View Full Version : Những Lời Dạy Vàng của Đức Phật
TranNhatThanh
18-08-2008, 02:26 PM
Những Lời Dạy Vàng của Đức Phật
Tỳ kheo Thiện Minh
(Bhikkhu Varapanno)
Soạn dịch từ Miến Ngữ
Phật Lịch 2547 - Dương Lịch 2003
KÍNH DÂNG LÊN GIÁC LINH:
* Cố Đại lão Hòa thượng Hộ Tông (Bậc khai sáng Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam)
* Sư phụ Cố Đại lão Hòa Thượng Hộ Nhẫn (Tăng trưởng hệ phái Nguyên Thủy Việt Nam)
MỤC LỤC
Phần một - CÁC CHUYỆN LIÊN QUAN ĐẾN BỐ THÍ
1. Chuyện đại tướng Siha
2. Chuyện hai nhà sư bạn
3. Chuyện Hoàng Hậu Mallikā
4. Chuyện về Đạo sĩ Akitti.
5. Đức Chuyển Luân Vương
6. Tích chuyện bố thí cơm:
7. Tích chuyện bố thí nước
8. Tích chuyện về bố thí hoa
9. Tích chuyện bố thí đèn
10.Người bố thí thuốc (Đại Đức Bakula)
Phần hai - NHÂN QUẢ TƯƠNG QUAN, BỐ THÍ VÀ CÁC QUẢ LÀNH.
1. Quả lành của sự bố thí cơm
2. Quả lành của sự bố thí nước
3. Quả lành bố thí, cúng dường bông hoa và vật thơm.
4. Quả lành bố thí đèn sáng
5. Quả lành của việc bố thí thuốc có
6. Bố thí kim (may khâu).
7. Bố thí rựa chẻ củi (rìu bén)
8. Bố thí dao.
9. Bố thí dao cắt móng tay (bấm móng tay chân).
10. Bố thí chỉ may, khâu.
11. Bố thí tăm xỉa, răng.
12. Bố thí gậy.
13. Bố thí dép.
14. Bố thí giày.
15. Bố thí khăn lau.
16. Bố thí dù
17. Bố thí quạt (bằng lá thốt nốt, lá cọ ...).
18. Bố thí ly tách.
19. Bố thí thùng đựng nước, bình rót nước.
20. Bố thí bình lọc nước.
21. Bố thí vải vóc áo quần.
22. Bố thí dây nịt, dây thắt lưng.
23. Bố thí giường, ghế...
24. Bố thí giường (loại giường chân thấp xưa)
25. Bố thí gối.
26. Bố thí gối tựa.
27. Bố thí thảm, khăn chùi chân.
28. Bố thí bình, thùng đựng dầu phụng, dầu thắp,..
29. Bố thí đèn thắp.
30. Bố thí thuốc crửa mắt.
31. Bố thí vật để đưa thuốc vào mũi, (ống thuốc crửa thông mũi, những bệnh về mũi...)
32. Bố thí thau, chậu để rữa chân.
33. Bố thí dầu để xoa bóp chân.
34. Bố thí dầu bơ.
35. Bố thí sữa bò.
36. Bố thí mía khúc.
37. Bố thí ổ khoá, chốt gài cửa.
38. Bố thí đồ trang sức quý giá.
39. Bố thí voi.
40. Bố thí giấy viết.
41. Xây dựng nơi đi kinh hành (nơi đi tới, đi lui để tĩnh tâm thư giãn) bố thí .
42. Lập chòi, dựng trại che mưa nắng cho khách lỡ đường để bố thí .
43. Gieo trồng cây bồ đề để bố thí:
44. Tưới cây bồ đề:
45. Sửa tu bổ nơi thờ Phật, tháp cũ.
46. Sơn Tháp; nơi thờ Phật.
47. Tạo Tượng Phật để cúng dường.
48. Cúng dường đèn thắp sáng trước tượng Phật.
49. Cúng dường cơm trước tượng Phật.
50. Tạo đục bình cắm hoa, quả bồng (chưng hoa quả) cúng dường trước tượng Phật .
51. Bố thí bình bát.
52. Bố thí vải vóc, áo quần (không biết mặt).
53. Bố thí vải vóc, áo quần.
54. Bố thí vải vóc, y mặc đến chư Tăng (không biết mặt)
55. Lập chùa để cúng dường đến tứ phương Tăng.
56. Quả lành cúng dường Y đến chư Tăng vào mùa nhập hạ
57. Quả lành của sự cung kính đảnh lê "Y" của Chư Tăng:
58. Quả lành dâng Y lễ Kathina (từ tháng 9 - 10 âm lịch), Mùa ra Hạ.
59. Quả lành khác của việc dâng Y Kathina.
60. Quả lành cúng dường Y đến Tăng (ngoài các khoảng thời gian kể trên)
61. Quả lành của việc niệm Ân Đức Phật:
62. Quả lành chung của sự niệm tưởng Ân Đức Tam Bảo:
63. Quả lành của sự Quy y Ân Đức Tam Bảo
64. Những nhân lành cho tuổi thọ dài
65. Quả lành của việc biên soạn Tam Tạng Kinh Điển
Phần ba - BỐ THÍ, PHÂN LOẠI BỐ THÍ, NHỮNG YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỐ THÍ
1. Sự cần thiết của bố thí
2. Ba giai đoạn tác ý thiện tâm ảnh hưởng đến quả lành trong suốt đến một quá trình bố thí
3. Phân loại bố thí
4. Những vấn đề ảnh hưởng sự bố thí liên quan đến tài vật và thái độ của người thí và những quả lành tương ứng.
5. Năm sự bố thí hợp thời đúng lúc và quả lành
6. Có năm loại bố thí không được quả lành:
7. Năm sự bố thí cho quả lành tuổi thọ dài:
8. Sự bố thí cho phước lành thù thắng:
9. Có 14 hạng nhận vật thí:
10.Phước lành trỗ sanh trong vòng bảy ngày (bố thí với đủ 4 chi)
11. Trường cửu thí (thường xuyên thí)
12. Bố thí, động viên bố thí và quả
13. Có năm phước lành trổ sanh ngay trong hiện tại
14. Bố thí trong thời kỳ có Phật giáo thịnh hành và thời kỳ không có Phật giáo thịnh hành
-ooOoo-
Nammo tassa Bhagavato Arahato Sammasambuddhassa
Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn.
Ngài là bậc A la hán, là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Do nhờ oai đức Tam Bảo và phước phát sanh do pháp thí này xin hộ trì đến chư thiện tín xa gần thành tựu năm điều hạnh phúc: sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh, nhất là trí tuệ sẽ phát sanh đến người. Cầu mong cho tất cả hoan hỷ phần phước thiện này để được sự an lạc lâu dài.
Buddhaṃ saranaṃ gacchāmi
Dhammaṃ saranam gacchāmi
Sanghaṃ saranaṃ gacchāmi
Ratanattaysaranaṃ gato
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp.
Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng.
Con đã quy y Tam Bảo với lòng thành kính.
LỜI TÁC GIẢ
Trong thế giới vạn vật hữu hình nầy, tất cả sự vật hiện tượng xảy ra trong cuộc sống xung quanh ta, đều phát sanh từ những nguyên nhân ban đầu của nó. Chỉ khác nhau là chúng bắt nguồn từ những nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp, gần hoặc xa mà thôi. Những điều xảy ra từ những nguyên nhân trực tiếp (gần) thật dễ thấy. Ví như sự lao đông trong cuộc sống.
Nếu ta lao động nhiều thì ta đạt được thành quả nhiều, Nếu ta lao động ít thì ta đạt được thành quả ít.
Nhân: (năng lực lao động ít hoặc nhiều)
Quả: (sản phẩm của lao động tương ứng).
Nếu ta gieo giống là hạt chanh thì được quả chua. Nếu ta gieo giống là hạt mít thì được quả ngọt. Nhân nào quả nấy âu cũng là một lẽ tự nhiên cuả tạo hóa vậy. Sự lao động chân tay hay lao động trí óc cũng cho kết quả tương tự như thế.
Mặt khác, bên cạnh từ Nhân gieo để hỗ trợ thành quả mong muốn, Duyên (hay điều kiện): đất, nước, phân, các kỹ thuật khoa học chăm sóc... cũng thật cần thiết và quan trọng. Như vậy thành quả đạt được là do sự đầu tư từ:
Hạt giống
+
Điều kiện
(nước, phân, kỹ thuật...)
→
Thành phẩm
(Nhân)
+
(Duyên)
→
(Quả)
Do nhân là sự tương tác giữa chất này và chất khác trong những điều kiện khác nhau, mà sự tạo thành một chất mới là quả:
Trong các nguyên lý tạo nên nhiệt năng, cơ năng, động năng ... đều mặc nhiên vận hành theo nguyên lý Nhân-Duyên-Quả nầy. Bởi cái này có thì cái kia có.
... (Nhân) + (Duyên) → (Quả 1) + (Duyên) → (Quả 2) + (Duyên) → (Quả 3) + (Duyên) → (Quả 4) ...
... và cứ tiếp tục một chuỗi Nhân-Duyên-Quả vô cùng vô tận như vậy. Xét về yếu tố thời gian thì cái trước là nhân, sinh ra cái sau là quả.
Nếu chúng ta có tâm tốt, lời nói tốt và hành động đối đãi tốt với người hoặc chúng sanh khác thì được người hoặc chúng sanh khác thương yêu quý mến lại. Đó cũng là lẽ thường trong cuộc sống.
Bên cạnh những sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh chúng ta, xuất phát từ những nguyên nhân gần (trực tiếp) thật là dễ thấy, dễ biết; còn có những điều xảy ra mà chúng ta khó hiểu và khó thấy được nguyên nhân của nó xuất phát từ đâu? Chẳng hạn như, có lẽ trong tất cả chúng ta ai cũng có lần gặp những người lạ chưa từng quen biết. Mới lần đầu gặp nhau đã phát sinh thiện cảm và đem lòng thương yêu quí mến nhau, hoặc sanh tâm không ưa thích, ác cảm với nhau dầu chỉ mới lần đầu gặp nhau! Đây là những việc thật sự lạ lùng mà chúng ta thường không thể hiểu được tại vì sao! Điều này đâu hẳn là giữa chúng ta và những người lạ mới gặp đó chưa từng có nhân duyên với nhau từ trước!?
Nói về lý Nhân-Duyên-Quả có khi cũng thật là đơn giản và có nhiều trường hợp thật là vi tế, thậm thâm vi diệu. Lý ấy với trí tuệ thường nhân chúng ta không thể nào hiểu tới được.
Thật vậy, có lần Ngài Anan (thị giả - bậc Đa văn đệ nhất trong hàng môn đồ - Đại đệ tử của Đức Phật) cho rằng: "Mặc dù lý Nhân-Duyên-Quả có vẻ khó khăn, nhưng thật ra giáo lí nầy rất đơn giản". Thế là Ngài Anan bị Đức Phật quở về nhận xét nầy. Đức Phật khẳng định rằng giáo lí về Nhân-Duyên-Quả rất là thâm sâu. Chỉ có trí tuệ siêu quần của một vị Phật mới thấu được - Ngài đã thấy vô lượng vô biên kiếp quá khứ lẫn tương lai của chúng sanh. Do hạnh nghiệp dị biệt của mỗi chúng sanh đã tạo mà chúng sanh có loài sinh làm loài Trời, có loài sinh làm người hoặc thọ sinh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh .v.v.. Có kẻ cao sang, người hạ liệt, có người trí minh tuệ, người vô trí, kẻ đẹp, người xấu...
Vì thương muôn loài chúng sanh nên Chư Phật ra đời chỉ dạy hai con đường an vui:
- Một là con đường Phúc lạc an vui lâu dài, luân lưu trong hai cõi Trời, Người.
- Hai là con đường Niết Bàn an vui cao thượng trường cửu, giải thoát vĩnh viễn cảnh khỗ sanh tử luân hồi trong 3 giới 4 loài.
Tập sách nhỏ nầy, bần đạo đã phiên dịch, soạn thảo từ kinh sách chánh truyền của quốc giáo Phật Giáo Nam truyền Myanmar. Nội dung chủ yếu giới thiệu tóm tắt sơ lược một số vấn đề cơ bản. Đây là những vấn đề cần thiết dành cho những người sơ cơ mới bắt đầu tìm hiểu đến lời dạy Đấng Cha Lành. Về những điều hay lẽ phải, sự thật chân lí vốn hằng hiện hữu vận hành mọi nơi mọi lúc trong cuộc sống của chúng ta. Đồng thời cũng dành cho hàng nam nữ cư sĩ tại gia những điều quan trọng cốt lõi, để áp dụng trong cuộc sống giữa các mối quan hệ từ gia đình đến xã hội. Đặng cho được nhiều sự lợi ích và an vui lâu dài.
Nhờ sự đóng góp kỷ thuật bìa, đánh bản thảo của tỳ kheo Tuệ Lực, tỳ kheo U Kovida (Myanmar), đạo hữu Ngô Thành Nghĩa, Đặng Thị Bích Hà, Nguyễn Sam, Ngô Thành Thịnh, Nguyễn Thị Thiên Kim cùng chư Thiện tín đóng góp phần công đức.
Nguyện cầu Hồng Ân Tam Bảo và Phước Báu phát sinh do Pháp thí thanh cao này hộ trì đến quý vị cùng bửu quyến sức khỏe, thịnh vượng, phú quý, thân tâm thường an lạc, hằng tấn hóa trong mọi phước thiện và nhất là sớm hội đủ duyên lành, đắc quả Niết Bàn an vui bất diệt, giải thoát sự buộc ràng sanh tử trong ngày vị lai.
Đồng thời xin hồi hướng Pháp thí này đến tất cả chúng sanh, mong cho tất cả chúng sanh hoan hỷ với phần phước thiện thanh cao này được an vui lâu dài.
Với sự cố gằng hết mình, hiềm vì khả năng có hạn nên khó tránh khỏi sơ sót. Kính mong chư tôn hiền đức, các Bậc Thức giả cao minh, các bậc thiện trí thức hoan hỷ bổ chính, từ bi chỉ giáo. Bần đạo kính cẩn nghiêng mình, thọ nhận lời phê bình cũng như những cao kiến đóng góp xây dựng để những lần tái bản được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành tri ân đến quý vị.
CTT - Phật lịch 2547/2003
Tỳ Kheo Thiện Minh
TranNhatThanh
18-08-2008, 02:38 PM
1. Chuyện đại tướng Siha
(Kinh Sihasenapatisutta)
Cách đây hơn 2500 năm về trước, tại nước Ấn Độ, vào thuở nọ Đức Phật ngự trong khu rừng gần thành Vesali, có vị đại tướng tên là Siha đến cung kính đảnh lễ Đức Phật và thưa rằng:
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Ngài có thể giảng giải cho con biết sự bố thí đến người khác sẽ có được lợi ích gì, nhất là ngay trong kiếp hiện tại này không?
Đức Phật từ bi trả lời: - Có thể được.
