thichmactien
22-08-2008, 07:29 PM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" bgColor=#efefef border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top>Các sách viết về vị lãnh tụ Hoàng Hoa Thám trước nay đều “treo’ một dấu hỏi về nơi yên nghỉ của người anh hùng dân tộc. Nhà văn Nguyên Hồng suốt mấy chục năm dòng dời thủ đô về vùng quê Nhã Nam, Bắc Giang nghiên cứu, song cũng không khẳng định được chính xác mộ Hoàng Hoa Thám ở đâu. Vậy mà, vài năm trở lại đây, tại một xóm nhỏ chừng ba, bốn chục nóc nhà thuộc xóm Tân Lập, thôn Cẩm Trang, xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang lại thành kính dựng lên một ngôi đền đơn sơ sát cạnh một gò đất. Họ bảo: Gò đất đó chính là ngôi mộ “đích thực” của Thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám.</TD></TR></TBODY></TABLE></TD><TD id=divSlice_8907 align=right width=115><TABLE><TBODY><TR><TD align=left>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/8/7/Ky%20bi%20mo%203.jpg Tượng đồng cụ Đề Thám tại đền thờ Tân Lập </TD></TR></TBODY></TABLE></TD></TR></TBODY></TABLE></TD></TR><TR height=5><TD></TD></TR><TR><TD style="PADDING-RIGHT: 10px; PADDING-LEFT: 5px" vAlign=top>Cụ tôi là bạn cụ Hoàng
<TABLE style="WIDTH: 222px; HEIGHT: 186px" cellSpacing=5 cellPadding=5 width=222 align=left summary="" border=1><TBODY><TR><TD>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/121/Ky%20bi%20mo%201.jpg
Tổ tự quản bên ngôi mộ cụ Đề Thám ở Tân Lập
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Theo người dân ở Tân Lập, sinh thời lãnh tụ Hoàng Hoa Thám có quan hệ mật thiết với cụ Lý Loan (lý trưởng) của làng. Ông Nguyễn Văn Sử (58 tuổi, người xóm Tân Lập) - cháu 5 đời của cụ Lý Loan kể: “Một lần vào dịp tết, cụ Lý Loan lên đồn Phồn Xương – Căn cứ đầu não của cuộc khởi nghĩa, thăm cụ Đề Thám. Cụ Thám ra cổng đồn cùng bà Ba Cẩn (Bà Ba Đề Thám, tên thật là Đặng Thị Nho) và một số quân sĩ đón cụ Lý Loan. Tức cảnh, cụ Thám ra vế cho mọi người. Vế ra của cụ Đề thám là: “Cờ nghĩa tung bay nhờ gió cả”. Bà Ba Cẩn đối: “Gươm thần chờ đón ánh trăng soi”. Cụ Đề Thám lại ra vế đối thứ hai: “Pháo nổ mừng xuân vang bốn cõi”. Cụ Lý Loan đối lại: “Lời thơ chúc tết động Ba Kỳ”. Câu đối này ông Sử được người anh cả Nguyễn Văn Lãm truyền lại. Ông sử cho biết: Mọi việc bí ẩn về ngôi mộ cụ Đề Thám các cụ trong họ chỉ dặn riêng những người con trưởng. Trước khi mất cách đây gần 20 năm, ông Lãm có nói nhỏ với ông Sử rằng: Ngôi mộ thường gọi là mộ ông ăn mày ở gò Yên Ngựa kia chính là mộ cụ Đề Thám.
