PDA

View Full Version : Kỳ bí mộ Đề Thám ở Tân Lập


thichmactien
22-08-2008, 07:29 PM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" bgColor=#efefef border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top>Các sách viết về vị lãnh tụ Hoàng Hoa Thám trước nay đều “treo’ một dấu hỏi về nơi yên nghỉ của người anh hùng dân tộc. Nhà văn Nguyên Hồng suốt mấy chục năm dòng dời thủ đô về vùng quê Nhã Nam, Bắc Giang nghiên cứu, song cũng không khẳng định được chính xác mộ Hoàng Hoa Thám ở đâu. Vậy mà, vài năm trở lại đây, tại một xóm nhỏ chừng ba, bốn chục nóc nhà thuộc xóm Tân Lập, thôn Cẩm Trang, xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang lại thành kính dựng lên một ngôi đền đơn sơ sát cạnh một gò đất. Họ bảo: Gò đất đó chính là ngôi mộ “đích thực” của Thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám.</TD></TR></TBODY></TABLE></TD><TD id=divSlice_8907 align=right width=115><TABLE><TBODY><TR><TD align=left>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/8/7/Ky%20bi%20mo%203.jpg Tượng đồng cụ Đề Thám tại đền thờ Tân Lập </TD></TR></TBODY></TABLE></TD></TR></TBODY></TABLE></TD></TR><TR height=5><TD></TD></TR><TR><TD style="PADDING-RIGHT: 10px; PADDING-LEFT: 5px" vAlign=top>Cụ tôi là bạn cụ Hoàng


<TABLE style="WIDTH: 222px; HEIGHT: 186px" cellSpacing=5 cellPadding=5 width=222 align=left summary="" border=1><TBODY><TR><TD>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/121/Ky%20bi%20mo%201.jpg
Tổ tự quản bên ngôi mộ cụ Đề Thám ở Tân Lập
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Theo người dân ở Tân Lập, sinh thời lãnh tụ Hoàng Hoa Thám có quan hệ mật thiết với cụ Lý Loan (lý trưởng) của làng. Ông Nguyễn Văn Sử (58 tuổi, người xóm Tân Lập) - cháu 5 đời của cụ Lý Loan kể: “Một lần vào dịp tết, cụ Lý Loan lên đồn Phồn Xương – Căn cứ đầu não của cuộc khởi nghĩa, thăm cụ Đề Thám. Cụ Thám ra cổng đồn cùng bà Ba Cẩn (Bà Ba Đề Thám, tên thật là Đặng Thị Nho) và một số quân sĩ đón cụ Lý Loan. Tức cảnh, cụ Thám ra vế cho mọi người. Vế ra của cụ Đề thám là: “Cờ nghĩa tung bay nhờ gió cả”. Bà Ba Cẩn đối: “Gươm thần chờ đón ánh trăng soi”. Cụ Đề Thám lại ra vế đối thứ hai: “Pháo nổ mừng xuân vang bốn cõi”. Cụ Lý Loan đối lại: “Lời thơ chúc tết động Ba Kỳ”. Câu đối này ông Sử được người anh cả Nguyễn Văn Lãm truyền lại. Ông sử cho biết: Mọi việc bí ẩn về ngôi mộ cụ Đề Thám các cụ trong họ chỉ dặn riêng những người con trưởng. Trước khi mất cách đây gần 20 năm, ông Lãm có nói nhỏ với ông Sử rằng: Ngôi mộ thường gọi là mộ ông ăn mày ở gò Yên Ngựa kia chính là mộ cụ Đề Thám.

