PDA

View Full Version : Ba điểm kém và ba việc cần - Trích báo cáo Harvard


thichmactien
07-07-2008, 01:00 PM
Giữa tháng 1/2008, nhóm nghiên cứu kinh tế thuộc chương trình châu Á của Đại học Harvard đã chuyển bản báo cáo chính sách số 1 cho Chính phủ Việt Nam.

Bản báo cáo này đã được giới chuyên môn và các nhà hoạch định chính sách đánh giá cao vì cách tiếp cận thẳng thắn về kinh tế Việt Nam. Và mới đây, nhóm nghiên cứu trên đã đưa ra bản báo cáo số 2, có nhan đề "Vượt qua khủng hoảng và tiếp tục đẩy mạnh cải cách", với những nhận xét mạnh mẽ hơn từ những phân tích chuyên sâu.

Trong báo cáo số 2, nhóm nghiên cứu cho rằng những phản ứng chính sách của Chính phủ trước tình trạng nền kinh tế đang ngày xấu đi vẫn thiếu hiệu lực, thậm chí trong một số trường hợp còn phản tác dụng. Vì vậy, nhóm nghiên cứu khuyến nghị Chính phủ phải hành động mạnh mẽ hơn nữa, giải quyết những khuyết tật có tính cấu trúc của nền kinh tế và đưa ra bản kế hoạch 10 điểm nhằm ổn định và điều chỉnh nền kinh tế.

Ba điểm kém hiệu quả

Các chuyên gia Harvard đã đặc biệt nhấn mạnh đến 3 nguyên nhân sâu xa làm cho hệ thống tài chính Việt Nam dễ bị tổn thương.

Đầu tiên là việc Việt Nam đã quá dễ dãi đối với việc mở ngân hàng mới. Thứ hai là Việt Nam sai lầm trong việc cho phép các tổ chức phi tài chính thành lập ngân hàng. Thứ ba, trong khi cho phép các ngân hàng, công ty chứng khoán và các tổ chức tài chính phi ngân hàng mọc lên như nấm thì Việt Nam lại thất bại trong việc phát triển hệ thống điều tiết, giám sát và cưỡng chế thực sự có sức mạnh.

Không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra các nguyên nhân, tính xây dựng cao của báo cáo thể hiện ở chỗ các chuyên gia tập trung vào những biện pháp ngắn và trung hạn thậm chí biện pháp làm ngay tức khắc.

Về những biện pháp ngắn và trung hạn đòi hỏi thời gian để thực hiện và phát huy tác dụng, nhóm nghiên cứu đưa ra 3 điểm, bao gồm: tái cấu trúc Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Uỷ ban Giám sát tài chính Quốc gia; đẩy nhanh tiến độ thực hiện cam kết WTO để tạo áp lực khuyến khích doanh nghiệp Nhà nước trở nên có tính cạnh tranh hơn; và thực hiện kiểm toán độc lập đối với tất cả các tập đoàn nhà nước.

Cũng với những biện pháp này nhưng kỳ vọng có tác động ngay, nhóm nghiên cứu đưa ra 4 điểm: hợp nhất ngân sách của Chính phủ, bao gồm tất cả các khoản ngoài ngân sách; tăng cường hệ thống giám sát và báo cáo của hệ thống ngân hàng để chấm dứt những tin đồn thổi về tình trạng phá sản của một số ngân hàng; chấm dứt việc Nhà nước bảo lãnh cho các khoản vay của doanh nghiệp Nhà nước; tăng cường vai trò của Uỷ ban Giám sát tài chính Quốc gia.

Ba việc cần làm ngay

Tuy nhiên, trước mắt các chuyên gia cho rằng có ba việc mà các cơ quan làm chính sách nên làm ngay.

