài viết trong chủ đề này.


Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp
PHÁP ĐẠI UY NỖ

Thiên Sứ
08-07-2005, 06:37 PM
PHÁP ĐẠI UY NỖ

– Tiếp theo –
Phương vị Phong Thủy và vị trí Tốn Khôn liên hệ Hà Đồ.


Kính thưa quí vị quan tâm

Sự liên hệ của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ mới chỉ đạt được tính hợp lý với chính nó trong sự tương quan của Kinh Dịch. Bởi vậy; nó cần phải chứng tỏ tính hợp lý và tính qui luật; sự nhất quán một cách toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực ứng dụng; mới chứng tỏ được tính chân lý của nó trong các phương pháp ứng dụng khác là: Thái Ất; Tử Vi; Phong thuỷ..v.v..
Phương pháp ứng dụng đầu tiên người viết hân hạnh trình bày với quí vị là:

Hậu thiên bát quái nguyên thủy và Hà Đồ trong thuật Phong Thủy

Trước hết chúng ta hãy cùng quán xét chiếc La Kinh. Có thể nói rằng: Chiếc La Kinh dùng trong Phong Thủy là một minh chứng rất rõ nét cho việc Hậu Thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ.
Thuận tự 24 sơn hướng của chiếc la kinh hoàn toàn trùng khớp với chiều Ngũ hành tương sinh của Hà Đồ. Xin quí vị quan tâm so sánh hình Phươg vị 24 sơn của La Kinh và Hà Đồ liên hệ Hậu thiên bát quái Lạc Việt; dưới đây:

HÌNH LA KINH & HÀ ĐÔ

http://lyhoc.viettop.net/lakinhhado.jpg

Qua hình trên; quý vị quan tâm cũng thấy sự trùng khớp hoàn toàn về các Phương Vị của Hậu thiên bát quái & Hà Đồ với sự thể hiện phương vị Hậu Thiên Bát quái trên La Kinh. Đặc biệt phần phía Nam và Tây của Hà Đồ; sự trùng khớp về phương vị và hành được thể hiện như sau:

* Khảm =Thuỷ; Nhâm Tý Quý = Thuỷ nằm ở phương Bắc của La Kinh. Tương ứng với:
Khảm = Thuỷ nằm ở phương Bắc Thuỷ; độ số 1 của Hà Đồ.

* Chấn = Mộc; Giáp Mão Ất = Mộc nằm ở phương Đông của La Kinh. Tương ứng với:
Chấn = Mộc nằm ở phương Nam Mộc; độ số 3 của Hà Đồ.

* Ly = Hòa; Bính Đinh = Hỏa nằm ở phương Nam của La Kinh. Tương ứng với:
Ly = Hỏa nằm ở phương Nam Hỏa; độ số 7 của Hà Đồ.

* Đoài = Kim; Canh Tân = Kim tọa vị tại phương Tây của La Kinh. Tương ứng với:
Đoài Kim tọa vị phương Tây Kim; độ số 9 của Hà Đồ.

Như vậy; chính trên chiếc La Kinh này; chúng ta chỉ có thể thấy được dấu ấn của Hà Đồ rất rõ nét và không thể minh chứng được mối quan hệ với Lạc Thư của Hậu thiên bát quái. Người viết đã trình bày ở phần trên: ”Hà Đồ chính là sự vận động của Ngũ tinh trong Thái Dương hệ tương quan với Trái Đất” (Điều này đã được kiểm chứng bằng phần mềm Thiên văn Skymap pao). Hay diễn đạt một cách khác Chính sự vận động của Trái Đất và Ngũ tinh trên quỹ đạo của nó tạo nên độ số Hà Đồ.. Bởi vậy; khi phi tinh - nếu nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại - tức là tìm những hiệu ứng vũ trụ từ sự vận động của các vì sao gần trái đất; thì sự hợp lý tiếp theo là phải phi tinh trên Hà Đồ; chứ không thể trên Lạc thư như cổ thư chữ Hán nói tới. Như vậy; với phương pháp phi tinh trên Hà Đồ thì tính cung phi theo tuổi sẽ có sự hoán vị ở Đoài/ Ly (Do độ số của hai quái này bị thay đổi khi Hậu Thiên kết hợp Hà Đồ). Xin quí vị quan tâm lưu ý là: Nguyên tắc phi tinh không đổi. Tức là: Cũng ra một vào 2; lên 3; xuống 4 .vv…(Người viết xin có một bài viết phụ trong luận đề này về phương pháp phi tinh trên Hà Đồ).
Thật là một sự phi lý trong cổ thư chữ Hán; khi họ phối Hậu thiên bát quái với Lạc thư. Nhưng phương vị của chiếc La kinh với 12 Địa chi lại chính là thuận tự tương sinh của Hà Đồ? Chưa hết: Đồ hình Lạc Thư và Hà Đồ tuy về phương vị không gian bằng nhau. Nhưng lại khác nhau căn bản về tính chất Âm Dươpng và thuận nghịch sinh khắc của Ngũ Hành.

Thiên Sứ
Còn tiếp

Thiên Sứ
08-07-2005, 06:55 PM
Kính thưa quí vị quan tâm
Cụm từ Hậu thiên bát quái hoán vị Tốn Khôn; Thiên Sứ tôi gọi tắt là HẬU THIÊN LẠC VIỆT.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Thiên Sứ
08-07-2005, 07:04 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy; người viết đã hân hạnh minh chứng tính dụng của Hà Đồ với Phong thủy qua chính một vật dụng bất ly thân của thuật này là chiếc La Kinh. Nhưng vấn đề không dừng ở đây; bởi vì còn một tiền đề quan trọng liên quan rất chặt chẽ đến Hà Đồ; đó là Hậu thiên bát quái hoán vị Tốn & Khôn trong thuật Phong thủy. Tính hợp lý của sự hoán vị này trong Phong Thủy chứng minh được tính hợp lý của “Quy luật chủ yếu bao trùm” (Pháp Đại uy nỗ). Trước khi minh chứng tính hợp lý của Hà Đồ và Hậu thiên theo văn minh Việt; xin quí vị quan tâm quán xét lại mối tương quan này trong cổ thư chữ Hán là Hậu thiên phối Lạc thư qua hình dưới đây:

TỨ TRẠCH HẬU THIÊN PHỐI LẠC THƯ
(Theo cổ thư chữ Hán)

http://lyhoc.viettop.net/lacthu4trach.jpg


Quán xét đồ hình trên chúng ta cũng thấy Bát quái được qui ước phân làm hai loại thường gọi là Đông tứ cung (Màu đỏ) và Tây tứ cung (Màu đen).

* Tây tứ cung theo sách cổ chữ Hán gồm:
Càn/ Tây Bắc – Đoài/ Chính Tây – Khôn/ Tây Nam - Cấn/ Đông Bắc.

* Đông tứ cung theo sách cổ chữ Hán gồm:
Khảm/ Chính Bắc – Chấn/ Chính Đông – Tốn/ Đông Nam – Ly/ Chính Nam.

Đông tứ cung và Tây tứ cung phân đều trên 4 hành của Lạc thư. Nếu chúng ta lấy từng cặp cùng hành trên Lạc thư theo cổ thư chữ Hán; sẽ được 4 cặp để quán xét sau đây:

http://lyhoc.viettop.net/tutrachtau.jpg

Qua sự quán xét 4 cặp cùng hành trên; chúng ta cũng thấy rằng: Chúng hoàn toàn không tuân theo một qui luật nhất quán nào. Tính phi qui luật này lại là hệ quả của sự mâu thuẫn giữa độ số Lạc Thư với hành của quái vị (Đã dẫn giải ở trên ( Ly /Hỏa nằm ở độ số 9 – độ số của Kim. Đoài /Kim nằm ở độ số 7 – độ số của Hỏa. Và một yếu tố sai lệch nữa chính là vị trí Tốn/ Khôn trong cổ thư chữ Hán).

Thiên Sứ
Còn tiếp

Thiên Sứ
08-07-2005, 07:43 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.

Tính phi qui luật của Hậu Thiên bát quái từ cổ thư chữ Hán thể hiện sự sai lệch của những cặp cùng hành được thể hiện ở bảng trên. Chúng chỉ ổn định ở hai cặp là:

1) Càn & Khảm
Nằm ở hành Thuỷ; độ số 1 - 6 của Lạc Thư - cũng là hành Thuỷ 1- 6 của Hà Đồ.

2) Cặp Cấn & Chấn
Nằm ở hành Mộc; độ số 3- 8 của Lạc Thư - cũng là hành Mộc 3 - 8 của Hà Đồ.
Chính vì sự trùng hợp về hành và quái vị của Hà Đồ và Lạc Thư ở hai hành này; nên khi liên hệ nên chúng có sự nhất quán ở hai cặp này.

Nhưng sang đến hai cặp là:
3) Tốn & Ly
Nằm ở hành Kim (?) độ số 4 - 9 của Lạc Thư.

4) Khôn & Đoài
Nằm ở hành Hoả (?) độ số 2 - 7 của Lạc Thư
Thì chúng tương phản nhau và không thể hiện tính qui luật nào giữa hai cặp 1/Thuỷ & 2/ Mộc so vớỉ 3/ Kim & 4/ Hoả.

Không những vậy; chính do sai lệch ở hai vị trí Tốn & Khôn nên ngay trong tương quan trong một cung phi bất kỳ; chúng cũng không thể hiện được tính qui luật.
Điều này được chứng minh như sau:

Xét phi cung Đoài:
Ở hai hành Thuỷ và Mộc chúng có hai cặp tốt & xấu đối nghịch từng hành.

Thí dụ:
1) Cặp cùng hành Thuỷ: Càn/ Sinh Khí - Tốt <=> Xấu - Hoạ hại /Khảm.
2) Cặp cùng hành Mộc: Cấn/ Phúc Đức - Tốt <=> Xấu - Tuyệt Mạng /Chấn.

Nhưng đến hai cặp tiếp theo là:
3) Cặp cùng hành Kim: Tốn/ Lục sát - Xấu thì Xấu - Ngũ quỷ / Ly.
4) Cặp cùng hành Hoả: Khôn/ Thiên y - Tốt thì Tốt - Phúc Đức/ Đoài.
Xin quí vị quan tâm xem lại hình minh hoạ ở bài trên.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Tính quy luật và hợp lý là hai yếu tố cần cho một lý thuyết được coi là khoa học.
Hậu Thiên bát quái phối Lạc thư từ cổ thư chữ Hán đã chứng tỏ tính phi khoa học trong nguyên lý căn để của nó và ngay trong sự ứng dụng là Phong Thuỷ. Mặc dù sự sai lệch này là có giới hạn.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp
TỨ TRẠCH HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ

Thiên Sứ
08-07-2005, 07:55 PM
TỨ TRẠCH HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ

Trên đồ hình này; Đông/ Tây tứ cung cũng phân đều trên 4 hành của Hà Đồ. Bây giờ; chúng ta cũng quán xét theo từng cặp cùng hành như trên; chúng ta sẽ có 4 cặp sau:

http://lyhoc.viettop.net/tutrachviet.jpg

Quán xét 4 cặp cùng hành chúng ta cũng thấy rằng:
Chúng hoàn toàn tuân theo một qui luật nhất quán; có tính đối xứng hợp lý rất hoàn hảo.

Điều quan trọng ở đây là:

Tính quy luật và nhất quán của những cặp cùng hành này; lại là hệ quả của một nguyên lý căn để hợp lý với chính nó là Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ (Đã chứng giải ở trên); và nó lại thuộc về một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh và nhất quán trong luận đề này là:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán; hoàn chỉnh và là một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ; Bát quái chỉ là ký hiệu siêu công thức của học thuyết này.

Như vậy; tính qui luật; nhất quán và hoàn chính của nguyên lý căn để trong thuyết Âm Dương Ngũ hành là “Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” đã chứng giải tính hợp lý và nhất quán của luận đề này trong thuật Phong Thủy.
Người viết sẽ tiếp tục chứng giải tính hợp lý “Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ” trong các vấn đề liên quan đến một số hiện tượng trong việc an sao trong Tử Vi; vốn gây tranh cãi vì thiếu một nguyên lý lý thuyết hoàn chỉnh để đối chứng. Phần này sẽ xin được trình bày sau bài phụ lục về phương pháp tính phi cung và phi tinh trên cơ sở Hà Đồ phối Hậu thiên nguyên thủy.

Chân thành cảm ơn quí vị quan tâm.

Thiên Sứ

Thiên Sứ
08-07-2005, 08:06 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Nguyên lý căn để Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ ứng dụng trong Phong thuỷ - cũng như tất cả các môn khác trong lý học Đông phương - còn nhiều vấn đề cần hiệu chỉnh chứng tỏ tính hợp lý của nó trong các phương pháp ứng dụng như:
Huyền Không; Loan đầu.v.v...
Nhưng vì giới hạn của đề tài; nên người viết chỉ xin chứng minh ở những tri thức phổ biến trong phong thuỷ và các môn khác. Sự ứng dụng chuyên sâu của nguyên lý căn để Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ với từng môn ứng dụng sẽ được viết trong một đề tài khác.
Rất cảm ơn sự cảm thông và quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Thiên Sứ
08-07-2005, 11:18 PM
CUNG PHI ỨNG DỤNG TRONG THUẬT PHONG THỦY
Từ Hà Đồ và Hậu Thiên Lạc Việt


Kính thưa quí vị quan tâm.
Tôi rất hân hạnh tường với quí vị sự ứng dung phi tinh trên cơ sở Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ và những nguyên lý căn bản ứng dụng của nó theo phương pháp này. Sự yêu cầu tha thiết của người viết chỉ là:

Nếu ai ứng dụng những phương pháp này thì nên nghĩ đến cội nguồn với tâm niệm rằng:
Môn phong thủy vốn gốc thuộc về văn minh Lạc Việt với cội nguồn gần 5000 văn hiến. Bởi vì tất cả sự ứng dụng ở đây đều bắt nguồn từ một nguyên lý căn để không xuất phát từ cổ thư chữ Hán.
Từ nay; tôi tạm dùng thuật ngữ "PHONG THỦY LẠC VIỆT" để chỉ tất cả các sự ứng dụng trên cơ sở xuất phát hoặc được hiệu chỉnh hay minh chứng từ nguyên lý này.
Một trong những nguyên tắc bao trùm về phương pháp ứng dụng của Phong thủy Lạc Việt là:
Tất cả những trường phái Phong thủy lần lượt xuất hiện trong lịch sử văn minh Hán; thực chất chỉ là sự phát hiện nhanh châm và chuyển ngữ sang Hán từ văn minh Lạc Việt của một phương pháp ứng dụng thống nhất trong Phong Thuỷ - Dương trạch; hoặc Âm trạch trong hơn 1000 năm đô hộ.
Một bằng chứng cho hiện tượng này là:
Chính trường phái gọi là Bát Trạch minh cảnh; khi muốn áp dụng phương pháp này thì cơ sở của nó là tìm cung Phi cho gia chủ. Nhưng phương pháp tính cung phi lại được ứng dụng theo phi tinh của Huyền không. Bởi vậy phương pháp của Huyền Không và Bát trạch phải có một mối liên hệ chặt chẽ và liên quan tới nhau. Nếu chúng ta bỏ đi nhưng phần lý luận rườm rà; đổi lúc mơ hồ của người đời sau; mà chỉ tính đến phương pháp ứng dụng – của tất cả các sự phát hiện rải rác gọi là trường phái – thì sẽ thấy một sự tổng hợp tuyệt vời của phương pháp Phong thủy nói chung . Với nguyên lý căn để đã được hiệu chỉnh và chứng minh là “Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ” sẽ dẫn đến một sự giải thích hợp lý tất cả các môn ứng dụng quen gọi là trường phái trên. Từ quan niệm này; chúng ta sẽ thấy tính thống nhất hoàn hảo của các phương pháp ứng dụng Phong thủy giúp ích cho đời sống con người.

* Bát Trạch minh cảnh = Sự liên hệ giữa con người với tương quan phương vị căn nhà.

* Dương trạch tam yếu = Sự liên hệ giữa cấu trúc căn nhà hỗ trợ cho sự tương quan của căn nhà với con người.

* Hình thể (Loan Đầu)= Sự liên hệ giữa môi trường với vị trí và cấu trúc căn nhà

* Huyền Không = Sự liên hệ giữa ảnh hưởng của sự tương tác vũ trụ lên con người và vị trí môi trường với cấu trúc nhà.

Với sự phân tích ở trên; chúng ta cũng nhận thấy ngay rằng: Tất cả các phương pháp ứng dụng đó (quen gọi là trường phái) đều là những yếu tố cần và có sự liên quan rất chặt chẽ trong sự tương tác giữa điều kiện sống của con người với vũ trụ. Điều quan trọng hơn cả là: Tất cả các phương pháp gọi là trường phái đó; đều có một nguyên lý ứng dụng duy nhất - Nếu chúng ta tạm thời bỏ qua các cuộc tranh luận liên quan đến nguồn gốc Lạc Việt hoặc Hoa Hạ - chính là Bát quái và cửu cung. Như vậy; chỉ cần xét đến sự rời rạc mà người ta quen gọi là trường phái này – khi trên thực tế chúng có một nguyên lý căn để duy nhất (Bát quái và cửu cung) và một mục đích duy nhất là: Giúp ích cho con người với sự tương quan ko thể thiếu được vì tính liên hệ giữa các phương pháp – thì điều này cũng đủ chứng tỏ nền văn minh Hoa Hạ không có tính liên tục và kế thừa trong sự hình thành thuật Phong Thủy.
Tất cả những điều hân hạnh trình bày với quí vị ở trên thì Lạc Việt Phong Thủy chính là sự tổng hợp của tất cả các trường phái này trong sự ứng dụng của nó. Có sự khác nhau căn bản của Phong thủy Lạc Việt từ ngàn xưa chính là nguyên lý của Hậu thiên Lạc Việt liên hệ Hà đồ để hiệu chỉnh và chứng minh cho tất cả các phương pháp của nó. Từ cơ sở Hậu thiên bát quái nguyên thủy phối Hà Đồ thuộc về nền văn hiến Lạc Việt chúng ta sẽ có một bảng cung phi như sau:

CUNG PHI TRUNG NGUYÊN
(Tính từ 1924 đến 1983)

Năm sinh-----* Tuổi Can Chi-----* Nam -----*Nữ----------* Chú thích

#1954---------# -Giáp Ngọ--------# Khảm 1-----# Cấn 5.
#1955---------#- Ất Mùi----------#Đoài 9-------# Càn 6-----# (Sách Tàu: Nam/ Ly)
#1956---------#- Bính Thân-------#Cấn 8-------# Ly 7------# (Sách Tàu: Nữ/ Đoài)
#1957---------#-Đinh Dậu --------#Ly 7--------# Cấn 8-----# (Sách Tàu: Nam/ Đoài)
#1958---------#Mậu Tuất---------# Càn 6------# Đoài 9----# (Sách Tàu Nữ/ Ly)
#1959---------#Kỷ Hợi------------# Khôn 5------# Khảm 1
#1960---------#Canh Tý-----------#Tốn 4-------# Khôn 2
#1961---------# Tân Sửu----------# Chấn 3-----#Chấn 3
#1962---------#Nhâm Dần--------# Khôn 2-------#Tốn 4
#1963---------#Quí Mão----------# Khảm 1------#Khôn 5----#(Sách Bát trạch in 1957:
------------------------------------------------------------ ---------------Nữ/ Cấn.Sai)
#1964--------#Giáp Thìn----------#Đoài 9-----# Càn 6 -----#(Sách Tàu: Nam/ Ly)
#1965--------#Ất Tỵ---------------#Cấn 8------# Ly 7--------#(Sách Tàu: Nữ/ Đoài)
#1966--------#Bính Ngọ----------# Ly 7-------# Cấn 8-------#(Sách Tàu: Nam/Đoài)
#1967--------#Đinh Mùi----------#Càn 6------# Đoài 9------#(Sách Tàu: Nữ/Ly)
#1968--------#Mậu Thân---------#Khôn 5-----# Khảm 1
#1969--------#Kỷ Dậu------------#Tốn 4------#Khôn 2
#1970--------#Canh Tuất---------#Chấn 3-----#Chấn 3
#1971--------#Tân Hợi------------#Khôn 2-----#Tốn 4
#1972--------#Nhâm Tý----------#Khảm 1-----#Cấn 5
#1973--------#Quí Sửu-----------#Đoài 9------#Càn 6-------#(Sách Tàu: Nam/Ly
#1974--------#Giáp Dần----------#Cấn 8--------#Ly 7-------#(Sách Tàu: Nữ/Đoài)
#1975--------#Ất Mão------------#Ly 7---------#Cấn 8-----#(Sách Tàu:Nam/Đoài)
#1976--------#Bính Thìn---------#Càn 6---------#Đoài 9-----#(Sách Tàu:Nữ /Ly)
#1977--------#Đinh Tỵ-----------#Khôn 5-------#Khảm 1
#1978--------#Mậu Ngọ---------#Tốn 4---------# Khôn 2
#1979--------#Kỷ Mùi-----------#Chấn 3--------#Chấn 3
#1980--------#Canh Thân--------#Khôn 2-------#Tốn 4
#1981--------# Tân Dậu----------#Khảm 1-------#Cấn 5
#1982--------#Nhâm Tuất--------#Đoài 9--------#Càn 6------#(Sách Tàu:Nam/Ly)
#1983--------#Quí Hợi------------#Cấn 8---------#Ly 7--------#Sách Tàu: Nữ Đoài)
Chu kỳ lặp lại từ 1984—Giáp Tý: Nam /Ly; Nữ Cấn

Xin quí vị quan tâm lưu ý
Đây là bảng Tam Nguyên cung phi trên cửu cung Hà Đồ. Phương pháp phi tinh không thay đổi so với trên Lạc thừ trong cổ thư chữ Hán; tức là:
Cũng ra 1; vào 2; lên 3; xuống 4....chỉ có khác là do phi tinh trên Hà Đồ thì sẽ có thay đổi hướng phi tinh ở phần phía Nam; do Hà Đồ và Lạc thư khác nhau ở phần này.

Chân thành cảm tạ sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Thiên Sứ
08-07-2005, 11:26 PM
HÀ ĐỒ CỬU CUNG PHI TINH

Kính thưa quí vị quan tâm.

Sự chứng minh ở trên đã cho thấy rằng:
Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt chính là cơ sở hợp lý một cách có qui luật; nhất quán; hoàn chỉnh trong những vấn đề liên quan đến nó. Sự liên hệ giữa quái Cấn ở trung cung ứng dụng trong thuật Phong thủy (Nam/Khôn; Nữ/Cấn); cũng là một sự liên hệ rất chặt chẽ trong sự tương quan của Trái Đất với hệ mặt trời (Xin tham khảo: "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”. Nxb VHTT2002).
Từ những luận đề chứng minh ở trên về tính tương quan giữa Trái Đất và những hiệu ứng vũ trụ vận động liên quan đến nó – chính là những cơ sở để tạo nên Hà Đồ – thì tính hợp lý và nhất quán tiếp theo là phương pháp Huyền Không phi tinh phải thực hiện trên Hà Đồ chứ không thể trên Lạc Thư. Từ tất cả những luận cứ đã chứng minh và trình bày ở trên; người viết xin được mô tả đồ hình phi tinh trên Hà Đồ và so sánh với phi tinh trên Lạc Thư qua những đồ hình dưới đây:



http://lyhoc.viettop.net/hdltphitinh.jpg






http://lyhoc.viettop.net/hdltvan13.jpg

http://lyhoc.viettop.net/hdltvan46.jpg

http://lyhoc.viettop.net/hdltvan79.jpg



Như vậy – qua sự so sánh giữa hai phương pháp phi tinh ở trên – thì sai lệch chỉ rơi vào phần phương Nam của Hà đồ. Đặc biệt các vận 3; 5; 7; 9 sự sai lệch có tính khác biệt dẫn đến luận đoán sai lầm ở các phương chính Tây và chính Nam. Còn trong các vận khác và ở các phương khác thì sự sai lệch khó nhận biết; do tính chất tương đương của các sao. Như vậy; sự sai lệch này rất hạn chế; nhưng rất quan trọng ở hai phương này.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Nếu chúng ta chỉ giới hạn vấn đề ở sự ứng dụng Phi tinh trên Hà Đồ hay Lạc thư; thì cùng lắm sẽ chỉ giới hạn ở tính chứng nghiệm hiệu quả trên thực tế. Nhưng ở đây; người viết xin được lưu ý quí vị quan tâm là: Phi tinh trên Hà Đồ là hệ quả tất yếu từ một nguyên lý căn để có sự nhất quán; hoàn chỉnh và hợp lý trong việc giải thích mọi vấn đề liên quan. Còn phi tinh trên Lạc thư chỉ là hệ quả của một nguyên lý (Hậu Thiên liên hệ Lạc thư/ Trong cổ thư chữ Hán) không thể chứng minh được tính hợp lý với chính nó và sự giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan.
Sự ứng dụng trong Phong Thủy trên cơ sở “Hà Đồ phối Hậu thiên bát quái Lạc Việt” sẽ không chỉ dùng lại ở hoán vị tính chất hai cung Đông Nam và Tây Nam trên Cửu cung và ở ứng dụng phi tinh trên Hà Đồ. Mà còn được ứng dụng để hiệu chỉnh một số hiện tượng khác liên quan trong thuật Phong Thủy. Nhưng người viết xin đựơc dừng lại ở đây. Vì luận đề này không nhằm mục đích trình bày toàn bộ những vấn đề liên quan đến Phong thủy; mà chỉ chứng tỏ tính hợp lý từ một nguyên lý căn để được hiệu chỉnh đến một số vấn đề chủ yếu liên quan đến nó. Sự hiệu chỉnh này ko mang tính phủ định những phương pháp ứng dụng vốn là hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành – đã chứng tỏ tính hiệu quả trên thực tế từ hàng ngàn năm nay –mà chỉ là sự hiệu chỉnh hoàn thiện và chứng tỏ tính khoa học của nó; trên cơ sở phục hồi những nguyên lý đã thất truyền và chứng minh cho sự kỳ vĩ của nó thuộc về văn minh Lạc Việt.
Để tiện cho sự tham khảo của quí vị quan tâm; phần tiếp theo đây; người viết xin được tường lại vấn đề: “Nguyên lý quái Cấn ở trung cung” từ cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”. Thông qua sự lý giải hiện tượng này; sẽ chứng tỏ rõ ràng hơn luận điểm cho rằng:
Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết thống nhất vũ trụ; chính sự tương tác từ những sự vận động có qui luật trong vũ trụ là tiên đề của học thuyết này.
Chân thành cảm tạ sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp:
NGUYÊN LÝ QUÁI CẤN TẠI TRUNG CUNG

Thiên Sứ
09-07-2005, 12:38 PM
NGUYÊN LÝ QUÁI CẤN Ở TRUNG CUNG

Kính thưa quí vị quan tâm.

Một nguyên tắc trong sự ứng dụng của thuật Phong thuỷ là phi cung cho tuổI Nam – Khôn; Nữ - Cấntại trung cung. Đây là một hiện tượng khác hẳn tất cả mọi hiện tượng khác liên quan trong sự ứng dụng lý thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch. Trong Kinh dịch hoặc tất cả những hiện tượng liên quan đến kinh Dịch; chúng ta đều biết: CÀN tượng cho Nam mạng và KHÔN cho nữ mạng. Và ngay khi tính toán những thông số liên quan đến quan hệ gia đình trong phong thuỷ và kinh Dịch thì người ta vẫn coi Càn là cha; Khôn là mẹ; Khảm trưởng nam; Đoài thiều nữ…. Vậy tại sao ở thuật Phong thuỷ - khi lấy con người làm trung tâm của sự tương tác với thiên nhiên - thì trên cơ sở nào để lấy KHÔN cho nam mạng và CẤN cho nữ? Hơn thế nữa; hiện tượng này lạI là một trong những nguyên tắc căn bản của thuật Phong thuỷ? Cổ thư chữ Hán không hề có một chữ lý giải và chứng minh nguyên tắc Nam/Khôn; Nữ/ Cấn này. Hàng ngàn năm; mặc nhiên nguyên tắc này được coi như là một tiên đề trong ứng dụng.
Nếu chúng ta chỉ giới hạn cái nhỉn thuật Phong thuỷ như nó đang hiện hữu trong sự ứng dụng; thì chúng ta chỉ có thể đặt vấn đề về tính khoa học của nó một cách dè dặt trên cơ sở tính hiệu quả thực tế của nó. Bản chất của môn Phong thuỷ sẽ mãi mãi là điều bí ẩn. Nhưng bắt đầu từ một quan niệm nhất quán cho rằng:

Phong Thuỷ cũng như tất cả các môn ứng dụng của học thuật Đông phương cổ; đều là hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành - một lý thuyết thống nhất; hoàn chỉnh; nhất quán có khả năng giải thích từ sự hình thành vũ trụ đến tất cả mọi vấn đề liên quan tới con người.

Và chiếc chìa khóa để mở kho tảng bí ẩn của lý học Đông phương chính là HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ. Thì từ cơ sở này để quán xét hiện tương Nam/Khôn ;Nữ/ Cấn; chúng ta sẽ một sự lý giải hợp lý; chứng tỏ tính hoàn chỉnh và nhất quán của luận đề đặt ra.
Người viết xin được bắt đầu trên cơ sở những nguyên lý sau:
Trong nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì vật là âm; lý (của vật) là Dương.
Như vậy; từ nguyên lý này sẽ dẫn đến những luận đề được đặt ra sau đây:

# Quái Cấn tượng cho nữ mạng – tức là thuộc Âm – vậy nó phải tượng cho một vật thể nào đó? Khôn tượng cho nam mạng – tức là thuộc Dương - thì nó phải là cái lý của vật thể đó.

# Thuật Phong thuỷ trên thực tế là sự ứng dụng hiệu ứng từ trường của Trái đất lên con người là yếu tố căn bản (bằng chứng là dùng la bàn để phân cung). Từ thực tại này suy ra một giả thuyết cho rằng: Chính trái đất là vật thể thuộc Âm tượng cho nữ mạng? Điều này xin được lý giải và minh chứng trên cơ sở phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành như sau:
- Trên cơ sở Hậu Thiên Bát quái Lạc Viêt liên hệ với Hà đồ thì quái Cấn nằm ở Âm Mộc; vậy Âm Mộc phải có sự liên hệ vớI Trái đất trong mốI tương quan của Thái Dương hệ.
Bây giờ xin quí vị quán xét lại thuận tự của Thái Dượng hệ tính từ trong ra ngoài:
Trước khi tường rõ về vấn đề này; người viết xin lưu ý quí vị về tên gọI của hai hành tinh trong Thái Dương hệ là sao Kim và sao Thuỷ:
* Sao Thuỷ được gọi tên theo Thiên văn hiện đại; theo sách cổ thiên văn Đông Phương gọi là sao KIM.
* Sao Kim gọi tên theo Thiên văn hiện đại; theo sách cổ Thiên văn Đông Phương gọi là sao THUỶ (Theo Ban Cố; Tiền Hán thư).
Thuận tự của Thái Dương hệ dưới đây – với tên hai sao này gọi theo sách cổ - thì thuận tự này sẽ là:

@ Mặt trời => Sao KIM =>Sao THUỶ => TRÁI ĐẤT => sao HOẢ.
(Hành tinh nhóm I/ Theo cách phân nhóm của Thiên văn học hiện đại)

@ Vành đai thiên thạch với hàng trăm triệu tảng thiên thạch lớn nhỏ cũng đang quay quanh Mặt trời (Tảng lớn nhất có chiều dài hàng trăm Km).

@ Sao MỘC => Sao THỔ =>Thiên Vương tinh =>Hải Vương tinh =>Diêm Vương tinh.
(Hành tinh nhóm II theo cách phân nhóm của thiên văn học hiện đại)

Nếu bây giờ chúng ta lấy Mặt trời làm hành Thổ (Theo nguyên lý trung cung thuộc Thổ) thì ta sẽ thấy một chiều ngũ hành tương sinh từ trong ra ngoài – so sánh với tên gọi Mặt trời và các hành tinh – như sau :

Ngũ hành:Thổ (Mặt Trời) => sinh Kim (Sao Kim/ Theo sách cổ) => sinh Thuỷ (Sao Thuỷ/ Theo sách cổ) => sinh Mộc (Tương ứng với Trái Đất) =>Sinh Hoả (Sao Hoả).
Ở hành tinh nhóm II thì cổ thư chỉ thấy ghi hai sao nhưng đủ để chúng ta thấy được lý tương khắc là: Sao Mộc (Mộc) khắc Thổ (Sao Thổ)

Như vậy; quí vị cũng thấy rằng [COLOR=blue]Trái đất tương ứng với hành Mộc. Theo thuyết AD Ngũ hành thi khi lý tương sinh thuộc Dương; vật thể hiện lý sẽ thuộc Âm (trong Âm có Dương). Do đó; Mặt trời và các hành tinh bên trong vành đai thiên thạch thuộc Âm và Trái đất của chúng ta chính là Âm Mộc: Đó chính là vị trí của quái Cấn trên Hà Đồ. Vật thuộc Âm; nên quái Cấn tượng cho Nữ mạng; Khôn là “đất” thuộc tiên thiên là lý của Vật (Trái Đất) thuộc Dương; nên tượng cho nam mạng. Đó là lý do vì sao Khôn/ Cấn tại trung cung. Xin quí vị xem hình minh họa dưới đây:

http://lyhoc.viettop.net/tdh.jpg

Như vậy; từ sự chứng giải Hà Đồ chính là sự biểu lý cô đọng và hoàn hảo cho chu kỳ vận động của Ngũ Tinh (Kim; Mộc; Thủy; Hỏa; Thổ) chứng giải ở phần trên; thì hiện tượng quái Cấn ở trung cung trong thuật Phong Thủy cũng được chứng giải tính liên hệ chặt chẽ và nhất quán của một luận thuyết cho rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ; Bát quái trong Kinh Dịch chỉ là những ký hiệu siêu công thức theo thuật toán nhị phân của học thuyết này.
Hay nói một cách khác; hiện tượng quái Cấn ở Trung cung chính là sự thể hiện tiếp tục mối tương quan giữa Trái Đất và sự vận động của hệ Mặt trời; trong tương quan các hiệu ứng tương tác của vũ trụ. Tất cả những tri kiến này không hề được thể hiện trong cổ thư chữ Hán; kể từ khi nền văn minh kỳ vĩ của nhà nước Văn Lang sụp đổ từ hơn 2000 năm trước.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Một trong những tiêu chí cho một lý thuyết khoa học là:
”Một giả thiết khoa học thì phải có khả năng tiên tri”
Tuân theo tiêu chí này và cũng chứng tỏ tính khoa học của luận đề này; căn cứ vào sự chứng giải ở trên; người viết xin được trình bày một hệ luận tiếp theo – mang tính tiên tri – theo phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành; là:

Sự tiên tri căn cứ vào các hiện tượng và nhận thức sau:

*Những hành tinh nhóm hai (bên ngoài vành đai thiên thạch) có chiều Ngũ hành tương khắc. Giả thuyết này dựa trên cơ sở Ngũ hành tương khắc do hai sao đầu tiên của nhóm này; tính từ trong ra ngoài là; Sao Mộc (Thái Tuế) khắc Thổ (Sao Thổ). Từ đó; sắp chiều ngũ hành tương khắc cho các sao còn lại thì sự kết thúc chu kỳ tương khắc đúng ở sao Diêm Vương.

* Sao Diêm Vương có cấu trúc hình thể và vật chất gần giống với các hành tinh thuộc nhóm 1 (Những hành tinh bên trong vành đai thiên thạch). Điều này lại cho thấy sự phù hợp với một nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành là cực Âm sinh Dương/ Cực Dương sinh Âm.

Từ hiện tượng này dẫn đến kết luận của người viết mang tính tiên tri; cho rằng:

Không có hành tinh thứ 10 trong hệ mặt trời.

Vì – theo thuyết Âm Dương Ngũ hành – đã có sự cân bằng Âm dương và Ngũ hành. Nếu lời tiên tri này đúng, thì ông Lưu Tử Hoa đã sai lầm khi chứng minh trên cơ sở Bát quái rằng: Có hành tinh thứ 10 trong hệ mặt trời. Ông Lưu Tử Hoa chứng minh điều này tạI viện Hàn lâm khoa học Pháp vào năm 30 của thế kỷ thế kỷ trước. Thật không may cho ông Lưu Tử Hoa, cho đến tận bây giờ -khoa học hiện đạI đã phát triển vượt bậc – cũng chưa tìm thấy hành tinh thứ 10 trong hệ mặt trời! Thậm chí gần đây; một khoa học gia Hoa Kỳ cho rằng:
Sao Diêm Vương tinh không thể coi là hành tinh thứ 9 của hệ mặt trời?!

Kính thưa quí vị.
Những luận giải mà người viết hân hạnh tường trên đây chứng tỏ rằng:
Môn Phong Thuỷ và cũng như các môn ứng dụng khác trên cơ sở phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành; là hệ quả của những hiệu ứng vũ trụ trong nhận thức của con người. Sách vở của ngườI Hoa hạ chỉ là sự tiếp thu ko hoàn chỉnh những di sản của nền văn minh Lạc Việt. Điều này đã được minh chứng từ đồ hình ký hiệu Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ.
Từ những luận điểm này cho thấy cội nguồn của chúng thuộc về nền văn minh Lạc Việt với gần 5000 năm văn hiến. Và xa xôi hơn nữa; thuộc về một nền văn minh vĩ đại đã từng tồn tại trên trái Đất. Đây chính là nền văn minh đã sáng tạo ra thuyết Âm Dương Ngũ hành với những sự ứng dụng kỳ diệu. Có thể tạm gọi là: Nến văn minh tiền Atlantic; mà tổ tiên người Lạc Việt chính là hậu duệ hoặc là người kế thừa một siêu lý thuyết vũ trụ - thuyết Âm Dương Ngũ hành - từ nền văn minh này; sau khi nó bị hủy diệt.
Những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ ảnh hưởng tới Trái Đất và con người; không phải chỉ dừng lại ở sự chứng minh những nguyên lý của thuật Phong thủy; người viết hy vọng rằng:
Nguyên lý: Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ còn chứng tỏ tính hợp lý của một PHÁP ĐẠI UY NỖ ngay cả ở những nguyên tắc an sao trong Tử Vi Đẩu Số.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp:

PHÁP ĐẠI UY NỖ
An sao trong Tử Vi với Hà Đồ và Hậu thiên bát quái Lạc Việt

Thiên Sứ
09-07-2005, 12:43 PM
PHÁP ĐẠI UY NỖ
An sao trong Tử Vi với Hà Đồ và Hậu thiên bát quái Lạc Việt

“Một giả thuyết khoa học chỉ được coi là đúng; nếu giải thích một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng liên quan đến nó một cách có hệ thống; hoàn chỉnh và nhất quán; có tính khách quan; tính quy luật và khả năng tiên tri”.
Tiêu chí khoa học


Kính thưa quí vị quan tâm.
Tính hợp lý của nguyên lý căn để trong tính ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành là: Hậu Thiên Bát quái Lạc Việt liên hệ với Hà Đồ không chỉ dừng lại ở sự giải thích những nguyên lý trong thuật Phong thủy. Mà còn phải chứng tỏ tính hợp lý đó trong tất cả những phương pháp ứng dụng liên quan. Điều này sẽ chứng tỏ rằng: Cội nguồn của văn hóa Đông phương với tri kiến vũ trụ quan kỳ vĩ ko thuộc về văn minh Hoa Hạ. Bởi vì: trải hàng ngàn năm qua ;không một cuốn sách nào có xuất xứ từ nền văn minh này nói đến nguyên lý này. Cũng đã trải hàng ngàn năm; nền văn minh Hoa Hạ - vốn tự hào là cội nguồn của Lý học Đông Phương – đã không thể lý giải được một thực tại nào làm nên những giá trị của nền lý học đó. Họ phải chấp nhận một sự huyền bí đến mức bị coi là mê tín cho cái được coi là của chính họ làm ra trước nền văn minh hiện đại.
Chứng minh tính hợp lý và nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành với nguyên lý căn để của nó là Hậu thiên Lạc Việt liên hệ Hà Đồ; đó cũng chính là điều kiện cần yếu cho cội nguồn dân tộc Việt; với lòng tự hào chính đáng về một truyền thống gần 5000 văn hiến.
Nếu như trong luận đề liên quan đến thuật Phong thủy; nguyên lý Hậu thiên Lạc Việt liên hệ Hà đồ đã chứng tỏ tính hợp lý và chứng tỏ sự tương tác của Vũ trụ liên quan đến Địa cầu qua việc lý giải Quái Cấn ở trung cung ; thì trong luận đề này; người viết hy vọng sẽ chứng tỏ rõ hơn về những nguyên nhân từ sự tương tác của vũ trụ chính là một thực tại làm nên khoa Tử Vi Đẩu số từ nguyên lý căn để nói trên.
Có thể nói rằng cho đến ngay hôm nay; vấn đề:
Dựa trên một thực tại và nguyên lý nào; cổ nhân đã tìm ra một phương pháp tính toán có tính qui luật; để luận đoán cho số mệnh con người qua môn Tử Vi Đẩu số ?
Chi tiết hơn nữa là những qui tắc và nguyên lý an sao trong Tử Vi cho đến nay; vẫn còn gây tranh cãi. Mặc dù phương pháp của nó thì những nhà nghiên cứu; hoặc những người thích môn dự đoán này; vẫn ứng dụng có hiệu quả kể từ hàng ngàn năm nay.
Việc đặt v/đ tìm hiểu những tiền đề thực tế tạo ra môn Tử Vi và phương pháp an sao; không phải chỉ là làm sáng tỏ sự huyền bí; mà còn là tìm về cội nguồn đích thực của môn dự đoán này. Trong cổ thư chữ Hán; chúng ta chỉ tìm thấy phương pháp luận đoán và qui tắc an sao của Tử Vi; tức là chỉ có phần ứng dụng và hoàn toàn bí ẩn. Trước Trần Đoàn Lão tổ - vốn được coi là người sáng lập ra môn Tử Vi – không hề có những tiền đề để làm cơ sở cho việc hình thành môn này; cũng như tất cả các quy tắc của nó. Môn Tử Vi xuất hiện trong văn minh Hán cứ như từ trên trời rơi xuống.
Nhưng nếu chúng ta quán xét các qui tắc và phương pháp luận thực hiện trong môn Tử Vi – căn cứ theo những tiêu chí khoa học – thì có thể nói rằng: Đây là một phương pháp hoàn toàn phù hợp và đáp ứng đầy đủ những tiêu chí khoa học hiện đại. Đó là: Tính quy luật; tính khách quan và có một phương pháp luận nhất quán theo thuyết Âm dương Ngũ hành và khả năng tiên tri. Trong Tử Vi không hề có dấu ấn của thần quyền. Tất cả chúng ta đều biết một vấn đề mặc nhiên rằng:
Tất cả những sự ứng dụng có phương pháp luận theo một lý thuyết nào đó; đều phải là hệ quả của chính lý thuyết đó và lý thuyết đó phải được hình thành trước sự ứng dụng theo phương pháp luận của lý thuyết đó.
Như vậy; Tử Vi phải là hệ quả của một lý thuyết khoa học nhất quán và hoàn chỉnh. Nhưng; nếu vấn đề chỉ dừng ở đây thì luận điểm này chỉ có tính hợp lý lý thuyết. Vậy sự hình thành môn Tử Vi căn cứ vào một thực tại nào?
Sở dĩ có luận đề này; chính vì sự thất truyền của một học thuyết là cơ sở cho phương pháp luận trong môn Tử Vi. Hơn thế nữa là sự thất truyền của một tri thức; đã nhận thức được những qui luật tồn tại trên thực tế là cơ sở hình thành môn này. Tử Vi hiện nay chỉ còn là một khoa ứng dụng trong việc tiên tri cho số phận một con người. Những dữ kiện và qui tắc trong việc lập thành một lá số để luận đoán - mặc dù hoàn toàn phủ hợp vơớitiêu chí khoa học – nhưng ngươờita không thể kiểm chứng một nguyên lý lý thuyết được hình thành từ một thực tại nào làm ra nó?
Chính vì tính bí ẩn kỳ vĩ của nó; nên không ít người đã nhân danh khoa học sổ toẹt và cho rằng Tử Vi đẩu số là hiện tượng “mê tín dị đoan”. Với cách giải thích này không còn gì để bàn. Cũng có một số người tin tưởng vào khoa Tử Vi đẩu số vì hiệu quả tiên tri kỳ vĩ của nó thì cho rằng: sự thành lập môn Tử Vi là do sở ngộ tâm linh của các bậc tiên thánh. Thực ra đây cũng chỉ là một cách lấy sự bí ẩn này để lý giải một cái bí ẩn khác.
Thực tế đã chứng tỏ:
Tử Vi là kết quả một tri thức với những qui tắc rõ ràng và phương pháp luận của nó là thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Nhưng trong tất cả các bản văn cổ chữ Hán – được thể hiện trong mọi phương diện; từ hàng ngàn năm nay – chúng ta không thể tìm thấy những yếu tố tiền đề của môn Tử Vi là:
1) Một hệ thống lý thuyết thống nhất và hoàn chỉnh là cơ sở cho phương pháp luận của môn Tử Vi. Cho đến ngày hôm nay – khi quí vị đang đọc những dòng chữ này – chưa có một nhà nghiên cứu nào chứng minh được về mặt lý thuyết rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán. Mặc dù phương pháp luận của nó vẫn ứng dụng trên thực tế.
2) Một tri thức về những qui luật tồn tại trên thực tế; làm nên các qui tắc để hình thành phương pháp ứng dụng của Tử Vi.
3) Chúng ta không thể nào căn cứ vào những tri thức trong các bản văn chữ Hán – ở mọi phương diện trong lịch sử văn minh Hán – để phục hồi những nguyên lý và phương pháp hình thành môn Tử Vi. Đây không phải là vấn đề được đặt ra bây giờ; hoặc vài trăm năm trước; mà là đã trải hàng thiên niên kỷ.

Nhưng; tất cả những sự bế tắc và huyền bí của một phương pháp tiên tri là Tử Vi Đẩu Số ; lại có thể bắt đầu được hé mở bức màn huyền bí bởi văn minh Lạc Việt với nguyên lý căn để là:
Hậu thiên bát quái Lạc Việt liên hệ Hà Đồ; Là nguyên lý căn để mang nội dung của một qui luật chủ yếu; bao trùm tất cả mọi sự ứng dụng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đồng thời; chính sự lý giải từ nguyên lý căn để Pháp Đại uy nỗ – từ văn minh Lạc Việt – với Tử Vi đẩu số; lại cho chúng ta thấy một tri kiến vũ trụ quan kỳ vĩ; vượt xa tri kiến của nền thiên văn học hiện đại. Tính tri thức rất cao cấp này của nền văn minh Lạc Việt – so với thiên văn học hiện đại – chính là tính ứng dụng qui luật tương tác của những hiệu ứng vũ trụ vào việc giải thích từng hành vi con người. Đây là một mơ ước của khoa học hiện đại trong việc tìm kiếm:

“Một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ. Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên; hoàn toàn có thể giải thích được mọi sự kiện bao quanh con người; từ những hạt vật chất cực nhỏ cho đến những thiên hà khổng lồ” .

Hay nói theo ngôn ngữ dân gian của người Lạc Việt:
Nhân loại đang đi tìm một “Pháp Đại uy nỗ”.

Ôi! Buồn thay! Một câu ngắn ngủi chỉ với bốn chữ đó; hiện chỉ còn do một nghệ nhân cuối cùng của dòng tranh Hàng Trống; viết ra trên bức tranh thờ Ngũ Hổ với giá rẻ như bèo. Nếu tính theo USD chỉ có 15 Dola; chưa trả giá! Vợ anh chết vì bệnh ung thư; một ngày sau khi người viết bài này đến đặt anh vẽ lại bức tranh thờ Ngũ Hổ của ông cha truyền lại. Không biết bấy giờ anh còn vẽ những bức tranh dân gian nổi tiếng một thời nữa không? Rồi đây không biết dòng tranh Hàng Trống và cả Đông Hồ; ẩn chứa trong nó một thời Hoàng Kim của nền minh triết Lạc Việt; sẽ đi về đâu?

Trăng xưa đã vỡ màu hoang dại
Để áng phù vân đọng nét buồn.

Thành thật mong được sự cảm thông của quí vị quan tâm; vì tôi đã để lạc cảm xúc của mình vào đây.
Xin trở lại với luận đề này và trước khi chứng minh tính hợp lý của Pháp Đại uy nỗ so sánh nguyên lý căn để của Lý học Đông phương theo cổ thư chữ Hán là Hậu Thiên bát quái liên hệ Lạc Thư với nguyên lý căn để của Lý học Đông phương được phục hồi từ văn minh Lạc Việt:Hậu Thiên Lạc Việt liên hệ Hà Đồ qua hình dưới đây:

http://lyhoc.viettop.net/hado.jpg
HẬU THIÊN PHỐI LẠC THƯ
Theo cổ thư chữ Hán

http://lyhoc.viettop.net/HT-LT.jpg


Qua hình trên; quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng:
Hậu Thiên bát quái liên hệ với Lạc Thư không hề nói lên một điều gì; bởi vì:
Lạc thư là đồ hình tương khắc của ngũ hành theo chiều ngược kim đồng hồ; hoàn toàn không hề có sự liên hệ nào với đồ hình 12 cung của khoa Tử Vi vốn thuận theo chiều Ngũ Hành tương sinh. Ngược lại; chính Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ hoàn toàn phù hợp với chiều tương sinh của Ngũ Hành trên đồ hình 12 cung của khoa Tử Vi và hợp lý với chính nó (Tứ chính đều chính vị: Đoài - Tây/ Kim nằm ở phương Tây/ Kim của Hà Đồ. Khảm - Bắc/ Thuỷ nằm ở chính Bắc/ Thuỷ của Hà Đồ. Chấn – Đông / Mộc nằm ở Đông / Mộc của Hà Đồ. Ly - Hoả/ Nam nằm ở Hoả/ Nam ở Hà đồ). Từ nguyên lý căn để đã trình bày. Xin quí vị quan tâm xem tiếp bài viết sau đây nhằm chứng minh sự liên hệ hợp lý của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ khi lý giải một thực tại và chứng tỏ tính nguyên lý lý thuyết của khoa Tử Vi.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp

Thiên Sứ
09-07-2005, 12:58 PM
PHÁP ĐẠI UY NỖ
Tiếp theo

An sao trong Tử Vi với Hà Đồ và Hậu thiên bát quái Lạc Việt

Kính thưa quí vị quan tâm

Trong bài viết trên; người viết đã trình bày đồ hình Hậu thiên bát quái phối Lạc thư theo cổ thư chữ Hán. Quí vị cũng nhận thấy:

Hậu thiên bát quái phối Lạc thưtheo cổ thư chữ Hán không nói lên được điều gì khi liên hệ với Tử Vi đẩu số. Chính từ nguyên lý căn để sai lầm này; nên đã trải hàng ngàn năm; tri thức khoa học hiện đại vẫn không thể nào khám phá được những bí ẩn kỳ vĩ của văn minh Đông Phương.

Người ta không thể nào tìm ra một cái đúng từ một cái sai
Nhưng; với nguyên lý căn để Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ thì sự hợp lý lý thuyết cho việc lý giải những bí ẩn của văn hoá Đông Phương đã bắt đầu sáng tỏ.
Xin quí vị quan tâm xem hình dưới đây – đã được bổ sung 12 cung Địa chi và phối với Địa cầu sau đây:

TUƠNG QUAN ĐỊA CẦU VÀ HÀ ĐỒ & 12 CUNG TỬ VI

http://lyhoc.viettop.net/hadodiacau.jpg

http://lyhoc.viettop.net/dhtuvimau.jpg

Từ đồ hình trên với nguyên lý Hậu thiên bát quái Lạc Việt liên hệ với Hà đồ; chúng ta sẽ nhận thấy rằng:

1) Độ nghiêng của Điạ cầu (21 độ 5) gần hoàn toàn trùng khớp với đường phân giác chia đôi cung Khảm/Ly (22 độ 5). Tức là trục Bắc/ Nam – trong Hậu thiên bát quái Lạc Việt & Hà Đồ. Sự phân cung của Hậu thiên Lạc Việt với Hà Đồ hoàn toàn trùng khớp với phương vị của Địa cầu: Khảm/ Thủy/ Bắc; Hà Đồ/Thủy/ Bắc nằm ở phía Bắc của Địa cầu. Chấn/Mộc/ Đông; Hà đồ/ Mộc/Đông nằm ở phía Đông của Địa cầu. Ly/ Hỏa/ Nam; Hà đồ/ Hỏa/ Nam nằm ở phía Nam của Địa cầu. Đoài / Kim/ Tây; Hà đồ/Kim/ Tây nằm ở phía Tây của Địa cầu. Sự trùng khớp này cho thấy cơ sở của một thực tế hiện hữu liên quan đến những tri kiến vũ trụ căn bản của con người.

2) Đường phân cách giữa Tây (Đoài)/ Tây Bắc (Càn) và Đông (Chấn)/ Đông Nam (Khôn – theo Hậu thiên Lạc Việt) chính là trục Thìn/Tuất và là mặt phẳng “Hoàng Đạo” của Địa cầu. Trục phân cách Bắc (Khảm)/ Đông Bắc (Càn) và Nam( Ly)/ Tây Nam (Tốn – theo Hậu thiên Lạc Việt) chính là trục biểu kiến của mặt phẳng vuông góc với đường Hoàng Đạo (Đường Bạch Đạo). Hai đường Hoàng Đạo và Bạch đạo chính là trục Thìn Tuất & Sửu Mùi và là nơi mộ (Kết thúc) của tứ hành trên Hà Đồ.
Sự trùng khớp hoàn toàn giữa những tri kiến của khoa học hiện đại trong những vấn đề liên quan với Địa cầu và Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ đã chứng tỏ tính hợp lý và phản ảnh một thực tế.

3) Trong thực tế thiên văn học mà chúng ta đều biết thì mặt phằng Hoàng Đạo chính là mặt phẳng biểu kiến của hầu hết quỹ đạo các vì sao có ảnh hưởng đến Địa cầu. Tức là chúng có hiệu ứng mạnh nhất ở hai cung Thìn /Tuât.
So sánh với môn Tử Vi Đẩu số thì hầu hết các sao an trong Tử Vi đều bắt đầu từ hai cung Thìn & Tuất này.
Đó là nhưng sao xếp vào loại trung tinh trong Tử Vi đẩu số sau đây:
Tả Phụ; Hữu Bật; Văn Xương ; Văn Khúc; Long Trì; Phương Các; Thiên La; Địa Võng;
Ngoài ra còn những sao liên quan đến những sao an từ cung Thìn - Tuất là:
Tam Thai; Bát Toạ; Ân Quang; Thiên Quí; Thai Phụ; Phong cáo;
Hai cung Thìn /Tuất cũng là hai cung có ảnh hưởng mạnh đến tính chất các sao. Thí dụ như câu phú đoán: ”Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất”.

4) Khi an sao Tử Vi dù Thuỷ Lục cục; Hoả Nhị cục (hai hành này theo Lạc thư hoa giáp) Thổ ngũ cục; Mộc tam cục thì độ số ngày theo theo độ số Cục; bao giờ cũng bắt đầu từ cung Dần. Điều này cũng được giải thích bằng Hậu thiên bát quái Lạc Việt & Hà Đồ:
Qua đồ hình đã tường với quí vị ở trên; chúng ta cũng nhận thấy rằng: Vị trí cung Dần chính là quái Cấn trong tương quan với Hà Đồ. Quái Cấn chính là Trái đất trong tương quan của Âm Mộc với Mặt trời và cửu tinh trong Thái Dương hệ.(Đã diễn giải ở bài trên). Bởi vậy hiệu ứng của Tử Vi bắt đầu từ cung này.Theo nguyên tắc đối xứng cân bằng Âm Dương; bởi vậy đây chính là lý do sao Thiên Phủ đối xứng với sao Tử Vi qua trục Dần Thân và là Nam Đẩu tinh thuộc Âm.

5) Trục Tý/ Ngọ: Trục nối Khảm/ Ly đó là hai cung khởi đầu của sự phân cách và chuyển hóa Âm Dương trong Hậu thiên bát quái Lạc Việt.
* Dương: Ly - Tốn – Đoài => Càn là cực Dương (Chuyển nghịch).
* Âm: Khảm - Cấn - Chấn => Khôn là cực Âm (Chuyển thuận).
Do sự tiếp thu ko hoàn chỉnh của cổ thư Hán; nên Hậu thiên bát quái trong bản văn cổ chữ Hán ko thể phân được trục này. Hay nói cách khác: Do vị trí Tốn/ Khôn bị sai lệch; nên không có sự chuyển hóa Âm Dương ở trục Tý/ Ngọ.


6) Cũng từ nguyên lý Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ – chính là đồ hình tổng hợp và siêu công thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành liên hệ với Địa Cầu – chúng ta thẩm định lại tính đúng sai của phương pháp an một số sao đang gây tranh cãi trong Tử Vi đẩu số là:

@ Sao Trường Sinh:
Vốn có ít nhất hai phương pháp an khác nhau.
Trên đồ hình đã tường vớI quí vị ở trên; chúng ta cũng nhận thấy rằng:
Bốn Cung Dần;Thân; Tỵ; Hợi chính là bốn cung khởi nguyên của bốn hành Kim/ Mộc/ Thuỷ/ Hoả tính theo chiều Kim đồng hồ. Đây cũng chính là bốn cung khởi Trường sinh theo sách cổ. Tức là nếu Thìn - Tuất- Sửu – Mùi là bốn vị trí Mộ của Tứ hành – và là sự thai nghén bắt đầu cho hành chuyển tiếp – trên Hà đồ thì Dần/ Thân/ Tỵ/ Hợi chính là sự khởi nguyên của Tứ hành; do đó Trường sinh phải khởi từ bốn cung này là hoàn toàn hợp lý.

@ Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi:
Cũng qua đồ hình trên; chúng ta thẩm định lại câu phú: “Nhật Nguyệt Sửu Mùi; bất hiển công danh” thì thấy rằng:
Sửu Mùi chính là đường Bạch Đạo. Tức là nơi ánh sáng của mặt Trời (Sao Thái Dương/Nhật); mặt Trăng (Sao Thái Âm/Nguyệt) kết thúc ở đó và cản trở nhau.

@ “Tả Hữu giáp biên Sửu – Mùi”:
Cũng từ đồ hình Hậu thiên bát quái Lạc Việt liên hệ với Hà đồ đã tường với quí vị ở trên; chúng ta cũng nhận thấy rằng:
Sửu Mùi là hai cung biểu kiến chia đôi trục Hoàng Đạo và là đường Bạch Đạo của trái đất.
* Sửu phân Âm Dương trong phần Âm của Hà đồ (Càn/ Khảm=> Âm:Âm trong Âm; Cấn/ Chấn => Dương: Dương trong Âm).
* Mùi phân Âm Dương ở phần Dương của Hà đồ (Khôn/ Ly thuộc Âm: Âm trong Dương); Đoài Tốn thuộc Dương: Dương trong Dương).Điều này còn cho thấy tính hợp lý của sự thay đổi TỐN KHÔN. Nếu không thì không lý giải được chi tiết này.
* Tả Phù Hữu Bật là hai sao cùng có tính chất phù trợ (Phân Âm/Dương). Do đó khi nằm cùng ở phần Âm (hoặc Dương) của Hà đồ lại ở hai cung giáp Sửu (Hoặc Mùi) tức là nằm ở sự đối xứng Âm Dương nên phát huy tác dụng mạnh mẽ.Do đó; đây là hai vị trí đắc địa của Tả Hữu.

@ Thiên Khôi & Thiên Việt :
Đã từ lâu; phương pháp an sao Khôi Việt rất nhiều sách viết khác nhau. Không có cách nào có thể kiểm chứng. Điều này thì các cao thủ Tử Vi gia đều biết. Bởi vậy việc đi tìm nguyên lý an sao Khôi Việt là một đề tài rất đáng quan tâm. Căn cứ vào sách của Thái Thứ lang và một số sách khác thì hai sao này an theo hàng Can như sau:

……………………………Thiên Khôi……Thiên Việt

Giáp, Mậu………………..Sửu……………Mùi
Ất, Kỷ………………………Tý……………. Thân
Bính, Đinh………………..Hợi……………..D u
Canh, Tân………………..Ngọ…………..Dần
Nhâm, Quý……………….Mão…………..Tỵ

Nhưng cũng có rất nhiều sách an khác thậm chí có sách còn khác phần lớn. Đặc biệt là “Hiệp Kỷ Biện Phương thư” thì càng hiểu ko nổi (HKBPT Nxb Mũi Cà Mau 1998; trang 586. Mai Cốc Thành chủ biên. Vũ Hoàng – Lân Bình dịch thuật). Vậy sách nào đúng và nguyên lý an sao Khôi Việt là gì?