Ông Sử kể tiếp: Năm 1911, khi nghĩa quân chỉ còn vài chục tay súng bị bao vây ở Ngàn Ván. Toàn quyền Đông dương đã huy động rất nhiều giặc Pháp và dân phu quyết tiêu diệt bằng được nghĩa quân. Sau nhiều ngày thất điên bát đảo không làm gì được các tay súng lẩn khuất trong rừng, giặc phải dùng độc kế, phóng hỏa đốt cháy toàn bộ khu rừng Ngàn Ván. Thế nhưng, tấm lòng kiệt hiệt của người anh hùng Đề Thám đã khiến trời đất quỷ thần phải cảm động. Một trận mưa lớn đã bất ngờ ập xuống giữa lúc lửa cháy dữ dội. Không để lỡ thời cơ, nghĩa quân đã mở một đường máu cho cụ Đề thoát ra. Thoát nạn, cụ Đề Thám cùng vài nghĩa quân theo đường tắt từ Yên Thế dời sang đất Hiệp Hòa. Cụ Đề định sẽ vượt sông Cầu qua bến đò Cẩm Xuyên sang đất Vĩnh Yên tiếp tục mưu đại sự. Thế nhưng, cụ Thống Luận – Người bạn và thông gia của cụ Đề Thám (giả hàng Pháp) đã cho người ngầm báo bên kia sông, giặc Pháp đã có phục binh đón lõng. Vậy nên, cụ Đề mới cùng hai nghĩa quân trở lại xóm Nội Dinh (lúc này chưa có Tân Lập) ẩn náu tại vùng đất do cụ Lý Loan quản lý. Ngày đầu, cụ Đề cùng hai nghĩa quân giả trang hành khất ở tại nhà cụ Lý Loan. Sau đó, cụ Lý Loan bố trí cho cụ Đề và hai nghĩa quân ra ở nhà cầu Thày Mai trên gò Yên Ngựa trong đồi thông dày. Theo ông Nguyễn Văn Tiếp – Thành viên Tổ tự quản đền và lăng mộ cụ Đề Thám: “Nhà cầu Thày Mai dựng ở cạnh xóm, để cho dân đi làm đồng về nghỉ ngơi và cánh trương tuần canh gác dùng làm nơi nghỉ chân”.
Bài thơ trong mộ
<TABLE style="WIDTH: 173px; HEIGHT: 236px" cellSpacing=5 cellPadding=5 width=173 align=left summary="" border=1><TBODY><TR><TD>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/121/Ky%20bi%20mo%202.jpg
Bài thơ trong lòng mộ
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Vẫn theo lời kể của ông Sử: Hàng ngày, cụ Đề Thám nương náu ở nhà cầu Thày Mai và bàn đại sự với hai nghĩa quân thân tín. Thế rồi, tin dữ xảy đến vào ngày 9/5 âm lịch năm 1913. Cụ Đề mất ở nhà cầu Thày Mai. Nghĩa quân và cụ Lý Loan đã an táng cụ Đề dưới một gốc thông, bên một lối mòn, cách nhà cầu Thày Mai chừng 30m. Cây thông này có hình dáng khá lạ. Khác với nhiều cây thông thẳng trong toàn bộ khu đồi, cây thông này thân gập và có hai nhánh như hai tay ngai. Theo những người trong Tổ tự quản mộ và đền cụ Đề thì để giữ bí mật: Cụ Đề được mai táng như thể người “hành khất”, không ván, không liệm, không lễ nghi... Sau khi cụ Đề Thám mất được vài năm thì cụ Lý Loan ngầm đổi cánh đồng dưới chân gò Yên Ngựa thành cánh đồng Yên Thế, và khu gò giữa đồng là Cai Chanh (vị tướng của cụ Đề Thám gốc người Thanh Hóa).
Những người trong Tổ tự quản lăng mộ và đền cụ Đề tại Tân Lập gồm: Ông Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Văn Tuyết, Ngô Văn Quân, Ngô Thị Hiền, Ngô Thị Tám, cho biết: “Trước đây, dân chúng tôi thường truyền miệng với nhau rằng: ngôi mộ ở gò Yên Ngựa kia là mộ của người hành khất. Có cụ già còn nói rõ hơn là mộ của ông ăn mày Trương Văn Nghĩa (đây là tên lúc nhỏ của cụ Đề ngày còn ở Hưng Yên). Ai cũng bảo ngôi mộ này rất thiêng. Mọi người đi qua, ai cũng lấy một ít đất rắc lên ngôi mộ. Thế nên dù sau này khi rừng thông bị chặt, ngôi mộ vẫn nổi rõ giữa khu đồi”.
Chuyện sẽ chẳng trở nên ồn ã khi không hiểu sao, niềm tin về ngôi mộ của “ông ăn mày" là ngôi mộ của cụ Đề nhen dần trong dân chúng sở tại. Như mưa dần thấm lâu, nhiều nhà ngoại cảm và con cháu những người thân thích với cụ Đề đã tìm về. Theo những người trong Tổ tự quản thì có người giỏi phong thủy xem thế đất nói: nên dựng một ngôi miếu đơn sơ bên cạnh ngôi mộ. Và người dân đã làm theo. Năm 2001, họ dựng một ngôi miếu rất khiêm tốn về phía Nam của ngôi mộ.
