PDA

View Full Version : Con đường học Dịch


Châu Anh
23-06-2005, 05:20 PM
Kính thưa,
Chờ đợi được dạy không bằng tự học một mình.
Châu Anh xin trải chiếu ra đây mời mọi người cùng mày mò nghiễn ngẫm.Không dám đảm nhận vai trò hướng dẫn mọi người vì Châu Anh dốt môn Dịch nhất, nhung chí ít chúng ta cũng có thể cùng trao đổi với nhau.
Khi nào có duyên may được các cao nhân ghé qua chỉ bảo cho thì là điều mừng.

Để mở đầu Châu Anh xin đề xuất hai việc:
1.Mua cuốn Chu dịch với Dự đoán học của Thiệu Vĩ Hoa.
Cuốn này không được đánh giá là cao quý gì lắm nhưng CA thấy nó dễ mua, dễ đọc, dễ hiểu.
2.Nắm chắc nguyên lý sinh vượng, sinh khắc của ngũ hành can chi.
Có thể đọc trong cuốn sách trên, có giới thiệu qua trong các mục liên quan đến lớp tử vi.

Khi các bạn đã làm xong 2 bước trên, hoặc đối với bạn nào đã có căn bản về dịch thì chúng ta có thể đi vào thảo luận được rồi.

Kỳ Đức
24-06-2005, 04:43 AM
Châu Anh có thể viết sơ lược về nguyên lý sinh vượng, khắc của ngũ hành can chi không, có thể tóm tắt từ sách Thiệu Vĩ Hoa ? Hay nếu không thì cho một dàn bài chi tiết để mọi người đóng góp theo khả năng của mình.

Tôi cũng thích ngâm cứu môn này lắm, dù lúc này phài tập trung thì giờ rảnh vào lớp tử vi.

Thân mến,

AVYE
24-06-2005, 10:49 AM
haha...Đọc sách của Thiệu Vỹ Hoa à! AVYE sẽ gửi một ít kiến thức :


Theo sử sách truyền lại thì người cổ xưa đã xây dựng được 3 mô hình Dịch để nhận biết thế giới là : Liên Sơn Dịch, Quy Tàng Dịch và Chu Dịch.
*Liên Sơn Dịch: là sách Dịch của đời nhà Hạ (2205 - TCN) cho rằng Dịch như mây núi bốc ra không ngừng, nên lấy quẻ Cấn làm đầu vì quẻ Cấn tượng cho núi.
*Quy Tàng Dịch: là sách Dịch nhà Thương (1766 - 1387 tcn) Ân (1388 - 1122 TCN) quan niệm vạn vật là cuối cùng cũng quay về đất, nên lấy quẻ "Khôn" làm đầu, vì qủe "Khôn" tượng cho đất.
*Chu Dịch: là sách Dịch đời nhà Chu(1122 - 250 TCN) cho rằng đạo Dịch luôn luôn biến hoá đầy đủ, lấy quẻ "Càn" làm đầu.
Hiện nay 2 bộ sách Liên Sơn Dịch và Quy Tàng Dịch đã bị thất truyền chỉ còn lại Chu Dịch, mà chúng ta thường gọi một cách tuyệt đối là Kinh Dịch . Theo truyền thuyết, là do Chu Văn Vương sáng tạo ra khi bị vua Trụ cầm tù ở Dữu Lý đã thay đổi vị trí và kết hợp 8 quẻ đơn (càn, ly, chấn, tốn, khảm, cấn, khôn) tương truyền có từ thời vua Phục Hy để tạo thành 64 quẻ kép (thuần càn, thuần khôn, hoả sơn lữ, ký tế, vị tế...). Tám quẻ bát quái tượng trưng cho nhiều sự vật, ví dụ như: Càn là trời, Khôn là đất, Đoài là đầm (hơi nước, sương mù, hồ suối), Tốn là gió, Chấn là sấm, Cấn là núi....
Căn cứ theo vị trí của 8 quẻ người ta Biểu diễn sự sắp xếp tám quẻ cơ bản theo Quy luật đã phân Chu Dịch ra thành Tiên thiên bát quái và Hậu thiên bát quái.