Từ nguyên lý căn để Hậu thiên bát quái Lạc Việt liên hệ Hà đồ chúng ta sẽ thẩm định tính hợp lý của nguyên lý này và tính qui luật khi an hai sao Khôi & Việt.
Trước hết; xin quí vị xem lại nguyên lý của cung an Khôi Việt chính là từ hàng can của năm sinh. Hàng can này có 3 cặp ổn định và có tính qui luật là:
Binh Đinh = Âm Dương Hỏa.
Canh Tân = Âm Dương Kim.
Nhâm Quí =Âm Dương Thủy.
Như vậy; cặp Giáp Mậu (Giáp/ Mộc. Mậu/ Thổ) và Ất Kỷ (Ất/ Mộc. Kỷ/ Thổ) thì ko nằm trong qui luật này. Nếu chúng ta đổi vị trí Mậu và Ất thì nguyên lý an Khôi & Việt của hàng Can sẽ mang tính qui luật như sau:
Giáp Ất.
Mậu Kỳ.
Bính Đinh.
Canh Tân
Nhâm Quí.
Đến đấy v/đ tiếp tục đặt ra là:
* Xét cung an Khôi Việt và đồ hình Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ ta sẽ thấy: Chỉ cần đổi chỗ Ngọ & Dần của Canh & Tân thì:
- Thiên Khôi hoàn toàn nằm ở các cung Âm trên Hà Đồ: Tý. Hợi. Sửu. Dần. Mão.
- Thiên Việt hoàn toàn nằm ở các cung Dương trên Hà Đồ: Thân. Dậu. Mùi. Ngọ. Tỵ.
* Khi hoán đổi vị trí Mậu Ất thì ta sẽ có cặp nào đi với Sửu Mùi? Mậu Kỷ hay Giáp Ất?
Xét về tính chất của sao Khôi Việt cũng phân Âm Dương (Hỏa).
Như vậy - từ sự đổi chỗ Ngọ/ Dần của Canh Tân thì ta có:
Thiên Khôi/ Bắc đẩu tinh nằm ở phần Bắc (trên) của Hà Đồ.
Thiên Việt/ Nam đẩu tinh nằm ở phần Nam (dưới) của Hà Đồ (Xin quí vị lưu ý :trên dưới là do tương quan với Địa cầu theo phương vị hiện đại).
Trên cơ sở v/d đặt ra; chúng ta bắt đầu dùng phương pháp loại suy để tìm hiểu vị trí đích thực của Khôi Việt trong Tử Vi.
Bây giờ chúng ta quán xét với giả định tạm thời như sau:

THIÊN KHÔI …………………………………THIÊN VIỆT
Giáp Ất = Sửu ---------------------------Mùi
Mậu Kỷ = Tý ---------------------------Thân
Bính Đinh = Hợi --------------------------Dậu
Canh Tân = Dần -------------------------Ngọ
Nhâm Quí = Mão -------------------------Tỵ
Chúng ta quán xét và phân tích vị trí Thiên Khôi và Thiên Việt ứng với nhau trên Hà Đồ ở hình trên; và vị trí giả định tạm thời (Hoán vị Ất/ Mậu và Dần/ Ngọ ở Canh Tân) thì vị trí của Khôi/ Việt hoàn toàn đối xứng nhau qua trục Thìn Tuất (Trục Hoàng Đạo của Trái đất).
* Tiếp tục kiểm chứng tính hợp lý của giả thuyết trên chúng ta lại thấy:
- Bính Đinh thuộc Hoả và nằm ở hành Hoả (Thuộc Âm trong Dương) của Hà đồ:
Khôi ứng với Hợi/ Âm Thuỷ.
- Canh Tân thuộc Kim (Thuộc Dương trong Dương) của Hà Đồ:
Khôi ứng với Dần/ Dương Mộc.
- Nhâm Quí thuộc Thuỷ (Thuộc Âm trong Âm) của Hà Đồ:
Khôi ứng với Mão/ Âm Mộc.
Vấn đề còn lại là với Giáp Ất; Thiên Khôi đi với Sửu hay đi với Tý?
Bây giờ chúng ta lại quán xét thấy rằng: Giáp Ất/ Mộc và Bính Đinh/ Hoả nằm ở bên phải trục Sửu Mùi (Đường Bạch Đạo). Do đó; ở Bính Đinh Thiên Khôi đi với Hợi; thì với Giáp Ất Thiên Khôi đi với Tý là hợp lý.
Như vậy; với những sở ngộ đã tường với quí vị thì chúng ta có một bảng an sao Khôi Việt như sau:

…………………….THIÊN KHÔI………………………..THIÊN VIỆT
Mậu Kỷ…………Sửu……………………… ……………Mùi
Giáp Ất…………Tý………………………… ……………Thân
Bính Đinh…….Hợi…………………………… ………….Dậu
Canh Tân…….Dần…………………………… ……….Ngọ
Nhâm Quí…….Mão…………………………… ………Tỵ

Như vậy; chúng ta hoàn toàn có cơ sở để có thể kết luận rằng: Trục Hoàng đạo của Trái đất chính là nguyên lý an sao Khôi Việt (Chúng đối xứng qua trục này). Trục Sửu Mùi (Bạch Đạo) chính là nguyên lý lạc hãm của Khôi Việt. Sự giải thích trên đây cũng cho thấy tính qui luật của hai sao này chỉ có thể giải thích được với
HẬU THIÊN LẠC VIỆT liên hệ với HÀ ĐỒ.
Xin quí vị xem hình dưới đây:

VỊ TRÍ KHÔI & VIỆT TRÊN HÀ ĐỒ

http://lyhoc.viettop.net/nltv1.jpg

Thiên Sứ
Còn tiếp

Thiên Sứ
09-07-2005, 01:13 PM
Tiếp theo

@ Sao Lưu Hà.
Sự liên hệ việc tìm qui luật an sao Lưu Hà chỉ liên hệ đến Thiên Bàn Tử Vi - vốn là một hệ quả phát triển của Hà Đồ

Trước khi trình bày luận đề này; người viết lặp lại 2 phương pháp chính đang lưu truyền về qui tắc an sao Lưu Hà là:

# Theo phương pháp của Thái Thứ Lang:
* Giáp Kỷ hợp hóa Thổ:
Giáp an Lưu Hà tại Dậu, Kỷ an Lưu Hà tại Ngọ.
* Ất Canh hợp hóa Kim:
Ất an Lưu Hà tại Tuất, Canh an Lưu Hà Thân
* Bính Tân hợp hóa Thủy:
Bính an Lưu Hà tại Mùi, Tân an Lưu Hà tại Mão.
*Ðinh Nhâm hợp hóa Mộc:
Ðinh an Lưu Hà tại Thìn, Nhâm an Lưu Hà tại Hợi.
*Mậu Quý hợp hóa Hỏa:
Mậu an Lưu Hà tại Tỵ, Quý an Lưu Hà tại Dần.
Phương pháp an sao của Thái Thứ Lang được miêu tả băng đồ hình sau:

ĐỒ HÌNH THIÊN BÀN TỬ VI & VỊ TRÍ THIÊN CAN AN LƯU HÀ

…..………Tỵ ……….... Ngọ ………...Mùi………...Thân
…………….MẬU……….KỶ………BÍNH …..CANH
Thìn……ĐINH…………………………… …GIÁP……..Dậu
Mão………TÂN…………………………… ……ẤT………..Tuất
…………….QUÝ………………………… ………NHÂM
…………….Dần………...Sửu……...... Tý…………….Hợi

# An Lưu Hà theo cách của Hà Lạc Dã Phu

* Giáp Kỷ hợp hóa thổ:
Giáp an Lưu Hà tại Dậu, Kỷ an Lưu Hà tại Ngọ.
* Ất Canh hợp hóa Kim:
Ất an Lưu Hà tại Tuất, Canh an Lưu Hà tại Thìn.
*Bính Tân hợp hóa Thủy:
Bính an Lưu Hà tại Mùi, Tân an Lưu Hà tại Mão.
*Ðinh Nhâm hợp hóa Mộc:
Ðinh an Lưu Hà tại Thân, Nhâm an Lưu Hà tại Hợi.
*Mậu Quý hợp hóa Hỏa:
Mậu an Lưu Hà tại Tỵ, Quý an Lưu Hà tại Dần.
Phương pháp an sao của Hà Lạc Dã phu được miêu tả băng đồ hình sau:

ĐỒ HÌNH THIÊN BÀN TỬ VI & VỊ TRÍ THIÊN CAN AN LƯU HÀ

…………….Tỵ……….....Ngọ……….. ..Mùi………….....Thân
.…………MẬU………..KỶ……….BÍNH ………..ĐINH
Thìn…CANH……………………………… …....GIÁP……….Dậu
Mão……TÂN……………………………… ………..ẤT………….Tuất
…………..QUÍ………………………… ………….NHÂM
…………..Dần………...Sửu………….. .Tý…………….....Hợi

Như vậy qua hai đồ hình trên; quí vị quan tâm cũng nhận hấy rằng: sự khác nhau của hai phương pháp trên chỉ ở hai hiện tượng sau đây:
* Liên Quan đến Địa chi:
Vị trí của “Thân” và “Thìn” còn tất cả đều giống nhau.
* Liên quan đến Thiên Can:
Vị Trí của thiên can Đinh & Canh
Nếu quán xét kỹ; chúng ta sẽ nhận thấy rằng:
Sự nối tiếp của vòng Thiên Can từ Quý => Nhâm => Ất ……=> Canh và kết thúc ở Tân là một chu kỳ tương sinh liên tục theo chiều ngược kim đồng hồ. Điều này được mô tả như sau:
Quí & Nhâm (Thủy) => Ất & Giáp (Mộc) => Đinh & Bính (Hỏa) => Kỷ & Mậu (Thổ) => Canh & Tân (Kim) .
Trên cơ sở qui luật này ; chúng ta lại thấy rằng: Các Thiên Can Dương Nằm ở cung Âm và Thiên Can Âm nằm ở cung Dương. Nhưng chỉ có can Canh & Tân là bị ngoại lệ (Can Canh thuộc Dương vẫn nằm ở cung Thìn thuộc Dương; Tân thuộc Âm nằm ở cung Mão thuộc Âm). Phải chăng đây là một sai lầm do tam sao thất bản? Bây giờ; nếu chúng ta đổi lại Canh: Lưu Hà cư ở Mão và Tân: Lưu Hà cư ở Thìn thì sẽ là một qui luật hợp lý và hoàn chỉnh. Khi đổi vị trí Canh & Tân từ cách an sao Lưu Hà theo Hà Lạc dã phu sẽ đặt ra những v/đ và tính chất sau:
* Có tính qui luật theo tuận tự: Từ Quí & Nhâm tương sinh theo chiều ngược kim đồng hồ với Thiên Can Dương nằm ở cung Âm và Thiên Can Âm nằm ở cung Dương.
* Nguyên lý Giáp hợp Kỷ hoá Thổ….=> Mậu hợp Quí hoá Hoả chỉ là một cách lý giải. Trên thực tế không hề liên hệ gì tới phương pháp an sao Lưu Hà (Cho dù là phương pháp nào)
* Sao Lưu Hà ko an ở hai cung Tý (Thuỷ) và Kỷ (Thuỷ Mộ) có thể suy luận rằng:
Tính chất của sao Lưu Hà như là một hiện tượng của tính chất nguyên sơ (Mang tính cách của Thuỷ được thể hiện ở các cung khác) tương ứng với tính chất của Khảm là ngăn ngại hiểm trở. Do đó chữ Lưu có thể hiểu là giữ lại; Hà là tính chất của Thuỷ. Do đó; sao Lưu Hà mang đặc tính xấu.

7) Phương pháp an một số sao và phương pháp tính lưu đại hạn trong Tử Vi đẩu số:

http://lyhoc.viettop.net/dbk1.jpg

Hoàn toàn trùng khớp với quỹ đạo chuyển động đảo biểu kiến; do hiệu ứng trái đất quay khi quan sát các vì sao của khoa học hiện đại.

Xin quí vị xem hình minh họa dưới đây:

PHƯƠNG PHÁP LƯU ĐẠI HẠN TRONG TỬ VI

http://lyhoc.viettop.net/dbk2.jpg

Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua những điều đã trình bày ở trên; cho thấy một sự trùng khớp hoàn toàn với sự liên hệ hợp lý của Hậu thiên Lạc Việt và Hà Đồ với những nguyên lý căn bản của Tử Vi đẩu số . Từ những hiện tượng thực tế là tiền đề của Tử Vi đẩu số – là những hiệu ứng vũ trụ tương tác với trái Đất của các vì sao nằm trên mặt phẳng Hoàng Đạo – cho đến sự hiểu chỉnh hợp lý thể hiện tính quy luật của các qui tắc an sao. Và tất cả những vấn đề được chứng giải ở trên từ văn minh Lạc Việt; là cơ sở đi đi đến một kết luận rằng:

Chính sự tương tác có tính qui luật của các hiệu ứng vũ trụ là thực tại của Tử Vi đẩu số.

Vấn đề còn lại là sự phát triển của nền khoa học hiện đại trong tương lại; có tìm được những hiệu ứng tương tác cụ thể; có tính qui luật của từng vì sao – hoặc những hiệu ứng vũ trụ nào khác nữa – đã làm nên mọi trạng thái tạo nên hành vi con người có khả năng tiên tri hay không? Từ vấn đề đặt ra cho tương lai khoa học hiện đại; lại cho thấy rằng: Đã có một nền văn minh trong quá khứ; đã có những tri thức vũ trụ siêu việt; họ đã tìm ra những hiệu ứng ứng vũ trụ tương tác có qui luật một cách vi mô; ảnh hưởng đến từng hành vi của con người có tính tiên tri. Họ đã hiểu được bản chất của sự sống và những giá trị của nó.
Đó chính là những giá trị nền tảng của nền văn hiến trải gần 5000 của người Lạc Việt.

Tính hợp lý của Pháp Đại uy nỗ từ văn minh Lạc Việt đã được chứng giải qua những yếu tố căn bản trong thuật Phong Thủy và Tử vi Đẩu số. Nhưng vấn đề sẽ không dừng lại ở đây; nó còn cần phải chứng minh sự lý giải hợp lý những vấn đề liên quan đến nó.

Xin cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ
Còn tiếp

NHỮNG HIỆU ỨNG VŨ TRỤ & THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
Giờ Quan sát & những hiện tương liên quan đến tri kiến thiên văn từ văn minh Lạc Việt*).

Thiên Sứ
09-07-2005, 01:28 PM
NHỮNG HIỆU ỨNG VŨ TRỤ & THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
Giờ Quan sát & những hiện tương liên quan đến tri kiến thiên văn từ văn minh Lạc Việt*).


Kính thưa quí vị quan tâm.
Bài trình bày dưới đây đã được t/g Nguyễn Vũ Tuấn Anh tường trong “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”. Nhưng vì tính liên hệ chặt chẽ đến luận đề này và là một trong những bằng chứng rõ nét về tri kiến vũ trụ quan kỳ vĩ của người Lạc Việt; cho nên tôi xin phép hiệu chỉnh và chuyển tải trong luận đề này. Bài viết này sẽ là sự tiếp tục chứng tỏ tính nhất quán và góp phần vào sự hoàn chỉnh của luận đề HÀ ĐỒ TRONG VĂN MINH LẠC VIỆT .

Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua những bài viết đã tường với quí vị ở trên thì một vấn đề sẽ được đặt ra là:

Phải chăng nền văn minh Văn Lang đã có những tri kiến tương tự như và vượt trội so với khoa thiên văn hiện đại?

Về vấn đề này cần phải được chứng minh có tính khẳng định và đây cũng là điều kiện tối thiểu cho một siêu lý thuyết vũ trụ quan. Bởi vì; nó phải chứng tỏ tính hợp lý cho tất cả mọi vấn đề liên quan đến những tri thức vũ trụ. Những hiện tượng minh chứng cho vấn đề này được liên hệ tiếp nối qua những đoạn trích dẫn sau đây:

Đoạn sau đây được trích trong cuốn Vũ trụ quanh em – tập I – trang 21:

Ngay từ thế kỷ thứ II tr.CN nhà thiên văn Hy Lạp Hi – pa –chus đã phát hiện ra sự bất thường lý thú: trục tự quay của trái Đất luôn đổi hướng trong vũ trụ. Sự thay đổi này rất chậm chạp, chỉ có những nhà thiên văn chuyên môn mới biết được. Thế mà phải 19 thế kỷ sau, tức là sau khi Niu – tơn phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn (năm 1687) các nhà bác học mới hiểu được bản chất để giải thích hiện tượng ấy.

Trang 23, sách đã dẫn viết:

Do trục tự quay của trái Đất thay đổi nên điểm Thiên cực bắc cũng thay đổi với chu kỳ là 26000 năm. Theo sự tính toán của các nhà thiên văn thì các sao sau đây đã, đang và sẽ là sao Bắc cực:
– Khoảng hơn 7000 năm tr.CN là sao t chòm sao Vũ Tiên.
– Gần 3000 năm tr.CN là sao a của chòm Thiên Long.
– Hiện tại là sao a chòm Tiểu Hùng Tinh.
– Hơn 7000 năm sau là sao a chòm Thiên Vương.
– Và hơn 12000 năm sau là sao Chức Nữ ( chòm Thiên Cầm).

Qua đoạn trích dẫn trên về tri kiến của khoa thiên văn hiện đại, chúng ta liên hệ với một hiện tượng khảo cổ được trích dẫn trong sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Phó giáo sư tiến sĩ Trần Ngọc Thêm (Nxb TP HCM – 1996, trang 183):

Kết quả nghiên cứu của những năm gần đây cho thấy cư dân phương Nam trước thời Đông Sơn và Đông Sơn đã đạt đến một trình độ thiên văn rất cao: Từ 6000 năm tr.CN, chiếc rìu đá Bắc Sơn đã khắc hình chòm sao Vũ Tiên – một chòm sao mang tính chu kỳ đã xuất hiện trên bầu trời Đông Nam Á lúc đó.Trống Đồng Hoàng Hạ (và một số trống đồng khác) được xác định là những bức thiên đồ cho phép bằng cách đo bóng nắng mà xác định được các ngày tiết trong năm với mốc là những hoa văn có hình dáng rất gần với hình kí hiệu của những ngày tiết ấy trong thiên văn học hiện đại .

Như vậy chiếc rìu đá khắc chòm sao Vũ Tiên cách đây 6000 năm tr.CN, trùng khớp với hiện tượng các nhà thiên văn hiện đại xác định chính chòm sao này là sao Thiên cực Bắc 7000 năm trước, cho ta thấy những nhà thiên văn cổ Lạc Việt – từ trước thời lập quốc – đã nghiên cứu thiên văn và họ đã xác định được vị trí sao thiên cực bắc, trùng khớp với sự tính toán của khoa thiên văn học hiện đại. Vật liệu để thể hiện chòm sao Vũ Tiên là chiếc rìu đá là một hiện tượng có thể dẫn đến vấn đề sau đây:
Vào thời đại đồ đá (tạm cho như vậy, vì chiếc rìu làm bằng đá), nếu quả thật con người hồi đó chỉ săn bắt hái lượm, thì người ta xuất phát từ nhu cầu gì để định hướng và định hướng đúng sao Bắc cực? Phải chăng bên cạnh những bộ lạc lạc hậu đã có những tổ chức xã hội phát triển hơn, nên có những nhu cầu tìm hiểu vũ trụ và tri kiến của họ được lưu truyền?
Vấn đề liên quan tiếp theo là:
So sánh chu kỳ năm của sao thiên cực bắc mà thiên văn học hiện đại tính được là 26000 năm với chu kỳ một Hội trong Thái Ất thần kinh, chúng có sự tương đương như sau:

Trong Thái Ất đơn vị thời gian được chia là:

Một Nguyên = 3 Hoa giáp, chia làm 3 phần: Thượng, Trung, Hạ = 180 năm.
Một Vận = Sáu nguyên = 1.080 năm (180 năm x 6).
Một Hội = 12 Vận = 12.960 năm (1080 x 12)

Theo Thái Ất thì hiện nay chúng ta đang ở cuối hội Ngọ. Như vậy, một Hội trong Thái Ất gần bằng một nửa chu kỳ sao thiên cực bắc. Nếu xét theo một chu kỳ Âm dương ( Gồm hai Hội) thì con số này sẽ là:
12.960 năm x 2 = 25.920 năm.
Sai số 80 năm so với sự tính toán của khoa học hiện đại (26.000 năm). Nhưng con số của khoa học hiện đại chỉ là con số ước tính, sai số đến hàng ngàn, còn số trong Thái Ất chính xác đến hàng chục. Điều này đã chứng tỏ rằng: nền Thiên văn cổ Văn Lang đã đạt được những tri thức về Thiên văn từ hàng ngàn năm trước, trong khi khoa Thiên văn hiện đại chỉ mới phát hiện ra chu kỳ thiên cực bắc khoảng một trăm năm trở lại đây. Bạn đọc cũng lưu ý rằng cuốn Thái Ất là một kỳ thư ngoại hạng, chắc chắn có sau kinh Dịch và thuyết Âm dương Ngũ hành, nhưng tác giả của nó thì còn mơ hồ hơn cả Lạc thư – Hà đồ và Hoàng đế nội kinh tố vấn.
Bây giờ; chúng ta so sánh những hiện tượng trong truyền thuyết con Rống cháu tiên với tri kiến thiên văn học hiện đại và các vấn đề liên quan.

TRUYỀN THUYẾT CON RỒNG CHÁU TIÊN &CÁC CHÒM SAO THIÊN CỰC BẮC

Sự kỳ vĩ của nền văn hiến Lạc Việt với nguồn gốc từ những tri kiến Thiên văn siêu việt; không phải chỉ qua những hiện tượng đã minh chứng ở trên. Mà ngay trong truyền thuyết Con Rồng – Cháu Tiên cũng có một sự liên hệ trùng khớp một cách kỳ lạ về tri thức vũ trụ quan siêu việt của nền văn minh này.

Qua các phần trích dẫn ở trên, quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng các chòm sao thiên cực bắc – theo các nhà khoa học – lần lượt theo thứ tự thời gian và có tên gọi là:
– Vũ Tiên (hơn 7000 năm tr.CN).
– Thiên Long (gần 3000 năm tr.CN).
– Tiểu Hùng Tinh (hiện tại).

Qua tham khảo ý kiến của bạn đọc, người viết nhận thấy một sự liên quan chặt chẽ giữa thứ tự thời gian các chòm sao Thiên cực Bắc với những từ nhân danh trong kết cấu phả hệ của truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” . Sự trùng khớp này được miêu tả như sau:
1) Chòm sao Vũ Tiên tương đương thế hệ thứ nhất là bà Vụ Tiên (Theo Lĩnh Nam chích quái, hoàng hậu Vụ Tiên là vợ của hoàng đế Kinh Dương Vương) Trùng hợp danh từ Vũ Tiên và Vụ Tiên.
2) Chòm sao Thiên Long tương đương thế hệ thứ hai là Lạc Long Quân. Trùng hợp danh từ Thiên Long và Lạc Long.
3) Chòm sao Tiểu Hùng tinh tương đương thế hệ thứ ba, bắt đầu từ vua Hùng Vương thứ nhất. Trùng hợp danh từ Hùng Vương và Tiểu Hùng tinh.

Mười tám thời vua Hùng là tổ tiên của người Việt, là con của Rồng (Lạc Long Quân), cháu của Tiên (bà Vụ Tiên). Như vậy, thứ tự phả hệ này không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, vì sự trùng hợp gần như hoàn toàn và sự liên quan đến những tri kiến rực rỡ về thiên văn học cổ Văn Lang đã được trình bày trong sách này. Hơn nữa, để có được một nhận thức về qui luật vận động của các chòm sao trong Ngân hà (từ đó phát hiện những hiệu ứng vũ trụ liên quan), điều kiện tiên quyết là phải định vị được điểm chuẩn của tất cả sự vận động đó (trong đó bao gồm cả trái đất); tức là phải xác định được chòm sao thiên cực bắc. Do đó, sự liên hệ giữa nội dung của truyền thuyết “Con Rồng – Cháu Tiên” bao gồm từ phả hệ vua Hùng cho đến độ số Lạc thư – Hà đồ là một sự liên hệ nhất quán, chặt chẽ và trùng khớp hợp lý về những tri kiến vũ trụ kỳ vĩ của nền văn minh Văn Lang. Sự liên hệ trên đây minh chứng rõ nét truyền thuyết “Con Rồng – cháu Tiên“ không thể là “truyền thuyết ngụy tạo của các nhà nho vào thế kỷ 14”. Bởi vì — kể từ khi nền văn minh Văn Lang thất truyền – trong hơn 2000 năm lịch sử của nhân loại – cho đến sớm nhất vào đầu thế kỷ 19 khoa học hiện đại vẫn chưa phát hiện ra các chòm sao thiên cực bắc.

Để bổ sung cho sự liên hệ giữa khoa thiên văn học hiện đại với văn minh Văn Lang, bạn đọc tham khảo một hiệu ứng vũ trụ từ sự vận động của các thiên thể đối với con người (đã trình bày trong “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại”.Nguyễn Vũ Tuấn Anh.Tủ sách tuvilyso.com). Hiệu ứng này đã được Gs. Lê Văn Sửu phát hiện và nói đến trong cuốn “Nguyên lý thời sinh học cổ Phương Đông” (Nxb VHTT 1996), được bổ sung và hiệu chỉnh lại trong sách này. Đó là vấn đề mà có lẽ các bà mẹ lớn tuổi đều biết về trường hợp trẻ sinh vào giờ Quan Sát. Hiện tượng này, Gs. Lê Văn Sửu giải thích như sau:

GIỜ QUAN SÁT

[B]Bài ca về giờ sinh phạm giờ Quan Sát :
Chính, thất, sơ sinh Tỵ, Hợi thì
Nhị, bát Thìn, Tuất bất thậm nghi
Tam, Cửu, Mão, Dậu đinh thượng nhiên
Tứ, Thập Dần, Thân kỷ định kỳ
Ngũ, đồng thập nhất Sửu, Mùi thượng
Lục đồng thập nhị Tý, Ngọ chi,

Nghĩa là: giờ Quan Sát theo tháng Âm lịch và giờ địa chi
* Tháng giêng / giờ Tị * Tháng bảy / giờ Hợi
* Tháng hai / giờ Thìn * Tháng tám / giờ Tuất
* Tháng ba / giờ Mão * Tháng chín / giờ Dậu
* Tháng tư / giờ Dần *Tháng mười / giờ Thân
* Tháng năm / giờ Sửu * Tháng mười một / giờ Mùi
Tháng sáu / giờ Tý * Tháng Chạp / giờ Ngọ
Người xưa cho rằng trẻ em sinh phạm giờ Quan Sát khi nhỏ thường ốm yếu khó nuôi, lớn lên thì đầu trộm đuôi cướp. Những bậc làm cha mẹ khi có con sinh giờ Quan Sát thường vô cùng đau khổ. Theo những điều tôi thâu lượm được bấy lâu nay thì những trẻ sinh phạm giờ Quan Sát thường có chức năng gan không ổn định, số lớn dễ bị mắc bệnh viêm gan khi có dịch truyền nhiễm bệnh này. Để tìm hiểu giá trị thật của giờ Quan Sát ta tiến hành mô hình hóa giờ Quan Sát trong một đồ như sau. Trong đồ trên chúng ta thấy điểm giờ Tý của tháng đều ở trên quả đất có hướng đối chiếu với Mặt trời qua tâm quả đất, từ đó theo các tháng vị trí giờ Quan Sát đều có hướng gần đối chiếu với hướng Bắc của quỹ đạo năm. Như vậy giờ Quan Sát có giá trị là thời điểm nơi sinh đứa trẻ chịu tác động ảnh hưởng vũ trụ từ ngoài Mặt trời.

http://lyhoc.viettop.net/gioquansat.jpg

Hình trên đây được thực hiện lại dựa trên ý tưởng mô hình hóa của giáo sư Lê Văn Sửu. Qua đồ hình trên thì vị trí giờ Quan Sát trên trái đất tương ứng với nhau vẫn không thay đổi so với Mặt trời. Tức là đường nối từ tâm trái đất với vị trí giờ Quan Sát vẫn tạo thành những đường thẳng song song như hình vẽ trên. Như vậy bạn đọc sẽ nhận thấy một hiệu ứng vũ trụ nào đó, tác động lên con người ở các vị trí giờ Quan Sát.
Qua sự phát hiện của Gs. Lê Văn Sửu và đồ hình trình bày ở trên, chứng tỏ rằng: nền văn minh cổ Đông phương đã phát hiện hiện tượng trái đất vận động quanh Mặt trời. mà còn phát hiện ra Mặt trời phải vận động theo một quỹ đạo của nó. Để nói lên được điều này, những người tiên phong của nền thiên văn học hiện đại đã phải ra tòa hoặc lên giàn hỏa thiêu. Đó là trường hợp của Galile và Bruno ở nước Ý vào thế kỉ 15 - 16.
Hiện tượng giờ Quan Sát nêu trên đã chứng tỏ rằng: tri thức của nền thiên văn cổ Văn Lang về nhiều mặt đã vượt xa khả năng của tri thức thiên văn học hiện đại, khi xác định một hiệu ứng vũ trụ với đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ ảnh hưởng đến con người. Và hiện tượng này – là tiền đề từ vũ trụ của giờ Quan sát – đã bổ sung và minh chứng rõ hơn của luận điểm cho rằng:

Tử Vi chính là hệ quả của sự nhận thức những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ chi phối con người một cách có qui luật ; nên đã tạo nên khà năng tiên tri của nó.
Với nhận định trên, có thể lập luận phản bác theo những khả năng sau:

@ Nhận xét cho rằng giờ Quan Sát chỉ là kinh nghiệm dân gian được đúc kết từ thực tế cuộc sống.

Đây chỉ là một nhận xét khiên cưỡng. Bởi vì, một hiện tượng xảy ra cho một con người là kết quả của sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố. Mỗi con người có những hiện tượng giống nhau lại không thể cùng sống trong một thời điểm không gian và thời gian như nhau. Trong khi đó hiệu ứng vũ trụ này tác động lên cuộc đời của con người qua đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ; hơn nữa hệ quả của nó lại không phải chỉ là bệnh viêm gan mà là hành vi của con người. Nếu như tổng kết hành vi tương tự của con người để dẫn đến một kết luận về sự trùng hợp trong một số giờ sinh như giờ Quan Sát thì là một việc làm không thể thực hiện được trên thực tế; cho dù là ở ngay trong xã hội hiện đại với tất cả những điều kiện huy động được của nhân loại. Sự kết luận về bệnh viêm gan liên quan đến giờ Quan Sát của Giáo sư Lê Văieät nam Sửu chỉ là kiểm chứng một hiện tượng có sẵn.

@Cho rằng giờ Quan sát chỉ là trò chơi toán học ngẫu nhiên

Bắt đầu từ tháng 12 (Tháng Sửu) với giờ Ngọ; sau đó cứ lùi một tháng thì tiến một giờ (Tháng 11 giờ Mùi)….cho đến hết 12 giờ trong 12 tháng. Từ trò chơi toán học ngẫu nhiên này; người ta đặt ra giờ Quan sát.
Với lập luận như vậy; chỉ là một dạng cao cấp hơn việc làm một con toán chia 2622 năm – là thời gian tồn tại của thời Hùng Vương theo chính sử Việt – cho 18 đời Hùng Vương ra con số hơn 145 năm và kết luận: Không thể có tuổi thọ trung bình hơn 145 năm cho đời một con người. (Đây là một sai lầm chủ quan; tôi đã minh chứng sự sai lầm này ngay trong đề tựa “Kinh Dịch – Di sản sáng tạo của người Việt“. Văn hiến Lạc Việt. Tuvilyso.com). Bởi vì; giữa một trò chơi toán học đơn giản và hệ quả của giờ Quan sát trên con người (Bệnh viêm gan và tính bạo ngược) lại hoàn toàn khôngv có sự liên hệ nào. Trong khi giờ Quan sát tồn tại trong văieät nam minh Đông phương (Cụ thể là ở Việt Nam đã nhiều thế kỷ).

Vì vậy; hiện tượng giờ Quan sát chỉ có thể giải thích hợp lý trên cơ sở đã chứng minh là: Đó là kết quả của một tri kiến thiên văn siêu việt; được kết hợp với sự ứng dụng phương pháp luận của một lý thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh để lý giải cho những hiện tượng liên quan đến con người.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Tính ứng dụng của một phương pháp luận chỉ có thể là hệ quả của một lý thuyết là tiền đề cho phương pháp luận đó. Sự ứng dụng của phương pháp luận Âm Dương Ngũ hành cho đến từng giờ trong hành vi của một con người cụ thể mang tính tiên tri; đã chứng tỏ nó phải là hệ quả của một lý thuyết hoàn chỉnh; nhất quán trước đó. Đồng thời; những khả năng tiên tri này; cũng chứng tỏ nó phải xuất phát từ tính qui luật từ những hiệu úng vũ trụ đã chứng minh ở trên. Căn cứ vào tiêu chí cho một lý thuyết khoa học; hoàn toàn có cơ sở để chứng tỏ rằng:
Đã tồn tại một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ thuộc về một nền văn minh đã chìm sâu trong quá khứ; mà nhân loại hiện đại đang mơ ước.
Chính khả năng tiên tri một cách chi tiết trong đời sống của một con người cụ thể – từ sự ứng dụng một phương pháp luận của một lý thuyết phải hình thành trước đó – đã chứng tỏ rằng: Lý thuyết thống nhất – là cơ sở của các phương pháp luận cho sự ứng dụng của nó – phải được hình thành và tồn tại rất lâu trong một xã hội ổn định và phát triển lâu dài. Tất cả những lý thuyết khoa học hiện đại chưa hề có khả năng này. Sự ổn định và phát triển lâu dài của một xã hội làm nền tảng cho sự tồn tại của lý thuyết đó; chính là một trong những yếu tố chứng minh cho gần 3000 tồn tại của nhà nước Văn Lang – thời Hùng Vương – cội nguốn của 5000 văn hiến của người Việt.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Thiên Sứ
09-07-2005, 01:34 PM
PHỤ ĐỀ

THIÊN VĂN CỔ HOA HẠ & THIÊN VĂN HIỆN ĐẠI(*)

Đoạn trích dẫn tiếp tục sau đây trong cuốn ”Vũ trụ – phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu” (Nxb Giáo Dục – 1995, trang 16) cho chúng ta một sự so sánh về tri kiến thiên văn cổ Trung Hoa với thiên văn học hiện đại và từ đó so sánh với những tri kiến thuộc về văn minh Văn Lang, để từ đó chứng minh rõ nét hơn cho những luận đề đã trình bày ở trên:

Quan niệm phương Đông về vũ trụ ở thời thượng cổ và trung
cổ:

Vào cuối thế kỷ thứ V, trong bộ Thiên văn lục có phân biệt 3 trường phái về quan niệm cấu trúc vũ trụ. Đó là thuyết Cái Thiên (Trời có cái nắp đậy), Tuyên Dạ (đêm tối lan tràn khắp nơi, không
trung vô tận) là Hồn Thiên (thiên cầu mênh mông bao gồm cả Trái đất). Các nhà hiền triết muốn mở đường “Thiên Lộ” cho Hoàng Đế lên trời nên những lý thuyết này, tuy có mục tiêu khoa học để tìm hiểu Vũ trụ, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng siêu hình và chiêm tinh học.

Lý thuyết Cái Thiên, cổ nhất, hình dung vòm trời như một cái nắp hình bán cầu và Trái đất như một cái bát úp ngược cùng một trung tâm. Phía dưới chân Trái đất không phải hình tròn mà vuông như một bàn cờ, có lẽ là do quan niệm có 4 phương trời (đông, tây, nam, bắc) (hình 3). Mưa từ vòm trời, nơi có sao, rơi xuống 4 góc Trái đất thành 4 bể. Hiện nay ta biết là những hạt nước mưa đọng trên tầng Trái đất chứ không phải từ Vũ trụ rơi xuống. Vòm trời quay lôi theo Mặt trăng cùng Mặt trời. Hai thiên thể này chuyển động từ từ ngược chiều với vòm trời. Trong “Khung (lớn) Thiên Luận” viết ở thế kỷ thứ III ví vòm trời như cái màng trứng trong đó có “nguyên khí” nên không chìm xuống mặt bốn bể. Mặt trời giống một ngọn đèn chuyển động trên vòm trời và chỉ chiếu sáng từng khu vực một. Tam Diệu tức là Mặt trời, Mặt trăng và sao khi ẩn khi hiện thành có đêm ngày. Thật ra thuyết “Cái Thiên” có hai giai đoạn, thời Đông Chu (thế kỷ thứ V, tr.CN) thuyết “Thiên viên địa phương” (trời tròn đất vuông) cho Trái đất đứng yên, Mặt trăng, Mặt trời và tinh tú chuyển vận trên bầu trời. Sang đến thời Chiến Quốc thuyết này mới phát triển thành thuyết cho vòm trời hình bán cầu, Trái đất như một cái bát. Từ giai đoạn một cho Trái đất phẳng như bàn cờ đến giai đoạn 2 cho Trái đất gồm đường cung tròn là một bước tiến của thuyết “Cái Thiên”.

Thuyết Hồn Thiên của Trương Hành (78 – 139) thời Đông Hán, ví vòm trời như một quả trứng gà nhưng hình tròn, ở giữa là lòng đỏ tượng trưng Trái đất. Vòm trời có “khí” ở trong và chân trời có nước, Trái đất nổi trên mặt nước. Trên trời có 3 “thần” có lẽ là Mặt trời, Mặt trăng và sao, còn Trái đất có 3 “hình” có thể là thổ, thủy và khí. Thân và hình đều có thể quan sát thấy được. Mặt trời như trên một bánh xe quay không ngừng. Khỏang không gian ở giữa vòm trời không giới hạn (vô cực, vô cùng), được gọi là “Vũ trụ” và coi là bí hiểm. Như vậy, thuyết Hồn thiên đã hình dung được là ngoài phạm vi Mặt trời, Mặt trăng và sao còn có Vũ trụ rộng mênh mông nhưng chưa thăm dò được.

Thuyết Tuyên Dạ cho rằng vòm trời trống rỗng (vô chất) xa lắc và rộng mênh mông (vô cực). Mặt trời, Mặt trăng và sao là hơi đọng (tích khí) bay trên không trung. Bẩy tinh tú (thất diệu) tức là Mặt trời, Mặt trăng và năm hành tinh trong Hệ Mặt trời không dính vào vòm trời nhưng chuyển động tự do, đi đi lại lại. Năm hành tinh này là những hành tinh nhìn thấy được bằng mắt trần, tức là Thủy, Kim, Hỏa, Mộc và Thổ. Sao Bắc Đẩu bao giờ cũng đứng một chỗ (vì nằm gần trục quay của vòm trời). Quan niệm không trung vô tận phải chăng có mối liên hệ với tư tưởng “hư vô” của đạo Lão và “hư không” của đạo Phật. Trời và Trái đất tuy rộng lớn, nhưng chỉ như hột gạo so với hư không trong đó có thể có những Trời và Trái đất khác

Từ thế kỉ thứ 6, quan niệm hai bán cầu có khí, tượng trưng Trời và Đất của thuyết Hồn Thiên được chấp nhận. Tuy nhiên, đã có câu hỏi được đặt ra là nếu chỉ nhìn thấy nửa quả cầu tức là chỉ nhìn thấy nửa sự thật. Qua những thế kỉ sau, mô hình vũ trụ dần dần được cải tiến. Chẳng hạn, sao và hành tinh không dính vào vòm trời, nhưng được một luồng “gió cứng” (cương phong) nâng lên, như khí nén của động cơ phản lực. Trên trời có chín tầng khí có áp lực và tốc
độ khác nhau tương tự như cửu trùng. Sự vận hành tuần hoàn của Trái đất và thủy triều đều do lực Âm dương quy định. Mặt trời là Thái Dương (thái là lớn) và các ngôi sao khác là Tiểu Dương (tiểu là nhỏ). Còn Mặt trăng là Thái Âm và các hành tinh khác là Tiểu Âm. Trái đất cũng thuộc về loại âm. Hiện nay ta biết rằng Mặt trăng là vệ tinh của Trái đất. Mặt trời và sao rất nóng và tự
phát xạ vì có năng lượng tạo ra bởi những phản ứng nhiệt hạch trong lòng chúng. Trái lại Trái đất, Mặt trăng và các hành tinh vì lạnh nên không tự phát xạ mà chỉ phản xạ ánh sáng Mặt trời chiếu tới chúng.Cho nên xếp Mặt trời và sao vào loại dương còn Trái đất, Mặt trăng và các hành tinh vào loại âm cũng có phần đúng. Chính Mặt trời là một ngôi sao như hàng chục tỉ sao khác trong dải Ngân hà và Mặt trăng là một trong những hành tinh của Hệ Mặt trời. Vì Mặt trời và
Mặt trăng gần Trái đất nên trông to lớn và được gọi là Thái Dương và Thái Âm. Quá trình tiến hóa của ngành thiên văn Trung Quốc qua nhiều thời đại đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử (thế kỉ thứ 6 tr.CN), Lão Tử (khỏang thế kỉ thứ 4 tr.CN) và Phật giáo. Theo
Nho giáo, Vũ trụ lúc đầu mông lung mờ mịt trong một trạng thái gọi là “Thái cực” và biến hóa ra “âm” và “dương”. Hai thực thể Âm dương, tuy tương khắc với nhau, nhưng được phối hợp theo phép điều hoà và tương đối, để tạo ra khí chất tức là thủy, hỏa, kim, mộc, thổ (Ngũ hành). Đạo sống của con người trong xã hội cũng dựa vào thực thể Âm dương trong Vũ trụ. Ta có thể ví thực thể trừu tượng Âm dương như hai loại hạt cơ bản trong vật lí hiện đại, hạt và phản hạt có khả năng tự huỷ khi chạm nhau. Thuyết Nho giáo tuy có phần duy lí nhưng không đặc biệt lưu tâm đến thiên nhiên. Học thuyết của đạo Lão thì đề cập nhiều tới thiên nhiên, nhưng lại thiếu duy lí. Trang Tử (thế kỉ thứ 4 tr.CN) tự hỏi tại sao Trời quay mà Trái đất lại đứng? Mặt trời và Mặt trăng tại sao thay nhau hiện trên trời? Những tư tưởng ở đời thượng cổ về vũ trụ, tuy có tính chất thần bí và siêu hình, nhưng đôi khi cũng phản ánh những sự kiện tìm thấy bằng những lí luận khoa học hiện đại. Qua những phương tiện quan sát và tính toán, vật lí thiên văn hiện đại cho rằng Vũ trụ được tạo ra cách đây khỏang 15 tỉ năm do một Vụ Nổ Nguyên Thủy Vĩ Đại gọi là
Bích Băng (Big Bang). Vũ trụ nguyên thủy chỉ là một đám sương mù mờ ảo (xem chi tiết ở những mục sau) hình dung bởi học thuyết Nho giáo. Vương Sung một nhà triết học nổi tiếng triều Đông Hán cho rằng Trái đất được hình thành do sự đông đặc của một đám khí. Giả thuyết này không được phát triển vì thiếu cơ sở vật lí và toán học. Theo những thuyết nghiên cứu hiện đại, những thiên thể như sao và hành tinh được hình thành từ những đám khí khổng lồ bị cô và đọng lại vì sức hút của trường hấp dẫn trong đám khí. Theo luật luân hồi của đạo Phật, tạo hóa xoay vần như một bánh xe. Những trạng thái hỗn độn của vạn vật có thể tái diễn sau những trạng thái bình thường. Lí thuyết nghiên cứu cấu trúc và sự tiến hóa của Vũ trụ (Vũ trụ luận) dựa trên cơ sở khoa học hiện nay đề xuất vũ trụ cũng có thể trải qua những giai đoạn co dãn tuần hoàn và Vũ trụ nguyên thủy ở trong một trạng thái hỗn độn. Tóm lại, các nhà thiên văn học phương Đông thời xưa không có một mô hình chính xác về Vũ trụ và quỹ đạo của các hành tinh
trong Hệ Mặt trời, vì ngành vật lí và toán học, đặc biệt là hình học chưa được phát triển. Tuy nhiên, quan niệm của họ về Vũ trụ có khả năng thay đổi tương đối đúng với thực tế. Nhờ sự phát triển khoa học qua các thời đại, hiện nay chúng ta biết rằng Trái đất là một trong 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời. Trái đất quay chung quanh Mặt trời với chu kì khỏang 365 ngày theo một quỹ đạo hình elip hầu như tròn mà Mặt trời ở một tiêu điểm. Mặt trăng là một vệ tinh quay chung quanh Trái đất. Các ngôi sao không dính trên vòm trời mà xa Trái đất ở những khoảng cách khác nhau. Vũ trụ có hàng trăm tỉ thiên hà, mỗi thiên hà có hàng chục tỉ ngôi sao như Mặt trời, mỗi sao có hàng chục hành tinh. Dải Ngân hà là một trong những thiên hà, chỉ khác là trong Ngân hà có Hệ Mặt trời và có Trái đất chúng ta ở. Vì vậy Ngân hà còn được gọi là “Thiên hà của chúng ta”. Trung tâm Ngân hà cách Trái đất khoảng 30 nghìn năm ánh sáng (xem những mục sau). Trái
đất quay chung quanh Mặt trời với tốc độ 30 kilomet/giây và quay cùng tất cả Hệ Mặt trời chung quanh trung tâm Ngân hà với tốc độ 250 kilomet/giây. Với tốc độ lớn, nhưng vì Ngân hà vĩ đại, nên Trái,đất phải để 200 triệu năm mới quay hết một vòng chung quanh tâm Ngân hà.

Kính thưa quí vị quan tâm!

Qua đoạn trích dẫn trên của giáo sư Nguyễn Quang Riệu nói về thiên văn cổ Đông phương – mà thực tế là nói về thiên văn cổ Trung Hoa; chắc chắn quí vị cũng nhận thấy rằng: Từ thời Chu cho dến thế kỷ thứ VI sau CN và cả những thế kỷ sau đó, quan niệm vũ trụ quan của văn minh Hoa Hạ chưa hề có một nhận thức đúng về thực tế vận động của Thái dương hệ (chưa nói đến vũ trụ). Đây là một vấn đề chứng tỏ văn minh Hoa Hạ không thể là chủ nhân của kinh Dịch và thuyết Âm dương Ngũ hành – mang nội dung của một siêu lý thuyết vũ trụ quan đã minh chứng ở trên. Hay nói một cách khác: Nền văn minh Hoa Hạ chỉ tiếp thu một cách không hoàn chỉnh và sai lệch những phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ khi nền văn hiến Lạc Việt bị sụp đổ và bị Hán hoá về văn tự qua hơn 1000 Bắc thuộc. Thuyết Âm Dương ngũ hành và siêu công thức theo hệ nhị phân - một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà các nhà khoa học hàng đầu của tri thức khoa học hiện đại đang mơ ước - chỉ có thể phục hồi được từ nền văn minh Lạc Việt với lịch sử gần 5000 năm văn hiến.

Chân thành cảm tạ sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp:
PHÁP ĐẠI UY NỖ
Hà đồ lý giải nguyên lý tương hợp của thập Thiên can
-------------------------
(*) Chú thích: Trích từ Tìm về cội nguồn Kinh Dịch. Nxb VHTT 2002. Có hiệu chỉnh; bổ sung và sửa chữa.

hoàng sơn
09-07-2005, 02:44 PM
Bác Thiên sứ bên TVLS đã sang đậyChúc bác thành công, dồi dào sức khoẻ!

Thiên Sứ
09-07-2005, 08:09 PM
PHỤ ĐỀ

THIÊN VĂN CỔ HOA HẠ & THIÊN VĂN HIỆN ĐẠI(*)

Đoạn trích dẫn tiếp tục sau đây trong cuốn ”Vũ trụ – phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu” (Nxb Giáo Dục – 1995, trang 16) cho chúng ta một sự so sánh về tri kiến thiên văn cổ Trung Hoa với thiên văn học hiện đại và từ đó so sánh với những tri kiến thuộc về văn minh Văn Lang, để từ đó chứng minh rõ nét hơn cho những luận đề đã trình bày ở trên:

Quan niệm phương Đông về vũ trụ ở thời thượng cổ và trung
cổ:

Vào cuối thế kỷ thứ V, trong bộ Thiên văn lục có phân biệt 3 trường phái về quan niệm cấu trúc vũ trụ. Đó là thuyết Cái Thiên (Trời có cái nắp đậy), Tuyên Dạ (đêm tối lan tràn khắp nơi, không
trung vô tận) là Hồn Thiên (thiên cầu mênh mông bao gồm cả Trái đất). Các nhà hiền triết muốn mở đường “Thiên Lộ” cho Hoàng Đế lên trời nên những lý thuyết này, tuy có mục tiêu khoa học để tìm hiểu Vũ trụ, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng siêu hình và chiêm tinh học.

# Lý thuyết Cái Thiên, cổ nhất, hình dung vòm trời như một cái nắp hình bán cầu và Trái đất như một cái bát úp ngược cùng một trung tâm. Phía dưới chân Trái đất không phải hình tròn mà vuông như một bàn cờ, có lẽ là do quan niệm có 4 phương trời (đông, tây, nam, bắc) (hình 3). Mưa từ vòm trời, nơi có sao, rơi xuống 4 góc Trái đất thành 4 bể. Hiện nay ta biết là những hạt nước mưa đọng trên tầng Trái đất chứ không phải từ Vũ trụ rơi xuống. Vòm trời quay lôi theo Mặt trăng cùng Mặt trời. Hai thiên thể này chuyển động từ từ ngược chiều với vòm trời. Trong “Khung (lớn) Thiên Luận” viết ở thế kỷ thứ III ví vòm trời như cái màng trứng trong đó có “nguyên khí” nên không chìm xuống mặt bốn bể. Mặt trời giống một ngọn đèn chuyển động trên vòm trời và chỉ chiếu sáng từng khu vực một. Tam Diệu tức là Mặt trời, Mặt trăng và sao khi ẩn khi hiện thành có đêm ngày. Thật ra thuyết “Cái Thiên” có hai giai đoạn, thời Đông Chu (thế kỷ thứ V, tr.CN) thuyết “Thiên viên địa phương” (trời tròn đất vuông) cho Trái đất đứng yên, Mặt trăng, Mặt trời và tinh tú chuyển vận trên bầu trời. Sang đến thời Chiến Quốc thuyết này mới phát triển thành thuyết cho vòm trời hình bán cầu, Trái đất như một cái bát. Từ giai đoạn một cho Trái đất phẳng như bàn cờ đến giai đoạn 2 cho Trái đất gồm đường cung tròn là một bước tiến của thuyết “Cái Thiên”.

# Thuyết Hồn Thiên của Trương Hành (78 – 139) thời Đông Hán, ví vòm trời như một quả trứng gà nhưng hình tròn, ở giữa là lòng đỏ tượng trưng Trái đất. Vòm trời có “khí” ở trong và chân trời có nước, Trái đất nổi trên mặt nước. Trên trời có 3 “thần” có lẽ là Mặt trời, Mặt trăng và sao, còn Trái đất có 3 “hình” có thể là thổ, thủy và khí. Thân và hình đều có thể quan sát thấy được. Mặt trời như trên một bánh xe quay không ngừng. Khỏang không gian ở giữa vòm trời không giới hạn (vô cực, vô cùng), được gọi là “Vũ trụ” và coi là bí hiểm. Như vậy, thuyết Hồn thiên đã hình dung được là ngoài phạm vi Mặt trời, Mặt trăng và sao còn có Vũ trụ rộng mênh mông nhưng chưa thăm dò được.

# Thuyết Tuyên Dạ cho rằng vòm trời trống rỗng (vô chất) xa lắc và rộng mênh mông (vô cực). Mặt trời, Mặt trăng và sao là hơi đọng (tích khí) bay trên không trung. Bẩy tinh tú (thất diệu) tức là Mặt trời, Mặt trăng và năm hành tinh trong Hệ Mặt trời không dính vào vòm trời nhưng chuyển động tự do, đi đi lại lại. Năm hành tinh này là những hành tinh nhìn thấy được bằng mắt trần, tức là Thủy, Kim, Hỏa, Mộc và Thổ. Sao Bắc Đẩu bao giờ cũng đứng một chỗ (vì nằm gần trục quay của vòm trời). Quan niệm không trung vô tận phải chăng có mối liên hệ với tư tưởng “hư vô” của đạo Lão và “hư không” của đạo Phật. Trời và Trái đất tuy rộng lớn, nhưng chỉ như hột gạo so với hư không trong đó có thể có những Trời và Trái đất khác

Từ thế kỉ thứ 6, quan niệm hai bán cầu có khí, tượng trưng Trời và Đất của thuyết Hồn Thiên được chấp nhận. Tuy nhiên, đã có câu hỏi được đặt ra là nếu chỉ nhìn thấy nửa quả cầu tức là chỉ nhìn thấy nửa sự thật. Qua những thế kỉ sau, mô hình vũ trụ dần dần được cải tiến. Chẳng hạn, sao và hành tinh không dính vào vòm trời, nhưng được một luồng “gió cứng” (cương phong) nâng lên, như khí nén của động cơ phản lực. Trên trời có chín tầng khí có áp lực và tốc
độ khác nhau tương tự như cửu trùng. Sự vận hành tuần hoàn của Trái đất và thủy triều đều do lực Âm dương quy định. Mặt trời là Thái Dương (thái là lớn) và các ngôi sao khác là Tiểu Dương (tiểu là nhỏ). Còn Mặt trăng là Thái Âm và các hành tinh khác là Tiểu Âm. Trái đất cũng thuộc về loại âm. Hiện nay ta biết rằng Mặt trăng là vệ tinh của Trái đất. Mặt trời và sao rất nóng và tự
phát xạ vì có năng lượng tạo ra bởi những phản ứng nhiệt hạch trong lòng chúng. Trái lại Trái đất, Mặt trăng và các hành tinh vì lạnh nên không tự phát xạ mà chỉ phản xạ ánh sáng Mặt trời chiếu tới chúng.Cho nên xếp Mặt trời và sao vào loại dương còn Trái đất, Mặt trăng và các hành tinh vào loại âm cũng có phần đúng. Chính Mặt trời là một ngôi sao như hàng chục tỉ sao khác trong dải Ngân hà và Mặt trăng là một trong những hành tinh của Hệ Mặt trời. Vì Mặt trời và
Mặt trăng gần Trái đất nên trông to lớn và được gọi là Thái Dương và Thái Âm. Quá trình tiến hóa của ngành thiên văn Trung Quốc qua nhiều thời đại đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử (thế kỉ thứ 6 tr.CN), Lão Tử (khỏang thế kỉ thứ 4 tr.CN) và Phật giáo. Theo
Nho giáo, Vũ trụ lúc đầu mông lung mờ mịt trong một trạng thái gọi là “Thái cực” và biến hóa ra “âm” và “dương”. Hai thực thể Âm dương, tuy tương khắc với nhau, nhưng được phối hợp theo phép điều hoà và tương đối, để tạo ra khí chất tức là thủy, hỏa, kim, mộc, thổ (Ngũ hành). Đạo sống của con người trong xã hội cũng dựa vào thực thể Âm dương trong Vũ trụ. Ta có thể ví thực thể trừu tượng Âm dương như hai loại hạt cơ bản trong vật lí hiện đại, hạt và phản hạt có khả năng tự huỷ khi chạm nhau. Thuyết Nho giáo tuy có phần duy lí nhưng không đặc biệt lưu tâm đến thiên nhiên. Học thuyết của đạo Lão thì đề cập nhiều tới thiên nhiên, nhưng lại thiếu duy lí. Trang Tử (thế kỉ thứ 4 tr.CN) tự hỏi tại sao Trời quay mà Trái đất lại đứng? Mặt trời và Mặt trăng tại sao thay nhau hiện trên trời? Những tư tưởng ở đời thượng cổ về vũ trụ, tuy có tính chất thần bí và siêu hình, nhưng đôi khi cũng phản ánh những sự kiện tìm thấy bằng những lí luận khoa học hiện đại. Qua những phương tiện quan sát và tính toán, vật lí thiên văn hiện đại cho rằng Vũ trụ được tạo ra cách đây khỏang 15 tỉ năm do một Vụ Nổ Nguyên Thủy Vĩ Đại gọi là
Bích Băng (Big Bang). Vũ trụ nguyên thủy chỉ là một đám sương mù mờ ảo (xem chi tiết ở những mục sau) hình dung bởi học thuyết Nho giáo. Vương Sung một nhà triết học nổi tiếng triều Đông Hán cho rằng Trái đất được hình thành do sự đông đặc của một đám khí. Giả thuyết này không được phát triển vì thiếu cơ sở vật lí và toán học. Theo những thuyết nghiên cứu hiện đại, những thiên thể như sao và hành tinh được hình thành từ những đám khí khổng lồ bị cô và đọng lại vì sức hút của trường hấp dẫn trong đám khí. Theo luật luân hồi của đạo Phật, tạo hóa xoay vần như một bánh xe. Những trạng thái hỗn độn của vạn vật có thể tái diễn sau những trạng thái bình thường. Lí thuyết nghiên cứu cấu trúc và sự tiến hóa của Vũ trụ (Vũ trụ luận) dựa trên cơ sở khoa học hiện nay đề xuất vũ trụ cũng có thể trải qua những giai đoạn co dãn tuần hoàn và Vũ trụ nguyên thủy ở trong một trạng thái hỗn độn. Tóm lại, các nhà thiên văn học phương Đông thời xưa không có một mô hình chính xác về Vũ trụ và quỹ đạo của các hành tinh trong Hệ Mặt trời, vì ngành vật lí và toán học, đặc biệt là hình học chưa được phát triển. Tuy nhiên, quan niệm của họ về Vũ trụ có khả năng thay đổi tương đối đúng với thực tế. Nhờ sự phát triển khoa học qua các thời đại, hiện nay chúng ta biết rằng Trái đất là một trong 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời. Trái đất quay chung quanh Mặt trời với chu kì khỏang 365 ngày theo một quỹ đạo hình elip hầu như tròn mà Mặt trời ở một tiêu điểm. Mặt trăng là một vệ tinh quay chung quanh Trái đất. Các ngôi sao không dính trên vòm trời mà xa Trái đất ở những khoảng cách khác nhau. Vũ trụ có hàng trăm tỉ thiên hà, mỗi thiên hà có hàng chục tỉ ngôi sao như Mặt trời, mỗi sao có hàng chục hành tinh. Dải Ngân hà là một trong những thiên hà, chỉ khác là trong Ngân hà có Hệ Mặt trời và có Trái đất chúng ta ở. Vì vậy Ngân hà còn được gọi là “Thiên hà của chúng ta”. Trung tâm Ngân hà cách Trái đất khoảng 30 nghìn năm ánh sáng (xem những mục sau). Trái
đất quay chung quanh Mặt trời với tốc độ 30 kilomet/giây và quay cùng tất cả Hệ Mặt trời chung quanh trung tâm Ngân hà với tốc độ 250 kilomet/giây. Với tốc độ lớn, nhưng vì Ngân hà vĩ đại, nên Trái,đất phải để 200 triệu năm mới quay hết một vòng chung quanh tâm Ngân hà.

Kính thưa quí vị quan tâm!

Qua đoạn trích dẫn trên của giáo sư Nguyễn Quang Riệu nói về thiên văn cổ Đông phương – mà thực tế là nói về thiên văn cổ Trung Hoa; chắc chắn quí vị cũng nhận thấy rằng: Từ thời Chu cho dến thế kỷ thứ VI sau CN và cả những thế kỷ sau đó, quan niệm vũ trụ quan của văn minh Hoa Hạ chưa hề có một nhận thức đúng về thực tế vận động của Thái dương hệ (chưa nói đến vũ trụ). Đây là một vấn đề chứng tỏ văn minh Hoa Hạ không thể là chủ nhân của kinh Dịch và thuyết Âm dương Ngũ hành – mang nội dung của một siêu lý thuyết vũ trụ quan đã minh chứng ở trên. Hay nói một cách khác: Nền văn minh Hoa Hạ chỉ tiếp thu một cách không hoàn chỉnh và sai lệch những phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành từ khi nền văn hiến Lạc Việt bị sụp đổ và bị Hán hoá về văn tự qua hơn 1000 Bắc thuộc. Thuyết Âm Dương ngũ hành và siêu công thức theo hệ nhị phân - một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà các nhà khoa học hàng đầu của tri thức khoa học hiện đại đang mơ ước - chỉ có thể phục hồi được từ nền văn minh Lạc Việt với lịch sử gần 5000 năm văn hiến.

Chân thành cảm tạ sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp:
PHÁP ĐẠI UY NỖ
Hà đồ lý giải nguyên lý tương hợp của thập Thiên can

Thiên Sứ
10-07-2005, 11:04 AM
Kính gửi ban quản trị diễn đàn

Vì sơ xuất nên tôi đã đưa hai bài cùng một nội dung. Xin ban quản trị xoá một trong hai bài trên đây có tựa là:

Thiên văn cổ Hoa Hạ và thiên văn học hiện đai.