Ngôi mộ và đền hiện nay thuộc phần đất của gia đình anh Đàm Văn Đường và chị Ngô Thị Điều. Cuối năm 2005, hai đứa trẻ con anh Đường, chị Điều học lớp 3, lớp 4 khi vui chơi tại ngôi mộ đã nhìn thấy lộ ra hai dóng xương. Chúng gọi ông Tiếp lúc đó đi xe máy ngang qua lại xem. Ông Tiếp kể: “Tôi lấy chìa khóa và cố cậy hai khúc xương lên. Đó là hai dóng xương chân dài, xếp nghiêng. Rồi tôi lấp đất lại”.
Có thể nói, mọi chuyện lan rộng ra bên ngoài vào ngày 4/11/2005, khi lãnh đạo và cán bộ xã Mai Trung gồm: ông Ngô Văn Biển - Bí thư Đảng ủy xã, ông Ngô Thanh Chương – Phó Bí thư Đảng ủy xã, ông Nguyễn Đức Thành – Chủ tịch UBND xã, ông Triệu Văn Học – Chủ tịch UBMTTQ xã, ông Nguyễn Văn Dương – Bí thư Chi bộ xã, ông Ngô Văn Chiến – Trưởng công an xã, ông Nguyễn Văn Bình – cán bộ văn hóa xã đã tiến hành việc nhận bàn giao hiện vật lạ trong lòng ngôi mộ với ông Nguyễn Văn Sử và ông Nguyễn Văn Tiếp. Ông Sử kể; Ngày 27/9/2005, khi ông tiến hành đào một hố nhỏ để trồng cây đại sát cạnh ngôi mộ thì phát hiện thấy có một chiếc liễn sành úp ngược. Tuần tự xếp đặt như sau: Trên cùng là đáy liễn, lớp lá dầu đã khô; Hai tờ giấy bản (chỉ một tờ có chữ, một tờ không) được gấp lại. Hai tờ giấy này được đặt trong lòng chiếc đĩa con phượng (thời Lê) và ốp chặt vào đáy liễn. Lá chèn xung quanh. Tiếp đó là lớp cát khô, sau đó là lớp vữa (vôi + cát) chèn chặt lớp cát lại. Cuối cùng là 2 chiếc đĩa thời Nguyễn có ve lòng, một chiếc có hình 3 con cá chép, 1 chiếc có hình 4 con cá chép. Cả hai đều được trát vữa chặt để khỏi tuột. Khi phát hiện, ông Sử đã gọi thợ ảnh đến chụp ảnh hiện trường cùng một số nhân chứng. Trong biên bản bàn giao cho chính quyền xã, ghi: chiếc liễn sành hình trụ có kích cỡ: to nhất 17cm và chiều nhỏ là 16 cm; vòng tròn miệng là 50 cm; chiều cao liễn là 10 cm; độ dày liễn là 1 cm. Ba chiếc đĩa có đường kính 12,5cm và chu vi đường tròn là 38cm. Tờ giấy gió có chữ chiều dài là 37 cm, chiều rộng là 25 cm. Toàn bộ hiện vật này, UBND xã Mai Trung đã báo cáo và Bảo tàng tỉnh Bắc Giang đã cử cán bộ xuống địa phương đem về niêm phong trong kho bảo quản chuyên ngành. Dựa trên các bức ảnh chụp hiện vật và bản photo tờ giấy gió mà ông Sử trao lại, chúng tôi nhận thấy đây là một văn bản chữ Nôm. Toàn văn là một bài thơ bốn câu như sau: “Cờ nghĩa bao năm đành lỡ vận/Hậu thế nghìn năm ai biết không?/Yên ngựa nghỉ vào nơi lòng đất/Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng” và dòng lạc khoản: “Một nghìn chín trăm mười ba/ Tháng năm ngày mồng chín/ Loan”. Chữ “Loan” ở dòng lạc khoản này phải chăng là cụ Lý Loan ký? Và ngẫm lại vế đối ra đề của Cụ Đề: “Cờ nghĩa tung bay nhờ gió cả” với câu mở đầu của bốn câu thơ Nôm: “Cờ nghĩa bao năm nay lỡ vận” liệu có gì liên hệ? Rồi câu kết: “Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng?”. Thế sự Hoàng Hoa là thế sự gì? Phải chăng ý người viết nhắc đến kết cục của cụ Đề Thám?. Hay 4 chữ: “Cờ Hậu Yên Thế” được ghép bởi 4 từ đầu của 4 câu thơ liệu có ý nghĩa gì không?...