Càn ở Nam, Khôn ở Bắc đối diện nhau đỉnh ngôi trời đất,
Cấn ở Tây Bắc, Đoài ở Đông Nam đối diện nhau, đó là đầm núi thông khí.
Chấn ở Đông Bắc, Tốn ở Tây Nam đối diện nhau, đó là sấm gió xô xát.
Khảm ở Tây, Ly ở Đông đối diện nhau, đó là nước lửa thân thiết nhau.
"Thuyết quái truyện" nói: " Trời đất định vị, núi đầm thông khí, sấm gió cùng nhau xô xát, nước lửa không diệt nhau, 8 quẻ giao nhau". Phương vị của tiên thiên bát quái như sau:
Càn là trời, cho nên là ở trên và ở phương Nam vì phương Nam, nóng thuộc hoả (dương).
Khôn là đất, nên ở dưới và phương Bắc, vì phương Bắc lạnh thuộc thuỷ (âm).
Đoài ở Đông Nam vì ở Đông Nam nhiều đầm hồ.
Cấn ở Tây Bắc vì Tây Bắc nhiều đồi núi.
Tốn ở Tây Nam, vì Tây Nam là nơi nóng lạnh xô xát nhau sinh ra gió.
Chấn ở Đông Bắc, vì gió từ Tây Nam thổi qua Đông Bắc, gây ra tiếng động, hoặc sáng (Ly) tối (Khôn) cọ xát nhau sinh ra sấm.
Ly là mặt trời, nên ở phương Đông, vì mặt trời mọc ở phương Đông.
Khảm là mặt trăng, nên ở phương Tây, cũng có thể là do đa số sông ngòi bắt nguồn từ các cao nguyên phía Tây, 8 quẻ trên sắp xếp theo thứ tự sau: Càn - Ly - Chấn - Tốn - Khảm - Cấn - Khôn. Tại sao lại sắp xếp theo thứ tự như vậy?.
Càn là trời, có trời mới có muôn vật.
Đoài tiếp theo, là vì đã có sương mù tất phải có khí nóng đối lại.
Chấn là do hơi nước và khí nóng gây ra nên tiếp theo Ly.
Tốn tiếp theo Chấn bởi lẽ chuyển động sẽ gây ra gió.
Khảm tiếp theo, bởi lẽ khi có gió thì nước chuyển theo
Cấn liền theo Khảm vì nước lưu chuyển kết quả sẽ làm đất thành đồi vũng.
Khôn ở cuối cùng, bởi lẽ sự hoàn tất của sự vật che đỡ, bao dung tất cả.
Tám quẻ của bát quái, mỗi quẻ 3 vạch là rất có ý nghĩa, tượng trưng cho tam tài, vạch trên là trời, vạch dưới là đất, vạch giữa là người. Từ thời cổ đại, người ta đã quan niệm về con người như vậy. Đó là một đóng góp vô cùng to lớn, khẳng định vai trò của con người trong vũ trụ, nhác nhở con nguời sao cho thuận với đạo lý của trời đất và không thể không cùng với vũ trụ mà biến hoá.
Trên đây là Tiên thiên bát quái của Phục Hy.
Còn Hậu thiên bát quái do Chu Văn Vương tạo ra khi bị vua Trụ cầm tù ở Dữu Lý.
"Thuyết quái truyện" nói: Đế xuất ở Chấn, gọn gàng ở Tốn, cùng thấy ở Ly, làm việc ở Khôn, mừng vui nói ở Đoài, đánh nhau ở Càn, khó nhọc ở Khảm, hoàn thành xong là nói ở Cấn, do vậy mà suy ra thứ tự của Hậu thiên bát quái là: khởi đầu từ Chấn rồi tiếp đó lần lượt đến Tốn, Ly, Khôn, Đoài, Càn, Khảm, Cấn.
Phương vị của Hậu thiên bát quái, theo "Thuyết quái truyện" thì: vận vật xuất Chấn. Chấn ở phương Đông, gọn gàng ở Tốn. Tốn thuộc Đông Nam gọn gàng là nói muôn vật đều sạch sẽ; Ly là sáng, muôn vật cùng thấy nhau là quẻ ở phương Nam, Khôn là đất, mẹ của muôn vật, nên nói làm việc ở Khôn. Đoài là chính thu. Vạn vật vui vẻ nên nói vui vẻ là nói ở Đoài, đánh nhau ở Càn. Càn ở Tây Bắc là nói về âm dương xô xát. Khảm là nước là quẻ ở phương chính Bắc là quẻ khó nhọc, muôn vật đều ở đó, nên nói khó nhọc ở Khảm; Cấn quẻ Đông Bắc, nơi muôn vật thành về cuối, nên nói thành là nói Cấn.
Cho nên thứ tự phương vị của 8 quẻ Hậu thiên bát quái là : Chấn - phương Đông, Tốn - Đông Nam, Ly - phương Nam, Khôn ở Tây Nam, Đoài ở phương Tây, Càn ở Tây Bắc, Khảm ở phương Bắc, Cấn ở Đông Bắc.
Tiên thiên bát quái là thể của Dịch, chính yếu là thể của Dịch, chính yếu là để tỏ rõ đạo âm dương tiêu trưởng trong trời đất. Hậu thiên bát quái lại nói về cái dụng của Dịch nên đề cập đến ngũ hành: Khảm thuộc thuỷ, Ly thuộc Hoả; Càn, Đoài thuộc Kim; Chấn, Tốn thuộc Mộc; Cấn, Khôn thuộc Thổ.
Đoài, Càn chủ mùa thu; Ly chủ mùa hạ; Khảm chủ mùa đông; Chấn, Tốn chủ mùa xuân. Khôn chủ 18 ngày cuối của mùa hạ khi giao với mùa xuân.
Như vậy cho ta thấy Hậu thiên bát quái khởi từ xuân đến hạ. Đến thu, đến đông theo thứ tự của 4 mùa, trừ Khảm thuộc thuỷ, Ly thuộc hoả, còn kim, mộc, thổ thì chia làm âm dương: Càn thuộc dương kim, Đoài thuộc âm kim; Cấn thuộc dương mộc, Tốn thuộc âm mộc; Cấn thuộc dương thổ, Khôn thuộc âm thổ; hai quẻ Khảm ( thuỷ), Ly (hoả) bao hàm cả âm lẫn dương. Các quẻ Tốn, Ly, Khôn, Đoài là quẻ âm, thuộc phần âm. Các quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn là quẻ dương thuộc phần dương.]* - trích từ Mai Hoa Dịch Số của Thiệu Khang Tiết do Ông Văn Tùng dịch và chú thích.