Xin cảm ơn ban quản trị và thành thật xin lỗi quí vị quan tậm
Thiên Sứ

Thiên Sứ
10-07-2005, 11:15 AM
PHÁP ĐẠI UY NỖ
Hà đồ lý giải nguyên lý tương hợp của thập Thiên can


Kính thưa quí vị quan tâm!
Trong những bài viết ở trên; tôi đã hân hạnh trình bày một thực tại làm nền tảng cho khoa dự đoán Đông phương (vốn có đầy đủ những yếu tố theo tiêu chí khoa học hiện đại). Đó chính là quy luật vận động của các vì sao và hành tinh trong vũ trụ. Chính một trong những quy luật cục bộ liên quan đến Địa cầu là thực tại làm nên đồ hình biểu lý lý thuyết cho nó là Hà Đồ.
Hà Đồ và Hậu thiên bát quái Lạc Việt là đồ hình biểu lý cho sự tương tác của vũ trụ với Địa cầu; đã chứng tỏ tính hợp lý trong một số vần đề liên quan đến nó. Hay nói cách khác; Hà đồ đã chứng tỏ tính hợp lý trong sự lý giải những hiện tượng và vấn đề trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhưng với quan niệm cho rằng:

Hà đồ và Hậu thiên bát quái Lạc Việt là nguyên lý căn để cho tất cả mọi phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành; hay nói cách khác theo ngôn ngữ Lạc Việt: Pháp Đại uy nỗ

Do đó; vấn đề không thể dừng lại ở đây. Bài viết này là sự tiếp tục chứng tỏ tính hợp lý của Hà Đồ trong nguyên lý tương hợp của Thập thiên can.

Kính thưa quí vị quan tâm!
Trong các cổ thư liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành chúng ta thường thấy một tiền đề sau đây:

Giáp (Mộc) hợp Kỷ (Thổ)
Bính (Hỏa) hợp Tân (Kim)
Mậu (Thổ) hợp Quí (Thủy)
Canh (Kim) hợp Ất (Mộc)
Nhâm (Thủy) hợp Đinh (Hỏa).

Đây là một tiền đề của qui tắc lập cục trong Tử vi đẩu số và cũng là một tiền đề quan trọng của lý học cổ Đông phương, được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực: y lý, lịch số, dự đoán… Tiền đề này chưa có sự lý giải và cũng là sự bí ẩn đã trải hàng thiên niên kỷ trong các cổ thư chữ Hán lưu truyền. Chính vì sự bí ẩn này khiến cho những nhà nghiên cứu và những người tìm hiểu về lý học Đông phương phải chấp nhận một cách khiên cưỡng tiền đề nói trên:
Mộc khắc Thổ (lý tương khắc của Ngũ hành). Nhưng trong tiền đề nói trên thì Giáp – Mộc lại hợp Kỷ – Thổ; thật khó hiểu!
Chưa hết, trong các sách ứng dụng phương pháp luận Âm Dương Ngũ hành vào các lĩnh vực Đông y, Lý học hoặc dự đoán tương lai, thường gặp những định đề cũng không có sự lý giải mà bắt buộc phải học thuộc lòng sau đây:

Giáp hợp Kỷ phá Ất xung Canh; hoặc Mậu hợp Quí phá Giáp khắc Kỷ…

Sự bí ẩn của tiền đề này cũng xuất phát từ sai lầm căn bản tồn tại từ hàng ngàn năm nay, khi cho rằng: Âm Dương và Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt không liên quan đến nhau. Từ sai lầm căn bản này, sẽ không có cơ sở nào để liên hệ thập Thiên can (mang yếu tố Ngũ hành) với Lạc thư và Hà đồ (Được nhắc đến đầu tiên trong kinh Dịch – nói đến Âm Dương, không có yếu tố Ngũ hành).
Điều quan trọng hơn cả là:

Nền văn minh Hán đã tiếp thu một cách sai lệch và không hoàn chỉnh thuyết Âm Dương Ngũ hành từ văn minh Lạc Việt. Bởi vậy; tất cả các phương pháp ứng dụng của thuyết này – trong cổ thư chữ Hán – cứ như từ trên trời rơi xuống; và trải hàng ngàn năm; tri thức của nhân loại không thể nào chứng minh được một thực tại nào là cơ sở của học thuyết này.

Tuy nhiên với sự khẳng định cho rằng:

Cội nguồn cũa thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Lạc Việt và là một học thuyết hoàn chỉnh ; nhất quán. Tiền đề của học thuyết này chính là sự vận động tương tác có qui luật trong vũ trụ; từ hạt vật chất nhỏ nhất cho đến các thiên hà khổng lồ. Và Hà đồ chính là một đồ hình biểu lý và là nguyên lý căn để trong ứng dụng của khoa Thiên văn học Đông phương; cũng như sự ứng dụng những hệ luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trên thực tế; thì mọi sự huyền bí của văn minh Đông phương sẽ sáng tỏ.

Hay nói một cách dân dã theo ngôn ngữ dân gian Lạc Việt: Hà đồ chính là một Pháp Đại Uy Nỗ; là sự biểu lý cho một qui luật chủ yếu bao trùm mọi hiện tượng trên Trái đất và con người.
Trên cơ sở này; chứng ta lý giải nguyên lý tương hợp của thập Thiên Can như sau:

Chúng ta sắp xếp thập Thiên can theo lý Âm Dương và Ngũ hành tương sinh, đánh số thứ tự từ 1 đến 10 từ Giáp đến Quí, ta sẽ được một bảng sau.

http://lyhoc.viettop.net/sothiencan.jpg


Qua bảng trên bạn đọc cũng nhận thấy: Tất cả các số của thập Thiên can vừa đúng 10 số có trên Hà đồ. Sự trùng hợp này không thể là một sự ngẫu nhiên, khi chúng những nền tảng căn bản của một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh và là sản phẩm trí tuệ con người phản ảnh sự nhận thức thực tại vũ trụ và điều kiện thiên nhiên. Bởi vậy; chúng phải có một sự liên hệ chặt chẽ. Điều này được chứng tỏ khi chúng ta sắp xếp thập Thiên can trên cơ sở độ số theo thứ tự của ở bảng trên vào vị trí có độ số tương ứng của Cửu cung Hà đồ ta được bảng sau:

http://lyhoc.viettop.net/hadothiencan.jpg

Như vậy trên cơ sở độ số của Thiên can tương ứng với độ số của Cửu cung Hà đồ, ta sẽ có sự tương hợp bởi cùng hành như sau:

Giáp (1) hợp Kỷ (6) trong hành Thủy;
Bính (3) hợp Tân (8) trong hành Mộc;
Mậu (5) hợp Quí (10) trong hành Thổ;
Canh (7) hợp Ất (2) trong hành Hỏa;
Nhâm (9) hợp Đinh (4) trong hành Kim.

Như vậy, mỗi một hành trên Hà đồ đi liền với hai Thiên can một Âm một Dương.
Điều này cũng lý giải một bài phú truyền bí ẩn, có nội dung như sau:

Nhất lục cộng tông (1 – 6 cùng họ)/ Thuỷ
Nhị thất đồng đạo (2 – 7 cùng đi một đường)/ Hoả
Tam bát vi bằng (3 – 8 như nhau)/ Mộc
Tứ cửu vi hữu (4 – 9 là bạn bè)/ Kim
Ngũ thập đồng đồ (5 – 10 cùng một loại)/ Thổ

Kính thưa quí vị quan tâm!
Điều này không thể thực hiện trên Lạc thư vì trung cung Lạc Thư chỉ có một số; không có sự tương thích hợp lý.

Với đồ hình đã trình bày ở trên. Chúng ta có thể lý giải những trường hợp bí ẩn khác, như: Giáp hợp Kỷ phá Ất xung Canh và những trường hợp tương tự như sau:

Giáp (1) nằm ở vị trí Dương Thủy, khắc Ất (2) Canh (7) nằm ở vị trí Âm Dương Hỏa theo lý tương khắc của Ngũ hành; hoặc Mậu (5) nằm ở vị trí Dương Thổ khắc Giáp (1) Kỷ (6) nằm ở vị trí Âm Dương Thủy. Từ đó, suy ra một số định đề bí ẩn khác như: Bính là quí nhân của Kỷ, vì độ số của Bính (3) và độ số của Kỷ (6) nằm trên cung tương sinh của Ngũ hành: Thủy sinh Mộc trên Hà Đồ v.v…

Qua đồ hình trên đã lý giải tất cả mọi trường hợp Sinh – Khắc – Thừa – Vũ của thập Thiên can, vốn là sự bí ẩn đã trải nhiều thiên niên kỷ. Kể từ khi thần Kim Qui – một biểu tượng của nền văn minh Lạc Việt – rẽ nước lặn xuống biển cùng với An Dương Vương, đã mang theo tất cả những bí mật của nó và để lại một nền văn hóa Đông phương đầy huyền bí.
Như vậy, với sự chứng minh ở trên đã chứng tỏ rằng: Lạc thư Hà đồ (Hiểu theo nghĩa: Sách của người Lạc Việt viết về Hà đồ) là tiền đề của khoa Thiên văn học cổ Văn Lang và là nguyên lý ứng dụng căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành; từ đó tính toán các hiệu ứng vũ trụ tác động lên tự nhiên, xã hội và đời sống con người.

Kính thưa quí vị quan tâm!
Cùng liên hệ tới thập Thiên Can còn một tiền đề bí ẩn khác không có sự lý giải và cũng là sự bí ẩn trải hàng thiên niên kỷ; đó là:

Nguyên tắc Lục hợp trong sự tương quan hành khí và Thiên can qua bài khẩu quyết sau đây:

Giáp hợp Kỷ hóa Thổ
Ất hợp Canh hóa Kim
Bính hợp Tân hóa Thủy
Đinh hợp Nhâm hóa Mộc
Mậu hợp Quí hóa Hỏa.

Trong cuốn Dự đoán theo tứ trụ ông Thiệu Vĩ Hoa có đưa ra hai cách lý giải sau đây:

1) * Giáp hợp với Kỷ hóa Thổ là năm Giáp, năm Kỷ lấy Bính làm đầu, Bính Dần là tháng giêng của năm Giáp, năm Kỷ. Bính là Hỏa, Hỏa sinh Thổ nên Giáp hợp Kỷ hóa Thổ.
* Ất hợp với Canh hóa Kim là nói năm Ất, năm Canh lấy Mậu làm đầu, Mậu Dần là tháng giêng của năm Ất, năm Canh. Mậu là Thổ, Thổ sinh Kim nên Ất hợp Canh hóa Kim.
* Bính hợp với Tân hóa Thủy là nói năm Bính, năm Tân lấy Canh làm đầu, Canh Dần là tháng giêng của năm Bính, năm Tân. Canh là Kim, Kim sinh Thủy nên Bính hợp với Tân hóa Thủy.
* Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc là nói năm Đinh, năm Nhâm là lấy Nhâm làm đầu, tức Nhâm Dần là tháng giêng của năm Đinh, năm Nhâm. Nhâm là Thủy, Thủy sinh Mộc nên gọi Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc.
* Mậu hợp Quí hóa Hỏa, tức là năm Mậu, năm Quí lấy Giáp làm đầu, Giáp Dần là tháng giêng của các năm Mậu, năm Quí. Giáp là Mộc, Mộc sinh Hỏa nên Mậu hợp Quí hóa Hỏa.

2- Có ý kiến nói mười can hóa hợp với nhau là do phương vị của 28 ngôi sao trên trời quyết định.
Mười can hóa hợp là Dương hợp với Âm , Âm hợp với Dương, là Âm Dương hóa hợp. Sách “Chu dịch” có câu: “Một Âm, một Dương gọi là một đạo.” Âm Dương hợp với nhau như nam nữ hợp với nhau để thành đạo vợ chồng.

Trong sách Hoàng Đế Nội kinh với suy đoán vận khí, tác giả Đàm Thành Mậu cũng nhắc tới tiền đề trên và ông đã ứng dụng trong việc suy đoán vận khí cho những vấn đề mang tính lý luận y học. Ông lý giải như sau:

“Tại sao thuộc tính của Thiên can hóa năm vận lại không đồng nhất? Đó là bởi vì Thiên can ghép với Ngũ hành là lấy quan hệ năm phương, năm mùa để xác định, mà năm vận thì căn cứ vào biến hóa tượng Trời, cũng chính là sự biến hóa của các sao trên trời”
.
Qua phần trích dẫn, bạn đọc cũng nhận thấy rằng:
Cho đến tận bây giờ, các nhà lý học Trung Hoa cũng chưa lý giải được tiền đề nói trên. Hai sự lý giải do ông Thiệu Vĩ Hoa đưa ra tuy chưa rõ ràng; nhưng còn chứng tỏ tinh thần nghiên cứu nghiêm túc. Còn sự lý giải của ông Đàm Thành Mậu thì rất mơ hồ.
Hiện tượng bí ẩn trên cũng chỉ được lý giải một cách nhất quán và hợp lý trong các mối liên hệ tương quan với Hà Đồ. Và điều này sẽ phải thông qua một luận đề khác mà người viết sẽ hân hạnh tường với quí vị trong bài tiếp theo đây:

BÍ ẨN CỦA LẠC THƯ HOA GIÁP

Thiên Sứ
(Còn tiếp)

Thiên Sứ
10-07-2005, 11:35 AM
HÀ ĐỒ VÀ BÍ ẨN CỦA LẠC THƯ HOA GIÁP


Những ai nhập môn học Tử Vi đều biết đến bài khẩu quyết sau đây:
Ngân đăng giá bích câu
Yên mãn tự chung lâu
Hán địa siêu sài thấp

Phải chăng; đây là một bài thơ manh tính sấm vĩ và còn có thể hiểu rằng:

Ngọn đèn bạc làm lạnh bức tường vàng.
Lửa đã cháy từ bên trong lâu đài.
Đất nhà Hán đã nghiêng tràn đến chỗ thấp nhất.

Nếu đây là một bài thơ thì phải chăng nó còn thiếu một câu nữa cho đủ một khổ thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt để giải mã bảng 60 hoa giáp vốn tự ngàn xưa thuộc về người Lạc Việt:

Viêm thuỷ lạc kim âu


Kính thưa quí vị quan tâm!
Trong cổ thư chữ Hán; Hà đồ có vẻ như nó là tiền đề rất quan trong; vì chính cổ thư chữ Hán cũng coi Hà Đồ là nguyên nhân đầu tiên của Kinh Dịch (Tiên thiên có trước Hậu thiên). Nhưng; trải hàng ngàn năm – trong cổ thư chữ Hán – Hà đồ chưa bao giờ hiện diện trên thực tế của các phương pháp ứng dụng. Nó chỉ xuất hiện một lần – trong cổ thư chữ Hán – cách hơn 6000 năm trước trên lưng con Long Mã ở sông Hoàng Hà và là nguyên nhân để vua Phục Hy làm ra Tiên thiên bát quái. Và cũng đã trải hàng ngàn năm; bao nhiêu công sức của các nhà nghiên cứu cổ kim đã không thể nào lý giải được sự huyền bí kỳ vĩ của nền văn minh Đông phương. Người ta đã lập thành riêng môn “Hà Đồ học”; mà bí ẩn vẫn hoàn bí ẩn.
Nhưng; trong văn minh Lạc Việt - từ bức tranh Ngũ Hổ của phường tranh Hàng Trống - lại coi Hà đồ là qui luật chủ yếu bao trùm lên mọi sự vận động của vũ trụ; thiên nhiên; xã hội; và con người với danh xưng ” Pháp Đại uy nổ”. Sự giải mã những ca dao tục ngữ và truyền thuyết còn lưu truyền trong văn minh Lạc Việt đã hướng dẫn đến sự thay đổi một nguyên lý căn để trong thuyết Âm Dương Ngũ hành là:

Hậu thiên bát quái Lạc Việt phối Hà Đồ

Sự thay đổi có tính căn để này; đã chứng minh rằng:
Thuyết Âm Dương ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh. Cơ sở của học thuyết này chính là sự vận động và tương tác của vũ trụ. Nó giải thích từ sự khởi nguyên của vũ trụ; từ sự vận động của các thiên hà khổng lồ; những thực tại vật chất và mọi hiện tượng liên quan đến con người với khả năng tiên tri. Nó đáp ứng đầy đủ những tiêu chí của khoa học hiện đại và là mơ ước của con người đang hoài nghi về có hay không sự tồn tại một lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Hệ quả ứng dụng của học thuyết vũ trụ quan Âm Dương ngũ hành chính là lịch pháp và nạp âm trong bảng Hoa giáp với chu kỳ bội số chung nhỏ nhất – một tiền đề cho mọi phương pháp ứng dụng của nó – là 60 năm.
Bảng nạp âm hoa giáp 60 năm tồn tại trong cổ thư chữ Hán cũng không tránh khỏi một hiện tượng chung cho tất cả các phương pháp ứng dụng khác của thuyết Âm Dương Ngũ hành là không có một nguyên lý lý thuyết là tiền đề cho sự tồn tại của nó.
Chính ông Thiệu Vĩ Hoa - một nhà nghiên cứu nổi tiếng Trung Hoa hiện đại; đã phải thừa nhận rằng:

Nạp âm ngũ hành trong bảng 60 Giáp tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp tý biến hoá vô cùng; đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu”
(Trích trong sách: Chu Dịch và dự đoán học. Trang 68. Thiệu Vĩ Hoa. Nxb Văn Hoá Thông Tin 1996.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Hàng ngàn năm đã trôi qua với sự hiện diện của bảng 60 Hoa giáp. Cũng đã có nhiều học giả Trung Hoa tìm cách lý giải nguyên lý nạp âm Ngũ hành trong 60 hoa giáp. Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu xem họ đã lý giải như thế nào; mà cho đến nay hậu thế vẫn cho là chưa rõ ràng và các nhà nghiên cứu hiện đại vẫn cho rằng huyền bí.
Đoạn trích dẫn dưới đây trong bài Luận Ngũ Hành nạp âm ; mục Lý số Dịch bốc ;Tuvilyso.com. T/g Không Kiếp Minh Tâm; sẽ cho chúng ta một ý niệm về cách luận giải của người xưa về nguyên lý nạp âm của ngũ hành trong bảng lục thập hoa giáp.

LUẬN CAN CHI NGŨ HÀNH NAP ÂM

Sách Chu Lễ nói về:
“Danh hiệu của 10 Nhật, danh hiệu của 12 Thời, danh hiệu của 12 Nguyệt, danh hiệu của 12 Tuế, danh hiệu của 28 Tinh Tú” mà về sau Trịnh Huyền giải thích rằng:[/I] “Nhật bảo rằng từ Giáp đến Quý; Thời bảo rằng từ Tí đến Hợi; tháng bảo rằng từ Châu đến Đồ; Tuế bảo rằng từ Nhiếp Đề Cách đến Xích Phấn Nhược; Tinh Tú bảo rằng từ Giác đến Chẩn”. Thời xưa người ta dùng đó để mà ghi chép năm tháng ngày giờ thành lịch.

Sách Nhĩ Nhã giải thích rộng thêm rằng:
“Nguyệt Dương (biệt danh của lịch xưa dùng 10 Can để ghi chép tháng), nguyệt tại Giáp gọi là Tất, tại Ất gọi là Quất, tại Bính gọi là Tu, tại Đinh gọi là Ngữ, tại Mậu gọi là Lệ, tại Kỷ gọi là Tắc (quy tắc), tại Canh gọi Trất, tại Tân gọi là Tắc (bít, lấp), tại Nhâm gọi là Chung, tại Quý gọi là Cực. Nguyệt Danh (biệt danh để ghi chép tháng trong nông lịch—vụ mùa) tháng Giêng là Châu, tháng Hai là Như, tháng Ba là Mị, tháng Tư là Trừ, tháng năm là Niết, tháng Sáu là Thả, tháng Bảy là Tương, tháng Tám là Tráng, tháng Chín là Nguyên tháng Mười là Dương, tháng Mười Một là Cô, tháng Chạp là Đồ. Tuế Dương (biệt danh của lịch xưa lấy 10 Can để ghi chép năm) Thái Tuế tại Giáp gọi là Phùng Át, tại Ất gọi là Chiêu Mông, tại Bính gọi là Nhu Triệu, tại Đinh gọi là Cường Ngữ, tại Mậu gọi là Trước Ung, tại Kỷ gọi là Đồ Duy, tại Canh gọi là Thương Chương, tại Tân gọi là Trùng Quang, tại Nhâm gọi là Huyền, tại Quý gọi là Chiêu Dương. Tuế Danh (biệt danh của lịch xưa lấy 12 Địa Chi phối với Thái Tuế để ghi năm) Thái Tuế tại Dần gọi là Nhiếp Đề Cách, tại Mão gọi là Đơn Át, tại Thìn gọi là Chấp Từ, tại Tỵ gọi là Đại Hoang Lạc, tại Ngọ gọi là Đơn Ưu Tường, tại Mùi gọi là Hiệp Hiệp, tại Thân gọi là Quân Than, tại Dậu gọi là Tác Ngạc, tại Tuất gọi là Yên Mậu, tại Hợi gọi là Đại Uyên Hiến, tại Tí gọi là Khốn Đôn, tại Sửu gọi là Xích Phấn Nhược”.

Sách Thái Ung “Độc Đoán” nói rằng:
“Can là cán (thân) vậy, tên nó có mười ấy là Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỹ Canh Tân Nhâm Quý. Chi là cành nhánh vậy, tên nó có mười hai ấy là Tí Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi”.

Sách Lễ Ký “Nguyệt Lệnh” nói rằng:
“Tháng Xuân lấy Giáp Ất làm đại biểu; tháng Hạ lấy Bính Đinh; tháng Tứ Quý (3,6,9,12) lấy Mậu Kỷ làm đại biểu; còn tháng Thu lấy Canh Tân; tháng Đông thì lấy Nhâm Quý”.

Sách Sử Ký “Luật Thư” nói rằng:
“Thất chính 28 xá luật lịch trời vì thế thông khí của ngũ hành bát chính, trời vì thế thành thục vạn vật. Xá nầy chỗ của nhật nguyệt trú. Xá nầy là khí thư dãn ra”.

Chỗ mà sách Sử Ký gọi Bát Chính là khí của tám Tiết đem ứng với gió của tám phương. Gió của tám phương là: Bất Chu Phong, Quảng Mạc Phong, Điều Phong, Minh Thứ Phong, Thanh Minh Phong, Cảnh Phong, Lương Phong, và Xương Hạp Phong.
- Điều Phong đóng ở Đông Bắc, chủ xuất ra vạn vật, hướng về Nam đến ở Tú Cơ. Ở mười hai luật là Thái Thốc, ở thời lệnh là tháng Giêng, ở mười hai chi là Dần. Vạn vật tranh nhau nẫy mầm. Lại hướng Nam đến ở Vĩ, ở Phòng. Vạn vật sinh sớm nay đã đến kỳ có hoa như vậy có thể xem thấy được.
- Minh Thứ Phong đóng ở phương Đông. Ở mười hai luật là Giáp Chung, ở thời lệnh là tháng Hai, ở mười Can là Giáp Ất, ở mười hai chi là Mão. Thời đó vạn vật xuất ra hết tận, mười phần sum sê tươi tốt. Minh Thứ Phong hướng Nam đến ở Tú Đê, lại đến ở Tú Cang, Tú Giác. Ở mười hai luật là Cô Tẩy, ở thời lệnh là tháng Ba, ở mười hai Chi là Thìn. Thời đó vạn vật bỏ cũ, theo mới, tươi sáng, cao vút, rắn rỏi.
- Thanh Minh Phong đóng ở góc Đông Nam, thúc đẩy vạn vật hướng Tây phát triển. Đầu tiên đến ở Chẩn của phương Tây, lại đến ở Dực. Ở mười hai luật là Trọng Lữ, mười hai Chi là Tỵ. Thời đó vạn vật vượng thịnh, lớn mạnh, Dương khí phát triển đạt đến cực điểm. Thanh Minh Phong lại hướng Tây đến ở bảy sao của tú Tinh, Liễu. Ở mười hai luật là Nhuy Tân, ở thời lệnh là tháng Năm. Thời đó vạn vật từ thịnh chuyển thành suy, Dương khí trú xuống bên dưới.
- Cảnh Phong đóng ở Phương Nam. Ở mười hai Chi là Ngọ, Mười Can là Bính Đinh. Âm Dương giao nhau, Dương khí giáng xuống, Âm khí thăng lên, vạn vật sắp thành thục.
- Lương Phong đóng ở góc Tây Nam, chủ về đất. Ở mười hai luật là Lâm Chung, ở mười hai Chi là Mùi. Thời đó vạn vật thành thục, giàu có, vị ngon. Hướng Bắc tiến đến Phạt, lại đến ở Sâm. Ở mười hai luật là Di Tắc, ở thời lệnh là tháng Bảy, ở mười hai Chi là Thân. Thời đó, Âm khí dần dần thịnh, mở đầu. Thân là giặc của vạn vật, lại lớn mạnh đến Trọc, kế đến ở Lưu. Ở thời lệnh là tháng Tám, mười hai luật là Nam Lữ, mười hai Chi là Dậu. Thời đó vạn vật đều tiếp xúc với đất chết, Dương khí càng suy, mở đầu phục tàng.
- Xương Hạp Phong đóng ở phương Tây. Ở mười Can là Canh Tân. Hướng Bắc đến ở Vị, lại đến ở Lâu, đạt tới Khuê. Ở mười hai luật là Vô Sạ, ở thời lệnh là tháng Chín, ở mười hai Chi là Tuất. Thời đó vạn vật tận diệt, thu tàng nhập vào khố, Âm khí vượng thịnh, Dương khí không dư. Nhưng vạn vật theo Dương đến hết, lại thuận theo âm mà khởi, không hết hẳn, không dừng hẳn, không đứng lại.
- Bất Chu Phong đóng ở Tây Bắc chủ sát sinh, nhưng hướng về phương Đông hành tiến thì chủ mở đầu sinh khí. Nó hướng Đông đến ở Tú Thất lại đến ở Tú Nguy (chủ đổ nát). Ở mười hai luật là Ứng Chung. Ở thời lệnh là tháng Mười. Ở mười hai con là Hợi. Thời đó Dương khí đã bắt đầu sinh nhưng lại là mười phần còn nhỏ yếu, không kham nổi dùng vào việc, vì vậy nên vẫn còn phục tàng ở dưới.
- Quảng Mạc Phong đóng ở phương Bắc, hướng Đông đến ở Hư, lại đến ở sao Vụ Nữ. Ở mười hai luật là Hoàng Chung, ở thời lệnh là tháng Mười Một, ở mười hai Chi là Tí, ở mười Can là Nhâm Quý. Thời đó Dương khí lớn lên, vạn vật nhận sự nuôi dưỡng ở dưới giống như tháng Mười hoài thai, giáng sinh cũng có thể phán đoán được. Quảng Mạc Phong lại hướng Đông đến ở Khiên Ngưu lại đến ở Kiến. Ở thời lệnh là tháng Chạp, ở mười hai luật là Đại Lữ, ở mười hai Chi là Sửu. Thời đó vạn vật đã tự dưỡng thành hình, nhưng vẫn còn chưa phá đất mà xuất ra.

Trên đây là nghĩa lý và nguyên lý mà người ta cho rằng mười Thiên Can và mười hai Địa Chi từ đó lưu hành. Còn mười hai con vật tượng của Tí là chuột, Sửu là trâu, Dần là cọp, Mão là mèo, Thìn là rồng, Tỵ là rắn, Ngọ là Ngựa, Mùi là Dê, Thân là khỉ, Dậu là gà, Tuất là chó, Hợi là heo, thì được giải thích như sau.

“Tinh Lịch Khảo Nguyên” nói rằng:
- Thuyết nói về 12 con vật Cầm Tinh đã có từ rất lâu rồi, không rõ từ đâu lại (sự thật đến từ Tây Vực). Theo từ sự lưu truyền chép lại ở Tí sử khảo xét vễ văn hiến, thì từ thời Xuân Thu Chiến Quốc đã có thuyết nầy. Cho đến 28 tú phối với cầm tượng thì là từ Nguyên Minh về sau mới có việc đó. Quan sát về việc chọn “tượng” đó, chẳng qua là nhân 12 con vật cầm tinh mà khuếch rộng ra thôi. Tại sao mà biết được? Phép nầy lấy Tí Ngọ Mão Dậu làm bốn trọng cung, mỗi cung quản ba tú, được 12 tú.
Như cung Tí là 3 tú Nữ Hư Nguy, tú Hư đóng ở giữa vì vậy lấy chuột làm tượng của mình. Nữ là bức (con dơi), Nguy là yến thì chọn nó tựa giống chuột đem phối vào.
Cung Mão là Đê Phòng Tâm, Đê là lạc (con chồn), Tâm là hồ (cáo), Phong ở giữa là thỏ nên lấy thỏ làm tượng của mình (nhưng Việt Nam để mèo vì gần cọp vậy).
Cung Ngọ là Liễu Trinh Trương. Liễu là chương (con hoẵng), Trương là lộc (hươu), Trinh ở giữa là ngựa nên lấy ngựa làm tượng của mình.
Cung Dậu là Vị Mão Tất. Vị là con trĩ, Tất là con quạ, Mão ở giữa là con gà nên lấy gà làm tượng của mình.
Qua đến 8 cung Dần Thân Tỵ Hợi, Thìn Tuất Sửu Mùi thì mỗi cung quản 2 tú, mà lấy tú ở gần cung giữa làm chủ, đóng ở bên thì chọn loài nào tương tự phối vào.
Như cung Thìn, Cang gần giữa cung vì vậy lấy rồng làm tượng của mình. Giác đóng ở bên nó thì chọn Giao (thuồng luồng) là loại rồng đem phối vào.
Cung Dần, vĩ ở gần giữa cung vì vậy lấy hổ làm tượng của mình. Cơ đóng ở bên nó thì chọn con báo là loài của hổ đem phối vào.
Cung Sửu, Ngưu ở gần giữa cung vì vậy lấy trâu làm tượng của mình. Đẩu ở bên nó thì chọn Hải là loại của trâu đem phối vào.
Cung Hợi, Thất ở gần giữa cung vì vậy lấy lợn làm tượng của mình, Bích đóng ở bên nó thì chọn Dữ là loài của lợn đem phối vào.
Cung Tuất, Lâu ở gần giữa cung vì vậy lấy cẩu làm tượng của mình, Khuê ở bên nó thì chọn lang (chó sói) là loài của chó đem phối vào.
Cung Thân, Chủy ở gần giữa cung vì vậy lấy hầu (con khỉ) làm tượng của mình, Sâm đóng ở bên nó thì chọn viên (con vượng) là loài của khỉ đem phối vào.
Cung Mùi, Quỷ ở gần giữa cung vì vậy lấy dê làm tượng của mình, Tỉnh đóng ở gần bên nó thì chọn ngạn là loại của dê đem phối vào.
Cung Tị, Dực ở gần giữa cung vì vậy lấy xà (rắn) làm tượng của mình, Chẩn đóng ở bên nó thì chọn dẫn (con giun đất) là loài của rắn đem phối vào vậy”.

Theo “Tinh Lịch Khảo Nguyên” thì thuyết 12 con vật tượng trưng cho 12 Địa Chi (tuổi) thật là hết sức sáng tỏ vậy! Tuy nhiên, đây chỉ là bước thứ hai, vì vẫn chưa giải quyết được Nạp Âm của tuổi, tức là Ngũ Hành của 60 hoa Giáp. Tỷ như Giáp Tí là Hải Trung Kim, vì sao Giáp là Mộc mà hợp với Tí là Thủy lại trở thành Hải Trung Kim?!

Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy; qua sự trích dẫn trên thì chúng ta mới chỉ tìm thấy những tư liệu tham khảo có giá trị về nguyên nhân của việc lấy tên 12 con vật để đặt cho 12 Địa chi. Việc tìm nguyên lý cho việc nạp âm vẫn chưa sáng tỏ. Bây giờ chúng ta tiếp tục tìm hiểu trong cổ thư cũng qua bài viết đã dẫn ở trên:

(Còn tiếp)

Thiên Sứ

Thiên Sứ
10-07-2005, 11:51 AM
HÀ ĐỒ VÀ BÍ ẨN CỦA LẠC THƯ HOA GIÁP

LUẬN CAN CHI NGŨ HÀNH NAP ÂM
(Tiếp theo)


Bây giờ chúng ta tiếp tục tìm hiểu trong cổ thư cũng qua bài viết đã dẫn ở trên:


Thẩm Quát nói:
“Nạp Âm lục thập Giáp Tí, rất ít người biết nguyên lý của nó. Sự thực là phép của 60 luật lữ cung nhằm làm cung pháp. Một luật hàm 5 âm, 12 luật tức nạp 60 âm. Phàm Dương ‘Khí’ bắt đầu ở phương Đông mà đi về bên phải, Âm ‘Khí’ khởi từ phương Tây mà đi về bên trái, Âm Dương đan xen nhau mà sinh biến hóa. Chỗ gọi là khí bắt đầu ở phương Đông nầy là bốn mùa bắt đầu ở Mộc, đi về bên phải chuyển tới Hỏa, Hỏa chuyển tới Thổ, Thổ chuyển tới ở Kim, Kim chuyển tới ở Thủy. Chỗ bảo rằng Âm bắt đầu ở phương Tây nầy là Ngũ Âm bắt đầu ở Kim, chuyển xoay về bên trái tới Hỏa, Hỏa chuyển tới Mộc, Mộc chuyển tới Thủy, Thủy chuyển tới Thổ (Nạp Âm với Nạp Giáp của Dịch cùng một phương pháp, Càn nạp Giáp mà Khôn nạp Quý, bắt đầu ở Càn mà chung hết ở Khôn. Nạp Âm bắt đầu ở Kim – Kim là Càn vậy, chung ở Thổ – Thổ là Khôn vậy). Phương pháp cơ bản của Nạp Âm là cùng loại với ‘thú thê’ (lấy vợ) cách tám sinh con. Thứ tự của Ngũ Hành Nạp Âm là trước trọng sau mạnh, mạnh rồi mới đến quý. Tam nguyên của Độn Giáp đã ghi chép như thế vậy. Giáp Tí là trọng của Kim (Thương của Hoàng Chung), lấy vợ cùng vị tức là Ất Sửu (Thương của Đại Lữ cùng ngôi vị). Bảo rằng là loại của Giáp với Ất, Bính với Đinh. Ở dưới đều phỏng theo thế. Cách tám sinh ra Nhâm Thân ở dưới là mạnh của Kim (Thương của Di Tắc), cách tám đó là Đại Lữ sinh ra Di Tắc vậy. Ở dưới đều phỏng theo thế. Nhâm Thân lấy vợ cùng một ngôi vị là Quý Dậu (Thương của Nam Lữ). Cách tám, Canh Thìn sinh ra ở trên quý của Kim (Thương của Cô Tẩy), như thế tam nguyên của Kim hết.
Nếu chỉ lấy thời Dương mà nói thì dựa vào Độn Giáp chuyển thuận: trọng-mạnh-quý. Nếu kiêm nói về vợ thì nghịch chuyển : mạnh-trọng-quý. Canh Thìn lấy vợ Tân Tỵ cùng ngôi vị (Thương của trọng lữ), cách tám ở dưới sinh Mậu Tí, trọng của Hỏa (Chủy Kim của Hoàng Trung). Tam nguyên hết thì đi về bên trái chuyển tới phương Nam, Hỏa Mậu Tí - Kỷ Sửu (Chủy của Đại Lữ) sinh ra Bính Thân, mạnh của Hỏa (Chủy của Di Tắc) Bính Thân lấy vợ Đinh Dậu (Chủy của Nam Lữ) sinh Giáp Thìn, quý của Hỏa (Chủy của Cô Tẩy), Giáp Thìn lấy vợ Ất Tỵ (Chủy của Trọng Lữ) sinh Nhâm Tí, trọng của Mộc (Giác của Hoàng Chung). Tam nguyên Hỏa hết thì đi về bên trái chuyển tới phương Đông Nam – Mộc. Như đi về bên trái đến Đinh Tỵ là Cung của Trọng Lữ ngũ âm hết lần một. Quay lại từ Giáp Ngọ, trọng của Kim, lấy vợ Ất Mùi, cách tám sinh Nhâm Dần. Giống như phép của Giáp Tí thì hết ở Quý Hợi (gọi là Nhuy Tân lấy vợ Lâm Chung, trên sinh ra loại của Thái Thốc). Tí đến Tỵ là Dương, vì vậy từ Hoàng Chung đến Trọng Lữ, đều là hạ sinh. Từ Ngọ đến Hợi là Âm, vì vậy từ Lâm Chung đến Ứng Chung đều thượng sinh”.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua đoạn trích dẫn những lý giải của Thẩm Quát thì phần lý giải nguyên lý nạp âm của ông chỉ ở phần trên; còn đoạn dưới thì chỉ là sự nói về những nguyên tắc có sẵn như “Cách bát sinh tử” và nguyên lý “Sinh Vượng Mộ” (Mạnh; Trọng; Quý) và những nguyên lý này vẫn được ứng dụng trong Lạc thư hoa giáp (Xin được chứng minh ở phần sau). Bây giờ chúng ta xem lại phần đầu đã dẫn của Thẩm Quát:

“Nạp Âm lục thập Giáp Tí, rất ít người biết nguyên lý của nó. Sự thực là phép của 60 luật lữ cung nhằm làm cung pháp. Một luật hàm 5 âm, 12 luật tức nạp 60 âm. Phàm Dương ‘Khí’ bắt đầu ở phương Đông mà đi về bên phải, Âm ‘Khí’ khởi từ phương Tây mà đi về bên trái, Âm Dương đan xen nhau mà sinh biến hóa. Chỗ gọi là khí bắt đầu ở phương Đông nầy là bốn mùa bắt đầu ở Mộc, đi về bên phải chuyển tới Hỏa, Hỏa chuyển tới Thổ, Thổ chuyển tới ở Kim, Kim chuyển tới ở Thủy. Chỗ bảo rằng Âm bắt đầu ở phương Tây nầy là Ngũ Âm bắt đầu ở Kim, chuyển xoay về bên trái tới Hỏa, Hỏa chuyển tới Mộc, Mộc chuyển tới Thủy, Thủy chuyển tới Thổ

Kính thưa quí vị quan tâm!
Qua đoạn trích dẫn ở trên thì chúng ta nhận thấy rằng:
Cho dù bạn xoay chuyển thế nào thì Thẩm Quát vẫn sai.
Điều này được chứng minh như sau:
Chúng ta so sánh chu kỳ đã dẫn (Phần in đậm) của Thẩm Quát với chu kỳ nạp âm Ngũ hành ngay trong cổ thư chữ Hán như sau:

1) Ngũ Âm bắt đầu ở Kim => Giáp Tý/Ất Sửu = Hải trung Kim.

2) Chuyển xoay về bên trái tới Hỏa => Bính Dần/ Đinh Mão = Lư Trung Hoả.

3) Hỏa chuyển tới Mộc => Mậu Thìn/Kỷ Tỵ = Đại lâm Mộc.

4) Mộc chuyển tới Thủy
# Nhưng trong Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán lại là hai năm:Canh Ngọ/Tân Mùi thuộc Lộ Bàng Thổ?

5) Thủy chuyển tới Thổ
# Nhưng trong Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán lại là hai năm: Nhâm Thân/Quí Dậu thuộc Kiếm Phong Kim?

Như vậy; quí vị cũng thấy rằng: Thực tế của chính bảng lục thập hoa giáp theo bản văn chữ Hán đã phủ nhận cách giải thích của Thẩm Quát. Bản thân ông Thẩm Quát cũng chỉ giải thích; chứ chưa chứng minh được nguyên lý của nó.
Bây giờ chúng ta lại xem xét tiếp những sự lý giải sau trong Lã Hải Tập; cũng trong bài viết đã dẫn trên:

“Lãi Hải Tập” nói:
“Cho nên vạn vật mới sinh nở tất nguồn gốc ở “Khí”, khí tức Kim. Kim thụ khí, thuận hành thì là Thể của Ngũ Hành, nghịch hành thì là Dụng của Ngũ Hành. Thuận hành là Thể của Ngũ Hành, lấy tương sinh làm thứ tự vì vậy dựa theo thứ tự làm Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ. Nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành, đem phù trợ làm gốc. Như Kim nhân Hỏa bắt đầu mà có thể thành hữu dụng, Hỏa tất bắt đầu từ Mộc mới có thể phát sinh, Mộc không có Thủy tức không đước phong phú tốt tươi, Thủy hẳn thác gửi vào Thổ mới có thể dừng mà tích giữ được thành sông nước, vì vậy thứ tự đó là Kim Hỏa Mộc, Thủy Thổ. Cho nên Đại Náo (sau cuộc đại tạo) tạo ra Giáp Tí, tức lấy như thế làm thứ tự của Nạp Âm Ngũ Hành. Đại để như vậy vì Kim có thể thu nhận tiếng mà truyền bá khí ra. Phép nầy là: Giáp lấy Ất làm vợ, cách tám sinh con, con sinh cháu mà đi tiếp về sau, kế tục ngôi vị của nó ở đời tiếp. Như Giáp Tí là Kim, Giáp lấy Ất làm vợ, cách tám sinh Nhâm Thân là con. Nhâm lấy Quý làm vợ, cách tám là Canh Thìn tức là cháu. Canh lấy Tân làm vợ, cách tám là Mậu Tí đời Hỏa ngôi vị Kim. Thứ hai nói về Hỏa, Mậu kế tục nó về sau. Mậu lấy Kỷ làm vợ, cách tám là Bính Thân, ấy là con vậy; Bính lấy Đinh làm vợ, cách tám là Giáp Thìn, tức là cháu. Giáp lấy Ất làm vợ, cách tám là Nhâm Tí, đó là ngôi vị đời Mộc. Thứ ba gọi là Mộc, Nhâm kế tục đời nó. Nhâm lấy Quý làm vợ, cách tám làm Canh Thân, ấy là con vậy. Canh lấy lấy vợ Tân, cách tám là Mậu Thìn, ấy là cháu vậy. Mậu lấy vợ Kỷ cách tám là Bính Tí, đó là ngôi vị đời Thủy. Thứ tư gọi là Thủy, Bính kế tục sau nó, Bính lấy vợ Đinh, cách tám là Giáp Thân, ấy là con vậy. Giáp lấy vợ Ất, cách tám là Nhâm Thìn, ấy là cháu vậy. Nhâm lấy vợ Quý, cách tám là Canh Tí, đó là ngôi vị đời Thổ. Thứ năm gọi là Thổ. Canh lấy vợ Tân, cách tám là Mậu Thân, ấy là con vậy. Mậu lấy vợ Kỷ, cách tám là Bính Thìn, ấy là cháu vậy. Bính lấy vợ Đinh, cách tám là Giáp Tí, đó là ngôi vị đời Kim quay trở về. Giáp Ngọ, Ất Mùi khởi như phép trước. Đúng là vì vậy mới có thuyết ngũ Tí quy Canh, Đạo gia lưu truyền chọn nghĩa nầy dùng để phối ngôi vị của ngũ phương, tự số đầu Can Tí đến chữ Canh thì là số đó. Giáp Tí Kim, từ số Giáp đến bảy thì gặp Canh, nên phương Tây Kim được thất (7) khí. Mậu Tí là Hỏa, từ Mậu Tí đến ba số thì gặp Canh, nên phương Nam Hỏa được tam (3) khí. Nhâm Tí là Mộc, từ Nhâm đến chín số thì gặp Canh, nên phương Đông Mộc được cửu khí. Bính tí là Thủy, từ Bính đến năm số thì gặp Canh, nên phương Bắc Thủy được ngũ khí. Canh Tí là Thổ, thì tự được một là nhất khí ở phương giữa. Ấy là ngũ Tí quy Canh. Chính là biết Kim nầy thụ khí trước tiên, thuận hành thì là Thể của Ngũ Hành, nếu nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành. Vì vậy 60 Giáp Tí Nạp Âm nầy, lấy làm Dụng của vạn vật”.

Qua đoạn trích dẫn ở trên thì quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng: Theo Lã Hải Tập thì nguyên lý của nạp âm Ngũ hành chỉ ở đoạn trên. Đoạn dưới cũng chỉ diễn tả cụ thể hơn về nguyên tắc “Cách bát sinh tử” (Nguyên lý này vẫn ứng dụng trong Lạc thư hoa giáp. Xin chứng minh ở phần sau). Nhưng chính nguyên lý này lại bị phủ nhận ngay trong bàng lục thập hoa giáp trong cổ thư chữ Hán. Bởi vì khi kết thúc hành Kim – Chu kỳ 24 năm – theo nguyên lý “Cách bát sinh tử” thì con của Kim phải là Thuỷ ; nhưng trong nạp âm Ngũ hành từ cổ thư chữ Hán lại là Hoả).

Bây giờ chúng ta xem lại đoạn trên trong phần trích dẫn từ Lã Hải Tập:

“Cho nên vạn vật mới sinh nở tất nguồn gốc ở “Khí”, khí tức Kim. Kim thụ khí, thuận hành thì là Thể của Ngũ Hành, nghịch hành thì là Dụng của Ngũ Hành. Thuận hành là Thể của Ngũ Hành, lấy tương sinh làm thứ tự vì vậy dựa theo thứ tự làm Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ.Nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành, đem phù trợ làm gốc. Như Kim nhân Hỏa bắt đầu mà có thể thành hữu dụng, Hỏa tất bắt đầu từ Mộc mới có thể phát sinh, Mộc không có Thủy tức không được phong phú tốt tươi, Thủy hẳn thác gửi vào Thổ mới có thể dừng mà tích giữ được thành sông nước, vì vậy thứ tự đó là Kim Hỏa Mộc, Thủy Thổ. Cho nên Đại Náo (sau cuộc đại tạo) tạo ra Giáp Tí, tức lấy như thế làm thứ tự của Nạp Âm Ngũ Hành. Đại để như vậy vì Kim có thể thu nhận tiếng mà truyền bá khí ra.

Như vậy; qua đoạn trích dẫn trên; quí vị cũng nhận thấy rằng:
Với phương pháp so sánh và chứng minh tương tự với Thẩm Quát ở trên; chúng ta cũng không thấy tính qui luật nào trong chính cách nạp âm Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán phù hợp với lập luận (Phần in đậm) của Lã Hải Tập. Xin quí vị quan tâm xem phần so ánh minh hoạ dưới đây:

1) Kim nhân Hoả mà bắt đầu => Giáp Tý/ Ất Sửu.

Với hiện tượng này thì hợp lý với luận đề giải thích của Lã Hải Tập qua câu “Nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành”. Trong trường hợp này; là sự tương tác trực tiếp giữa hai hành nghịch hành là Hoả & Kim.

2) Nhưng đến trường hợp tiếp theo của nạp âm trong lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán là Bính Dần; Đinh Mão thuộc Lư Trung Hoả thì lại không thể giải thích được bằng luận đề trên:

Hỏa tất bắt đầu từ Mộc mới có thể phát sinh,

Như vậy; trong trường hợp này; thì nguyên nhân của Hoả lại là lý tương sinh:Mộc sinh Hoả và nó lại tự phản bác với luận đề Nghịch hành ở trên?

3) Trường hợp nạp âm tiếp theo Bính Dần/ Đinh Mão trong bảng lục thập hoa giáp theo cổ thư chữ Hán là: Mậu Thìn/ Kỷ Tỵ thuộc Đại Lâm Mộc cũng không thể giải thích bằng cả lý thuân lẫn nghịch theo Lã Hải tập:

“Mộc không có Thủy tức không được phong phú tốt tươi, Thủy hẳn thác gửi vào Thổ mới có thể dừng mà tích giữ được thành sông nước”.

Như vậy; đến lần này thì có đến ba hành liên hệ sinh khắc mới giải thích được và phủ nhận luôn chính luận đề của tác giả Lã Hải Tập:
Mộc (của hai năm Mậu Thìn/ Kỷ Tỵ: Đại lâm Mộc) do Thuỷ sinh. Thuỷ lại phải nương vào Thổ để tồn tại?

Bây giờ chúng ta lại tiếp tục xem phần trích dẫn sau trong Khảo Nguyên cũng trong bài viết đã dẫn ở trên.

"Khảo Nguyên"nói rằng:
"Ngũ Hành thứ tự lấy bắt đầu là khí, cuối cùng là hình thì "Hồng Phạm" là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ quả là vậy. Lấy làm thứ tự đem trải ra ở bốn mùa tương sinh, thì “Nguyệt hội” ở Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy quả là vậy. Đem chỉnh đốn trị lý Ngũ Tài (giống như Ngũ Hành) tương khắc làm thứ tự thì "Ngũ Mộ" là Thủy, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ quả là vậy. Nạp Âm Ngũ Hành bắt đầu Kim, thứ đến Hỏa, thứ đến Mộc, thứ đến Thủy, thứ đến Thổ, đã không có gốc đầu - cuối của nó, lại không dùng sinh khắc, vì vậy thuyết nầy chẳng biết nó ở đâu đến. Khảo sát rõ nghĩa của nó, đại để là theo lời dạy của tổ tiên lấy ý của Dịch tượng, tức là lý của Tiên Thiên – Hậu Thiên Bát Quái vậy.
Giáp Tí, Ất Sửu là Kim thượng nguyên; Nhâm Thân, Quý Dậu là Kim trung nguyên; Canh Thìn, Tân Tỵ là Kim hạ nguyên, tức Tam Nguyên thì đủ một vòng. Sau đó chuyển tới ở Mậu Tí, Kỷ Sửu là Hỏa thượng nguyên; Bính Thân Đinh Dậu là Hỏa trung nguyên, Giáp Thìn Ất Tỵ là Hỏa hạ nguyên. Từ đó về sau đều dựa vào thứ tự Kim, Hỏa, Mộc, Thủy, Thổ mà dùng nhạc luật cùng ngôi vị với thú thê (lấy vợ), phép cách bát sinh con, cuối cùng đến Đinh Tỵ mà nạp Âm tiểu thành vậy. Lại từ Giáp Ngọ, Ất Mùi là Kim thượng nguyên khởi như phép trước, đến cuối cùng ở Đinh Hợi, mà nạp Âm đại thành vậy.

Theo 10 Can, 12 Chi đan xen nhau là 60, năm âm (âm thanh), 12 luật nhân với nhau cũng là 60. Giáp Tí Kim, Ất Sửu cũng là Kim, lấy vợ cùng ngôi vị vậy. Ất Sửu Kim mà Nhâm Thân lại là Kim, cách bát sinh con vậy. Một lần đi tất cả Tam Nguyên mà sau chuyển sang đi tiếp, giống như Xuân có ba tháng mạnh-trọng-quý mà sau chuyển sang Hạ vậy. Từ Giáp Tí đến Đinh Tỵ mà Tam Nguyên Ngũ Hành được một vòng. Giống như Dịch đi ba vạch là tiểu thành vậy. Từ Giáp Ngọ đến Đinh Hợi mà Tam Nguyên Ngũ Hành lại được một vòng nữa, giống như Dịch đi sáu vạch là đại thành vậy. Cách lập phép đó đều ứng với luật lữ”.

Qua phần trích dẫn trên thì người viết không cần phải chứng minh. Vì chính sách Khảo nguyên đã viết:

Vì vậy thuyết nầy chẳng biết nó ở đâu đến. Khảo sát rõ nghĩa của nó, đại để là theo lời dạy của tổ tiên lấy ý của Dịch tượng, tức là lý của Tiên Thiên – Hậu Thiên Bát Quái vây.

Còn tiếp

Thiên Sứ

Thiên Sứ
10-07-2005, 04:20 PM
HÀ ĐỒ VÀ BÍ ẨN CỦA LẠC THƯ HOA GIÁP
Khởi số nạp âm can chi hợp Ngũ hành



Chúng ta lại tiếp tục khảo sát sự lý giải trong cổ thư sau đây

KHỞI SỐ NẠP ÂM
CAN CHI HỢP NGŨ HÀNH

Số của Nạp Âm: Giáp Kỷ, Tí Ngọ trị số là 9; Ất Canh, Sửu Mùi trị số là 8; Bính Tân, Dần Thân trị số là 7; Đinh nhâm, Mão Dậu trị số là 6; Mậu Quý, Thìn Tuất trị số là 5; Tỵ Hợi trị số là 4. Điều nầy trong “Vân Đài Loại Ngữ” thấy cụ Lê Quý Đôn có nhắc đến, nhưng không hề cho biết trị số của nó do đâu mà có. Nay lại thấy “Hiệp Kỷ Biện Phương Thư” giải thích hết sức rõ ràng nên xin chép lại nguyên văn để độc giả tham khảo.

“Lãi Hải Tập” nói:
“Hoặc hỏi: Số của Tiên Thiên duyên theo đâu mà khởi? Tạ đáp rằng: Số cực ở 9, từ 9 lui ngược lại dùng, vì vậy Giáp Kỷ, Tí Ngọ 9; Ất Canh, Sửu Mùi 8; Bính Tân, Dần Thân 7; Đinh Nhâm, Mão Dậu 6; Mậu Quý, Thìn Tuất 5; Thiên Can đã hết mà Địa Chi một mình còn thừa ra Tỵ Hợi, lấy Tỵ Hợi được 4 là hết ở đó. Hơn nữa, Hợi là thiên môn, Tỵ là địa hộ, ngôi vị của thuần Dương, là then chốt của việc đóng mở cho nên là mấu chốt của Ngũ Hành”.

"Thụy Quế Đường Hạ Lục" nói rằng:
"Nạp Âm của 60 Giáp Tí lấy âm (thanh) của Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ mà sáng tỏ vậy. 1-6 là Thủy, 2-7 là Hỏa, 3-8 là Mộc, 4-9 là Kim, 5-10 là Thổ.(*) Như vậy trong Ngũ Hành, duy Kim Mộc có Âm của tự nhiên, Thủy Hỏa, Thổ hẳn là mượn nhau mà sau thành âm. Đại thể Thủy mượn Thổ, Hỏa mượn Thủy, Thổ mượn Hỏa, vì vậy âm Kim 4-9, âm Mộc 3-8, âm Thủy 5-10, âm Hỏa 1-6, âm Thổ 2-7. (Như thế càng khó luận bàn và xác định nên Mai Cốc Thành chê). Giáp Kỷ, Tí Sửu 9; Ất Canh, Sửu Mùi 8; Bính Tân, Dần Thân 7; Đinh Nhâm, Mão Dậu 6; Mậu Quý, Thìn Tuất 5; Tỵ Hợi 4. Căn cứ như thế thì Giáp Tí Ất Sửu hợp lại thành 34 số, 4 là số của Kim vì vậy Giáp Tí Ất sửu Nạp Âm là Kim. Mậu Thìn Kỷ Tỵ hợp số là 23, 3 là số của Mộc. Canh Ngọ Tân Mùi hợp số là 32, 2 là số của Hỏa, Thổ mượn âm của Hỏa, vì vậy Canh Ngọ, Tân Mùi Nạp Âm là Thổ. Giáp Thân Ất Dậu hợp số 30, 10 là Thổ, Thủy mượn âm của Thổ, vì vậy là Thủy. Mậu Tí Kỷ Sửu hợp số 31, 1 là Thủy, Hỏa mượn âm của Thủy, vì vậy là Hỏa. Phàm 60 Giáp Tí chẳng cái nào không như thế. Dó chính là Nạp Âm 60 Giáp Tí từ đó lại”.

Qua đoạn trích dẫn trên thì quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng cách giải thích quy vào những con số và để có thể có sự trùng khớp những hệ số này thì lập luân lại khiên cưỡng. Xin quí vị quan tâm xem lại đoạn trích dẫn sau đây:

Duy Kim Mộc có Âm của tự nhiên, Thủy Hỏa, Thổ hẳn là mượn nhau mà sau thành âm.

Bởi thế cho nên:

(Như thế càng khó luận bàn và xác định nên Mai Cốc Thành chê)

Chúng ta lại tiếp tục xét một cách giải thích khác trong cổ thư; qua đoạn trích dẫn sau:

“Tinh Lịch Khảo Nguyên” nói:
“Chỗ nói ở trên là Dương Hùng luận “Thái Huyền” thanh luật chỗ chép về số. Phàm hai Can, hai chi hợp nhau, ngoài ra số được 49 là Kim được 16 là Hỏa, được 38 là Mộc, được 50 là Thủy, được 27 là Thổ. Như Giáp Tí đều 9, được số 18; Ất Sửu đều được số 16; hợp lại là 34, vì vậy là Kim. Nhâm 6 – Thân 7, được số 13; Quý 5 – Dậu 6 , được số 11; hợp lại được 24, vì vậy cũng là Kim. Ngoài ra theo số mà suy ra, không trường hợp nào mà không như vậy. Nhưng chỗ phối 1 với 6, 2 với 7, các hạng số với số của Hà Đồ không giống nhau. Nay theo số Đại Diễn là 50 chỉ dùng 49 lấy hợp số của hai Can, hai chi lại. Trong 49 giảm bớt đi, số thừa đủ 10 trở đi dư 1, 6 là Thủy; dư 2, 7 là Hỏa; dư 3, 8 là Mộc; dư 4, 9 là Kim; dư 5,10 là Thổ, đều dùng chỗ Ngũ Hành sinh làm Nạp Âm, như thế thì giống với Hà Đồ. Lại như phép đếm cỏ thi dùng sách thừa để định cơ (lẻ) ngẫu (chẵn), như thế dùng số thừa để định Ngũ Hành, lý đó đúng và hợp nhau vậy. Như Giáp là 9, Tí là 9; Ất là 8, Sửu là 8, tổng cộng là 34, lấy 49 trừ cho 34 dư ra 15, bỏ 10 không dùng, lấy 5 là Thổ mà Thổ sinh Kim, vì vậy đặt là Kim. Bính Dần, Đinh Mão hợp số là 26, lấy 49 trừ cho 26 dư ra 23, bỏ 20 không dùng, lấy 3 là Mộc mà Mộc sinh Hỏa, vì vậy đặt là Hỏa. Mậu Thìn, Kỷ Tỵ hợp số là 23, lấy 49 trừ cho 23 dư ra 26, bỏ 20 không dùng, lấy 6 là Thủy mà Thủy sinh Mộc, vì vậy đặt là Mộc. Canh Ngọ, Tân Mùi hợp số là 32, lấy 49 trừ đi cho 32 dư ra 17, bỏ 10 không dùng, lấy 7 là Hỏa mà Hỏa sinh Thổ, vì vậy đặt là Thổ. Ngoài ra phỏng theo như thế”.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Người viết bài này đã chịu khó tính đủ 60 hoa giáp và cho thấy phương pháp tính và dùng lý tương sinh của Ngũ hành qua số tính được như trên thì hoàn toàn trùng khớp. Nhưng sự trùng khớp đó lại chưa thể nói lên được nguyên lý và phương pháp nạp Âm của Ngũ hành. Điều này mới chỉ thể hiện sự tìm ra một qui tắc trùng khớp trong cách nạp âm theo cổ thư chữ Hán mà thôi. Nhưng qui tắc qua sự tính toán đó có phải đúng là nguyên lý nạp âm hay không thì lại là một vấn đề khác. Qui tắc này sẽ được chứng tỏ nguyên lý của chính nó và lại không phải nguyên lý nạp âm của Ngũ hành trong bảng 60 hoa giáp trong cổ thư chữ Hán. Điều này; xin được chứng minh ở phần sau.

Theo Dương Hùng “Thái Huyền Kinh” nói rằng:
“Số 9 của Tí Ngọ, Sửu Mùi 8, Dần Thân 7, Mão Dậu 6, Thìn Tuất 5, Tỵ Hợi 4, vì vậy Luật 42, Lữ 36, gộp số của Luật Lữ hoặc Hoàn, hoặc Phủ, hễ là số của 78 là số của Hoàng Chung lập ở đó. Lấy nó làm độ, đều sinh Hoàng Chung”.
Lại nói rằng:
“Số 9 của Giáp Kỷ, Ất Canh 8, Bính Tân 7, Đinh Nhâm 6, Mậu Quý 5. Thanh sinh ở nhật, luật sinh ở thời. Thanh lấy tính chất, luật lấy hòa thanh, thanh luật hợp với nhau mà bát âm sinh”.