- Này Đại tướng Siha! Điều lợi ích thứ nhất là người bố thí sẽ đuợc phần đông quần chúng thương yêu mến mộ.
- Này Đại tướng Siha! Điều thứ hai là người bố thí sẽ được phần đông Hiền Nhân, Thiện Trí ưa mến, thích thân cận và gần gũi.
- Này Đại tướng Siha! Điều thứ ba là danh thơm, tiếng tốt từ tấm lòng vị tha rộng mở của người bố thí sẽ nhanh chóng lan tõa khắp nhiều nơi.
- Này Đại tướng Siha! Điều lợi ích lớn lao thứ tư: Do quả lành của sự bố thí mà người bố thí có tâm dũng mãnh tự nhiên không hề rụt rè sợ sệt, hằng với khuôn mặt vui tươi rạng ngời khi đi vào giữa 4 hội đoàn:
* Hội đoàn của vua quan;
* Hội đoàn của giai cấp bá hộ giàu sang;
* Hội đoàn của giai cấp bà la môn;
* Hội đoàn của sa môn (những bậc xuất gia tu hành).
- Này Đại tướng Siha! Điều lợi ích quý báu thứ năm là người bố thí sau khi thân hoại mạng chung, được sanh về cõi trời hưởng được mọi sự an lạc do phước lành đã tạo.
Đại tướng Siha sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp xong thì vô cùng cảm động và hoan hỷ cung kính thưa rằng: "Kính bạch Đức Thế Tôn! Bốn quả lành đầu của sự bố thí mà Ngài đã dạy, không phải con nghe và tin nơi Ngài, mà các điều đó chính riêng bản thân con đã và đang kinh nghiệm trải qua. Con được phần đông quần chúng thương yêu mến mộ, các bậc Thiện Trí, Hiền Nhân thường đến thăm viếng con và tiếng đồn về con rằng: "Đại tướng Siha là người rộng lượng, thường bố thí và cúng dường đến sa môn...", con thường có tâm dũng mãnh không hề sợ sệt hay rụt rè khi đi vào giữa các hội đoàn đông đúc (vua chúa, sa môn, bà la môn, hội đoàn của những người giàu sang phú quí ...)
Còn quả lành thứ năm Ngài đã dạy: "Do Phước lành của sự bố thí mà sau khi thân hoại mạng chung sẽ được thọ sanh vào các cõi an vui, cõi trời." Điều này thực sự con chưa biết, chưa có kinh nghiệm tự thân, nhưng con có đức tin nơi lời dạy của Đức Thế Tôn."
Một lần nữa Đấng Thiên Nhơn Sư từ bi nhắc lại rằng: "Những quả lành của sự bố thí thật đúng như vậy. Sự thật là như vậy - Này đại tướng Siha! Thí chủ bố thí sau khi chết sẽ được sanh vào nhàn cảnh, cõi trời, thọ hưởng mọi sự an lạc."
2. Chuyện hai nhà sư bạn
Vào thời Đức Phật Kassapa có hai nhà Sư là bạn thân với nhau. Một ngừơi hằng có tâm bố thí cúng dường, người còn lại thì không có tâm làm phước bố thí.
Người hằng có tâm làm phước bố thí thường động viên nhắc nhở vị Sư bạn mình rằng:
- Này bạn, hãy phát tâm bố thí, vì trong vòng luân hồi sanh tử này, nhờ phước lành của bố thí bảo trợ mà chúng ta sẽ không bị thiệt thòi và nếu có nhiều ước nguyện sẽ dễ dàng thành tựu. Vì vậy chúng ta hãy nên tranh thủ khẩn trương bố thí.
Mặc dù thường xuyên được sự động viên ân cần nhắc nhở, nhưng vị Sư bạn vẫn không rộng lòng thực hiện hạnh bố thí.
Vào cuối kiếp đó, cả hai vị hết tuổi thọ được sanh luân lưu trong hai cõi trời người nhiều kiếp. Đến thời Phật Tổ Thích Ca Gotama, vị Sư có tâm rộng lòng bố thí thọ sanh vào làm con trai vua Kosala. Là vị hoàng tử được sống trong sự vinh quang của cung vàng điện ngọc, trong nhung lụa giàu sang phú quý.
Còn vị Sư không rộng lòng bố thí lại thọ sanh vào làm con trai người nữ nô tì nghèo nàn phục dịch trong cung điện.
Vào một ngày nọ, thái tử con vua Kosala nằm trên long sàn, do phước đặc biệt đã tạo từ quá khứ, mà Thái tử nhớ biết được quá khứ, và có sự hiểu biết được rõ ràng do nguyên nhân nào từ quá khứ mà mình được thọ hưởng cảnh giàu sang cung vàng điện ngọc này. Trong khi suy tư về quá khứ, thái tử nhi bỗng nhớ đến một vị sư bạn thân từ thời đức Phật Kassapa: "Vào thời ấy ta thường động viên thúc đẩy vị Sư bạn của ta hãy khẩn trương rộng lòng bố thí, nhưng người ấy vẫn không chịu nghe theo. Không biết bây giờ bạn ta đã thọ sanh về đâu?" Nghĩ đến đó Thái tử thấy ở dưới cung điện, vị Sư bạn mình đã hạ sanh làm con trai của nữ nô tì nghèo nàn phục dịch trong cung điện.
Gặp lại người bạn xưa trong cung điện, Thái tử nhi cất giọng hỏi với xuống dưới rằng:
- Này bạn! Vào kiếp xưa ta thường động viên thúc đẩy bạn bố thí nhưng bạn không chịu nghe theo, do nhân đó mà nay bạn phải chịu thọ sanh vào gia đình người hầu hạ.
- Này bạn hãy nhìn kỹ vào ta! Bây giờ ta đang nằm trên giường vàng ghế ngọc, chung quanh gấm vóc lụa là... ấy là bởi nhân của sự rộng lòng bố thí của ta từ trước vậy.
Con trai người nữ nô tỳ bấy giờ đáp trả lại rằng:
- Này Thái tử! Bạn bây giờ dù có cung vàng điện ngọc, gấm vóc lụa là, nhưng suy cho cùng tất cả cũng chỉ là tứ đại: đất, nước, gió, lửa đó mà thôi.Tất cả rồi sẽ bị tiêu hoại cũng như ta bây giờ: giường rách áo tơi dưới gầm cung điện nhưng tất cả cũng chỉ là do Tứ Đại hợp thành mà thôi chẳng khác gì bạn đâu!.
Ngay vào lúc đó nàng công chúa Sumana - con của đức vua - là người chị của Thái tử khi nghe cuộc nói chuyện giữa hai trẻ này, nàng giật mình kinh ngạc thầm nghĩ rằng: "Hai trẻ này vào độ tuổi chưa biết nói mà lại nói chuyện được. Đặc biệt hơn nữa chúng lại có sự hiểu biết sâu sắc về bản chất cấu tạo của mọi sự vật, như tất cả chỉ là Đất, Nước, Gió, Lửa. Điều hy hữu này khó ai mà hiểu rõ nguyên nhân, chỉ có Đức Phật mới có thể hiểu được. Ta nên đến hỏi Ngài mới được.
Sau đó nàng công chúa Sumana cùng với 500 cô hầu nữ thắng 500 cổ xe đi thẳng đến Kỳ Viên Tịnh Xá tại kinh đô thành Xá Vệ, nơi đức Phật Gotama đương ngự. Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn, nàng ngồi một nơi hợp lẽ rồi cung kính thưa rằng:
- Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu trong tăng đoàn Đệ tử Ngài, có hai người đều ngang nhau về Giới (Đức Hạnh), đều ngang nhau về đức tin, và ngang nhau về trí tuệ. Trong hai người đó, một người có sự bố thí cúng dường, còn người còn lại không có sự bố thí cúng dường. Nếu sau khi thân hoại mạng chung, đồng được sanh về cõi trời thì giữa hai người đó có gì đặc biệt không? Có gì khác nhau không?.
Đức Phật khẳng định:
- Có sự đặc biệt khác nhau, này Sumana!
- Tuổi thọ tại cõi trời; sắc đẹp tại cõi trời; giàu sang tại cõi trời; tuỳ tùng đông hầu hạ tại cõi trời; oai lực danh xưng tại cõi trời. Nầy Sumana! Người lúc trước có sự bố thí hơn hẳn người không có bố thí về năm phước báu này.
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Sau khi hết tuổi thọ tại cõi trời, nếu đầu thai xuống trần gian làm loài người thì giữa hai người đó có gì đặc biệt không? Có gì khác nhau không?
- Tuổi thọ dài tại cõi người, giàu sang tại cõi ngưòi; sắc đẹp tại cõi người; tuỳ tùng đông tại cõi người và có oai lực danh xưng tại cõi người. Nầy Sumana! Người lúc trước có sự bố thí sẽ hơn hẳn người không có sự bố thí về 5 phước báu này trong thế giới loài người.
- Kính bạch Đức Thế Tôn. Nếu cả hai người ấy cùng rời khỏi gia đình để trở thành bậc xuất gia tu hành thì có gì đặc biệt khác nhau giữa hai người?
- Này Sumana! Mặc dầu tuy bề ngoài giống nhau về hình thức là bậc xuất gia, nhưng có sự đặc biệt khác nhau giữa hai vị tỳ kheo ấy. Vị tỳ kheo có nhân bố thí từ trước hơn hẳn vị tỳ kheo không có nhân bố thí từ trước bởi các pháp sau:
* Nếu có nhu cầu xin thọ nhận sự cúng dường về vải vóc y áo, thì sẽ được nhiều y áo. Nếu không có nhu cầu xin thọ nhận sự cúng dường thì cũng được ít y áo.
* Nếu có nhu cầu xin thọ nhận về cơm, vật thực, thì sẽ được nhiều cơm và vật thực, nếu không có nhu cầu thọ nhận về cơm và vật thực thì cũng nhận được ít.
* Nếu có nhu cầu xin thọ nhận sự cúng dường về thuốc men crửa bệnh thì sẽ được thọ nhận nhiều thuốc men chửa bệnh. Nếu không có nhu cầu về thọ nhận thuốc men để chửa bệnh thì cũng nhận được ít.
* Nếu có nhu cầu xin thọ nhận sự cúng dường về chỗ ở, thì sẽ được chỗ ở tốt lành. Nếu không có nhu cầu xin thọ nhận chỗ ở, thì cũng được chỗ ở.
* Là người thoả thích trong nhiều cử chỉ hành động, tư cách tác phong lịch sự, rất ít thể hiện những tư cách tác phong không đẹp mà mình không vừa lòng.
* Là người thoả thích nhiều đối với những lời nói có tư cách, có lợi ích, và rất ít thể hiện về những lời nói không đẹp không có lợi ích.
* Nếu Tâm thoả thích nhiều về sự cung kính cúng dường của người khác thì sẽ được thọ nhận sự cung kính cúng dường của người khác.
* Ngược lại nếu không thoả thích sự cung kính cúng dường (về một phương diện nào đó) thì sẽ thọ nhân được ít sự cung kính cúng dường ấy.
- Này Sumana! Vị Tỳ kheo có sự bố thí từ trước hơn hẳn vị không có sự bố thí từ trước bởi 5 phước báu trên trong đời sống xuất gia tu hành...
- Kính bạch Đức Thế tôn! Nếu cả hai Tỳ kheo cùng tinh tấn hành đạo và cùng chứng đắc đạo quả A la hán thì có sự đặc biệt khác nhau gì giữa hai bậc thánh A la hán này chăng?
- Này Sumana! Như lai không nói rằng là có sự khác nhau giữa hai bậc Thánh nhân đã đắc đạo quả A la hán này.
- Kính bạch Đức Thế Tôn. Vô cùng tuyệt vời thay! Vô cùng vi diệu thay! Kính Bạch Đức Thế Tôn! Điều không thể thành tựu mà luôn luôn thành tựu. Sự bố thí là việc làm hợp lẽ. Các việc phước thiện là việc đáng nên làm.
- Này Sumana! Với các quả lành này sau khi sanh vào cõi trời cũng được hưởng sự an lạc thù thắng. Khi sanh vào cõi người cũng được hưởng thọ các phước lành ấy. Thậm chí các quả lành ấy vẫn bảo trợ đời sống vị Tỳ kheo cho đến thời gian cuối cùng khi nhập vào Niết Bàn vô sanh bất diệt.
- Đó là những sự thật! Đó là điều thực tế!
- Này Sumama! Như mặt trăng giữa bầu trời kia không bợn nhơ, không vẩn đục. Anh sáng của nó lấn át những vì sao đêm như thế nào thì cũng vậy: Trong thế gian này người có đầy đủ giới đức; đầy đủ đức tin; lại thêm rộng lòng bố thí thì sẽ hưởng những quả lành thù thắng hơn hẳn người có giới, có đức tin mà không rộng lòng bố thí dường như thế ấy.
- Quả đúng như vậy, này Sumana! Người bố thí sẽ hơn hẳn người không bố thí bởi 5 pháp.
* Tuổi thọ dài
* Dung sắc xinh đẹp
* Tuỳ tùng đông, nhiều oai lực
* Giàu sang phú quý
* Khi chết sinh về cõi trời và thọ hưởng được nhiều an lạc.
3. Nhân nào quả nấy - Chuyện Hoàng Hậu Mallikā
(Kinh Aṅguttaranikāya - bài kinh Mallikāsutta)
Cách đây hơn 2500 năm về trước, tại nước Ấn Độ trong thành Savathi. Vào một thuở nọ Đức Phật ngự tại Jetavana (Kỳ Viên Tịnh Xá) - của ông trưởng giả Cấp Cô Độc. Khi ấy có hoàng hậu Mallik ā đến hầu đảnh lễ Đức Phật và thưa rằng:
1- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên nào mà trong thế gian này có một số phụ nữ không những không có hình dáng xinh đẹp, da dẻ khô cằn, ngũ quan không cân đối, không đáng cho phần đông chiêm ngưỡng mà lại còn là người nghèo nàn, không có oai lực danh tiếng, địa vị trong xã hội?
2- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên nào có số phụ nữ hình dáng không xinh đẹp, ngũ quan không cân đối xấu xí, không đáng cho phần đông chiêm ngưỡng, tuy thế lại là người giàu sang, tài sản, thọ dụng được nhiều thứ của cải và có oai lực danh tiếng, địa vị trong xã hội?
3- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên nào có số phụ nữ dung nhan vô cùng xinh đẹp, hài hòa cân đối và duyên dáng, đáng chiêm ngưỡng thõa thích cho phần đông, tuy nhiên lại là người nghèo khó, không có tài sản, không thọ dụng được của cải, cũng như không có địa vị, danh tiếng trong xã hội?
4- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên nào có số phụ nữ hầu như được toàn diện về nhiều mặt, là người có dung nhan vô cùng xinh đẹp, duyên dáng, là nơi thoả thích chiêm ngưỡng cho phần đông, không những vậy mà còn là người giàu sang phú quí, có nhiều tài sản, thọ hưởng được nhiều của cải , có danh tiếng và địa vị cao quý trong xã hội?
