View Full Version : ĐÔNG A KIẾM KHÁCH BÌNH MÔNG. Tác Giả Trần Đại
DaoKy
29-07-2004, 07:28 PM
ANH HÙNG ĐÔNG A - DỰNG CỜ BÌNH MÔNG
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ
Từ rừng núi miền Đông Hoa kỳ xa xôi... nói về tổ tiên anh hùng.
Nhìn người trẻ hôm nay, mà hy vọng ngày mai.
Câu chuyện bắt đầu vào lúc hoàng hôn ngày 31 tháng 8 năm 1996, tại một căn
nhà bằng gỗ nằm trong rừng, ngoại ô thành phố Louisville, tiểu bang Tennesse,
Đông Nam Hoa kỳ. Căn nhà này là một trong hơn trăm trại được dùng làm trại
hè Về nguồn, mang tên thánh Gióng tức Phù Đổng thiên vương. Đây là khu
rừng, mà người ta đã khử cỏ độc, làm đường đi, dựng trại bằng gỗ thô sơ; lại bắt
điện, ống dẫn nước, hơi đốt, điện thoại... để cho những người thích sống với
thiên nhiên, có nơi nghỉ ngơi.
Ngồi xung quanh tôi, gồm mười tám người, lớn nhất ba mươi mốt tuổi, nhỏ nhất
mười bảy tuổi. Họ là một nhóm nhỏ trong số 450 người trẻ Việt, từ 11 tiểu bang
tụ về. Có người gọi tôi là thầy, có người gọi tôi là bác. Trong gần năm trăm
người trẻ ấy, hầu như họ đều là tinh hoa của tộc Việt trên đất Hoa kỳ. Trình độ
cao nhất Ph.D, bác sĩ y khoa, dược sĩ, trình độ thấp nhất là năm cuối cùng bậc
trung học. Dưới con mắt tôi, tương lai, một số trong những người này sẽ là tinh
hoa của Hoa kỳ, và biết đâu lại có những tinh hoa nhân loại? Chỉ gặp nhau có
mấy ngày, mà tình yêu giữa tôi và họ nảy sinh. Nói truyện với họ, tôi không
phải giữ gìn, ý tứ. Họ nói với tôi như nói với cha, với anh. Tôi yêu họ như đức
Thích Ca, như chúa Giê su, như Khổng tử yêu đệ tử. Họ kính tôi như người trên
trong gia tộc. Giữa chúng tôi: Người lớn tuổi muốn đem tất cả hiểu biết của mình
cho người trẻ. Người trẻ muốn tìm ở người đi trước những gì mình chưa có hay
không có.
Những người trẻ ấy: Họ tuy sinh ở đất Việt, hưởng thụ văn hóa Việt, nói tiếng
Việt; nhưng hoàn cảnh đưa họ vào một cuộc sống mới, nói một ngôn ngữ mới,
hưởng một nền giáo dục mới, hành động trong một văn hóa mới. Họ tụ hội nhau
bốn ngày, để nối thâm tình trong nguồn gốc con Rồng, cháu Tiên; để tìm hiểu
thêm về nguồn gốc mình: để biết thêm về năm ngàn năm văn hóa của tộc Việt.
Tôi là người khách duy nhất đến từ Paris. Khác với họ, tôi đã trải qua tất cả
những thăng trầm lịch sử tộc Việt trong năm mươi năm dài mà đất nước rung
động. Qua mấy chục năm nghiên cứu lịch sử, tôi ngẫm ra rằng, tinh hoa của các
vĩ nhân Việt hầu như đều phát tiết từ thời còn trẻ; tình yêu dân tộc, tình yêu đất
nước đều biểu hiện ra rất sớm. Tôi nhìn những người trẻ xung quanh tôi với
những hy vọng...ước vọng...Tất cả các trại viên đều lễ độ với người lớn, dĩ
nhiên với tôi. Họ gọi tôi bằng bác, hoặc bằng thầy.
Một người hỏi tôi:
— Thưa thầy, tại sao thầy lại dùng danh từ Tiêu sơn để chỉ triều Lý, và danh từ
Đông-a để chỉ triều Trần?