Tông phái trải qua nhiều đời đến nay, đến đó là số của thiên nhiên. Nhìn lại chỗ Giáp Kỷ, Tí Ngọ tại sao lại lấy là 9; Ất Canh, Sửu Mùi tại sao lại lấy là 8, thì hiếm có việc luận bình chính xác ở đó. Nay xét Tí Ngọ này là chỗ Càn Chấn nạp vào; Sửu Mùi này là chỗ nạp vào của Khôn Tốn; Dần Thân nầy là chỗ Khảm nạp vào; Mão Dậu nầy là chỗ Ly nạp vào; Thìn Tuất nầy là chỗ Cấn nạp vào; Tỵ Hợi nầy là chỗ Đoài nạp vào. Số Dương cực ở 9, số Âm cực ở 8, vì vậy Càn Khôn được vậy. Chấn Tốn trưởng mà thống quản ở phụ mẫu, ngoài ra theo thứ tự trở xuống. Nhị Đại (cha mẹ), lục tử (6 con), thứ tự của nam nữ trưởng thiếu (lớn, nhỏ). Trật tự như vậy không rối loạn thật không ai có thể cưởng ép làm được. Nếu lấy thứ tự 10 ngày, thì lại tùy theo hóa khí thọ yểu của số mà cũng không tạo tác một chút nào ở trong đó. Giáp Kỷ là Thổ, Thổ hết, từ cổ xưa không bị hủy, tự tách rời ra là vi trần, rong chơi trống trải láng giềng mà chất của nó vốn tại ở đó là rất thọ, vì vậy số là 9. Chỗ tiếp theo thì là Kim, tuy hỏa rèn nung cũng có thời là khí tán ra của chất tro mà kiên cố là vạn vật vương vậy. Ất Canh là Kim vậy, vì vậy tiếp theo Giáp Kỷ. Lại tiếp nữa là Thủy. Gió nóng ban ngày mà Hỏa nung nấu cũng có thời khô cạn hết mà chẳng bằng Kim, nó nhu nhược chuyển vận mới có thể thọ lâu dài mà chẳng bằng vật vậy. Bính Tân Thủy vậy, vì vậy tiếp theo Ất Canh, lại tiếp theo nữa là Mộc. Trong một năm tươi tốt hay héo rụng có trong định kỳ. Đinh Nhâm là Mộc vậy, vì vậy tiếp theo Bính Tân, lại theo nữa thì là Hỏa. Khoảng một ngày một đêm hiển lộ ra hay u ám cũng có định kỳ, Mậu Quý là Hỏa vậy, vì vậy tiếp theo là Đinh Nhâm. Còn Giáp Kỷ Thổ sinh Ất Canh Kim, Kim sinh Bính Tân Thủy, Thủy sinh Đinh Nhâm Mộc, Mộc sinh Mậu Quý Hỏa. Chồng chất mà xuống dưới. Lại là số tự nhiên như vậy. Nhưng tại sao không có 10 và 1, 2, 3? Nói rằng số hết ở 9, 10 tức là 1 vậy. Ví bằng 1, 2, 3 chính là đại số của Thiên-Địa-Nhân, không được cố ý ký gửi ở khoảng của một ngày, một thời. Còn nói 9-8-7-6-5-4, thì 1-2-3 ở tại gốc của chúng. Vì vậy Hoàng Chung là 81, 12 thời chỉ được 78, mà Dương Tử nói rằng số của Hoàng Chung lập ở đó. Đại để đã hư hàm ba số mà thành 81 vây.

Lời lý giải trong Thái huyền kinh ở trên quanh co khiên cưỡng và tạp loạn. Quí vị quan tâm chắc cũng nhận thấy; nên xin được miễn bàn.

Thiên Sứ

(Còn tiếp)

Thiên Sứ
10-07-2005, 04:31 PM
Tiếp theo

Bây giờ; chúng ta lại tiếp tục quán xét sự luận về ngũ Âm liên hệ Ngũ hành nạp âm trong cổ thư chữ Hán trong đoạn trích dẫn sau đây. Trong phần trích dẫn này; người viết trích dẫn nguyên văn; nhưng sắp bố cục lại cho dễ hiểu.

NGŨ HÀNH NGŨ ÂM

Thuộc Thổ:
Giáp Tí-Ất Sửu, Nhâm Thân-Quý Dậu,Canh Thìn-Tân Tỵ: Cung
Sinh Kim Giáp Ngọ-Ất Mùi, Nhâm Dần-Quý Mão, Canh Tuất-Tân Tỵ

Thuộc Kim:
Bính Tí-Đinh Sửu, Giáp Thân-Ất Dậu, Nhâm Thìn-Quý Tỵ: Thương
Sinh Thủy Bính Ngọ-Đinh Mùi, Giáp Dần-Ất Mão, Nhâm Tuất-Quý Hợi
Thuộc Mộc:
Mậu Tí-Kỷ Sửu, Bính Thân-Đinh Dậu, Giáp Thìn-Ất Tỵ Giác
Sinh Hỏa Mậu Ngọ-Kỷ Mùi, Bính Dần-Đinh Mão, Giáp Tuất-Ất Hợi

Thuộc Hỏa:
Canh Tí-Tân Sửu, Mậu Thân-Kỷ Dậu, Bính Thìn-Đinh TỵChuỷ
sinh Thổ Canh Ngọ-Tân Mùi, Mậu Dần-Kỷ Mão, Bính Tuất-Đinh Hợi.

Thuộc Thuỷ: Nhâm Tí-Quý Sửu, Canh Thân-Tân Dậu, Mậu Thìn-Kỷ TỵVũ
sinh Mộc Nhâm Ngọ-Quý Mùi, Canh Dần-Tân Mão, Mậu Tuất-Kỷ Hợi

Xưa nay chúng ta thường nghe nói đến như Giáp Tí là Hải Trung Kim, Ất Mùi là Sa Trung Kim, nhưng thực chất chưa có sách nào của Việt Nam giải thích nổi do đâu mà có.

Chu Tử nói rằng: “Thanh nhạc là Thổ sinh Kim Mộc Hỏa Thuỷ”. “Hồng Phạm” là Thuỷ Hỏa Mộc Kim Thổ. Đại để nạp âm là lấy Can Chi phân phối ở ngũ âm mà bản âm nơi sinh của Ngũ Hành, tức là chỗ nạp âm của Can Chi của nó.
@ Bắt đầu là:
Cung/ Thương/ Giác/ Chuỷ/ Vũ, nạp Giáp/ Bính/ Mậu/ Canh/ Nhâm vào, lấy hệ ngũ Tí mà tuỳ theo đó ngũ Sửu.
* Cung được Giáp Tí.
* Thương được Bính Tí.
* Giác được Mậu Tí.
* Chuỷ được Canh Tí.
* Vũ được Nhâm Tí.

# Cung là Thổ, Thổ sinh Kim, vì vậy Giáp Tí-Ất Sửu nạp âm Kim.
# Thương là Kim, Kim sinh Thuỷ, vì vậy Bính Tí-Đinh Sửu nạp âm là Thuỷ.
# Giác là Mộc, Mộc sinh Hỏa, vì vậy Mậu Tí, Kỷ Sửu nạp âm Hỏa.
# Chuỷ là Hỏa, Hỏa sinh Thổ, vì vậy Canh Tí-Tân Sửu nạp âm Thổ.
# Vũ là Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, vì vậy Nhâm Tí, Quý Sửu nạp âm Mộc.

@Thứ hai tiếp:
Thương/ Giác/ Chuỷ/ Vũ/ Cung, nạp với Giáp/ Bính/ Mậu/ Canh/ Nhâm là hệ ngũ Dần mà tuỳ theo lấy ngũ Mão.
* Thương Kim với Giáp Dần-Ất Mão, nạp âm Thuỷ.
* Giác Mộc được Bính Dần-Đinh Mão nạp âm Hỏa.
* Chuỷ Hỏa được Mậu Dần-Kỷ Mão nạp âm Thổ.
* Vũ Thuỷ được Canh Dần-Tân Mão nạp âm Mộc.
* Cung Thổ được Nhâm Dần-Quý Mão nạp âm Kim.

@ Thứ ba tiếp:
Là Giác/ Chuỷ/ Vũ/ Cung/ Thương, nạp với Giáp/ Bính/ Mậu/ Canh/ Nhâm, lấy ngũ Thìn mà tuỳ theo lấy ngũ Tỵ.
* Giác Mộc được Giáp Thìn-Ất Tỵ nạp âm Hỏa.
* Chuỷ Hỏa được Bính Thìn-Đinh Tỵ nạp âm Thổ.
* Vũ Thuỷ được Mậu Thìn-Kỷ Tỵ nạp âm Mộc.
* Cung Thổ được Canh Thìn-Tân Tỵ nạp âm Kim.
* Thương Kim được Nhâm Thì-Quý Tỵ nạp âm Thuỷ.

Ở trên lục Giáp mới được một nữa, nạp âm tiểu thành.

@Thứ tư:
Quay trở lại lấy Cung/ Thương/ Giác/ Chuỷ/ Vũ, nạp với Giáp/ Bính/ Mậu/ Canh/ Nhâm. Lấy ngũ Ngọ mà tuỳ theo lấy ngũ Mùi.
* Cung Thổ được Giáp Ngọ-Ất Mùi nạp âm Kim.
* Thương Kim được Bính Ngo-Đinh Mùi nạp âm Thuỷ.
* Giáp Mộc được Mậu Ngọ-Kỷ Mùi nạp âm Hỏa.
* Chuỷ Hỏa được Canh Ngọ-Tân Mùi nạp âm Thổ.
* Vũ Thuỷ được Nhâm Ngọ-Quý Mùi nạp âm Mộc.

@Thứ năm:
Quay lại lấy Thương/ Giác/ Chuỷ/ Vũ/ Cung nạp Giáp/ Bính/ Mậu/ Canh/ Nhâm, lấy ngũ Thân mà tuỳ theo lấy ngũ Dậu.
* Thương Kim được Giáp Thân-Ất Dậu nạp âm Thuỷ.
* Giác Mộc được Bính Thân-Đinh Dậu nạp âm Hỏa.
* Chuỷ Hỏa được Mậu Thân-Kỷ Dậu nạp âm Thổ.
* Vũ Thuỷ được Canh Thân-Tân Dâu nạp âm Mộc.
* Cung Thổ được Nhâm Thân-Quý Dậu nạp âm Kim.

@Thứ sáu
Tiếp quay lại lấy Giác/ Chuỷ/ Vũ/ Cung/ Thương nạp Giáp/ Bính/ Mậu/ Canh/ Nhâm, lấy ngũ Tuất mà tuỳ theo lấy ngũ Hợi.
* Giác Mộc được Giáp Tuất-Ất Hợi nạp âm Hỏa.
* Chuỷ Hỏa được Bính Tuất-Đinh Hợi nạp âm Thổ.
* Vũ Thuỷ được Mậu Tuất-Kỷ Hợi nạp âm Mộc.
* Cung Thổ được Canh Tuất-Tân Hợi nạp âm Kim.
* Thương Kim được Nhâm Tuất-Quý Hợi nạp âm Thuỷ.

Ấy là toàn bộ lục Giáp mà âm đại thành vậy. Dương sinh ở Tí, từ Giáp Tí lấy đến Quý Tỵ. Âm sinh ở Ngọ, từ Giáp Ngọ lấy đến Quý Hợi. Vì vậy 30 mới quay lại lấy Cung khởi Cung là quân. Thương là thần, Giác là dân, đều nhập vào đạo (đường) vậy. Vì thế đều có thể lấy làm đầu. Chuỷ là việc, Vũ là vật, đều nhập vào chỗ dùng vì vậy không thể lấy làm đầu. Ấy là lấy hết ba Giáp mà quay lại bắt đầu ở Cung. Can là thiên, Chi là Địa, âm (nạp âm Ngũ Hành) là người Ngũ Hành của tam tài đủ vậy”.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua đoạn trích dẫn trên thì quí vị cũng nhận thấy một sự trùng khớp trong việc lý giải sự tương quan giữa Ngũ Âm cổ là:
Cung/Thương/ Giốc (Giác)/ Chuỷ/Vũ và sự liên hệ suy luận trùng khớp với Ngũ hành nạp âm trong lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán.
Nhưng một sự suy luận trùng khớp khi Ngũ Cung có qui luật là Ngũ hành (Cung thuộc thổ; Thương thuộc Kim…) và tính qui luật (Sẽ được minh chứng ở phần sau) của bảng lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán là việc không có gì là lạ.

Cho đến lúc này; chúng ta vẫn chưa tìm thấy một sự chứng minh nguyên lý Ngũ hành nạp âm của bảng Lục thập Hoa giáp; từ các nhà lý học Hán. Đến đây; đoạn trích dẫn đã quá dài. Nhưng người viết ko thể ngắt đoạn vì để bảo đảm tính khách quan trong việc đi tìm chân lý. Bởi vậy; xin quí vị quan tâm xem tiếp đoạn trích dẫn cuối cùng sau đây

Đào Tông Nghi nói rằng:
“Giáp Tí-Ất Sửu là Hải Trung Kim. Tí thuộc Thuỷ lại là cái hồ, lại là đất vượng của Thuỷ, kiêm Kim tử ở Tí, Mộ ở Sửu, Thuỷ vượng mà Kim tử Mộ, vì vậy đặt là Hải Trung Kim (vàng dưới biển).

Bính Dần-Đinh Mão là Lô Trung Hỏa, Dần là tam Dương, Mão là tứ Dương (thuộc quẻ Đại Tráng của 12 quẻ tiêu tức) nên Hỏa đã đắc địa, lại được Mộc của Dần Mão mà sinh ra như thế thời đó trời đất như mở lò ra, vạn vật bắt đầu sinh vì vậy gọi là Lô Trung Hỏa (lửa trong lò).

Mậu Thìn-Kỷ Tỵ là Đại Lâm Mộc. Thìn là chốn thôn dã. Tỵ là lục Dương (thuần Dương, Tỵ là quẻ Càn của 12 quẻ tiêu tức), Mộc đến lục Dương thì cành tốt tươi, lá rậm rạp phong phú. Lấy sự tốt tươi thịnh vượng của Mộc mà vốn ở chốn thôn dã, vì vậy đặt là Đại Lâm Mộc (cây rừng lớn).

Canh Ngọ-Tân Mùi là Lộ Bàng Thổ, Mộc ở trong Mùi (vì Mùi tàng Can Ất) mà sinh vượng Hỏa của ngôi vị Ngọ. Hỏa vượng thì Thổ bị đốt khô đi, Mùi có thể nuôi nấng vạn vật, giống như lộ bàng thổ, vì vậy đặt là Lộ Bàng Thổ (đất bên đường).
Nhâm Thân-Quý Dậu là Kiếm Phong Kim. Thân Dậu là chính vị của Kim, Kim Lâm Quan ở Thân, Đế Vượng ở Dậu, Kim đã sinh vượng thì thành cương (là thép) vậy, cương thì vượt hơn ở kiếm phong, vì vậy đặt là Kiếm Phong Kim (kim mũi kiếm).

Giáp Tuất-Ất Hợi là Sơn Đầu Hỏa. Tuất Hợi là thiên Môn, Hỏa chiếu thiên môn, ánh sáng của nó lên rất cao, chí cao vô thượng, vì vậy đặt là Sơn Đầu Hỏa (lửa đầu núi).
Bính Tí-Đinh Sửu là Giản Hạ Thuỷ. Thuỷ vượng ở Tí, suy ở Sửu, vượng mà lật lại là suy thì không thể là giang hà (sông lớn) được, vì vậy đặt là Giản Hạ Thuỷ (nước dưới khe).

Mậu Dần-Kỷ Mào là Thành Đầu Thổ. Thiên Can Mậu Kỷ thuộc thổ của Dần là Cấn sơn, thổ tích lại mà thành núi, vì vậy đặt là Thành Đầu Thổ (đất đầu thành).
Canh Thìn-Tân Tỵ là Bạch Lạp Kim (hợp Kim của thiết và chì), Kim Dưỡng ở Thìn, Sinh ở Tỵ hình chất mới sơ thành, chưa thể vững chắc ích lợi được, vì vậy đặt là Bạch Lạp Kim (kim trong nến).

Nhâm Ngọ-Quý Mùi là Dương Liễu Mộc. Mộc Tử ở Ngọ, Mộ ở Mùi, Mộc đã Tử Mộ tuy được Thuỷ của Thiên Can Nhâm Quý sinh để sống, chung lại là nhu nhược, vì vậy đặt là Dương Liễu Mộc (cây dương liễu).

Giáp Thân-Ất Dậu là Tỉnh Tuyền Thuỷ. Kim Lâm Quan ở Thân, Đế Vượng ở Dậu, Kim đã vượng thì Thuỷ do đó sinh ra, như vậy là mới đang lúc sinh ra, lực lượng chưa lớn, vì vậy đặt là Tỉnh Tuyền Thuỷ (nước dưới suốâi).

Bính Tuất-Đinh Hợi là Ốc Thượng Thổ. Bính Đinh thuộc Hỏa, Tuất Hợi là thiên môn, Hỏa đốt cháy ở trên thì Thổ không ở dưới mà sinh ra được, vì vậy đặt là Ốc Thượng Thổ (đất trên nóc nhà).

Mậu Tí-Kỷ Sửu là Tích Lịch Hỏa. Sửu Tí thuộc Thuỷ, Thuỷ cư ở chính vị mà nạp âm chính là Hỏa, Hỏa ở trong Thuỷ nếu không phại là Thần Long thì không thể làm được, vì vậy đặt là Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét).
Canh Dần-Tân Mão là Tùng Bách Mộc. Mộc Lâm Quan ở Dần, Đế Vượng ở Mão, Mộc đã vượng thì không thể nhu nhược được, vì vậy đặt là Tùng Bách Mộc (gổ cây tùng, bách).

Nhâm Thìn-Quý Tỵ là Trường Lưu Thuỷ. Thìn là Mộ của Thuỷ, Tỵ là nơi Kim Sinh, Kim sinh thì Thuỷ tính đã giữ lại, lấy Mộ Thuỷ mà gặp sinh Kim thì nguồn suối không cạn, vì vậy đặt là Trường Lưu Thuỷ (nước nguồn).

Giáp Ngọ-Ất Mùi là Sa Thạch Kim. Ngọ là đất Hỏa Vượng, Hỏa vượng thì Kim chảy ra, Mùi là đất Hỏa Suy, Hỏa suy thì Kim Quan Đái. Hỏa Suy mà Kim Quan Đái thì Mùi có thể thịnh mãn, vì vậy đặt là Sa Thạch Kim (kim trong cát).
Bính Thân-Đinh Dậu là Sơn Hạ Hỏa. Dậu là cửa nhập của nhật (mặt trời lặn), nhật đã đến ở thời đó thì ánh sáng tàng ẩn, vì vậy đặt là Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi).
Mậu Tuất-Kỷ Hợi là Bình Địa Mộc. Tuất nguyên là chốn thôn dã, Hợi là đất Mộ sinh ra, Mộc sinh ra ở chốn thôn dã thì không thể là một rễ cây, một gốc cây, vì vậy đặt là Bình Địa Mộc (cây ở đồng bằng).

Canh Tí-Tân Sửu là Bích Thượng Thổ. Sửu tuy là chính vị nhà của Thổ, mà Tí là đất của Thuỷ vượng, Thổ gặp Thuỷ nhiều thành là bùn, vì vậy đặt là Bích Thượng Thổ (đất trên vách).

Nhâm Dần-Quý Mão là Kim Bạc Kim. Dần Mão là đất của Mộc vượng, Mộc vượng thì Kim gầy yếu; lại nữa, Kim Tuyệt ở Dần, Thai ở Mão. Kim đã vô lực vì vậy đặt là Kim Bạc Kim (kim pha bạc).

Giáp Thìn-Ất Tỵ là Phú Đăng Hỏa. Thìn là thực thời (giờ ăn), Tỵ là ở trong khu vực, trong tướng của nhật, Dương rực rỡ, thế sáng sủa, phong quang ở thiên hạ, vì vậy đặt là Phú đăng Hỏa (lửa đèn lồng).

Bính Ngọ-Đinh Mùi là Thiên Hà Thuỷ. Bính Đinh thuộc Hỏa, Ngọ là đất Hỏa vượng, mà nạp âm chính là Thuỷ, Thuỷ từ Hỏa xuất ra, nếu không phải là ngân hà thì không thể có nước nầy, vì vậy đặt là Thiên Hà Thuỷ (nước trên ngân hà, nước sông trên trời).
Mậu Thân-Kỷ Dậu là Đại Dịch Thổ. Thân là Khôn, Khôn là địa, Dậu là Đoài, Đoài là trạch (đầm). Thổ của Mậu Kỷ gia lên trên địa trạch nầy chẳng phải cái nào khác là Thổ phù bạc, vì vậy đặt là Đại Dịch Thổ (khu đất rộng lớn).
Canh Tuất-Tân Hợi là Thoa Xuyến Kim. Kim đến Tuất mới Suy, đến Hợi mới Bệnh thì đúng thật là nhu vậy, vì vậy đặt là Thoa Xuyến Kim (kim trâm thoa hay vàng trang sức).

Nhâm Tí-Quý Sửu là Tang Chá Mộc. Tí thuộc Thuỷ, Sửu thuộc Kim, Thuỷ sinh Mộc còn Kim khắc Mộc (Mộc mới sinh thì yếu giống như cây tang chá), vì vậy đặt là Tang Chá Mộc (gỗ cây dâu).

Giáp Dần-Ất Mão là Đại Khê Thuỷ, Dần là góc Đông Bắc, Mão là chính Đông, Thuỷ chảy chính Đông (“chúng thuỷ triều Đông” – muôn nhánh sông đều chảy về phương Đông) thì thuận tính nó, nên sông suối, khe, ao, đầm, hồ đều hợp với nhau mà quay trở về, vì vậy đặt là Đại Khê Thuỷ (nước ở khe lớn, nước lũ).

Bính Thìn-Đinh Tỵ là Sa Trung Thổ. Thổ Mộ ở Thìn, Tuyệt ở Tỵ mà Hỏa của Thiên Can Bính Đinh đến Thìn là Quan Đái, đến Tỵ là Lâm Quan, Thổ đã Mộ Tuyệt, vượng Hỏa quay lại sinh Thổ, vì vậy đặt là Sa Trung Thổ (đất lẫn trong cát).

Mậu Ngọ-Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hỏa, Ngọ là đất Hỏa vượng, Mộc ợ trong Mùi lại phục sinh, tính Hỏa cháy ở trên, lại gặp sinh địa, vì vậy đặt là Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời).

Canh Thân-Tân Dậu là Thạch Lựu Mộc. Thân là tháng 7, Dậu là tháng 8, thời ấy thì là Mộc tuyệt vậy, duy mộc của thạch lựu, trái lại bền chắc, vì vậy đặt là Thạch Lựu Mộc (gỗ cây thạch lựu).

Nhâm Tuất-Quý Hợi là Đại Hải Thuỷ. Thuỷ Quan Đái ở Tuất, Lâm Quan ở Hợi, Thuỷ vượng thì lực hậu (dầy), kiêm Hợi là giang (sông lớn) nên lực mạnh thế tráng, không phải Thuỷ ấy thì không thể như thế, vì vậy đặt là Đại Hải Thuỷ (nước trong biển lớn).

Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua đoạn trích dẫn của Đào Tông Nghi thì quí vị cũng nhận thấy rằng: Ông Đào Tông Nghi chỉ tìm cách giải thích một hiện tượng đã có sẵn. Nói theo ngôn ngữ dân gian: ”Gọt chân cho vừa giầy”. Bởi vậy lập luận cũng không tránh khỏi quanh co; khiên cưỡng và mâu thuẫn.
Tất cả những phần trích dẫn cổ thư này; nhằm chứng tỏ rằng:

Trải đã hàng ngàn năm; mặc dù hết sức cố gắng, những nhà nghiên cứu cổ kim vẫn không thể nào tìm ra được nguyên lý nào làm nên sự lập thành bảng nạp âm Lục thập hoa giáp.

Bởi vậy; không phải ngẫu nhiên mà ông Thiệu Vĩ Hoa đã phát biểu:

Nạp âm ngũ hành trong bảng 60 Giáp tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp tý biến hoá vô cùng; đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu”
(Trích trong sách: Chu Dịch và dự đoán học. Trang 68. Thiệu Vĩ Hoa. Nxb Văn Hoá Thông Tin 1996.

Kính thưa quí vị quan tâm!
Bức màn huyền bí của văn minh Đông phương chỉ có thể được hé mở khi tìm về cội nguồn đích thực của nó là lịch sử 5000 văn hiến của người Lạc Việt.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

(Còn tiếp)

Thiên Sứ
10-07-2005, 04:44 PM
PHÁP ĐẠI UY NỖ
Hà Đồ và bí ẩn của Lạc Thư hoa giáp

NGUYÊN TẮC NẠP ÂM
CỦA LỤC THẬP HOA GIÁP TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN

Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong bài trên; tôi đã hân hạnh lưu ý quí vị về hai hiện tượng mang tính qui luật trong “Tinh lịch khảo nguyên” và việc qui luật thuận tự trong việc dùng ngũ âm thanh trùng khớp với thuận tự của Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán. Điều này chứng tỏ rằng: Sự sắp xếp của bảng lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán cũng có tính qui luật. Nhưng điều đó không có nghĩa đó là nguyên lý nạp âm của bảng lục thập hoa giáp. Vậy tính qui luật đó là qui luật gì?
Bây giờ; chúng ta lại xét đến độ số được sử dụng trong “Tinh Lịch khảo nguyên”.

Tinh Lịch khảo nguyên viết:

Trong 49 giảm bớt đi, số thừa đủ 10 trở đi dư 1, 6 là Thủy; dư 2, 7 là Hỏa; dư 3, 8 là Mộc; dư 4, 9 là Kim; dư 5,10 là Thổ, đều dùng chỗ Ngũ Hành sinh làm Nạp Âm, như thế thì giống với Hà Đồ. Lại như phép đếm cỏ thi dùng sách thừa để định cơ (lẻ) ngẫu (chẵn), như thế dùng số thừa để định Ngũ Hành, lý đó đúng và hợp nhau vậy. Như Giáp là 9, Tí là 9; Ất là 8, Sửu là 8, tổng cộng là 34, lấy 49 trừ cho 34 dư ra 15, bỏ 10 không dùng, lấy 5 là Thổ mà Thổ sinh Kim, vì vậy đặt là Kim. Bính Dần, Đinh Mão hợp số là 26, lấy 49 trừ cho 26 dư ra 23, bỏ 20 không dùng, lấy 3 là Mộc mà Mộc sinh Hỏa, vì vậy đặt là Hỏa. Mậu Thìn, Kỷ Tỵ hợp số là 23, lấy 49 trừ cho 23 dư ra 26, bỏ 20 không dùng, lấy 6 là Thủy mà Thủy sinh Mộc, vì vậy đặt là Mộc. Canh Ngọ, Tân Mùi hợp số là 32, lấy 49 trừ đi cho 32 dư ra 17, bỏ 10 không dùng, lấy 7 là Hỏa mà Hỏa sinh Thổ, vì vậy đặt là Thổ. Ngoài ra phỏng theo như thế”.

Kính thưa quí vị quan tâm!
Đây chính là số của Hà Đồ và Tinh Lịch khảo nguyên cũng công nhận điều này (Phần in đậm). Vì số Hà Đồ mang tính qui luật thể hiện sự vận động của ngũ tinh; cho nên sự chùng khớp này chứng tỏ bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, cũng phải dựa trên một nguyên tắc hoặc qui luật có liên hệ với Hà Đồ. Về tính qui luật và nguyên tắc trong bảng lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán; người viết trình bày và minh chứng như sau:

Bắt đầu từ:

1) Hành Kim:
Giáp Tí-Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim vương (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim mộ (Quý).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hoả là:

2) Hành Hoả:
Mậu Tí - Kỷ Sửu = Tích Lịch Hoả (Sinh); cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Sơn hạ Hoả (Vượng); cách 8 năm đến: Giáp Thìn-Ất Tỵ = Phúc Đăng Hoả (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hoả; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc là:

3) Hành Mộc:
Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh); cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng); cách 8 năm đến Mậu Thìn-Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thuỷ là:

4) Hành Thuỷ
Bính Tí-Đinh Sửu = Giáng hạ Thuỷ (Sinh); cách 8 năm đến: Giáp Thân-Ất Dậu =Tuyền trung Thuỷ (Vượng); cách 8 năm đến: Nhâm Thìn-Quý Tỵ = Trường Lưu Thuỷ (Mộ).
kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thuỷ;nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ là:

5) Hành Thổ
Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).
Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ.
Qui luật cách bát sinh tử được lặp lại với nguyên tắc nghịch chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết 60 năm của một hoa giáp.
xIN QUÍ VỊ QUAN TÂM XEM HÌNH MINH HOẠ DƯỚI ĐÂY:

NGUYÊN TẮC NẠP ÂM
LỤC THẬP HOA GIÁP TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN

Ngược chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ sau một chu kỳ 24 năm



http://lyhoc.viettop.net/60namtauhd.jpg


Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy; người viết đã chứng tỏ một tính quy luật và nguyên tắc trong việc sắp xếp nạp âm 60 hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán. Mặc dù đây là một nguyên tắc sai (Sẽ chứng minh ở phần sau). Nhưng chính tính qui luất và nguyên tắc này làm nên sự trùng khớp về độ số của bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán mà Tinh lịch khảo nguyên nói tới; và sự trùng khớp về ngũ hành giữa Ngũ Âm (Mang qui luật Ngũ hành) và hành khí của nạp âm trong Lục thập hoa giáp mà Chu Hy nói tới.
Tính qui luật là một trong những yếu tố cần của một lý thuyết khoa học. Nhưng đó lại chưa phải là yếu tố quyết định.
Sự sai lầm của tính qui luật và nguyên tắc này trong việc lập thành bảng 60 hoa giáp từ cổ thư chữ Hán thể hiện ở những điểm sau đây:

@ Hà đồ là một đồ hình biểu lý cho sự tương tác của vũ trụ với Địa cầu theo chiều thuận kim đồng hồ (Sự vận động của các thiên thể theo chiều nghịch. Đây chính là biểu lý của Lạc Thư =Dương: Biểu lý cho vật thể/ thiên thể = Âm. Hà Đồ = Âm: Biểu lý cho sự tương tác: Dương). Do đó; không thể căn cứ trên đồ hình căn nguyên của nó mà lại đi theo chiều ngược với chính nguyên lý căn để của nó.

@ Chính vì sai lầm của nguyên tắc ngược chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; nên chính qui luật cách bát sinh từ chỉ thể hiện giới hạn trong chính hành đó (Sinh - Vượng - Mộ) mà không thể hiện được ở các hành tiếp nối. Thí dụ:
Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Kim thì đáng lẽ phải là hành Thuỷ (Con do Kim sinh; Kim sinh Thuỷ) thì trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán lại là hành Hoả?
Thật là buồn thay!
Ngay chính cả cái nguyên tắc sai này cũng không được phát hiện trong cổ thư chữ Hán cho đến tận bây giờ. Những phương pháp tính toán trong Tinh lịch khảo nguyên mới chỉ có tính tiếp cận với Hà đồ mà thôi.
Sự sai lệch này chỉ bắt đầu khi nền văn minh kỳ vĩ của người Lạc Việt - cội nguồn của nền văn hoá Đông Phương – bị sụp đổ. Chính những sai lệch này đã đẩy nền văn minh Đông phương trở thành huyền bí; khi mà những nguyên lý của một siêu lý thuyết vũ trụ quan thất truyền trải hàng thiên niên kỷ. Sự phục hồi những nguyên lý của siêu lý thuyết vũ trụ quan này chỉ có thể thực hiện từ nền văn minh Lạc Việt; mà hậu duệ chính là dân tộc Việt Nam hiện nay. Để phục hồi lại nạp âm của bảng Hoa giáp này; chúng ta cũng phải tìm trong PHÁP ĐẠI UY NỖ từ Hà Đồ; trong một mật ngữ là tranh thờ Ngũ Hổ mà tổ tiên truyền lại. Sự sai lệch về hành khí trong nạp âm của bảng lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán; theo chủ quan của người viết; còn nằm trong chính bài khẩu quyết cổ có tính ứng dụng được học thuộc lòng sau đây:

Ngân (Kim) Đăng (Hỏa) Giá (Mộc) Bích (Thổ) Câu (Kim)
Yên (Hỏa) Mãn (Thủy) Tự (Thổ) Chung (Kim) Lâu (Mộc)
Hán (Thủy) Địa (Thổ) Siêu (Hỏa) Sài (Mộc) Thấp (Thủy).

Than ôi!
Ngọn đèn bạc làm lạnh bức tường vàng; giá trị giả đã thay thế cho giá trị thật cao quí; kỳ vĩ.
Khi mà những mâu thuẫn nội tai góp phần làm suy hỏng một nền văn hiến vĩ đại của người Lạc Việt; qua hình tượng lửa đã cháy từ bên trong toà lâu đài một thời nguy nga hoành tráng.
Đó chính là nguyên nhân đầu tiên để sau đó là hơn một ngàn năm Bắc thuộc.
Phải chăng? Đây chính là nguyên nhân để cho sự sai lệch và thất truyền của những nguyên lý của một lý thuyết thống nhất vũ trụ; được gìn giữ trong nền văn minh Lạc Việt từ thời Hoàng Kim của con người? Phải chăng? Đây chính là câu kết để hoàn chỉnh bài thơ tứ tuyệt:
Viêm Thuỷ Lạc Kim Âu!
Hành Hoả và Thuỷ phải đổi chỗ cho nhau trong Lục thập hoa giáp để trở về với cội nguồn của nó là LẠC THƯ HOA GIÁP; tức là sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ vận động có tính qui luật; nhất quán; hoàn chỉnh trong chu kỳ 60 năm vận hành của vũ trụ liên quan với Địa cầu; có khả năng giải thích tất cả mọi vấn đề và hiện tượng liên quan đến nó.
Sự chứng minh này sẽ được thể hiện trong bài tiếp theo đây.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp

Thiên Sứ
10-07-2005, 06:38 PM
HÀ ĐỒ VÀ BÍ ẨN LẠC THƯ HOA GIÁP

Kính thưa quí vị quan tâm!
Người viết xin được nhắc lại một tiêu chí khoa học cho tất cả các lý thuyết khoa học là:

Một lý thuyết khoa học chỉ được coi là đúng; nếu nó giải thích một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh; nhất quán; có tính qui luật; tính khách quan và có khả năng tiên tri

Luận đề này là sự phát triển bổ sung cho cuốn Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa giáp. T/g Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nxb VHTT tái bản 2002. Bởi vậy; người viết xin được quí vị quan tâm tham khảo thêm các vấn đề liên quan trong sách này.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong bài trên; người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm của bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán là:

Chu kỳ cách bát sinh tử của một hành trong 24 năm kết thúc thì chuyển sang hành khác – theo chiều ngược kim đồng hồ trên Hà Đồ.

Người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán là một nguyên tắc sai so với nguyên lý tạo nên nó là Hà Đồ.
Vậy; thực chất bản thể nguyên thuỷ của bảng hoa giáp như thế nảo?
Xin quí vị quan tâm xem tiếp sau đậy


NGUYÊN TẮC NẠP ÂM LẠC THƯ HOA GIÁP
Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ 60 năm

Nhưng cũng căn cứ trên Hà Đồ - PHÁP ĐẠI UY NỖ của người Lạc Việt và nguyên lý THUẬN chiều kim đồng hồ của đồ hình này, Vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử; và chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ như cũ, chúng ta sẽ có bảng Lạc thư hoa giáp.
Qui luật sắp xếp của Lạc thư hoa giáp chỉ khác bảng lưu truyền qua cổ thư chữ Hán ở hai hành Thuỷ và Hoả. Điều này được trình bày như sau:

Bắt đầu từ hành Kim:

1) Hành Kim
Giáp Tí- Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim Sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim Vượng (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim Mộ (Quý).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim; Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thuỷ (Thuỷ là con do Kim sinh) là:

2) Hành Thuỷ:
Mậu Tí - Kỷ Sửu = Giản hạ Thuỷ (Sinh); cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Tuyền trung Thuỷ (Vượng); cách 8 năm đến: Giáp Thìn-Ất Tỵ = Trường lưu Thuỷ (Mộ).

* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thuỷ; Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc (Mộc là con do Thuỷ sinh) là:

3) Hành Mộc:
Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh); cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng); cách 8 năm đến Mậu Thìn-Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc; Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hoả (Hoả là con do Mộc sinh) là:

4) Hành Hoả
Bính Tí-Đinh Sửu = Lư trung Hoả (Sinh); cách 8 năm đến: Giáp Thân-Ất Dậu = Sơn đầu Hoả (Vượng); cách 8 năm đến: Nhâm Thìn-Quý Tỵ = Tích lịch Hoả (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hoả;nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ (Thổ là con do Hoả sinh)là:

5) Hành Thổ
Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ.

Qui luật cách bát sinh tử được lặp lại với nguyên tắc nghịch chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết tạo thành bảng Lạc thư Hoa giáp với chu kỳ 60 năm. Nguyên tắc thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ (Chiều Ngũ hành tương sinh) và vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử với Sinh - Vượng - Mộ, được minh hoạ bằng hình dưới đây:

NGUYÊN TẮC NẠP ÂM LẠC THƯ HOA GIÁP
Theo chiều tương sinh thuận chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ

http://lyhoc.viettop.net/60namviethd.jpg


Kính thưa quí vị quan tâm!
Bảng LẠC THƯ HOA GIÁP dưới đây là kết quả của sự sắp xếp theo lý tương sinh của Hà Đồ và qui luật Cách bát sinh tử. Theo nguyên lý này thì hành Thuỷ và Hoả sẽ thay thế chỗ cho nhau.
Người viết xin được thể hiện chu kỳ của hai bảng LẠC THƯ HOA GIÁP và Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán qua hình tròn; để quí vị quan tâm so sánh; như sau:

BẢNG LỤC THẬP HOA GIÁP
Theo cổ thư chữ Hán
http://lyhoc.viettop.net/lthgtau.jpg


BẢNG LẠC THƯ HOA GIÁP

http://lyhoc.viettop.net/lthgviet.jpg

Qua hai đồ hình so sánh ở trên; qua những luận điểm chứng minh cho nguyên tắc và qui luật tạo thành bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán và Lạc thư hoa giáp từ nền văn minh Lạc Việt; quí vị quan tâm cũng nhận thấy tính qui luật và sự trùng khớp hợp lý của những giá trị nội tại tạo nên bảng Lạc thư hoa giáp. Đồng thời; quí vị quan tâm cũng nhận thấy tính bất hợp lý trong bảng lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán. Chính vì sự sai lệch ngay từ nguyên lý của nó (Nghịch hành theo chiều ngược từ phải sang trái của Hà Đồ. Trong khi đó; Hà đồ là đồ hình biểu lý Ngũ hành tương sinh theo chiều thuận). Đó chính là nguyên nhân để hàng ngàn năm trôi qua; biết bao học giả cổ kim thuộc văn minh Hoa Hạ không thể khám phá ra bí ẩn của nó.


Bảng 60 Giáp tý biến hoá vô cùng; đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu”

Thiệu Vĩ Hoa


Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua bài Hà đồ và bí ẩn Lạc thư hoa giáp với những chứng minh ở trên; người viết đã chứng tỏ rằng: Chính Hà Đồ là nguyên lý của chu kỳ hoa giáp 60 năm trong Lý Học Đông phương; dù theo cách nào: Hán cổ hay Lạc thư hoa giáp. Hà Đồ là một đồ hình căn bản trong lý học Đông phương và được chứng minh trong luận đề này; đồng thời cũng được chứng tỏ trong di sản văn hoá dân gian Lạc Việt với tranh thờ Ngũ Hổ với danh xưng:Pháp Đại uy nỗ. Đây là điều không hề có trong các bản văn Hán cổ.

Trên thực tế; người viết bài này đã ứng dụng Lạc thư hoa giáp thay thế cho bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán; trong tất cả những vấn đề liên quan. Bảng dưới đây là sự hiệu chỉnh lại bảng Lạc thư hoa giáp trong cuốn ”Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp” của T/g Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Do sơ xuất nên T/g đã bị nhầm lẫn về chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ trong hành Thuỷ.

http://lyhoc.viettop.net/banglthg.jpg

http://lyhoc.viettop.net/banglthg1.jpg


Kính thưa quí vị quan tâm.
Như vậy; người viết đã chứng minh nguyên tắc của bảng nạp âm trong lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán và sai lầm của nó. Đồng thời cũng chứng minh tính hợp lý cho sự liên hệ nội tại của những vấn đề liên quan đến sự lập thành bảng này từ văn minh Lạc Việt. Đây là bằng chứng nữa về cội nguồn văn hoá phương Đông thuộc về văn minh Lạc Việt; cơ sở của niềm tự hào về truyền thống lịch sử gần 5000 năm văn hiến của dân tộc Việt Nam.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp: PHÁP ĐẠI UY NỖ
Lạc thư hoa giáp lý giải các vấn đề liên quan

Thiên Sứ
11-07-2005, 12:47 PM
PHÁP ĐẠI UY NỖ
Lạc thư hoa giáp lý giải các vấn đề liên quan
Tiếp theo

ĐỘ SỐ CỤC TRONG TỬ VI & LẠC THƯ HOA GIÁP

Kính thưa quí vị quan tâm.
Trên cơ sở tiêu chí khoa học là:

Một lý thuyết khoa học chỉ được coi là đúng nếu giải thích một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó một cách nhất quán;hoàn chỉnh; có tính qui luật; tính khách quan và khả năng tiên tri.

Trên cơ sở tiêu chí khoa học này; chúng ta so sánh với những vấn đề mà người viết minh chứng về tính hợp lý ngay trong mối quan hệ nội tại dẫn đến bảng Lạc thư hoa giáp hoàn toàn trùng khớp. Bởi vậy; vấn đề còn lại của Lạc thư hoa giáp là khả năng lý giải các vấn đề và hiện tượng liên quan. Sự lý giải này sẽ chứng tỏ tính nhất quán; hoàn chỉnh; tính quy luật; tính hợp lý; còn về khả năng tiên tri thì có lẽ không cần phải đặt ra. Bởi vi chúng ta đang tiên tri những điều mà không một lý thuyết khoa học nào – ngay bây giờ hoặc hoặc hàng chục; hàng trăm năm nữa – có thể mơ ước đến điều này. Tức là sự tiên tri đến từng hành vi của con người. Đồng thời; cũng qua khả năng tiên tri này - vốn là một tiêu chí thẩm định của một lý thuyết khoa học – cho thấy tính siêu việt của thuyết Âm Dương ngũ hành vượt xa tất cả mọi lý thuyết khoa học hiện đại; vốn là cơ sở của nền văn hiến Lạc Việt.
Chúng ta cũng lưu ý rằng:
Qua các văn bản cổ chữ Hán không thể tìm được sự thống nhất và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương ngũ hành – kể từ hàng ngàn năm trước; cho đến tận ngày hôm nay; khi quý vị đang đọc những dòng chữ này. Bởi vậy; hoàn toàn ko thể là sự ngẫu nhiên khi cả một hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành được chứng minh là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh; xuất phát từ văn minh Lạc Việt; có khả năng lý giải hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó. Một trong những hệ quả của học thuyết này từ Hà Đồ - PHÁP ĐẠI UY NỖ – chính là Lạc thư hoa giáp. Tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp ko chỉ dừng ở sự hợp lý nội tại mà còn chứng tỏ tính hợp lý trong những vấn đề liên quan. Những vấn đề chủ yếu được trình bày trong bài viết này là:

ĐỘ SỐ CỤC TRONG TỬ VI

Kính thưa quí vị quan tâm!
Hầu hết những người có tìm hiểu về Tử Vi đều biết cục số của Tử Vi lưu truyền trong cổ thư chữ Hán là:

Thuỷ NHỊ Cục.

Mộc Tam Cuc.
Kim Tứ Cục
Thổ Ngũ Cục

Hoả LỤC Cục

Sự ứng dụng của cục số này là tất nhiên phải là hệ quả của nạp âm 60 năm Hoa Giáp. Người viết đã hân hạnh chứng minh với quí vị quan tâm về cơ sở của bảng nạp âm Hoa giáp – dù theo sách Tàu; hay cội nguồn của nó là văn minh Lạc Việt – thì cũng là Hà Đồ. Bây giờ chúng ta cùng quán xét trên Hà Đồ và độ số của nó với độ số cục do sách Tàu viết lại thì chúng khác nhau ở cục số của Thuỷ / Hoả.
Điều này được mô tả như sau:

SỐ CỤC TRONG TỬ VI--------------ĐỘ SỐ HÀNH TRÊN HÀ ĐÔ
Theo cổ thư chữ Hán

* Thuỷ "NHỊ" cục.-----------------* Thuỷ "Lục" cục


Mộc Tam Cuc.------------------------ Mộc Tam Cục
Kim Tứ Cục--------------------------- Kim Tứ Cục
Thổ Ngũ Cục------------------------- Thổ Ngũ Cục

*Hoả "LỤC" cục----------------------* Hoả "Nhị" cục

Như vậy; chúng ta cũng nhận thấy rằng sự sai lệnh này ở đúng vị trí của hai hành Thuỷ/Hoả. Chúng ta cũng biết rằng:

Hành của cục trong Tử Vi chính là hành của tháng an Mệnh theo năm sinh của đương số.

Bởi vậy; khi Thuỷ/ Hoả đã đổi chỗ cho nhau trong Lục thập hoa giáp thì hành của cục cũng sẽ đổi Thuỷ & Hoả. Điều này được miêu tả như sau:

CỤC SỐ TRONG TỬ VI-------------- ĐỘ SỐ HÀNH TRÊN HÀ ĐỒ
Theo Lạc Thư hoa giáp


* Hoả NHỊ Cục.------------------------- * Hoả NHỊ Cục


Mộc Tam Cuc.---------------------------- Mộc Tam Cục
Kim Tứ Cục------------------------------- Kim Tứ Cục
Thổ Ngũ Cục----------------------------- Thổ Ngũ Cục

* Thuỷ LỤC Cục------------------------- *Thuỷ LỤC Cục

Kính thưa quí vị quan tâm!
Như vậy; chúng ta lại thấy một sự trùng khớp hợp lý giữa độ số cục trong LẠC THƯ HOA GIÁP với Hà đồ - vốn là nguyên lý căn để của nó.
Còn bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán thì ngay cả người Hán cũng chẳng biết nguyên lý nào tạo ra nó và rối mù. Trước hết là không có tính nhất quán bởi độ số cục ngay từ đồ hình tạo ra nó là Hà Đồ (Đã chứng minh ở trên: Nguyên lý nghịch chiều tương sinh của Hà Đồ).

Kính thưa quí vị quan tâm
Người viết đã hân hạnh trình bày về tính Qui luật và Khả năng tiên tri là hai trong số những tiêu chí để thẩm định một lý thuyết khoa học.

Không có tính qui luật thì không có khả năng tiên tri.

Bản chất của thuyết Âm Dương ngũ hành là một lý thuyết thống nhất vũ trụ; nhất quán và hoàn chỉnh; đáp ứng đầy đủ mọi tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học và cho những tiêu chí của một lý thuyết thống nhất mà những nhà khoa học hàng đầu đang mơ ước (Xin xem phần chứng minh trong: Định mệnh có thật hay không?. Mục "Nhưng môn học khác".Chân Thuyên.org).
Xét về góc độ khoa học thì khả năng tiên chi là hệ quả tất yếu của một lý thuyết khoa học đã hoàn chỉnh. Bởi vậy; tính qui luật là không thể thiếu được; là yếu tố cần trong một lý thuyết thống nhất và hoàn chỉnh. Điều này ko thể tìm thấy trong các bản văn chữ Hán lưu truyền từ hàng ngàn năm nay; vì một lý thuyết tiền đề bị thất truyền. Khả năng tiên tri trong các phương pháp ứng dụng từ các cổ thư này bị hạn chế bởi những sai lệch.
Kỳ lạ thay! Tính qui luật này trong thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ có thể được xác định từ văn minh Lạc Việt; cội nguồn của nền văn hoá Đông phương và lịch sử gần 5000 văn hiến của người Việt.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp:
ỨNG DỤNG CỦA CỤC SỐ TRONG LẠC THƯ HOA GIÁP & TỬ VI

Thiên Sứ
12-07-2005, 07:38 AM
PHÁP ĐẠI UY NỖ
Lạc thư hoa giáp lý giải các vấn đề liên quan

ỨNG DỤNG CỦA CỤC SỐ TRONG LẠC THƯ HOA GIÁP & TỬ VI

Kính thưa quí vị quan tâm!
Mục đích của chủ đề này nhằm chứng minh cho Hà Đồ chính là đồ hình căn bản của Lý học Đông phương; trên cơ sở tiêu chí khoa học hiện đại. Bởi vậy; Lạc thư hoa giáp và các vấn đề liên quan đến nó là một yếu tố cần liên hệ chứng minh cho tính nguyên lý căn để của Hà Đồ trong học thuật cổ Phương Đông và không phải chủ đề của bài viết. Do đó; phần chứng minh: Tính hợp lý của Lạc Thư hoa giáp giải thích những hiện tương liên quan; không phải mục đích của bài viết này. Vì thế người viết rất mong sự cảm thông của quí vị; xin tham khảo thêm trong sách:Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp. Nxb VHTT 2002.
Tuy nhiên; sự thay đổi hành Thuỷ & Hoả trong Bảng Hoa giáp đã được sự quan tâm của nhiều quí vị trong và ngoài diễn đàn. Trong đó có cả sự hiểu lầm và sự phản bác trên cơ sở sự hiểu lầm này. Do đó; người viết xin được dành bài viết này để nói rõ hơn về thực chất của sự thay đổi hai hành Thuỷ & Hoảtrong bảng Hoa giáp.

@ Sự thay đổi Thuỷ Hoả trong bảng hoa giáp chỉ giới hạn trong hai hành Thuỷ và Hoả; không có sự thay đổi ở các hành khác.

@ Sự thay đổi Thuỷ Hoả trong bảng hoa giáp chỉ giới hạn ở bảng này; không phải là sự thay đổi ở những vấn đề liên quan khác giữa Thuỷ &Hoả trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Có người cho rằng sự thay đổi này trong bảng hoa giáp thì Thuỷ &Hoả trong thập thiên can và Địa chi cũng phải thay đổi là một sai lầm. Thí dụ như cho rằng: Bính Đinh Hoả phải đổi thành Thuỷ; hoặc Tỵ Ngọ Hoả cũng đổi thành Thuỷ là sai lầm.

@ Sự thay đổi Thuỷ & Hoả trong bảng hoa giáp là một sự hiểu chỉnh hạn chế chỉ ứng dụng trong hai hành Thuỷ & Hoả; chứ ko phải là một sự phủ định tính tương tác của ngũ hành trong bảng hoa giáp với những vấn đề liên quan.

@ Sự thay đổi hành Thuỷ& Hoả trong Lạc thư hoa giáp so với Lục thập hoa giáp chứng tỏ sự sai lệch trong cổ thư chữ Hán truyền lại; là một trong sự phát triển tất yếu tiến tới sự hoàn chỉnh; nhất quán; nhằm chứng tỏ quan niệm cho rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán; hoàn chỉnh và là một lý thuyết thống nhất vũ trụ; giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người với khả năng tiên tri. Học thuyết này thuộc về dân tộc Việt; là nền tảng của danh xưng văn hiến với lịch sử gần 5000 năm của dân tộc Việt và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương. Quan niệm này nhân danh khoa học; nên nó phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí của khoa học hiện đại.

Kính thưa quí vị quan tâm!
Bảng Hoa giáp là một trong những nguyên tắc có tính tiền đề với những ứng dụng trong học thuật cổ Đông phương. Cho nên;tính tất yếu của sự hiệu chỉnh hai hành Thuỷ & Hoả này sẽ dẫn đến sự hiểu chỉnh trong một số sự ứng dụng liên quan. Những bộ môn ứng dụng nào không liên quan đến nạp âm Ngũ hành trong bảng Hoa giáp sẽ ko bị ảnh hưởng bởi sự hiệu chỉnh này. Thí dụ trong Tử Vi sự hiệu chỉnh này sẽ ảnh hưởng tới những người có cục và Mệnh thuộc Thuỷ và Hoả.
Trong trường hợp chúng ta lấy tử vi theo các chương trình tử vi vi tính đã lập sẵn - vốn căn cứ theo bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán - thì chỉ khi:
* Gặp mạng Thuỷ và Hoả sẽ đối chiếu với bảng Lạc thư hoa giáp để hiệu chỉnh lại. Thí dụ:
Lá số của cựu tổng thống Irak SD Hussen; trước đây là: Giáng hạ Thuỷ; nay là Lư Trung Hoả.
* Gặp cục Thuỷ & Hoả thì sửa đổi lại và tất yếu những chòm sao và sao liên quan đến Cục Thuỷ hay Hoả phải an lại theo đúng tính chất của cục đó. Thí dụ:
Theo sách cổ chữ Hán; đương số có Thuỷ Nhị cục. Vì Thuỷ cục nên Trường sinh bắt đầu từ Thân. Nay theo Lạc thư hoa giáp là Hoả Nhị cục; Trường sinh bắt đầu từ Dần.
Tất cả những câu phú và phương pháp luận đoán liên quan đến Thuỷ & Hoả vẫn giữ nguyên giá trị; nhưng ứng dụng cho bảng Lạc Thư hoa giáp. Thí dụ:
Người có mệnh (Hoặc hạn) gặp Tử Phủ cư Dần tốt cho Hoả và không tốt cho Thuỷ vẫn nguyên giá trị. Nhưng điều này ứng dụng cho Lạc Thư hoa giáp.
Sự luận đoán đúng sai vẫn còn tuỳ thuộc vào yếu tố khả năng của người luận đoán. Nhưng cùng một người luận đoán và một phương pháp luận đoán sẽ là sự kiểm chứng tính chính xác của Lạc Thư hoa giáp.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Một trong những tiêu chí khoa học là:
Không có tính quy luật thì không thể có khả năng tiên tri
Nến văn minh Lạc Việt từ những di sản văn hoá phi vật thể đã chứng tỏ tính hoàn chỉnh; nhất quán; tính quy luật; khả năng giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan và khả năng tiên tri. Người viết rất cảm ơn sự quan tâm của quí vị nghiên cứu về môn Tử Vi sẽ có thời gian thực nghiệm tính hợp lý của Lạc Thư hoa giáp; nhân danh nền văn minh Lạc Việt với gần 5000 năm văn hiến.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp:
Giáp hợp Kỷ hoá Thổ…

LẠC THƯ HOA GIÁP & VẬN KHÍ TRONG HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN

Thiên Sứ
12-07-2005, 07:57 AM
PHÁP ĐẠI UY NỖ
Lạc thư hoa giáp lý giải các vấn đề liên quan

Giáp hợp Kỷ hoá Thổ…
LẠC THƯ HOA GIÁP & VẬN KHÍ TRONG HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN

Tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp, không chỉ giới hạn ở sự ứng dụng liên quan quan đến phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành đối với các cổ thư chữ Hán được công bố sau thời Hán. Ngay cả đối với cổ thư chữ Hán mà theo nội dung bản văn có từ trước Hán cũng chứng tỏ tính hợp lý của nó. Đó chính là sự lý giải của Lạc thư hoa giáp trong một nguyên lý bí ẩn được lưu truyền sau đây; trong cổ thư chữ Hán:

Giáp hợp Kỷ hoá Thổ.
Ất hợp Canh hoá Kim
Mậu hợp Quí hoá Hoả
Nhâm hợp Đinh hoá Mộc
Bính hợp Tân hoá Thuỷ.

Tiền đề này được ghi nhận trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn – một cuốn sách được coi là cổ nhất trong các sách liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành – thời Hoàng đế có niên đại ước tính 4000 năm trước CN. Trước cả thời vua Đại vũ tìm ra Lạc Thư trên lưng rùa và phát hiện ra Ngũ hành khoảng 2000 năm (Xét theo danh tính nhân vật thể hiện trong nội dung bản văn). Tất nhiên đây là điều vô lý! Các nhà nghiên cứu hiện đại – trong đó có cả Trung Hoa – cho rằng: Thời đại ra đời của cuốn Hoàng Đế nội kinh chỉ có thể xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước CN. Tôi không bảo họ sai. Họ có quyền đưa ra những luận cứ để tìm một giả thuyết hợp lý cho niên đại xuất hiện của cuốn Hoàng Đế nội kinh. Nhưng với bất cứ giả thuyết nào thì cũng là sự phủ nhận giá trị niên đại lịch sử - thời Hoàng Đế – theo nội dung cuốn sách. Đây sẽ là một hiệu ứng dây truyền dẫn đến sự xét lại toàn bộ giá trị lịch sử của tất cả các thư tịch cổ chữ Hán liên quan đến học thuật cổ Đông phương. Điều này đã xảy ra trên thực tế; bởi chính các nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa; do tính mâu thuẫn nội tai trong nội dung tương quan thể hiện thời gian lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành từ cổ thư chữ Hán.

Trở lại với chủ đề của bài viết này; tôi xin được tường tiếp như sau:
Trong bài viết: Hà Đồ lý giải nguyên lý tương hợp của Thập thiên can (Bài trên trong topic này); tôi đã hân hạnh tường với quí vị về sự giải thích tính tương hợp của thập Thiên Can. Điều mà từ cổ thư chữ Hán cho đến những nhà nghiên cứu hiện đại cũng rất mơ hồ (Đã chứng minh). Nhưng trong tiền đề này; sự bí ẩn đã tăng thêm phần ngạc nhiên nữa là:

Tại sao Giáp hợp Kỷ lại hoá Thổ?….

Những học giả Trung Hoa hiện đại cũng đã có những cố gắng giải thích hiện tượng này. Xin quí vị quan tâm xem đoạn trích dẫn sau đây:

Trong cuốn Dự đoán theo tứ trụ ông Thiệu Vĩ Hoa có đưa ra hai
cách lý giải sau đây:

1- Giáp hợp với Kỷ hóa Thổ là năm Giáp, năm Kỷ lấy Bính làmđầu, Bính Dần là tháng giêng của năm Giáp, năm Kỷ. Bính là Hỏa,Hỏa sinh Thổ nên Giáp hợp Kỷ hóa Thổ.
Ất hợp với Canh hóa Kim là nói năm Ất, năm Canh lấy Mậu làmđầu, Mậu Dần là tháng giêng của năm Ất, năm Canh. Mậu là Thổ, Thổsinh Kim nên Ất hợp Canh hóa Kim.
Bính hợp với Tân hóa Thủy là nói năm Bính, năm Tân lấy Canh làm đầu, Canh Dần là tháng giêng của năm Bính, năm Tân. Canh là Kim, Kim sinh Thủy nên Bính hợp với Tân hóa Thủy.
Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc là nói năm Đinh, năm Nhâm là lấyNhâm làm đầu, tức Nhâm Dần là tháng giêng của năm Đinh, nămNhâm. Nhâm là Thủy, Thủy sinh Mộc nên gọi Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc.
Mậu hợp Quí hóa Hỏa, tức là năm Mậu, năm Quí lấy Giáp làmđầu, Giáp Dần là tháng giêng của các năm Mậu, năm Quí. Giáp làMộc, Mộc sinh Hỏa nên Mậu hợp Quí hóa Hỏa.

2- Có ý kiến nói mười can hóa hợp với nhau là do phương vị của 28 ngôi sao trên trời quyết định.
Mười can hóa hợp là Dương hợp với Âm , Âm hợp với Dương, là Âm Dương hóa hợp. Sách “Chu dịch” có câu: “Một Âm, một Dương gọi là một đạo.” Âm Dương hợp với nhau như nam nữ hợp với nhau để thành đạo vợ chồng.

Trong sách Hoàng Đế Nội kinh với suy đoán vận khí, tác giả Đàm Thành Mậu cũng nhắc tới tiền đề trên mà ông đã ứng dụng trong việc suy đoán vận khí cho những lý luận trong y học. Ông lý giải như sau:

“Tại sao thuộc tính của Thiên can hóa năm vận lại không đồng
nhất? Đó là bởi vì Thiên can ghép với Ngũ hành là lấy quan hệ năm
phương, năm mùa để xác định, mà năm vận thì căn cứ vào biến hóa
tượng Trời, cũng chính là sự biến hóa của các sao trên trời” .