Sau khi nghe xong, Đấng Thiên Nhân Sư thuyết giảng rằng:
1a - Này Mallikā! Trong thế gian này có số phụ nữ tính tình nóng nảy, tính khí bất thường, dễ dàng nỗi cơn thịnh nộ khi có ai xâm phạm đến, dù là việc nhỏ vụn, biểu hiện sự không hài lòng, nóng giận, dữ dằn, gây thù chuốc oán với người khác. Không những thế lại còn không có đức tin vào thiện pháp, không hoan hỷ tạo phước điền, bố thí cơm, nước, hoa qủa, thuốc men, vật thơm, dầu thoa, các phương tiện, vãi vóc, y phục, đèn dầu, chỗ ở, chỗ nằm ngồi... đến chư Sa môn, Bà la môn... Tính tình họ đố kỵ, ganh tỵ đối với những người có của cải tài sản. Đem tâm tỵ hiềm với sự làm phước của người khác. Ganh tỵ với những người được lợi lộc; được quần chúng cung kính; mến mộ ... và họ còn làm nhiều việc sái quấy khác.v.v..
Số phụ nữ nầy sau khi chết, nếu do ảnh hưởng một phước lành nào đó trong quá khứ, được tái sanh trở lại làm người thì sẽ là người có hình dáng không xinh đẹp, da dẻ sần sùi, đường nét dung nhan xấu xí, tứ chi, ngũ quan tai mắt không đẹp, không trong sáng, là người không có sự hấp dẫn cho thị hiếu chiêm ngưỡng của phần đông. Không những thế còn là người nghèo khó, khỗ cực, không có tài sản, không thọ hưởng được của cải, và có địa vị danh tiếng thấp kém trong xã hội.
2a - Này Mallikā! Trong thế gian này, có số phụ nữ tính tình hung hãn, dữ dằn, dễ dàng nỗ i cơn thịnh nộ, tuy vậy nhưng lại có đức tin, có tâm tạo phước điền bố thí hoa quả, cơm nước,... đến các Sa môn, Bà la môn. Số phụ nữ ấy không có tâm đố kỵ với những lợi lộc; không ganh tỵ với những người được tán dương khen ngợi, được sự cung kính cúng dường, thương yêu kính mến của những người khác.
Những người phụ nữ này, nếu được tái sanh trở lại làm người, thì thân sắc không xinh đẹp, da dẻ khô cằn, dung mạo xấu xí, không là nơi đáng chiêm ngưỡng thõa thích của phần đông. Tuy nhiên lại là người giàu sang phú quý có nhiều tài sản và thọ hưởng được của cải, có oai lực, danh tiếng, địa vị cao quý trong xã hội.
3a - Này Mallikā! Trong thế gian này có số phụ nữ không có nhiều tính sân hận; tâm không có nhiều mệt mỏi; nếu bị người ta có nhiều lời xúc phạm đến cũng không bất bình, không nỗ i cơn thịnh nộ dữ dằn; không có tính khí bất thường hay gây hiềm hận với người khác; không có hành động biểu hiện rõ sự bất bình, nóng giận, sự không ưa thích đến người khác. Tuy nhiên người này không có tâm tạo phước điền, hoan hỷ bố thí hoa quả, cơm nước, vật thơm, vật thoa,... đến các hàng Sa môn, Bà la môn... lại có tâm đố kỵ với người nhiều lợi lộc; ganh tỵ với những người được sự tán dương khen ngợi, được sự thương yêu, quý mến, cung kính cúng dường của người khác; đồng thời thể hiện những hành động sai lầm về sự đố kỵ, ganh tỵ ấy.
Số phụ nữ này sau khi chết, nếu như được tái sanh trở lại làm kiếp người thì có dung nhan vô cùng xinh đẹp, hài hòa, cân đối, duyên dáng; là nơi xứng đáng cho thị hiếu chiêm ngưỡng của phần đông. Tuy nhiên lại là người nghèo khó, khỗ cực, không có tài sản, không thọ hưởng được của cải cũng như không có oai lực, địa vị cao quý trong xã hội.
4a - Này Mallikā! Trong thế gian này có số phụ nữ không có nhiều tính sân hận, không có nhiều bực dọc, mệt mỏi; nếu bị người ta có nhiều lời xúc phạm, cũng không nỗ i cơn thịnh nộ dữ dằn; không có tính bất thường hay hiềm hận với người khác; không có hành động cư xử thể hiện rõ sự nóng giận, sự bất bình hay sự không vui thích đến người khác. Không những thế mà còn có tâm hoan hỷ làm phước bố thí hoa quả, cơm nước, vật thơm, vật thoa, thuốc men,...đến các hàng Sa môn, Bà la môn... Là người không có tâm đố kỵ với những lợi lộc; không ganh tỵ với những người được sự tán dương, khen ngợi, được sự thương yêu qúy mến, cung kính, cúng dường của người khác.
Những phụ nữ này sau khi chết nếu được tái sanh trở lại loài người thì là người có dung nhan tuyệt sắc, làn da mịn màng tươi mát, đáng là nơi thõa thích chiêm ngưỡng cho phần đông, còn là người giàu sang nhiều tài sản, thọ hưởng được của cải, có oai lực, danh tiếng và địa vị cao quý trong xã hội.
* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp của số phụ nữ có tính tình nóng nảy, tính khí bất thường, dễ dàng nỗ i cơn thịnh nộ khi có ai xâm phạm đến, dù là việc nhỏ vụn, biểu hiện sự bất bình, nóng giận, dữ dằn, gây thù chuốc oán với người khác...do đó kiếp hiện tại này cho quả là nhan sắc không xinh đẹp, không đáng cho phần đông thõa thích chiêm ngưỡng.
* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp không từng tạo nhân phước điền, làm phước bố thí cơm nước, hoa quả, thuốc men, vải vóc, y phục, phương tiện chỗ ở... đến Sa môn, Bà la môn từ tiền kiếp mà kiếp hiện tại này cho quả là người nghèo khó, không có tài sản...
* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp không có nhiều tính sân hận; tâm không có nhiều mệt mỏi; nếu bị người ta có nhiều lời xúc phạm đến cũng không bất bình, không nỗ i cơn thịnh nộ dữ dằn; không có tính khí bất thường hay gây hiềm hận với người khác; không có hành động biểu hiện rõ sự bất bình, nóng giận, sự không ưa thích đến người khác ... từ kiếp quá khứ, mà kiếp hiện tại này cho quả là người nữ có dung nhan xinh đẹp diễm kiều, duyên dáng, làn da tươi mát, mịn màng... đáng là nơi thõa thích chiêm ngưỡng của phần đông.
* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp thường làm phước bố thí cơm nước, hoa quả, thuốc men, ... đến các sa môn, bà la môn... từ tiền kiếp mà kiếp này cho quả được giàu sang phú quý, nhiều tài sản, thọ hưởng được nhiều của cải...
* Này Mallikā! Do nguyên nhân và hạnh nghiệp không có lòng đố kỵ; không ganh tỵ đối với những người được nhiều lợi lộc, được sự tán dương, cung kính cúng dường của người khác; cũng như không làm hư hoại lợi lộc, thanh danh của người khác... từ tiền kiếp mà kiếp này cho quả là người có công danh, địa vị cao quý trong xã hội.
Sau khi lắng nghe Đức Phật thuyết giảng xong, bà chánh cung Hoàng Hậu bèn cung kính thưa rằng:
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do kiếp trước của con là người có tâm sân hận, nóng nảy, bực tức, tính khí thất thường, dễ dàng nỗ i cơn thịnh nộ, biểu hiện rõ sự hung hãn dữ dằn, gây hiềm hận với người khác dù chỉ có một vài lời nói xúc phạm đến con. Do vậy mà kiếp này dung nhan con không được xinh đẹp, da dẻ khô cằn không xứng đáng cho sự thõa thích chiêm ngưỡng của phần đông.
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do tiền kiếp con có tâm tạo phước bố thí cơm nước, thuốc men, y phục, vải vóc ... đến Sa môn, bà la môn ... mà kiếp này con là người giàu sang phú quý.
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do tiền kiếp con là người không có tính ganh tỵ và đố kỵ với những người được lợi lộc, được sự trọng vọng cung kính, cũng như không có lòng ganh tỵ với những người được sự thương yêu quý mến của những người khác, do vậy mà hiện tại con là người có địa vị cao quý.
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Trong quốc độ này tất cả những phụ nữ thuộc nhiều dòng tộc khác nhau: Bà la môn, hoàng tộc, công khanh tướng phủ ... Con là người có địa vị cao quý đặc biệt hơn tất cả những người phụ nữ ấy. Những người phụ nữ ấy đều dưới quyền cai quản của con.
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Bắt đầu hôm nay trở về sau, con sẽ cố gắng kiềm chế, không để cho nhiều sân hận, nóng nảy, bực tức phát sinh cho dù người khác có nặng lời xúc phạm đến con chăng nữa...
- Con sẽ phát tâm hoan hỷ làm phước bố thí vật ăn, thức uống, chỗ ở,... đến chư Sa môn, Bà la môn ...
- Con sẽ không có tính ganh tỵ đến sự cúng dường bố thí của người khác; không làm hành động sai trái ảnh hưởng đến lợi ích của người khác bởi do tính ích kỷ, đố kỵ nhỏ nhen của con nữa.
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Con vô cùng hoan hỷ bởi lời dạy cao quý của Ngài quá sức rõ ràng!
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Kính xin Ngài chứng minh cho con là Người cận sự nữ có đức tin trong sạch và xin nương tựa nơi Ân Đức Tam Bảo từ nay đến trọn đời.
4. Chuyện về Đạo sĩ Akitti
Tại kinh đô Bārāṇas (Balanại) do đức vua Yamada cai quản, trong dòng họ Mahasala có một gia đình phú hộ có tiền của lên đến 800 triệu. Họ sinh hạ được một người con trai tên là Akitti.
Khi Akitti đến tuổi biết đi thì ông bà sinh ra được một người con gái nữa tên là Yasavati.
Đến tuổi trưởng thành, Akitti được đến trường đại học. Sau khi học xong thông thạo thập bát ban võ nghệ binh thư yếu lược, chiêm tinh, địa lý,... chàng trở về quê hương thăm cha mẹ. Ông bà nay đã già yếu nên giao phó của cải, tài sản, vàng bạc cho chàng là người con trai có trí tuệ.
Cha mẹ chàng sau khi qua đời thì Akitti Trí Tuệ thọ lãnh gia tài và trở thành phú hộ trẻ.
Chàng Phú hộ trẻ suy nghĩ rằng: Từ thời tổ tiên, ông bà cha mẹ ta đã lần lượt qua đời, nhưng không một ai mang theo được một chút tài sản gì, của cải lần lượt đã bỏ ông bà cùng cha mẹ ta! Bây giờ đến phiên ta, sau khi ta qua đời, tất cả của cải nầy sẽ phải theo ta. Nghĩ vậy mà chàng phú hộ trẻ bàn bạc với người em gái.
- Này em gái! Ông Bà, Cha mẹ của chúng ta mất đi song chẳng mang theo được chút của cải gì. Chúng ta sẽ mang theo của cải nầy sau khi chết bằng cách bố thí tất cả để tạo Phước lành, rồi sống cuộc đời đạo sĩ, em có bằng lòng không?
- Này anh! Chỗ tài sản này anh đã từ bỏ nó, như nhỗ đi một bãi nước bọt thì em đây lẽ nào nhận nó được sao?
Sau khi bàn bạc xong, hai anh em dựng đàn trại trước nhà để bố thí suốt 7 ngày, 7 đêm. Song với 800 triệu của cải, hai anh em bố thí không thể nào hết được, bèn viết bảng dán lên cửa rằng: "Những ai cần vật gì trong nhà này thì hãy đến mà chọn lấy." Rồi họ ra đi.
Họ đi vào rừng cách xa thành Balanại khoảng 2-3 dặm. Hai anh em bắt đầu đời sống đạo sĩ tu hành tại đó.
Theo gương của chàng trai Akitta giờ đã trở thành đạo sĩ, dân trong kinh thành lần lượt cũng kéo vào rừng. Rồi họ cũng được đạo sĩ Akitta hiền từ dạy dỗ, hướng dẫn tu hành. Dần dần, số lượng người đi theo đạo sĩ Akitta ngày một đông thêm và như thế khu rừng trở nên không còn yên tịnh nữa.
Một đêm nọ đạo sĩ Akitta đã lặng lẽ rời khỏi khu rừng đi đến một khu vườn gần gần quốc độ Damila để độc cư hành đạo tại đó. Sau một thời gian đêm ngày nỗ lực cần mẫn, đạo sĩ Akitta đã đắc được các Pháp thần thông.
Ít lâu sau, người em gái Đạo sĩ Akitta cũng tìm đến gặp được Ngài, rồi lần này mọi người lại kéo đến thật đông hơn lần trước.
Lần thứ ba vận thần thông đã chứng đắc, Ngài bay đến đảo Rắn, gần đảo của Loài rồng. Dưới một cội cây to trên đảo ấy, Ngài cất một cốc lá nhỏ để ở. Mùa mưa, rồi mùa nắng cũng như mùa lạnh trôi qua, Ngài cũng chỉ ở một chỗ sống cuộc đời tri túc chỉ với lá cây, trái cây hay vỏ cây luộc để duy trì thọ mạng hành đạo trong suốt 12 năm ròng.
Thời gian ấy, ngai vàng của vua trời Đế Thích bỗng trở nên căng cứng lại mà không còn mềm mại như trước. Thấy sự lạ Đức Đế Thích giật mình: -Thế gian có chuyện gì lạ lùng xảy ra đây? Ngài dùng thiên nhãn nhìn xuống trần gian quan sát thấy Đạo sĩ Akitta đang nỗ lực hành đạo. Vua trời Đế Thích suy nghĩ rằng: - Không rõ vì cớ gì mà vị đạo sĩ này lại nỗ lực tinh cần thế kia! Tính chuyện tranh giành Ngôi báu của ta chăng? Nghĩ đến đấy, Đức Đế Thích thấy lòng mình bồn chồn lo âu, đứng ngồi không yên. "Để rõ sự thể ta phải đi hỏi đạo sĩ này mới được".
Ta với hình tướng như thế này thì không thể nào hỏi được." Rồi vua trời Đế thích hoá hiện thành một vị Bà la môn đi khất thực.
Buổi sáng đợi đến lúc lá cây đã luôc xong và đạo sĩ Akitta chuẩn bị dùng, vị Bà la môn với túi vải và bát nhỏ tiến đến trước cốc lá. Thấy người Bà la môn đến xin vật thực, đạo sĩ Akitta trong lòng hoan hỷ vì tự thấy mình thật là may mắn:
"- Ta đã bị gián đoạn sự bố thí cúng dường suốt 12 năm nay rồi, hôm nay cơ hội bố thí đã đến, ta sẽ bố thí!"