— Huyền sử nói rằng, nhờ ngôi mộ ông thân sinh ra vua Lý Thái tổ táng vào
thế đất linh ở núi Tiêu sơn, mà họ Lý làm vua trong hơn hai trăm năm. Vì vậy
các văn gia thường dùng chữ Tiêu sơn để chỉ triều Lý, để chỉ thời gian họ Lý
làm vua. Cũng tương tự, người ta dùng chữ Đông-a để chỉ triều Trần, thời gian
họ Trần làm vua; vì trong Hán tự, đông với chữ a ghép lại thành chữ Trần.
Một người khác hỏi tôi:
— Cháu đã đọc bộ Nam quốc sơn hà của bác, thuật chiến công hiển hách nhất
của tộc Việt; ban nãy bác nói rằng, sau giai đoạn cực thịnh này, thì triều Lý sẽ
tàn và triều Trần bắt đầu. Thưa bác, ai đã làm cho triều Lý suy tàn, và suy tàn
từ bao giờ?
Tôi nhắm mắt lại để nhớ những gì đã đọc, rồi khoan thai kể …
HỒI THỨ NHẤT
Thiên mệnh an bài
Kể chuyện xưa, như tấm gương cho tuổi trẻ
******
Trời trấn Thiên trường, vào tiết tháng chạp, đang mưa phùn, gió bấc, lạnh buốt,
cái lạnh xé da, cắt thịt; tự nhiên mây quang, mưa tạnh, nắng chói chang, ấm áp.
Dân chúng đổ xô ra đường, người người chen nhau; xe, ngựa tấp nập, để sắm
tết.
Từ trong một trang trại lớn, ba người đàn ông, một già, hai trung niên khoan thai
rảo bước, ngắm nhìn dân chúng. Mỗi người dân gặp ba người đều cung cung,
kính kính chắp tay chào:
— Kính chào Trần lão, nhị thiếu tiên sinh.
— Thưa ba tiên sinh.
— Kính cụ ạ! Kính hai ông ạ.
Ba người cứ phải luôn luôn đáp lễ. Có người ba vị chỉ chào lại rồi đi. Cũng có
người, ba vị hỏi thăm đôi điều:
— Thế nào cụ lễ Ôn, vụ mùa năm nay mấy mẫu nếp của cụ trúng to. Cụ vui
lòng chứ?
— Đa tạ Trần lão tiên sinh. Nhờ lão tiên sinh cho mượn không mười công trâu
cùng cho tiền mua mấy chục gánh phân, nên mới trúng mùa, mà trong nhà tôi
có đồng ra đồng vào.
— Ông hương Hoạt, nghe nói mấy trăm chậu quất của ông năm nay đều kết trái
sai lắm phải không? Tết đến nơi rồi, đã bán hết chưa?
— Đa tạ Trần nhị tiên sinh. Nhờ Trần nhị phu nhân dạy cho cách tỉa cành, bón
phân, mà năm nay tôi được mùa quất.
Đó là ba cha con. Người cha tên Tự Kinh, chưởng môn nhân phái Đông-a, một
phái võ người đông, thế mạnh bậc nhất Đại Việt. Năm nay, ông đã đi vào tuổi
bẩy mươi nhưng nhờ nhiều đời tiền nhân luyện tập võ nghệ nên ông vẫn còn
khỏe mạnh như thời trai tráng, tinh thần linh mẫn. Hai người con của ông, một
người tên Trần Tự Hấp, một người tên Trần Tự Duy, cả hai tuổi xấp xỉ ba mươi.
Tự Hấp, Tự Duy đều thành hôn với sư muội đồng môn.
Tự Hấp cùng vợ tên Anh Hoa, là sư huynh sư đệ đồng môn; thường hành hiệp
giúp đời, nay đây, mai đó, ít khi có nhà. Còn Tự Duy với vợ là Lưu Kim Huệ thì
ở nhà giúp đỡ cha điều hành môn phái, phụng dưỡng song thân. Nay nhân cuối
năm, Tự Hấp cùng vợ được thư cha gọi về quê khẩn cấp để ăn tết, và họp môn
phái, quyết định một việc tối quan trọng. Nơi họp, như thường lệ, là chiếc du
thuyền của môn phái đậu trên bến Vỵ hoàng.