Qua phần trích dẫn, bạn đọc cũng nhận thấy rằng:
Cho đến tận bây giờ trải hàng thiên niên kỷ - các nhà lý học Trung Hoa cũng chỉ có những sự lý giải mơ hồ tiền đề nói trên. Như vậy; mặc dù nền văn minh Hoa Hạ tự nhận là cội nguồn của nền Lý học Đông phương; nhưng những hậu duệ tài năng của nền văn minh Hoa Hạ trong suốt hàng ngàn năm vẫn ko thể lý giải được bí ẩn những giá trị văn hoá mà họ cho là của chính họ.Không chỉ một hiện tượng này; mà hàng loạt những hiện tượng tương tự khác; đã chứng tỏ không hề có tính thừa kế trong sự hình thành và phát triển; liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh Hoa Hạ.
Oái oăm thay! Những bí ẩn đó lại được lý giải một cách hợp lý; hoàn chỉnh; nhất quán; có tính qui luật và khả năng tiên tri hoàn hảo từ nền văn minh Lạc Việt. Điều này cũng bắt đầu từ LẠC THƯ HOA GIÁP mà nguồn gốc của nó từ đồ hình huyền bí trong nền lý học Đông phương là Hà Đồ - Pháp Đại uy nỗ trong văn minh Lạc Việt.
Trước khi đi vào chứng minh cho luận điểm này; xin quí vị quan tâm xem lại đồ hình Lạc Thư Hoa giáp của người Lạc Việt thể hiện bằng hình tròn ở bài viết trên. Qua đồ hình này quí vị cũng nhận thấy rằng:
Một chu kỳ Lạc Thư Hoa giáp (Một Kỷ/ 30 năm) được chia làm năm phần (Ngũ Vận) và một vận gồm 6 năm (Lục khí). Điều này không bao giờ có thể được thực hiện ở bảng Hoa Giáp trong cổ thư chữ Hán vì sự sai lệch giữa hành Thuỷ và Hoả.
Trên cơ sở Lục Khí và Ngũ vận theo Lạc Thư hoa giáp chúng ta so sánh với chu kỳ 60 năm vận khí được thể hiện trong sách Hoàng Đế nội kinh Tố vấn như sau:

http://lyhoc.viettop.net/vankhi60nam.jpg

Qua bảng trên cho chúng ta thấy một sự trùng khớp hoàn toàn những khái niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành với Ngũ Vận và lục khí trong Lạc Thư hoa giáp và cũng là sự giải thích hoàn hảo cho tiền đề bí ẩn là luận đề của riêng bài viết này; Giáp hợp Kỷ hoá Thổ. Điều này được tường rõ hơn như sau:


@ Giáp hợp Kỷ hoá Thổ.
Từ Giáp Tý đến Kỷ Tỵ (Một vận/ 6 năm), Bắt đầu từ Thái Cung Thổ
vận kết thúc ở Thiếu Cung Thổ vận.

@ Ất hợp Canh hoá Kim.
Từ Canh Ngọ đến Ất Hợi (6 năm). Bắt đầu từ Thái Thương
Kim vận kết thúc ở Thiếu Thương Kim vận.

@ Bính hợp Tân hoá Thuỷ.
Từ Bính Tý đến Tân Tỵ (6 năm). Bắt đầu từ Thái Vũ Thuỷ vận
kết thúc ở Thiếu Vũ Thuỷ vận.

@ Nhâm hợp Đinh hoá Mộc.
Từ Nhâm Ngọ đến Đinh Hợi (6 năm). Bắt đầu từ Thái Giác
Mộc vận kết thúc ở Thiếu Giác Mộc vận.

@ Mậu hợp Quý hoá Hoả.
Từ Mậu Tý đến Quý Tỵ (6 năm). Bắt đầu từ Thái Chuỷ Hoả
vận kết thúc ở Thiếu Chuỷ Hoả vận.

Kính thưa quí vị quan tâm.

Hiện tượng của một tiền đề bí ẩn trong các phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương - một lần nữa - lại cho thấy chỉ có thể lý giải từ Lạc thư hoa giáp được phục hồi từ văn minh Lạc Việt; bởi tính chất thể hiện Ngũ vận và Lục khí trong một Kỷ của nó. Trong bảng Hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán không thể nào thể hiện được điều này. Do đó, người ta không thể nào có sự liên hệ so sánh. Đó là nguyên nhân chính để các nhà nghiên cứu Lý học Đông phương trải qua hơn 2000 năm không phát hiện được sự bí ẩn của bài phú truyền nói trên. Sự tương ứng ngũ âm vận của bài phú truyền với ngũ vận trong Lạc thư hoa giáp lại chứng tỏ rõ nét tính đồng đẳng trong sự tuơng quan giữa vận khí trong một vận với Thiên can.

Như vậy, với sự chứng minh ở trên đã chứng tỏ rằng:
Tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp dựa trên nền tảng căn bản của nó là Hà đồ đã chứng minh quan điểm cho rằng Hà đồ là nền tảng ứng dụng của khoa Thiên văn cổ Văn Lang, hệ quả và sự phát triển của hệ thống vũ trụ quan Âm Dương Ngũ hành. Từ đó, khẳng định tính nhất quán và hoàn chỉnh của học thuyết này đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội Đông phương cổ và cội nguồn của nó không thể bắt đầu từ nền văn minh Hoa Hạ. Sự phục hồi và hiệu chỉnh từ những vấn đề có tính căn để của học thuyết này qua phương pháp ứng dụng từ văn minh Lạc Việt đã chứng tỏ rằng: Nền văn minh Văn Lang đã tồn tại huy hoàng gần 3000 năm. Đó là một sự lý giải hợp lý cho thời gian hình thành, phát triển của một học thuyết tầm cỡ mà sự ứng dụng của nó bao trùm lên mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và con người một cách sâu sắc vi diệu.
Đây cũng là một sự chứng minh chủ nhân đích thực của Âm Dương lịch Đông phương thuộc về nền văn minh Văn Lang, khẳng định câu ca dao của tổ tiên truyền lại và được dân gian trân trọng lưu truyền qua hàng thiên niên kỷ.

Ai về nhắn họ Hy – Hòa
Nhuận năm sao chẳng nhuận và trống canh.

Bởi vậy – mặc dù có một số di tích khảo cổ tìm được trên đất của vùng sinh sống của người Hoa Hạ (Tại Ân Khư/ Thủ Đô của nhà Ân Thương thuộc Trung Hoa cổ đại) và những thư tịch lưu truyền về Âm Dương lịch gần như hoàn toàn bằng bản văn chữ Hán – thì ngay cả những hiện tượng mang tính hình thức đó; cũng không đủ cơ sở để chứng minh văn minh Hoa Hạ là chủ nhân đích thực của Âm Dương lịch Đông phương; vì những sai lệch và mơ hồ của nó. Sự tồn tại của những di vật khảo cổ trên đất nước Trung Hoa hiện nay; không có nghĩa rằng cội nguồn của nó – có niên đại tính bằng thiên niên kỷ - thuộc về văn minh Hán. Cũng như những bản văn cổ có nội dung liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành được thể hiện bằng hình thức văn tự Hán; thì điều này cũng không chứng tỏ được cội nguồn của nội dung ấy thuộc về văn minh Hán. Bởi vì; với một đế chế bao trùm các quốc gia lân bang bi chinh phục; thì phải có sự thống nhất về ngôn ngữ và chữ viết là một điều kiện tất yếu để bảo đảm tính thống nhất của đế chế. Trải hàng ngàn năm – đây ko phải là con số định lượng thời gian vô cảm nói trong một giây – thì tất cả mọi tinh hoa của các dân tộc bị chinh phục tất yếu phải chuyển sang văn tự Hán. Do đó; với hình thức văn tự Hán không phải là điều chứng tỏ một nội dung cội nguồn cũng thuộc về văn minh Hoa Hạ; khi mà tính mâu thuẫn trong lịch sử phát triển của thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái; cùng với những mâu thuẫn trong tương quan nội dung của nó không thể lý giải được.
Điều này chứng tỏ rằng nền văn minh Hoa Hạ chỉ tiếp thu một cách không hoàn chỉnh một nền văn minh đã mất và bị Hán hoá.
Những sự chứng minh ở trên cho thấy:
Nền văn minh Lạc Việt - một thời trải gần 3000 năm kỳ vĩ ở miền Nam sông Dương tử - là chủ nhân đích thực của nền Lý học cổ đông phương.
Chính những giá trị văn hiến đồ sộ với bề dày của nền văn minh này; nên cho đến tận bây giờ; dù qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử; nhưng chỉ với những di sản ít ỏi còn lại; cũng đủ để phục hồi lại những giá trị đích thực của nó.
Chính sự phát triển của nền khoa học hiện đại; cho đến ngày nay; mới đủ hình thành những tiêu chí khoa học để thẩm định một chân lý. Và lúc ấy mới hội đủ những nhân duyên để phục hồi nền văn minh Khoa đẩu kỳ vĩ của người Lạc Việt. Di huấn của tổ tiên đã để lại qua truyện Trê Cóc:

Cóc Mẹ (Biểu tượng của văn minh Lạc Việt) không ở dưới nước (Tức là đã mất nước). Nên đàn nòng nọc (Văn minh Khoa đẩu) bị cá Trê lấy mất. Cóc mẹ thưa kiện bị sự thiển cận chỉ nhìn thấy hình thức giống Trê của Nòng Nọc nên xử Mẹ Cóc thua kiện (Những bản văn ghi lại những giá trị văn hoá Phương Đông bằng chữ Hán). Mẹ Cóc đau khổ vì mất con. Nhưng Nhái bén đã khuyên Mẹ Cóc hãy chờ đợi: Chính những quy luật phát triển của tự nhiên; xã hội và con người khi đủ nhân duyên thì con của Cóc sẽ về với Mẹ Cóc.
Nền văn minh Khoa Đẩu rực rỡ và đầy tính nhân bản sẽ trở về với chủ nhân đích thực của nó là người Lạc Việt.
Mẹ Cóc đã đợi chờ. Phải chăng thời gian đã đủ nhân duyên như lời một bài ca nổi tiếng Hòn vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thuơng:

Ta cố đợi ngàn năm
Một ngàn năm nữa sẽ qua…

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp:
PHÁP ĐẠI UY NỖ

HÀ ĐỒ VÀ PHƯƠNG PHÁP NẠP CHI TRONG BỐC DỊCH

Thiên Sứ
13-07-2005, 08:49 PM
PHÁP ĐẠI UY NỖ

HÀ ĐỒ VÀ PHƯƠNG PHÁP NẠP CHI TRONG BỐC DỊCH


Kính thưa quí vị quan tâm.


Bài viết này vốn từng là một trong những chủ đề gây tranh luận sối nổi một thời. Chính từ sự gợi ý ban đầu của Pháp Vân liên quan đến việc nạp Chi:
Chi Ngọ nạp Chấn.
Từ tính hợp lý của hiện tượng này, nên người viết đã nhận thấy rằng:

Việc nạp Chi trong Bốc Dịch từ cổ thư chữ Hán ko mang tính qui luật.

Nhưng chính Hà Đồ - với danh xưng PHÁP ĐẠI UY NỖ của người Lạc Việt – lại chứng tỏ tính nguyên lý cho một qui luật hoàn hảo của phương pháp nạp Chi trong Bốc Dịch.
Trung thành với tiêu chí khoa học:

Một giả thuyết khoa học được coi là đúng; nếu giải thích một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó một cách có hệ thống; hoàn chỉnh; nhất quán; có tính khách quan; tính qui luật và khả năng tiên tri.

Bởi vậy; bài viết này trong chủ đề Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt chính là sự tiếp tục chứng tỏ rõ hơn sự phù hợp với tiêu chí khoa học của luận đề nhân danh khoa học cho rằng:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính qui luật, tính khách quan và một khả năng tiên tri vượt xa tất cả các lý thuyết khoa học hiện đại nhất hiện nay. Trong nền văn minh hiện đại, học thuyết này xuất phát từ văn minh Lạc Việt; có cội nguồn lịch sử và văn hoá gần 5000 văn hiến.

Kính thưa quí vị quan tâm!
Nền văn hóa Đông phương vốn được coi là huyền bí trong con mắt mọi người từ hàng ngàn năm nay. Những bài tham biện; tranh luận ngay trong diễn đàn của chúng ta từ trước đến nay và của cả các nhà nghiên cứu cổ kim; đã chứng tỏ điều này.
Người viết đã chứng minh rằng: Sở dĩ như vậy; chính vì những giá trị của văn hoá Đông phương chỉ tồn tại phương pháp ứng dụng. Phần lý thuyết và những nguyên lý căn để; là tiền đề cần có của nó thì gần như thất truyền hoàn toàn. Nhưng trong những phương pháp ứng dụng của nó lại có vẻ như có phương pháp luận; có nguyên tắc và qui luật hẳn hoi. Bởi vậy; sự đặt v/d hoài nghi về tính hợp lý trên chính những nguyên tắc của nó, là điều hoàn toàn mang tính học thuật và khoa học. Điều này dễ hiểu; vì nếu nó sai hoàn toàn - hoặc thực sự là mê tín dị đoan - thì ko có cơ sở nào để lưu truyền trên thực tế trải hàng ngàn năm. Nhưng nếu nó hoàn chỉnh; rõ ràng và đúng hoàn toàn; thì đã không có gì gọi là huyền bí. Người viết bài này; ko phải là người đầu tiên đặt vấn đề hoài nghi; chắc chắn cũng sẽ ko phải người cuối cùng có mục đích làm sáng tỏ cội nguồn và nguyên lý của nó. Vấn đề được đặt ra và bàn trong bài viết này là:

Nguyên lý nạp chi trong bói Dịch.

Trong bài này; người viết tiếp tục chứng minh rằng:
Trên cơ sở Hà Đồ và Hậu thiên Lạc Việt là nguyên lý của phương pháp nạp Chi. Sự chứng minh này nằm trong một hệ thống hoàn chỉnh; nhất quán tiếp tục chứng tỏ rằng:
Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ chính là nguyên lý căn để của tất cả những phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương.

Bấy giờ chúng ta cùng xem lại phương pháp nạp chi theo sách cổ chữ Hán truyền lại như sau:

Quẻ Dương:
* Càn nạp Tý;
* Khảm nạp Dần.
* Cấn nạp Thìn.
* Chấn nạp Tý
Quẻ Âm:
* Tốn nạp Sửu.
* Ly nạp Mão.
* Khôn nạp Mùi.
* Đoài nạp Tỵ.

Tất cả nhưng quí vị đã tham khảo về Bốc Dịch; đều biết qui tắc nạp chi như trên. Những qui tắc này; được mặc nhiên coi là đúng không phải từ bây giờ mà là hàng ngàn năm nay.

Nhưng căn cứ vào đâu để có quy tắc “Nạp chi” này?

Tất nhiên; hiện tượng này đã được các nhà lý học cổ kim và các nhà nghiên cứu mổ xẻ; phân tích trải cũng hàng ngàn năm. Nhưng có thể nói:

Tất cả mọi sự phân tích đều chỉ nhằm giải thích cho sự hợp lý của qui tắc “Nạp chi” đã tồn tại trên thực tế; chứ không phải là chứng minh cho một nguyên lý có tính tiền đề của qui tắc đó và là sự lý giải hợp lý từ nguyên lý tiền đề này.

Điều này cũng dễ hiểu. Vì khi những nguyên lý lý thuyết và những tiền đề căn để của nó đã thất truyền – và trước khi tiêu chí khoa học hiện đại vào cuộc - thì căn cứ vào đâu để bảo nó sai?
Trước khi chứng minh cho tính hợp lý của Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt trong việc lý giải nguyên lý nạp chi trong Bốc Dịch, chúng ta cùng tìm hiểu; so sánh một số những phương pháp và cách lý giải liên quan, như sau:


THẬP THIÊN CAN TRONG BÔC DỊCH

Sự liên hệ của Thiên Can trong bốc dịch không phải chủ để chính trong bài viết này. Nhưng vì là sự liên hệ gần gũi; nên người viết xin được giới thiêu để quí vị quan tâm tham khảo.

"Lãi Hải Tập" nói:
"Thuyết về Nạp Giáp, từ Giáp là 1 đến Nhâm là số 9, đó là số Dương bắt đầu và cuối hết vậy, vì vậy quay về Càn, Dịch thuận số vậy.
Ất là số 2 đến Quý là số 10, số Âm bắt đầu và hết ở đó, vì vậy quay về Khôn, Dịch nghịch số vậy.

* Càn nhất sách, một lần tìm mà được nam là Chấn.
Khôn nhất sách, một lần tìm mà được nữ là Tốn (1).
Vì vậy:
Canh nhập Chấn.
Tân nhập Tốn.

*Càn lại sách tìm lần nữa, mà được nam là Khảm.
Khôn lại sách tìm lần nữa mà được nữ Ly.
Vì vậy:
Mậu quy về Khảm.
Kỷ xu theo Ly.

* Càn sách tìm lần thứ 3 mà được nam là Cấn.
Khôn sách tìm lần thứ 3 mà được nữ là Đoài.
Vì vậy:
Bính theo Cấn.
Đinh theo Đoài.

Dương sinh ở Bắc mà thành ở Nam, vì vậy Càn bắt đầu ở Giáp Tí mà kết thúc ở Nhâm Ngọ.
Âm sinh ở Nam mà thành ở Bắc, vì vậy Khôn bắt đầu ở Mùi mà kết thúc ở Quý Sửu.
Chấn Tốn sách tìm một lần (từ Càn Khôn), vì vậy Canh Tân bắt đầu ở Tí Sửu (tức là Chân bắt đầu ở Canh Tí, Tốn bắt đầu ở Tân Sửu).
Khảm Ly sách tìm lần nữa (lần thứ 2 từ Càn Khôn), vì vậy Mậu Kỷ bắt đầu ở Dần Mão (tức là Khảm bắt đầu ở Mậu Dần, Ly bắt đầu ở Kỷ Mão).
Cấn Đoai ba lần sách tìm (từ Càn Khôn), vì vậy Bính Đinh bắt đầu ở Thìn Tỵ (tức là Cấn bắt đầu ở Thìn là Bính Thìn, Đoài bắt đầu ở Tỵ là Đinh Tỵ".


ĐỒ HÌNH NẠP GIÁP 12 CHI


CÀN---------------KHÔN-------------CHẤN------------------TỐN
--- Nhâm Tuất.......- - Quý Dâu.........- - Canh Tuât..............--- Tân Mão
--- Nhâm Thân......- - Quý Hơi..........- - Canh Thân..............--- Tân Tỵ
--- Nhâm Ngo........- - Quý Sưu........--- Canh Ngo................- - Tân Mùi

--- Giáp Thin.........- - Ất Mao..........- - Canh Thin...............--- Tân Dậu
--- Giáp Dân..........- - Ất Ty...........- - Canh Dân................--- Tân Hợi
--- Giáp Ti............- - Ất Mui..........--- Canh Ti.................- - Tân Sửu

KHẢM-------------LY-----------CẤN------------ĐOÀI
- - Mậu Ti...........--- Kỷ Ty.......--- Bính Dân......- - Đinh Mùi
--- Mậu Tuât.......- - Kỷ Mui......- - Bính Ti.........--- Đinh Dậu
- - Mậu Thân.......--- Kỷ Dâu.....- - Bính Tuât.....--- Đinh Hợi

- - Mậu Ngo.........--- Kỷ Hơi......--- Bính Thân....- - Đinh Sửu
--- Mậu Thin........- - Kỷ Sưu.....- - Bính Ngo......--- Đinh Mão
- - Mậu Dân........--- Kỷ Mao....- - Bính Thin....--- Đinh Tỵ
(Tư liệu của Thiên Kỳ Quí. Bài “Nạp Giáp”.Pháp Vân. Mục “Bói Dịch” .Tuvilyso.com)

Như vậy; qua đoạn trích dẫn trên cho thấy nội dung thể hiện nguyên tắc nạp Thiên Can phối với 8 quẻ. Nguyên tắc này không liên quan trực tiếp đến chủ để của bài viết. Nhưng người viết xin được làm rõ tính qui luật của nguyên tắc này như sau:
* Càn & Khôn là hai quái căn bản.

* Sự hoán vị lần thứ nhất của hào đầu tính từ dưới lên (Nhất sách) được hai quái là Chấn &Tốn.

http://lyhoc.viettop.net/nhatsach.jpg

* Sự hoán vị lần thứ hai của hào 2 tính từ dưới lên; được hai quái là Khảm &Ly

http://lyhoc.viettop.net/nhisach.jpg

* Sự hoán vị lần thứ 3 của hào 3 tính từ dưới lên được hai quái là Cấn Đoài.

http://lyhoc.viettop.net/tamsach.jpg

Bây giờ chúng ta sắp thập thiên can theo thứ tự từ 1 đến 10 (Từ trái sang phải/ Thuận chiều) như sau:
1/Giáp – 2/Ất – 3/Bính – 4/Đinh – 5/Mậu – 6/Kỷ - 7/Canh – 8/Tân – 9/Nhâm – 10/Quí.
Trong đó: 1/Giáp; 2/Ất; 9/Nhâm;10/Quí thuộc về hai quái khởi nguyên là Càn /Khôn như lời trích dẫn đã viết:

”Từ Giáp là 1 đến Nhâm là số 9, đó là số Dương bắt đầu và cuối hết vậy, vì vậy quay về Càn, Dịch thuận số vậy. Ất là số 2 đến Quý là số 10, số Âm bắt đầu và hết ở đó, vì vậy quay về Khôn, Dịch nghịch số vậy.”

Bởi vậy; với ba cặp quái còn lại của sự giao hoán Càn /Khôn sẽ tương ứng theo chiều từ phải sang trái (Nghịch chiều) của 3 cặp Thiên Can còn lại như sau:

Sách hào 1: Chấn & Tốn - Ứng với 7/ Canh & 8/ Tân.
Sách hào 2: Khảm & Ly - Ứng với 5/ Mậu & 6/ Kỷ
Sách hào 3: Đoài & Cấn - Ứng với 3/ Bính & 4/ Đinh.
Những quái thuộc Dương là: Càn; Khảm; Cấn; Chấn liên hệ với Thiên Can Dương.
Những quái thuộc Âm là: Khôn; Ly; Tốn; Đoài liên hệ với Thiên Can Âm.
Như vậy; phương pháp nạp giáp với bát quái mang tính qui luật.
Phần tiếp theo đây chúng ta tìm hiểu về phương pháp nạp chi.

PHƯƠNG PHÁP NẠP CHI TRONG BÔC DỊCH

Bây giờ; chúng ta khảo sát tiếp sự lý giải của “Khảo nguyên” trong đoạn trích dẫn dưới đây.

"Khảo Nguyên" nói rằng:
"Đó là phương Pháp lấy sáu hào cúa Bát Quái phân ra mà nạp với lục thời của Địa Chi. Hễ Càn tại nội quái thì là Giáp nạp với Địa Chi Tí Dần Thìn. Tức là sơ cửu Giáp Tí, cửu nhị Giáp Dần, cửu tam Giáp Thìn. Tại ngoại quái thì là Nhâm, nạp với Địa Chi Ngọ Thân Tuất, tức là cửu tứ là Nhâm Ngọ, cửu ngũ là Nhâm Thân, thượng cửu là Nhâm Tuất. Hễ Khôn tại nội quái thì Ất nạp với Địa Chi Mùi Tỵ Mão, tức là sơ lục là Ất Mùi, lục nhị là Ất Tỵ, lục tam là Ất Mão. Tại ngoại quái thì là Quý, nạp Sửu Hợi Dậu, tức là lục tứ là Quý Sửu, lục ngũ là Quý Hợi, thượng lục là Quý Dậu. Bởi vì là Càn Khôn đều nạp với hai Can cho nên phân ra làm nội ngoại hai quái. Ngoài ra sáu quẻ, chỉ nạp một Can, dựa vào thứ tự phối với nhau với chỗ nạp lục thời có thể được.

Phương pháp cúa Bát Quái nạp với Địa Chi, là Chi Dương đều thuận hành, Chi Âm đều nghịch chuyển. Bát Quái dựa vào chỗ thứ tự của Âm Dương, chỗ nạp Địa Chi đều lệch nhau một ngôi vi. Chỉ có chỗ nạp của Chấn với Càn là giống nhau, đại khái ý tứ là trưởng tử thừa tiếp thể của cha. Khôn không khởi ở Sửu mà khởi ở Mùi, đặc biệt cùng với Lạc Thư số ngẫu khởi ở Mùi. Ở đồ hình hậu thiên, Khôn đóng ở Tây Nam, nhạc luật Lâm Chung là địa, thống nhất mà ứng với khí của tháng Mùi, hợp nhau. Tại chỗ có ở trong thuật số, chỉ có Nạp Giáp hết sức gần với lý lẽ. Nay 'Hỏa Châu Lâm' chiêm quẻ, chỗ dùng đúng chính là loại phương pháp này".
……..
(Chú Ý: Bát Quái cũng có phân Âm Dương. Dương Quái là Càn Khảm Cấn Chấn; Âm Quái là Tốn Ly Khôn Đoài. Ý nói "Dương thuận Âm nghịch và lệch nhau một vị", tức như quẻ Càn khởi đầu là Tí Dương Chi đi thuận theo Dương Chi đến Tuất là hết 6 hào Dương; Khảm khởi đầu là Dần Dương Chi đi thuận theo Dương Chi đến Tí hết 6 hào Dương; Cấn khởi đầu là Thìn Dương Chi đi thuận theo Dương Chi đến Dần là hết 6 hào Dương. Riêng Chấn và Càn khởi giống nhau nên ở đây không lập lại nữa. Âm Quẻ chuyển nghịch, như quẻ Tốn khởi đầu là Sửu Âm Chi chuyển nghịch theo Âm Chi đến Mão là hết 6 hào Âm; Ly khởi đầu là Mão Âm Chi chuyển nghịch đến Tỵ là hết 6 hào Âm; Khôn khởi đầu là Mùi Âm Chi chuyển nghịch theo Âm Chi đến Dậu là hết 6 hào Âm; Đoài khởi đầu là Tỵ Âm Chi chuyển nghịch theo Âm Chi đến Mùi là hết 6 hào Âm).
(Tư liệu của Thiên Kỳ Quí. Bài “Nạp Giáp”. Pháp Vân. Mục “Bói Dịch” .Tuvilyso.com)


Qua đoạn trích dẫn trên; quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng:
“Khảo Nguyên” chỉ giải thích một hiện tượng đã có sẵn. Và ko hề có chứng minh (Tương tự như “Lã Hải Tập”. Nhưng phương pháp nạp giáp thể hiện bởi sự lý giải trong sách “Lã Hải Tập” có tính qui luật. Đã dẫn giải). Bây giờ chúng ta khảo sát phương pháp nạp chi trong cổ thư chữ Hán qua cách lý giải của “Khảo Nguyên”.

Trước hết; chúng ta đều biết rằng:
Ấm lịch phân một chu kỳ năm có 12 địa chi là:
- 1/ Tý – 2/ Sửu – 3/ Dấn – 4/ Mẹo – 5/ Thìn – 6/ Tỵ
- 7/ Ngọ - 8/ Mùi- 9/ Thân – 10/ Dậu -11/ Tuất – 12/ Hợi.
Theo nguyên lý “Chi Âm nạp quái Âm và chi Dương nạp quái Dương” thì trong chu kỳ của 12 năm Địa chi, chỉ có thể phân Âm dương từng năm theo hai phương pháp như sau:

PHƯƠNG PHÁP 1

Dương:
1/ Tý – 3/ Dần – 5/ Thìn – 7/ Ngọ - 9/ Thân – 11/Tuất.

Âm:
2/ Sửu – 4/ Mão – 6/ Tỵ - 8/ Mùi – 10/ Dậu – 12/ Hợi.

PHƯƠNG PHÁP 2

Dương:
1/ Tý – 2/ Sửu – 3/ Dần – 4/ Mẹo – 5/ Thìn – 6/ Tỵ.

Âm:
7/ Ngọ – 8/ Mùi – 9/ Thân – 10/ Dậu – 11/ Tuất – 12/ Hợi.

Xin được lưu ý quí vị quan tâm là: Nhưng chi được làm đậm trong cả hai phương pháp trên là những chi được nạp âm đầu trong bát quái. Bây giờ chúng ta lần lượt quán xét từng phương pháp phân Âm Dương trong 12 chi ứng dụng trong nap chi của Bốc Dịch.


NAP CHI THEO PHƯƠNG PHÁP 2
Phương pháp này phân Âm Dương của 12 chi như sau:

Chi Dương:
Gồm 6 chi đầu là:
Tý - Sửu - Dần - Mẹo - Thìn - Tỵ.

Chi Âm:
Gồm 6 chi sau là:
Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất - Hợi.

Sách “Khảo nguyên” viết:

Hễ Khôn tại nội quái thì Ất nạp với Địa Chi Mùi Tỵ Mão, tức là sơ lục là Ất Mùi, lục nhị là Ất Tỵ, lục tam là Ất Mão. Tại ngoại quái thì là Quý, nạp Sửu Hợi Dậu, tức là lục tứ là Quý Sửu, lục ngũ là Quý Hợi, thượng lục là Quý Dậu.(Đã dẫn)
Với sự ghi nhận cách giải thích trong sách “Khảo Nguyên” và thực tế nạp chi của Bát quái được mô tả dưới đây:

Chi Dương:
1) Tý/ Càn & Chấn – 2) Sửu/ Tốn – 3) Dần/ Khảm – 4) Mẹo/ Ly - 5) Thìn/ Cấn – 6) Tỵ/ Đoài.

Chi Âm:
7) Ngọ/ 0 – 8/ Mùi /Khôn - 9) Thân/ 0 - 10) Dậu /0 – 11) Tuất /0 – 12) Hợi/ 0

Như vậy; chúng ta thấy rằng: Mặc nhiên; hai quái Càn /Khôn được nạp chi theo theo phương pháp 2 của 12 Địa chi. Tức là Càn nạp Tý (Đầu chi Dương và kết thúc ở Tỵ) và Khôn nạp Mùi (Chi Âm đầu tiên khởi từ Ngọ kết thúc ở Hợi).Với cách phân Âm Dương này thì trước hết nó giải thích được việc quái Chấn không thể nạp chi Ngọ. Vì chi Ngọ thuộc phần Âm của cách phân Âm Dương nói trên.
Như vậy; với phương pháp 2 và thực tế nạp chi qua phần trình bày ở trên thì quí vị cũng nhận thấy rằng:
* Ngoại trừ hai quái Càn /Khôn nạp theo đúng phương pháp 2:
Càn đầu quái Dương nạp Tý đầu chi Dương.
Khôn đầu quái Âm nạp Mùi đầu chi Âm
theo phương pháp 2.

Nhưng tất cả những quái khác đều không tuân thủ qui luật này.

Bởi vì: Nếu theo phương pháp 2 thì các chi Sửu/ Mẹo/ Tỵ đều thuộc chi Dương; không thể nạp quái Âm là Tốn/ Ly/ Đoài.
Đã có lời giải thích rằng:

Theo nguyên lý “Âm thuận tùng Dương” nên các quái Âm tương quan với quái Dương phải nạp chi Âm kế quái Dương.

Nhưng đó lại là sự bất hợp lý ngay trong phương pháp phân Âm Dương của phương pháp 2. Bởi vì; với phương pháp này thì các chi Sửu/ Mẹo/ Tỵ không được coi là các chi Âm.

* Ở chi Dương – theo phương pháp 2 – thì chỉ có 3 chi nạp quái; thừa ở chi đầu: vì có đến hai quái nạp chi Tý là Càn/ Chấn? Còn đuôi thì thiếu; do không nạp chi Ngọ.

* Ở chi Âm – theo phương pháp 2 – thì chỉ có 1 chi được nạp quái. Đó là chi Mùi/ nạp Khôn. Còn các chi khác thuộc Âm – theo cách phân Âm Dương của phương pháp 2 – đều không nạp quái nào.

* Ở các quái Dương nạp chi theo chiều thuận từ Càn/Tý => Khảm/Dần => Cấn/Thìn đến Chấn quay lại Tý. Nhưng ở các quái Âm thì chiều của các quái với chiều thuận của chi không có tính qui luật như trên:

2) Sửu/ Tốn đến 4) Mẹo/ Ly thuận chiều; nhưng 6) Tỵ/ Đoài/ đến 8) Mùi/ Khôn thì quái và chi lại nghịch chiều.

Bởi vậy; nếu phân Âm Dương của 12 chi theo phương pháp 2 thì tạp loạn; không theo qui luật nào (!?). Như vậy; theo “Khảo Nguyên”, khi xét về Quái Dương thì thiếu; Âm thì loạn. Nếu xét về chi thì Dương thì thừa mà Âm thì thiếu.
Như vậy; sự ứng dụng phân Âm Dương của 12 chi theo phương pháp 2 (Được định tính bằng: Khôn - đầu quái Âm - nạp chi Mùi và Càn - đầu quái Dương - nạp chi Tý) không phải là nguyên lý nạp chi trong Bốc Dịch.

Từ sự chứng minh này thì KHÔN không thể nạp chi ở Mùi.

Thiên Sứ

(Còn tiếp)

Thiên Sứ
17-07-2005, 02:40 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong hình vẽ minh hoạ của bài trên - người thực hiện đã nhầm lẫn trong việc thể hiện "Càn Khôn hoán nhị sách",xin xem lại là:
Ở quẻ Khảm - Ly.
Xin quí vị xem bài này đổi lại tên hai quẻ và dấu chấm ở hào hai.
Chân thành cáo lỗi và mong được sự cảm thông của quí vi. Thiên Sứ tôi sẽ nhờ sửa lại trong ngày gần đậy
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Thiên Sứ
17-07-2005, 03:24 PM
PHÁP ĐẠI UY NỖ
HÀ ĐỒ VÀ PHƯƠNG PHÁP NẠP CHI TRONG BỐC DỊCH
Tiếp theo

Kính thưa quí vị quan tâm.
Trong đoạn cuối của bài trên, người viết hân hạnh tường với quí vị là:
Quái Khôn không thể nạp chi Mùi.

Điều này được chứng minh như sau:
Theo cách phân Âm Dương của 12 Địa chi theo phương pháp 2 là:

Chi Dương:
Tý , Sửu , Dần, Mão, Thìn, Ty.

Chi Âm:
Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hơi.

Theo cách phân Âm Dương này thì chi Ngọ đứng đầu các chi Âm.
Do đó nếu phân Âm Dương của 12 Địa chi theo phương pháp này thì Quái Khôn - đứng đầu các quái Âm - chỉ có thể nạp chi Ngọ là chi đứng đầu các chi Âm và không thể nạp chi Mùi - đứng thư hai trong các chi Âm theo cách phân chia này. Nếu xác định Mùi là chi đứng đầu các chi Âm (Để nạp Khôn - quái đứng đầu quái Âm), thì tự nó đã chứng minh cách phân Âm Dương của 12 địa chi theo phương pháp 2 không phù hợp với việc Nạp chi trong Bốc Dịch. Bởi vậy, chúng ta phải chọn phương pháp 1 là phương pháp duy nhất còn lại trong việc phân Âm Dương của 12 Đại chi. Từ đó chúng ta sẽ quán xét tính hợp lý của phương pháp nạp chi trong Bốc Dịch.

NẠP CHI THEO PHƯƠNG PHÁP 1

Dương:
1/ Tý – 3/ Dần – 5/ Thìn – 7/ Ngọ - 9/ Thân – 11/Tuất.

Âm:
2/ Sửu – 4/ Mẹo – 6/ Tỵ - 8/ Mùi – 10/ Dậu – 12/ Hợi.

Theo phương pháp này và so sánh với thực tế sẽ là:

Quái Dương phối chi Dương
1/Tý/ Càn & Chấn – 3/ Dần/ Khảm – 5/ Thìn /Cấn – 7/Ngọ /0

Quái Âm phối chi Âm
2/ Sửu/ Tốn – 4/ Mão/ Ly – 6/Tỵ/ Đoài – 8/ Mùi/ Khôn.

Xét cách nạp chi theo phương pháp này - nếu quán xét tổng quát - thì có sự cân bằng trên nguyên lý tổng quát:

Quái Dương:
Càn - Chấn - Khảm - Cấn nạp chi Dương: Tý - Dần - Thìn - (Ngọ /0).

Quái Âm:
Tốn - Ly - Đoài - Khôn nạp chi Âm: Sửu - Mão - Tỵ - Mùi.

Như vậy , chúng ta đã xác định chính cách chia Âm Dương theo phương pháp 1 là hoàn toàn đúng trong hai phương pháp phân 12 Địa chi.
Bây giờ chúng ta đi vào quán xét tính qui luật chi tiết cho từng quái:

Từ sự biểu diễn ở trên quí vị quan tâm cũng dễ dáng nhận thấy rằng:
Ở chi Dương thì các quái thừa chi đầu (Càn/ Chấn) và thiếu chi cuối (Chi Ngọ không được nạp quái nào). Đây là một trong những lý do để Pháp Vân cư sĩ đặt vấn đề Ngọ nạp Chấn.

Nhưng nếu nạp chi theo phương pháp 1 thì chi Mùi không phải là đầu quái Âm; mà là chi Sửu.
Vậy; nếu coi Khôn là đầu quái Âm thì với cách phân Âm Dương 12 chi theo phương pháp 1:
Khôn cũng sẽ không thể nạp ở Mùi.
Vì lúc này chi Mùi cũng không phải là chi đứng đầu các chi Âm. Mà là chi Sửu.
Như vậy; với cả hai phương pháp phân Âm Dương cho 12 Địa chi đều chứng minh rằng:
Khôn không thể nạp chi Mùi.

Bây giờ chúng ta lại khảo sát một cách lý giải khác.
Sự lý giải này căn cứ theo tính chất qui ước của quái và sự nạp chi phụ thuộc vào tính chất này.

PHƯƠNG PHÁP NẠP CHI THEO TÍNH CHẤT QUÁI

Phương pháp này lý giải như sau:

Càn Khôn là thủ lãnh, chủ tể của Dương và Âm, do đó Càn khởi nạp (Chi) tại Tí, và Khôn khởi nạp tại Mùi ... Chủ tể Âm Dương, để cho rõ nghĩa xin gọi theo nghĩa gia đình cho dễ hiểu là Càn là Cha, Khôn là Mẹ sau đó sinh ra 6 con, ba trai và ba gái:

(1)Dương = Trưởng Nam = Chấn , (2) Âm = Trưởng Nữ = Tốn
(3)Dương = Trung Nam = Khảm, (4) Âm = Trung Nữ = Ly
(5)Dương = Thiếu Nam = Cấn, và (6) Âm = Thiếu Nữ = Đoài

Nạp Chi Càn (Cha)= Tí dần thìn ngọ thân tuất (Chi Dương)
Nạp Chi Khôn (Mẹ)= Mùi tỵ mão sửu Hợi dậu (Âm)

Trưởng nam thay Cha cùng Trưởng Nữ hợp cùng để đẫn dắt các em gánh vác sự nghiệp), vì thế Chấn thay Càn nạp chi tại tí (Dương)đi lên theo chiều thuận , hợp cùng Tốn nạp chi khởi tại Sửu (âm) cùng đi lên theo chiều nghịch, tiếp theo thứ tự là Trung Nam hợp cùng trung Nữ và Thiếu Nam hợp cùng Thiếu Nữ...

Tóm Luợc theo lý trên cách nạp chi của 6 con theo thứ tự như sau:

Quẻ Dương: nạp Chi gồm chi Dương:
Theo thứ tự từ vai vế: Trưởng Nam rồi kế đến là Trung Nam, và sau mới là Thiếu Nam:
Chấn (trưởng Nam)= Khởi tại Tí rồi Dần .v.v.
Khảm (Trung Nam)=(Tiếp theo Tí) khởi tại Dần rồi đến Thìn...
Cấn (Thiếu Nam) = (Tiếp theo Dần)Khởi tại Thìn, rồi dến ngọ.vv.

Quẻ Âm : nạp chi gồm các chi Âm: (Cũng theo thứ tự trên):
Trưởng Nữ, rồi đến Trung Nữ theo sau là Thiều Nữ:

Tốn (Trưởng Nữ)= Khởi tại Sửu rồi đến Mão ....
Ly (Trung Nữ) = Khởi tại Mão ....
Đoài (Thiếu Nữ) = Khởi tại Tỵ ....

Tóm lại: Trời đất (cha mẹ) định vị tại Tí Mùi, và tiếp nối là 3 cặp theo vai vế:

1)Trưởng nam cùng trưởng nữ khởi tại Tí Sửu (Chấn Tốn)
2)Trung Nam cùng Trung Nữ Khởi từ Dần Mão (Khảm Ly)
3)Thiếu Nam cùng Thiếu Nữ Khởi tại Thìn Tỵ (Cấn Đoài)

Qua đoạn trích dẫn ở trên thì cách giải thích này có một sự hợp lý hình thức cho sự giải thích của nó. Sự hợp lý hình thức rất tuyệt vời này thể hiện ở đoạn đã trích dẫn sau:

1)Trưởng nam cùng trưởng nữ khởi tại Tí Sửu (Chấn Tốn)
2)Trung Nam cùng Trung Nữ Khởi từ Dần Mão (Khảm Ly)
3)Thiếu Nam cùng Thiếu Nữ Khởi tại Thìn Tỵ (Cấn Đoài)

Chúng ta sẽ thấy tính qui luật liên tiếp về Địa chi qua các cặp Âm Dương là: Tí & Sửu; Dần & Mão; Thìn &Tỵ phối hợp một cách hài hoà với các cặp Nam & Nữ theo thuận tự lần lượt là Trưởng – Trung - Thứ/Út.
Nhưng tính mâu thuẫn của cách lý giải này là:

@ Lặp lại mâu thuẫn của cách phân Âm Dương theo “từng đoạn 6 năm”. Tức là: Càn phối với Tý và Khôn phối với Mùi. Mâu thuẫn của phương pháp này đã chứng minh ở phần trên.
@ Có mâu thuẫn nội tại theo cách giải thích này là:
Nếu cho rằng:
“Trưởng nam thay Cha cùng Trưởng Nữ hợp cùng để đẫn dắt các em gánh vác sự nghiệp), vì thế Chấn thay Càn nạp chi tại Tí (Dương)đi lên theo chiều thuận , hợp cùng Tốn nạp chi khởi tại Sửu (Âm) cùng đi lên theo chiều nghịch.”
Thì điều tất yếu quái Khôn/ Mẹ sẽ phải nạp chi Sửu cùng với Tốn /Trưởng nữ để bảo đảm tính nhất quán tương ứng với Càn/ Cha nạp chi Tý với Chấn/ Trưởng Nam. Nhưng ở đây; Khôn /Mẹ lại nạp chi Mùi!?
Như vậy; qua những phần trích dẫn và chứng minh ở trên; quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng:

Hoàn toàn không có tính qui luật dù giải thích bằng bất cứ phương pháp nào cho nguyên tắc nạp chi theo cổ thư chữ Hán.

Điều này cũng chứng tỏ rằng:
Những phương pháp và qui tắc nạp chi được trích dẫn ở trên chỉ là:
Sự lý giải một hiện tượng đã tồn tại trên thực tế chứ không phải là: Chứng minh cho nguyên lý là tiền đề cần có của phương pháp nạp chi.

Người viết bài này cũng xin được lưu ý quí vị quan tâm là:
Hiện tượng phi qui luật của phương pháp nạp chi trong Bốc Dịch từ cổ thư chữ Hán; không phải là hiện tượng và vấn đề duy nhất – trong các cổ thư chữ Hán – thể hiện sự bất hợp lý này. Có thể nói rằng: Tính mơ hồ và huyễn ảo trong các phương pháp ứng dụng từ cổ thư chữ Hán; có trong tất cả các phương pháp ứng dụng của học thuật cổ phương Đông. Sở dĩ có vấn đề này; chính là vì những phương pháp ứng dụng đó - cứ như từ trên trời rơi xuống - hoàn toàn không hề có một hệ thống lý thuyết với những nguyên lý căn để; làm cơ sở cho các phương pháp ứng dụng của nó. Điều này đã chứng tỏ trên thực tế:
Cho đến tận bây giờ - ngay ngày hôm nay; khi quí vị quan tâm đang xem những dòng chữ này – các nhà nghiên cứu cổ kim vẫn chưa thể chứng minh được một cách thuyết phục: Thuyết Âm Dương Ngũ hành có từ bao giờ trong cổ thư chữ Hán; mặc dù phương pháp luận của nó đang ứng dụng trên thực tế? Điều này chứng tỏ rằng:

Nền văn minh Hán chỉ tiếp thu một cách không hoàn chỉnh một nền văn minh kỳ vĩ đã sụp đổ từ rất lâu trong quá khứ và Hán hoá.

Nhưng điều kỳ diệu lại là: Chính nền văn hiến Lạc Việt; mà hậu duệ là người Việt Nam hiện nay - với những di sản văn hoá phi vật thể của tổ tiên truyền lại từ hàng ngàn năm trước - lại chứng minh một cách xuất sắc tất cả những sự bí ẩn của nền lý học Đông phương huyền bí; theo đúng tiêu chí khoa học:

Giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề và hiện tượng liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh; nhất quán; có tính quí luật; tính khách quan và có khả năng tiên tri.

Đó chính là Hà đồ phối với Hậu thiên bát quái Lạc Việt là nguyên lý căn để của lý học Đông pgương; theo tinh thần của bức tranh thờ Ngũ Hổ phường Hàng Trống với danh xưng: PHÁP ĐẠI UY NỖ. Điều này sẽ được chứng minh tiếp theo đây.

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

(Còn tiếp)
PHÁP ĐẠI UY NỖ.
Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt và phương pháp nạp chi trong Bốc Dịch

Thiên Sứ
27-07-2005, 11:17 PM
PHÁP ĐẠI UY NỖ
Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt & phương pháp nạp chi trong Bốc Dịch


Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua hai bài viết trên, người viết đã chứng minh rằng:
Với tất cả 3 khả năng về phương pháp nạp chi cho thấy:
1) Quẻ Khôn không thể nạp chi Mùi theo cổ thư chữ Hán vì tính phi lý của nó.
2) Phương pháp phân Âm Dương theo Địa chi mang tính qui luật và phù hợp với hầu hết các quẻ chính là phương pháp phân chi Âm theo Âm và phân chi Dương theo Dương.
Cụ thể là:
# Tý - Dần – Thìn - Ngọ - Thân/ Tuất thuộc chi Dương
# Sửu – Mão - Tỵ - Mùi - Dậu/ Hợi thuộc chi Âm.

Trước khi chứng minh cho một nguyên lý Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt là tiền đề của phương pháp nạp chi trong Bốc Dịch; xin quí vị xem lại đồ hình “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” và “Lạc thư phối Hậu thiên lưu truyền qua cổ thư chữ Hán”, được thể hiện qua đồ hình tròn như sau:

HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT


http://lyhoc.viettop.net/hauthienviet.jpg

http://lyhoc.viettop.net/hado.jpg

LẠC THƯ PHỐI HẬU THIÊN THEO SÁCH HÁN

http://lyhoc.viettop.net/HT-LT.jpg

Qua hai đồ hình trên; quí vị quan tâm cũng nhận thấy ngay rằng:
Với đồ hình Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt chúng ta sẽ thấy ngay được nguyên lý tiền đề liên quan đến nội dung Nạp chi đề cập đến trong bài viết này:

@ Việc chia quái thành hai phần Âm Dương là:

Quái Dương:
Càn - Khảm - Cấn - Chấn. Đều ở phía trên Hà Đồ (Tức là phía trên Địa cầu).

Quái Âm:
Khôn – Ly – Tốn – Đoài. Đều ở phía dưới Hà Đồ (Tức là phía dưới Địa cầu).

Theo nguyên lý Dương trên, Âm dưới thì phía trên Địa Cầu thuộc Dương, phía dưới thuộc Âm. Vật thuộc Âm thì Lý của vật thuộc Dương và ngược lại. Do đó, lý của Hà Đồ Âm trên, Dương dưới. Trong Âm có Dương nên các quái dương ở phía trên của Hà Đồ và ngược lại.

@ Sự thuận tự theo chiều Ngũ hành tương sinh trên Hà Đồ, chính là sự thuận tự của 12 Địa chi trong Nạp chi liên hệ với Hậu Thiên Bát quái Lạc Việt.

Còn Hậu thiên phối Lạc thư theo cổ thư chữ Hán thì chẳng nói lên điều gì; vì nó không có một thực tại làm nền tảng cho nó.

Bây giờ, chúng ta xem lại cách nạp chi từ cổ thư chữ Hán như sau:

Quái Dương
Càn/ Tý - Khảm/ Dần - Cấn/ Thìn – Chấn/ Tý.

Quái Âm
Tốn/ Sửu – Ly/ Mão – Đoài/ Tỵ - Khôn/ Mùi.

Với cách phân Âm Dương này thì – vì tính hợp lý của những vấn đề liên quan – Chấn không thể quay lại Tý; mà phải tiếp tục nạp chi Ngọ; như Pháp Vân đã đặt vấn đề và được chứng minh ở đây.
Tiếp tục quán xét đồ hình Hậu Thiên bát quái theo bản văn chữ Hán; chúng ta thấy rằng:

@ Sự nạp chi này hoàn toàn thuận tự theo chiều thuận ở các quái Dương; bắt đầu từ quái Càn; Khảm… Còn ở các quái Âm thì chỉ có ở Ly - Tốn và bị nghịch chuyển tại 2 quái cuối là Khôn/ Đoài.
Tóm lại phương pháp nạp chi trong cổ thư chữ Hán bị tạp loạn, không mang tính qui luật.

Bây giờ, chúng ta căn cứ vào hai định đề đã chứng minh ở trên là:

1) Quẻ Khôn không thể nạp chi Mùi theo cổ thư chữ Hán vì tính phi lý của nó.
2) Phương pháp phân Âm Dương theo Địa chi hợp lý với thực tế đang ứng dụng (Đã chứng minh) chính là phương pháp phân chi Âm theo Âm và phân chi Dương theo Dương.

Cụ thể là:
# Tý - Dần – Thìn - Ngọ - Thân/ Tuất thuộc chi Dương
# Sửu – Mão - Tỵ - Mùi - Dậu/ Hợi thuộc chi Âm.

Bởi vậy, căn cứ theo nguyên lý căn để là Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ thì Khôn phải thay thế Tốn nạp chi Sửu (Đổi chỗ Tốn &Khôn). Sửu là chi đứng đầu các chi Âm (Đã chứng minh về tính duy nhất của phương pháp này) và điều này hoàn toàn phù hợp với chính nguyên lý:
Chi Âm nạp quái Âm và chi Dương nạp quái Dương.
Do đó: Càn /Khôn là hai quái đầu Âm Dương nạp hai chi đầu Âm Dương Tý/ Sửu (Theo cách phân Âm Dương 12 chi thứ I/ Đã chứng minh). Với Khôn nạp chi Sửu cũng hoàn toàn phù hợp với cách phân quái theo tính chất là:
Càn = Cha / Khôn = Mẹ; Khảm = Trung Nam/ Ly =Trung Nữ….

@ Như vậy – với bước một – chúng ta đã giải quyết một cách hợp lý và nhất quán việc đổi chỗ Tốn/Khôn với các vấn đề liên quan đến nó; theo đúng tiêu chí khoa học hiện đại.
Hiện tượng còn lại là vị trí nạp chi của Đoài/Tỵ và Tốn/ Mùi (Do đổi chỗ Tốn/ Khôn) có đúng hay không? – khi quái Chấn được xác định ở Ngọ.

A) Theo nguyên tắc mà chính cổ thư chữ Hán đã ghi nhận:
# Âm thuận tùng Dương.
# Quái Âm nạp chi Âm và quái Dương nạp chi Dương.
# Trên cơ sở phương pháp phân Âm Dương theo phương pháp 1 cho 12 Địa chi (Đã chứng minh).
B) Trên cơ sở đã chứng minh:
# Quái Chấn được xác định nạp chi Ngọ.
# Quái Khôn xác định nạp chi Sửu.
Tổng hợp hai điều kiện A – B; chúng ta sẽ thấy có hai phương pháp có thể giải thích như sau:

1) Giải thích theo tương quan tính chất quái vị:
Theo cách giải thích này thì :
# Càn/ Cha nạp Tý - Khôn/ Mẹ nạp Sửu.
# Chấn/ Trưởng Nam nạp Ngọ - Tốn/ Trường nữ nạp Mùi.
# Khảm/ Trung Nam nạp Dần - Ly/ Trung nữ nạp Mão.
# Cấn/ Thiếu Nam nạp Thìn - Đoài/ Thiếu nữ nạp Tỵ.
Như vậy; với phương pháp luận theo tính chất tương quan quái vị thì chỉ có sự sửa đổi như trên. Dưới đây là bảng nạp chi tương quan với thiên Can và tính chất quái vị theo cách 1.

ĐỒ HÌNH NẠP GIÁP 12 CHI
(Theo tính chất quái vị)


CÀN ****** KHÔN ****** CHẤN****** TỐN
--- Nhâm Tuất - - Quý Mão - - Canh Tuất --- Tân Dậu
--- Nhâm Thân - - Quý Tỵ - - Canh Thân --- Tân Hợi
--- Nhâm Ngọ - - Quý Mùi --- Canh Ngọ - - Tân Sửu
--- Giáp Thìn - - Ất Dậu - - Canh Thìn --- Tân Mão
--- Giáp Dần - - Ất Hợi - - Canh Dần --- Tân Tỵ
--- Giáp Tí - - Ất Sửu --- Canh Tí - - Tân Mùi

KHẢM ***** LY ***** CẤN ******* ĐOÀI
- - Mậu Tí --- Kỷ Tỵ --- Bính Dần - - Đinh Mùi
--- Mậu Tuất - - Kỷ Mùi - - Bính Tí --- Đinh Dậu
- - Mậu Thân --- Kỷ Dậu - - Bính Tuất --- Đinh Hợi
- - Mậu Ngọ --- Kỷ Hợi --- Bính Thân - - Đinh Sửu
--- Mậu Thìn - - Kỷ Sửu - - Bính Ngọ --- Đinh Mão
- - Mậu Dần --- Kỷ Mão - - Bính Thìn --- Đinh Tỵ

Với cách “Giải thích theo tương quan tính chất quái vị” chúng ta sẽ thấy sự không đối xứng trong tương quan các cặp quái trong đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt và trong đồ hình Hậu thiên theo cổ thư chữ Hán thì tính phi đối xứng còn thể hiện rõ hơn nhiều. Xin quí vị quan tâm xem đồ hình thể hiện dưới đây:

HẬU THIÊN LẠC VIỆT
(Nạp chi theo tính chất quái vị)

http://lyhoc.viettop.net/hinhnapchi3.jpg

HẬU THIÊN THEO SÁCH HÁN
(Nạp chi theo tính chất quái vị)


http://lyhoc.viettop.net/hinhnapchi2.jpg


Thiên Sứ

Còn tiếp

Thiên Sứ
30-07-2005, 07:53 AM
Kímh thưa quí vị quan tâm.

Chân thành xin lỗi quí vị vì người thực hiện đồ hình:
"Hà đồ nạp chi Hậu thiên Lạc Việt"
có sai sót ở vị trí Tốn và Đoài. Đáng nhẽ Đoài phải ở chỗ Tỵ và Tốn ở Mùi thì trên đồ hình lại bị ngược. Thiên Sứ tôi cũng sơ sót, hôm nay xem lại mới thấy sai. Xin được sửa lại trong vòng vài tiếng tới đây. Mong quí vị thông cảm.
Chân thành cảm ơn.

Thiên Sứ

Thiên Sứ
09-08-2005, 09:12 PM
Qua hai hình trên; chúng ta cũng thấy: Đồ hình Hậu Thiên Bát quái theo sách cổ chữ Hán; không hề có khả năng thể hiện tính nguyên lý cho tất cả mọi hiện tượng liên quan đến thuyêt Âm Dương ngũ hành và sự ứng dụng đồ sộ của nó trong mọi lĩnh vực. Ngược lại; trên đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt; chúng ta sẽ thấy được cơ sở của sự “Giải thích theo tương quan tính chất quái vị” như sau:

# Sự kết hợp của hai quái Điên đảo Dịch là Đoài/ Tốn và Cấn/ Chấn, chúng sẽ thành một cặp Bất Dịch có tính đối xứng là:



http://lyhoc.viettop.net/capdaodich.jpg



Trong hai cặp bất dịch kết hợp này thì hai quái dưới là Chấn/ Tốn – theo nguyên lý tính từ dưới lên của Dịch – là hai quái có trước; bởi vậy; sẽ là Trường Nam/ Trưởng Nữ (Anh/ Chị = sinh trước). Hai quái Đoài/ Cấn ở trên là hai quái có sau – tính từ dưới lên - bởi vậy; sẽ là Thiếu Nam/ Thiếu nữ (Em = sinh sau). Hai cặp Bất Dịch này đối xứng thì những hiện tượng trong nội hàm của nó phải đối xứng. Đó là lý do để Chấn đối với Tốn và Đoài đối với Cấn. Và điều này cũng chỉ lý giải được với HẬU THIÊN LẠC VIỆT.



Kính thưa quí vị quan tâm

Như vậy, với cách giải thích theo ttính chất quái vị thì sự nạp chi theo Lạc Việt sẽ có sự thay đổi ở Khôn / Sửu; Tốn / Mùi và Chấn/ Ngọ. Điều này được thể hiện bởi đồ hình sau (cách nạp chi cũ theo sách cổ chữ Hán thể hiện bằng màu đen kèm theo).



CÀN ****** KHÔN ****** CHẤN****** TỐN
--- Nhâm Tuất - - Quý Mão - - Canh Thìn --- Tân Dậu
--- Nhâm Thân - - Quý Tỵ - - Canh Dần --- Tân Hợi
--- Nhâm Ngọ - - Quý Mùi --- Canh Tý - - Tân Sửu
--- Giáp Thìn - - Ất Dậu - - Canh Tuất --- Tân Mão
--- Giáp Dần - - Ất Hợi - - Canh Thân --- Tân Tỵ
--- Giáp Tí - - Ất Sửu --- Canh Ngọ- - Tân Mùi

KHẢM ***** LY ***** CẤN ******* ĐOÀI
- - Mậu Tí --- Kỷ Tỵ --- Bính Dần - - Đinh Mùi
--- Mậu Tuất - - Kỷ Mùi - - Bính Tí --- Đinh Dậu
- - Mậu Thân --- Kỷ Dậu - - Bính Tuất --- Đinh Hợi
- - Mậu Ngọ --- Kỷ Hợi --- Bính Thân - - Đinh Sửu
--- Mậu Thìn - - Kỷ Sửu - - Bính Ngọ --- Đinh Mão
- - Mậu Dần --- Kỷ Mão - - Bính Thìn --- Đinh Tỵ


Kính thưa quí vị quan tâm.
Còn một phương pháp nạp chi nữa là : Nạp chi theo thuận tự quái vị. Nhưng xét thấy phương pháp nạp chi này chỉ phù hợp với hai nguyên lý nạp chi và có tính đối xứng; nhưng không phù hợp với một nguyên lý thứ ba là sự tương quan tính chất quái vị như đã trình bày ở trên. Nên tôi lựa chọn phương pháp trên coi là hợp lý hơn.

Kính thưa quí vị.
Như vậy , một lần nữa chúng ta lại thấy sự hiệu chỉnh hợp lý của phương pháp nạp chi trong bốc Dịch lại liên quan đến Hà Đồ và Lạc thư không thể ứng dụng vào trường hợp này.

Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.


Thiên Sứ
(Còn tiếp)

Thiên Sứ
12-09-2005, 07:57 AM
HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN
HÀ ĐỒ & NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

Tính bất hợp lý về thời điểm xuất hiện cuốn Hoàng Đế Nội Kinh chính là:
Thời điểm xuất hiện của cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn” khó có thể đặt vào một giai đoạn nào trong lịch sử văn minh Hoa Hạ, để có sự tương quan hợp lý với những vấn đề của thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Nội dung của cuốn sách này thể hiện phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong Đông y với điều kỳ lạ là trong đó có dấu ấn của Hà đồ.
Ý nghĩa trực tiếp trong nội dung của nó xác định thời điểm xuất hiện thuộc về thời Hoàng Đế. Nhưng những nhà nghiên cứu đã đặt vào giai đoạn lịch sử thời Xuân Thu Chiến quốc (đã trích dẫn ở phần trên).

Qua những đoạn trích dẫn ở trên; chúng ta có thể tìm thấy sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương - Ngũ hành trong toàn bộ cuốn sách nói trên (kể cả sự ứng dụng Âm dương lịch, mà ở đó đã có sự phối hợp can chi). Như vậy, thuyết Âm dương - Ngũ hành đã hoàn chỉnh, nhất quán và được ứng dụng trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Tức là từ thời Hoàng Đế, trước cả Lạc thư do vua Đại vũ phát hiện cả ngàn năm (niên đại của Hoàng Đế ước tính khoảng 3000 năm tr.Cn - vua Đại vũ khoảng 2205 năm tr.Cn). Rõ ràng đây là một điều cực vô lý.
Nếu như chúng ta tin vào tính chính xác về thời điểm xuất hiện của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn thì sẽ phủ nhận toàn bộ những tác giả Trung Hoa được coi là sáng lập ra thuyết Âm dương và Ngũ hành sau đó.

Vậy thì trước Hoàng Đế ai là người sáng tạo thuyết Âm dương - Ngũ hành ? -
- khi chính cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn chỉ thể hiện sự ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành - chứ không phải thể hiện nội dung của học thuyết đó?
Có lẽ nhận thấy được điều phi lý này - trên quan niệm thuyết Âm dương Ngũ hành thuộc về văn minh Hoa Hạ - nên các nhà nghiên cứu hiện đại đã có sự cố gắng tìm một thời điểm lịch sử hợp lý cho sự ra đời của cuốn sách Hoàng Đế nội kinh tố vấn.

@ Giả thuyết đầu tiên cho rằng:

Cuốn "Hoàng Đế nội kinh tố vấn" được viết vào thời Xuân thu Chiến quốc?!
(Đã trích dẫn).