Một là, siết chặt chính sách tài khoá. Theo đó, chính sách được đưa ra là xây dựng danh sách các dự án đầu tư công phải cắt giảm căn cứ vào suất sinh lợi kinh tế của chúng. Cắt giảm hay dừng những dự án có suất sinh lời thấp nhất cho đến khi tổng lượng đầu tư cắt giảm đạt mức 1,65 tỷ USD (bằng 2% tổng chi ngân sách dự kiến năm 2008) và nhờ đó giảm thâm hụt ngân sách được 2%.

Chuẩn bị cắt giảm và dừng những dự án khác khi cần thiết. Triển khai chính sách đó nhằm mục tiêu giảm dần thâm hụt ngân sách của Chính phủ tới một mức cẩn trọng theo chuẩn mực quốc tế. Đồng bộ hoá chính sách tài chính và tiền tệ để hạ nhiệt nền kinh tế và qua đó giảm lạm phát.

Mục tiêu tiếp theo là giảm bớt sức ép cho yêu cầu giảm chi thường xuyên trong ngân sách. Cuối cùng là phát đi tín hiệu rõ ràng đối với cộng đồng kinh doanh và công chúng về quyết tâm của Chính phủ trong việc chống lạm phát.

Hai là, tăng dần lãi suất. Việc Ngân hàng Nhà nước huỷ bỏ trần lãi suất huy động và nâng lãi suất cơ bản gần hơn với thực tế của thị trường được đánh giá là một bước đi tích cực. Chính sách áp dụng cho việc tăng lãi suất được các chuyên gia chỉ ra là nâng dần lãi suất cơ bản, làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại nâng dần lãi suất huy động, tiến tới lãi suất thực dương.

Đảm bảo lượng thanh khoản cần thiết cho thị trường liên ngân hàng. Có phương án đối phó với khả năng chạy đua tăng lãi suất của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là giữa những ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ.

Nhờ chính sách này sẽ đạt được mục tiêu giảm nhẹ khó khăn thanh khoản cho các ngân hàng thương mại bằng cách hút tiền trở lại hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, sẽ góp phần giảm áp lực cho chính sách tỷ giá bằng cách khuyến khích doanh nghiệp và người dân giữ tiền đồng. Đồng thời, kiềm chế lạm phát nhờ khuyến khích tiết kiệm và hạn chế tiêu dùng.

Ba là, Ngân hàng Nhà nước phải tuyên bố không thành lập mới ngân hàng thương mại trong nước trong vòng 12 tháng nhằm giảm tăng trưởng tín dụng để làm cơ sở cho giảm lạm phát. Chính sách đó cũng giúp ổn định hệ thống ngân hàng, chuẩn bị cho việc sáp nhập và mua lại các ngân hàng yếu kém, đồng thời giảm gánh nặng cho hệ thống giám sát ngân hàng hiện đang bị quá tải.



Thùy Trang
VnEconomy

thichmactien
07-07-2008, 01:02 PM
Nhóm nghiên cứu của Đại học Harvard có những đánh giá thẳng thắn, nhưng một số kết luận dường như khá chủ quan.


Theo “đơn đặt hàng” của Chính phủ Việt Nam, bản báo cáo thứ hai của nhóm nghiên cứu đã hoàn thành, dưới tiêu đề “Vượt qua khủng hoảng và tiếp tục đẩy mạnh cải cách”.

Bản báo cáo này có nhiều đánh giá, kết luận quan trọng, liên quan đến những vấn đề lớn của nền kinh tế Việt Nam; trong đó, chủ yếu là những bất cập và lo ngại. Nhưng, còn có một số điểm chưa thuyết phục.

Bài viết này thử xét lại một số vấn đề xoay quanh câu chuyện lập ngân hàng mới tại Việt Nam mà bản báo cáo trên đưa ra.

1. Theo bản báo cáo, “hệ thống tài chính của Việt Nam rất dễ bị tổn thương, trong đó ngân hàng hiện là khu vực tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất”. Nhận định này được lý giải từ 3 nguồn gốc, nhưng sự lý giải không được “đặc biệt nhấn mạnh” như ý của các tác giả.

