PDA

View Full Version : HPV và ung thư cổ tử cung


CaCanh
25-09-2008, 12:36 PM
Hôm qua trường em mời bác sĩ đến nói chuyện với SV về bệnh này, thấy nó cũng hữu ích nên chia sẻ với mọi người.

- HPV là một dạng virus rất phổ biến - khoảng 50% trong số chúng ta bị nhiễm HPV vào một khoảng thời gian nào đó trong cuộc đời. HPV có khoảng hơn 100 types khác nhau. Phần lớn là tương đối vô hại, không gây ra những triệu chứng đáng kể nào và tự khỏi. Chủ yếu lây nhiễm ở người trong độ tuổi 18-28, và có đến 80% phụ nữ bị nhiễm HPV trước tuổi 50. HPV lây lan qua đường tiếp xúc skin-to-skin.

- Phần lớn trường hợp bị nhiễm HPV sẽ tự khỏi sau 1-2 năm do cơ chế đề kháng tự nhiên của cơ thể, nhưng một số trường hợp thì lại kéo dài và có thể gây ra bệnh (eg. mụn rộp vùng sinh dục), hoặc tệ hơn là biến tế bào bình thường thành tế bào bất bình thường, gây ra ung thư tiền liệt tuyến ở nam và cố tử cung ở nữ, đặc biệt là HPV type 16 và 18 (70% trường hợp ung thư cổ tử cung là do HPV type 16 và 18). Quá trình này thường kéo dài từ 10-20 năm.

- Riêng về ung thư cổ tử cung, đây là loại ung thư phổ biến thứ 2 trong nữ giới. Trung bình mỗi năm có 500.000 phụ nữ bị nhiễm và 300.000 chết vì bệnh này. Trung bình cứ 2' có 1 phụ nữ chết vì bệnh này.

- Những người sau đây sẽ dễ bị nhiễm HPV:
+ Có QHTD sớm
+ QHTD không an toàn (ông bác sĩ cũng lưu ý là không phải cứ dùng BCS là an toàn. Thực tế rất nhiều bệnh nhân khi bị phát bệnh đều phàn nàn là tôi có dùng BCS, tại sao vẫn bị lây bệnh. Ông ấy giải thích bởi chỉ cần skin-to-skin contact là đã có thể bị lây nhiễm, và vì chúng ta chưa có loại BCS trùm cả người nên chuyện lây nhiễm hoàn toàn possible)
+ QHTD với nhiều đối tác
+ QHTD với 1 đối tác, nhưng đối tác này lại QHTD với nhiều đối tác

- Làm thế nào để phòng ngừa và chữa trị
+ Cho đến giờ không có biên pháp chữa khỏi UTCTC cũng như genital warts (mụn rộp sinh dục??). 90% trường hợp bị genital warts là do HPV type 6 và 11. Y học hiện tại chỉ có thể làm giảm triệu chứng và kéo dài thời gian cho người bị ung thư.
+ Vì thời gian ủ bệnh của UTCTC khá dài (10-20 năm), nên có rất nhiều cơ hội để phát hiện sớm. BS nhiệt liệt khuyến cáo chị em nên làm test kiểm tra định kỳ 3 năm 1 lần để phát hiện HPV infection sớm. Hiện tại test hiệu quả nhất là PAP smear (em ko biết tiếng Việt là gì)
+ Ngoài ra, tiêm vaccine cũng là một cách phòng ngừa tốt. Vaccine không hề gây hại, nhưng tác dụng phòng ngừa chỉ khoảng 70%. Hiện có Gardasil Vaccine cho HPV type 6, 11, 16, 18. Gardasil Vaccine có công dụng tốt nhất khi người tiêm chưa từng bị nhiễm HPV (chưa QHTD).

thichmactien
25-09-2008, 02:56 PM
Eo ôi, nhìn mấy cái hình genital warts search trên google thấy ghê quá -cr-

TranNhatThanh
25-09-2008, 03:52 PM
Ung Thư Cổ Tử Cung (Cervix)
Tài liệu của Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ


Cổ tử cung là một phần của bộ phận sinh dục phụ nữ, nằm ở phần cuối của tử cung (uterus). Tử cung là một túi rỗng, có hình dạng của trái lê, nằm ở bụng dưới. Cổ tử cung nối liền tử cung với âm đạo (cervical canal), âm đạo dẫn ra âm hộ (vagina). Trong thời kỳ kinh nguyệt (menstrual period), máu từ tử cung theo âm đạo đến âm hộ để thoát ra ngoài cơ thể. Cổ tử cung tiết ra chất nhờn (mucus). Chất nhờn giúp tinh trùng (sperm) bơi từ âm hộ vào tử cung. Trong thời kỳ thai nghén, cổ tử cung đóng chặt giúp giữ bào thai tại tử cung. Khi lâm bồn, cổ tử cung mở rộng để thai nhi có thể ra khỏi tử cung.