Trong khi chờ kết luận từ phía các nhà nghiên cứu thì tại Tân Lập lại có thêm phát hiện mới mà người dân cho là liên quan đến lãnh tụ Hoàng Hoa Thám.
</TD></TR></TBODY></TABLE>
<TABLE style="WIDTH: 222px; HEIGHT: 186px" cellSpacing=5 cellPadding=5 width=222 align=left summary="" border=1><TBODY><TR><TD>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/121/Ky%20bi%20mo%201.jpg
Tổ tự quản bên ngôi mộ cụ Đề Thám ở Tân Lập
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Theo người dân ở Tân Lập, sinh thời lãnh tụ Hoàng Hoa Thám có quan hệ mật thiết với cụ Lý Loan (lý trưởng) của làng. Ông Nguyễn Văn Sử (58 tuổi, người xóm Tân Lập) - cháu 5 đời của cụ Lý Loan kể: “Một lần vào dịp tết, cụ Lý Loan lên đồn Phồn Xương – Căn cứ đầu não của cuộc khởi nghĩa, thăm cụ Đề Thám. Cụ Thám ra cổng đồn cùng bà Ba Cẩn (Bà Ba Đề Thám, tên thật là Đặng Thị Nho) và một số quân sĩ đón cụ Lý Loan. Tức cảnh, cụ Thám ra vế cho mọi người. Vế ra của cụ Đề thám là: “Cờ nghĩa tung bay nhờ gió cả”. Bà Ba Cẩn đối: “Gươm thần chờ đón ánh trăng soi”. Cụ Đề Thám lại ra vế đối thứ hai: “Pháo nổ mừng xuân vang bốn cõi”. Cụ Lý Loan đối lại: “Lời thơ chúc tết động Ba Kỳ”. Câu đối này ông Sử được người anh cả Nguyễn Văn Lãm truyền lại. Ông sử cho biết: Mọi việc bí ẩn về ngôi mộ cụ Đề Thám các cụ trong họ chỉ dặn riêng những người con trưởng. Trước khi mất cách đây gần 20 năm, ông Lãm có nói nhỏ với ông Sử rằng: Ngôi mộ thường gọi là mộ ông ăn mày ở gò Yên Ngựa kia chính là mộ cụ Đề Thám.
Ông Sử kể tiếp: Năm 1911, khi nghĩa quân chỉ còn vài chục tay súng bị bao vây ở Ngàn Ván. Toàn quyền Đông dương đã huy động rất nhiều giặc Pháp và dân phu quyết tiêu diệt bằng được nghĩa quân. Sau nhiều ngày thất điên bát đảo không làm gì được các tay súng lẩn khuất trong rừng, giặc phải dùng độc kế, phóng hỏa đốt cháy toàn bộ khu rừng Ngàn Ván. Thế nhưng, tấm lòng kiệt hiệt của người anh hùng Đề Thám đã khiến trời đất quỷ thần phải cảm động. Một trận mưa lớn đã bất ngờ ập xuống giữa lúc lửa cháy dữ dội. Không để lỡ thời cơ, nghĩa quân đã mở một đường máu cho cụ Đề thoát ra. Thoát nạn, cụ Đề Thám cùng vài nghĩa quân theo đường tắt từ Yên Thế dời sang đất Hiệp Hòa. Cụ Đề định sẽ vượt sông Cầu qua bến đò Cẩm Xuyên sang đất Vĩnh Yên tiếp tục mưu đại sự. Thế nhưng, cụ Thống Luận – Người bạn và thông gia của cụ Đề Thám (giả hàng Pháp) đã cho người ngầm báo bên kia sông, giặc Pháp đã có phục binh đón lõng. Vậy nên, cụ Đề mới cùng hai nghĩa quân trở lại xóm Nội Dinh (lúc này chưa có Tân Lập) ẩn náu tại vùng đất do cụ Lý Loan quản lý. Ngày đầu, cụ Đề cùng hai nghĩa quân giả trang hành khất ở tại nhà cụ Lý Loan. Sau đó, cụ Lý Loan bố trí cho cụ Đề và hai nghĩa quân ra ở nhà cầu Thày Mai trên gò Yên Ngựa trong đồi thông dày. Theo ông Nguyễn Văn Tiếp – Thành viên Tổ tự quản đền và lăng mộ cụ Đề Thám: “Nhà cầu Thày Mai dựng ở cạnh xóm, để cho dân đi làm đồng về nghỉ ngơi và cánh trương tuần canh gác dùng làm nơi nghỉ chân”.