Nguồn gốc thứ nhất và cũng là khẳng định thứ nhất: “Việt Nam đã quá dễ dãi đối việc mở ngân hàng mới”. Một khẳng định quan trọng, nhưng không có bất cứ một thông tin phân tích, lý giải, chứng minh “dễ dãi” như thế nào, cũng có thể vì khuôn khổ hạn chế của một bản báo cáo.

Thay vì lý giải, chứng minh, các tác giả liên hệ sự dễ dãi đó với cuộc khủng hoảng và đổ vỡ ngân hàng tại Indonesia những năm 1980 như một sự cảnh báo; trong đó, phần chú thích lại có thêm những so sánh không đối xứng.

Dễ dãi hay không, cần có sự phản biện của Ngân hàng Nhà nước, người trong cuộc. Còn trên thực tế, cả thập kỷ qua, Việt Nam mới cấp 2 giấy phép lập ngân hàng mới. Đó cũng là kết quả của hàng chục bộ hồ sơ xếp hàng trên bàn Ngân hàng Nhà nước. Trong số đó, có cả những trường hợp gửi công văn kiến nghị xem xét lên Thủ tướng, nhưng hiện vẫn chưa được đáp ứng…

Kinh doanh ngân hàng, pháp luật Việt Nam không cấm. Dễ dãi hay thận trọng thể hiện ở những rào cản trong điều kiện cấp phép. Và khi quy chế thành lập ngân hàng mới ban hành (tháng 6/2007) lập tức đã có sự thanh lọc những nhu cầu từ địa phương, những nhu cầu vốn mỏng…

Theo quy trình, hồ sơ đầy đủ thường mất 3 tháng để xem xét, 6 tháng để quyết định chính thức. Và nay, thời điểm tròn một năm quy chế mới có hiệu lực mà hơn 20 bộ hồ sơ đó mới chỉ có 2 giấy phép chính thức. Đó là sự dễ dãi hay thận trọng? Ở đây, xin nhắc lại đó là hoạt động kinh doanh pháp luật Việt Nam không cấm.

2. Trở lại với so sánh không đối xứng của các tác giả trong chú thích liên hệ với cuộc khủng hoảng và đổ vỡ hệ thống ngân hàng tại Indonesia những năm 1980.

Theo chú thích trong bản báo cáo, tăng trưởng tín dụng trung bình của các ngân hàng tư nhân nhỏ tại Indonesia là trên 40%/năm trong giai đoạn 1988 – 1996, bằng khoảng một nửa tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ ở Việt Nam trong năm 2007.

So sánh trên có vấn đề. Tại sao lại so sánh bình quân của cả một giai đoạn với một năm? Nếu tính bình quân tăng trưởng tín dụng 5 - 6 năm gần nhất của các ngân hàng nhỏ Việt Nam để so sánh đối xứng hơn thì chắc chắn sẽ có một tỷ lệ thấp hơn 40%/năm, thay vì gián tiếp so sánh với khoảng 80% trong năm 2007.

So sánh đó cũng quá khập khiễng khi năm 2007 là một năm đặc biệt của các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ ở Việt Nam, năm của nhiều ngân hàng có sự chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn lên đô thị. Tính chất đặc biệt này ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng tín dụng, khi lên đô thị, họ bước vào một “sân chơi” rộng lớn hơn, cơ hội gia tăng khách hàng, thị phần lớn hơn.

Trong so sánh đó, các tác giả gián tiếp cảnh báo đến khả năng đổ vỡ tương tự tại Việt Nam khi tăng trưởng tín dụng quá nóng. Nhưng trong năm 2008 này, tỷ lệ liên quan đã được Ngân hàng Nhà nước khẳng định chốt ở “trần” 30%; và có thể còn khống chế trong những năm tiếp theo.