http://www.tiemsachvietnam.com/ninipony/KienThucKhapNoi/UngThu/UngThuCoTuCung/cervix.jpg

Ung thư bắt đầu từ những tế bào, tế bào tích tụ thành những mô, mô tạo ra những bộ phận trong cơ thể. Tế bào tăng trưởng khi cần thiết, tế bào già chết được thay thế bởi tế bào mới. Khi thứ tự này bị đảo lộn, các tế bào dư thừa tích tụ lại thành khối gọi là bướu, bướu có loại lành, có loại độc. Loại bướu độc gọi là ung thư.


Bướu lành không phải là ung thư:
Bướu lành ít khi gây tử vong
Thông thường, bướu lành có thể cắt bỏ và không mọc trở lại.
Tế bào từ bướu lành không ăn lậm (invade) đến những mô chung quanh
Tế bào từ bướu lành không lan đến những bộ phận khác trong cơ thể
Polyp, u nang (cyst) và wart là những loại bướu lành tại cổ tử cung.
Bướu độc là ung thư:
Bướu độc có thể gây tử vong
Bướu độc có thể cắt bỏ nhưng đôi khi mọc trở lại
Tế bào từ bướu độc ăn lậm đến những mô và bộ phận lân cận
Tế bào từ bướu độc có thể lan ra những nơi khác (metastasis) bằng cách rời khối u, theo dòng máu hoặc dòng bạch huyết đến những bộ phận khác. Những tế bào này ăn lậm vào bộ phận khác tạo ra những khối u mới và hủy hoại bộ phận này.
A. Những yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư cổ tử cung (risk factors):


Dù chưa biết rõ nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung, nhưng giới Y Học đã tìm thấy những yếu tố gây gia tăng tỷ lệ chứng ung thư này.
Human papilloma Viruses (HPV): Những phụ nữ bị nhiễm trùng do siêu vi HPV có tỷ lệ ung thư cổ tử cung rất cao. Sự nhiễm trùng siêu vi HPV rất thông thường, là một trong những bệnh hoa liễu, truyền từ người nọ qua người kia do việc giao hợp. Một vài giống siêu vi HPV có thể gây thay đổi các tế bào tại cổ tử cung, những thay đổi này tạo ra mụn cóc (wart) tại bộ phận sinh dục, ung thư, và những chứng bệnh khác. Bác sĩ có thể tìm kiếm dấu hiệu của việc nhiễm trùng HPV mặc dù không thấy mụn cóc. Khi một phụ nữ bị nhiễm trùng với HPV, bác sĩ có thể thảo luận cách ngừa lan bệnh sang người khác. Việc thử Pap có thể tìm ra dấu hiệu thay đổi của tế bào do HPV tại cổ tử cung. Chữa trị chứng nhiễm trùng HPV kịp thời có thể ngừa được chứng ung thư về sau; bác sĩ có thể dùng nhiều cách để hủy diệt các mụn cóc, đốt bằng laser, đông lạnh bằng liquid nitrogen, và dùng cả hóa chất.
Thiếu phương tiện thử Pap: Tỷ lệ ung thư cổ tử cung cao hơn tại những nơi không có phương tiện để thử Pap.
Hệ đề kháng suy yếu: Khi hệ đề kháng bị suy yếu, chẳng hạn như bị nhiễm trùng do HIV, bệnh AIDS... những phụ nữ này có tỷ lệ ung thư cổ tử cung rất cao.
Tuổi tác: Ung thư cổ tử cung thường bắt đầu ở tuổi 40 trở lên.
Bệnh sử về việc giao hợp (sexual history): Phụ nữ càng có nhiều bạn tình, tỷ lệ ung thư cổ tử cung càng cao. Ngay cả khi có 1 bạn tình duy nhất nhưng người bạn tình này giao hợp với nhiều người khác (promiscous sexual partner), tỷ lệ ung thư cổ tử cung cũng rất cao.
Hút thuốc lá, thuốc lào: Phụ nữ bị nhiễm trùng HPV và hút thuốc lá có tỷ lệ ung thư cổ tử cung cao hơn những người không hút thuốc lá.
Dùng thuốc ngừa thai quá lâu (5 năm trở lên) có thể gia tăng tỷ lệ ung thư cổ tử cung.
Sinh sản nhiều lần gia tăng tỷ lệ ung thư cổ tử cung.
Diethylstillbestrol (DES) gia tăng tỷ lệ ung thư cổ tử cung và những loại ung thư tại bộ phận sinh dục ở những phụ nữ có bà mẹ dùng DES khi mang thai. DES đã được dùng tại Hoa Kỳ trong những năm 1940-1971.
B. Truy tìm ung thư cổ tử cung (Screening):