Nếu nhận định của các nhà lý học hiện đại đúng, thì đây là sự phủ nhận tác giả của cuốn sách là Hoàng Đế và Kỳ Bá. Như vậy tại sao lại có sự gán ghép này và ai là tác giả đích thực của nó? trong khi sách Đông y cũng như sách bói không phải đối tượng phá hủy vào thời Tần Thủy Hoàng. Hơn nữa y học là một nhu cầu cần thiết và phổ biến trong đời sống xã hội; trên từ vua chúa, dưới đến thứ dân. Tại sao một cuốn y lý căn bản sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương - Ngũ hành, lại không hề được nhắc đến trong bất cứ một cuốn cổ thư nào của các học giả nổi tiếng trước thời Hán?
Thời Xuân Thu Chiến quốc là một thời đại xuất hiện rất nhiều nhà tư tưởng lớn như Khổng tử, Mạnh tử, Tuân tử, Hàn Phi tử… Họ để lại rất nhiều trước tác. Nếu hệ thống vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành với giá trị tuyệt vời của nó – được thể hiện trong sự ứng dụng ở ngay trong một nhu cầu không thể thiếu và phổ biến là y học – tại sao lại không được các học giả lưu danh hàng thiên niên kỷ quan tâm đến như: Khổng tử thời Xuân thu; Mạnh tử, Trang tử thời Chiến quốc..?
Một điều đáng lưu ý nữa là: Sau các học giả nổi tiếng thời Xuân thu Chiến quốc hàng nửa thiên niên kỷ, trong Sử ký của Tư Mã Thiên cũng không hề một lần nhắc đến cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn; mặc dù ông lại nói đến Trâu Diễn (350 - 270 tr.Cn), như là một người nếu không phải là sáng lập thì cũng là người đầu tiên tổng hợp thuyết Âm dương - ngũ hành trở thành một học thuyết thống nhất.
Đây thật sự là một điều vô lý!

@ Giả thuyết thứ hai cho rằng:

Hoàng Đế nội kinh tố vấn là do các phương sĩ kiết tập, tổng hợp vào đời Hán. Giả thuyết này giải thích được sự vô lý đã phân tích ở trên và phản đúng thực tế thời điểm xuật hiện của cuốn này trong lịch sử văn minh Hán: Do Trương Ẩn Am - một danh y sống vào cuối thời Tây Hán công bố. Nhưng ngay cả trong trường hợp như vậy cũng không thể thực hiện được.
Bởi vì:
Để viết cuốn sách này thì cần phải có một kiến thức hoàn chỉnh về thuyết Âm dương ngũ hành. Nhưng học thuyết này - theo các nhà nghiên cứu hiện đại - vào thời Hán mới đang "từng bước hoàn chỉnh" (Đã trích dẫn). Do đó, không có cơ sở nào để có một sự ứng dụng một học thuyết - cho đến ngày hôm nay - vẫn chưa hoàn chỉnh (Ít nhất về mặt lý thuyết) để có một sự ứng dụng hoàn chỉnh cho nó. Huống chi, trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn còn có rất nhiều vấn đề bí ẩn và phức tạp hơn cả Kinh Dịch và vẫn chưa có sự lý giải. Người ta không thể kiết tập những cái mà người ta không hiểu gì cả. Cho rằng đây là sự kiết tập, thì mặc nhiên thừa nhận: những nội dung của cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn đã có trước Hán; tức là thuyết Âm dương Ngũ hành đã hoàn chỉnh trước đó và vấn đề tiếp tục lặp lại như giả thuyết trên.

@ Giả thuyết thứ ba cho rằng:

Cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn được kiết tập vào đời Minh (?!).
Giả thuyết này chỉ có sự hợp lý hình thức, mặc dù nó lý giải được dấu ấn của Hà đồ (chỉ thực sự xuất hiện vào đời Tống - trước Minh). Nhưng với giả thuyết này thì - ngoài những mâu thuẫn chung với các giả thuyết trên - nó lại gặp những mâu thuẫn không lý giải được sau đây:

* Sự liên hệ giữa lịch sử thời Minh (thế kỷ XIV) với thời Hoàng Đế gần 3000 năm tr.CN, thể hiện trong nội dung cuốn sách.

* Vào thế kỷ 14 sau CN, là lúc sự ứng dụng của thuyết Âm dương Ngũ hành đã rất phổ biến. Do đó, càng không thể có sự kiết tập những cái mà cho đến tận bây giờ ngưới ta vẫn không thể lý giải.

* Vào thời Minh, lịch sử cũng đã rõ ràng. không thể có một cuốn sách vào hàng kỳ thư và được ứng dụng trong một nhu cầu phổ biến, mà người ta không thể chỉ ra chính xác thời điểm ra đời hoặc tác giả của nó. Một vấn đề được đặt ra là cấu trúc ngôn ngữ trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn hoàn toàn không phải là cấu trúc ngôn ngữ của thời nhà Minh. Chỉ còn một cách duy nhất là viết lại cuốn sách này. Điều này rõ ràng không thể thực hiện được, khi cho đến tận bây giờ, thuyết Âm dương Ngũ hành và những vấn đề liên quan đến nó vẫn còn là sự bí ẩn.

trong ba giả thuyết trên, thì giả thuyết thứ hai và thứ ba là do tham khảo ý kiến bạn đọc gần gũi, không có tài liệu công bố chính thức.

@ Mâu thuẫn lớn nhất cần phải lý giải là: Hoàng Đế nội kinh tố vấn là cuốn sách lý luận căn bản của Đông y, được phát triển từ một hệ thống lý luận căn bản là học thuyết Âm dương Ngũ hành.
Do đó, nó chỉ có thể được thực hiện khi người ta đã có một kiến thức hoàn chỉnh về học thuyết này. Nhưng cho đến ngày hôm nay, thuyết Âm dương Ngũ hành vẫn chỉ để lại những dấu ấn mơ hồ. Thật là phi lý, khi người ta lại có thể sáng tác ra một cuốn sách lý luận, dựa trên một lý thuyết căn bản mà người ta hoàn toàn mơ hồ về nó. Hiện tượng này có thể ví như một học sinh không cần học thuộc bài, nhưng vẫn giải được toán. Cho dù có có khiên cưỡng ứng dụng phương pháp luận siêu hình để phản bác, cho là học sinh đó kiếp trước vốn là nhà thông thái; thì ít nhất kiếp trước nó đã học bài.
Bởi vậy, ngoài những mâu thuẫn với những hiện tượng liên quan đến nó, thì đây chính là điều căn bản để cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn khó có thể đặt vào một thời điểm lịch sử nào đó của nền văn minh Hoa Hạ.

Về mặt thời gian lịch sử; tôi đã chứng minh với các quí vị quan tâm: Cuốn Hoàng Đế nội kinh không thể thuộc về văn minh Hoa Hạ. Người ta không thể đặt cuốn sách này vào bất cứ một thời điểm nào trong lịch sử văn minh Hoa Hạ để giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan. Nếu như từ trước đến nay nó được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ thì chỉ vì cuốn sách cổ nhất mà người ta tìm thấy viết bằng tiếng Hán mà thôi.
Đương nhiên cuốn sách đó không thể từ trên trời rơi xuống.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Hà Đồ có từ thời vua Phục Hy theo truyền thuyết văn hoá Hán (4000 năm trước CN). Nhưng chính các nhà nghiên cứu hiện đại Trung Hoa vẫn đặt câu hỏi:

"... Thời tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không vẫn là một câu hỏi."

“Bí ẩn của bát quái” - Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường. Nhân dân Quảng Tây xuất bản xã. Nxb VHTT. 1996.
Điều kỳ lạ là:
Cuốn HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN lại có sự ứng dụng của HÀ ĐỒ

Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp:
Dấu ấn Hà Đồ trong cổ thư chữ Hán trước Tần!

Thiên Sứ
12-09-2005, 08:05 AM
DẤU ẤN HÀ ĐỒ TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN TRƯỚC TẦN.



Trong sách “Chu dịch Dự đoán học” – ông Thiệu Vĩ Hoa viết:

“Thuyết "Hà đồ" "Lạc đồ" trong cuốn "Thượng Thư" của tiên Tần, "Luận ngữ" của Mạnh tử và trong "Hệ từ" đều có ghi lại. nhưng "Đồ" và "Thư" thực chất là cái gì, chưa có ai nhìn thấy, càng chưa thấy ai nói đến. trước đời Tống, không ít "Dịch" gia khi viết về "Dịch", rất ít nói đến "Hà đồ", "Lạc đồ", một vài người có nói đến thì cũng chỉ lướt qua. Phong trào nói đến "Hà đồ", "Lạc thư" vào những năm Thái Bình Hưng Quốc (niên hiệu Tống Thái Tôn).

Sách “Bí ẩn của bát quái” - Vương Ngọc Đức, Diêu Vĩ Quân, Trịnh Vĩnh Tường - viết:

"... Thời tiên Tần có Hà đồ, Lạc thư hay không vẫn là một câu hỏi."

Qua các đoạn trích dẫn trên, quí vị cũng nhận thấy rằng:
Hà Đồ Lạc thư mà chúng ta biết đến ngày hôm nay; thực chất chỉ được công bố chính thức vào đời Tống. Trải hàng ngàn năm - Từ trước Tần đến Tống - mặc dù Hà Đồ Lạc thư được nhắc đến trong số sách được coi là của nền văn minh Hoa Hạ, nhưng ngay cả người Hoa Hạ cũng không hiểu chính đồ hình nay. Và thật là kỳ lạ: Dấu ấn của Hà Đồ lại nằm ngay trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Hay nói một cách khác:
Hà Đồ đã được ứng dụng từ thời Hoàng Đế trước cả vua Đại Vũ tìm ra Ngũ hành trên lưng rùa và viết nên Hồng Phạm cửu trù?
Tất nhiên trước cả Tiên Tần đến 4000 năm(??)

Dấu ấn Hà Đồ trong "Hoàng Đế nội kinh tố vấn"
Trong cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn đã ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm dương Ngũ hành – như là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh - để lý giải các hiện tượng của sự vận động vũ trụ và ảnh hưởng của nó đến trái đất với đời sống con người. Nhưng nội dung của nó lại góp phần tạo nên sự bí ẩn của lịch sử thuyết Âm dương Ngũ hành và cũng là đề tài tranh luận qua nhiều thế hệ. Trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn cũng để lại rất nhiều những khái niệm bí ẩn khác, mà cho đến tận ngày nay đã không biết bao nhiêu học giả tốn rất nhiều công sức vẫn chưa lý giải được (Xin xem: Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt. Mục các môn học khác. chanthuyen.org).
Thí dụ như những khái niệm về lục khí, ngũ vận ứng dụng trong y lý. Khái niệm bí ẩn: “Giáp hợp Kỷ hoá Thổ …” cũng bắt đầu từ cuốn sách này.

Nhưng một hiện tượng đặc biệt quan trọng rất đáng lưu ý là:
Trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn, một cuốn sách được các nhà nghiên cứu cho là xuất hiện vào thời Xuân thu Chiến quốc - tức là tiên Tần - lại ghi nhận dấu ấn của Hà đồ, khi lý giải những vấn đề cơ sở lý luận ứng dụng trong Đông y. Đoạn sau đây được trích trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn toàn tập* (Nhà thuốc Hồng Khê Hanoi. Xuất bản 1954 - dịch giả Nguyễn Tử Siêu) được trích dẫn trong phần "Kim quỷ chân ngôn luận":
-----------
(*Chú thích của người viết: Cuốn sách này được dịch từ cuốn”Hoàng Đế nội kinh tố vấn hợp chú” của Trương Ẩn Am và Mã Nguyên Đài. Đây là cuốn sách dịch được coi là ưu tú nhất trong các bản dịch “Nội Kinh” từ trước đó đến nay. Nhưng nội dung của nó còn thiếu hai phần là: Thích Pháp luận & Bản Bệnh luận.)

Hoàng Đế hỏi:
- Năm tàng ứng với bốn mùa, vậy có sự thâu thu gí không?

Kỳ Bá thưa:
1)- Đông phương sắc xanh, thông vào can, khai khiếu lên mắt, tàng tinh ở can. phát ra bệnh thành chứng kinh sợ. Về vị là chua, thuộc về loài Thảo Mộc, thuộc về lục súc là gà, thuộc về ngũ cốc là lúa mạch, thuộc về bốn mùa trên ứng với Tuế tinh (Sao Mộc. Thiên Sứ), xuân khí thuộc về bộ phận đầu; thuộc về âm là tiếng Giác;
thuộc về số là số 8;
thuộc về mùi là mùi hôi. do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở gân.

2)- Nam phương sắc đỏ, thông vào với tâm khai khiếu lên tai, tàng tinh ở tâm. bệnh phát sinh ở cả năm tàng, về vị là đắng và thuộc về Hỏa; thuộc về lục súc là dê; thuộc về ngũ cốc là thử; thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Huỳnh Hoặc (Sao Hoả. Thiên Sứ), thuộc về âm là tiếng Chủy;
thuộc về số là số 7;
thuộc về mùi là mùi hắc; do đó biết là thường sinh bệnh ở mạch.

3)- Trung ương sắc vàng, thông vào với tỳ, khai khiếu lên miệng. tàng tinh ở tỳ. bệnh phát sinh ở cuống lưỡi, về vị là ngọt, và thuộc về Thổ; thuộc về lục súc là bò; thuộc về ngũ cốc là tắc; thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Chấn; thuộc về âm là cung, thuộc về số là số 5; thuộc về mùi là mùi thơm; do đó, biết là thường sinh bệnh tại thịt.

4)- Tây phương sắc trắng, thông vào với phế, khai khiếu ở mũi, tàng tinh ở phế; bệnh phát sinh ở vai; về vị là cay và thuộc về Kim; thuộc về lục súc là ngựa; thuộc về ngũ cốc là đạo; thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Thái Bạch (Sao Kim.Tức sao Thuỷ ngày nay. Thiên Sứ) thuộc về âm là Thương; thuộc về số là số 9;
do đó biết là thường sinh bệnh tại bì mao.

5)- Bắc phương sắc đen, thông vào với thận, thông khiếu ở nhị âm; tàng tinh ở thận; bệnh phát sinh ở khê; về vị là mặn và thuộc về Thủy; thuộc về lục súc là lợn; thuộc về ngũ cốc là đậu, thuộc về bốn mùa trên ứng với sao Thần (Sao Thuỷ. Tức sao Kim bây gìơ.Thiên Sứ), thuộc về âm là Vũ,
thuộc về số là số 6,
thuộc về mùi là mùi húc mục, do đó biết là thường sinh bệnh ở xương.

Qua phần trích dẫn trên, chúng ta quán xét độ số và hành ở các phương vị sẽ thấy là:

1) Phương Đông thuộc Mộc: Sắc xanh - Độ số 8
2) Phương Nam thuộc Hoả: Sắc Đỏ - Độ số 7
3) Trung ương thuộc Thổ: Sắc Vàng - Độ số 5
4) Tây phương thuộc Kim: Sắc Trắng - Độ số 9
5) Bắc Phương thuộc Thuỷ: Sắc Đen - Độ số 6

So sánh phương vị/hành và độ số nói trên với Hà Đồ, chúng hoàn toàn có sự trùng khớp. Xin lưu ý quí vị quan tâm là:
Lạc Thư không thể hiện được điều này.
Hà đồ vốn được coi là căn nguyên của nền lý học Đông phương. Nói cụ thể hơn:
Hà Đồ là căn nguyên của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cuốn Hoàng đế nội kinh sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Do đó, sự trùng khớp nói trên chứng tỏ rằng:
Khi hình thành cuốn sách này, tác giả của nó đã biết đến Hà đồ và những qui luật tương tác của nó ảnh hưởng đến đời sống Trái Đất và con người. Xin xem hình vẽ sau:

HÌNH MINH HOA
Sự ứng dụng phương vị Ngũ Hành của Hà Đồ trong Hoàng Đế nội kinh

http://lyhoc.viettop.net/nhhdhdnk.jpg

Qua đồ hình trên, quí vị cũng nhận thấy sự liên hệ trùng khớp độ số và phương vị Ngũ hành trong “Hoàng Đế nội kinh” với “Hà đồ”.
Sự liên hệ này cho thấy:
Hà đồ là một thực tế đã tồn tại và đã được ứng dụng trước thời điểm hình thành cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn.

Vậy tại sao đến đời Tống; những học giả Hoa Hạ mới biết đến Hà Đồ?
Tại sao Khổng Tử viết thập Dực đã nói đến “Hà xuất Đồ, Lạc xuất thư” lại không miêu tả lại Hà Đồ cho các đệ tử? Nếu Khổng tử đã biết đến Hà Đồ thì tại sao Kinh Dịch lạI không hề có một chữ nói đến Ngũ hành khiến -
"Thuyết Âm Dương Ngũ hành từng bước hoà nhập vào đời Hán”?

Nếu văn minh Hoa hạ đích thực là nơi xuất phát của lý học Đông phương , tại sao hậu duệ của họ lại không hề nói đến Hà Đồ trong suốt từ Tiên Tần đến Tống? Khi mà cuốn Hoàng Đế nội kinh được công bố từ thời Tây Hán do Trương Ẩn Am?
Và v/d cũng không dừng lại ở đây!
Qua phần chứng minh ở trên; chúng ta cũng thấy rằng Hà Đồ đã được ứng dụng trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn Điều này cho thấy thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh; đã có từ rất lâu trong cổ học Đông phương và thể hiện sự nhất quán và hoàn chỉnh qua phương pháp luận của nó trong nội dung cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn.
Như vậy; cho dù cuốn sách này “xuất hiện vào thời Xuân Thu Chiến quốc” – như các nhà nghiên cứu quốc tế giả định thì thật là khó cho rằng:nền văn minh Hoa Hạ là chủ nhân sáng tạo của thuyết Âm Dương Ngũ Hành.
Điều rất đơn giản là:
Không hề có tính kế thừa học thuyết này trong lịch sử sáng tạo và phát triển của nó vốn được coi là thuộc về văn minh Hoa Hạ.
Đến đây; tôi xin được một lần nữa lưu ý quí vị quan tâm là:
Trên thực tế cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn không thể có chỗ đứng trong thời gian lịch sử của văn minh Hoa Hạ. Bởi vì, nó không thuộc về nền văn minh này. Nếu cho rằng sự sai lệch này là do thất truyền thì đó chỉ là một lý do khiên cưỡng và không hợp lý. Bởi vì; Hoàng Đế nội kinh không phải là bằng chứng duy nhất chứng minh cho giả thuyết trên. Dấu ấn cho sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Hà Đồ còn nằm trong một số sách mà chính các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại cho rằng:

“Thời tiên Tần có Hà Đồ, Lạc Thư hay không vẫn còn là một câu hỏi?”.

Để chứng minh điều này; xin quí vị quan tâm xem đoạn trích dẫn sau đầy:

Lã Thị Xuân Thu và dấu ấn của Hà Đồ
Trong các cổ thư chữ Hán được coi là tiên Tần – ngoài Hoàng Đế nội kinh tố vấn - dấu ấn của Hà đồ còn được ghi nhận ở Lã Thị Xuân thu, một tác phẩm được coi là của Lã Bất Vi viết vào thời kỳ đầu của đế chế Tần.
Lời giới thiệu trong sách Lã Thị Xuân thu do Phan Văn Các dịch - Nxb Văn Học & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản 1999, viết:

"Lã Bất Vi bèn sai các thực khách của mình viết ra những điều nghe biết, tập hợp lại làm thành "bát lãm" và "lục luận", "thập nhị kỷ" cộng hơn hai mươi vạn chữ, coi là có đủ "thiên địa vạn vật cổ kim chi sự", đặt tên là Lã Thị Xuân Thu, và "đặt ở cổng chợ Hàm Dương, treo ngàn lạng vàng trên đó, mời du sĩ tân khách chư hầu ai thêm bớt được một chữ thì thưởng ngàn lạng vàng"

"Hán thư nghệ văn chí” đã coi đó là tác phẩm tiêu biểu của "tạp gia", đánh giá rằng về học thuật, sách ấy "kiêm Nho Mặc, hợp Danh Pháp (gồm cả Nho gia lẫn Mặc gia, ghép cả Danh gia với Pháp gia)

Ở thời hiện đại, Hầu Ngoại Lư cho đó là khởi nguồn của Tạp gia, là sự nhào trộn "kiệm thính tạp học" không có tinh thần tinh thần sáng tạo. nhiều học giả chỉ thừa nhận giá trị sử liệu của nó mà thôi.

Nhưng nhà sử học Phùng Hữu Lan cho rằng: "Sách này không đặt tên Lã tử, mà đặt tên Lã Thị Xuân thu, hẳn là Văn Tín Hầu vốn đã coi sách của mình là sử. Sử Ký nói rằng: Lã Bất Vi coi sách của mình chứa đủ muôn vật trong trời đất cùng mọi việc xưa nay, đặt tên là Lã Thị Xuân thu cũng đã coi đó là sử. Tựa niên biểu mười hai chư hầu trong Sử ký đặt ngang hàng Lã Thị Xuân thu với Tả Thị Xuân thu và Ngu Thị Xuân thu, chứng tỏ Sử công cũng coi sách đó là sử rồi"

Trong nội dung của sách Lã Thị Xuân thu có nói đến sự vận hành có tính qui luật của thời tiết từng tháng trong năm và sự ứng sử của các bậc đế vương thuận theo tự nhiên để điều hành đất nước. Phần này được chia làm 12 kỷ. Đoạn trích dẫn dưới đây chứng tỏ điều này:

Mười hai kỷ sắp xếp theo trình tự bốn mùa, mỗi mùa có ba kỷ: Mạnh, Trọng, Quý. Kỷ thủ là nguyệt lệnh của tháng. Xuân chủ sinh, Hạ chủ trưởng, Thu chủ thu, Đông chủ tàng (*).
---------------------
* Chú thích trong sách đã dẫn: Thập nhị kỷ chính là thiên nguyệt lệnh trong sách Lễ ký, mười hai tháng sắp xếp làm mười hai thiên, sau mỗi thiên đều chen thêm bốn thiên khác. Bốn kỷ xuân hạ thu đông, xuân nói về sinh, hạ nói về trưởng, thu nói về thu (hoạch), đông nói về cất giấu. Bốn thiên phụ vào mỗi kỷ cũng đều phối hợp theo trình tự xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng mà trình bày các quan điểm về phép tồn sinh, thể thích mà tăng trưởng, vạn vật thu gom, chết đích đáng; chết có giá trị. bản mẫu của thiên đầu mỗi kỷ trong thập nhị kỷ và hạ tiểu chinh đều là sách nông lưu hành trong dân gian. Mạnh xuân là tháng đầu trong lịch nhà Hạ, tức tháng giêng. Đây là thiên Mạnh xuân, không phải Kỷ, các "Kỷ" ở sau đều như vậy.


Trong cuốn Lã Thị Xuân Thu, dấu ấn mang nội dung của Hà đồ thể hiện trong các đoạn tiêu biểu được trích dẫn sau đây:

Mạnh Xuân Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu xuân: mặt trời ở vị trí sao Doanh Thất. Buổi chiều hôm, sao Sâm ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vĩ ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Giáp Ất (phương Đông). Vị đế vương tương ứng với tháng này là Thái Cao thị (dựa vào Mộc đức mà xưng vương). Vị thần đối ứng tháng này là Mộc thần Câu Mang, động vật tiêu biểu của tháng này là loài có vảy; thanh âm tháng này lấy âm Giốc (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu, âm luật tháng này phù hợp với Thái Thốc (một trong lục luật).
Con số đối ứng với tháng này là số 8 (số của Thiếu Dương), vị đối ứng của tháng này là vị chua; mùi đối ứng với tháng này là mùi tanh.

Mạnh Hạ Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa hạ: mặt trời ở vị trí của sao Tất. Buổi chiều hôm sao Dực ở phương chính Nam, sáng sớm sao Vụ Nữ ở phương Bính Đinh (phương Nam). Vị đế vương tương ứng tháng này là Viêm Đế (dựa vào Hỏa đức mà xưng vương). Vị thần đối ứng tháng này là Hỏa thần Chúc Dung. Động vật tiêu biểu tháng này là loài chim có lông vũ. Thanh âm tháng này lấy âm Chủy (một trong ngũ âm) làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Trọng Lữ.
Con số đối ứng tháng này là số 7.
Đặc điểm của tháng này là lễ tiết. Sự việc tháng này là xem.

Mạnh Thu Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa thu: mặt trời ở vị trí của sao Dực. buổi chiều hôm sao Đẩu ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Canh Tân ( phương Tây). Vị đế vương ứng với tháng này là họ Thiếu Hạo (lấy đức Kim mà xưng vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Kim thần nhục thu (tên là Cai). Động vật tiêu biểu tháng này là loài thú có lông mao. Thanh âm tháng này lấy Thương làm tiêu biểu. Âm luật tháng này hợp với Di Tắc (một trong lục luật).
Con số đối ứng tháng này là số 9(số của Thiếu Âm).
Vị tương ứng tháng này là vị cay. mùi tương ứng tháng này là mùi tanh. tế tự tháng này ở cửa.

Mạnh Đông Kỷ
Thiên thứ nhất nói rằng:
Tháng đầu mùa đông: mặt trời ở vị trí của sao Vĩ. Buổi chiều hôm sao Nguy ở phương chính Nam, buổi sáng sớm Thất tinh ở phương chính Nam. Mặt trời tháng này ở phương Nhâm Quý (phương Bắc). Vị đế vương ứng với tháng này là Chuyên Húc (lấy đức Thủy mà xưng vương thiên hạ). Vị thần ứng với tháng này là Huyền Minh (thủy thần). Động vật tiêu biểu tháng này là loài giáp giới (đại biểu là rùa). Thanh âm tháng này là Vũ (một trong ngũ âm). Âm luật tháng này hợp với Ứng chung (một trong lục lã).
Con số của tháng này là số 6.
Vị tương ứng tháng này là vị mặn. Mùi tương ứng tháng này là mùi mục. Tháng này tế tự đất trong cửa. Lúc tế tự, trước phải dâng thận. Tháng này, nước bắt đầu đóng băng, đất bắt đầu đông giá. Gà rừng xuống nước biến thành con sò. Cầu vồng ẩn náu không xuất hiện. Tháng này thiên tử ở trong phòng đầu tây của nhà hướng Bắc, ngồi xe đen, thắng xe bằng ngựa đen, trên xe có cờ đen, mặc áo đen, đeo ngọc đen làm đồ trang sức. ăn kê nếp và thịt lợn. Đồ tế khí to mà chúm miệng.

Qua đoạn trích dẫn trên quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng:

Nếu chúng ta lấy độ số và hành của của 4 mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông - ứng với Mộc, Hoả, Kim, Thuỷ và liên hệ với Hà Đồ thì một lần nữa nó lại trùng khớp.

Tôi xin hân hạnh lưu ý một lần nữa để quí vị quan tâm là:
Với Lạc Thư thì không thể thực hiện được độ số trùng khớp với phương vị.

Như vậy; không chỉ Hoàng Đế mà ngay cả Lã Bất Vi (?) cũng đã sử dụng độ số của Hà Đồ???

Chưa hết! Thập nhị kỷ trong Lã Thị Xuân thu chính là thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký - cũng vốn được coi là của Khổng tử viết - tất yếu cũng có dấu ấn Hà Đồ. Tất cả những sách này đều thuộc về Tiên Tần (?!).
Nhưng cho đến ngày hôm nay:
Các học gỉa tầm cỡ quốc tế (Kể cả của ngay chính Trung Hoa) vẫn không thấy dấu ấn Hà Đồ trong cổ thư trước Tần??? Và chính Kinh Dịch - vốn được coi là của Khổng tử - lại là cuốn sách cổ nhất nói đến Hà Đồ (Hà xuất đồ/ Lạc xuất Thư)????

Nếu như trong sách Thượng Thư - thiên Cổ Mệnh chỉ nhắc đến Hà đồ được vẽ ở vách cung điện nhà Chu một cách mơ hồ, thì Hoàng Đế nội kinh & Lã Thị Xuân thu ghi lại những dấu ấn liên quan đến nội dung của nó.
Phần chứng minh trên đây đã chứng tỏ với quí vị rằng: Học thuyết quái khí ứng với 4 mùa được coi là của Kinh Phòng, Mạnh Hỉ phát minh vào đời Hán, thực chất chỉ là sự lặp lại và diễn đạt dưới một hình thức khác những phát kiến đã có từ trước đó.

Như vậy, cũng chứng tỏ Hà đồ - nguyên lý căn bản của Lý học phương Đông - đã được phát hiện từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông phương và đã được ứng dụng trên thực tế.
Điều này chứng tỏ không hề có tính kế thừa trong sự phát triển liên tục những giá trị của nền Lý học Phương Đông trong cổ thư chữ Hán.

Nếu cuốn Hoàng Đế nội kinh vấn có một xuất xứ mơ hồ, người ta có thể dựa vào cớ thất truyền để giải thích sự vắng mặt của Hà Đồ trải hàng ngàn năm - kể từ đời Hán đến Tống. Nhưng với Lã Thị Xuân thu là một tác phẩm được coi là của chính vị tể tướng đời Tần- mà khoảng cách thời gian không quá 14 năm cho sự bắt đầu của đời Hán - thì thật là một sự vô lý không thể lý giải nổi bằng tính thất truyền.
Tính thất truyền đó chỉ có thể lý giải từ văn minh Lạc Việt với hơn 1000 Hán hoá.
Như vậy, cả ba cuốn sách Hoàng đế nội kinh,Lã thị xuân thu & Lễ Ký đều mang dấu ấn của Hà đồ lưu truyền từ thời Hán cho đến Tống - là thời điểm Hà đồ được công bố. Nhưng trong cả ba cuốn sách nói trên không hề có sự liên hệ lý giải tính ứng dụng của Hà Đồ và cho đến ngày hôm nay Hà đồ vẫn còn là điều bí ẩn:
Từ lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà (?).
Điều này đã chứng tỏ rằng: Không hề có tính kế thừa là một điều kiện cần thiết để chứng tỏ tính phát triển liên tục của một nền văn minh. Nó cũng chứng tỏ tính công bố và phát hiện của các học giả thời Tống về đồ hình Hà Đồ, khi dấu ấn sự ứng dụng của Hà Đồ đã có ở những cổ thư trước Tần.
Về bản chất thực của Hà Đồ, người viết đã viết trong tiểu luận: Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt. Mục “Các môn học khác”. Chanthuyen.org. Hân hạnh được quí vị quan tâm tham khảo.
Trên đây là yếu tố quan trọng – nhưng không phải là duy nhất - để chứng tỏ rằng:
Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán ngay từ trạng thái khởi nguyên của nó.
Vấn đề còn ở chính sự nhất quán trong phương pháp luận của học thuyết này trong các môn bói toán cổ Đông phương mà chính ông Thiệu Vĩ Hoa đã nói tới.
Và mọi chuyện vẫn chưa kết thúc ở đây.

Như vậy; phần trên tôi đã minh chứng tính nhất quán và hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành qua cuốn Hoàng Đế nội kinh tố vấn. Từ đó chúng ta liên hệ với Kinh Dịch và dấu ấn Hà Đồ - với tư cách là đồ hình khởi nguyên của nó – thì chúng ta sẽ càng rõ hơn tính mâu thuẫn trong các nội dung liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành trong lịch sử của nền văn minh này. Chính tính mâu thuẫn và vô lý đó, là nguyên nhân để cho đến tận bây giờ - trải đã hàng thiên niên kỷ - Những hậu duệ của văn minh Hán và cả các nhà nghiên cứu quốc tế vẫn chưa biết gì về bản chất và sự ứng dụng thực tế của Hà Đồ.
Trong website nay có lẽ tất cả chúng ta đều biết đến Kinh Dịch là cuốn sách đầu tiên nói đến Hà đồ/ Lạc thư như một nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương. Và cũng chính cuốn Kinh Dịch – với vị trí kỳ vĩ của nó trong văn hoá Đông phương mà chỉ nói tới Âm Dương mà không nói tới Ngũ Hành – là một trong những nguyên nhân quan trọng để các nhà nghiên cứu tách thuyết Âm Dương ra khỏi Ngũ hành. Nhưng đấy chỉ là một cái nhìn rất máy móc và là một sai lầm.
Thực tế đã chứng tỏ rằng: Tất cả các phương pháp ứng dụng phổ biến (Phong thuỷ, Đông y, Tử Vi, Tứ trụ…) đều sử dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chính ông Thiệu Vĩ Hoa đã đặt v/d này (Đã trích dẫn). Nhưng họ không thể chứng minh được vì tính thiếu nhất quán, tính hoàn chỉnh và sự sai lệch đầy mâu thuẫn về nội dung trong các bản văn cổ chữ Hán. Điều thể hiện rõ nhất chính là sự đảo ngược trình tự thời gian xuất hiện của một học thuyết trong nội dung của các bản văn chữ Hán. Đấy chính là yếu tố quan trọng để chứng tỏ một sự phát triển liên tục và nhất quán của một học thuyết (Ở đây là thuyết Âm Dương Ngũ hành).

Nhưng nếu không người viết chưa đề cập và chứng minh được sự liên hệ giữa các ký hiệu của Chu Dịch với Ngũ Hành thì v/d đặt ra cho sự nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành vẫn chưa hoàn chỉnh.

Thực ra thì điều này, đã có ngay trong các bản văn dù rất - rất mơ hồ - đó chính là câu: “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư. Thánh nhân tắc chi” . Câu này tự thân đã nói đến nguyên lý căn bản của các ký hiệu Dịch (Bát quái) liên quan đến Đồ Thư. Hay nói một cách khác:
Bát quái có cơ sở là Ngũ hành vì dù là Hà Đồ hay Lạc Thư đều mang nội dung Ngũ hành.
Nhưng chính sự sai lệch trong các nhà trứ tác Hán nho thuộc văn minh Hoa Hạ trải hàng thiên niên kỷ đã khiến người ta không thể nào tìm thấy sự liên hệ này khi cho rằng:
“Tiên thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ “ và "Hậu thiên bát quái lên hệ với Lạc thư”
Xin lưu ý quí vị là:
Những ý tưởng này không có trong chính văn Kinh Dịch, mà do đời sau thêm vào để giải thích. Cũng như thuyết Vô Cực là do Chu Hy thêm vào từ đời Tống.
Buồn thay! Không ít các sách khi nói đến Dịch học hoặc thuyết Âm Dương Ngũ hành đều nhắc lại luận đề này của Chu Hy!? Nhưng nếu đã “Thái Cực sinh lưỡng nghi” lại còn “Thái Cực là Vô cực” thì tự nó đã lưỡng nghi rồi!)
Bởi vậy, phần tiếp theo đây người viết sẽ xin lý giải điều này.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

Thiên Sứ

Còn tiếp
HÀ ĐỒ VÀ CHU DỊCH

Thiên Sứ
12-09-2005, 08:07 AM
HÀ ĐỒ VÀ CHU DỊCH

Tiếp theo


“Thời tiên Tần có Hà Đồ, Lạc Thư hay không vẫn còn là một câu hỏi?”.

Bí ẩn của bát quái



Trong Chu Dịch, Hà đồ chỉ xuất hiện một cách rất mơ hồ; có vẻ như thoáng qua trong một câu của Hệ từ:
“Hà xuất đồ; Lạc xuất thư; thánh nhân tắc chi”.

Từ khi Nho học trở thành phổ biến trong văn minh Hoa Hạ thì - trong các bản văn chữ Hán - Hà đồ cũng chẳng liên quan gì đến Chu Dịch. Hàng ngàn năm nay, cũng theo sách cổ chữ Hán thì Hà Đồ không hề thấy có chỗ đứng trong các phương pháp ứng dụng của thuật số Đông phương. Cho đến tận bây giờ Hà đồ cũng có vẻ chỉ liên quan đến Hy Dịch:
“Phục Hy tắc Hà đồ hoạch quái”.

Nhưng sự liên quan này cũng chỉ mang tính biểu tượng và không có ứng dụng trên thực tế dù bạn xem bất cứ một cuốn sách nào.
Còn Chu Dịch (Vốn được hiểu theo nghĩa Dịch của nhà Chu) thì liên quan đến Lạc Thư, tất cả chúng ta đều biết điều này. Nhưng ở đây tôi xin được đặc biêt lưu ý quí vị quan tâm là:
Những ý tưởng trên (Lạc thư phối Hậu thiên;Hà Đồ phối Tiên thiên) đều không có trong chính văn của Kinh Dịch (Soán; Hào từ và thập Dưc). Hà Đồ được các nhà nghiên cứu từ đời Hán trở về sau giải thích chỉ như với tư cách minh hoạ cho lịch sử kinh Dịch từ thời Phục Hy và chẳng ai biết mặt mũi nó ra sao cho đến đời Tống. Trong tất cả các phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương đều không thấy bóng dáng của Hà Đồ.

Trước thời Tống người ta cũng không thể biết các phong thuỷ gia tài ba của văn minh Hoa Hạ, họ sử dụng phi tinh huyền không như thế nào khi mà chẳng có cả Hà Đồ lẫn Lạc thư?
Vậy mà vẫn tạo ra những tài danh như Cao Biền ….
Khổng Minh, Quản lộ vẫn xem bói giỏi như thần, mà cũng không cần đến hai đồ hình này?

Bởi vậy – không phải ngẫu nhiên - người viết mới đặt vấn đề về sự bất hợp lý khi tính ứng dụng lại có trước nguyên lý khi hình thành một học thuyết trong lịch sử Lý học Đông phương từ cổ thư chữ Hán, từ sự thất truyền của Hà Lạc.
Qua đó cũng chứng tỏ: Tất cả những phương pháp dự báo của cổ học Đông phương – mà chúng ta đang dùng hiện nay - chỉ là những phần qui tắc ứng dụng. Không phải là những nguyên lý và một hệ thống lý thuyết căn bản.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Nhưng như phần trình bày với quí vị ở trên, đã chứng tỏ:

# Hà Đồ chính là đồ hình biểu kiến cho – nói theo ngôn ngữ hiện đại - những hiệu ứng vũ trụ của Ngũ Tinh – Kim , Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ - tương tác với Địa Cầu. Điều này đã được Chính Ấn và Thiên sứ tôi kiểm chứng trên thực tế và trình thiên văn hiện đại.

# Hà Đồ đã được ứng dụng trong Đông y trong Hoàng Đế nội kinh; Lý giải sự vận động của 4 mùa trong Lã Thị Xuân thu và…ngay trong chiếc La Kinh của các Phong thuỷ gia. Các bạn hãy xét kỹ: Đó chính là chiều vận động Ngũ hành tương sinh của Hà Đồ.
(Xin tham khảo thêm: Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt. Mục “Các môn học khác”. Chanthuyen.org).

Hay tường theo một lẽ khác :
Hà đồ chính là đồ hình biểu kiến có tính nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện sự tương tác của các hiệu ứng vũ trụ liên quan đến Địa Cầu.

Bởi vậy -
- thật sự là vô lý khi Hà đồ liên quan đến con người trong Hoàng Đế nội kinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người từng ngày, thậm chí từng giờ và cả thời tiết trên trái Đất; nhưng Lạc thư lại liên hệ với Hậu thiên bát quái trong các chu kỳ vận động của con người trong dự đoán học?

Trong khi đó: Hậu thiên bát quái lại chứng tỏ tính ứng dụng tuyệt vời của nó đối với từng hành vi của con người và xã hội. Tất nhiên - về mặt lý thuyết – chúng phải có một sự liên quan với nhau thông qua chính thực tế ứng dụng.

Từng bước một, tôi xin chứng minh sự liên hệ rất căn để này của lý học Đông phương. Trên cơ sở: Hà Đồ là sự tương tác của Ngũ tinh với Địa cầu, chúng ta hãy quán xét đồ hình sau:

Đồ hình miêu tả sự liên quan giữa Địa Cầu và Hà Đồ

http://lyhoc.viettop.net/hadodiacau.jpg


Từ đồ hình trên, được thể hiện bằng hình vành khăn và chia làm 8 cung tương ứng với Ngũ hành và trung cung thuộc thổ quí vị quan tâm cũng thấy rằng:

1)Truc Địa cầu = Bắc - Nạm chính là đường phân giác biểu kiến của hai phương Bắc/Nam(45 độ /2 = 22 độ 5 . Đó chính là trục biểu kiến cho độ nghiêng của trục Địa cầu là 21 độ 5).

2) Mặt phẳng Hoàng Đạo biểu kiến của trái Đất chia Hà Đồ thành hai phần: Trên/dưới.

* Phần trên của Địa cầu là Dương (theo nguyên Lý Dương trên; Âm Dưới). Do đó, phần Dương trên thực tế Địa cầu là phần Âm về Lý của Hà Đồ. Bởi vậy cổ nhân dùng độ số Âm 6/8 cho hai hành thuộc Âm là Thuỷ/ Mộc ở phía trên Hà Đồ (Đã trích dẫn ở trên). Hai ô màu đen - Âm cho hình minh hoạ ở trên.

* Phần dưới của Địa cầu là Âm là phần Dương về Lý của Hà Đồ. Bởi vậy cổ nhân dùng độ số Dưong cho hai hành Kim/ Hoả. Hai ô màu đỏ - Dương cho hình minh hoạ ở trên.

Như vậy; đồ hình trên chính là sự liên quan hợp lý về phương vị; hành và các v/đề liên quan trong thuyết Âm Dương Ngũ hành qua Hà đồ với Địa cầu.
Bây giờ, chúng ta đặt Hậu thiên bát quái liên hệ với 8 cung của Hà Đồ phối Địa Cầu ở trên. Căn cứ vào sự định vị của tứ chính quái là:
Khảm Bắc – Ly Nam - Chấn Đông – Đoài Tây thì chúng hoàn toàn trùng khớp về phương vị và quái khí liên quan đến phương vị Hà đồ/ Địa cầu. Xin xem hình dưới đây:

Sự liên hệ Hà Đồ với Hậu thiên

http://lyhoc.viettop.net/hado.jpg


Kính thưa quí vị quan tâm.
Qua đồ hình trên, quí vị cũng nhận thấy sự trùng khớp hoàn toàn giữa Tứ chính quái và thuộc tính ngũ hành - kể cả phương vị - của nó với Hà Đồ.
Như vậy- Với sự xuất hiện của Hà Đồ là nguyên lý căn để của Kinh Dịch qua câu “Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tác chi” và sự trùng khớp hoàn toàn của Hậu thiên bát quái với Hà Đồ về nhiều mặt (Về vị trí Tốn Khôn xin quí vị quan tâm tham khảo thêm trong: Hà Đồ và văn minh Lạc Việt. Đã dẫn) - Điều này đã chứng tỏ chúng xuất phát từ một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh. Thuộc tính Ngũ hành trên Hà Đồ và thuộc tính của tứ chính quái trong Hậu thiên hoàn toàn trùng khớp đã chứng tỏ:

Hậu thiên bát quái liên hệ với Hà Đồ là nguyên lý căn để cho tất cả mọi phương pháp ứng dụng theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.

Những ký hiệu của Kinh Dịch (Tiên thiên và Hậu thiên bát quái) một thời bí ẩn kỳ vĩ từ hàng ngàn năm qua - Chính là ký hiệu siêu công thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành và chúng là một học thuyết hoàn chỉnh, nhất quán. Không hề có Âm Dương trong Dịch kinh và Ngũ hành trong Hồng Phạm. Tất nhiên chúng cũng chẳng cần “Từng bước hoà nhập vào thời Hán”.
Qua những v/d chứng minh ở trên cho chúng ta cơ sở hợp lý của môt giả thuyết đáp ứng đầy đủ những tiêu chí khoa học hiện đại là:

Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh.
Tiên thiên và Hậu thiên bát quái chính là ký hiệu siêu công thức của học thuyết này.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành có đầy đủ những tiêu chí của một lý thuyết khoa học và của một lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Nhưng ngay cả việc giả thuyết đã chứng minh ở trên - được cho là đúng vì sự hợp lý và phù hợp với những tiêu chí cho một lý thuyêt khoa học - thì:

@ Đây cũng mới chỉ là sự khởi đầu cho những công trình nghiên cứu tiếp nối sẽ vô cùng đồ sộ để tiến tới sự hoàn chỉnh - như trên thực tế nó đã chứng tỏ qua các phương pháp ứng dụng tiên tri của nó.Hay diễn tả một cách hình ảnh: Người viết mới chỉ miêu tả được cái chóp trong phần nổi của tảng băng chìm vô cùng đồ sộ.

@ Đó chính là khả năng lý giải một cách hoàn hảo có tính tiên tri cho mọi hành vi của con người và những vấn đề liên quan (Vốn xảy ra hàng giờ ngay trong website này). Đây cũng là một thực tại tiên tri mà chưa có một lý thuyết khoa học nào được coi là tiên tiến nhất của nền khoa học hiện đại có khả năng đáp ứng được điều này. Họ mới chỉ mơ ước và chắc chắn còn trong một giấc ngủ dài.

Để chia sẻ ý niệm này; chúng ta cùng quán xét v/d sau đây:
Kể từ khi Galile phát hiện ra trái Đất quay – là nguyên lý đầu tiên của nền khoa học hiện đại - cho đến khi chúng ta dùng được những điện thoại di động bởi những vệ tinh địa tĩnh bay quanh trái Đất thì gần nửa thiên niên kỷ đã trôi qua với sự phát triển phối hợp của nhiều ngành khoa học. Thực tế này sẽ cho chúng ta thấy rằng: Từ một siêu công thức Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ cho đến việc giải thích một quẻ bói ứng dụng tìm việc làm; hoặc tình duyên cho một con người - vượt ngoài mọi khả năng tiên tri của tất cả các lý thuyết khoa học hiện đại nhất hiện nay - thì còn cần một hệ luận bổ sung lớn như thế nào!
Đến đây – qua phần minh chứng ở trên về sự hoàn chỉnh và nhất quán của thuyết Âm Dương Ngũ hành - chúng ta mới có cơ sở để bàn tiếp về một lý thuyết thống nhất vũ trụ với thuyết Âm Dương Ngũ hành là ứng cử viên với tư cách là một lý thuyết nhất quán và hoàn chỉnh, đáp ứng đầy đủ những yếu tố căn bản của một lý thuyết khoa học. Tất nhiên nó nhân danh văn minh Lạc Việt.

Thiên Sứ
Còn tiếp

Thiên Sứ
12-09-2005, 08:11 AM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Vì lý do kỹ thuật, một cái host tôi đặt mua để chứa hình ảnh trong các bài viết của tôi bị trục trắc, nên hầu hết hình minh hoa trong tất cả các bài viết của tôi trên diễn đàn bị mất. Bởi vậy, các bài viết của tôi bị gián đoạn một thời gian dài. Tôi sẽ cố gắng khắc phục trong thời gian nhanh nhất. Chân thành cáo lỗi cùng quí vị quan tâm và mong được sự cảm thông của quí vị và anh em.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
12-09-2005, 07:19 PM
Kính thưa quí vị quan tâm
Vì lý do kỹ thuật nên không post được hình ngay trong bài viết.Do đó tôi xin đưa 2 hình ở bài viết trên vào đây.Mong được sự thông cảm của quí vị quan tâm.
Hình Hà đồ địa cầu :
http://lyhoc.viettop.net/hadodiacau.jpg
Hình Hà đồ liên hệ Hậu Thiên bát quái Lạc Việt
http://viettop.net/bobeo/HD-HT.jpg

Giang Minh Sài
20-04-2006, 03:54 PM
Bác Thiên Sứ kính mến ơi,
Bác đã tìm ra cách khắc phục lỗi mất hình trong các bài đã gửi chưa, đang đọc ngon trớn thì lại mất hình, đáng tiếc thật !!!
Vả lại, Bác có định biên tập các bài viết này thành một cuốn sách không? Nếu xuất bản được cuốn này thì tuyệt quá.
Rất mong bác dày công biên tập lại để xuất bản hẳn một cuốn kỳ thư.
Kính chúc bác sức khỏe.
TB: Hầu hết các hình vẽ, bảng biểu trong toppic này đều "tiêu" cả rồi--kloc--

Thiên Sứ
21-04-2006, 06:29 PM
Bạn Giang Minh Sài thân mến.
Rất cảm ơn bạn đã quan tâm đến các đề tài nghiên cứu khoa học của tôi. Tôi sẽ cố gắng để không phụ lòng của bạn và những người nghiên cứu khoa học nghiêm túc.
Tôi sẽ đưa tiểu luận này như một đề tài nghiên cứu khoa học và hy vọng sẽ được sự quan tâm với tinh thần khoa học nghiêm túc.
Chân thành chúc bạn vạn sự an lành.
Thiên Sứ

Giang Minh Sài
24-04-2006, 06:04 PM
Bác Thiên Sứ kính mến,
Trước mắt, mong bác quan tâm bổ sung lại các hình vẽ và bảng biểu trong toppic này, được không bác?
Em đã đọc được tập tiểu luận "Định mệnh có thật hay không" mà bác đưa trên Tuvilyso.com, thấy cách đặt vấn đề của bác quá hay, nhất là việc dùng kinh Phật để chứng minh tính có thực của định mệnh. Về vấn đề này, em đã từng được nghe một bậc thầy về tử vi nói đại ý rằng kinh Dịch khi phát triển ra thì bằng bao la trời bể, nhưng khi nói gọn lại thì cũng chỉ là hai lý âm dương, tuy Dịch rộng lớn và vĩ đại như vậy nhưng cũng chỉ bằng một phần của kinh Phật. Vì vậy mà Einstein đã hoàn toàn có lý khi nói "Phật giáo là tôn giáo của thế kỷ 21".
Qua đọc tiểu luận mới về Hà đồ - Lạc thư của bác, em chợt này ý định muốn giới thiệu với bác về một luận đề liên quan đến việc quy nạp Dịch, luận đề này chính là của bậc thầy tử vi mà em vừa nhắc tới, cách đặt vấn đề quy nạp này theo lời của vị đó, thì đã được người đó quán ngộ ra trong một phút đọc sách Kim Dung, và đã từng được đem ra trao đổi với cố giáo sư Nguyễn Hoàng Phương, tiếc rằng công trình chưa kịp phát triển thì gs Hoàng Phương đã quy thiên.
Bởi vì chưa xin phép người đó, nên em chỉ xin gợi ý với bác như thế này: Từ trước đến nay, người ta hầu như mới chỉ dẫn giải Dịch, các công trình nghiên cứu [hầu như] tập trung vào việc giải thích các quẻ Dịch và ứng dụng các diễn giải đó vào cuộc sống. Người ta coi Dịch là đạo của Trời ban cho, vậy có cách nào (quy tắc biến đổi nào) để đưa 64 quẻ Dịch về 1 quẻ Càn (quy thiên) hay không?
Sau khi tìm ra cách quy Thiên 64 quẻ Dịch, vị thầy tử vi mà em biết kia cũng đã tìm ra lời giải thích cho quá trình quy Thiên này, mà lời giải ẩn chứa trong mấy bộ kinh Phật. Tiếc là hiện nay phần luận giải quy thiên chưa được hoàn tất, em cũng chỉ mới nghe mô tả qua, tiếc là trí lực của em quá kém cỏi nên chưa sở đắc được điểu này !!!
Nói qua 1 chút vậy, nếu bác quan tâm vấn đề này và nếu vị tác giả kia đồng ý, em xin làm cầu nối cho hai bác thảo luận vậy.
Nhưng trước hết, em mong bác Thiên Sứ quan tâm hoàn chỉnh lại một số hình vẽ minh họa trong toppic bị hỏng.
Kính chúc bác sức khỏe.

Thiên Sứ
24-04-2006, 09:20 PM
Giang Minh Sài thân mến.
Việc mất tất cả các hình vẽ trên các bài viết của tôi làm cho sự diễn đạt của tôi trở nên khó hiểu.
Thực sự tôi cũng rất muốn hồi phục. Và đã hơn một lần hồi phục rồi lại mất. Bởi vậy , tôi đang suy nghĩ :
Đây là một hiện tượng ngẫu nhiên có tính kỹ thuật hay là một ảnh hưởng của một sự tương tác chưa giải thích được.
Nếu do ngẫu nhiên kỹ thuật thì tôi sẽ phục hồi ngay. Nhưng nếu rơi vào trường hợp sau thì tôi phải rất cân nhắc.
Tất cả sẽ tuỳ duyên.
Nhưng tôi thật sự muốn được tiếp kiến vị cao nhân mà bạn tôn trọng.
Cảm ơn sự quan tâm của bạn.
Thiên Sứ

Giang Minh Sài
28-04-2006, 05:16 PM
Giang Minh Sài thân mến.
Việc mất tất cả các hình vẽ trên các bài viết của tôi làm cho sự diễn đạt của tôi trở nên khó hiểu.
Thực sự tôi cũng rất muốn hồi phục. Và đã hơn một lần hồi phục rồi lại mất. Bởi vậy , tôi đang suy nghĩ :
Đây là một hiện tượng ngẫu nhiên có tính kỹ thuật hay là một ảnh hưởng của một sự tương tác chưa giải thích được.
Nếu do ngẫu nhiên kỹ thuật thì tôi sẽ phục hồi ngay. Nhưng nếu rơi vào trường hợp sau thì tôi phải rất cân nhắc.
Tất cả sẽ tuỳ duyên.
Nhưng tôi thật sự muốn được tiếp kiến vị cao nhân mà bạn tôn trọng.
Cảm ơn sự quan tâm của bạn.
Thiên Sứ

Bác Thiên Sứ kính mến ơi,
Ở trong toppic Lạc Việt Độn Toán (là hệ quả của toppic Hà đồ trong Văn Minh Lạc Việt, đúng không bác), các hình vẽ cơ bản vẫn ngon (chỉ thiếu 1 hình về Hà đồ phối Bát môn xoay lại theo quy ước của bản đồ hiện đại.
Như vậy, có thể cho rằng việc mất hình trên các toppic của bác chẳng qua là sự ngẫu nhiên có tính Kỹ thuật, dựa trên cơ sở luận đoán (logic) rằng bác rất thạo soạn thảo text nhưng khâu xử lý hình ảnh để pót trên các trang web là chưa siêu.
Có thể là do thủ thuật copy và paste thôi bác à,
Mong bác kiểm tra lại nhé.

testsuda
01-06-2006, 04:16 PM
.Kính thưa Sư Phụ, đệ tử mong Sự Phụ đưa tiểu luận này vào Tủ sách, để Đệ Tử download về rùi in ra làm tài liệu quí ah.

Thiên Sứ
01-06-2006, 11:09 PM
Testsuda thân mến.
Hiện Luke đã hoàn chỉnh xong việc ghép hình vào toàn bộ bài viết. Tôi đang biên tập lại lần cuối. Xong sẽ gửi trực tiếp cho ai có nhu cầu.
Thiên Sứ

testsuda
03-06-2006, 01:18 PM
vậy Sư Phụ cho coan đang kí đầu tiên, testsuda@yahoo.com

Thiên Sứ
03-06-2006, 02:41 PM
Ok. Luke gửi giúp cho sư phụ tới Testsuda tiểu luận này.
Thiên Sứ

laviedt
07-06-2006, 11:28 PM
Bác THIÊN SỨ kính mến,
Xin Bác gửi cho em 1 bản ,cám ơn BÁC.

phuongdong
27-06-2006, 02:00 PM
Kinh thua bac Thien su
Nhobac gui cho chau 1 ban theo dia chi: thanhhaivnjp@yahoo.com

Luke
28-06-2006, 08:36 AM
bạn Testuda va ban phuongdong thân mến,

Luke đã gởi mail tiểu luận Hà Đồ Trong Văn Minh Lạc Việt vào địa chỉ yahoo của 2 bạn. Nhận được thì báo cho Luke biết nhé.

Luke

Giang Minh Sài
28-06-2006, 10:43 AM
Bạn Luke thân mến, cho tôi 1 bản với, email tnc021211@yahoo.com. Cảm ơn bạn trước nhạ

laviedt
28-06-2006, 02:24 PM
Bạn LUKE thân mến!
Nhờ Luke vui lòng giúp cho một việc nhé.
Mình đọc thấy Bạn đã tập hợp các tài liệu của Bác Thiên sứ về LVĐT vao file word,Ban có thể cho mình xin một bản đươc không?
Cám ơn Bạn .

candy151
10-07-2006, 04:12 PM
Rất mong bạn Luke gửi cho mình một bản nhé. Địa chỉ là minhph273@yahoo.com

Cám ơn bạn nhiều

thailangtu
12-07-2006, 11:44 AM
-clap- bạn làm ơn gửi cho mình 1 bản vào freshfresh1988@yahoo.com nhạ Mình đã load mấy bài viết của chú Thiên Sứ rồi nhưng toàn thiếu đồ hình thôi. chán quá--el--

kieuhuong
13-07-2006, 12:09 AM
Anh Luke ơi!

Em cũng muốn xin một bản ạ! Địa chỉ mail của em là kieuhuong232003@yahoo.com

Em cảm ơn anh nhiều ^ ^

À, còn nữa! Thưa chú Thiên Sứ, cháu vừa đọc xong cuốn "Bí Mật Ba Đại Dương" của một khoa học gia Liên Xô cũ, giới thiệu "ngành khảo cổ học dưới nước" (Cuốn sách này có thể coi là đang ở trong tình trạng "thất truyền"-^_^- , bạn cháu tình cờ sở hữu nên cháu mới có duyên đọc nó) Trong đó tác giả đề xuất giả thuyết mà ông ấy đặt nhiều tâm huyết với nhiều dẫn chứng (nhưng chưa đầy đủ) về một nguồn gốc chung của những nền văn minh cổ nhất thế giới (tuổi từ 5-7000 năm trước trở lên) là sự chuyển giao của những con người từ phía nam thiên di dần lên phương Bắc, xuất phát từ một lục địa được coi là đã chìm lấp dưới đáy Ấn Độ Dương là Lemuria, một cuốn truyện khác của Nhật Bản nói về những truyền thuyết cổ xưa nhất của Nhật Bản thì gọi lục địa này là La Ma

Cháu thấy chú có nhắc đến chút ít về giả thuyết Văn Minh Lạc Việt đã được chuyển giao từ một nền văn minh đã bị chìm lấp nên cháu nghĩ chú sẽ hứng thú với phần nghiên cứu về Ấn Độ Dương của cuốn sách này. Sách này giấy rất đen, scan lên nhìn không ổn. Nếu chú ở Hà Nội cháu có thể mượn giúp chú. Cháu định thu xếp thời gian đánh máy lại để giới thiệu với mọi người trên diễn đàn, như thế chú sẽ chờ hơi lâu một chút đấy ạ --el--

Thiên Sứ
13-07-2006, 12:15 AM
Cảm ơn Kiều Hương quan tâm.
Kiều Hương có thể phôt cuốn sách đó được không? Tôi sẽ nhờ người đến lấy và gửi vào cho tôi.
Chúc Kiều Hương vạn sự an lành.
Thiên Sứ

kieuhuong
13-07-2006, 12:13 PM
Cháu sẽ thử photo xem, nếu bản sao xem tốt cháu sẽ photo cả quyển và nhắn chú để chú nhờ người qua lấy! ^^ Trong sách tác giả cho rằng chìa khóa giải mã bí ẩn của Lemuria nằm trong các thư tịch cổ xưa của Tây Tạng cất giữ trong các tu viện ở hymalaya.

Hy vọng sẽ sớm có nhà tài trợ cho những nghiên cứu như thế này ^^

Thiên Sứ
13-07-2006, 01:02 PM
Kiều Hương viết:
Trong sách tác giả cho rằng chìa khóa giải mã bí ẩn của Lemuria nằm trong các thư tịch cổ xưa của Tây Tạng cất giữ trong các tu viện ở hymalaya.
Không phảỉ thế đâu.
Thiên Sứ

kieuhuong
05-08-2006, 10:32 PM
Một cuốn sách cháu đọc có nói về những sợi thừng rơm khổng lồ trong các đền thờ của đạo Shinto, Nhật Bản là tạo hình theo dáng 2 con rắn âm dương quấn lấy nhau . Nếu hiểu về cách bện thừng theo nguyên lí này thì có phải câu "chính sự dùng lối thắt nút" trong cuốn sách của chú kèm theo mình họa Hà Đồ không chỉ là là biểu tượng cho ngũ hành mà trong đó đã bao gồm cả âm dương không?

soidabenduong
06-08-2006, 04:01 AM
Nhờ anh Luke gửi cho mình bản tiểu luận đến soidabenduong@yahoo.com

Cảm ơn anh,

sdbd

Thiên Sứ
06-08-2006, 06:56 PM
Kiều Hương viết:
Một cuốn sách cháu đọc có nói về những sợi thừng rơm khổng lồ trong các đền thờ của đạo Shinto, Nhật Bản là tạo hình theo dáng 2 con rắn âm dương quấn lấy nhau . Nếu hiểu về cách bện thừng theo nguyên lí này thì có phải câu "chính sự dùng lối thắt nút" trong cuốn sách của chú kèm theo mình họa Hà Đồ không chỉ là là biểu tượng cho ngũ hành mà trong đó đã bao gồm cả âm dương không?
Ngay trong cuốn sách đầu tiên của chú đã đặt vấn đề về nguồn gốc của người Nhật Bản. Rất có khả năng tổ tiên của họ là người Việt cổ. Sau khi Văn Lang sụp đổ và kéo dài nhiều thế kỷ sau đó- do sự thất bại liên tíếp của những cuộc nổi đậy của người Việt- họ đã di cư đến Nhật Bản ngày nay.
Trong văn hóa Nhật Bản cổ , ngoài hiện tương Kiều Hương nêu, chú còn phát hiện nhiều dấu ấn của văn hoá Việt.
Nhưng chú chỉ dừng lại ở sự đặt vấn đề, còn cần tiếp tục tham khảo các bằng chứng.
Kiều Hương có thể cho biết sách nào, trang bao nhiêu , Nxb và nguyên văn đoạn mà Kiều Hương giới thiệu không?
Cảm ơn Kiều Hương nhiều.
Thiên Sứ

Giang Minh Sài
07-08-2006, 06:27 PM
Bác Thiên Sứ và ban Luke thân mến,
Xin gửi cho Giang Minh Sài một bản tiểu luận với nha. địa chỉ: tnc021211@yahoo.com.
Bác Thiên Sứ à, lần trước gửi sách cho bác, sau đó chẳng thấy bác nhắc tới, hay bác quên? Thành ra không dám làm phiền bác nựa
Hy vọng là bác không coi cuốn sách tử vi gì đó là thứ bỏ đi không đáng quan tâm.
Kính chúc bác sức khỏe.