Bài thơ trong mộ
<TABLE style="WIDTH: 173px; HEIGHT: 236px" cellSpacing=5 cellPadding=5 width=173 align=left summary="" border=1><TBODY><TR><TD>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/121/Ky%20bi%20mo%202.jpg
Bài thơ trong lòng mộ
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Vẫn theo lời kể của ông Sử: Hàng ngày, cụ Đề Thám nương náu ở nhà cầu Thày Mai và bàn đại sự với hai nghĩa quân thân tín. Thế rồi, tin dữ xảy đến vào ngày 9/5 âm lịch năm 1913. Cụ Đề mất ở nhà cầu Thày Mai. Nghĩa quân và cụ Lý Loan đã an táng cụ Đề dưới một gốc thông, bên một lối mòn, cách nhà cầu Thày Mai chừng 30m. Cây thông này có hình dáng khá lạ. Khác với nhiều cây thông thẳng trong toàn bộ khu đồi, cây thông này thân gập và có hai nhánh như hai tay ngai. Theo những người trong Tổ tự quản mộ và đền cụ Đề thì để giữ bí mật: Cụ Đề được mai táng như thể người “hành khất”, không ván, không liệm, không lễ nghi... Sau khi cụ Đề Thám mất được vài năm thì cụ Lý Loan ngầm đổi cánh đồng dưới chân gò Yên Ngựa thành cánh đồng Yên Thế, và khu gò giữa đồng là Cai Chanh (vị tướng của cụ Đề Thám gốc người Thanh Hóa).
Những người trong Tổ tự quản lăng mộ và đền cụ Đề tại Tân Lập gồm: Ông Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Văn Tuyết, Ngô Văn Quân, Ngô Thị Hiền, Ngô Thị Tám, cho biết: “Trước đây, dân chúng tôi thường truyền miệng với nhau rằng: ngôi mộ ở gò Yên Ngựa kia là mộ của người hành khất. Có cụ già còn nói rõ hơn là mộ của ông ăn mày Trương Văn Nghĩa (đây là tên lúc nhỏ của cụ Đề ngày còn ở Hưng Yên). Ai cũng bảo ngôi mộ này rất thiêng. Mọi người đi qua, ai cũng lấy một ít đất rắc lên ngôi mộ. Thế nên dù sau này khi rừng thông bị chặt, ngôi mộ vẫn nổi rõ giữa khu đồi”.
Chuyện sẽ chẳng trở nên ồn ã khi không hiểu sao, niềm tin về ngôi mộ của “ông ăn mày" là ngôi mộ của cụ Đề nhen dần trong dân chúng sở tại. Như mưa dần thấm lâu, nhiều nhà ngoại cảm và con cháu những người thân thích với cụ Đề đã tìm về. Theo những người trong Tổ tự quản thì có người giỏi phong thủy xem thế đất nói: nên dựng một ngôi miếu đơn sơ bên cạnh ngôi mộ. Và người dân đã làm theo. Năm 2001, họ dựng một ngôi miếu rất khiêm tốn về phía Nam của ngôi mộ.
Ngôi mộ và đền hiện nay thuộc phần đất của gia đình anh Đàm Văn Đường và chị Ngô Thị Điều. Cuối năm 2005, hai đứa trẻ con anh Đường, chị Điều học lớp 3, lớp 4 khi vui chơi tại ngôi mộ đã nhìn thấy lộ ra hai dóng xương. Chúng gọi ông Tiếp lúc đó đi xe máy ngang qua lại xem. Ông Tiếp kể: “Tôi lấy chìa khóa và cố cậy hai khúc xương lên. Đó là hai dóng xương chân dài, xếp nghiêng. Rồi tôi lấp đất lại”.