Còn nếu xét cả hệ thống, ngoài sự đột biến của năm 2004 và 2007, tăng trưởng tín dụng những năm gần đây ở mức tương đối: năm 2000 là 38,1%, năm 2001 là 21,4%, năm 2002 là 22,2%, năm 2003 là 28,4%, năm 2004 là 41,5%, năm 2005 chỉ là 19,2%, năm 2006 là 21,4%, năm 2007 là 51,39% và năm 2008 chốt tối đa 30%.

3. Một nguồn gốc khiến hệ thống tài chính của Việt Nam rất dễ tổn thương, theo bản báo cáo, là “Việt Nam hiện đang lặp lại sai lầm của nhiều nước đang phát triển trong việc cho phép các tổ chức phi ngân hàng (ví dụ như các tập đoàn) thành lập ngân hàng”.

Khác với nguồn gốc nói trên, ở nguồn gốc và cũng là khẳng định này có diễn giải. Đó là hệ lụy từ “sự biến dạng nghiêm trọng trong việc phân bổ tín dụng khi các tập đoàn sử dụng ngân hàng của mình như những máy rút tiền tự động để cho các công ty thành viên vay, bất kể rủi ro các khoản vay này là như thế nào”.

Không biết khi đưa ra những nhận định trên, các tác giả đã nghiên cứu quy chế cho vay của các ngân hàng thương mại hiện nay hay chưa. Và việc cho rằng các tập đoàn rút tiền ngân hàng cho vay các công ty thành viên “bất kể rủi ro các khoản vay này là như thế nào” có chủ quan không, có phi hoạt động ngân hàng không?

Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, hoạt động cho vay ưu ái “người nhà” bị loại trừ hoặc có những hạn chế nhất định; bởi chính lịch sử ngân hàng Việt Nam đã từng vấp phải những trường hợp đổ vỡ đó, hậu quả vẫn còn dư âm đến ngày nay.

Cụ thể, Mục 1, Điều 19 quy chế trên quy định các tổ chức tín dụng không được cho vay đối với khách hàng là thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của mình; các cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay; và ngay cả bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên nói trên…

Còn theo Điều 20 của Quy chế, tổ chức tín dụng không được “ưu ái” cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với các cổ đông lớn của mình; các doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.

Ngoài ra, chính các ngân hàng phải tuân thủ yêu cầu thẩm định cho vay, hạn mức, thời hạn cho vay… theo quy định đối với các khách hàng nói chung (ngoại trừ các trường hợp đặc biệt được sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước).

Tất nhiên, trong khuôn khổ của một bản báo cáo, nhóm nghiên cứu của Đại học Harvard khó lòng lý giải và phân tích chi tiết các trường hợp và khẳng định của mình. Nhưng, những vấn đề nêu trên đều có tầm quan trọng và ảnh hưởng nhất định đối với dư luận, nhà đầu tư, khi mà thời điểm này giới hạn thời gian hạn chế phổ biến của bản báo cáo đã kết thúc.

Minh Đức
VnEconomy

huongktl
08-07-2008, 08:32 PM
hị hị, báo cáo thứ 2 có ở đây ạ: http://www.viet-studies.info/kinhte...dy_BaoCao_2.pdf (http://www.viet-studies.info/kinhte/VN_Kennedy_BaoCao_2.pdf)

dqtrang
09-07-2008, 11:59 AM
"Trung ngôn thích nhĩ ". Lời nói thật thì lúc nào cũng như đấm vào tai.

huongktl
09-07-2008, 02:17 PM
"Trung ngôn thích nhĩ ". Lời nói thật thì lúc nào cũng như đấm vào tai.