Ông Sử kể tiếp: Năm 1911, khi nghĩa quân chỉ còn vài chục tay súng bị bao vây ở Ngàn Ván. Toàn quyền Đông dương đã huy động rất nhiều giặc Pháp và dân phu quyết tiêu diệt bằng được nghĩa quân. Sau nhiều ngày thất điên bát đảo không làm gì được các tay súng lẩn khuất trong rừng, giặc phải dùng độc kế, phóng hỏa đốt cháy toàn bộ khu rừng Ngàn Ván. Thế nhưng, tấm lòng kiệt hiệt của người anh hùng Đề Thám đã khiến trời đất quỷ thần phải cảm động. Một trận mưa lớn đã bất ngờ ập xuống giữa lúc lửa cháy dữ dội. Không để lỡ thời cơ, nghĩa quân đã mở một đường máu cho cụ Đề thoát ra. Thoát nạn, cụ Đề Thám cùng vài nghĩa quân theo đường tắt từ Yên Thế dời sang đất Hiệp Hòa. Cụ Đề định sẽ vượt sông Cầu qua bến đò Cẩm Xuyên sang đất Vĩnh Yên tiếp tục mưu đại sự. Thế nhưng, cụ Thống Luận – Người bạn và thông gia của cụ Đề Thám (giả hàng Pháp) đã cho người ngầm báo bên kia sông, giặc Pháp đã có phục binh đón lõng. Vậy nên, cụ Đề mới cùng hai nghĩa quân trở lại xóm Nội Dinh (lúc này chưa có Tân Lập) ẩn náu tại vùng đất do cụ Lý Loan quản lý. Ngày đầu, cụ Đề cùng hai nghĩa quân giả trang hành khất ở tại nhà cụ Lý Loan. Sau đó, cụ Lý Loan bố trí cho cụ Đề và hai nghĩa quân ra ở nhà cầu Thày Mai trên gò Yên Ngựa trong đồi thông dày. Theo ông Nguyễn Văn Tiếp – Thành viên Tổ tự quản đền và lăng mộ cụ Đề Thám: “Nhà cầu Thày Mai dựng ở cạnh xóm, để cho dân đi làm đồng về nghỉ ngơi và cánh trương tuần canh gác dùng làm nơi nghỉ chân”.

Bài thơ trong mộ

<TABLE style="WIDTH: 173px; HEIGHT: 236px" cellSpacing=5 cellPadding=5 width=173 align=left summary="" border=1><TBODY><TR><TD>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/121/Ky%20bi%20mo%202.jpg
Bài thơ trong lòng mộ
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Vẫn theo lời kể của ông Sử: Hàng ngày, cụ Đề Thám nương náu ở nhà cầu Thày Mai và bàn đại sự với hai nghĩa quân thân tín. Thế rồi, tin dữ xảy đến vào ngày 9/5 âm lịch năm 1913. Cụ Đề mất ở nhà cầu Thày Mai. Nghĩa quân và cụ Lý Loan đã an táng cụ Đề dưới một gốc thông, bên một lối mòn, cách nhà cầu Thày Mai chừng 30m. Cây thông này có hình dáng khá lạ. Khác với nhiều cây thông thẳng trong toàn bộ khu đồi, cây thông này thân gập và có hai nhánh như hai tay ngai. Theo những người trong Tổ tự quản mộ và đền cụ Đề thì để giữ bí mật: Cụ Đề được mai táng như thể người “hành khất”, không ván, không liệm, không lễ nghi... Sau khi cụ Đề Thám mất được vài năm thì cụ Lý Loan ngầm đổi cánh đồng dưới chân gò Yên Ngựa thành cánh đồng Yên Thế, và khu gò giữa đồng là Cai Chanh (vị tướng của cụ Đề Thám gốc người Thanh Hóa).

Những người trong Tổ tự quản lăng mộ và đền cụ Đề tại Tân Lập gồm: Ông Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Văn Tuyết, Ngô Văn Quân, Ngô Thị Hiền, Ngô Thị Tám, cho biết: “Trước đây, dân chúng tôi thường truyền miệng với nhau rằng: ngôi mộ ở gò Yên Ngựa kia là mộ của người hành khất. Có cụ già còn nói rõ hơn là mộ của ông ăn mày Trương Văn Nghĩa (đây là tên lúc nhỏ của cụ Đề ngày còn ở Hưng Yên). Ai cũng bảo ngôi mộ này rất thiêng. Mọi người đi qua, ai cũng lấy một ít đất rắc lên ngôi mộ. Thế nên dù sau này khi rừng thông bị chặt, ngôi mộ vẫn nổi rõ giữa khu đồi”.