Việc truy tìm ung thư cổ tử cung trước khi thấy triệu chứng rất quan trọng. Thử nghiệm thường xuyên giúp các bác sĩ tìm thấy những thay đổi của tế bào tại cổ tử cung. Chữa trị những thay đổi này sớm thường ngăn ung thư bộc phát, và chữa trị sớm thường có kết quả rất khả quan.

Trong 3 thập niên vừa qua, số phụ nữ bị ung thư cổ tử cung đã giảm rất nhiều nhờ những chương trình thử nghiệm Pap. Vì vậy, quý bà quý cô nên đi khám bệnh để thử Pap theo định kỳ.

Việc thử Pap rất đơn giản, không đau đớn, và thực hiện ngay tại văn phòng bác sĩ khi khám bộ phận sinh dục (pelvic examination). Bác sĩ lấy tế bào cổ tử cung và đem thử nghiệm tại phòng thí nghiệm.


Thông thường:
Phụ nữ nên bắt đầu thử Pap 3 năm sau khi giao hợp lần đầu hoặc khi đến tuổi 21.
Phụ nữ nên thử Pap ít nhất là mỗi 3 năm một lần.
Phụ nữ tuổi 65-70, có ít nhất là 3 Pap kết quả bình thường và không có một Pap bất thường nào trong 10 năm, có thể ngưng việc truy tìm ung thư cổ tử cung sau khi thảo luận với bác sĩ cũa mình.
Phụ nữ đã giải phẫu để cắt bỏ tử cung, cổ tử cung (total hysterectomy), không cần thử nghiệm Pap. Tuy nhiên, nếu cuộc giải phẫu để chữa những chứng tiền ung thư (precancerous) hoặc ung thư, nên tiếp tục việc truy tìm dấu hiệu thay đổi của tế bào tại âm đạo.
Quý bà quý cô nên thảo luận với bác sĩ về việc thử nghiệm, khi nào cần bắt đầu, khi nào có thể ngừng truy tìm, định kỳ của việc truy tìm ung thư, nhất là những phụ nữ có các yếu tố gia tăng tỷ lệ ung thư nói trên.


Một vài trường hợp có thể ảnh hưởng đến kết quả thử Pap, vì thế nên các bác sĩ đã đề nghị rằng:
Quý bà quý cô không nên dùng douche (thuốc rửa được bơm vào âm hộ để rửa âm đạo và cổ tử cung) khoảng 48 tiếng trước khi thử Pap.
Quý bà quý cô không nên giao hợp khoảng 48 tiếng trước khi thử Pap.
Quý bà quý cô không nên dùng các loại thuốc bơm vào âm đạo (trừ khi theo lời bác sĩ) kể cả thuốc ngừa thai bất cứ loại nào, khoảng 48 tiếng trước khi thử Pap.
Quý bà quý cô nên thử Pap khoảng 10-20 ngày sau ngày đầu của vòng kinh nguyệt.
Hầu hết mọi loại tế bào bất thường tìm thấy khi thử Pap thường không phải là tế bào ung thư, tuy nhiên, những trường hợp sau tế bào bất thường sẽ trở thành ung thư:
LSIL (low-grade squamous intrepithelial lesion): tế bào cổ tử cung thay đổi rất ít, sự thay đổi thường do nhiễm trùng HPV. LSIL thường thấy ở những phụ nữ trẻ tuổi. LSIL không phải là ung thư. Ngay cả khi không chữa trị, hầu hết những trường hợp này sẽ trở lại bình thường. Nhưng đôi khi, những tế bào trở nên thay đổi nhiều hơn và trở thành ung thư.
HSIL (high-grade squamous intrepithelial lesion): HSIL không phải là ung thư, nhưng nếu không chữa trị, những tế bào thay đổi này sẽ trở thành ung thư. Những tế bào này nằm ngay tại cổ tử cung, dưới kính hiển vi, trông khác xa những tế bào bình thường.