Hình như cái bài của Minh Đức này bị gỡ sau khi đưa lên trang VNeconomy hay sao ấy.
Ý kiến cá nhân em: 3 ý bác này viết còn tệ hơn những gì bác ấy hàm ý chỉ bài báo cáo của Havard.
Chỉ riêng về ý thành lập Ngân hàng: em thấy bác ấy viết như phát ngôn viên của Ngân hàng Nhà nước ấy. Hị hị, ngay cả phần này của bác ấy, dân đen như em cũng có thể vạch thêm vài cái rủi ro trong quản lý ngân hàng của Việt Nam nữa.
Ôi dào, quan trọng là chính phủ có biện pháp gì, bài báo cáo này cũng chỉ là tài liệu tham khảo cho chính phủ thôi mà. Chính phủ làm gì, hành động gì mới quan trọng.

dungkq
09-07-2008, 03:25 PM
"Trung ngôn thích nhĩ ". Lời nói thật thì lúc nào cũng như đấm vào tai.
bạn phát biểu như báo cáo Havard.

blackhole
09-07-2008, 09:24 PM
bạn phát biểu như báo cáo Havard.
Không hiểu câu nói này của bác dungkq. Bác có thể giải thích rỏ được không?

huongktl
11-07-2008, 12:52 PM
<TABLE cellSpacing=3 cellPadding=2 width="100%" border=0><TBODY><TR><TD class=tintop_title vAlign=top align=left>Việt Nam phải sống với hệ quả quyết định của mình</TD></TR><TR><TD class=diadiem vAlign=top align=left height=20>10/07/2008 08:31 (GMT + 7)</TD></TR><TR><TD class=text vAlign=top align=left>Giải pháp nâng lãi suất chỉ phát huy tác dụng trong những nền kinh tế thị trường đầy đủ. VN chưa phải là nền kinh tế ấy. Trong một số trường hợp, Chính phủ cần lắng nghe các ý kiến đa chiều, cần chỉ đạo trực tiếp, cần biết nói không với những dự án đầu tư không hiệu quả... Đó là nhận định của Giáo sư Dwight Perkins, Chủ nhiệm chương trình Việt Nam, ĐH Harvard. </TD></TR><TR><TD class=text vAlign=top align=left width="100%" height="100%">>> Việt Nam không lỡ cơ hội nhưng bị chậm bước phát triển (http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/4170/index.aspx)
>> Tập đoàn nhà nước và cỗ xe kinh tế Việt Nam (http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/4162/index.aspx)
>> Việt Nam cần chắc "mũi nhọn" của mình nhọn thật! (http://www.tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/4182/index.aspx)

<TABLE style="WIDTH: 200px" align=right><TBODY><TR><TD>http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/68/2008/07/Dwight%20Perkins.jpg</TD></TR><TR><TD>Giáo sư Dwight Perkin
</TD></TR></TBODY></TABLE>Giáo sư Dwight Perkins là chuyên gia hàng đầu của Mỹ về Đông Á, là đồng tác giả của 19 cuốn sách và nhiều bài viết về lịch sử kinh tế, phát triển kinh tế, đặc biệt về Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có nhiều phân tích sâu sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường.

Ông cũng từng tham vấn chính sách cho nhiều nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Papua New Guinea và là nhà tư vấn cho Ngân hàng Thế giới, quỹ Ford, cùng nhiều tổ chức của Mỹ.
Cơ chế lắng nghe đa chiều để có chính sách tốt
- Trong bối cảnh kinh tế VN gặp khó khăn, Chính phủ đã chủ động gặp gỡ và lắng nghe các ý kiến từ bên ngoài, trong đó có nhóm Harvard. Ông nhìn nhận ra sao?
Luôn là đúng đắn khi các chính phủ hướng ra bên ngoài và đón lấy các ý tưởng. Điều này đúng đối với chính quyền Mỹ cũng như với chính phủ VN.