Chuyện sẽ chẳng trở nên ồn ã khi không hiểu sao, niềm tin về ngôi mộ của “ông ăn mày" là ngôi mộ của cụ Đề nhen dần trong dân chúng sở tại. Như mưa dần thấm lâu, nhiều nhà ngoại cảm và con cháu những người thân thích với cụ Đề đã tìm về. Theo những người trong Tổ tự quản thì có người giỏi phong thủy xem thế đất nói: nên dựng một ngôi miếu đơn sơ bên cạnh ngôi mộ. Và người dân đã làm theo. Năm 2001, họ dựng một ngôi miếu rất khiêm tốn về phía Nam của ngôi mộ.

Ngôi mộ và đền hiện nay thuộc phần đất của gia đình anh Đàm Văn Đường và chị Ngô Thị Điều. Cuối năm 2005, hai đứa trẻ con anh Đường, chị Điều học lớp 3, lớp 4 khi vui chơi tại ngôi mộ đã nhìn thấy lộ ra hai dóng xương. Chúng gọi ông Tiếp lúc đó đi xe máy ngang qua lại xem. Ông Tiếp kể: “Tôi lấy chìa khóa và cố cậy hai khúc xương lên. Đó là hai dóng xương chân dài, xếp nghiêng. Rồi tôi lấp đất lại”.

Có thể nói, mọi chuyện lan rộng ra bên ngoài vào ngày 4/11/2005, khi lãnh đạo và cán bộ xã Mai Trung gồm: ông Ngô Văn Biển - Bí thư Đảng ủy xã, ông Ngô Thanh Chương – Phó Bí thư Đảng ủy xã, ông Nguyễn Đức Thành – Chủ tịch UBND xã, ông Triệu Văn Học – Chủ tịch UBMTTQ xã, ông Nguyễn Văn Dương – Bí thư Chi bộ xã, ông Ngô Văn Chiến – Trưởng công an xã, ông Nguyễn Văn Bình – cán bộ văn hóa xã đã tiến hành việc nhận bàn giao hiện vật lạ trong lòng ngôi mộ với ông Nguyễn Văn Sử và ông Nguyễn Văn Tiếp. Ông Sử kể; Ngày 27/9/2005, khi ông tiến hành đào một hố nhỏ để trồng cây đại sát cạnh ngôi mộ thì phát hiện thấy có một chiếc liễn sành úp ngược. Tuần tự xếp đặt như sau: Trên cùng là đáy liễn, lớp lá dầu đã khô; Hai tờ giấy bản (chỉ một tờ có chữ, một tờ không) được gấp lại. Hai tờ giấy này được đặt trong lòng chiếc đĩa con phượng (thời Lê) và ốp chặt vào đáy liễn. Lá chèn xung quanh. Tiếp đó là lớp cát khô, sau đó là lớp vữa (vôi + cát) chèn chặt lớp cát lại. Cuối cùng là 2 chiếc đĩa thời Nguyễn có ve lòng, một chiếc có hình 3 con cá chép, 1 chiếc có hình 4 con cá chép. Cả hai đều được trát vữa chặt để khỏi tuột. Khi phát hiện, ông Sử đã gọi thợ ảnh đến chụp ảnh hiện trường cùng một số nhân chứng. Trong biên bản bàn giao cho chính quyền xã, ghi: chiếc liễn sành hình trụ có kích cỡ: to nhất 17cm và chiều nhỏ là 16 cm; vòng tròn miệng là 50 cm; chiều cao liễn là 10 cm; độ dày liễn là 1 cm. Ba chiếc đĩa có đường kính 12,5cm và chu vi đường tròn là 38cm. Tờ giấy gió có chữ chiều dài là 37 cm, chiều rộng là 25 cm. Toàn bộ hiện vật này, UBND xã Mai Trung đã báo cáo và Bảo tàng tỉnh Bắc Giang đã cử cán bộ xuống địa phương đem về niêm phong trong kho bảo quản chuyên ngành. Dựa trên các bức ảnh chụp hiện vật và bản photo tờ giấy gió mà ông Sử trao lại, chúng tôi nhận thấy đây là một văn bản chữ Nôm. Toàn văn là một bài thơ bốn câu như sau: “Cờ nghĩa bao năm đành lỡ vận/Hậu thế nghìn năm ai biết không?/Yên ngựa nghỉ vào nơi lòng đất/Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng” và dòng lạc khoản: “Một nghìn chín trăm mười ba/ Tháng năm ngày mồng chín/ Loan”. Chữ “Loan” ở dòng lạc khoản này phải chăng là cụ Lý Loan ký? Và ngẫm lại vế đối ra đề của Cụ Đề: “Cờ nghĩa tung bay nhờ gió cả” với câu mở đầu của bốn câu thơ Nôm: “Cờ nghĩa bao năm nay lỡ vận” liệu có gì liên hệ? Rồi câu kết: “Thế sự Hoàng Hoa ai rõ chăng?”. Thế sự Hoàng Hoa là thế sự gì? Phải chăng ý người viết nhắc đến kết cục của cụ Đề Thám?. Hay 4 chữ: “Cờ Hậu Yên Thế” được ghép bởi 4 từ đầu của 4 câu thơ liệu có ý nghĩa gì không?...