Cũng như các buổi họp khác, môn phái bao giờ cũng giữ bí mật, chư đệ tử âm
thầm từ các nơi tề tựu tại du thuyền trước, rồi cha con Tự Kinh rủ nhau xuống
sau, giả đi một vòng phạm vi của môn phái, thăm dân cho biết sự tình.
Nguyên sáng tổ của phái Đông-a xuất thân là một chú bé thợ săn mồ côi ở núi
Tiêu sơn, thuộc lộ Kinh Bắc tên Trần Tự Viễn. Chú thợ săn mồ côi ấy, vô tình
học được Thiền công chính tông từ ngài Pháp Hiền rồi nhân bắt chước những
thế vồ của hổ, mà chế ra hổ quyền; nhân xem chim ưng bắt rắn, rắn chống lại,
mà chế ra Ưng xà quyền... cùng các chiêu thức, mà trở thành tổ sư của ngoại
công phái Tiêu sơn. Sau đó, ông di về Thiên trường lập ra phái Đông-a. Vì vậy
võ lâm Đại Việt mới nói: Nội công phái Đông-a xuất ra từ phái Tiêu sơn, ngoại
công phái Tiêu sơn phát ra từ phái Đông-a. Trong suốt bao nhiêu năm, phái
Đông-a bao giờ cũng phải nhường bước cho phái Tiêu sơn, là nơi phát xuất của
vua Lê Đại Hành, vua Lý Thái tổ. Trải 700 năm, đến đầu thời Lý (1010 - 1077)
thì trong phái nảy ra một thiên tài võ học lỗi lạc là Trần Tự An; ông đã đào tạo
ra những đại cao thủ làm lên sự nghiệp kinh thiên động địa như: Thiên trường
ngũ kiệt; Côi sơn tam anh; Khai Quốc Minh từ, Anh văn, Linh cảm quốc mẫu
Thanh Mai; Mộc tồn vọng thê hòa thượng Thông Mai; Kinh Nam vương Tự Mai.
Từ đấy phái Đông-a trở thành Thái sơn Bắc đẩu Lĩnh Nam cho đến nay.
Kể từ sau cuộc kháng Tống, mỗi khi bổ nhiệm quan lại trong khu vực Nam
Thăng long, cho tới cố đô Trường yên, bao giờ triều đình cũng cử những đệ tử
của phái Đông-a. Trong vùng này, phái Đông-a tổ chức cai trị dân chúng như
một quốc gia riêng: Thuế nhẹ, không có nạn cường hào, không có tệ tham. Vì
vậy, dân chúng các nơi tụ về ngày càng đông, hóa cho nên trải 80 năm, phạm
vi ảnh hưởng của phái này cực rộng.
Tới bờ sông, ba cha con xuống du thuyền lớn đang đậu ở đó, trên mũi thuyền có
chữ Đông-a thực lớn. Nhìn cột buồm treo lá cờ thêu hình con chim ưng xòe cánh
bay giữa đám mây, Tự Hấp nói với em:
— Này chú hai, vùng Thiên trường này nhờ thế lực của phái Đông-a nhà mình,
mà có an ninh, quan lại không dám nhũng lạm, cho nên dân chúng sung túc, ấm
no. Chứ các vùng khác thì dân khổ cơ hồ muốn sống không nổi, muốn chết
cũng không xong. Nào quan lại tham ô, nào cường hào áp chế, nào trộm cướp
như rươi. Bởi vậy có nhiều thuyền buôn họ cũng thêu cờ có hình chim ưng của
nhà mình, rồi kéo lên để dọa bọn trộm cướp.
Tự Duy hỏi:
— Thế họ có bị chúng khám phá ra không?
— Hồi đầu chúng tưởng thực, mỗi khi chúng thấy kỳ hiệu của mình thì tránh xa.
Nhưng vì có những người mạo danh vụng về, để cho một vài bọn cướp biết,
chúng chém giết tàn nhẫn vô cùng. Chính vì vậy, có lần anh đi trên thuyền, cho
kéo kỳ hiệu lên, chúng tưởng rằng giả, chúng định đánh cướp.