Có thể nói, mọi chuyện lan rộng ra bên ngoài vào ngày 4/11/2005, khi lãnh đạo và cán bộ xã Mai Trung gồm: ông Ngô Văn Biển - Bí thư Đảng ủy xã, ông Ngô Thanh Chương – Phó Bí thư Đảng ủy xã, ông Nguyễn Đức Thành – Chủ tịch UBND xã, ông Triệu Văn Học – Chủ tịch UBMTTQ xã, ông Nguyễn Văn Dương – Bí thư Chi bộ xã, ông Ngô Văn Chiến – Trưởng công an xã, ông Nguyễn Văn Bình – cán bộ văn hóa xã đã tiến hành việc nhận bàn giao hiện vật lạ trong lòng ngôi mộ với ông Nguyễn Văn Sử và ông Nguyễn Văn Tiếp. Ông Sử kể; Ngày 27/9/2005, khi ông tiến hành đào một hố nhỏ để trồng cây đại sát cạnh ngôi mộ thì phát hiện thấy có một chiếc liễn sành úp ngược. Tuần tự xếp đặt như sau: Trên cùng là đáy liễn, lớp lá dầu đã khô; Hai tờ giấy bản (chỉ một tờ có chữ, một tờ không) được gấp lại. Hai tờ giấy này được đặt trong lòng chiếc đĩa con phượng (thời Lê) và ốp chặt vào đáy liễn. Lá chèn xung quanh. Tiếp đó là lớp cát khô, sau đó là lớp vữa (vôi + cát) chèn chặt lớp cát lại. Cuối cùng là 2 chiếc đĩa thời Nguyễn có ve lòng, một chiếc có hình 3 con cá chép, 1 chiếc có hình 4 con cá chép. Cả hai đều được trát vữa chặt để khỏi tuột. Khi phát hiện, ông Sử đã gọi thợ ảnh đến chụp ảnh hiện trường cùng một số nhân chứng. Trong biên bản bàn giao cho chính quyền xã, ghi: chiếc liễn sành hình trụ có kích cỡ: to nhất 17cm và chiều nhỏ là 16 cm; vòng tròn miệng là 50 cm; chiều cao liễn là 10 cm; độ dày liễn là 1 cm. Ba chiếc đĩa có đường kính 12,5cm và chu vi đường tròn là 38cm. Tờ giấy gió có chữ chiều dài là 37 cm, chiều rộng là 25 cm. Toàn bộ hiện vật này, UBND xã Mai Trung đã báo cáo và Bảo tàng tỉnh Bắc Giang đã cử cán bộ xuống địa phương đem về niêm phong trong kho bảo quản chuyên ngành. Dựa trên các bức ảnh chụp hiện vật và bản photo tờ giấy gió mà ông Sử trao lại, chúng tôi nhận thấy đây là một văn bản chữ Nôm. Toàn văn là một bài thơ bốn câu như sau: “Cờ nghĩa bao năm đành lỡ vận/Hậu thế nghìn năm ai biết không?/Yên ngựa nghỉ vào nơi lòng đất/Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng” và dòng lạc khoản: “Một nghìn chín trăm mười ba/ Tháng năm ngày mồng chín/ Loan”. Chữ “Loan” ở dòng lạc khoản này phải chăng là cụ Lý Loan ký? Và ngẫm lại vế đối ra đề của Cụ Đề: “Cờ nghĩa tung bay nhờ gió cả” với câu mở đầu của bốn câu thơ Nôm: “Cờ nghĩa bao năm nay lỡ vận” liệu có gì liên hệ? Rồi câu kết: “Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng?”. Thế sự Hoàng Hoa là thế sự gì? Phải chăng ý người viết nhắc đến kết cục của cụ Đề Thám?. Hay 4 chữ: “Cờ Hậu Yên Thế” được ghép bởi 4 từ đầu của 4 câu thơ liệu có ý nghĩa gì không?...
Trong khi chờ kết luận từ phía các nhà nghiên cứu thì tại Tân Lập lại có thêm phát hiện mới mà người dân cho là liên quan đến lãnh tụ Hoàng Hoa Thám.
</TD></TR></TBODY></TABLE>