Trong khi chờ kết luận từ phía các nhà nghiên cứu thì tại Tân Lập lại có thêm phát hiện mới mà người dân cho là liên quan đến lãnh tụ Hoàng Hoa Thám.
</TD></TR></TBODY></TABLE>

thichmactien
22-08-2008, 07:30 PM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" bgColor=#efefef border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top><TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD vAlign=top>Từ một ngôi mộ những tưởng là của người “hành khất” thoắt đâu thành ra mộ của người anh hùng Hoàng Hoa Thám. Trong khi những hiện vật sinh động đã tìm thấy chưa được xử lý “thông tin” thì người dân Tân Lập đã cùng nhau mở rộng thêm ngôi đền thờ bên ngôi mộ. Những chuyện lạ cũng bắt đầu phát lộ.</TD></TR></TBODY></TABLE></TD><TD id=divSlice_8950 align=right width=115><TABLE><TBODY><TR><TD align=left>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/8/8/Mo%20De%20Tham%204.jpg Di ảnh anh hùng Đề Thám </TD></TR></TBODY></TABLE></TD></TR></TBODY></TABLE></TD></TR><TR height=5><TD></TD></TR><TR><TD style="PADDING-RIGHT: 10px; PADDING-LEFT: 5px" vAlign=top>Khơi thông giếng cổ


Sau khi ông Nguyễn Văn Sử (cháu 5 đời cụ Lý Loan ở Tân Lập) tìm thấy hiện vật và tờ giấy ghi bài thơ Nôm, nhiều người dân xóm Tân Lập, thôn Cẩm Trang, xã Mai Trung, huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang càng tin ngôi mộ ông “hành khất” kia chính là mộ cụ Đề Thám. Nhiều người dân trong xóm đã tới ngôi miếu nhỏ thắp hương.

Năm 2004, toàn bộ 42 hộ dân ở Tân Lập đã tự nguyện đóng góp và xây dựng một ngôi đền ba gian sát tại ngôi mộ “cụ Đề”. Ngôi miếu nhỏ dựng khi trước trở thành hậu cung của đền. Di ảnh chân dung cụ Đề Thám cũng được thờ ở đây. Và hàng năm, cứ đến ngày 9/5 âm lịch, dân làng lại tổ chức lễ giỗ long trọng lãnh tụ Hoàng Hoa Thám. Những người thân của cụ Đề Thám nhiều khi đã về dự. Ngày giỗ năm nay, những người thân hậu duệ của gia đình cụ Đề Thám ở Hà Nội đã cung tiến một bức tượng đồng bán thân vị lãnh tụ.

<TABLE cellSpacing=5 cellPadding=5 width=200 align=left summary="" border=1><TBODY><TR><TD>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/122/Mo%20De%20Tham%205.jpg
Mộ và đền Đề Thám ở Tân Lập
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Trong nhiều đoàn khách tìm về Tân Lập, có đoàn của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển tiềm năng con người. Ông Nguyễn Văn Sử kể: “Một vài người của Trung tâm bằng khả năng của mình đã khẳng định: ngôi mộ kia đích thực là của cụ Đề Thám”. Ông Tiếp – Thành viên Tổ tự quản kể: “Có một người phụ nữ đã đứng thắp hương rất lâu bên mộ và nền nhà cầu Thày Mai. Cô khấn rất lâu rồi bảo: Phía trước mặt có một giếng cổ cần được khơi thông”. Tất cả thành viên tổ tự quản không ai tin vì trước mặt là cánh đồng. Hơn nữa họ lại là cư dân sở tại. Nhà ngoại cảm nữ vẫn khẳng định chắc chắn. Cô còn nói: Dưới giếng có hai phiến đá lớn. Mỗi phiến lớn bằng chiếc chiếu đơn...