Tự Duy bật cười:
— Vậy anh chị có giết chúng không?
— Khi thấy chúng hối lỗi van xin, anh tha cho chúng. Nhưng chị đánh cho mỗi
tên một chiêu Bức mạch, rồi hẹn chúng phải mua hai nghìn đấu gạo phát cho
người nghèo, bấy giờ chị mới giải Bức mạch nội lực cho.
Ba cha con xuống thuyền. Đây là một con thuyền lớn, thời bấy giờ gọi là thuyền
đinh.
Thuyền đinh thới Lý thường dài khoảng bốn trượng đến mười trượng (8 m tới 20
m) Thuyền có ba tầng, tầng thấp nhất là đáy thuyền, chia làm nhiều khoang,
các khoang ngăn cách nhau bằng những vách gỗ kiên cố, mục đích để lỡ
thuyền bị thủng, nước chỉ tràn vào ngăn vỡ mà thôi. Mỗi khoang đều có cửa sổ
để tát nước. Những khoang này dùng để chứa các chum (lu) đựng nước ngọt khi
vượt biển, hoặc lương thực, than, củi đun. Tầng giữa chia làm hai ba phòng khác
nhau, đây là nơi sinh hoạt chính của người đi thuyền. Tầng trên cùng, thực ra chỉ
là cái chòi cho thuyền trưởng, tài công lái thuyền. Thuyền có nhiều phu chèo.
Phu chèo ngồi trên sàn. Nhưng đa số những di chuyển của thuyền đều dùng sức
gió đẩy vào buồm.
Con thuyền đinh của chưởng môn nhân phái Đông-a thì không dùng thuyền phu,
đầu bếp, tài công, tỳ nữ là người ngoài. Tất cả các công việc trên du thuyền
này đều là đệ tử trong môn phái đảm trách.
Viên thuyền trưởng tên Tô Trung Sách tuổi còn trẻ, y mở cửa thuyền cúi rạp
người xuống:
— Xin kính thỉnh sư phụ, nhị vị sư huynh.
Tự Hấp vỗ vai y:
— Tô tiểu sư đệ, hồi này dung quang chú khác thường quá. Anh thực là đoảng,
năm trước chú cưới vợ đúng lúc anh đang ở Trung nguyên, thành ra không dự
được. Hôm nay anh phải uống với chú mười chung để chuộc lỗi.
— Đa tạ sư huynh. Năm trước tuy sư huynh không về, nhưng sư tỷ cũng gửi cho
đệ đôi vòng bích ngọc. Vợ đệ thích lắm.
Ba cha con theo sự hướng dẫn của Trung Sách vào trong khoang thuyền chính.
Trong khoang đã có năm nam, hai nữ ngồi đó từ bao giờ. Cả bẩy người đều
đứng dậy cung tay:
— Tham kiến sư phụ.
Tự Kinh vẫy tay:
— Các con ngồi xuống đi, miễn lễ.
Tự Kinh có hai con trai là Tự Hấp, Tự Duy, và năm nam đệ tử, hai nữ đệ tử.
Hai nữ đệ tử chính là vợ của Tự Hấp, Tự Duy.
Tự Kinh với hai con trai, hai con dâu, năm đệ tử cùng ngồi quanh cái án thư lớn.
Trung Sách gọi tỳ nữ đem hoa quả ra, cùng pha trà. Tự Kinh chỉ chiếc ghế cuối
bàn cho Trung Sách:
— Con ngồi đó đi. Con tuy là đệ tử út của ta, nhưng năm nay tuổi đã trên ba
mươi, thì mọi truyện trong môn phái con cũng phải tham dự để biết.
— Đa tạ sư phụ.