C. Triệu chứng:

Tiền ung thư và ung thư ở thời kỳ bắt đầu thường không gây triệu chứng, và không gây đau đớn; vì vậy, không nên chờ đến khi thấy đau đớn mới đi khám bệnh. Khi ung thư đã trầm trọng, thường có những triệu chứng như sau:
Xuất huyết từ âm hộ:
Xuất huyết trong những ngày không có kinh nguyệt
Xuất huyết sau khi giao hợp, rửa âm đạo, hay khi khám bộ phận sinh dục (cổ tử cung chảy máu khi cọ sát, "friable cervix")
Kinh nguyệt kéo dài hơn bình thường hoặc xuất huyết nhiều hơn bình thường
Xuất huyết sau khi mãn kinh
Chất nhờn từ âm hộ (vaginal discharge)
Đau bụng dưới
Đau đớn khi giao hợpNhững triệu chứng này không nhất thiết là do ung thư, nhưng cần đi khám bệnh để tìm nguyên nhân.



D. Chẩn bệnh:

Khi việc thử Pap cho kết quả "bất thường" (abnormal), bác sĩ sẽ cần tìm kiếm kỹ càng hơn, và có thể dùng những cách sau để chẩn bệnh:

1. Colposcopy: bác sĩ dùng phương pháp nội soi để quan sát cổ tử cung.

2. Sinh thiết: bác sĩ lấy một mảnh mô ở cổ tử cung để thử nghiệm, qua nhiều cách:
Punch biopsy: bác sĩ dùng 1 dụng cụ sắc, nhọn để lấy ra một mảnh cổ tử cung
LEEP: bác sĩ dùng một dụng cụ có hình thể của một vòng sắt (wire loop) nhọn để làm sinh thiết
Endocervical curettage: bác sĩ sùng 1 dụng cụ có hình thể của cái muỗng, để bào ra một ít mô từ âm đạo. Đôi khi bác sĩ dùng một dụng cụ giống bàn chải (brush) để lấy những mảnh mô này.
Conization: bác sĩ cắt ra một miếng mô có hình nón gọi là cone biopsy. Cách trích mô (sâu) này sẽ lấy ra những tế bào nằm bên dưới bề mặt của cổ tử cung. Bệnh nhân đôi khi cần được chụp thuốc mê và cách trích mô này được thực hiện tại bệnh viện. Cách trích mô này cũng dùng để chữa trị những chứng tiền ung thư.Khi làm sinh thiết, bệnh nhân thường thấy máu hoặc những loại chất nhờn khác từ âm đạo và đau bụng dưới trong vài ngày sau đó.



E. Định kỳ ung thư:

Khi ung thư được xác định qua việc trích mô, bác sĩ cần định kỳ ung thư , ung thư đã ăn lậm đến đâu, đã lan ra những bộ phận nào trước khi hoạch định cách chữa trị. Những thời kỳ ung thư cổ tử cung gồm có:
Thời kỳ 0: Ung thư nằm tại những tế bào trên mặt của cổ tử cung, còn gọi là carcinoma-in-situ
Thời kỳ I: Ung thư ăn lậm đến những tế bào bên dưới bề mặt cổ tử cung, nhưng vẫn nằm tại cổ tử cung.
Thời kỳ II: Ung thư lan sang những bộ phận lân cận, lan đến âm đạo nhưng chưa lan đến âm hộ hoặc ăn lậm đến thành bụng dưới (pelvic wall).
Thời kỳ III: Ung thư lan đến âm hộ, có thể ăn lậm đến thành bụng và những hạch bạch huyết lân cận.
Thời kỳ IV: Ung thư đã lan đến bàng quang, trực tràng và những bộ phận khác.
Ung thư tái phát: Ung thư biến mất một thời gian sau khi chữa trị, bây giờ tái phát tại cổ tử cung hoặc những bộ phận khác.

Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều cách sau để định kỳ ung thư:
Quang tuyến phổi: tìm dấu hiệu ung thư tại phổi
CT scan: tìm dấu hiệu ung thư tại gan, phổi, hoặc những bộ phận khác. Bác sĩ có thể dùng "phẩm" (contrast) để nhìn rõ hơn những bất thường tại những bộ phận trong cơ thể.
MRI: tìm dấu vết ung thư qua những hình ảnh chụp từ MRI.
Siêu âm: que thăm đặt tại bụng hoặc đặt vào âm đạo, những "âm thanh" dội lại tạo ra hình ảnh, và những hình ảnh này cho thấy dấu vết của ung thư.