Ông Sử kể: “Nghe nhà ngoại cảm nói, tôi sực nhớ tới lời anh Lãm tôi truyền lại : Ngày cụ Đề ở nhà cầu Thày Mai thường ra giếng cổ ở cánh đồng để tắm giặt. Nhiều lúc cụ còn rủ cả con cụ Lý Loan (ông nội ông Sử) ra đó”. Thế nhưng để biết đích xác vị trí của giếng cổ thì ông Sử cũng chịu. Thế nên, để chứng minh, một số người dân đã mang cuốc, xẻng, xà beng ra đồng đào theo vị trí mà nhà ngoại cảm nữ chỉ. Đó là chỗ vũng nước tựa hình chiếc nón để ngửa giữa cánh đồng Yên Thế.

Người dân Tân Lập làm đồng quanh đó kể: Tại vũng nước này, trâu bò chỉ đến uống nước chứ không đầm mình xuống như nhiều vũng nước khác. Và kết quả, thật lạ. Khi đào sâu xuống, người dân thấy một tảng đá xanh nằm chẹn ngang, hình như nó bị sụt đất mới như vậy. Đào sâu hơn nữa thì phát hiện đây đúng là giếng cổ và có tảng đá thứ hai. Xung quanh giếng được kè bằng đá, lên chút nữa là xếp gạch ong. Giếng có độ sâu 3,5m, đường kính 6m. Hiện người dân đã phục dựng xong giếng bằng tiền ủng hộ”. Theo ông Sử và ông Tiếp: “Nhà ngoại cảm nữ này có nhã ý đề nghị sẽ mua lại mảnh đất có nền nhà cầu Thày Mai và ngôi mộ. Sau đó sẽ tu tạo khang trang di tích và trao lại cho xã quản lý. Tổng số kinh phí dự kiến cô sẵn sàng chi là 1 tỷ đồng. Thế nhưng, vì người dân còn có những ý kiến khác nhau nên việc này chưa thực hiện được".

Bà Ngô Thị Hiền kể: “Sau khi phát hiện ra giếng cổ, có một nhà phong thủy ở Ninh Bình tên là Kích về chơi với đồng nghiệp ở làng là ông Dự có nói: Ngôi mộ này rất thiêng. Trên đầu hài cốt vẫn còn thanh kiếm lệnh đấy”. Còn ông Sử bổ sung thêm: “Anh Lãm tôi nói rằng: Ở bên đùi của hài cốt có viên ngọc dết rất quý của cụ Đề”. Tất nhiên, những câu chuyện như thế này vẫn cứ tiếp diễn vì nó chưa được kiểm chứng. Gần đây, chính quyền xã Mai Trung lấy làm sốt sắng đệ đơn đề nghị lên các cấp có thẩm quyền và Viện Lịch sử, Viện Khảo cổ học mong được tiến hành khai quật để làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng vì nhiều nguyên nhân, giới khoa học vẫn chưa thể vào cuộc.

Bức thư cuối cùng gửi cha nuôi Bá Phức

Ông Sử mời chúng tôi về nhà sau khi đã đi vòng một lượt các dấu tích liên quan đến mộ cụ Đề. Tại gian giữa nhà, là bàn thờ gia tiên và di ảnh cụ Đề Thám và bà Ba Cẩn. Pha trà, mời nước chúng tôi xong, ông Sử nói: “Ngoài câu đối với cụ Đề dịp chúc Tết năm mới, cụ Lý Loan có truyền lại cho lớp con cháu chúng tôi nội dung bức thư của cụ Đề gửi cho người cha nuôi là Thân Bá Phức. Ông Thân Bá Phức trước cũng là người nghĩa sĩ đánh giặc cứu nước sau ra hàng Pháp. Ông Bá Phức đã “lợi dụng” tình cảm cha con đến thăm Hoàng Hoa Thám với ý định đặt mìn giết chết người anh hùng. Thế nhưng, vì cảnh giác, nên cụ Đề không những thoát nạn mà còn tương kế tựu kế đánh tan đội quân Pháp”. Tưởng rằng sau lần kế hoạch thất bại ê chề ấy, Bá Phức sẽ không dám viết thư dụ hàng Đề thám nữa. Ai dè, Bá Phức vẫn viết thư.