Nghĩ vậy Ngài gọi người Bà la môn đến và đổ tất cả phần lá luộc có được vào bát ông ta. Với ý nghĩ: "Ta sẽ nhịn ngày hôm nay." Với sự bố thí vừa mới làm, hoan hỷ trong lòng phát sinh làm Ngài no vui trọn ngày hôm ấy.
Ngày hôm sau, vua trời Đế thích trong hình dáng của người Bà la môn cũng lại đến. Rồi lại ngày hôm sau nữa, cứ như vậy sự việc lại tiếp tục diễn ra giống như ngày đầu.
Vua trời Đế Thích nghĩ ngợi: "Đã ba ngày rồi nhịn đói để bố thí cho ta, sức lực của đạo sĩ ắt có phần mỏi mệt. Nhưng sao khuôn mặt đạo sĩ vẫn hằng rạng ngời một vẽ an nhiên tự tại thế kia! Chắc hẳn đạo sĩ này có một điều gì phi thường đây? Ta phải tỏ tường mới được."
Đức Đế Thích lo âu sợ mất ngôi vương vị mà hỏi: "Này ông đạo sĩ Cao quý! Tại sao ông không sống cùng với thế giới loài người mà lại một mình trên đảo hoang vắng này? Tại sao ông xa lìa hạnh phúc của loài người? Ông mong muốn hạnh phúc gì cao thượng hơn chăng...? Ông mong cầu mình sẽ đạt được điều gì lớn lao hơn hạnh phúc loài người chăng? "
Bởi đã chứng đắc được các Pháp thần thông linh diệu hiểu biết được nội tâm của người khác mà Đạo sĩ Akitta đọc được sự lo âu của Vua trời Đế Thích: "Ta sẽ nhân cơ hội mà dạy dỗ Vua trời này mới được."
Ngài bèn nói:
- Này Thiên Vương!
"Tất cả những sự sinh thành trên đời này là khỗ .
Tất cả sự sinh thành rồi đều bị hoại diệt, sự diệt là khỗ
Vô minh không biết đến sự sinh thành, sự hoại diệt ấy rồi chết đi là khỗ . Của cải tài sản rồi cũng sẽ hoại diệt."
- Này Thiên Vương!
Ngay cả ngai vàng, ngôi vị Thiên chủ của Ngài, tại cung trời Đao lợi, cho dù tuổi thọ có dài so với thời gian của loài người 36 triệu 500 ngàn năm chăng nữa, nhưng rồi cũng sẽ đến hồi hoại diệt mà thôi!.
- Để thoát khỏi 3 sự thống khỗ đó và chứng đạt Niết Bàn cao thượng là mục đích hành đạo của ta vậy.
5. Đức Chuyển Luân Vương
Đức Chuyển Luân Vương là vị vua cai quản cả 4 châu Thiên ha Gọi là Đức Chuyển Luân Vương, khi mà Ngài ở đâu thì xe báu của Ngài liền đến bên cạnh để chờ lệnh Ngài.
Bất kể nơi đâu, khi mà xe báu đến, thì các Quốc vương tại các Quốc Độ ấy tự đến quỳ mọp cung kính đảnh lễ và thưa rằng:
- Kính bạch Ngài! Xin Ngài nhận chúng tôi cùng với toàn dân trong quốc độ này là thuộc về Ngài. Chúng tôi xin làm những người hầu hạ trung thành nhất của Ngài. Kính xin Ngài dạy bảo chúng tôi, chúng tôi xin dâng toàn Quốc Độ này đến Ngài".
Như vậy Đức Chuyển Luân Vương là người mà được các Đức Vua tôn trọng kính nể và gởi gắm, dâng quốc độ của mình. Bất kể Quốc độ nào, Ngài không cần dùng binh khí hay đao trượng để chinh phục. Chỉ cần Ngài có sự mong muốn thì tất cả đến trước Ngài quỳ mọp mà xin làm tôi tớ và gởi gắm quốc độ đang trị vì cho Ngài.
Đức vua Chuyển Luân Vương là người mà được tất cả kính nể bởi uy lực đại phước báu của Ngài.
Đức Vua Chuyển Luân Vương không cần thiết phải đặt ra nhiều luật pháp để trị vì thiên hạ, toàn bộ các cõi để có sự thanh bình, êm ấm đi đến đâu Ngài cũng giảng năm pháp để cai trị thần dân trong thiên hạ.
Năm pháp mà Đức Chuyển Luân Vương cai trị là:
1. Hãy tránh xa sự sát sanh.
2. Hãy tránh xa sự trộm cắp.
3. Hãy tránh xa sự tà dâm.
4. Hãy tránh xa sự nói dối.
5. Hãy tránh xa sự dễ duôi uống rượu và các chất say.
Với lời dạy năm điều này mà đức vua Chuyển Luân Vương thống trị cả mặt đất, cả thế giới đươc an vui, hoà bình. Như vậy thật sự là một Đức Chuyển Luân Vương có đại uy lực về thần thông, đại uy lực về phước báu bất khả tư nghì.
Khi mà Đức Chuyển Luân Vương hết tuổi thọ, thì ngôi Chuyển Luân Vương chỉ được truyền lại cho người con trai lớn, chứ không một ai khác.
Con trai của Đức Chuyển Luân Vương, không ai có thể thay thế được! Tại vì sao? Bởi vì Hoàng hậu của Đức Chuyển Luân Vương cũng có nhiều uy lực và nhiều khả năng để bảo hộ cho con trai của bà được đầy đủ sung mãn mọi mặt.
Đức Chuyển Luân Vương có đầy đủ bảy loại báu trong thế gian:...
* Xe báu (có thể chở một số lượng lớn người đi trên hư không .. ..)
* Châu ngọc báu (ngọc mani; ngọc như ý ...)
* Hoàng hậu báu (có nhan sắc xinh đẹp, da mát vào mùa hè và ấm vào mùa đông ...)
* Phú hộ báu (những người giàu sang làm chủ các kho tàng trên thế gian, khi cần Đức Chuyển Luân Thánh Vương mời gọi các phú hộ báu đến để hỗ trợ cho Ngài...)
* Voi báu (có thể đưa Ngài bay quanh bốn biển và quay trở về kịp thời bữa ăn sáng).
* Ngựa báu (có thể đưa Ngài bay quanh bốn biển và quay trở về kịp thời bữa ăn sáng).
* Con trai báu (người xứng đáng kế thừa ngai vàng khi đức Chuyển Luân qua đời).
Hằng tháng tới ngày bát quan trai giới, Đức Chuyển Luân Vương tắm gội sạch sẽ, và nguyện thọ trì bát quan trai giới trong sạch...
6. Tích chuyện bố thí cơm
Tính ngược thời gian cách đây chín mươi tư quả đất về trước, có một đức Phật ra đời hiệu Sidatta.
Vào một thuở nọ Đức Phật Sidatta trên đường trì bình khất thực. Nhìn thấy sắc tướng phát ra ánh sáng, dung mạo trang nghiêm từ Ngài, một chàng trai phát sinh sự tôn kính, cung thỉnh Ngài về nhà, cúng dường cơm đến Ngài.
Do nhân lành đó, bắt đầu kể từ kiếp ấy, sau khi chết chàng trai thường tái sanh vào các cõi Trời; cõi Người, hưởng được nhiều sự giàu sang, an lạc và không có một lần nào tái sanh vào một trong bốn đường ác đạo. Kiếp cuối cùng của chàng trai ấy được sanh vào thời Đức Phật Thích Ca ra đời, là một người đại phú, xin xuất gia trở thành tỳ kheo hành đạo và chứng đắc đạo quả A la hán an vui giải thoát vĩnh viễn.
7. Tích chuyện bố thí nước
Vào thời quá khứ có một đức Phật hiệu là Padumuttara sau khi Ngài nhập Niết Bàn, trong Giáo Pháp của Ngài, các bậc thiện nam, tín nữ đến tưới nước vào cây Bồ Đề để tưởng nhớ ân đức Từ Bi của Ngài.
Vào lúc bấy giờ có một chàng trai trẻ tay bưng một lọ nước đẹp, trong lọ chứa đựng nước hoa thơm, đến tưới vào gốc cây Bồ Đề.Bắt đầu từ kiếp đó, chàng trai ấy thọ sinh vào cõi trời Đao Lợi và thường tái sinh làm vua loài trời, vua loài người trong nhiều kiếp, hưởng thụ được nhiều sự an lạc.
Kiếp cuối cùng của chàng trai ấy được sanh vào thời Đức Phật Thích Ca, xin xuất gia trở thành tỳ khưu hành đạo và chứng đắc đạo quả A la hán.
8. Tích chuyện về bố thí hoa
Vào một ngày nọ, Đại đức Mục Kiền Liên, dùng thần thông đi du hóa tại cõi trời ngoạn cảnh. Thấy trên một hồ nước nhiều loài hoa sen đua nở trông thật đẹp mắt. Giữa hồ nước ấy Ngài phát hiện ra một toà lâu đài vô cùng nguy nga tráng lệ, thấy một nữ Thiên chủ giữa đám Thiên nữ đang hầu hạ.
Ngài bèn đến hỏi:
- Nầy nữ thiên chủ! Do nhân lành nào mà nàng có được sự huy hoàng này?
Nữ thiên chủ cung kính thưa rằng:
- Kính bạch Đại đức! Kiếp trước đây, con là một cô gái tên là Petavati ở tại phía Đông làng Nala thuộc kinh đô Yajagyo. Vào một ngày nọ, nhìn thấy Ngài A la hán Sariputta (Xá Lợi Phất) tâm con vô cùng hoan hỷ, con đã dâng thật nhiều hoa đến cúng dường Ngài, do nhân lành ấy mà con được toà Thiên Cung huy hoàng nầy và sự an lạc ngày hôm nay, thưa Đại Đức!
9. Tích chuyện bố thí đèn
Vào thời Đức Phật Padumuttara còn tại thế, có một chàng trai dùng năm ngọn đèn thắp xung quanh cúng dường cây Bồ Đề.
Do phước lành cúng dường đèn đến cây Bồ Đề, bắt đầu từ kiếp ấy chàng trai liên tục tái sanh luân lưu trong hai cõi Trời - người, đặc biệt là chàng trai có đôi mắt nhìn xa hàng trăm do tuần.
Kiếp cuối cùng của chàng trai ấy được sanh vào thời Đức Phật Thích Ca, xin xuất gia trở thành Tỳ Kheo có tên là Pinsadipaka hành đạo và chứng đắc đạo quả A la hán.
Đức Phật Sumingala, trong thời kỳ còn hành Bồ Tát Đạo để bổ túc Ba la mật, do phước bố thí đèn từ quá khứ mà về sau từ kim thân Ngài, hào quang thường xuyên toả chiếu suốt ngày lẫn đêm, lấn át ánh sáng của mặt trăng, mặt trời và cả các vì tinh tú.
10.Người bố thí thuốc (Đại Đức Bakula)
Vào thời Đức Phật Anomadati, có một vị đạo sĩ hành đạo trong núi Tuyết Sơn. Lúc bấy giờ Đức Phật đang mắc phải bệnh phong, đạo sĩ tìm kiếm trong dãy núi Tuyết sơn những rễ và củ cây làm thuốc cúng dường đến Đức Phật. Sau khi dùng thuốc bệnh phong Đức Phật được dứt khỏi. Từ phước lành này đạo sĩ cầu nguyện xin Đức Phật chứng minh cho rằng: "những kiếp về sau đạo sĩ không hề mắc bất kỳ một bệnh tật gì".
Do nhân lành của sự cúng dường thuốc đến Đức Phật, hàng trăm ngàn kiếp trái đất về sau, đạo sĩ luân lưu tái sanh trong hai cõi Trời - người.
Vào thời Đức Thích Ca ra đời là kiếp cuối cùng đạo sĩ tái sanh làm một chàng trai con nhà phú hộ giàu có tại thủ đô Baranasi (Balanại) có tên là Bakula, thụ hưởng mọi an lạc trong thế gian đến năm 80 tuổi. Sau đó ông đến xin Đức Phật xuất gia trở thành Tỳ Kheo, hành đạo không bao lâu chứng đắc được đạo quả A la hán. Suốt trọn cả kiếp ấy chưa có một lần nào bị bệnh gì cả (trở thành bậc đệ nhất về vô bệnh trong hàng đệ tử Phật), hưởng thọ được 160 tuổi và cuối cùng nhập Niết Bàn giải thoát, chấm dứt vòng sanh tử luân hồi.
CTT
TranNhatThanh
18-08-2008, 02:51 PM
1. Quả lành của sự bố thí cơm
Nếu không ăn cơm thì tuổi thọ không thể dài, thân thể sẽ tiều tụy, héo gầy, da thịt không thể đẹp, thân tâm không thể vui, sức lực cũng không có, và trí tuệ cũng không thể minh mẫn được.
Do vậy mà sự bố thí cơm sẽ được năm quả lành tương tự như trên: sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh và trí tuệ.
2. Quả lành của sự bố thí nước
Nếu không có nước uống, tuổi thọ không thể dài, thân không thể đẹp, tâm không thể vui, sức lực không thể mạnh, trí tuệ không thể minh mẫn; nếu không tắm thân không thể sạch sẽ nhẹ nhàng được...
Như vậy với sự bố thí nước sẽ thành tựu các quả lành tương tự như trên (sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh; thân thể sạch sẽ; nhẹ nhàng; tiếng lành đồn xa...)
3. Quả lành bố thí, cúng dường bông hoa và vật thơm.
Với sự bố thí một bông hoa, quả lành được một trăm ngàn kiếp sanh làm Trời, người với mùi hương thơm toả. Kiếp cuối cùng được chứng đắc Thánh đạo, Thánh quả và Niết bàn giải thoát, an vui vĩnh viễn.
4. Quả lành bố thí đèn sáng
- Thường được thọ sanh vào cõi Trời, cõi người.
- Thân có màu vàng và phát ra ánh sáng.
- Có đôi mắt trí nhìn xuyên núi đá hàng trăm do tuần (một do tuần tương đương khoảng 16km).
- Kiếp cuối cùng dễ dàng chứng đắc được các Pháp quý báu cao thượng: như đắc các tầng thiền định; đắc đạo quả vv...
5. Quả lành của việc bố thí thuốc có 10.
- Sống lâu
- Sức mạnh
- Trí tuệ quảng bác.
- Sắc thân xinh đẹp
- An vui giàu sang
- Có tâm dũng mãnh tinh tấn
- Tuỳ tùng đông, oai lực lớn
- Không bị sống xa người mình thương
- Tránh được nhiều tai hại rũi ro
- Được mọi người yêu thương cung kính.
6. Bố thí kim (may khâu).
- Là người có chánh kiến, người có tâm quả quyết, quyết đoán, vững chãi trong công việc.
- Người có thể thuyết phục được sự hoài nghi, hiểu sai của người khác.
- Người có sắc thân xinh đẹp.
- Có nhiều tài sản và của cải.
- Người có kiến thức và trí tuệ uyên bác.