Điều này tốt hơn việc bạn chỉ nghe ý kiến của người bên trong, mà đa phần những người này thường lạc trong một số quan điểm nhất định. Đôi khi quan điểm đó đúng, nhưng cũng có khi quan điểm đó là sai. Trong trường hợp thứ hai, lắng nghe bên ngoài là cách để bứt phá ra khỏi con đường đó.
Tất nhiên, những người bên trong thường biết nhiều tình hình cụ thể hơn, nhưng họ cũng có lợi ích riêng của mình. Lợi ích đó đóng đinh họ với những gì họ nói và làm.
Lắng nghe bên ngoài là cách bạn lùi lại đằng sau để nhìn về chính sách và các bước đi.
<TABLE id=table2 style="WIDTH: 200px" align=left><TBODY><TR><TD style="FONT-SIZE: 9pt; FONT-FAMILY: Arial, Verdana, Helvetica, sans-serif">http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/68/2008/07/decision-making.jpg</TD></TR><TR><TD style="FONT-SIZE: 9pt; FONT-FAMILY: Arial, Verdana, Helvetica, sans-serif">"Công việc của các bạn là lắng nghe các ý kiến, và đưa ra quyết định. VN phải sống với hệ quả của quyết định đó"
</TD></TR></TBODY></TABLE>Ví dụ với nước Mỹ, Ngân hàng Trung ương Mỹ, tức FED, có quyền đưa ra các chính sách tiền tệ và tăng trưởng tín dụng, nhưng những người đứng đầu ngân hàng không bao giờ chỉ nhìn vào các con số báo cáo. Họ thường ra ngoài, lắng nghe các kinh tế gia nói.
Về mặt cá nhân, người đứng đầu các ngân hàng Mỹ rất thông minh, nhưng cũng có thể có điểm họ chưa nghĩ tới. Đó là lý do họ đi ra ngoài và tìm kiếm các ý tưởng, góc nhìn từ người khác để có bức tranh rõ ràng.
Những ý kiến bên ngoài không phải lúc nào cũng đúng, thậm chí là sai; và quan trọng hơn, những nhóm khác nhau thường có quan điểm trái ngược nhau. Nhưng càng nhiều ý kiến bên ngoài, tình hình càng có cơ tốt đẹp hơn bởi bạn được tiếp cận gần hơn với bức tranh thực.
Ngay cả khi là chuyên gia về các thông số, bạn cũng cần có những chuyên gia bên ngoài phân tích các thông số ấy và kiểm chứng nó. Ở Mỹ, chính phủ thường đưa ra các dự đoán về tương lai kinh tế. Nhưng chính phủ lại được lãnh đạo bởi các chính trị gia, những người muốn được bỏ phiếu bầu. Do đó, điều đương nhiên là họ muốn có những con số đẹp, những thông số tốt về bức tranh kinh tế - xã hội dù có thể thực tế dự báo không tốt như vậy.

Vì thế, cũng là dễ hiểu khi người ta không chú ý vào các dự báo của chính phủ mà quan tâm hơn tới các dự báo của bên ngoài.
Với VN, các bạn cần có một cơ chế lắng nghe đa chiều như vậy để đảm bảo có được những chính sách kinh tế tốt.
VN phải sống với hệ quả quyết định của mình
- Vừa qua, Harvard cũng đã gửi tới Chính phủ VN hai bản báo cáo về kinh tế VN. Cho tới thời điểm này, phản hồi từ phía Chính phủ như thế nào?