Thiên Sứ
07-08-2006, 06:35 PM
Anh Giang Minh Sài thân mến.
Tôi thật sự chưa nhận được cuốn sách nào? Anh gửi bằng cách nào?
Mong anh không hiểu lầm tôi.
Hy vọng anh có thể gửi lại cho tôi.
Thiên Sứ

kieuhuong
09-08-2006, 01:18 AM
^^ Cháu xin lỗi lần trước viết nhầm, không phải là 1 cuốn sách mà là 1 bộ truyện tranh (manga) của 1 nữ tác giả khá nổi tiếng ở Nhật, tên gốc của truyện dịch sang tiếng việt có nghĩa là "Thái Dương Thần Nữ" Tác giả ngầm đặt vào trong truyện giả thuyết về một nguồn gốc văn hóa truyền thống Nhật xuất phát từ lục địa Lemuria. Đoạn văn nói đến những sợi thừng là đoạn đối thoại của 3 nhân vật trong 1 cửa hàng đồ gốm cổ gồm 1 ông già có kiến văn rất rộng, trợ lí của ông ấy và 1 thanh niên trẻ có khả năng nhìn thấy những luồng khí lưu mà mắt thuờng không nhìn thấy (siêu năng lực^^) Những kiến thức mà tác giả đưa vào truyện thì rất rộng, sau đó cháu đã đọc thêm nhiều sách khác về phong thủy và trường khí mới biết những điều nói trong truyện đều là nói có sách, mách có chứng cả (Bái phục hiểu biết của tác giả này luôn) Đây là bộ truyện mà bà ấy tự cho là thành công nhất của mình

Rất nhiều kiến thức nói tới trong truyện sau này cháu đã thấy nhắc đến trong 1 cuốn sách viết về trường khí (sách viết rất khoa học, của 1 giáo sư nổi tiếng của Trung Quốc) nhưng đọc đôi khi hơi khó chịu vì tinh thần dân tộc của ông ấy cao quá^"^ Không biết chú có biết cuốn sách này không, tên nó hình như là "trường khí và ứng dụng" (đọc lâu rồi nên cháu quên bẵng) Có gì để cháu mượn lại của đứa bạn xem kĩ lại đã

Thiên Sứ
09-08-2006, 03:24 AM
Cảm ơn Kiều Hương cho thông tin.
Những tri thức trong bất cứ một cuốn sách nghiêm túc nào cũng rất quí báu, dù đó là truyện tranh. Nhưng trong một đề tài khoa học thì những thông tin trong truyện tranh ko thể lấy làm dẫn chứng thực tế. Còn cuốn nói về trường khí của vị giáo sư Trung Hoa thì tôi chưa xem.
Hy vọng Kiều Hương cho biết chính xác tựa sách.
Cảm ơn Kiều Hương.
Thiên Sứ

long ngong
09-08-2006, 10:02 AM
chú Thiên Sứ kính mến!
Hôm nay rằm tháng 7, bà con cúng bái quá trời. Sau khi cúng còn phải rải Gạo và Muối nữa. Không biết thời Hùng Vương đã có tục rải Gạo Muối chưa ?Không biết tục lệ này là của Trung Quốc hay của người Việt, một dân tộc gọi Giang Sơn của mình là Đất Nước hả chú?
chúc chú mạnh khỏe!
lóng ngóng.

Giang Minh Sài
09-08-2006, 11:58 AM
Anh Giang Minh Sài thân mến.
Tôi thật sự chưa nhận được cuốn sách nào? Anh gửi bằng cách nào?
Mong anh không hiểu lầm tôi.
Hy vọng anh có thể gửi lại cho tôi.
Thiên Sứ
Bác Thiên Sứ à, em đã kiểm tra lại, ngày 27/4/2006 đã gửi 1 bản sách biếu bác vào địa chỉ nguyenvutuananh_lacviet@yahoo.com.
Bác xem lại hộ, nếu địa chỉ sai thì bác cho em biết với, em sẽ gửi lại, còn nếu đúng địa chỉ rồi, thì không hiểu sao lại thế? Bác cũng cho em biết để em gửi thêm lần nữa nhé.
Mà sau khi gửi sách, em cũng đã vài lần gọi vào số máy 0903806265, đều không liên lạc được. Thành ra không dám gọi lại.
Em có trao đổi với một số người nghiên cứu Dịch ở Hà Nội về những luận thuyết mới toanh của bác, đa phần đều ngẩn ngơ, chắc là chỉ riêng nghiên cứu Dịch "truyền thống" thôi đã khiến mọi người "tẩu hỏa nhâp ma", còn đâu thời gian và sức lực nữa mà nghiên cứu rộng ra hơn nữa(!?). Nhưng cũng có thế những người mà em biết cũng chỉ là số nhỏ không đại diện cho giới tinh hoa về Dịch lỵ
Có phải bác đang sống ở Tp HCM? Em hy vọng sẽ gặp bác trong một ngày gần nhất khi em đi công tác trong đọ
Kính chúc bác sức khọe

Thiên Sứ
09-08-2006, 10:17 PM
Chân thành cảm ơn Giang Minh Sài. Thực tình tôi chưa nhận được thật. Trong máy tôi có cài đặt một chương trình làm tất cả các địa chỉ email lạ đều bị đưa xuống phần khác, để tránh bị vi rút. Có thể thư của anh rới vào trường hợp này. Hy vong anh gửi tiếp cho tôi. Nhưng để thận trọng, hy vọng anh hãy gửi một email thường , xong tôi gửi trở lại. Rồi anh hãy gửi sách. Như thế cho chắc ăn.
Số Dt của tôi hoàn toàn chính xác. Nhưng tôi hay cúp máy vì qua 1bận. Anh hãy gửi tin nhắn cho tôi. Nhận được tin , tôi xin gọi lại ngay.
Chân thành cảm ơn anh.
Thiên Sứ

kieuhuong
11-08-2006, 08:35 PM
Thưa chú Thiên Sứ, tên cuốn sách cháu nói với chú lần trước là "Ứng Dụng Trường Khí Trong Đời Sống Và Kiến Trúc" Trong đó tác giả có giải thích về gốc tích cái tên Hà Đồ rất giống chú, còn Lạc thư thì không thấy ông ấy nói gì cả -^_^-

Đây là link (http://s61.photobucket.com/albums/h66/mit2_vv/)để chú xem qua bìa sách và mấy trang mục lục lấy từ số trang mà cháu đang scan dở, khi nào scan xong cháu sẽ đưa lên diễn đàn sau.

T_T Trong sách động 1 tý là ông tác giả ca ngơi "Trung Quốc chúng ta thật vĩ đại có cái này, cái kia đi trước thời đại" mà cái này cái kia đấy là Hà Đồ, Lạc thư, Kinh Dịch, Phong Thủy. >_< Năm 1992 mà đã có người Trung Quốc viết được 1 cuốn chứng minh rất nhiều thứ thuộc bản quyền của người Trung Quốc ra tấm ra món thế này, không biết bao giờ nước ta mới tạo ra được 1 đối trọng tương ứng để Chứng Minh điều ngược lại

Thiên Sứ
11-08-2006, 08:42 PM
Cảm ơn Kiều Hương.
Để chú ra hiệu sách mua. Biết đâu kiếm được vài tài liệu cổ quí trích dẫn trong sách này.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
17-08-2006, 11:14 PM
KÍNH THƯA QUÍ VỊ QUAN TÂM.
Tiểu luận "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" đã được bổ sung đầy đủ hình ảnh minh hoạ. Thiên Sứ tôi chưa có điều kiện kiểm tra lại hết, có sai sót gì, xin được sự phát hiện của quí vị. Thiên Sứ tôi sẽ hiệu chỉnh lại.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ

VoTri
18-08-2006, 03:19 AM
Anh Thiên Sứ,

Em có xem qua những hình anh mới đưa lên, và một hình mà em đang xuy nghĩ là hình "Lạc Thư Cửu Tinh Đồ". Em so sánh các tinh đồ trong hình vẽ và các chùm sao trên trời. Em cũng đã kiếm được các sao đó. Em bây giờ đang thử sắp sếp các chùm sao trong "Lạc Thư Cửu Tinh Đồ", giống như em đã sắp cho bắc đẩu cửu phi tinh. Mong rằng sẽ kiếm được nhiều cái mà em đang tìm.

Cám ơn anh nhiều,

Em Vô Tri

VoTri
18-08-2006, 04:17 AM
Anh Thiên Sứ,

Những hình vẽ của Hậu Thiên Bát Quái mà em thường xem thì hướng Bắc nằm phía dưới như
...........Bắc...........
Đông................Tây
...........Nam...........
Nằm như vậy thì quẻ Ly tượng trưng cho Hỏa sẽ nằm ở trên và quẻ Khảm tượng trưng cho Thủy sẽ nằm ở dưới

Còn Hà Đồ thì em thấy họ vẽ theo thứ tự
4...9...2
3...5...7
8...1...6
Vẽ như vậy thì 1, 6 là tượng trưng cho phía bắc (nằm phía dưới giống như Hậu Thiên Bát Quái như trên) và 1,6 cũng tượng trưng cho Thủy nằm phía dưới giống như ngũ hành trong lá số Tử Vi

Nếu 2 món đồ nầy sếp như trên thì khi liên hợp Hậu Thiên Bát Quái và Hà Đồ thì sẽ giống như các sao trên trời

Một chúc ý kiến

Em Vô Tri

Thiên Sứ
18-08-2006, 06:11 AM
Số trên mà Vô Tri nói là số của Lạc Thư.
Số của Hà Đồ sắp như sau:
2......7......4

3....5/10...9

8......1.......6
Khi viết sách, anh sắp theo thói quen phổ biến của thời hiện đại : Bắc trên Nam dưới, để sách mang tính phổ biến, mọi người dễ tham khảo. Sắp như sách Tàu thì cho những ai quen nhìn theo sách Tàu. Những người quen nhìn theo sách Tàu có thể xoay ngược cuốn sách của anh lại để thẩm chứng.
Vô tri đưa dùm cho anh em 9 chòm sao hiện đại có thực trên trời tương ứng với cửu cung Lạc Thư lên cho anh em tham khảo với. Cả hình ảnh lẵn tên hiện đại.
Đậy là một thực tại chứng minh cho nền văn hiến Việt trải 5000 năm.
"Tiệt nhiên định phận tại thiên thư"
Con rùa thần trên sông Lạc mà sách Tàu nói tới , đưa vào nhà hàng đặc sản.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
20-08-2006, 07:59 AM
Vô Tri thân mến.
Nếu Vô Tri có vào đây, nhớ giúp anh cho xem mấy vì sao liên quan đến Lạc thư cửu tình đồ.
Cảm ơn Vô Tri nhiều.
Thiên Sứ

VoTri
22-08-2006, 10:14 PM
Anh Thiên Sứ,

Muốn giải thích Lạc Thư Cửu Tinh Đồ thì chắc em phải viết rất dài dòng. Anh đã biết Việt văn của em không được lưu loát như anh. Nếu mà viết bậy thì làm cho đề tài của anh sẽ mất đi cái ý đẹp và công lao của anh.

Cho nên em sẽ viết tóm tắt, và em sẽ giải thích thêm nhiều chi tiết trên sự liên hệ Lạc Thư Cửu Tinh Đồ và Cửu hành tinh trong đề tài bát thập bát tú

Những số và chùm sao trong Lạc Thư Cửu Tinh Đồ so sánh với 88 chùm sao hiện nay
1.Bắc Cực trong chùm sao bắc đẩu tiểu hùng tinh
2. Hổ Bôn trong chùm sao Kim Ngưu
3. Hà Bắc trong chùm sao Song Tử
4. Tứ Phụ trong chùm sao Cự Giải
5. Ngũ Đế Tọa trong chùm sao Sư Tử, nơi đây được gọi là đế tọa bởi vì khi mặt trời nằm trong khu vực chùm sao Sư Tử là lúc mặt trời vượng địa sáng nhất. Trong hình vẽ của ngũ đế tọa là mặt trời ở giữa chung quanh là Thủy Tinh, Kim Tinh, Hỏa Tinh và Mộc Tinh
6. Thiên Trù trong chùm sao Thất Nữ
7. Thất Công trong chùm sao Thiên Xứng
8. Hoa Cái trong chùm sao Thiên Hạt
9. Thiên Hỷ trong chùm sao Nhân Mã

Vì không có nhiều thì giờ cho nên em không có kèm theo hình vẽ. Chừng nào có hình thì em sẽ kèm thêm

Vô Tri

VoTri
24-08-2006, 02:19 AM
Anh Thiên Sứ,

Sau đây là hình vẽ Lạc Thư Cửu Tinh Đồ so sánh với các chùm sao trên trời
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/1649_1156356235.gif

Theo hình vẽ trên, anh sẽ thấy các chùm sao trong Lạc Thư Cửu Tinh Đồ là các sao có thật trên trời. Cái mà em vui nhất là trong khi tìm kiếm và học hỏi về hình vẽ Lạc Thư Cửu Tinh Đồ, em đã thấy được sự liên hệ của :
1- Lạc Thư (số 1-9) là thứ tự của các chùm sao chung quang mặt trời
2- Những bí mật của các chùm sao trong Cửu Tinh Đồ

Có nhiều bí ẩn của vũ trụ đã có trong văn hiến lạc việt. Cám ơn anh đã chia sẽ hình Lạc Thư Cửu Tinh Đồ cho em được mở mang trí thức

Em Vô Tri

Nhosonla
29-08-2006, 04:19 PM
Bạn LUKE thân mến!
Mình đọc trên diễn đàn thấy Bạn đã tập hợp các tài liệu bài viết của Bác Thiên sứ thành file word về Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, bạn có thể cho mình xin một bản được không?
Cám ơn Bạn, địa chỉ email của mình là nhosonla2002@yahoo.com

VoTri
13-09-2006, 06:35 AM
Mấy tuần nay Vô Tri đã nhận được nhiều email từ các bạn về hình vẽ bánh xe luân hồi. Trước tiên Vô Tri xin lỗi đã không có nhiều thì giờ trả lời email cho các bạn. Thôi để Vô Tri viết vài hàng giải thích.
Như các bạn đã biết, hình vẽ bánh xe luân hồi là Vô Tri đã vẽ ra trong lúc nhìn Lạc Thư Cửu Tinh Đồ.
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/1649_1158098572.gif

Vô Tri bắt đâù từ vòng trong và từ cung Tý đi vòng tới cung Hợi, hay từ chùm sao Ma Kiết => Nhân Mã.

12 chùm sao nầy là nơi cư ngụ của Nhị Thập Bát Tú bắt đầu từ hướng bắc sang Tây sang Nam sang Đông rồi trở về hướng Bắc

- Phương Bắc là con rùa đen gọi là Hoa Cái (Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích)
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/1649_1158097949.gif

- Phương Tây là con hổ trắng gọi là Bạch Hổ (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm)http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/1649_1158098070.gif

- Phương Nam là con phượng đỏ gọi là Phượng Các (Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn)http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/1649_1158098198.gif

- Phương Đông là con rồng xanh, gọi là Thanh Long (Giốc, Cang, Đê, Phòng Tâm Vĩ, Cơ)http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/1649_1158098341.gif

Nếu các bạn nhìn kỹ thì sẽ thấy nhị thập bát tú nằm trong hình bánh xe luân hồi.

Có rất nhiều bí mật trong hình vẽ bánh xe luân hồi. Nếu các bạn muốn hiểu thêm về những bí mật trong bánh xe luân hồi thì hãy bắt đầu từ chùm sao Nhân Mã an tại cung Hợi.

Thí dụ như ngôi sao đầu tiên của hướng Bắc là sao Đẩu Mộc Giải tượng trưng cho con cua , và tại sao Vô Tri lại vẽ tại cung Hợi nằm trong chùm sao Nhân Mã, và có liên hệ gì với Tử Vi ???
Trả lời : con cua lột xát (từ cung hợi sang cung Tý). Và cũng là tại sao nhiều sử tích nói về chùm sao Nhân Mã là nơi tái sinh, luân hồi hay các linh hồn bắt đầu từ nơi đó. Vã cũng là ý nghiã của sao Thiên Phủ trong chùm sao Nhân Mã. vv...

Đó là một trong những lý do tại sao Vô Tri đặt cho hình vẽ nầy là "Bánh Xe Luân Hồi".

Các bạn cứ theo thí dụ trên và tìm kiếm thêm những bí mật trong bánh xe luân hồi . Chúc các bạn may mắn

Nói tóm tắt lại , nhị thập bát tú cũng từ Hà Đồ và Lạc Thư mà ra , hay phát nguồn từ Văn Hiến Lạc Việt.

Những người học Tử Vi Thiên Văn Học như Vô Tri mà gặp được Hà Đồ và Lạc Thư thì cũng như người học võ có được Cửu Âm Chân Kinh và Cửu Dương Chân Kinh. -^_^- -^_^- -^_^-

Mến,
Vô Tri

Thiên Sứ
16-09-2006, 03:31 PM
Votri viết:
Nói tóm tắt lại , nhị thập bát tú cũng từ Hà Đồ và Lạc Thư mà ra , hay phát nguồn từ Văn Hiến Lạc Việt.
Hoàn toàn chính xác !
Tôi đang chỉnh sửa lại tiểu luận "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" và làm thành sách với những tri kiến thiên văn cập nhật.
Hoặc là nó sẽ đưa vào Thư Viện để mọi người chép về , hoặc là sẽ in với tựa:
HÀ ĐỒ TRONG VĂN MINH LẠC VIỆT.
Trong sách này sẽ sử dụng những tư liệu của Vô Tri và anh em với trích dẫn xuất xứ đầy đủ.
Thiên Sứ

VoTri
03-10-2006, 05:29 AM
Anh Thiên Sứ,

Mấy ngày nay em ở bên đây tập bát quái chưởng để rèn luyện sức khỏe. Em tự hỏi mình tại sao mình không áp dụng Hà Đồ trong môn võ Bát Quái Chưởng. Hay nói tóm tắt lại là sự thay đổi quẻ " Khôn và Tốn .

Sau khi em vẽ hình Hà Đồ Bái Quái ra lớn và dán lên tường.
- Em đã kết hợp quẻ Đoài và Tốn tượng trưng cho Kim thành một chiêu thức mới
- và kết hợp quẻ Ly và Khôn tượng trưng cho Hỏa thành một chiêu thức khác

2 chiêu mới nầy quả thật là lợi hại. Các bạn học võ và tập võ chung với em hằng tuần đều thích 2 chiêu thức mới nầy.

Mấy em muốn cám ơn anh đã chia sẽ Hà Đồ và mang lại 2 chiêu thức mới trong môn võ Bát Quái Chưởng

Em,
Vô Tri

Thiên Sứ
03-10-2006, 09:46 PM
Rất cảm ơn thông tin của Vô Tri. Đây chính là niềm an ủi và sự tự hào chính đáng của tôi.
Thiên Sứ

VoTri
04-10-2006, 01:16 AM
Anh Thiên Sứ,

Em quên cho anh biết tên của 2 chiêu mới nầy :
1. Đoài là Trạch và Tốn là Phong => Đoài và Tốn => hay là Trạch và Phong => Trạch Phong Đại Quá

2. Ly là Hỏa và Khôn là Địa => Ly và Khôn=> hay là Hỏa và Địa => Hỏa Địa Tấn

Không biết em tạm thời đặt tên cho 2 chiêu nầy có hợp với ý của anh không. 2 chiêu nầy cũng nhờ anh mà ra đời cho anh chắc anh phải giúp em coi lại tên của 2 chiêu nầy.

Anh cho em biết ý nghiã của 2 quẻ "Trạch Phong Đại Quá" và "Hỏa Địa Tấn" nhe

Cám ơn anh nhiều
Vô Tri

VoTri
04-10-2006, 01:28 AM
Anh Thiên Sứ,

Chiêu "Trạch Phong Đại Quá" là chiêu thức mở đường cho địch tấn công lúc ban đầu. Khi địch xuất chiêu và mình đợi địch xuất chiêu đến lúc cuối cùng thì là lúc mình quay người và đánh địch , lúc đó thì địch vô phương rút lui và chống đở

Còn chiêu "Hỏa Địa Tấn" thì chiêu vạn sự khởi đầu nan. Chiêu nầy khác hẳn với chiêu trên. Lúc ban đầu là lúc mình đứng thế yên tĩnh, tùy cơ ứng biến. Khi mạnh khi yếu tùy lúc ban đầu của địch.

Vô Tri

Thiên Sứ
11-11-2006, 09:00 AM
Vô Tri hỏi:
Em quên cho anh biết tên của 2 chiêu mới nầy :
1. Đoài là Trạch và Tốn là Phong => Đoài và Tốn => hay là Trạch và Phong => Trạch Phong Đại Quá
2. Ly là Hỏa và Khôn là Địa => Ly và Khôn=> hay là Hỏa và Địa => Hỏa Địa Tấn
Không biết em tạm thời đặt tên cho 2 chiêu nầy có hợp với ý của anh không. 2 chiêu nầy cũng nhờ anh mà ra đời cho anh chắc anh phải giúp em coi lại tên của 2 chiêu nầy.
Anh cho em biết ý nghiã của 2 quẻ "Trạch Phong Đại Quá" và "Hỏa Địa Tấn" nhe
Cám ơn anh nhiều
Vô Tri

Vô tri thân mến.
Vì Vô Tri viết hai bài liên tiếp lại ở hai trang khác nhau , nên tôi vô tình không đọc được bài này của Vô Tri. Bởi vậy, trả lời quá muộn sau gần nửa năm. Nhưng muộn còn hơn không, để trả tình tri âm.
Nghĩa của quẻ Trạch phong đại quá:
Sách viết:
* Nội quái Tốn, ngoại quái Đoài. Hổ quái : Trên Càn , dưới Càn.
Lời bình của Thiên Sứ
(Chữ thường kèm dưới)
Quẻ này bên ngoài nhu thuận, nghi lễ có vẻ yếu mềm, bên trong cứng rắn, kiên quyết.
* Cửu nhị và cửu tứ làm chủ quẻ. Cửu nhị cương, đắc trung, không nặng nề. Cửu tứ là cây đà không thể oằn xuống đến nỗi gãy.
Cửu mà ở ngôi chẵn là không chính vị. Nên uyển chuyển tuỳ thời.
*Đại quá là cái Đỉnh cao
Đây là quẻ của tri thức trí tuệ, đã đến độ chín.
* Hình tượng là chiếc quan tài chôn dưới đất.
Mọi chuyện đã và sẽ kết thúc hoàn hảo.
* Cây đà cong yếu, đi đâu cũng có lợi.
Đây chính là chiếc đòn gánh và cái dụng của nó.
* Nước trong đầm ngập lút cây. Quân tử không lấy đó làm sợ hãi khi đứng một mình, không buồn rầu, không lánh đời.
"Cao khúc bất như quảng hoạ". Tiếng đàn đạt đến tuyệt kỹ thì người thường không thể theo hoạ lại được. Nên cô đơn. Nhưng cũng vì độ chín của tri thức làm nên sự tự tin của người quân tử và đem tri thức đó giúp cho đời.
Votri thân mến.
Trên đây là nội dung quẻ Đại Quá trong sách và chú thích của tôi khi tìm hiểu về Dịch. Còn quẻ Hoả Địa Tấn tôi sẽ tìm và đưa lên sau. Vì hứng đến đâu thì viết đến đấy, không biết bây giờ cái fine nó nằm chỗ nào.
Chúc Vô Tri luôn vui vẻ.
Hy vọng có ngày được gặp.
Thiên Sứ

VoTri
16-11-2006, 07:01 AM
Anh Thiên Sứ kính mến,

Cám ơn những lời giải cho quẻ Đại Quá của anh. Mấy tuần nay em quá bận về việc xây nhà nên không có nhiều thì giờ lên đây trò chuyện với anh. Đi một vòng trong các bài post mất tuần qua , em có đọc qua những lời khen và chỉ trích về hà đồ. Sau khi đọc qua , em cũng cảm thấy buồn vì em thấy còn nhiều người chưa hiểu rõ về hà đồ và hậu thiên bát quái.
Anh cho em vài lời đóng góp nhe. Như em hiểu thì về sự liên hệ các số trong hà đồ và ngũ hành là như sau:
- Số 1 => Thủy
- Số 2 => Hỏa
- Số 3 => Mộc
- Số 4 => Kim
- Số 5 => Thổ

Còn các số 6 đến 10 thì cũng như số 1 đến 5. Hay là:
- Số 1 , 6 => Thủy
- Số 2 , 7 => Hỏa
- Số 3 , 8 => Mộc
- Số 4 , 9 => Kim
- Số 5 , 10 => Thổ

Còn nói về âm dương thì như sau :
1, 7 là dương
3, 9 là âm
6, 2 là âm
8, 4 là dương

Nhìn vào hà đồ và hậu thiên bát quái thì sẽ thấy hợp với âm dương ngũ hành. Cặp 1,7 và 3, 9 và 6, 2 và 8,4 sẽ đối diện với nhau
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/1649_1163628578.jpg


Đó là nói về âm dương ngũ hành trong Hà Đồ. Còn nói về Bát Quái thì sẽ như sau:
- Các số => Ngũ hành => Bát Quái
- Số 1 => Thủy => Khảm
- Số 2 => Hỏa => Khôn
- Số 3 => Mộc => Chấn
- Số 4 => Kim => Tốn

- Số 6 => Thủy => Càn
- Số 7 => Hỏa => Ly
- Số 8 => Mộc => Cấn
- Số 9 => Kim => Đoài

Nếu mà Tốn và Khôn không đổi chổ cho nhau thì sẽ nghịch với luật âm dương.

Mộc chúc ý kiến,
Em Vô Tri

Thiên Sứ
16-11-2006, 08:45 AM
Cảm ơn sự chia sẻ của Vô Tri.
Tôi rất hy vọng và tin rằng: Trong tương lai không xa. Hà Đồ & Hậu Thiên Lạc Việt sẽ được thừa nhận là nguyên lý căn để của học thuật cổ Đông phương có nguồn gốc từ nên văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử.
Thiên Sứ

VoTri
16-11-2006, 09:49 AM
Anh Thiên Sứ,

Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái là những ấn tượng của cửu hành tinh trên trời. Kỳ sau nếu ai có thắc mắc, anh nên lấy thí dụ về Thiên Văn Học làm bằng chứng thì chắc sẽ làm cho người ta dễ hiểu. Một chúc ý kiến,

Em Vô Tri

Thiên Sứ
16-11-2006, 10:28 AM
Vô Tri thân mến.
Nói rồi đấy chứ. Lấy cả trình thiên văn Skymap pro làm dẫn chứng thực tế , Nhưng người ta cứ khăng khăng không chịu vì : Sách Tàu thì không thể sai.
Tại vì đối với họ thì đổi chỗ Tốn Khôn hay không? Hà Đồ hay lạc Thư chẳng quan trọng gì với họ cả. Híc. Bây giờ nếu 2/ 3 thế giới này bào trái Đất vuông thì cũng chẳng sao. Híc.
Biết làm sao bây giờ?
Thật là một điều buồn.
Chia sẻ với Vô Tri. Mong rằng điều buồn này chóng qua.
Thiên Sứ

Vovitu
16-11-2006, 05:11 PM
Một luận chứng khoa học đưa ra bao giờ cũng đòi hỏi cơ sở lý luận và thực tiễn chứng minh. Chứng minh được chân lý thì không có nghĩa là chân lý đó sẽ được chấp nhận ngay, nhất là khi chân lý, hay sự thật vừa được khám phá đi ngược lại với nếp suy nghĩ lâu đời. Chẳng phải rằng ngày xưa đã từng có nhà bác học bị treo cổ vì chứng minh rằng quả đất hình tròn và quay quang mặt trời đó sao?
Chú Thiên Sứ và một vài nhà nghiên cứu Việt Nam đã kết hợp nghiên cứu những di tích, di vật khảo cổ, vận dụng kỹ thuật hiện đại…để phát hiện và khẳng định Kinh dịch có nguồn gốc từ Lạc Việt, chỉ ra những khiếm khuyết trong một số môn khoa học Đông phương, và hơn hết là khẳng định được tính hiện hữu lâu đời của nền văn minh Lạc Việt. Là người Việt, chúng ta nên tin và nên tự hào về những gì ông cha ta được làm được.
Nếu như ai đó cho rằng nước ta chỉ là nhược tiểu thì không thể làm được điều kỳ tích, thì sao không thử đọc lại lịch sử xem nước nhược tiểu đó đã mấy lần đánh bại Bắc phương xâm lược. Nếu cho rằng nước nhỏ thì chẳng thể làm gì, thì sao ngày xưa Mông cổ đã từng thống trị cả không chỉ Châu Á mà cả Châu Âu (nhưng cũng phải thất bại nơi đất Việt). Cách suy nghĩ đó thật là thiển cận.
Trên giác độ sáng tạo khoa học, gần đây ở Việt Nam có nhiều sáng chế mà chủ nhân của nó chỉ là những nông dân trình độ chỉ vừa đủ để đọc thông, viết thạo mà chẳng cần phải là kỹ sư hay tiến sĩ. Vì sao vậy? Chắc hẳn điều này cũng góp phần cho phép đánh giá cao trí tuệ tiềm ẩn của người Việt.
Từ lâu lắm rồi, người ta đã thừa nhận Kinh dịch là một trong tam đại kỳ thư của Trung Hoa và mọi khoa học huyền bí điều bắt nguồn từ Trung Hoa. Do vậy không có gì khó hiểu khi đại đa số người có nghiên cứu, học hỏi khoa học phương Đông không chấp nhận Kinh dịch là sản phẩm của người Việt, học thuyết đổi chỗ Tốn - Khôn trong Hà Đồ…Bởi vì chấp nhận đều đó là đi ngược lại cả một truyền thống lâu đời, là phải thay đổi cả một hệ thống lý thuyết đã học, dẫn đến thay đổi cả thực hành, đều này không dễ dàng chút nào.
Thử hỏi, những lý thuyết mà chúng ta đã và đang tiếp thu được cho là có nguồn gốc từ Trung Hoa ấy có chuẩn xác đến 100% không? Ai sẽ chứng minh được tính chính xác này? Từ lý thuyết đó, áp dụng vào thực tiễn có cho kết quả đúng hoàn toàn không? Tôi thì cho rằng, lý thuyết và thực tiễn ấy không đúng hoàn toàn, có sự thiếu sót về lý luận (thể hiện qua việc một số môn chuyên biệt có cách đánh giá vấn đề khác nhau, thậm chí trái ngược).
Theo tôi, những vấn đề chú Thiên Sứ đưa ra rất hay, rất bổ ích. Nó không đảo ngược hay phủ nhận hoàn toàn hệ thống lý thuyết trước đó mà nó có tác dụng hoàn thiện bổ sung những khiếm khuyết, giúp con người “hoà nhịp”, am hiểu, giải mã sự huyền của vũ trụ tốt hơn.
Thật dễ hiểu nếu các nhà nghiên cứu, nhà dịch học Trung Quốc không thừa nhận kết quả nghiên cứu của chú Thiên Sứ, vì đó không chỉ là sự thay đổi mà còn là sĩ diện quốc gia. Nhưng đáng ngạc nhiên thay, khi có người Việt lại không chịu suy nghĩ thấu đáo, vội vàng phản bác kết quả nghiên cứu khoa học.

khonglaai
16-11-2006, 05:45 PM
Liệu anh Thiên Sứ có lấy bài trên làm bằng chứng chứng minh cho thuyết của anh không? Nếu có thì xin khonglaai được can anh.
Vì chỉ cần biết suy luận logic một chút thì người phản biện sẽ chỉ ra những điểm bất ổn trong bài trên.


Như em hiểu thì về sự liên hệ các số trong hà đồ và ngũ hành là như sau:
- Số 1 => Thủy
- Số 2 => Hỏa
- Số 3 => Mộc
- Số 4 => Kim
- Số 5 => Thổ

Điều anh vô tri hiểu chưa phải là điều được chứng minh. Tuy các cụm số chỉ là cụm số thôi, nếu người ta đặt tên các cụm số đó là A, B, C, D, E thì không nói làm gì. Còn nếu gán nó vào những chữ có nghĩa thì phải chứng minh trên cơ sở nào gán như vậy?


Còn nói về âm dương thì như sau :
1, 7 là dương
3, 9 là âm
6, 2 là âm
8, 4 là dương

Anh có chứng minh gì không? Hay ít nhất là lới giải thích hợp lý vì sao nó thế.


Nhìn vào hà đồ và hậu thiên bát quái thì sẽ thấy hợp với âm dương ngũ hành. Cặp 1,7 và 3, 9 và 6, 2 và 8,4 sẽ đối diện với nhau
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/1649_1163628578.jpg



Thành thật mà nói với anh Vô Tri thì theo cách lý luận này tôi có thể lấy bất kỳ một bát quái nào ra rồi tôi cũng khẳng định như anh đã nói ngon lành. Thậm chí bê nguyên câu chữ vào không cần thêm bớt.

Đó là nói về âm dương ngũ hành trong Hà Đồ. Còn nói về Bát Quái thì sẽ như sau:
- Các số => Ngũ hành => Bát Quái
- Số 1 => Thủy => Khảm
- Số 2 => Hỏa => Khôn
- Số 3 => Mộc => Chấn
- Số 4 => Kim => Tốn

- Số 6 => Thủy => Càn
- Số 7 => Hỏa => Ly
- Số 8 => Mộc => Cấn
- Số 9 => Kim => Đoài

Nếu mà Tốn và Khôn không đổi chổ cho nhau thì sẽ nghịch với luật âm dương.

Anh có chứng minh được không? Cũng lưu ý với anh nếu như bỏ qua không cần chứng minh, cứ cho là có bốn cặp như sau: Thủy: Càn-Khảm, Hỏa: Ly-Khôn, Mộc: Chấn-Cấn, Kim: Tốn-Đoài thì những cái suy ra, suy ra của anh cũng có thể đưa đến 16 nghiệm. Và anh cần chứng minh nghiệm của anh là tốt nhất, đúng nhất với sự vận hành vũ trụ.
Đó là mấy ý kiến khi đọc bài anh Vô Tri. Vẫn còn hai điểm cần nhắc nữa:
Thứ nhất, hầu hết các nhà lý giải Dịch đều mắc phải sai lầm logic rất trầm trọng đó là thứ tự kiến giải Hà Đồ, Hậu Thiên Bát Quái và Ngũ Hành. Người ta hầu như cứ cho Thủy có trước nên Thủy = 1...v...v...Nói cách khác lý luận từ Ngũ Hành sang số. Đây là sai lầm rất quan trong của Dịch Trung Hoa. Vì số bao giờ cũng giản đơn hơn. Và như tôi đã nói Hậu Thiên Bát Quái được suy từ phép toán sơ cấp nhất. Sau đó, họ nhận thấy 4 cặp số 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 hợp với Hậu Thiên(Thêm một cặp 5-10 nữa là thành Hà Đồ). Đồng thời có lẽ cũng nhận ra, cũng thấy được Hà Đồ nằm trong rất nhiều hiện tượng tự nhiên khác(ví dụ như anh Thiên Sứ thông báo là nó có nằm trên trời) nên họ cho rằng 5 cặp số đó là một mã thiêng liêng của vũ trụ. Như tôi đã chứng minh sự tương đương của Hà Đồ với Hậu Thiên Bát Quái thì chúng ta dễ nhận thấy logic nào khoa học hơn:
a. Số học sơ đẳng==>Hậu Thiên~Hà Đồ==>Ngũ Hành(mang tính triết lý). Ở đây, cái suy ra Ngũ Hành đó cũng cần phải chứng minh. Ít ra phải chỉ cho người khác biết vì sao người xưa lại đặt tên cho năm cặp số là như thế.
b. (Triết lý)Ngũ Hành~Hà Đồ(số học)==>Hậu Thiên(như anh Vô Tri viết những suy ra, suy ra nói trên). Đó là chưa kể cần phải chứng minh các cặp số làm sao phải ứng với hành như thế. Rồi còn phải chứng minh vì sao từ cái Hà Đồ như thế mà ra cái Hậu Thiên như thế. Thuở xa xưa đó thì liệu người ta nhận thấy năm ngón tay bằng 5 trước hay là họ cho ngón cái bằng Thủy(ví dụ thế), ngón trỏ bằng Hỏa...v...v...trước?
Thứ hai, dù cả anh Vô Tri và anh Thiên Sứ đã phát hiện ra Hà Đồ trên bầu trời (điều mà tôi cũng tin có thật), thì chúng ta cần phải chứng minh mối liên hệ giữa Hà Đồ và Hậu Thiên một cách chặt chẽ và logic.Khi chưa làm được điều này mà anh Vô Tri đã bảo anh Thiên Sứ đưa cái cửu tinh ra để làm bằng chứng: "Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái là những ấn tượng của cửu hành tinh trên trời. Kỳ sau nếu ai có thắc mắc, anh nên lấy thí dụ về Thiên Văn Học làm bằng chứng thì chắc sẽ làm cho người ta dễ hiểu." thì liệu có quá võ đoán không?
Đôi điều góp ý.
Thân ái.
KLA

VoTri
16-11-2006, 09:52 PM
Anh KhongLaAi,
Cám ơn những lời nhắc nhở của anh. Anh nói đúng , 1 trang giải thích không thể nói lên hết sự liên hệ của Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái. Đây là những bài nghiên cứu của anh Thiên Sứ , cho nên em không muốn tranh giành trên post nầy , mong các anh chị em hiểu cho.
Nếu được sự đồng ý của anh Thiên Sứ, các anh có thể mở một post khác để bàn luận. Rất có thể Vô Tri sẽ được học hỏi được nhiều từ các anh chị
Em Vô Tri

Thiên Sứ
17-11-2006, 01:40 AM
Con nhiều vấn đề phải cần hoàn thiện.
Nhưng phảo có nến tảng đúng bước đầu đã.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
17-11-2006, 07:52 AM
Anh Không Là Ai viết:
Thứ hai, dù cả anh Vô Tri và anh Thiên Sứ đã phát hiện ra Hà Đồ trên bầu trời (điều mà tôi cũng tin có thật),

Anh Không Là Ai thân mến.
Trong con người khoa học thì niềm tin chỉ giới hạn ở logic nội tại giữa tư duy và phát kiến. Không có niềm tin trong một lý thuyết khoa học. Lý thuyết cần được kiểm chứng để chứng tỏ một nhận thức đúng.
Tôi sẽ tìm cách cài trình thiên văn Skymap pro lên diễn đàn , để anh chép về và chứng tỏ rằng:
Hà Đồ hoàn toàn là sự xác định qui luật vận động của ngũ tinh trong Thái Dương hệ.
Khi tôi viết tiểu luận "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" , lần đầu tiên ở tuvilyso.com, tôi không biết gì về trình Thiên Văn này. Bởi vậy, nó hạn chế sức thuyết phục của một tiểu luận khoa học, chủ yếu dựa trên tính hợp lý của các hiện tượng liên quan. Nhưng khi mới sang vietlyso.com , Anh Hoả Tinh và Chính Ấn tặng tôi trình Thiên Văn này.
Đây chính là cơ sở thực tế rất chắc chắn để chứng minh cho một lý thuyết vũ trụ đã tồn tại và ứng dụng.
Anh Không Là Ai viết:
chúng ta cần phải chứng minh mối liên hệ giữa Hà Đồ và Hậu Thiên một cách chặt chẽ và logic.
Tôi đã làm điều này trong các tác phẩm đã xuất bản. Nhưng vì mục đích của tôi chỉ coi nguyên lý học thuật cổ Đông phương như là một phương tiện chứng minh cho nền văn hiến Việt. Bởi vậy không đi sâu vào chứng minh có tính chuyên môn của vấn đề.

Nay anh đặt lại vấn đề này, chúng ta cần bàn sâu thêm:
1) Ký hiệu bát quái là một biểu tượng phản ánh một thực tại khác với Ngũ hành, hay chúng chỉ là một, nhưng có hình thức khác nhau trong ứng dụng cụ thể giữa một khái niệm phản ánh thực tai (Ngũ hành) và ký hiệu công thức của nó.
Cái này tôi xin trả lời ngay:
Bát quái Tiên và Hậu thiên là ký hiệu siêu công thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành theo hệ toán nhị phân.
Nhưng để chứng minh điều này là công việc của anh.

2) Hà Đồ và Hậu thiên bát quái có tính ứng dụng trong một thực tại vận động, phản ánh các qui luật của sự vận động trong vũ trụ trong Ngân Hà. Chính điều này làm nên khả năng tiên tri của nó qua các phương pháp tiên tri Đông phương.
Nhưng như vậy thì đây là một kết quả nhận thức về sự hợp nhất giữa không gian và thời gian. Trong khi đó, lý thuyết tiên tiến nhất của khoa học hiện đại - thuyết Tương Đối - mới chỉ đặt ra vấn đề giữa không thời gian trong sự liên hệ giữa: Khối luợng và thời gian vận tốc.So sánh như vậy để thấy tính siêu việt của thuyết Âm Dương Ngũ hành so với thuyết Tương đối hiện nay. Do thuyết Âm Dương Ngũ hành đã ứng dụng qua những đồ hình biểu lý của nó , còn những lý thuyết tiên tiến nhất của nhân loại hiện nay chỉ dừng lại ở một nhận thức thực tại chưa hoàn chỉnh.
Bởi vậy, nếu giả thuyết dựa trên sự liên hệ hợp lý giữa các vấn đề liên quan của tôi là đúng (Câu 1) thì - Sự chứng minh về mặt toán học:
Bát quái là ký hiệu theo hệ nhị phân chính là siêu công thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành, phản ánh một lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiếm. Nếu chúng ta làm được điều này, thì đây chính là kết quả cuối cùng của tri thức nhân loại trong việc khám phá những bí ẩn của vũ trụ.
Chúng ta có thể tin rằng:
Sẽ thực hiện được điều này trong ngay phần còn lại của cuộc đời chúng ta.
Cơ sở hợp lý của niềm tin này là:
Nếu những phát kiến của khoa học hiện đại nhất, phải dựa trên một tư duy có tính vượt trội từ một mặt bằng kiến thức chung của nhân loại - Đây cũng là tính vĩ đại cùa những phát kiến hiện đại - nhằm khám phá thực tại chưa biết. Còn chúng ta thì không cần đến một tư duy vĩ đại, mà chỉ cần thông minh. Bởi vì, chúng ta chỉ phục hồi những cái có sẵn.
Là một nhà toán học, hy vọng anh sẽ chú ý và tham khảo những luận điểm của tôi.
Chúc anh thành công và vạn sự an lành.
Thiên Sứ.

Thiên Sứ
20-11-2006, 11:05 AM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Thiên Sứ tôi rất hân hạnh thông báo:
Cuốn Hà đồ trong văn minh Lạc Việt đã biên tập xong dưới dạng sách. Cuốn sách này dựa trên nội dung căn bản là tiểu luận "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" đã trình bày trong topic này , có biên tập lại và bổ sung những tư liệu khoa học mới nhất.
Hy vọng cuốn sách sẽ là một tài liệu tham khảo của quí vị trong việc tìm hiểu những giá trị đích thực của nền văn hóa cổ Đông phương và việc tìm hiểu một thực tại là cơ sở của nó.
Dưới đây là phần kết lụân của cuốn sách .

THAY LỜI KẾT
Cuốn “Hà đồ trong văn minh Lạc Việt” là một sự tiếp nối những sách đã xuất bản, nhằm chứng minh về một lịch sử văn hiến Việt trải gần 5000 năm và nhân danh khoa học. Ngoài việc minh chứng cho một lịch sử văn hóa bị lãng quên thì “Hà đồ trong văn minh Lạc Việt” được viết với một hy vọng chứng minh rõ hơn cho một thực tại là cơ sở cho sự nhận thức, mà từ đó cổ nhân đã tổng hợp để tạo ra một học thuyết vũ trụ quan nền tảng cho sự huyền vĩ của văn minh Đông phương . Đó chính là thực tại của sự vận động có qui luật và tương tác từ vũ trụ , được phản ánh trong thuyết Âm Dương ngũ hành .
Tiêu chí khoa học hiện đại đã định tính rằng:
* Không có tính qui luật thì không có khả năng tiên tri .
* Một lý thuyết khoa học phải có khả năng tiên tri .
Sự xuất hiện của trình thiên văn Skymap pro đã chứng tỏ tính qui luật của những sự vận động trong vũ trụ (Không có tính qui luật thì không thể lập trình) . Chính qui luật và hiệu ứng của sự vận động tương tác này được nhận thức đã làm nên khả năng tiên tri kỳ vĩ của nền văn minh Đông phương .
Bởi vậy, tính hợp lý trong việc giải thích những hiện tương và vấn đề liên quan theo tiêu chí khoa học, không phải chỉ dừng lại ở việc minh chứng cho lịch sử nền văn hiến Việt bị lãng quên, mà còn là sự phát triển tiếp tục sự khám phá một tri thức vũ trụ kỳ vĩ thuộc về một nền văn minh cổ xưa trong quá khứ.
Những bản văn cổ chữ Hán ghi nhận dấu ấn của một học thuyết và các phương pháp ứng dụng một cách rời rạc và không có hệ thống, chưa đủ để chứng tỏ là cơ sở cội nguồn của một một học thuyết kỳ vĩ có qui mô vũ trụ , mà khả năng vượt ra ngoài sự hiểu biết của tri thức hiện đại . Sự thẩm định cội nguồn của một giá trị tri thức là học thuyết vũ trụ quan Âm Dương ngũ hành, không thể đơn giàn chỉ giới hạn ở bằng chứng văn bản và những di vật khảo cổ. Bởi vì nội dung và hình thức văn bản cũng như những di vật khảo cổ chỉ là những yếu tố cần , nhưng không phải yếu tố duy nhất đủ để chứng minh cho cội nguồn của một học thuyết, hoặc lịch sử.
“Lịch sử là sự tổng hoà của các mối quan hệ xã hội” .
Lẽ tất nhiên những hiện tượng và vấn đề lịch sử đó, không thể duy nhất được chứng minh bằng di vật khảo cổ hoặc văn bản , khi mà ở những môí quan hệ xã hội lịch sử khác, nó tỏ ra mâu thuẫn và bất hợp lý .
Vấn đề được đặt ra trong “Hà Đồ và văn minh Lạc Việt” lại không chỉ giới hạn ở sự biện minh cho một vấn đề lịch sử. Nó còn là sự minh định cho nội dung của một học thuyết đã thất truyền . Bởi vậy, sự tồn tại của những bản văn liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, không phải là bằng chứng cho nội dung và cội nguồn đích thực của học thuyết này . Để minh định một học thuyết, nó còn phải chứng tỏ những vấn đề và yếu tố cần khác liên quan đến nó . Đó chính là những thực tại được nhận thức và là giá trị tri thức phổ biến trong xã hội làm nền tảng cho sự xuất hiện của một lý thuyết và tính kế thừa của nền văn minh . Nhưng điều này không có trong văn minh Hoa Hạ và đã được chứng minh trong sách này .
Nhưng chính những di sản văn hoá Việt lại chứng tỏ sự liên hệ chặt chẽ với những giá trị tri thức liên quan và có khả năng giải thích và phục hồi lại một cách nhất quán , hoàn chỉnh , có tính khách quan, tính qui luật và khả năng tiên tri của học thuyết Âm Dương Ngũ hành .

Những thành tựu mà tri thức khoa học hiện nay đạt được, chưa phải là chân lý cuối cùng của vũ trụ .
Những nhà khoa học hàng đầu của nhân loại đang mơ ước :
Tạo ra một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ. Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn có thể giải thích mọi sự kiện bao quanh con người từ những hạt vật chất cực nhỏ đến những thiên hà khổng lồ .
Thuyết Âm Dương Ngũ hành về nội dung giải thích từ sự hình thành vũ trụ và mọi sự kiện bao quanh con người với một khả năng tiên tri huyền vĩ . Nó được ứng dụng một cách nhất quán bởi một biểu thức duy nhất là nguyên lý căn để “Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” thể hiện một cách có tính khách quan, tính quy luật cho mọi hiện tượng liên quan đến vũ trụ và con người .
Nhưng một vấn đề rất đáng chú ý ở đây là :
Chỉ một nguyên lý căn để duy nhất “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” nhưng bao gồm cà mối liên hệ không thời gian của học thuyết này . Khi nó vừa giải thích một cách hợp lý mối tương quan về không gian với qui luật vận động của các thiên thể gần trái Đất , vừa định lượng thời gian cho sự vận động đó .
Điều này chỉ xuất hiện một cách chưa hoàn chỉnh trong thuyết Tương đối, một lý thuyết khoa học hiện đại nhất hiên nay trong tri thức nhân loại . Đoạn sau đây trích trong “Lược sử thời gian” (Nxb Khoa học kỹ thuật 1997) chứng tỏ điều này . S.W . Hawking , tác giả của cuốn sách đã viết:
“Tuy nhiên, thuyết tương đối buộc chúng ta phải thay đổi một cách căn bản những ý niệm của chúng ta về không và thời gian . Chúng ta cần phải chấp nhận rằng thời gian không hoàn toàn tách rời và độc lập với không gian, mà kết hợp nó thành một đối tượng được gọi là không - thời gian “ .
(Sách đã dẫn , trang 44)
Trong “Hà đồ và văn minh Lạc Việt” , người viết đã chứng minh với bạn đọc một nguyên lý căn để duy nhất “Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt” lý giải cả không thời gian trong thuyết Âm Dương ngũ hành .
Phải chăng ở đây có sự trùng hợp giữa một lý thuyết hiện đại nhất trong tri thức nhân loại với một học thuyết cổ? Sự khác nhau giữa thuyết Tương đối và thuyết Âm dương ngũ hành về không thời gian chỉ là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành đã biểu tượng hoá trong ứng dụng với khả năng tiên tri. Còn thuyết Tương đối mới chỉ đặt vấn đề cho nó?
Phải chăng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà trong đó, nó phản ánh những những thực tại mà tri thức hiện đại của nhân loại chưa biết tới .
Viết cuốn “Hà đồ trong văn minh Lạc Việt”, người viết hy vọng sẽ đặt vấn đề là cơ sở ban đầu cho việc tiếp tục khám phá những thực tại vũ trụ nằm ngoài tri thức hiện đại của con người .
Điều này chỉ có thể thực hiện được từ một nền văn minh kỳ vĩ trong lịch sử . Đó chính là nền văn hiến Lạc Việt trải gần 5000 năm văn hiến .
Xin chân thành cảm tạ sự quan tâm của bạn đọc .
Hoàn tất bản in sách 20 .11 . 2006 .
Nguyễn Vũ Tuấn Anh

Giang Minh Sài
20-11-2006, 06:22 PM
Xin chúc mừng bác Thiên Sứ đã hoàn thành công trình theo đuổi bấy lâu, hy vọng sớm được uống rượu mừng "đầy tháng" đứa con tinh thần này của bác. Hy vọng sớm được nhìn thấy "cháu nó" "khóc oe oe" trên các giá sách để mọi người cùng tham khảo.
Một lần nữa, chúc mừng bác Thiên Sứ.

laviedt
20-11-2006, 07:32 PM
Xin chúc mừng Bác Thiên Sứ đã hoàn thành cuốn sách mà Bác ấp ủ bấy lâu và vào một ngày đầy ý nghĩa như hôm nay .

Mong sẽ đuợc đọc vào một ngày sớm nhất .
Kính --ttd--

VoTri
21-11-2006, 11:42 PM
Anh Thiên Sứ kính mến,

“So now it's come true,
Just as you told us,
The world at your feet,
The stars round your shoulders!”

Chúc mừng anh đã đạt được ý nguyện

Em Vô Tri

Vovitu
22-11-2006, 09:19 AM
Xin chúc mừng chú Thiên Sứ.
Mong cuốn sách sớm có mặt trong các quày sách ở khắp nơi.

hạt gạo làng
22-11-2006, 10:12 AM
chúc mừng chú Thiên Sứ, hy vọng cháu có được cuốn sách trong thời gian sớm nhất
cám ơn chú nhiều

Thiên Sứ
04-12-2006, 08:47 AM
Xin chân thành cảm ơn bạn hữu đã có lời chúc mừng . Cuốn sách đã gửi Nxb, đang chờ bổ sung bài giới thiệu dài 9 trang của một vị Giáo sư tiến sĩ có uy tín trong việc nghiên cứu nguyên lý học thuật cổ Đông phương . Vị giáo sư này đã viết xong, chỉ việc lấy về và bổ sung thêm.