- Hiểu được những vấn đề có nghĩa lý sâu xa và vi tế một cách dễ dàng.
- Có trí tuệ phá vỡ được vô minh, và chứng đắc được đạo quả A La Hán.
7. Bố thí rựa chẻ củi (rìu bén).
- Người có tâm dũng cảm
- Người có tâm không run sợ; không giật mình.
- Người có tâm vững chãi, không lay chuyển.
- Người có tâm hồn cao thượng.
- Tiêu diệt được ba loại phiền não tham, sân, si và đắc đạo quả A la hán.
8. Bố thí dao.
- Có được bạn bè tốt.
- Có sự nỗ lực tinh tấn phi thường,
- Là người có đức nhẫn nại và chịu khó.
- Người luôn sẵn có tâm từ ái để ban rải đến người khác khi cần thiết.
- Người có trí tuệ sắc bén như tia chớp, xuyên thủng vô minh. Dễ dàng đắc đạo quả A la hán.
9. Bố thí dao cắt móng tay (bấm móng tay chân).
- Được tôi trai tớ gái hầu hạ.
- Có được nhiều loại phương tiện xe cộ như: xe bò, xe ngựa, v.v..
- Là nơi nương tựa ân phước của nhiều người.
- Thường được người khác cạo giúp tóc râu và nấu nướng giúp đở.
10. Bố thí chỉ may, khâu.
- Tâm được an vui.
- Thân được an vui.
- Cả bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi hằng được an vui.
11. Bố thí tăm xỉa, răng.
- Giọng nói thanh tao làm người nghe yêu mến.
- Không bị ho hen, bệnh hoạn về đường hô hấp.
- Khi nói trong miệng luôn luôn có mùi thơm của hoa sen hồng tỏa ra.
- Trong cổ họng luôn sạch sẽ không có đàm giãi.
12. Bố thí gậy.
- Được con trai quý.
- Không có tâm giật mình sợ hãi.
- Không bị người khác làm quấy nhiễu.
- Được tất cả mọi người bảo vệ.
- Tâm trí luôn luôn vững chãi mạnh mẽ.
- Mọi việc làm được chính xác ít sai trái.
13. Bố thí dép.
- Được nhiều loại phương tiện vận chuyển gồm sáu trăm ngàn xe ngựa, xe voi, kiệu khiêng,...
- Dưới từng bước chân được ngọc ngà châu báu trải thảm nâng đỡ.
- Có sự tĩnh giác đặc biệt trên con đường hành đạo giải thoát.
- Người thường có trí nhớ phòng hộ giới đức trong sạch.
14. Bố thí giày.
- Người có đôi chân thần thông, có thể đi trên không trung, trên mặt nước, hoặc dưới lòng đất như ý muốn.
15. Bố thí khăn lau.
- Có thân sắc sáng giống màu vàng ròng.
- Chất dơ bụi bặm không dính được vào thân
- Sắc thân phát ra ánh sáng.
- Có oai lực thần thông lớn.
- Có nước da sáng mượt, tươi mát mịn màng.
16. Bố thí dù.
- Mùa lạnh thì được ấm, mùa hè thì được mát.
- Bụi bặm và chất bẩn không dính được vào thân.
- Tránh được 5 loại giặc lớn, cũng như nhiều sự kinh sợ khác.
- Tránh được nhiều loại bệnh hoạn.
- Được sự thương yêu cung kính của loài nguời và chư Thiên.
- Nước da tươi mát mịn màng xinh đẹp.
- Người có tâm trong sạch.
- Người được hằng trăm ngàn chiếc dù giá trị và xinh đẹp xuyên suốt thời gian trong vòng sanh tử luân hồi khi chưa đắc quả Niết Bàn.
17. Bố thí quạt (bằng lá thốt nốt, lá cọ ...).
- Được ấm vào mùa đông; được mát vào mùa hạ.
- Chính mình được an vui và cũng không có sự lo âu đối với quyến thuộc.
- Nội tâm được yên lặng khỏi nhiều loại phiền não: Lửa tham, lửa sân, lửa si, lửa tự ngã, lửa tà kiến...
18. Bố thí ly tách.
- Được thọ hưởng nhiều loại ly tách như: Ly vàng, ly đất, ly làm bằng nhiều loại đá quý, ly bằng san hô, xà cừ.
- Các pháp hành Thiền Định và Thiền Tuệ được đầy đủ.
19. Bố thí thùng đựng nước, bình rót nước.
- Được an vui.
- Có tùy tùng đông.
- Có thói quen làm những việc đáng làm.
- Có dung mạo thanh tao, nhẹ nhàng, dễ mến.
- Tứ chi; ngũ quan được đầy đủ, đẹp đẽ và cân đối.
- Tránh được hầu hết những loại nguy hiểm.
- Có được nhiều voi báu và ngựa báu,...
20. Bố thí bình lọc nước.
- Khi sanh về cõi trời có tuổi thọ dài hơn các loài thiên khác.
- Không bị kẻ thù, ăn trộm làm quấy nhiễu.
- Đao chặt không đứt, giáo đâm, đạn bắn không thủng.
- Không bị chết bất đắc kỳ tử bởi mọi tai nạn.
21. Bố thí vải vóc áo quần.
- Sinh ra kiếp nào cũng được sắc thân có màu như vàng ròng.
- Sắc thân phát ra ánh sáng.
- Tránh được bụi bặm, dơ bẩn.
- Người có nước da mịn màng, xinh đẹp.
- Được hàng trăm ngàn loại vải vóc, áo quần quý nhiều màu sắc.
22. Bố thí dây nịt, dây thắt lưng.
- Không bị hư các bậc thiền định mà mình đã chứng đắc.
- Làm chủ được thiền định.
- Những người tùy tùng thân thuộc đoàn kết không chia rẽ.
- Có năng lực khuyên giải được người khác nghe theo.
- Người luôn luôn có sự tĩnh giác.
- Người không có sự giật mình hay sợ hãi.
23. Bố thí giường, ghế...
- Người được giàu sang về tài sản và của cải.
- Có nhiều oai lực, quyền uy trong loài người.
- Có nhiều oai lực trong các loài chúng sanh.
- Thọ sanh 8 lần làm Đức Chuyển Luân Vương.
- Thọ sanh 4 lần làm đức Chuyển Luân Vương với tướng tá tuỳ tùng đông trong suốt thời gian 3400 đại kiếp quả đất.
- Hiểu biết được bốn sự thật trong thế gian.
- Hiểu biết được con đường trung đạo dẫn đến giải thoát (Bát Thánh Đạo).
- Chứng đạt được 6 loại thần thông.
24. Bố thí giường (loại giường chân thấp xưa)
- Được thọ sanh vào giòng họ cao quý.
- Được nhiều tài sản của cải.
- Được hầu hết mọi người thương yêu cung kính.
- Người có danh thơm tiếng tốt
- Được hưởng thụ chỗ ở, chỗ nằm ngồi bằng ngọc ngà châu báu trong suốt thời gian 100 ngàn đại kiếp quả đất.
25. Bố thí gối.
- Được nhiều loại gối quý như gối lông, gối làm bằng râu sen, gối làm bằng chất liệu hoa thơm quý hiếm.
- Có trí tuệ hiểu biết về con đường thành tựu Thánh đạo, Thánh quả.
- Người có trí tuệ hiểu biết mọi việc liên quan về sự bố thí, hiểu biết về sự gìn giữ duy trì phẩm hạnh Hiểu biết và có khả năng giảng giải về các tầng thiền sắc giới (sơ thiền, nhị thiền...)
- Có sự hiểu biết sâu sắc về Ân Phước của việc giữ giới cũng như cách thực hiện các pháp hành.
- Có trí tuệ hiểu biết về các phương pháp đi kinh hành, các phương pháp hành thiền định; hiểu biết về lợi ích của sự tinh tấn.
- Có trí tuệ hiểu biết về 37 Phẩm Trợ Bồ Đề.
- Có trí tuệ hiểu biết về giới (xuất thế gian); về thiền định; về trí tuệ; về Thánh quả A la hán.
26. Bố thí gối tựa.
- Người có các thành phần tứ chi, ngũ quan đẹp đẽ và đầy đủ.
- Được sinh vào dòng họ cao quý.
- Được sinh ra là người có trí tuệ.
27. Bố thí thảm, khăn chùi chân.
- Khi sinh ra có thân sắc giống màu vàng ròng.
- Tránh được bụi bặm và chất dơ bẩn.
- Dung mạo sáng sủa và xinh đẹp
- Có thần thông quảng đại.
- Người có thân sắc tao nhã.
28. Bố thí bình, thùng đựng dầu phụng, dầu thắp,..
- Người có khí phách oai dũng.
- Người có tứ chi và ngũ căn được cân đối hài hòa đẹp đẽ.
- Người có tâm hồn lớn lao và cao thượng.
- Người có tâm định tĩnh.
- Người được tùy tùng che chở bảo vệ chu đáo.
29. Bố thí đèn thắp.
- Được sinh luân lưu hai cõi trời người.
- Thân sắc toát ra ánh sáng.
- Có đôi mắt thần nhìn xuyên được núi đá với chiều dài hằng trăm do tuần.
- Kiếp cuối cùng dễ dàng chứng đắc các pháp của bậc cao nhân, chứng đắc Niết Bàn.
30. Bố thí thuốc rửa mắt.
- Có đôi mắt vô cùng xinh đẹp.
- Sự phân vùng các màu sắc: trắng, đen, vàng, nâu trong con mắt được hài hòa và đúng chỗ.
- Được con mắt vô cùng sáng.
- Tránh được nhiều loại bệnh hoạn.
- Có đôi mắt giống đôi mắt của loài Thiên.
- Có đôi mắt tuệ (hiểu biết được nhiều sự việc qua nhãn quang).
31. Bố thí vật để đưa thuốc vào mũi (ống thuốc crửa thông mũi, những bệnh về mũi...)
- Người có đức tin về các Pháp trong thế gian.
- Người có giới đức.
- Người có sự hỗ thẹn đối với tội lỗi .
- Người biết ghê sợ đối với tội lỗi.
- Người có tầm nhìn xa nghe rộng.
- Người có tâm rộng lượng bố thí và xả ly.
- Người có đức nhẫn nại.
- Người có trí tuệ.
32. Bố thí thau, chậu để rữa chân.
- Được vô số phương tiện đi lại, ...
- Được nhiều vợ, nhiều người hầu hạ, nhiều người thân cận gần gũi, phụng dưỡng chu đáo.
33. Bố thí dầu để xoa bóp chân.
- Tránh được nhiều bệnh tật
- Dung mao xinh đẹp
- Có trí tuệ nhanh nhẹn, nhạy bén trong sự tìm hiểu suy luận về giáo pháp.
- Cơm ăn ,thức uống nếu cần sẽ có được dễ dàng.
- Tuổi thọ dài trong kiếp sống
34. Bố thí dầu bơ.
- Có nhiều sức mạnh.
- Dung sắc xinh đẹp.
- Thân tâm thường được an vui.
- Tránh được hầu hết các bệnh tật.
- Miệng nói có mùi thơm thoang thoảng của hoa sen hồng toả ra.
35. Bố thí sữa bò.
- Được thọ hưởng nhiều món cao lương mỹ vị...
- Người có tâm định tĩnh, sáng suốt.
36. Bố thí mía khúc.
- Được sinh luân lưu trong hai cõi trời người.
- Hưởng an lạc trong 100 ngàn đại kiếp quả đất.
37. Bố thí ổ khoá, chốt gài cửa.
- Người có năng lực đọc kinh niệm chú làm cho cửa khoá mở ra.
- Người có trí tuệ bén nhạy dễ dàng thông đạt những nghĩa lý sâu xa trong Tam tạng Kinh điển (như có chiếc chìa khoá để mở cửa kho tàng.)
- Người ít có tâm nóng nảy.
- Người ít có sự mệt mỏi.
38. Bố thí đồ trang sức quý giá.
- Thân tướng, ngũ quan được đầy đủ.
- Tuổi thọ dài.
- Nhiều trí tuệ.
- Người có tâm vững chãi, kiên định.
- Được tránh khỏi những sự mệt mỏi.
39. Bố thí voi.
- Sau khi chết được sanh về cõi trời.
- Được vô số lần sinh vào 2 cõi an vui Trời - Người.
- Không bị sinh vào 4 đường ác đạo trong suốt 91 đại kiếp quả đất.
- Được thọ hưởng sự an vui, sự giàu sang phú quí.
- Được 16 kiếp sanh làm đức Chuyển Luân Vương.
40. Bố thí giấy viết.
- Không bị sinh vào 4 đường ác đạo trong suốt 91 đại kiếp quả đất.
41. Xây dựng nơi đi kinh hành, (nơi đi tới, đi lui để tĩnh tâm thư giãn) bố thí .
- Được thọ hưởng cung điện, đền đài làm bằng bảy loại châu báu: Ngọc, xà xừ, mã não, san hô,...
- Được làm vua tại cõi trời trong suốt 3 đại kiếp của quả đất.
- Được thọ hưởng nhiều tài sản, của cải cùng với nhiều thiên nữ hầu hạ.
- Ba lần thọ sanh làm Chuyển Luân Vương với vô số tuỳ tùng.
42. Lập chòi, dựng trại che mưa nắng cho khách lỡ đường để bố thí.
- Nếu bị rơi từ trên đỉnh núi, trên cành cây, trên bờ xuống vực vẫn không bị thương tổn.
- Không bị kẻ trộm làm phiền.
- Không bị sự đe doạ của đức vua xấu.
- Luôn luôn chiến thắng kẻ thù khi giao đấu.
- Được các loại phương tiện di chuyển nhanh như gió: xe voi quý, xe ngựa quý ...
43. Gieo trồng cây bồ đề để bố thí.
- Thọ sanh làm vua tại cõi trời xuyên suốt thời gian 30 đại kiếp quả đất.
- Thọ sanh 64 kiếp làm Đức Chuyển Luân Vương.
- Khi sanh về cõi người giàu sang phú quý được thọ hưởng nhiều tài sản, của cải.
- Là người tinh tấn trong các pháp hành đạo và chứng đắc đạo quả A La Hán.
44. Tưới cây bồ đề.
- Được thọ sanh về cõi trời.
- Thọ sanh 8 lần làm đức Chuyển Luân Vương.
- Không sanh vào đường ác đạo. Được sanh vào cùng thời Đức Phật ra đời, được Ngài tế độ và chứng đắc đạo quả A La Hán.
45. Sửa tu bổ nơi thờ Phật, tháp cũ.
- Tránh được nhiều loại bệnh tật và có tuổi thọ dài.
- Không sinh vào các đường ác đạo, luân lưu thọ sanh trong các cõi trời trong suốt thời gian 91 đại kiếp quả đất.
- Được 13 lần thọ sanh làm đức Chuyển Luân Vương với đầy đủ 7 loại báu.
46. Sơn Tháp; nơi thờ Phật.
- Tránh được nhiều bệnh tật, và có tuổi thọ dài.