<TABLE cellSpacing=5 cellPadding=5 width=200 align=right summary="" border=1><TBODY><TR><TD>http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/122/Mo%20De%20Tham%201.jpg
Lễ rước tượng đồng anh hùng Đề Thám
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Phẫn uất, cụ Đề Thám đã trả lời thư bằng một bài thơ. Ông Nguyễn Văn Sử đọc liền một mạch cho tôi chép lại 44 câu, toàn văn bức thư cuối cùng của cụ Đề Thám gửi cha nuôi Thân Bá Phức. Đây là nội dung:

“Đọc những lời trong thư cha dặn giữ./ Hoàng Lệ con hoen ố mảnh nhung y./ Nhớ ngày nào con dứt áo ra đi./ Trong quá khứ cha ghi niềm kiêu hãnh./ Lưỡi kiếm nọ máu kẻ thù còn dính./ Mà anh hùng tim lạnh bởi hư vinh./ Nơi phong ba con vùng vẫy với nghê kình./ Hám mồi béo cha nộp mình cho ngư phủ./ Chốn rừng xanh tung hoành con mãnh hổ./ Bả vinh hoa cha làm con ngây ngất cả tâm hồn./ Nhưng không chuyển được lòng son, dạ sắt./ Mây Hồng Lĩnh còn mịt mù xanh ngắt/ Sông Nhị Hà còn chứa chất mối căm hờn./ Đời của con là của cả giang sơn./ Dẫu gió kép mưa đơn đâu sá kể./ Ôi lúc cha già vui vầy nơi nhị vị./ Là lúc con đương rầu rĩ khóc non sông./ Đêm canh trường cha nằm mùng gấm đệm bông./ Nơi rừng thẳm con nằm chông nếm mật./ Khi cha say sưa hít thở mùi hương trầm thơm ngát./ Thì mũi con nghẹt thở cổ khô khan./ Tai văng vẳng nghe tiếng hồn khóc oan nơi thảm cảnh./ Khi ngực cha đầy những mề đay kim khánh./ Thì bên mình con lấp lánh bóng gươm kiều./ Khi cha say sưa với thiếu nữ yêu kiều./ Là lúc con tận tụy với tình yêu Tổ quốc./ Nghĩa là cha mang tài năng trí óc./ Mưu vinh thân làm mục đích cuối cùng./ Thì con nguyện đem xương trắng máu hồng./ Đền nợ nước non sông là nơi chí nguyện./ Con với cha là hai trận tuyến./ Cha tiến một đường, con tiến một đường./ Thôi từ nay hai chữ Cương Thường./ Con xin hạ xuống để thờ sang đất nước./ Cuộc đoàn viên xin cha đừng mong ước./ Cuộc hội đàm xin hẹn cha bằng đại bác với thần công./ Bức thư này là bức thư cuối cùng./ Tái bút tình thư./ Để chờ ngày kết án kẻ gian phi./ Thanh kiếm này con tuốt sẵn chờ khi”.

Nội dung bức thư này chưa thấy công bố trong tài liệu nào. Và đọc đến đây, chắc bạn đọc cũng mong sự việc: Có đích thực ngôi mộ bên đồi Yên Ngựa ở Tân Lập là mộ anh hùng Đề Thám không? Mau chóng được sáng tỏ. Thiết nghĩ: việc sáng tỏ này cũng không đến nỗi khó khăn vì: Hài cốt trong ngôi mộ vẫn còn. Và tờ giấy gió ghi bài thơ Nôm cùng hiện vật lấy từ trong lòng mộ vẫn đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bắc Giang.

Mạnh Thắng - Thu Hiền
Báo Đại đoàn kết
</TD></TR></TBODY></TABLE>