F. Trị liệu:

Khi nghe tin về ung thư, hầu hết bệnh nhân trải qua những giờ phút kinh hoàng sợ hãi nên khó có thể thảo luận với bác sĩ một cách mạch lạc rõ ràng về những điều mình muốn biết. Vì vậy, quý bà quý cô nên thảo luận việc chữa trị với bác sĩ sau khi đã bình tĩnh lại , nếu cần, nên nhờ thân nhân ghi chép hộ những chi tiết trong cuộc thảo luận. Nếu muốn có ý kiến thứ nhì, nên thảo luận với bác sĩ của mình và nhờ giới thiệu đến một bác sĩ chuyên khoa khác.


Trước khi trị liệu, nên hỏi bác sĩ những câu hỏi sau:
Tôi bị ung thư vào thời kỳ thứ mấy? Bệnh đã lan ra chưa? Nếu có, đã lan đến đâu?Hiện nay cách chữa trị ra sao? Bác sĩ đề nghị loại trị liệu nào? Lý do tại sao?
Những cái lợi/hại của cách trị liệu này? Việc chữa trị kéo dài bao nhiêu lâu?
Tôi sẽ bị những biến chứng nào? Có cách gì để giảm bớt những biến chứng này không?
Việc trị liệu có ảnh hưởng nhiều đến đời sống hàng ngày của tôi hay không?
Tôi có phải vào bệnh viện trong thời gian chữa trị hay không?
Những phương cách trị liệu: Bác sĩ có thể dùng một hoặc nhiều phương cách trị liệu như hóa chất, giải phẫu, xạ trị (quang tuyến trị liệu). Bác sĩ có thể dùng những cách trị liệu phụ để làm giảm sự đau đớn, giảm biến chứng, loại trị liệu này gọi là supportive care.
1. Giải phẫu: là một loại chữa trị tại chỗ, bác sĩ cắt bỏ khối u tại cổ tử cung và những bộ phận lân cận.

Hầu hết bệnh nhân bị ung thư ở thời kỳ I-II, bác sĩ cắt bỏ cổ tử cung và tử cung (total hysterectomy). Ở thời kỳ 0, bác sĩ có thể giữ lại tử cung và chỉ dùng loại trích mô hình chóp nón (conization), cryosurgery hoặc laser để cắt bỏ những phần mô bị ung hoại.

Khi bác sĩ cần cắt bỏ tử cung, cổ tử cung, và một phần âm đạo, cách giải phẫu này gọi là radical hysterectomy.

Khi giải phẫu (total hysterectomy hoặc radical hysterectomy), bác sĩ có thể cắt bỏ cả hai buồng trứng (ovary) và ống dẫn trứng (oviduct, Fallopian tube), gọi là salpingo-oophorectomy.

Bác sĩ có thể cắt bỏ cả những hạch bạch huyết lân cận để tìm dấu vết của ung thư. Nếu ung thư hiện diện tại hạch bạch huyết có nghĩa là ung thư đã lan ra những bộ phận khác trong cơ thể.


Trước khi giải phẫu, nên hỏi bác sĩ những câu hỏi sau:
Bác sĩ sẽ dùng loại giải phẫu nào?
Bác sĩ có cắt bỏ hạch bạch huyết hay không? Những loại mô khác có bị cắt bỏ không?
Tôi sẽ bị những biến chứng nào? Những biến chứng này có ảnh hưởng lâu dài không?
Nếu bác sĩ không cắt bỏ tử cung, tôi có thể thụ thai không? Khi thụ thai, tôi có bị hư thai dễ dàng không?
Bao nhiêu lâu sau cuộc giải phẫu thì tôi sẽ hồi phục? Cuộc giải phẫu có ảnh hưởng gì đến việc giao hợp không?