- Sau khi chết được sanh về cõi trời, với toà Thiên cung có chiều cao 60 do tuần, với chiều rộng 30 do tuần, với 300 mái đao (mái cong), cùng với 1000 thiên nữ hầu hạ.
- Thọ sanh được 300 kiếp làm Vua Trời Đế Thích.
- Thọ sanh 25 kiếp làm Đức Chuyển Luân Vương.
- Thọ sanh làm vua quốc độ lớn, quốc độ nhỏ với số lần không thể đếm được.
- Xuyên suốt thời gian 100 ngàn quả đất không sinh vào 4 đường ác đạo, luân lưu tại các cõi trời.
- Xuyên suốt thời gian trong vòng sinh tử luân hồi, mỗi kiếp sinh ra luôn được giàu sang của cải đầy đủ (Không bị mất mát hoặc hư hại của cải.)
- Đi đến mọi nơi luôn có nhiều loại phương tiện xe voi, xe ngựa... đưa rước.
- Đi đến nơi đâu cũng được mọi người thương yêu cung kính.
- Đi đến mọi nơi không bị đinh gai vật nhọn đâm thủng vào chân.
- Trong các kiếp làm trời làm người, được đặc biệt thọ hưởng sự giàu sang về tài sản của cải.
- Trong các kiếp làm trời làm người, có thân sắc giống màu vàng ròng.
- Thân thể phát ra ánh sáng.
- Mắt không thấy được những gì mà tâm mình không ưa thích.
- Người có thân thể sạch sẽ và tâm hồn trong sáng.
47. Tạo Tượng Phật để cúng dường.
- Không sinh vào bốn đường ác đạo.
- Được sinh vào quốc độ mà có chư Phật ra đời.
- Thọ sanh làm người đàn ông với đầy đủ các đức tính cao thượng.
- Là người có tứ chi và ngũ quan lành lặn.
- Không thọ sanh vào dòng tộc hèn hạ thấp kém.
- Không bị đoạ sanh vào địa ngục.
- Không đầu thai vào giòng tộc người biên địa, giống dân man rợ.
- Thân sắc xinh đẹp.
- Là người có nhiều phước báu đặc bi ệt.
- Được nhiều người yêu thương quý mến.
- Được những phước báu như ý trổ sanh bất ngờ.
- Tài sản của cải đầy các kho đụn.
- Được voi, ngựa, trâu b ò, vàng bạc tài sản đầy đủ.
- Mọi suy nghĩ tiên đoán sự việc đều thành công.
- Nếu sinh về loài trời thì làm vua loài trời, nếu sinh về loài người thì trở thành vua loài người.
- 1000 kiếp thọ sanh làm vua trời Đế Thích.
- 1000 kiếp sanh làm Đức Chuyển Luân Vương.
- Làm vua quốc độ lớn, làm vua quốc độ nhỏ với số lần không thể đếm xuể.
- Nếu phát nguyện thành Phật Chánh Đẳng Chánh Giác; thành Phật Độc Giác đều được thành tựu.
- Nếu ước nguyện thành bậc A la hán sẽ được thành tựu.
- Được thọ sanh vào các giòng tộc v ương quyền; Khanh tướng; giòng tộc Bà La Môn cao quý.
- Được tài sản của cải dồi dào.
- Được tuỳ tùng đông đúc.
- Người có trí tuệ quảng bác.
- Người có thần thông quảng đại.
- Tránh được nhiều bệnh tật; tuổi thọ dài.
- Người có sức mạnh phi thường.
- Là người thường xuyên có trí tuệ.
- Là người có tâm dũng m ãnh.
- Là người có sự nghe nhiều thấy rộng.
- Có trí tuệ siêu việt trong loài người.
- Người có tư cách dung mạo dễ yêu mến.
- Hưởng thụ được tài sản nhiều không kể siết.
- Kiếp cuối cùng đắc được các tầng thiền định; đạo quả Niết Bàn an vui giải thoát vĩnh viễn.
48. Cúng dường đèn thắp sáng trước tượng Phật.
- Được 32 kiếp thọ sanh làm vua trời Đế Thích.
- Được 32 kiếp sanh làm Đức Chuyển Luân Vương.
- Được thọ sanh vô số lần làm vua nước lớn, làm vua nước nhỏ.
- Được sinh về cõi trời hưởng thọ mọi an lạc với cung điện làm bằng bảy loại châu báu.
- Được thọ sanh vào giòng tộc cao sang vương quyền, giòng tộc Bà La Môn giàu có.
- Sinh ra trong kiếp nào thân sắc cũng không bao giờ xấu.
- Là người cao quý đặc biệt trong giòng tộc.
- Không bị đoạ sanh vào hàng súc sanh.
- Không bị đoạ sanh vào hàng địa ngục.
- Tâm trí không bị tán loạn trước khi chết.
- Khi sinh về loài trời, cũng như khi thọ sanh về loài người thường hưởng thụ được sự giàu sang phú quý.
49. Cúng dường cơm trước tượng Phật.
- Không bị đoạ sanh vào 4 đường ác đạo.
- Được sinh vào quốc độ có chư Phật ra đời.
- Thân sắc sinh đẹp.
- Có nhiều phước báu đặc biệt thù thắng.
- Được nhiều người thương yêu, quý mến.
- Được nhiều loại phước báu trổ sanh đột ngột như ý muốn.
- Được sinh luân lưu trong các cõi an lành.
- Thọ sanh làm vua trời Đế Thích trong suốt thời gian 1000 đại kiếp quả đất.
- Được sống trong cung điện đền đài làm bằng các loại đá quý.
- Được thọ sanh vào dòng dõi cao quý.
- Hoàn toàn không sanh vào dòng dõi thấp kém.
- Kiếp cuối cùng chứng đắc đạo quả A La Hán.
50. Tạo đục bìn h cắm hoa, quả bồng (vật chưng hoa quả)... cúng dường trước tượng Phật.
- Được giàu sang và đầy đủ của cải, được nhiều người thương yêu cung kính, được thọ sanh làm Đức Chuyển Luân Vương.
- Được thọ sanh làm vua nước lớn và nước nhỏ.
- Được sinh vào giòng tộc giàu sang phú quý.
- Được sanh vào giòng dõi vua quan, Bà La Môn cao quý.
- Không sinh vào giống dân thấp kém.
- Kiếp cuối cùng chứng đắc đạo quả Niết Bàn.
51. Bố thí bình bát.
- Được thọ hưởng sử dụng nhiều loại ly tách như ly vàng, ly ngọc, ly bạc, ly làm bằng đá quý.
- Tránh được năm loại giặt lớn trong đời .
- Tránh được nhiều loại bệnh tật.
- Được chư Thiên và loài người thương yêu cung kính, được thọ hưởng sự giàu sang phú quý lâu dài (của cải không bị h ư hại).
- Người có tâm trí kiên định và vững chãi.
- Chứng đạt được nhiều Pháp cao thượng
- Ít bị những phiền não ngủ ngầm quấy nhiễu.
52. Bố thí vải vóc, áo quần (không biết mặt) .
- Người có kiếp sống đúng với tuổi thọ. Sau khi chết được sanh về cõi trời.
- Trong 100 ngàn đại kiếp được sinh vào loài Trời - người.
- Không bị đoạ sanh vào 4 đường ác đạo.
- Thọ sanh 36 lần làm vua Trời Đế Thích.
- 27 kiếp được Thọ sanh làm đức Chuyển Luân Vương, làm chủ trì cả bốn châu thiên hạ với đầy đủ bảy báu.
- Làm vua nước lớn, làm vua nước nhỏ với số lần không đếm xuể.
53. Bố thí vải vóc, áo quần.
- Kiếp nào sinh ra cũng có thân sắc giống màu vàng ròng.
- Tránh được những bụi bặm dơ bẩn.
- Thân sắc phát ra ánh sáng.
- Người có nước da tươi mát mịn màng xinh đẹp.
- Được hàng trăm ngàn loại nhung lụa gấm vóc.
54. Bố thí vải vóc, y mặc đến chư Tăng (không biết mặt).
- Người có trí tuệ quảng bác.
- Có sức mạnh phi thường.
- Thân sắc xinh đẹp.
- Có thần thông quảng đại.
- Tứ chi, ngũ quan đều được cân đối, đầy đủ.
- Các phước lành tự nhiên trổ sanh đến bất ngờ đầy đ ủ.
55. Lập chùa để cúng dường đến tứ phương Tăng.
- Được thọ hưởng đền đài, cung điện bằng vàng.
- Không có tâm sợ hãi hay giật mình. Tránh được nhiều sự rủi ro và tai hại, nằm mộng không thấy những mộng dữ, chỉ thấy những mộng lành.
- Sinh về kiếp sau có trí nhớ biết được kiếp trước.
- Được sinh luân lưu trong hai cõi trời người.
- Được thọ hưởng nhiều phước lành như ý muốn.
- Những loại thú dữ: Sư tử, cọp beo, ma quái không hãm hại được.
- Những loại rồng, dạ xoa, những loài Thiên xấu không hãm hại được.
- Người luôn có tâm trí tĩnh giác sáng suốt không bao giờ bị điên loạn.
- Kiếp cuối cùng chứng đắc đạo quả A la hán.
56. Quả lành cúng dường Y đến chư Tăng vào mùa nhập hạ.
- Luôn được tái sanh vào các thiện thú, Trời - người hưởng được nhiều sự an lạc
- Không sanh vào 4 đường ác đạo.
- Giống như bậc Thánh nhân đã chứng quả nhập lưu về nhiều mặt.
57. Quả lành của sự cung kính đảnh lê "Y" của Chư Tăng.
Màu Y cao thượng của con đường dẫn đến thành tựu Thánh nhân, giải thoát, Niết Bàn.
Hoan hỷ đảnh lễ có những phước báu sau:
- Không bị tái sanh vào 4 đường ác đạo.
- Được sanh làm đức Vua Chuyển Luân Vương.
- Chứng đắc được Thánh đạo, Thánh quả trong ngày vị lai.
58. Quả lành dâng Y lễ Kathina (từ tháng 9 - 10 AL).
- Giống như Đức Chuyển Luân Vương đi đến đâu thanh bình đến đó, được các thủ l ãnh, các đức Vua xứ đó cung kính đón tiếp và dâng Quốc độ..., nhiều oai lực thần thông.
- Sự giàu sang giống như phú hộ Jotika.
- Sự giàu sang như bà Visakha thời Đức Phật.
- Tránh được nhiều bệnh tật.
- Có cả hầm vàng xu ất hiện dưới đất.
- Giống công tử Auruddha cần muốn gì thì được như ý nguyện.
- Gặp thời Đức Phật được Ngài gọi "Ehi Bhikkhu " lập tức toàn thân trở thành phẩm mạo bậc xuất gia với đầy đủ Y bát và vật dụng cần thiết.
- Nhiều kiếp sinh ra luôn được giàu sang phú quí.
59. Quả lành khác của việc dâng Y Kathina.
- Sắc thân sinh đẹp.
- Giàu sang, nhiều an lạc.
- Tránh được nhiều rủi ro tai hại.
- Tuổi thọ dài trong một kiếp sống.
- Có nhiều sức lực.
- Có trí tuệ quảng bác.
- Như có "cây như ý" mọc ở trong nhà, mọi điều mong muốn đều được cho quả y như ý nguyện.
- Cuối cùng đắc quả Niết bàn.
60. Quả lành cúng dường Y đến Tăng.
(ngoài các khoảng thời gian kể trên)
- Có màu da giống màu vàng ròng.
- Không có mụn mọc.
- Nước da mịn màng.
- Màu da toát ra ánh sáng.
- Nếu là nam: ra đời được gặp Phật Toàn Giác, được Ngài gọi "Ehi Bhikkhu" lập tức trên toàn thân trở thành phẩm mạo của một vị tỳ kheo, đầy đủ y bát và vật dụng cần thiết.
- Được 4 loại áo quần: màu trắng, màu nâu, màu vàng r òng và màu đỏ. Nếu là nữ thì được mặc y phục giá trị: chín mươi triệu (loại y phục cần năm trăm thợ may thêu, hoàn thành bộ y phục này trong v òng bốn tháng)...
61. Quả lành của việc niệm Ân Đức Phật:
- Người niệm Phật giống như "một bảo tháp thờ Phật" được người khác cung kính đảnh lễ.
- Có tâm biết đủ (tri túc).
- Khi chết được sanh về nhàn cảnh.
- Kiếp sau được gặp Phật vị lai, dễ dàng hiểu biết được bốn sự thật của thế gian.
- Được sanh vào dòng tộc cao quý.
- Được người khác cung kính.
- Là người xứng đáng được tán dương khen ngợ i.
- Sắc thân được xinh đẹp.
- Thân thể toả mùi hương thơm .
- Miệng có mùi thơm toả ra khi nói.
- Trí tuệ được phát sinh đầy đủ.
- Có sự thông suốt về trí tuệ.
- Kiến thức cao quí được đầy đủ.
- Trí tuệ nhạy bén và cực kỳ nhanh nhẹn.
- Tâm trí đầy đủ sự t hông minh, và nhiều an vui.
- Đầy đủ các trí tuệ đặc biệt.
- Lời nói hay, chính xác (không hề nói lời vô ích).
62. Quả lành chung của sự niệm tưởng Ân Đức Tam Bảo.
- Thường xuyên cảm nhận được cuộc sống đang trong vòng sanh tử luân hồi.
- Không có tâm mong mỏi bám víu vào vòng sanh tử luân hồi.
- Tâm mong muốn tránh xa những phiền não, tình ái phiền lụy
- Muốn làm những việc tránh xa luyến ái phiền não.
- Muốn cho sự đau khỗ được thanh tịnh yên lặng.
- Muốn phiền não yên lặng.
- Đặc biệt là biết được ba p háp thế gian: Khỗ, Vô thường và Vô ngã.
- Biết rõ ràng bốn sự thật .
- Chứng được Thánh đạo và Thánh quả, Niết Bàn.
- Có thể đắc quả Niết bàn ngay trong kiếp hiện tại.
63. Quả lành của sự Quy y Ân Đức Tam Bảo.
- Đi đến mọi nơi đều được mọi người ngưỡng mộ .
- Trí tuệ được tăng trưởng.
- Chư Thiên đều thương mến.
- Được nhiều tài sản của cải.
- Nước da đẹp tươi sáng như vàng.
- Được bạn bè tri kỷ bền chắc.
- Được thọ sanh suốt 80 kiếp làm vua Trời Đế Thích
- Được thọ sanh suốt 75 kiếp làm Đức Chuyển Luân Vươ ng.
- Kiếp cuối cùng đắc đạo quả A la hán.
64. Những nhân lành cho tuổi thọ dài.
- Bố thí bình lọc nước.
- Bố thí chùa chiền đến Tăng; trường học; phước xá (nơi trú ngụ tạm thời cho khách thập phương).
- Bố thí đến người bệnh.
- Sửa sang chùa chiền cũ, trườ ng cũ.