Công việc của Chính phủ VN không phải là phản hồi lại với chúng tôi, rằng họ đồng ý hay không. Chúng tôi quan sát tình hình và đưa ra phân tích, nhận định, quan điểm của mình và gửi tới Chính phủ.
Chúng tôi là một trong những nhóm đưa ra các quan điểm, góc nhìn; ý kiến đó hoặc đúng hoặc sai, và trách nhiệm thuộc về Chính phủ, không phải chúng tôi.
Công việc của các bạn là lắng nghe các ý kiến, và đưa ra quyết định. VN phải sống với hệ quả của quyết định đó, chúng tôi thì không.
Giải pháp thị trường cho nền kinh tế thị trường cạnh tranh
- Là người ở bên ngoài nhưng hiểu VN khá rõ, ông có thể nói cụ thể hơn các vấn đề mà nền kinh tế VN đang gặp phải?
Tình hình kinh tế VN khác xa so với thời điểm năm 1989-1991 khi tôi bắt đầu nghiên cứu về VN. Thời điểm đó, VN bắt đầu thay đổi hoàn toàn cách thức hoạt động của cả nền kinh tế, từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường. Đến thời điểm này, vấn đề của VN cần tập trung là làm thế nào quản lý được nền kinh tế thị trường hiệu quả.
<TABLE align=center><TBODY><TR><TD>http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2008/07/bentau-ibiblio-org.jpg</TD></TR><TR><TD>Càng có nhiều ý kiến bên ngoài, bạn càng có cơ hội tiếp cận
với bức tranh thực - Nguồn: ibiblio.org
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Bản chất của khủng hoảng những năm đầu thập niên 1990 hoàn toàn khác với thời điểm này, do khủng hoảng thời đó chịu tác động từ sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Đông Âu và lạm phát cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên, hiện nay, VN cũng gặp một số vấn đề nghiêm trọng đã từng xuất hiện ở thời điểm đó: lạm phát cao và thâm hụt thương mại lớn.
Các bạn phải đưa thâm hụt thương mại và lạm phát xuống. Hai mục tiêu đó riêng rẽ và cần hai biện pháp khác nhau để giải quyết.
Vào thời điểm này, VN là một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, do đó các giải pháp đưa ra phải là các giải pháp thị trường.
- Giải pháp nào cho VN, thưa ông?
Với thâm hụt thương mại, các bạn cần cắt giảm chi tiêu. Theo tôi biết, VN quyết tâm cắt giảm chi tiêu công, đặc biệt là với các tập đoàn lớn.
Các bạn cũng có thể hạ giá tiền đồng để tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu. Một vấn đề với giải pháp này là nó có xu hướng làm tăng lạm phát.
Bạn không thể chỉ giảm giá tiền đồng mà cách thức tốt hơn là cắt giảm chi tiêu, với số lượng lớn. Giải pháp cắt chi tiêu cũng giúp giảm lạm phát.
Vấn đề đặt ra là bạn sẽ cắt giảm chi tiêu như thế nào? Trong một nền kinh tế thị trường đầy đủ, bạn chỉ cần đẩy lãi suất lên. Tôi không nghĩ VN đã là một nền kinh tế thị trường đầy đủ, cũng giống như Trung Quốc vậy. Trung Quốc đã phải hạn chế việc các ngân hàng cho vay tiền bằng cách yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng, và hệ quả là các ngân hàng không thể cho vay thêm.
Tôi không biết đầy đủ chi tiết về tình hình các ngân hàng VN vào thời điểm này để nói câu trả lời chính xác cho vấn đề của VN là gì. Nhưng những quyết định mạnh mẽ về cắt giảm chi tiêu cần phải được đưa ra và thực hiện sớm.
Mối hiểm nguy trước mặt
- Trong giải pháp 8 điểm của Chính phủ đưa ra, việc cắt giảm chi tiêu công cũng được xem là một vấn đề ưu tiên, tuy nhiên, đến thời điểm này cũng chưa được thực hiện đầy đủ...

<TABLE id=table3 style="WIDTH: 200px" align=right><TBODY><TR><TD style="FONT-SIZE: 9pt; FONT-FAMILY: Arial, Verdana, Helvetica, sans-serif">http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/68/2008/07/nguoivienxu.jpg</TD></TR><TR><TD style="FONT-SIZE: 9pt; FONT-FAMILY: Arial, Verdana, Helvetica, sans-serif">Nhiều bài học tồi tệ mà VN có thể nhìn vào để thấy điều gì sẽ xảy ra nếu VN không làm gì cả.
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Về nguyên tắc, con số cắt giảm phải rất lớn, vần đề là làm thế nào để cắt mà không làm tổn hại tới những khu vực, vấn đề cần được triển khai? Cần nhiều đầu tư tốt. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều DN đầu tư không hiệu quả. Làm thế nào các bạn có thể kiểm soát được tình hình này?