Một lần nữa cảm ơn các bạn .
Thiên Sứ

Thiên Sứ
21-12-2006, 01:03 AM
LỜI GIỚI THIỆU CỦA GIÁO SƯ TIẾN SĨ HOÀNG TUẤN
(Cho cuốn "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt")
-------------------------------------------------------------

LỜI GIỚI THIỆU
Giáo sư tiến sĩ Hoàng Tuấn

Tôi là người Hà Nội, tình cờ được quen biết tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, vốn ở trong thành phố Hồ Chí Minh, có lẽ do cái mà đạo Phật gọi là có “duyên”, vì cùng nghiên cứu về Dịch học cổ Á Đông. Nhân dịp ra Hà Nội ông đã đến thăm tôi. Ông đưa cho tôi bản thảo cuốn “Hà đồ trong văn minh Lạc Việt”, yêu cầu tôi đọc và viết cho vài lời giới thiệu.
Tôi rất băn khoăn về đề nghị của ông, phần vì sự hiểu biết nhỏ bé của cá nhân tôi đối với mảng văn hoá sâu rộng này, phần vì mảng đề tài này lại đi sâu vào tìm kiếm cội nguồn từ một nền văn hoá đã mất. Tuy nhiên, đề tài lại cũng là niềm đam mê của tôi từ hàng chục năm nay và tôi đã viết nhiều trang trong một số cuốn sách nghiên cứu về mảng “Lịch toán” trong văn hoá cổ Á Đông, như cuốn “Nguyên lý chọn ngày theo lịch Can Chi” (đã xuất bản năm 1999 và tái bản nhiều lần trong cacá năm 2000 – 2005), cũng như tập sách viết về “Kinh Dịch và hệ nhị phân” (xuất bản năm 2002), hoặc như tập sách viết về “Lý thuyết tam nguyên - cửu vận cổ” (sắp in). Trong các cuốn sách trên, tôi đã đồng tình với những nhà nghiên cứu uyên thâm đi trước. Như các tác giả Bùi Huy Hồng, Bùi Văn Nguyên, Lê Chí Thiệp, Kim Định, Nguyễn Duyệt .... cho rằng nguồn gốc của kinh Dịch cổ Á Đông vốn là của nền văn minh Việt cổ đã thất truyền, phần còn lại đã bị Hán hoá.
Tuổi nhỏ tôi vốn sống ở quê gốc miền Trung (Thanh Nghệ), tôi đã nhận thấy trong phong tục, tập quán của nhân dân vùng này còn tàng chứa rất nhiều yếu liên quan đến hệ đếm theo Can Chi. Trong kho tàng cổ tích dân gian và cả trong ca dao, tục ngữ còn ẩn dấu nhiều vết tích của nền văn hoá “100 số” của Hà đồ - Lạc thư cổ. Vì thế tôi cũng đã nêu lên ý kiến về nguồn gốc 2 bảng số Hà đồ và Lạc thư cùng những chữ số viết theo cơ chế hệ nhị phân bằng vạch liền và vạch đứt của 64 quẻ Dịch, vốn bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước ở vùng đồng bằng sông Dương tử của dân Bách Việt xưa, đến tận đồng bằng sông Hồng phía nam xa xôi của nước Văn Lang cổ.
Trong cuốn “Kinh Dịch và hệ nhị phân” do nhà xuất bản Văn hoá Thông tin xuất bản năm 2002, chúng tôi đã có dịp trình bày những nguyên lý toán Nhị phân – cơ sở của Dịch cổ còn rất ít nhà nghiên cứu phát hiện và lý giải, nhiều người còn coi đó là cuốn sách “thần bí” và khó hiểu, nên các học giải chỉ đi vào khai thác khía cạnh triết học của Dịch, nên rất ít người đề cập đến hệ toán Nhị phân (systeme binaire). Tuy nhiên, hệ toán này đã được người xưa nghiên cứu rất kỹ ngay từ thời kỳ con người chưa tìm ra chữ viết. Hình thức chữ số đầu tiên là dùng “vạch đứt” và “vạch liền” để ghi hai con số “0” và “1”. Hai ký hiệu đó cũng để chỉ hay loại số khác nhau là các số lẻ (cơ) bắt đầu từ 1 đến 3, 5, 7, 9 .. và các số chẳn (ngẫu) bắt đầu từ số 2 đến 4, 6, 8, 10 .. Chính chúng là nguồn gốc của lý thuyết “Âm dương” sau này và hai ký hiệu “vạch đứt” và “vạch liền” trở thành hai kí hiệu “âm dương” để chỉ sự phân cực của Tạo hoá ngay từ thuở ban đầu. Cổ nhân đã chỉ dùng hai chiếc đũa, một chiếc để nguyên, một chiếc bẻ đôi thành hai nửa bằng nhau và sắp xếp chúng theo những tập hợp từ hai hàng vạch, bốn năm đến sàu hàng vạch để ghi các con số từ nhỏ đến lớn. Từ đó đã phát hiện ra nguyên lý của hệ toán “Nhị tiến”, cùng phép ghi các con số của hệ này bằng hai ký hiệu “Âm dương”. Người xưa đã nhận ra rằng trong “tượng” của các số nhị phân tàng chứa nhiều quy luât phổ biến của thời tiết, nắng mưa và cả của mọi sự vật trong vũ trụ, kể cả con người. Vì vậy, tượng số nhị phân cùng với hai bảng số Hà đồ và Lạc thư đã là nền tảng của Lịch toán và nhiều môn dự báo cổ. Hà đồ là cơ sở toán học của lý thuyết Âm Dương – Ngũ hành mà những người không hiểu cho là “mê tín”, thực ra chỉ là một khái niệm cổ dùng để chĩ một hệ toạ độ không gian . Năm điểm đại diện cho 5 hướng của không gian, mang tính “số học” và triết học rất thâm thuý. Sự phân cực của vạn vật diễn ra trong không gian mà con người quan sát được. Không gian đó chỉ có bốn phương chính và một phương gốc là Trung tâm (cộng tất cả là 5 phương) mà thôi. Năm hướng chính đó ứng với 5 số đếm đầu tiên, cũng tương ứng với 5 chủng loại vật chất cơ bản trên mặt đất là Nước, Lửa, Đất, Kim loại và thế giới sinh vật (tượng trưng là Mộc). Cổ nhân cũng đã dùng tên 5 chủng loại vậ chất cơ bản này để đặt tên cho 5 hành tinh mà mắt người nhìn thấy trên bầu trời là sao Thuỷ, sao Kim, sao Thổ, sao Hoả và sao Mộc. Như vậy Ngũ hành không chỉ tượng trung cho 5 hành tinh vận động trên bầu trời mà còn tượng trưng cho 5 lực lượng lớn tồn tại trên mặt đất, 5 loại “Thiên Khí” của vũ trụ luôn vận động, chuyển hoá lẫn nhau, tạo nên mọi sự biến hoá của khí hậu và mọi thịnh suy của thời vận. Nó mang tính chất một “Hệ tiên đề” vừa có nội dung toán học vừa có nội dung triết học chặt chẽ của người xưa. Hệ này được ghi tóm tắt theo quy chiếu trong bảng ký hiệu cổ gọi là bảng Hà đồ (tức bản ghi vị trí 10 số dếm bằng châm đen và chấm trắng từ thời chưa có chữ viết).
Không rõ bảng Hà đồ này xuất hiện từ bao giờ, chỉ thấy Khổng An Quốc, một học giả đời Hán là cháu đời thứ 12 của Khổng tử viết ra câu đầu tiên. Ông này tìm thấy bức đồ đó trong một cuốn sách cổ đấu trong vách nhà họ Khổng. Những học giả sau này viết về kinh Dịch cứ dựa theo đó mà lý giải và cũng chưa thấy sách nào phát hiện đó chính là một hệ Tiên đề về toạ độ không gian cổ.
Trong Hà đồ, 10 số đếm của hệ thập phân tạo thành 5 cặp số “sinh-thành” đầu tiên của Tạo Hoá. Thực ra chỉ có 5 số ‘sinh” (1-2-3-4-5) là năm số đã tạo thành hệ Toạ Độ không gian đầu tiên của cổ nhân mà thôi.
Bảng Lạc thư, thực chất là một ma phương cơ sở (bậc ba), đã miêu tả các con số biến chuyển đến chỗ cân bằng (mọi phương hướng đều bằng 15), đồng thời bổ sung “không gian 8 hướng”, (không phải chí có 4 hướng chính như Hà Đồ).
Những dẫn liệu mà tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã có công sưu tầm và nêu trong cuốn sách này về những giải thích rối rắm trong nhiều sách cổ Trung Quốc viết về Hà đồ đã chứng tỏ quá đủ về nguồn gốc ngoại lai của bảng số này du nhập vào nền văn hoá Hán.
Nước Việt Nam nhỏ bé được khôi phục lại sau này, mặc dầu đã là một nước độc lập sau hàng ngàn năm bị đô hộ, nhưng vẫn phải triều cống phương Bắc đề cầu sự bình yên, nên những nhà sử học đầu tiên không bao giờ dám viết bịa ra những chuyện hoang đường để trêu tức một nước láng gíềng hùng mạnh. Vì vậy những ghi chép ít ỏi của họ chắc chắn là rất thận trong, chỉ dám ghi một phần sự thật rằng:
“... nước ta dựng nước từ thời họ Hồng Bàng, với vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương vào năm Nhâm Tuất
(Tức năm 2879 trước Công nguyên, tính đến năm 2006 này thì đã 4885 năm.Theo Đại Việt Sử Ký toàn thư của sử gia đời Trần là Lê Văn Hưu, sau này được Ngô Sĩ Liên đời Lê biên soạn lại).
Cổ sử Trung Quốc cũng dã viết:
“Vào thời vua Nghiêu (năm 2357 trước CN) có sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại Bình Dương (phía bắc con sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con Thần Quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai người chép lại gọi là “lịch rùa”
(Lê Chí Thiệp: Kinh dịch Nguyên thuỷ - Nhà Xuất Bản Văn học 1998, tr.34)
Sách “Thông Chí” của Trịnh Tiều xưa cũng đã ghi rõ việc thị tộc Việt Thường tặng lịch Rùa cho vua Nghiêu. Như vậy là “lịch rùa” của dân tộc Việt Thường đã xuất hiện cách năm 2006 này là 4363 năm.
Chữ Khoa Đẩu mà người Trung Quốc gọi là hình con nòng nọc, tức gồm những chấm đen hay trắng nối với những vạch và cả những chữ viết ngoằn ngoèo trông giống như những con nòng nọc. Phải chăng lịch ghi trên mai rùa đem tặng vua Nghiêu xưa chính là hai bảng số Hà đồ, Lạc thư cùng Tiên thiên, Hậu thiên bát quái ghi bằng các chấm đen, chấm trắng cùng hệ thống chữ số nhị phân ghi bằng cách vạch liền và vạch đứt? Nếu không thì sao sử cố Trung Quốc có thể ghi “Lịch rùa ghi từ thời vũ trụ mới hình thành cho đến sau này”. Điều đó chỉ chứng minh một điều rõ ràng là dân tộc Việt Thường đã biết làm lịch và có chữ khoa đẩu rất sớm để phục vụ nền văn minh lúa nước đã tồn tại trước đó hàng ngàn năm. Theo cụ Nguyễn Văn Tố thì “Việt Thường” là chỉ cái “xiêm” của dân trồng lúa nước. Thời cổ đại chưa có bang giao, nên người Hán gọi luôn trang phục của dân Việt ở phía nam mặc “xiêm” bằng cái tên Việt Thường. Sử sách sau này cứ thế chép lại. (Tên Việt Thường sau này chỉ còn là một “bộ” của nước Văn Lang).
Chính vì Hà đồ và chữ số nhị phân Bát quái là từ một nền văn hoá khác du nhập vào Trung Quốc, nên các tác giả của nền Hán học cổ Trung Quốc giải thích không thống nhất về các đồ hình này trong Dịch học. Đến một học giả lớn thời hiện đại của Trung Quốc là Quách Mạt Nhược – nguyên viện trưởng Viện Hàn Lâm khoa học Trung Quốc – mà vẫn cho 8 chữ số bát quái là thần bí.
Về chữ khoa đẩu, chính Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau:
“...thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truỵên, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất dấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả lại cho họ Khổng. Lối chữ Khoa đẩu bỏ từ lâu, người đương thời không ai đọc được nữa, phải lấy sách nghe được ở Phục Sinh khảo luận văn nghĩa, định những chỗ đọc được, dùng lối chữ lệ cổ viết sang thẻ tre, nhiều hơn sách của Phục Sinh hai mươi lăm thiên ...”
(Khổng Tử: Kinh Thư - Bản dịch của Trần Lê Sáng và Phạm Kỳ Nam – Nhà XB. VH-TT Hà Nội -2004, Tr.228-229).
Điều này thêm một chứng minh rằng: Khổng tử chính là người đã kế thừa được một phần nền văn hoá bản địa của dân Bách Việt xưa qua chữ khoa đẩu để làm nên đạo Nho của ông.
Trong sách Thuỷ Hử sau này cũng miêu tả một đoạn như sau:
“...Khi các vị anh hùng Lương Sơn Bạc phân ngôi thứ xong, thấy có một khối lửa lớn lặn xuống dưới đất phía chính Nam, bèn đào lên để tìm. Khi đào tới ba thước chợt thấy một bia đá chạm chữ “thiên thư” ở mặt giữa và hai bên. Tống Giang sai đem về làm lễ tạ đàn, rồi sáng hôm sau đưa tiền công quả để tặng cho các đạo tràng và đem bia đá ra xem..., thấy chữ ngoằn ngoèo khác hẳn lối thường, không còn ai biết nghĩa lý ra sao cả! Sau có một đạo tràng họ Hà tên Diệu Thông nói với Tống Giang rằng: “Tổ phụ nhà tôi khi xưa có một bộ sách chuyên để cắt nghĩa các lối chữ “thiên thư”. Đây là lối chữ Khoa Đẩu, tôi có thể hiểu được, xin ngài để tôi dịch giúp”.
Như vậy chữ khoa đẩu đã thực sự tồn tại và chắc chắn chữ đó đã ghi lại những tư tưởng lớn của một nền văn minh trước đó. Kể cả các kinh sách mà sau này Khổng Tử biên soạn lại bằng chữ Nho xưa cũng là dựa vào những bộ sách bằng chữ khoa đẩu của một nền văn minh đã bị mai một. Vì vậy người Trung Quốc xa xưa đọc được loại chữ này, mỗi khi giải mã được một vấn đề hay một mảng nào đó trong kinh Dịch hay Lịch toán cổ, mới cho rằng nhờ Thiên Thư (sách trời) mà hiểu được. Kể cả Trần Đoàn, một học giả đời Tống, khi đề xướng khoa Tử Vi, đều nói là dựa vào “Thiên thư” của Trời cho (!).
Ngay sách “Địa lý toàn thư” nổi tiếng của Lưu Bá Ôn cũng ghi rằng:
“Lưu công học được thuật Phong Thuỷ từ con gái của Ngô Cảnh Loan. Ngô Cảnh Loan học được từ Hy Di Trần Đoàn. Trần Đoàn học được từ Tăng văn Dịch. Tăng văn Dịch học được từ Dương Quân Tùng. Dương Quân Tùng và Tăng Câu Kỷ vốn là chỗ thâm giao... Vào năm cuối đời Đường Hy Tông có loạn Hoàng Sào đánh tới Kinh đô Tràng An, hai người nhân lúc chiến tranh mới đánh cắp được “Quốc nội Thiên cơ thư” trong Quỳnh Lâm khố. Học xong mới biết được sách này nguyên của Khâu Đình Hàn vốn người huyện Văn Hỷ tỉnh Hà Đông, từng được “Thần” truyền cho kinh sách nên mới thông hiểu đạo lý “âm dương”.
Rõ ràng là những người giỏi thuyết âm dương và những ứng dụng của nó ở Trung Quốc xưa, phần nhiều do “thần tiên” truyền lại, hoặc do tìm được sách thần mà biết. Những vị thần tiên đó chẳng qua chỉ là những người đã am hiểu họặc đọc được chữ Khoa đẩu cổ của nền văn hoá Văn Lang mà thôi.
Nhà dân tộc học Trung Quốc là Vương Đồng Linh, trong cuốn “Trung Quốc dân tôc học” của ông có ghi:
“Dân Tam Miêu – Bách Việt xưa gồm: Âu Việt có Miến, Thái, Lào; Miêu Việt có Mèo, Mán; Lạc Việt có Việt, Mường. Tất cả dân Miêu này là Bách Việt, còn gọi là Viêm Việt (Vì họ biết chế tác nhiều thứ từ lửa nên gọi là “Viêm”). Tất cả họ, nhất là ngành Việt đã cùng Hoa tộc làm nên Nho giáo”.
Như vậy là đã quá rõ. Những học giả uyên bác của Trung Quốc cũng đã xác nhận điều này. Ngày nay 52 chủng tộc đang chung sống trên giải đất Việt Nam hiện đại mà tuyệt đại bộ phận rất có thể đã tồn tại hoà bình cùng nhau từ rất xa xưa trong những dòng “Bách Việt” cổ, dù họ đều đã qua sự lai tạp khá nhiều suốt chiều dài lịch sử. Hầu như không hề có sự mâu thuẫn sắc tộc trong cộng đồng dân cư này, mà chỉ thấy có lịch sử chống ngoại xâm cùng nhau. Rất nhiều các vị anh hùng chống ngoại xâm trong lịch sử đã sát cánh bên cạnh thủ lĩnh người Việt thuộc các bộ tộc Mường, Nùng, Tày, Thái ... Không có chung nguồn văn hoá 100 số từ cổ họ không thể có sự chung sống hoà bình từ hàng ngàn năm nay như vậy.
Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã bỏ nhiều công phu để tìm hiểu cả những ứng dụng của Hà đồ trong khoa Phong thuỷ và Tử vi. Ông đã giải mã nhiều vấn đề vẫn còn nằm trong vòng bí hiểm. Tài liệu thật phong phú, chắc chắn sẽ giúp ích nhiều cho những bạn đọc quan tâm.
Tuy nhiên, theo cá nhân tôi, muốn hiểu thật sâu và chính xác không những là bảng Hà đồ và Lạc thư mà cả những ký hiệu số trong mô hình Bát quái và trùng Quái, người nghiên cứu trước tiên phải tinh thông cách đọc các con số viết dưới dạng nhị tiến pháp hiện đại (có thể dưới dạng hai số “0” và “1”), thì mới có thể lý giải nó một cách khoa học, tránh được những suy đoán chủ quan, không hợp với những nguyên lý “toán nhị tiến” mà cổ nhân đã phát hiện ra từ hàng ngàn năm trước. Hy vọng tương lai tác giả sẽ bổ sung thêm để làm sáng rõ những chỗ tối nghĩa chưa thoả đáng.
Trong khuôn khổ một số trang giới thiệu không thể nói hết giá trị cuốn sách cùng công lao sưu tầm rất đáng khâm phục của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Chắc chắn cuốn “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt” sẽ đem đến cho bạn đọc ham nghiên cứu nhiều giải đáp mới đầy hấp dẫn.
Người viết xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đoc.


Viết tại Mỹ Đình – Hà Nội

Ngày 2/12/2006

Hoàng Tuấn

hạt gạo làng
22-12-2006, 02:12 PM
cám ơn chú Thiên Sứ

Thiên Sứ
23-12-2006, 08:24 AM
Cảm ơn menone chia sẻ .
Thân mến tặng Menone bài thơ cảm tác của tôi từ bài thơ của nhà thơ Bích Hoàng.

CẢM TÁC
TÌM TA
Ngỡ kiếp hồng trần cuộc rong chơi .
Ai ngờ vạn nẻo lá thu rơi.
Tri âm nào biết người tâm sự?
Lữ khách tìm đâu chén rượu mời?
Mang mang trăng nước muôn năm chảy .
Hững hờ vạn cổ gió mây trôi .
Một cõi đi về ...ta đâu nhỉ?
Đâu chỗ dừng chân giữa cõi đời?
*
Mênh mông trăng nước êm trôi .
Lênh đênh một lá đò đời buông theo ...
Thiên Sứ

nguyenquanghung
23-01-2007, 11:08 PM
Cháu chào bác Thiên Sứ . Cháu đọc những bài viết của bác liên tục từ mấy tháng nay . Tuy cháu không hiểu gì nhiều ,tuổi lại còn quá trẻ nhưng những bài viết của bác rất hấp dẫn cháu .Hôm nay ra mạng , cháu rất vui vì công trình của bác đã hoàn thành .Cháu xin phép được chúc mừng bác ,bọn cháu rất mong bác cố gắng giữ gìn sức khỏe để tiếp tục viết những "tờ hoa" ,để bọn cháu hiểu hơn văn hóa dân tộc mình .
Cháu không biết viết gì để cảm ơn bác .Cháu chỉ buồn vì hình như cháu lạc lõng quá ,chẳng mấy người bạn của cháu quan tâm đến những điều này . Hôm qua thày trêu lớp thế này " Vua Quang Trung sai tướng Nguyễn Huệ đi ....." thế mà có bạn tưởng thày đọc bài , chép luôn vào vở .
5000 năm văn hiến ?
Cháu chúc bác và mọi người trên diễn đàn luôn an vui và mạnh khỏe

VoTri
15-03-2007, 11:22 PM
Đại Ca Thiên Sứ kính mến,

Trên con đường đi mở rộng học thức của nền văn hóa Lạc Việt trên toàn thế giới , anh em mình không những phải trải qua nhiều thử thách. Cho nên để bảo toàn sự thành công trong việc xây dựng con đường nầy, anh em mình phải bổ công sức đi lót những bước đường cho những người chưa hiểu biết.

Trong tương lai, em sẽ tổ chức một chương trình nói về lịch sử Lạc Việt. Trong đó sẽ ra mắt những bài viết trong sách Hà Đồ trong Văn Minh Lạc Việt. Em sẽ dùng những bằng chứng hà đồ trong các thành vua chúa tại Huế và những trống đồng của nước Nhà .

Trong công việc nầy, nếu cần thiết em sẽ cùng một cho số người chuyên môn về lịch sử thế giới viếng thăm VN để chứng minh. Chuyến đi sẽ từ bắc ra nam. Chi phí thì sẽ do hội đoàn lo và sẽ trả lương $$$ cho những người phụ cận.

Câu hỏi của em là sau khi mọi người bên đây đồng ý (hè năm 2008), anh em mình sẽ bắt đầu tuyển chọn 5-7 nhân tài bên VN trong chuyến đi nầy. Không biết anh có thể giúp em tuyển chọn những nhân tài bên anh được hay không ???

Anh là tác giả cho cuốn Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt, ngoài anh ra em cần những người rành về những chi tiết nầy. Trong thời gian anh suy nghĩ và từ từ tuyển chọn, em sẽ lo những công chuyện bên đây . Em sẽ cho anh thêm chi tiết sau

Em Vô Tri

Thiên Sứ
16-03-2007, 08:54 AM
Vô Tri thân mến .
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về văn hóa Lạc Việt, anh nhận thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu nhắm làm sáng tỏ truyền thống "dân tộc Việt có gần 5000 năm văn hiến", chứ không phải chỉ một mình anh. Nhưng anh nhận thấy những phương pháp của họ chỉ có tác dụng khám phá những yếu tố riêng lẻ và không đủ khả năng tập hợp thành một lý thuyết hoàn chỉnh. Anh thí dụ:
Ông Nguyễn Thiếu Dũng cũng cho rằng: Kinh Dịch là của Việt Nam.
Nhưng bằng chứng cốt lõi ông đưa ra lại là: "Trung Thiên Bát quái đồ". Nhưng Trung Thiên bát quái đồ lại không có tính ứng dụng phổ biến. Bởi vậy, lập luận không chặt chẽ. Nhưng những luận cứ khác của ông liên hệ giữa những hình ảnh trên trống đồng, hoặc ngôn ngữ Việt với Kinh Dich thì rất sắc sảo. Nhưng như anh đã nói: "Nó không thành một hệ thống" có khả năng giải thích những vấn đề liên quan.
Ở đây anh chỉ nói đến những nhà nghiên cứu có tên tuổi, còn chưa nói đến những người thuộc dạng "Nhiệt tình cộng sự dốt nát thành phá hoại".
Cuộc minh chứng cho lịch sử gần 5000 năm văn hiến còn nhiều khó khăn, cho dù anh biết chắc chắn chân lý thuộc về lịch sử Việt trải gần 5000 văn hiến . Bởi vậy anh rất thận trọng trong tất cả mọi yếu tố tương tác liên quan, trong đó không loại trừ những yếu tố phi học thuật.
Một trong những khó khăn lớn nhất chính là lớp bụi thời gian phủ dầy trên 2000 năm của lịch sử Việt. Đã bao nhiều người thuộc thế hệ đi trước đầy tâm huyết đã không thể tìm thấy bằng chứng cho nền văn hiến trải gần 5000 năm của dân tộc Việt. Và đó chính là nguyên nhân để một phong trào lên tiếng đòi phủ nhận truyền thống.
Vô Tri hãy thông cảm, trong lúc này , về mặt học thuật, anh chỉ còn tin vào chính bản thân anh trong việc làm đầy gian nan này. Bởi vậy, anh chỉ có thể lựa chọn khi mà anh được công khai và chính thức là một diễn giả chứng minh cho lịch sử truyền thống Việt trải gần 5000 năm văn hiến trước các nhà khoa học trong và ngoài nước. Còn trong lúc này, anh sẽ hết mình giúp đỡ Vô Tri và các bạn của Vô Tri , đề chỉ ra những bằng chứng chứng tỏ một lịch sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến.
Câu đầu tiên anh lưu ý nhóm nghiên cứu của Vô Tri là:
Cuộc sưu tầm bằng chứng cho lịch sử Việt gần 5000 năm văn hiến, có trong hầu hết những gía trị văn hóa phi vật thể, kể cả những cái mà người ta ít ngờ tới nhất. Thậm chí nó nằm ở cả những vùng đất Đông Nam Á thuộc các quốc gia lân bang.
Vô Tri hãy lưu ý:
1) Đừng mơ hồ vào việc giải mã những giá trị văn hóa phi vật thể trong lúc này.
Anh không bao giờ coi việc giải mã những giá trị văn hóa phi vật thể là bằng chứng khoa học, ít nhất trong giai đoạn hiện nay và có thể đến hàng 100 năm sau.
2) Hãy sưu tầm tất cả các bài nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước đang bênh vực cho truyền thống lịch sử gần 5000 năm văn hiến , dù đúng hay sai. Trong đó chúng ta sẽ tổng hợp được một hệ luận chứng minh cho chân lý gần 5000 văn hiến của lịch sử Việt, sau khi chắt lọc những tinh hoa trong các lập luận đó (Không hề mâu thuẫn với câu trên).
Đặc biệt lưu ý vì đây là yếu tố quan trong bậc nhất:
Việc chứng minh lịch sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến sẽ không chỉ dừng lại ở việc chứng minh cho một quá khứ đã tồn tại, mà nó còn chỉ ra những bí ẩn của vũ trụ mà tri thức nhân loại hiện đại chưa biết đến .
Anh sẽ hết lòng giúp đỡ Vô Tri và bất cứ ai muốn tìm hiểu lịch sử Việt với gần 5000 văn hiến .
Thiên Sứ

fairydream
16-03-2007, 11:59 PM
Được biết bác Thiên Sứ đã hoàn thành quyển sách và sắp được xuất bản. Vì không biết nhiều về hà đồ cũng như tử vi khi đọc các bài này khá hứng thú. Nhưng có một điểm cảm thấy lấn cấn đã hỏi bác Thiên Sứ nhưng câu trả lời vẫn chưa được thỏa mãn (chác là bác Thiên Sứ quên).
http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=8082
Xin xem đây là lời góp ý .
-------------------
Trích bài của bác Thiên Sứ:
--------------
Qua các phần trích dẫn ở trên, quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng các chòm sao thiên cực bắc – theo các nhà khoa học – lần lượt theo thứ tự thời gian và có tên gọi là:
– Vũ Tiên (hơn 7000 năm tr.CN).
– Thiên Long (gần 3000 năm tr.CN).
– Tiểu Hùng Tinh (hiện tại).

Qua tham khảo ý kiến của bạn đọc, người viết nhận thấy một sự liên quan chặt chẽ giữa thứ tự thời gian các chòm sao Thiên cực Bắc với những từ nhân danh trong kết cấu phả hệ của truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” . Sự trùng khớp này được miêu tả như sau:
1) Chòm sao Vũ Tiên tương đương thế hệ thứ nhất là bà Vụ Tiên (Theo Lĩnh Nam chích quái, hoàng hậu Vụ Tiên là vợ của hoàng đế Kinh Dương Vương) Trùng hợp danh từ Vũ Tiên và Vụ Tiên.
2) Chòm sao Thiên Long tương đương thế hệ thứ hai là Lạc Long Quân. Trùng hợp danh từ Thiên Long và Lạc Long.
3) Chòm sao Tiểu Hùng tinh tương đương thế hệ thứ ba, bắt đầu từ vua Hùng Vương thứ nhất. Trùng hợp danh từ Hùng Vương và Tiểu Hùng tinh.

--------------
Có lẽ bác thiên sứ hơn cảm tính khi đưa ra sự tương đồng của các tên gọi.
Các tên gọi của chòm sao như Vũ Tiên, Thiên Long, Tiểu Hùng Tinh không thể có trong văn minh Lạc Việt được vì đây là các tên gọi theo phân chia 88 chòm sao của thiên văn học hiện đại vốn phần lớn theo phương Tây.
Tên các chòm sao là sự chuyển ngữ từ tên Tây sang Hán việt nên không thể có từ thời Lạc Việt được.
---------------------
Câu trả lời từ bác Thiên Sứ :
-----------------------------
Vậy thì chú nhầm rùi .
Tên các chòm sao này có từ lâu trong văn hoá cổ Đông Phương. Người phương Tấy cũng nhận ra những chòm sao này và họ gọi bằng tên Tấy . Khi chuyển ngữ sang tiếng Việt - Hán thì người ta lấy tên cũ để dịch thuật hoặc thay thế . Tên gọi của các chùm sao này tôi ko bảo nó là thuộc về thời Lạc Việt - không biết chú xem làm sao - mà chỉ so sánh nó với truyền thuyết Việt.
Thiên Sứ
--------------------

Đây là bài tiếp của fairy nhưng chưa thấy bác Thiên Sứ phúc đáp . Mong bác hiểu cho đây chỉ là góp ý vì thấy không được hợp lý chứ không có ý "quậy phá" gì
-----------------
Đoạn trích dẫn trên trong bài của bác Thiên Sứ có lẽ chỉ là phần mở rộng thêm không ảnh hưởng nhiều đến các lý luận nghiên cứu . Nhưng mong bác xem xét vì có thể ảnh hường đến tính khoa học của sách. Các tên gọi chòm sao như Vũ Tiên, Thiên Long, Tiểu Hùng chỉ là dịch nghĩa từ tên gọi phương Tây chứ không hề có khái niệm trong các chòm sao của phương đông, Vì thế không có sự liên hệ nào về tên gọi của các sao với các danh từ phả hệ của Lạc Việt . Nếu gò ép thì chỉ có thể nói rằng phương Tây lấy kiến thức của Lạc Việt !!!.

Thiên Sứ
17-03-2007, 09:42 AM
fairy viết:
Đoạn trích dẫn trên trong bài của bác Thiên Sứ có lẽ chỉ là phần mở rộng thêm không ảnh hưởng nhiều đến các lý luận nghiên cứu . Nhưng mong bác xem xét vì có thể ảnh hường đến tính khoa học của sách. Các tên gọi chòm sao như Vũ Tiên, Thiên Long, Tiểu Hùng chỉ là dịch nghĩa từ tên gọi phương Tây chứ không hề có khái niệm trong các chòm sao của phương đông, Vì thế không có sự liên hệ nào về tên gọi của các sao với các danh từ phả hệ của Lạc Việt . Nếu gò ép thì chỉ có thể nói rằng phương Tây lấy kiến thức của Lạc Việt !!!.
Vậy chú hãy dẫn chứng tên Tây gọi những sao này là gì? Xuất xứ của tên gọi này của Tây (Nếu có thể nói được diều này) và liên hệ giữa nó với tên Việt ra sao. Xong tôi sẽ trả lời chú .
Còn cách nói của chú rất chung chung: "Có xuất xứ từ bên Tây" thì đây không phải là phản biện khoa học. Người ta cũng có thể "phản biện" và thay từ Tây bằng "ma rốc" đấy.
Thí dụ: Sau đây là nguyên văn lời phản biện của chú , nhưng đã thay từ Tây bằng "marốc":

Có lẽ bác thiên sứ hơn cảm tính khi đưa ra sự tương đồng của các tên gọi.
Các tên gọi của chòm sao như Vũ Tiên, Thiên Long, Tiểu Hùng Tinh không thể có trong văn minh Lạc Việt được vì đây là các tên gọi theo phân chia 88 chòm sao của thiên văn học hiện đại vốn phần lớn theo Marốc..
Tên các chòm sao là sự chuyển ngữ từ tên Maroc sang Hán việt nên không thể có từ thời Lạc Việt được.



Qua đoạn trích dẫn - đã đổi từ " Tây" thành "Marốc" , chú có thấy tính chung chung và thiếu tính phản biện khoa học chưa? Bởi vậy tôi mới yêu cầu chú dẫn giải các tên Tây của chòm sao và liên hệ nó với tên Việt.
Thiên Sứ

fairydream
17-03-2007, 10:10 AM
Vâng thưa bác !
Khái niệm tên gọi và hình dạng các chòm sao là một khái niệm trừu tượng thuộc về yếu tố văn hóa. Bầu trời sao thì chỉ có một nhưng các chòm sao mỗi nền văn hóa có cách tưởng tượng về hình dạng tên gọi khác nhau.
Chòm Tiểu Hùng Tinh là dịch nghĩa từ Ursa Minor tiếng latin là con gấu nhỏ bắt nguồn từ truyền truyết của người Hilạp
Chòm Thiên Long là dịch từ Draco một con rồng trên bầu trời đối với người Phương Tây.
Chòm Vũ Tiên tiếng Hán Việt có nghĩa là 1 Lực Sĩ ở trên trời cũng bắt nguồn từ tên gọi Hercules (http://www.dibonsmith.com/her_con.htm) chàng lực sĩ của truyền thuyết Hi Lạp.

Ở Phương đông thì vùng sao ứng với các chòm này lại được phân chia thành các chòm có ý nghĩa hình tượng và tên gọi khác hẳn với phương Tây.(Điều này chác bác Thiên Sứ hẳn là rất tường ).
Vì thế gán ghép các tên gọi chòm sao của Phương Tây dù đã chuyển sang Hán Việt với các danh từ trong truyền thuyết của Lạc Việt là điều không hề có nghĩa, vì các tên gọi này chỉ mới có gần đây khi kiến thức thiên văn phương Tây được du nhập vào.
---
Do kiến thức của mình không biết gì về tử vi hay kinh dịch nên khi đọc Fairy đọc từ những cái dễ hiểu nhất. và cũng có thắc mắc ở đoạn này:
trích bài của bác Thiên Sứ ---
Mười tám thời vua Hùng là tổ tiên của người Việt, là con của Rồng (Lạc Long Quân), cháu của Tiên (bà Vụ Tiên). Như vậy, thứ tự phả hệ này không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, vì sự trùng hợp gần như hoàn toàn và sự liên quan đến những tri kiến rực rỡ về thiên văn học cổ Văn Lang đã được trình bày trong sách này. Hơn nữa, để có được một nhận thức về qui luật vận động của các chòm sao trong Ngân hà (từ đó phát hiện những hiệu ứng vũ trụ liên quan), điều kiện tiên quyết là phải định vị được điểm chuẩn của tất cả sự vận động đó (trong đó bao gồm cả trái đất); tức là phải xác định được chòm sao thiên cực bắc. Do đó, sự liên hệ giữa nội dung của truyền thuyết “Con Rồng – Cháu Tiên” bao gồm từ phả hệ vua Hùng cho đến độ số Lạc thư – Hà đồ là một sự liên hệ nhất quán, chặt chẽ và trùng khớp hợp lý về những tri kiến vũ trụ kỳ vĩ của nền văn minh Văn Lang. Sự liên hệ trên đây minh chứng rõ nét truyền thuyết “Con Rồng – cháu Tiên“ không thể là “truyền thuyết ngụy tạo của các nhà nho vào thế kỷ 14”. Bởi vì — kể từ khi nền văn minh Văn Lang thất truyền – trong hơn 2000 năm lịch sử của nhân loại – cho đến sớm nhất vào đầu thế kỷ 19 khoa học hiện đại vẫn chưa phát hiện ra các chòm sao thiên cực bắc.
----
Chác ý của bác Thiên Sứ là các nhà khoa học trước thế kỷ 19 chưa phát hiện ra qui luật vận động của các chòm sao quanh cực bắc theo tuế sai.
Chứ còn ý theo bài thì fairy lại hiểu là các chòm sao thiên cực bắc chưa được phát hiện cho đến TK 19, điều này là hơi khó hiểu ???
Mong bác xem xét.

Thiên Sứ
17-03-2007, 03:55 PM
Fairy viết:

Khái niệm tên gọi và hình dạng các chòm sao là một khái niệm trừu tượng thuộc về yếu tố văn hóa. Bầu trời sao thì chỉ có một nhưng các chòm sao mỗi nền văn hóa có cách tưởng tượng về hình dạng tên gọi khác nhau.
Chòm Tiểu Hùng Tinh là dịch nghĩa từ Ursa Minor tiếng latin là con gấu nhỏ bắt nguồn từ truyền truyết của người Hilạp
Chòm Thiên Long là dịch từ Draco một con rồng trên bầu trời đối với người Phương Tây.
Chòm Vũ Tiên tiếng Hán Việt có nghĩa là 1 Lực Sĩ ở trên trời cũng bắt nguồn từ tên gọi Hercules (http://www.dibonsmith.com/her_con.htm) chàng lực sĩ của truyền thuyết Hi Lạp.

Fairy thân mến .
Như vậy mới có ba chòm sao thì một chòm là Lực sỹ và Vũ Tiên đã không có sự liên hệ .
Fairy thân mến .
Nền văn minh phương Tây du nhập vào Á Đông để Fairy có thể nhận biết từ bao giờ vây? Thế kỷ XVI? hay thế kỷ X. hay từ 300 trước CN?
Fairy hãy tìm hiểu tri thức Thiên văn Đông phươmg trứơc tất cả thời gian này thí hãy kết luận nó từ đâu tới . Nếu không thể hiểu được thì hãy học hỏi trước khi gọi là phản biện.
Thiên Sứ

fairydream
18-03-2007, 11:24 PM
@Bác Thiên sứ. Vũ Tiên bác hiểu nghĩa của nó là thế nào ? Herquyn trong truyền thuyết Hi Lạp là Vũ tiên đó. Chác bác cũng đọc truyền thuyết Hi lạp để thấy anh ta "Vũ" như thế nào. Còn rất nhiều chòm sao khi chuyển sang Hán Việt chỉ chuyển nghĩa về hình tượng chứ không chuyển sát từ nhất là những chòm sao là danh từ riêng vì dụ Anh Tiên từ Perseur một tên người, Tiên nữ từ Andromeda.
Thế còn 2 chòm còn lại bác lý giải như thế nào. Về thiên văn học phương đông Fairy tuy không biết nhiều nhưng với niềm ham thích thiên văn (và đang truyền niềm yêu thích đó với rất nhiều bạn trẻ qua các CLB trên khắp cả nước) thì cũng đâu phải là chẳng biết gì về Nhị thập bát tú hay các tên gọi chòm sao của phương đông. Theo biết thì chẳng có chòm sao nào của phương đông có tên gọi như thế cả. Các chòm này phuơng đông lại phân chia thành các chòm nhỏ khác và tên gọi thì cũng khác. (Với một người như bác Thiên Sứ thì biết rất rõ).
Theo cảm nghĩ có vẻ bác không muốn đối thoại, nhưng đây chỉ là các góp ý với tư cách độc giả chứ không phải là quấy phá gì. Fairy cũng nêu cảm nhận của mình vậy, Toàn bộ bài nghiên cứu với một người chưa biết gì về kinh dịch và hà đồ không dám lạm bàn, nhưng với điểm này do biết chút thiên văn mà cảm thấy tội tình gì phải gò ép để nó trở thành không hợp lý khéo theo tính khoa học của cả bài nghiên cứu.
Trân trọng.

Thiên Sứ
18-03-2007, 11:30 PM
Fairy thân mến
Với tri thức thiên văn hiện đại Tấy Phương - dù có thể là rất uyên bác của fairy - chắc fairy rất nóng ruột là tôi có vẻ không chứng minh rõ ràng những luận điểm của tôi . Tuy nhiên tôi cũng rất chắc chắn rằng Fairy chưa xem hết các bài viết và những sách đã xuất bản của tôi .
Nếu đúng như vậy tôi khuyên Fairy hãy xem cuốn "Thời Hùng Vương qua truyển thuyết và huyền thoại " của tôi và hãy suy ngẫm thật kỹ. Lúc ấy Fairy hãy trích ngay trong cuốn sách đó ra phản biện tôi thì tôi sẽ trả lời . Bởi vì trong đó có liên quan đến chòm sao Vũ Tiên đấy !
Thiên Sứ

nguyenle
16-09-2007, 01:13 PM
KÍNH THƯA QUÍ VỊ QUAN TÂM.

Vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Ất Dậu.
Nhằm thứ Năm , ngày 7 tháng Bảy, năm 2005.

Thiên Sứ tôi cùng Chính Ấn và được sự hỗ trợ kỹ thuật của anh Hoả Tinh đã sử dụng phần mềm Skymap pao để kiểm chứng qui luật vận động các sao thuộc Ngũ Tinh trên Thái Dương hệ làm nên nội dung Hà Đồ. Cuộc kiểm chứng cho thấy nội dung Hà Đồ như đã trình bày ở trên HOÀN TOÀN CHÍNH XÁC.
Như vậy, một lần nữa cho chúng ta thấy một thực tại và cơ sở khoa học từ những tri kiến thiên văn vũ trũ chính là nền tảng của LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG.
Đồng thời cũng khẳng định niềm tin trong tôi:

Dân tộc Việt Nam với gần 5000 văn hiến.
Xin chia sẻ với các bạn là hội viên Chân Thuyên và Tử Vi Lý số niềm vui này của tôi.
Niềm vui này cũng xin được chia sẻ với anh em và quí vị đã có tấm lòng đồng cảm với tôi trên đường tìm về cội nguồn lịch sử Việt.

Thiên Sứ

Cháu chào chú Thiên Sứ. Đọc đến đây, cháu lọ mò tìm được phần mềm SkyMap Pro 11, download (miễn phí), và cài đặt xong. Chưa xem được nhiều, chỉ thấy chòm tiểu hùng tinh và chòm đại hùng tinh...
Đây là link mà cháu đã download, đưa lên đây để có ai đang nghiên cứu thì có thể tham khảo. Có gì không phải, cháu mong chú lượng thứ.
Linhk http://www.skymap.com/smp_eval.htm

Thiên Sứ
16-09-2007, 02:19 PM
Chiúnh Ấn hôm nào rảnh cho trình Skmap pro lên cho anh chị em trên diễn đàn dùng.
Thực ra trình thiên văn mà tôi dùng đã lạc hậu rồi. Có nhiều trình Thiên văn hiện đại hơn nhiều.

Thiên Sứ

nguyenle
24-09-2007, 06:19 AM
HÀ ĐỒ VÀ BÍ ẨN LẠC THƯ HOA GIÁP

Kính thưa quí vị quan tâm!
Người viết xin được nhắc lại một tiêu chí khoa học cho tất cả các lý thuyết khoa học là:

Một lý thuyết khoa học chỉ được coi là đúng; nếu nó giải thích một cách hợp lý hầu hết những hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh; nhất quán; có tính qui luật; tính khách quan và có khả năng tiên tri
...
NGUYÊN TẮC NẠP ÂM LẠC THƯ HOA GIÁP
Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ 60 năm
Nhưng cũng căn cứ trên Hà Đồ - PHÁP ĐẠI UY NỖ của người Lạc Việt và nguyên lý THUẬN chiều kim đồng hồ của đồ hình này, Vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử; và chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ như cũ, chúng ta sẽ có bảng Lạc thư hoa giáp.
Qui luật sắp xếp của Lạc thư hoa giáp chỉ khác bảng lưu truyền qua cổ thư chữ Hán ở hai hành Thuỷ và Hoả. Điều này được trình bày như sau:

Bắt đầu từ hành Kim:

1) Hành Kim
Giáp Tí- Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim Sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim Vượng (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim Mộ (Quý).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim; Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thuỷ (Thuỷ là con do Kim sinh) là:

2) Hành Thuỷ:
Mậu Tí - Kỷ Sửu = Giản hạ Thuỷ (Sinh); cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Tuyền trung Thuỷ (Vượng); cách 8 năm đến: Giáp Thìn-Ất Tỵ = Trường lưu Thuỷ (Mộ).

* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thuỷ; Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc (Mộc là con do Thuỷ sinh) là:

3) Hành Mộc:
Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh); cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng); cách 8 năm đến Mậu Thìn-Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc; Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hoả (Hoả là con do Mộc sinh) là:

4) Hành Hoả
Bính Tí-Đinh Sửu = Lư trung Hoả (Sinh); cách 8 năm đến: Giáp Thân-Ất Dậu = Sơn đầu Hoả (Vượng); cách 8 năm đến: Nhâm Thìn-Quý Tỵ = Tích lịch Hoả (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hoả;nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ (Thổ là con do Hoả sinh)là:

5) Hành Thổ
Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).
* Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ.
......
Qui luật cách bát sinh tử được lặp lại với nguyên tắc nghịch chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết tạo thành bảng Lạc thư Hoa giáp với chu kỳ 60 năm. Nguyên tắc thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ (Chiều Ngũ hành tương sinh) và vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử với Sinh - Vượng - Mộ, được minh hoạ bằng hình dưới đây:
........
Trên thực tế; người viết bài này đã ứng dụng Lạc thư hoa giáp thay thế cho bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán; trong tất cả những vấn đề liên quan. Bảng dưới đây là sự hiệu chỉnh lại bảng Lạc thư hoa giáp trong cuốn ”Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp” của T/g Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Do sơ xuất nên T/g đã bị nhầm lẫn về chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ trong hành Thuỷ.

http://lyhoc.viettop.net/banglthg.jpg

http://lyhoc.viettop.net/banglthg1.jpg



Thưa chú Thiên Sứ, cháu đang xem đề tài này của chú. Xem đến trang này, cháu thấy có hai chỗ muốn hỏi chú, mong chú giải đáp giúp cháu:
Thứ nhất là :
Trong đoạn sau

Qui luật cách bát sinh tử được lặp lại với nguyên tắc nghịch chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết tạo thành bảng Lạc thư Hoa giáp với chu kỳ 60 năm. Nguyên tắc thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ (Chiều Ngũ hành tương sinh) và vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử với Sinh - Vượng - Mộ, được minh hoạ bằng hình dưới đây:

Cái từ "nghịch" có khả năng là do viết nhầm, . Từ này phải đổi thành là THUẬN mới chính xác, có đúng không chú?
Thứ 2 là đọc đến đoạn sau:

Trên thực tế; người viết bài này đã ứng dụng Lạc thư hoa giáp thay thế cho bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán; trong tất cả những vấn đề liên quan. Bảng dưới đây là sự hiệu chỉnh lại bảng Lạc thư hoa giáp trong cuốn ”Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp” của T/g Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Do sơ xuất nên T/g đã bị nhầm lẫn về chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ trong hành Thuỷ.

Do hình minh họa không thấy được nên cháu muốn chú xác định cho cháu nội dung đoạn sau đây giữ nguyên hay là có sửa đổi gì không ạ:

2) Hành Thuỷ:
Mậu Tí - Kỷ Sửu = Giản hạ Thuỷ (Sinh); cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Tuyền trung Thuỷ (Vượng); cách 8 năm đến: Giáp Thìn-Ất Tỵ = Trường lưu Thuỷ (Mộ).

Cháu cảm ơn chú, kính chúc chú Thiên Sứ sức khỏe dồi dào!

khonglaai
24-09-2007, 06:35 AM
KÍNH THƯA QUÍ VỊ QUAN TÂM.

Vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Ất Dậu.
Nhằm thứ Năm , ngày 7 tháng Bảy, năm 2005.

Thiên Sứ tôi cùng Chính Ấn và được sự hỗ trợ kỹ thuật của anh Hoả Tinh đã sử dụng phần mềm Skymap pao để kiểm chứng qui luật vận động các sao thuộc Ngũ Tinh trên Thái Dương hệ làm nên nội dung Hà Đồ. Cuộc kiểm chứng cho thấy nội dung Hà Đồ như đã trình bày ở trên HOÀN TOÀN CHÍNH XÁC.
Như vậy, một lần nữa cho chúng ta thấy một thực tại và cơ sở khoa học từ những tri kiến thiên văn vũ trũ chính là nền tảng của LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG.
Đồng thời cũng khẳng định niềm tin trong tôi:

Dân tộc Việt Nam với gần 5000 văn hiến.
Xin chia sẻ với các bạn là hội viên Chân Thuyên và Tử Vi Lý số niềm vui này của tôi.
Niềm vui này cũng xin được chia sẻ với anh em và quí vị đã có tấm lòng đồng cảm với tôi trên đường tìm về cội nguồn lịch sử Việt.

Thiên Sứ

Anh Thiên Sứ thân mến!
Quái lạ, tôi cũng có theo dõi topic này thế mà không chú ý đến đoạn trên. Nếu được như anh nói thì xin chúc mừng anh.
Liệu anh có thể cho tôi biết hoàn toàn chính xác là chính xác những điều gì? Anh có thể mô tả cho tôi cuộc kiểm chứng ấy được không?
Nếu không tiện viết ra đây. Xin anh trả lời tôi qua E-mail.
Thân.
KLA

Thiên Sứ
24-09-2007, 07:55 AM
Nguyenle thân mến.
Chú cũng hay đánh máy nhầm lắm. Cũng có thể chú nhầm thật. Chú cũng ko có thời gian để xem lại toàn bộ. Nhưng nguyên lý là thế này:
* Bảng Lạc Thư hoa giáp từ văn minh Lạc Việt theo nguyên lý "sinh vượng mộ" - "cách bát sinh tử"thuận theo chiều kim đồng hổ của Hà Đồ và là chu kỳ tương sinh liên tục.
* Bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán theo nguyên lý nghịch chiều kim đồng hồ trên Hà Đồ và chu kỳ "sinh vương mộ" - "cách bát sinh tử" , nhưng chỉ thực hiện được trong từng hành trong vòng 24 năm. Không liên tục.

Anh Khônglaai thân mến .
Tôi đã minh họa bằng hình (Chép từ trình Thiên Văn nói trên) trong cuốn "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt" - sự vận động của một số hành tinh trong Thái Dương hệ tạo nên độ số của Hà Đồ, để chứng minh:
Hà Đồ chính là đồ hình biểu kiến qui luật vận động có chọn lựa của người Việt đối với Ngũ tinh trong Thái Dương hệ.
Chứ hoàn toàn không phải trên lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà.
"Hà xuất đồ, Lạc xuất thư". Hà đây là Thiên Hà (Ngân Hà) và Lạc thư là sách của nên văn minh Lạc Việt.
Anh Khonglaai cứ tự nhiên viết ra đây, những thắc mắc của anh. Không cần phải gửi qua email đâu. Email chữ không dấu khó đọc lắm.

Thiên Sứ

khonglaai
24-09-2007, 08:01 AM
À, xin lỗi anh. Có vài chỗ anh post lên hình không hiển thị nêm tôi không thấy.
Vì thế, mong anh cho tôi mua một cuốn sách. Chắc tháng 10 này có người về, tôi sẽ nhờ họ đến mua.
Thân.
KLA

Thiên Sứ
24-09-2007, 08:08 AM
Nguyenle thân mến .
Nguyenle viết:

Do hình minh họa không thấy được nên cháu muốn chú xác định cho cháu nội dung đoạn sau đây giữ nguyên hay là có sửa đổi gì không ạ:

http://www.vietlyso.com/forums/images/misc/quotes/quot-top-left.gifTrích:http://www.vietlyso.com/forums/images/misc/quotes/quot-top-right.gifhttp://www.vietlyso.com/forums/images/misc/quotes/quot-top-right-10.gif2) Hành Thuỷ:
Mậu Tí - Kỷ Sửu = Giản hạ Thuỷ (Sinh); cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Tuyền trung Thuỷ (Vượng); cách 8 năm đến: Giáp Thìn-Ất Tỵ = Trường lưu Thuỷ (Mộ).

Đây là lần hiệu chỉnh cuối cùng tính đến ngày nay. Nên chú cũng dùng bảng này để tính toán các vấn đề liên quan. Nếu sau này có thời gian cũng có thể chú hiệu chỉnh lại - nếu tìm thấy hoặc phát hiện những tác nhân mới.. Nhưng nguyên lý thì không thể sai. Nếu nguyên lý sai thì lý thuyết của chú sai và quan điểm của chú chứng minh lịch sử Việt gần 5000 năm văn hiến sẽ lung lay.
Thí dụ:
Nếu ai chứng minh: Hoặc Hậu Thiên Văn Vương đúng, hoặc Hậu thiên Lạc Việt sai thì tất cả luận điểm của chú sẽ sụp đổ .
Nhân danh khoa học, chú phát biểu như vậy.
Thiên Sứ

Thiên Sứ
24-09-2007, 08:24 AM
Anh Khônglaai thân mến.
Thực tình với anh sách của tôi không bán tại các hiệu sách - "Sách của anh lập luận không chặt chẽ nên chúng tôi không phát hành" - đấy là câu nói nổi tiếng của bà trưởng phòng kinh doanh của Cty phát hành sách Phương Nam. Nên tôi sợ nếu đem sách ra hiệu sách bán thì e rắng lại phải lên tăng xông vì những câu nói tương tự. Tuy nhiên, khi tôi đang ở Hanoi thì bà xã đem 300 cuốn bán tại một nhà sách nào đó. Họ đối sử rất lịch sự và trân trọng với sách của tôi. Từ nay, tất cả sách của tôi sẽ do nhà sách này phát hành (Tôi đang ở Hanoi, nên chưa biết tên nhà sách). Tôi sẽ thông báo tên nhà sách này để anh chị em ùng hộ có thể đến mua, hoặc tôi tự phát hành. Tuy nhiên , mọi hợp đồng bán sách của tôi sẽ cắt ngay lập tức và thà cho không sách của tôi, nếu tôi phát hiện Cty phát hành sách Phương Nam bán 1 cuốn sách của tôi.
Anh Khonglaai gửi cho tôi email để tôi có thể gửi lại và tặng anh cuốn Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt qua email.

Thiên Sứ

nguyenle
24-09-2007, 08:42 AM
Nguyenle thân mến .
Nguyenle viết:

Đây là lần hiệu chỉnh cuối cùng tính đến ngày nay. Nên chú cũng dùng bảng này để tính toán các vấn đề liên quan. Nếu sau này có thời gian cũng có thể chú hiệu chỉnh lại - nếu tìm thấy hoặc phát hiện những tác nhân mới.. Nhưng nguyên lý thì không thể sai. Nếu nguyên lý sai thì lý thuyết của chú sai và quan điểm của chú chứng minh lịch sử Việt gần 5000 năm văn hiến sẽ lung lay.
Thí dụ:
Nếu ai chứng minh: Hoặc Hậu Thiên Văn Vương đúng, hoặc Hậu thiên Lạc Việt sai thì tất cả luận điểm của chú sẽ sụp đổ .
Nhân danh khoa học, chú phát biểu như vậy.
Thiên Sứ
Chú cho cháu hỏi. Trong trường hợp, Bát quái Hậu Thiên Lạc Việt lại đổi thêm hai quái Cấn và Chấn cho nhau, vậy thì trong một góc cạnh nào đó có sự ảnh hưởng tiêu cực đến quan điểm của chú.
Còn vấn đề cháu đổi hai quái Cấn và Chấn như đã từng nói với chú, và đặt tên nó là Bát quái Trung Thiên. Nhưng một mặt cháu vẫn chưa nghiên cứu sâu về Đông y nên chưa thể khẳng định chắc chắn Bát quái Trung Thiên khớp với chu kỳ 12 đường kinh. Vấn đề này cháu mới bắt đầu tập chung nghiên cứu.
nguyenle xin báo cáo với chú!

Thiên Sứ
24-09-2007, 01:40 PM
Nguyenle thân mến.

Trước chú đã có nhiều bậc tiền bối cho rằng: Kinh Dịch là của Việt Nam. Mà chú cho rằng: Người đầu tiên là giáo sư linh mục Lương Kim Định. Nhưng chú là người đầu tiên chứng minh một cách rõ ràng và có hệ thống.
Cho đến ngày hôm nay ít nhất có ba người đưa ra công khai đồ hình Bát quái Hậu thiên không theo sách Hán có chứng minh công khai (Còn đúng sai tính sau). Theo thứ tự thời gian là:

1) Nguyễn Vũ Tuấn Anh:
Đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ.
Tác phấm sách: Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - in lần đầu: 2001. Nxb VHTT

2) Nguyễn Thiếu Dũng:
Chứng minh Trung Thiên Bát quái đồ (Có từ thới Tống) do Bảo Ba trình bày. Thuộc về người Việt và giải mã các hình trống đồng làm cơ sở minh chứng.
Bài viết lần đầu trên website Thanh Niên Online năm 2004

3) Trần Quang Bình (Tức Khonglaai).
Dùng toán học minh chứng đồ hình Hậu Thiên Âu Lạc. Bài viết lần đầu trên website tuvilyso.com 2005.

Trên đây là những người công khai bày tỏ quan điểm của mình và có chứng minh. Ngoài ra có thể có nhiều người khác đưa ra các đồ hình khác, nhưng không công khai.
Nhưng vì là người đầu tiên và chứng minh một cách có hệ thống nhất, chặt chẽ nhất, hoàn chỉnh nhất trong tất cả mọi vấn đề liên quan đến Bát quái và thuyết Âm Dương ngũ hành, nên tôi cũng chịu nhiều búa rìu nhất về nhiều phương diện. Do đó, bất cứ ai đưa ra một đồ hình khác đồ hình Hậu Thiên Văn Vương thì trên thực tế đều giúp tôi chia sẻ gánh nặng búa rìu về nhiều phương diện. Tạm thời trước mắt như thế đã. Tôi không tham gia phản biện các luận điểm khác tôi và có cùng mục đích phủ nhận đồ hình Hậu Thiên Văn Vương.
Sau này, thực tế sẽ chứng minh tính chân lý thuộc về luận điểm nào.
Nguyenle cứ việc tiếp tục những suy tưởng của mình.

Tôi chỉ lưu ý nguyenle rằng:
Khi những thực tại trong thiên nhiên, cuộc sống, vũ trụ ...được nhận thức và trở thành những tri thức được lưu truyền. Sau đó những tri thức đó mới được tổng hợp trở thành một lý thuyết. Lý thuyết đó lại giải thích thiên nhiên vũ trụ và con người theo ngôn ngữ và khái niệm của nó. Nếu lý thuyết đó là đúng và khoa học thì nó tiếp tục phát triển và tạo ra những phương pháp ứng dụng trên cơ sở phương pháp luận của lý thuyết đó.
Bởi vậy việc tìm một đồ hình Bát quái chuẩn thì nó phải thỏa mãn những yếu tố sau đây:

1) Đồ hình đó phải liên hệ giải thích một cách hợp lý tất cả mọi hiện tượng và vấn đề liên quan đến tất cả cácphương pháp ứng dụng liên quan đến phương pháp luận của lý thuyết liên quan đến nó. Cụ thể ở đây là thuyết Âm Dương Ngũ hành.

2) Là hệ quả của yếu tố trên - nó phải giải thích được, hoặc có khả năng giải thích được một thực tại thiên nhiên, vũ trụ và cuộc sống là cơ sở nhận thức của lý thuyết đó.

3) Phải chứng tỏ được khả năng phát triển liên tục từ những nguyên lý ban đầu được đưa ra giải thích nhưngv/d liên quan đến nó và có khả năng phục hồi được lý thuyết này..

4) Phù hợp với tiêu chí khoa học hiện đại cho một lý thuyết khoa học.

Căn cứ vào những yếu tố này thì nguyenle tự xét luận điểm của mình. Giả thiết cho rằng nguyenle đúng thì cùng lắm đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt chưa hoàn chỉnh chứ không có nghĩa là nó sai. Nhưng đấy chỉ là giả thiết.
Bởi vậy, không có vấn đề gì khi nguyenle đổi chỗ Cấn Chấn. Tôi cũng nhắc lại với nguyenle rằng:
Việc đổi chỗ Cấn Chấn thì không cần liên quan đến đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt.
Thiên Sứ

nguyenle
24-09-2007, 11:13 PM
Nguyenle thân mến.

Trước chú đã có nhiều bậc tiền bối cho rằng: Kinh Dịch là của Việt Nam. Mà chú cho rằng: Người đầu tiên là giáo sư linh mục Lương Kim Định. Nhưng chú là người đầu tiên chứng minh một cách rõ ràng và có hệ thống.
Cho đến ngày hôm nay ít nhất có ba người đưa ra công khai đồ hình Bát quái Hậu thiên không theo sách Hán có chứng minh công khai (Còn đúng sai tính sau). Theo thứ tự thời gian là:

1) Nguyễn Vũ Tuấn Anh:
Đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ.
Tác phấm sách: Tìm về cội nguồn Kinh Dịch - in lần đầu: 2001. Nxb VHTT

2) Nguyễn Thiếu Dũng:
Chứng minh Trung Thiên Bát quái đồ (Có từ thới Tống) do Bảo Ba trình bày. Thuộc về người Việt và giải mã các hình trống đồng làm cơ sở minh chứng.
Bài viết lần đầu trên website Thanh Niên Online năm 2004

3) Trần Quang Bình (Tức Khonglaai).
Dùng toán học minh chứng đồ hình Hậu Thiên Âu Lạc. Bài viết lần đầu trên website tuvilyso.com 2005.

Trên đây là những người công khai bày tỏ quan điểm của mình và có chứng minh. Ngoài ra có thể có nhiều người khác đưa ra các đồ hình khác, nhưng không công khai.
Nhưng vì là người đầu tiên và chứng minh một cách có hệ thống nhất, chặt chẽ nhất, hoàn chỉnh nhất trong tất cả mọi vấn đề liên quan đến Bát quái và thuyết Âm Dương ngũ hành, nên tôi cũng chịu nhiều búa rìu nhất về nhiều phương diện. Do đó, bất cứ ai đưa ra một đồ hình khác đồ hình Hậu Thiên Văn Vương thì trên thực tế đều giúp tôi chia sẻ gánh nặng búa rìu về nhiều phương diện. Tạm thời trước mắt như thế đã. Tôi không tham gia phản biện các luận điểm khác tôi và có cùng mục đích phủ nhận đồ hình Hậu Thiên Văn Vương.
Sau này, thực tế sẽ chứng minh tính chân lý thuộc về luận điểm nào.
Nguyenle cứ việc tiếp tục những suy tưởng của mình.

Tôi chỉ lưu ý nguyenle rằng:
Khi những thực tại trong thiên nhiên, cuộc sống, vũ trụ ...được nhận thức và trở thành những tri thức được lưu truyền. Sau đó những tri thức đó mới được tổng hợp trở thành một lý thuyết. Lý thuyết đó lại giải thích thiên nhiên vũ trụ và con người theo ngôn ngữ và khái niệm của nó. Nếu lý thuyết đó là đúng và khoa học thì nó tiếp tục phát triển và tạo ra những phương pháp ứng dụng trên cơ sở phương pháp luận của lý thuyết đó.
Bởi vậy việc tìm một đồ hình Bát quái chuẩn thì nó phải thỏa mãn những yếu tố sau đây:

1) Đồ hình đó phải liên hệ giải thích một cách hợp lý tất cả mọi hiện tượng và vấn đề liên quan đến tất cả cácphương pháp ứng dụng liên quan đến phương pháp luận của lý thuyết liên quan đến nó. Cụ thể ở đây là thuyết Âm Dương Ngũ hành.

2) Là hệ quả của yếu tố trên - nó phải giải thích được, hoặc có khả năng giải thích được một thực tại thiên nhiên, vũ trụ và cuộc sống là cơ sở nhận thức của lý thuyết đó.

3) Phải chứng tỏ được khả năng phát triển liên tục từ những nguyên lý ban đầu được đưa ra giải thích nhưngv/d liên quan đến nó và có khả năng phục hồi được lý thuyết này..

4) Phù hợp với tiêu chí khoa học hiện đại cho một lý thuyết khoa học.

Căn cứ vào những yếu tố này thì nguyenle tự xét luận điểm của mình. Giả thiết cho rằng nguyenle đúng thì cùng lắm đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt chưa hoàn chỉnh chứ không có nghĩa là nó sai. Nhưng đấy chỉ là giả thiết.
Bởi vậy, không có vấn đề gì khi nguyenle đổi chỗ Cấn Chấn. Tôi cũng nhắc lại với nguyenle rằng:
Việc đổi chỗ Cấn Chấn thì không cần liên quan đến đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt.

Thiên Sứ

vì là sang trang mới, nên cháu trích lại nguyên văn của Chú.
Cháu cảm ơn chú đã dành thời gian để viết đối thoại dài như vây!
Qua đây thì cháu biết rõ được các Trí thức và các Hành giả,chuyên gia trong lĩnh vực Lý học cổ.
Biết được thế danh của chú Khonglaai, vậy thì cháu cũng xin phép được tự xưng danh ạ.
Họ là Nguyễn Lê, tên khai sinh là Lê Đức Hồng!
Còn sự kiện, chú Thiên Sứ là người đi đầu và chịu nhiều búa rìu thì đó có lẽ là điều khó tránh khỏi. Thực tế vấn đề này thì thường xảy ra, nhất là đối với một ý tưởng có tính chân lý.
Còn những lưu ý của chú đã nhắc cho cháu, thì cháu sẽ suy ngẫm để làm cái cốt định hướng và tự đánh giá ý tưởng của cháu.
Cháu cũng biết là đối thoại có hơi bị lạc đề.
Cháu xin cảm ơn chú.

votruoc
31-12-2007, 02:51 PM
31/12/07

Anh Thiên Sứ kính mến!

Nếu cho rằng 12 giờ quan sát trong năm là hiệu ứng vũ trụ tác động tiêu cực đến cuộc sống con người, gồm các giờ:


Tháng giêng giờ Tỵ.
Tháng hai gời Thìn.
Tháng ba giờ Mão.
Tháng Tư giờ Dần.
Tháng năm giờ Sửu.
Tháng sáu giờ Tý.
Tháng bảy giờ Hợi.
Tháng tám giờ Tuất.
Tháng chín giờ Dậu.
Tháng mưởi giờ Thân.
Tháng mười một giờ Mùi
Tháng Chạp giờ Ngọ


Thì bằng một logíc hợp lý khá trực quan có thể đưa đến dự đoán rằng, các giờ đối nghịch sẽ là các giờ tốt, như sau:


Tháng giêng giờ Hợi.
Tháng hai gời Tuất.
Tháng ba giờ Dậu.
Tháng Tư giờ Thân.
Tháng năm giờ Mùi.
Tháng sáu giờ Ngọ.
Tháng bảy giờ Tỵ.
Tháng tám giờ Thìn.
Tháng chín giờ Mão.
Tháng mưởi giờ Dần.
Tháng mười một giờ Sửu
Tháng Chạp giờ Tý.


Không biết kết luận này có chính xác không?
Mong anh cho ý kiến.
Thân ái!

Thiên Sứ
31-12-2007, 05:40 PM
Anh Vô trước cho rằng giờ đối nghịch với giờ xấu thì phải là giờ tốt. Tạm thời coi đó là một sự hợp lý hình thức. Nhưng thực tế có vậy không thì chúng ta phải nghiệm lý với các vấn đề liên quan thuộc về thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nếu nghiệm đúng với tính hợp lý với nhiều vấn đề liên quan thì điều này được chấp nhận như một sự hợp lý có tính phổ biến và được coi là đúng.
Thiên Sứ