- Giữ gìn 5 giới trong sạch (th ường giới).
- Giữ gìn 8 giới (bát quan trai giới).
65. Quả lành của việc biên soạn Tam tạng Kinh điển.
- Thọ sanh vào dòng dõi giàu sang phú quý.
- Không bao giờ thọ sanh vào những dòng dõi thấp kém.
- Thường được kết b ạn với hàng Thức Giả, Thiện Trí, Hiền Nhân.
- Có đầy đủ năm điều hạnh phúc trong thế gian.
- Không bao giờ có sắc thân thô xấu.
- Là hạng người không bao giờ nói lời nói thô thiễn, không tế nhị làm mất lòng người nghe.
- Không bị đoạ sanh vào 4 đường ác đạo.
- Khi đầu thai vào loài người, phần lớn thọ sanh vào dòng dõi vua quan, Bà la môn... cao quý.
- Vô số lần sanh làm Đức Chuyển Luân Vương.
- Có mạng làm vua nước lớn, nước nhỏ với số lần không thể đếm được.
- Vô số kiếp hoá sanh làm vua 6 cõi trời dục giới.
- Biên soạn một chữ cái của kinh điển, quả lành tương đương như tạo lập một tượng Phật để cúng dường vậy. Vô số quả lành thù thắng phát sinh mà ta không thể nào biết được.
- Thọ sanh làm vua Chuyển Luân Vương với thời gian 84 ngàn kiếp quả đất.
- Thọ sanh làm vua quốc độ lớn trong 9 a tăng kỳ .
- Đầu thai vào dòng Bà La Môn với trí tuệ uyên bác trong 9 a tăng kỳ.
- Sanh vào dòng phú quý trong 9 a tăng kỳ.
- Hoá sanh làm vua cai quản 6 tầng trời dục giới.
- Nếu có ước nguyện thành Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật Độc Giác hay bậc thượng Thanh Văn, A la hán cũng được như ý nguyện.
CTT
TranNhatThanh
18-08-2008, 03:05 PM
1. Sự cần thiết của bố thí
Trong mười phước Ba-la-mật (paramī) , bố thí Ba-la-mật là cần thiết hoàn thành đầu tiên nhất.
Phật dạy: Dāna sabbatha sadhaka
Bố thí là thiện pháp quan trọng cơ bản hàng đầu cho sự phát triển mọi thiện pháp từ thấp đến cao. Phước báu của bố thí và cúng dường bảo trợ cho tâm trí thảnh thơi nhẹ nhàng an vui. Là một phước báu lần lượt từng bước hỗ trợ cho phước đức được vun bồi, giới đức ngày được tăng trưởng, thanh cao và nếu hành thiền thì dễ dàng chứng đắc các tầng thiền định, các đạo quả quý báu cao thượng an vui giải thoát vĩnh viễn khỏi mọi phiền não buộc ràng trong sanh tử luân hồi.
Trong vòng sanh tử luân hồi vô cùng vô tận, thật khó cho sự tái sanh lại ở các cõi an vui nh ư cõi trời, cõi người ... nếu như không có phước báu của bố thí bảo trợ. Đồng thời nếu được tái sanh lại các thiện thú, cõi trời, cõi người thì để được đầy đủ tài sản, của cải, hạnh phúc, an vui lại là một điều không dễ! Và như vậy muốn làm một việc phước thiện Bố thí cũng khó mà có điều kiện làm được.
Khi mà vẫn còn luân lưu trong v òng sanh tử luân hồi này, thì việc bố thí, cúng dường đặc biệt quan trọng và cần thiết để tạo phước thiện - là nền tảng thuận lợi cho sự phát sanh, tăng truởng nhiều phước lành quý báu an vui y như ý nguyện. Phước thiện bố thí là một báu vật riêng của mỗi người, mỗi chúng sanh, không ai có thể mượn, xin, hay chiếm đoạt được. Phước lành này theo ta như bóng theo hình. Sau khi chết dù tái sanh vào bất kỳ cõi giới nào đều cho quả lành an vui Phúc lạc.
Chỉ có người trong cõi Nam Thiện Bộ Châu nầy là có c ơ hội tạo được phước bố thí. Còn lại ba châu khác và các loài chư Thiên tại các tầng Trời đang thọ hưởng quả an lạc do họ đã tạo trữ từ trước thì rất hiếm có cơ hội để tạo Phước Thiện bố thí.
Người có tạo phước bố thí, dẫu tái sanh vào kiếp nào dù là loài trời hay loài người cũng hưởng được quả lành ấy - như bóng theo hình . Thậm chí - lỡ phạm tội lỗi - dẫu tái sanh vào loài cầm thú thì loài cầm thú ấy cũng hưởng được quả lành mà chúng đã tạo trữ từ trước... Mặc dù làm kiếp súc sanh nhưng được ưu đãi đặc biệt hơn các súc sanh đồng loại khác. Có một số con vật như chó, voi, ngựa... chúng được thọ s anh ở những giống nòi tốt, có được thân sắc sinh đẹp, khôn ngoan, trung thành... được chủ chăm sóc chu đáo về nhiều phương diện như thức ăn, chỗ ngủ thơm sạch và thuốc men khi đau ốm... thậm chí một số được chủ trang sức vàng bạc quý giá đẹp đẽ nữa. Ấy cũn g là do nhân lành bố thí mà chúng đã làm từ tiền kiếp vậy.
Phật dạy do nhân bố thí mà chúng sanh tránh được nhiều sự hư hại chết chóc khỗ đau.
Đức Phật Ngài không động viên, khuyến khích cho sự bố thí quá dư thừa trong những trường hợp không cần thiết.
- Ngài dạy bố thí đến những đối tượng nhận vật thí với nhu cầu thật sự cần thiết và vừa đủ.
- Có thể bố thí một phần tư tài sản của m ình có được
- Sự bố thí vì một lí do nào đó chẳng hạn để mong được tiếng lành v.v.. (làm quá sức m ình) để rồi cuộc sống lâm vào thiệt thòi, lo âu, tâm giảm đi sự an vui là điều Ngài không khuyến khích.
- Trong thời còn thịnh hành Chánh Pháp, để thường có nhiều sự an vui, lợi ích là thường xuyên bố thí đến những nơi mà m ình đang ở, rộng hơn là tĩnh thành, toàn quốc .v.v.. là điều Đức Phật chỉ dạy.
- Sự bố thí được coi như xây dựng một cây cầu để đi lên cõi trời và là một hành trang vô cùng giá trị. Đường đi của quả lành này thật bằng phẳng dễ dàng đi đến đích. Là nhân lành làm nền tảng cho sự chứng đắc đạo quả Niết Bàn.
- Quả lành của sự bố thí làm cho an vui cả về thể chất lẫn tâm hồn; giàu sang, phú quí, làm chủ được nhiều tài sản; cũng như chính m ình làm chủ được m ình qua nhiều tình huống cam go trong cuộc sống.
- Sự bố thí làm người không lịch thiệp trở nên lịch thiệp. Làm thành tựu hầu hết mọi chí nguyện lành. Phước lành của sự bố thí là một trong 38 điều hạnh phúc lớn lao cao thượng mà Đức Phật đã thuyết giảng đến tất cả chư Thiên cùng Nhân loại.
- Với đức tin tuyệt đối vào nghiệp và quả của nghiệp, sự bố thí với thiện tâm tác ý hoan hỷ trong cả 3 thời sung mãn (tr ước khi bố thí - trong khi bố thí - và sau khi bố thí), quả lành trổ sinh chính là người bạn đường vô cùng tốt và thân thiết theo ta như bóng theo hình , bảo trợ ta khi còn vần xoay trong vòng sanh tử luân hồi này.
2. Ba giai đoạn tác ý thiện tâm ảnh hưởng trong suốt một quá trình bố thí:
Nếu không có thiện tâm, tác ý để bố thí thì sự bố thí sẽ không thành tựu với đầy đủ ý nghĩa của nó.
Không có thiện tâm tác ý thì không thể bố thí được và do đó bố thí chỉ xảy ra khi có sự tác ý của thiện tâm.
Sự tác ý thiện tâm có 3 thời:
- Trước khi bố thí: Trước khi bố thí ta hoan hỷ nghĩ rằng" Ta sẽ bố thí vật này, là nhân lành để cho kết quả sự đầy đủ tài sản quý báu hằng hỗ trợ ta ở những kiếp sống t ương lai trong hai cõi trời người và sự giải thoát ra khỏi vòng tử sanh luân hồi đau khỗ ở vị lai.
- Trong khi bố thí: Trong khi bố thí đến tay người nhận, ta hoan hỷ suy niệm rằng: "Đây là những tài, vật chỉ có giá trị tạm thời không bền vững lâu dài, sẽ là nhân của nguồn Phước báu có giá trị trong tương lai."
- Sau khi bố thí xong : Sau khi bố thí xong thỉnh thoảng ta nhớ lại việc Phước ta đã làm với suy niệm rằng: "Ta đã làm được những công việc lợi ích quý báu mà các bậc Hiền Nhân, Thiện Trí từ ngàn xưa đến nay hằng tán dương khen ngợi ."
Và cứ như vậy thỉnh thoảng nhớ lại, nhớ nhiều lần, càng nhiều càng tốt, những việc bố thí đã làm với lòng dâng tràn hoan hỷ. Ngoài ra để quả lành của bố thí trổ sanh càng sung mãn và lớn lao hơn còn phụ thuộc vào đối tượng - (người nhận sự bố thí ấy).
Đối tượng nhận sự bố thí có tầm quan trọng không nhỏ trong sự trỗ sanh lợi ích cho người bố thí. Người nhận sự bố thí cho quả lành lớn lao nhất là các bậc Thánh nhân đã tiêu diệt được 3 loại phiền não (tham, sân, và si). Thứ đến là những người đang cố gắng tinh cần đi trên con đường dẫn đến sự thành tựu kết quả này. Sau đó là hạng người bình thường .v.v.. Cuối cùng là sự bố thí đến hàng súc sanh.v.v..
Đầy đủ bốn chi sau đây gọi là sự bố thí :
- Người bố thí
- Sự tác ý thiện tâm bố thí
- Đồ vật để bố thí
- Có đối tượng nhận thí rõ ràng.
3. Phân loại bố thí:
Có vô số loại bố thí nhưng chủ yếu phân làm ba loại chính:
- Bố thí theo tạng Kinh
- Bố thí theo tạng Luật
- Bố thí theo tạng Luận
a. Bố thí theo tạng Kinh: (có 10 loại)
- Bố thí cơm
- Bố thí nước hay thức uống.
- Bố thí các loại vải vóc hay y áo đến Tăng.
- Bố thí phương tiện, dép giày
- Bố thí các loại hoa
- Bố thí các loại hương thơm, vật thơm.
- Bố thí các loại nước hoa, nước thơm.
- Bố thí các loại giường chõng, chỗ để nằm ngồi
- Bố thí chùa chiền, nhà ở đến chư Tăng, nơi cư ngụ, nhà nghĩ , nhà dưỡng lão, bệnh viện, phước xá...
- Bố thí các loại đèn dầu thắp.
b. Bố thí theo tạng Luật: (có 4 loại)
- Bố thí vải vóc, y áo đến tăng
- Bố thí cơm nước, vật ăn, thức uống.
- Bố thí chùa chiền, nhà ở đến tăng.
- Bố thí các loại thuốc ngừa bệnh, rửa bệnh.
c. Bố thí theo tạng Luận: (có 6 loại)
- Bố thí về hình sắc: Các loại làm đẹp mắt người như; tranh ảnh có tính chất lành mạnh, tăng đức tin, tăng sự hoan hỷ cho người, trang hoàng cảnh chùa trong các ngày lễ hội...
- Bố thí về âm thanh: thuyết Pháp, những âm thanh có lợi ích đến người nghe, tăng đức tin, phát triển thiện pháp, chuông mõ, trống canh giờ giấc...
- Bố thí về mùi hương: các lọai hương hoa thơm, trầm hương, quế hương...
- Bố thí về vị: các loại th ức ăn, vật uống liên quan đến vị giác.
- Bố thí về xúc: các loại vải vóc, y áo, chỗ nằm ngồi, nhà ở, chùa chiền, trường học .v.v..
- Bố thí về Pháp: giải pháp, các loại phương tiện, sách, kinh giúp tăng cường trí tuệ, tăng trưởng thiện Pháp...
4. Những vấn đề ảnh hưởng đến sự bố thí liên quan đến tài vật bố thí và thái độ của người thí. Những quả lành tương ứng.
a. Bố thí với trường hợp 1.
- Bố thí với đức tin trong sáng về nghiệp và quả của nghiệp.
- Bố thí tài vật có giá trị với lòng cung kính.
- Bố thí tài vật hợp thời, đúng lúc cần thiết đến người nhận.
- Bố thí để tuyên dương khích lệ, hỗ trợ lợi ích đến người nhận, cũng như tăng trưởng lợi ích về lâu dài cho phần đông.
- Sự bố thí không có tác ý làm ảnh hưởng xấu đến bất kỳ một ai.
b. Bố thí với trường hợp 2.
- Có sự chuẩn bị chu đáo, vật thí (hợp pháp, trong sạch).
- Bố thí với tâm bi mẫn, thương yêu và cung kính.
- Tự tay bố thí đến người nhận.
- Không giống như sự vất bỏ cơm thừa, canh cặn mà bố thí một cách thận trọng, chu đáo.
- Đức tin với sự hiểu b iết rằng, thiện sự này sẽ cho Phước báu về sau.
c. Bố thí với trường hợp 3:
- Dùng tài vật trong sạch hợp pháp để bố thí với tâm cẩn trọng và chu đáo.
- Dùng tài vật tốt để bố thí.
- Bố thí đến người nhận hợp thời, đúng vào lúc có nhu cầu.
- Cân nhắc, chọn lựa tài vật để bố thí tương xứng với người nhận.
- Không những không tiếc của mà còn bố thí với tâm hoan hỷ trong sáng.
- Tâm hoan hỷ với sự bố thí đã làm.
- Có sự làm phước bố thí liên tục thường xuyên tùy theo khả năng.
- Bố thí vật dụng cần thiết đến người nhận khi có nhu cầu.
Các quả lành tương ứng:
- Bố thí với đức tin cho quả có dung sắc xinh đẹp.
- Với của cải hợp pháp mà bố thí cẩn trọng chu đáo, cho quả tất cả vợ con và tùy tùng đều nghe theo lời dạy bảo và phục tùng.
- Do bố thí hợp thời, đúng lúc đến người nhận mà cho quả lành quý báu hợp thời, hợp lúc đến ta, nhất l à những lúc ta cần (mọi lúc).
- Do sự bố thí không làm ảnh hưởng xấu đến quyền lợi, thanh danh của người khác mà cho quả lành giàu sang, phú quí nhưng không bị sự phá hoại tài sản bởi 5 nạn lớn:
a. Nạn trộm cướp.
b. Nạn hỏa hoạn.
c. Nạn con hư phá hoại gia sản.
d. Nạn nước lớn.
e. Nạn vua quan chiếm đoạt.
d. Bố thí với trường hợp 4 và quả lành tương ứng:
- Bố thí tài vật (không hợp pháp), không có sự chuẩn bị chu đáo.