Đối với các tập đoàn lớn của nhà nước, Chính phủ có sự chỉ đạo trực tiếp. Vấn đề chỉ còn là Chính phủ có trực tiếp yêu cầu hay không.
Với tôi thì rất dễ trả lời, vì tôi không có những ràng buộc và trách nhiệm, không phải chính trị gia hay người dân VN. Chính các bạn phải chỉ ra điều gì cần làm để đạt kết quả tốt nhất.
- VN có thể học hỏi kinh nghiệm gì từ các nước?
Có rất nhiều bài học tồi tệ mà VN có thể nhìn vào để thấy điều gì sẽ xảy ra nếu không làm gì cả. Nếu các bạn không làm gì khác, sẽ tiếp tục có những dự án đầu tư tồi. Đó sẽ là một vấn đề nghiêm trọng ngay cả khi thâm hụt thương mại không lớn. Hãy nhìn vào những gì Indonesia, Hàn Quốc đã làm.
Hàn Quốc là một ví dụ điển hình. Trong những năm 1996 - 1997, nước này có nhiều DN tư nhân, đồng thời có những tập đoàn rất lớn. Các tập đoàn có mối liên hệ rất gần gũi, chặt chẽ với chính phủ, thường xuyên đề nghị chính phủ bảo vệ. Họ đầu tư vào mọi lĩnh vực ngay cả khi không biết gì về lĩnh vực đó. Việc này góp phần làm thâm hụt thương mại lớn và đầu tư xấu. Họ chi rất nhiều để trả các khoản vay nợ nước ngoài, và tất nhiên quản lý kinh tế vĩ mô yếu, dự trữ ngoại hối về gần với mức 0.
Kết quả là khi chính phủ phát hiện ra mình không còn dự trữ ngoại hối, còn các tập đoàn bị các ngân hàng của Nhật Bản, Mỹ, châu Âu từ chối không cho vay và yêu cầu trả nợ, trả những khoản vay ngắn hạn, thì các tập đoàn phải tự mình trả nợ. Theo cách thông thường, họ tìm đến ngân hàng Hàn Quốc và đề nghị cho vay nợ để trả nợ. Chính phủ và các ngân hàng Hàn Quốc đều từ chối cấp tiền. Vậy là các tập đoàn không thể trả nợ. Tất cả đều bị phá sản.
Những kịch bản như vậy có thể xảy ra nếu bạn không kiểm soát chặt tình hình.
Tôi không nói rằng VN sẽ lâm vào tình thế này nhưng tôi muốn lưu ý mối nguy hiểm của việc đảm bảo rằng tình hình được kiểm soát, để các tập đoàn kinh tế không rơi vào tình thế tương tự.
Chính phủ cần biết nói "không"
- Mô hình hay cách thức VN có thể áp dụng trong cắt giảm chi tiêu là gì?
Cách thức duy nhất VN có thể áp dụng để cắt giảm chi tiêu là kiểm soát trực tiếp với những dự án mà VN đang tiến hành, nói rằng "Các anh phải dừng dự án lại!".
Đây có vẻ không phải là cách hành xử kiểu thị trường, nhưng rất nhiều dự án lớn kém hiệu quả là của các DNNN với chi tiêu lớn. Và giải pháp thực tế duy nhất là chấm dứt nó.
Chính phủ có quyền nói không đối với các dự án kiểu này, cũng như với các DNNN, tập đoàn nếu Chính phủ thực sự muốn làm.

Phương Loan (thực hiện)
</TD></TR></TBODY></TABLE>