2. Xạ trị: cũng là một loại chữa trị tại chỗ (local treatment). Bác sĩ có thể dùng xạ trị riêng rẽ hoặc dùng xạ trị với giải phẫu và hóa chất. Khi không thể giải phẫu, bác sĩ dùng xạ trị và hóa chất để chữa những ung thư đã lan ra bên ngoài bụng dưới. Bác sĩ có thể dùng một hoặc cả hai loại xạ trị:

- Ngoại quang tuyến: nguồn xạ trị đến từ một dụng cụ bên ngoài cơ thể, bác sĩ chữa trị mỗi ngày trong nhiều tuần lễ

- Nội quang tuyến: một dụng cụ chứa phóng xạ, thường hình ống, được đặt vào âm đạo (gọi là implant) và giữ tại đây từ vài giờ đến 3 ngày. Bệnh nhân có thể ở lại bệnh viện trong thời gian này và được cách ly để bảo vệ những người khác. Sau khi ống phóng xạ được lấy ra, bệnh nhân sẽ xuất viện. Cách chữa trị này có thể được lập lại nhiều lần trong nhiều tuần lễ.


Trước khi bắt đầu cuộc trị liệu, nên hỏi bác sĩ các câu hỏi sau:
Bác sĩ sẽ dùng cách trị liệu nào?
Tôi có phải ở lại bệnh viện không?
Cuộc trị liệu sẽ kéo dài bao lâu? Ảnh hưởng thế nào đến đời sống hằng ngày?
Tôi sẽ bị những biến chứng nào?
Xạ trị có ảnh hưởng đến việc giao hợp không?
Sau khi chữa trị, tôi có thể thụ thai không? Nếu có con, có ảnh hưởng gì đến đứa trẻ không?

3. Hóa chất: chữa trị bằng hóa chất là một loại trị liệu toàn thân (systemic therapy), thuốc theo máu luân lưu đi khắp nơi trong cơ thể. Hóa chất được truyền qua tĩnh mạch, cùng chung với những loại hóa chất khác. Cách chữa trị này thường được thực hiện tại văn phòng bác sĩ.



G. Biến chứng của trị liệu:


1. Giải phẫu: bệnh nhân sẽ hồi phục sau khi mổ, mỗi bệnh nhân có một thời kỳ hồi phục nhanh chậm khác nhau, tùy theo loại giải phẫu và sức khoẻ toàn diện của người bệnh.
Khi bác sĩ chỉ cắt bỏ khối u nằm tại bề mặt của cổ tử cung, bệnh nhân thường chỉ bị đau bụng dưới, chảy máu hoặc có những chất nhờn lẫn máu từ âm đạo
Khi bác sĩ cắt bỏ tử cung (tử cung), thời gian tại bệnh viện có thể lâu hơn, vài ngày đến 1 tuần lễ. Bệnh nhân sẽ bị mệt mỏi, mất sức, buồn nôn, ói mửa; việc tiểu tiện và đại tiện có thể bị khó khăn. Hầu hết bệnh nhân sẽ hồi phục trong 4-8 tuần lễ hậu giải phẫu.
Khi tử cung bị cắt bỏ, người phụ nữ sẽ không có kinh nguyệt và không còn thụ thai nữa.
Khi buồng trứng bị cắt bỏ, người phụ nữ sẽ đi vào thời kỳ mãn kinh, những triệu chứng của thời kỳ mãn kinh như nóng lạnh, khô da... có thể trầm trọng hơn so với thời kỳ mãn kinh tự nhiên
Cuộc giải phẫu có thể ảnh hưởng đến việc giao hợp hoặc việc gần gũi người bạn tình, cần thảo luận với bác sĩ về những khó khăn này.
2. Xạ trị: biến chứng tùy thuộc vào lượng phóng xạ sử dụng và nơi được chữa trị.
Xạ trị tại bụng (abdomen) và bụng dưới (pelvis) thường gây buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, đi tiểu khó khăn; âm hộ có thể rụng lông, da bụng có thể bị sưng tấy, khô rát.
Âm hộ và âm đạo có thể bị khô, ngứa ngáy hoặc phỏng. Âm đạo có thể trở nên nhỏ đi, có những phương cách nới rộng âm đạo. Người phụ nữ không nên giao hợp trong thời gian chữa trị, nhưng có thể giao hợp trở lại vài tuần lễ sau khi chữa trị.
3. Hóa chất: biến chứng tùy thuộc vào loại và lượng hóa chất sử dụng. Thông thường, bệnh nhân bị những biến chứng sau:
Tế bào máu: mất hồng cầu nên mệt mỏi, mất sức; dễ nhiễm trùng vì thiếu bạch cầu và bạch cầu không làm việc như bình thường; dễ chảy máu vì thiếu tiểu cầu.
Tế bào quanh chân tóc: rụng tóc.
Tế bào lót bộ phận tiêu hóa: buồn nôn, ói mửa, biếng ăn, tiêu chảy, lở miệng và hậu môn.
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