- Bố thí với tâm không tôn trọng.
- Không có sự bố thí tận tay đến người nhận (dù điều kiện có thể làm được)
- Bố thí đến người khác giống như sự vất đổ cơm thừa, canh cặn.
- Không hiểu biết lý nhân quả cũng như không có đức tin rằng, thiện sự bố thí này sẽ cho quả lành về sau.
Các quả lành tương ứng:
- Mặc dù giàu sang của cải nhưng nhan sắc không xinh đẹp, tứ chi ngũ quan không cân đối đều đặn...
- Mặc dù giàu sang của cải nhưng lời nói vợ con, tôi tớ, không có sự phục tùng, vâng theo.
- Mặc dù là người có Phước phú quí, nhưng của cải ấy không đáp ứng được kịp thời, đúng lúc khi mình cần thiết.
- Dầu là người nhiều của cải nhưng không biết giá trị xử dụng của cải cho có lợi ích - người có của nhưng không biết dùng.
- Mặc dù là người phú quí nhưng bị năm nạn lớn phá hoại tài sản (đã đề cập ở trên).
e. Bảy loại bố thí khác:
- Dùng tài vật không hợp pháp để bố thí.
- Bố thí những tài vật xấu xa không có giá trị.
- Bố thí không hợp thời, hợp lúc đến người nhận.
- Bố thí vật dụng không đáp ứng nhu cầu cần thiết của người nhận.
- Không lựa chọn đối tượng để bố thí, cũng như không lựa chọn tài vật thích hợp để bố thí.
- Tuy có đủ khả năng nhưng bố thí với tâm dè xẻn, tiếc của, bố thí từng chút một.
- Bố thí với tâm không hoan hỷ.
- Có tâm ân hận tiếc nuối sau khi đã bố thí.
5. Năm sự bố thí hợp thời đúng lúc và quả lành:
Trong kinh Anguttaranikāya Đức Phật dạy rằng: "Này chư Tỳ kheo, ở trong đời có 5 sự bố thí đúng lúc, hợp thời.
- Bố thí cho khách ở xa mới đến.
- Bố thí đến cho người chuẩn bị đi xa.
- Bố thí đến cho người bị bệnh hoạn , dịch bệnh...
- Bố thí đến những người trong nạn lũ lụt, hạn hán, mất mùa, đói kém...
- Bố thí những trái quả đầu mùa đến các bậc có đức hạnh, có giới.
Các bậc hiền nhân, thiện trí nếu hiểu biết được sự cần thiết, đúng lúc của những người nhận thí nhất là những người có giới đức, thường hoan hỷ phát tâm bố thí.
Nếu bố thí hợp thời, đúng lúc, với tâm trong sạch và hoan hỷ đến các bậc đã đoạn tận phiền n ão; các bậc đang trên đường đến thành tựu thánh nhân thì quả lành cũng trỗ hợp thời, hợp lúc thật lớn lao:
- Được nhiều tài sản, của cải dồi dào, phú quý.
- Thọ hưởng được nhiều loại tài sản quý giá.
- Đầy đủ vật dụng tương ứng với thời gian thích hợp. Ví dụ vào mùa lúa thì được nhiều lúa gạo, vào thời đại tân tiến thì được nhiều của cải máy móc hiện đại.
- Bấ t luận thời gian nào cũng có thể có được những vật dụng tài sản khi cần thiết.
6. Có năm loại bố thí không được quả lành:
- Bố thí rượu và chất say
- Bố thí tuồng kịch, ca hát mang tính chất không văn hóa, cực đoan.
- Thuê gái lầu xanh bố thí đến trai. (Xưa tại Ân Độ thời Đức Phật c òn tại thế, cũng như tại nước Myanmar, vua chúa cho phép các giai nhân quốc sắc làm nghề "lầu xanh" hợp pháp).
- Bố thí bò cái đến bò đực.
- Bố thí tượng, tranh ảnh không có tính văn hóa lành mạnh đến người khác.
7. Năm sự bố thí cho quả lành tuổi thọ dài:
- Bố thí bình lọc n ước.
- Bố thí thuốc crửa bệnh.
- Bố thí chùa chiền, nhà ở.
- Tu bổ sửa sang nhà ở chùa chiền, tháp củ.
- Giữ gìn 5 giới trong sạch.
8. Sự bố thí cho phước lành thù thắng:
- Người bố thí là người có đức tin, có nền tảng đạo đức, giữ giới trong sạch.
- Người được nhận thí là người có giới đức đang tinh cần trên con đường tu tập giải thoát
- Bố thí tài vật hợp pháp và trong sạch
- Có đức tin về nghiệp và quả của nghiệp
- Có thiện tâm tác ý về 3 thời bố thí, đầy đủ và sung mãn.
9 . Có 14 hạng nhận vật thí:
Có hai loại bố thí: Bố thí đến cá nhân và bố thí đến tập thể.
Bố thí cá nhân theo trình tự từ thấp đến cao và do đó quả lành cũng được tăng trưởng vô số lần.
- Cúng đường đến Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác
- Cúng dường đến Đức Phật Độc Giác.
- Cúng dường đến bậc A la hán
- Cúng dường đến bậc chứng A la hán Thánh Đạo
- Cúng dường đến bậc chứng A na hàm Thánh quả.
- Cúng dường đến bậc chứng A na hàm Thánh đạo.
- Cúng dường đến bậc chứng Tu đà hàm Thánh quả.
- Cúng dường đến bậc chứng Tu đà hàm Thánh đạo.
- Cúng dường đến bậc chứng Thánh quả Tu đà Huờn
- Cúng dường đến bậc chứng Thánh đạo Tu đà Huờn
- Cúng dường đến bậc các chứng đắc Thiền Định - được hượng quả lành 1 ngàn tỷ kiếp.
- Cúng dường đến người thường có giới đức, có nền tảng đạo đức (Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm...) hưởng quả lành 100 ngàn kiếp.
- Cúng dường đến người thường không có giới, không có nền tảng đạo đức - quả lành 1000 kiếp.
- Đến các loài thú vật, súc sanh (chúng sanh nói chung...) - hưởng quả lành một trăm kiếp.
Phật dạy:
Với nhân lành bố thí đến con vật ăn no 1 bữa, quả lành trỗ sanh hưởng thọ được hằng trăm kiếp với 5 phước báu (sống lâu, sắc đẹp, giàu sang, sức mạnh và trí tuệ.)
Bố thí đến người không có giới không có đạo đức một bữa ăn no được hưởng quả lành 1 ngàn kiếp với 5 loại phước báu trên.
Bố thí đến người thường có giới đức hưởng quả là một trăm ngàn kiếp.
Bố thí đến đạo sĩ chứng đắc thiền định, hưởng quả lành 1 ngàn tỷ kiếp với năm phước báu trên.
Bố thí đến bậc chứng đắc Nhập lưu Thánh Đạo hưởng quả lành suốt thời gian 1 A tăng kỳ kiếp.
Cúng dường đến các Bậc Thánh nhân Tu Đà Hoàn, Đức Phật Độc Giác, Đức Chánh Đẳng Chánh Giác, qua lành trổ sanh với thời gian (vô số lần A tăng kỳ kiếp) theo mức độ tăng dần đến Đức Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đặc biệt khi bố thí đến những người không có giới, không đạo đức nếu với sự tác ý động viên ủng hộ cho những hành động xấu của họ thì có tội lỗi.
Ngược lại nếu bố thí đến hạng người này, vào lúc mà tâm họ không có suy nghĩ làm hành động xấu khi nhận được vật bố thí đến, thì sự bố thí này xứng đáng và không có tội lỗi.
10. Phước lành trỗ sanh trong v òng bảy ngày: (bố thí với đủ 4 chi):
- Bố thí tài vật làm ra hợp pháp.
- Với đức tin, sự phát thiện tâm mạnh mẽ, cùng với sự tác ý đủ 3 thời (trước, trong và sau khi bố thí)
- Người nhận thí là người đắc Thánh quả A la hán hoặc A na hàm quả.
- Người nhận thí sau khi mới vừa xả nhập diệt thọ tưởng định.
Sự bố thí với đủ 4 chi trên, Phước báu sẽ trỗ sinh trong vòng 7 ngày.
11. Trường cửu thí (thường xuyên thí)
- Gieo trồng kiến tạo vườn hoa, vườn cây ăn trái để bố thí.
- Gieo trồng các loại cây cho bóng mát, cây ăn trái, các loại cây lớn, cây nhỏ hữu dụng ... để bố thí.
- Bắt cầu mở đường cho người đi để bố thí
- Tạo các nguồn nước mát sạch, các nơi công cộng thường xuyên cho người tứ phương dùng.
- Xây cất bệnh viện, phòng thuốc, các nhà Nghĩ mát ven đường, các phước xá nơi ở nghỉ tạm thời cho khách thập phương lỡ đường .v.v..
Bố thí theo như một trong năm trường hợp trên thì gọi là bố thí th ư ờng xuyên mang tính lâu dài. Với sự bố thí này thì suốt đêm suốt ngày phước lành hằng hằng mãi mãi trổ sanh tăng trưởng không ngừng nghĩ.
Nhờ phước báu này bảo trợ mà sau khi chết rồi được thọ sanh vào cõi trời dục giới hưởng nhiều an lạc.
12. Bố thí, động viên bố thí và quả lành:
- Chính mình bố thí nh ưng không động viên bày vẽ những người khác bố thí. Về các đời sau được giàu sang phú quý nhưng không có họ hàng bạn bè, người thân quyến thuộc đông.
- Chính mình không bố thí nhưng lại bày vẽ động viên người khác bố thí về đời sau nghèo khỗ nhưng lại có họ hàng bạn bè thân thuộc giàu sang.
- Chính mình cũng không bố thí và cũng không động viên người khác bố thí. Về đời sau không những không giàu sang mà cũng chẳng có họ hàng thân thuộc đông.
- Chính mình bố thí đồng thời bày vẽ động viên người khác bố thí. Về đời sau không những là giàu sang phú quí mà lại có họ hàng thân thuộc giàu sang.
13. Có năm phước lành trổ sanh ngay trong hiện tại của người bố thí:
- Được phần đông quần chúng thương yêu mến mộ.
- Các bậc Hiền Nhân, Thiện Trí thường thích thân cận gần gũi.
- Được quần chúng hằng tán dương khen ngợi, có danh thơm tiếng tốt lan rộng nhiều nơi.
- Có tâm dũng mãnh không sợ sệt, không rụt rè khi đi vào giữa các chốn hội đoàn đông đúc ...
- Được sanh về cõi trời sau khi mạng chung.
14. Bố thí trong thời kỳ có Phật giáo thịnh hành và thời kỳ không có Phật giáo thịnh hành:
Có hai sự bố thí trong thời Giáo Pháp thịnh hành và ngoài thời Phật Giáo thịnh hành.
Sự bố thí ngoài thời kỳ Phật Giáo thật là khó, bởi vì t hật khó gặp các bậc nhận vật thí đã được trong sạch phiền não như các bậc Thánh nhân đã đắc đạo quả hoặc các bậc chứng đắc thiền định
Trong thời gian Phật Pháp còn thịnh hành thì việc bố thí làm ph ước đến Đức Phật hoặc các bậc Thánh nhân thật dễ dàng. Do vậy mà sự bố thí trong thời kỳ Phật Pháp thịnh hành có nhiều phước báu thắng xa thời kỳ ngoài Giáo Pháp.
Đức Phật lên cung trời Đao Lợi thuyết dạy về Vi Diệu Pháp có hai vị trời nam đến để nghe Pháp, một vị là Inkura và vị kia là Indaka đến hầu bên Đức Phật, mỗi khi có vị Trời nào nhiều oai lực hơn đến thì vị Trời Inkura
Còn vị Trời Indaka thì ngồi yên một chỗ nghe Đức Thế Tôn thuyết giảng.Vị Thiên Nam Inkura đã nấu cơm bố thí với nước cơm chắc ra chảy thành khe mương. Đại bố thí ấy xảy ra với thời gian vô cùng lâu dài trong thời kỳ ngoài Phật Pháp thịnh hành. Do đó mà được tái sanh làm vị Thiên Nam tại cõi trời Đao Lợi nầy. Vị trời Inkura làm phước bố thí ở ngoài thời Phật pháp thịnh hành cho nên không được làm phước bố thí đến những bậc có giới đức. Do đó mà phước báu về oai lực bị hạn chế đi, cho nên mỗi khi có vị trời Nam nào có nhiều oai lực hơn đến là đều phải lui ra xa để nhường chỗ vậy.
Vị trời Nam Indaka thọ sanh vào thời Đức Phật Thích Ca, đã đặt bát bố thí đến ngài A Nậu Lâu Đà là bậc Thánh nhân A la hán có giới đức trong sạch và cũng là bậc giỏi đệ nhất về thiền định, dù chỉ có một muỗng cơm mà được tái sanh thành vị Thiên Nam tại cõi trời Đao Lợi.
Ngài A Nậu Lâu Đà là bậc thánh nhân A la hán (ví như là một ruộng phước vô cùng phì nhiêu mà Indaka đã gieo hạt giống vào) nên việc bố thí đến Ngài dù chỉ một muỗng cơm nhưng uy lực phước báu trổ sanh thật là sung mãn, do vậy mà Indaka trở thành vị Thiên Nam nhiều phước báu về thần thông và nhiều oai lực thắng xa vị trời Inkura về mười loại phước báu; năm pháp hưởng thụ đối với sự an lạc của ngũ quan về hình sắc; về âm thanh; về mùi hương; về vị giác về xúc giác cùng với tuổi thọ dài, nhiều kẻ hầu hạ, sự sang cả về nhiều oai lực... Vì cớ ấy cho nên Ngài chỉ ngồi yên một chỗ nghe Đức Phật giảng Pháp đến lúc kết thúc ./.
phải lùi ra xa để nhường chỗ cho vị ấy. Cứ thế cho đến khi xa cách Đức Phật 12 do tuần.
-wow--wow--wow-
NHỮNG SÁCH THAM CHIẾU TRONG QUÁ TRÌNH SOẠN DỊCH
1. Aguttara Nikāya (Myanmar)
2. 550 mẫu chuyện điển hình của Bồ Tát (Myanmar)
3. Sabbamaṅgala - Dhamma desanā (Sayadaw Vāsavā Bhivaṃsa)
4. Đạo Phật - Ban Tôn Giáo Chính Phủ Myanmar: Quyển sơ cấp, Quyển trung cấp, Quyển cao cấp.
5. Những điều cần biết về sự bố thí. (Sayadaw Varasāmi Bhivaṃsa)
6. Dhammapjā - Tipitāka Sayadaw Sumaṅgalā Laṅkāra (Ngài thông làu Tam Tạng Sumaṅgalā Laṇkāra)
CTT
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.