Tự Kinh thấy trong khoang thuyền có năm nữ tỳ, mặt ông hơi cau lại hỏi Tự
Duy:
— Con! Hồi đầu tháng mười một, bố đã dặn con rằng : Tất cả lực điền, bộc
phụ, tỳ nữ, mã phu trong trang, con cho họ về quê nghỉ ăn tết từ rằm tháng
chạp, tới rằm tháng giêng. Bố cũng nhắc nhở rằng trong dịp này con vẫn phát
lương cho họ đầy đủ, tặng thêm cho một tháng lương; đặc biệt cấp thêm ít tiền đi
đường, cùng cho mỗi người ít đấu gạo nếp tía là sản phẩm đặc biệt của Thiên
trường. Nay sao trong thuyền này còn tới năm tỳ nữ?
— Thưa bố, năm con bé này không phải là tỳ nữ bình thường. Nguyên nhà
chúng nghèo, bị bán làm tỳ thiếp cho bọn khách thương. Bọn khách thương định
đem về Trung nguyên làm kỹ nữ. May mắn thay, dọc đường gặp anh chị Tự
Hấp giải thoát rồi cho về với gia đình. Nhưng năm con bé này không dám về,
sợ bọn khách thương kiện cáo với quan nha bắt bớ bố mẹ chúng. Anh chị mới
gửi chúng về ẩn tại trang nhà mình. Do vậy tuy tết đến, chúng nhớ nhà nhưng
cũng không dám về.
— Các con hành xử như thế thì đúng với hiệp nghĩa, nhưng không đủ đức nhân.
Anh em Tự Hấp, Tự Duy cùng đứng dậy cung tay:
— Chúng con xin nghe lời giáo huấn của phụ thuân.
— Này Tự Hấp con! Tự hậu, nếu con gặp trường hợp tương tự, sau khi ra oai
cho bọn khách thương rồi, thì con phải hỏi xem chúng mua người mất bao nhiêu
tiền? Con bồi hoàn cho chúng, rồi đưa bọn con gái khốn nạn này về với cha mẹ.
Như vậy, có phải mình vừa có cái hiệp, vừa có cái nhân không?
— Dạ, con xin ghi lời dạy dỗ của phụ thân.
Ông gọi năm tỳ nữ:
— Các con lại đây!
Năm tỳ nữ cung kính chắp tay đứng trước Tự Kinh. Ông chỉ vào cái ghế dài:
— Các con ngồi đó đi.
Ông ôn tồn hỏi:
— Tết đến nơi rồi, các con có nhớ nhà không?
Lập tức mắt cả năm đứa đều ênh ếch những nước như muốn khóc:
— Thưa lão gia chúng con đều nhớ nhà, nhưng muôn ngàn lần chúng con không
dám về thăm cha mẹ. Vì sau khi tiểu lão gia cứu chúng con ra, bọn khách
thương vu vạ rằng chúng con bỏ trốn rồi thưa lên quan. Trong khi đó thì bố mẹ
chúng con lại thưa rằng chúng đem bọn con về Trung nguyên. Cho nên quan
nha đang truy lùng bọn con dữ lắm. Nếu như bây giờ bọn con trở về thăm nhà,
thì bố mẹ chúng con bị lôi thôi to.
Dù là chưởng môn nhân một môn phái nức tiếng Hoa-Việt, dù từng hành hiệp
trên năm mươi năm, Tự Kinh rơm rớm nước mắt bảo vợ chồng Tự Hấp :
— Tự Hấp, Anh Hoa! Bố thấy năm trẻ này khuôn mặt thanh tú, lại lâm cảnh
khốn nạn. Các con nên nhận chúng làm con nuôi, rồi gắng công dạy dỗ chúng,
sau đó ta kiếm chỗ gả chồng cho chúng, chẳng là điều nhân ư?
Tự Hấp, Anh Hoa cúi đầu:
— Chúng con xin tuân lời phụ thân.
Năm tỳ nữ nghe cha con Tự Kinh đối thoại thì mừng chi siết kể. Bởi danh tiếng
phái Đông-a cực lớn, chỉ cần được làm người dân trong trang thôi, thì một là
không có nhà sẽ được cấp nhà, hai là không có ruộng sẽ được cấp ruộng, ba là
không bao giờ bị cường hào ác bá ức hiếp, bốn là không bao giờ bị quan lại
nhũng lạm. Bây giờ được làm con nuôi của con cả chưởng môn, bỗng chốc trở
thành một đại tiểu thư, thì đến nằm mơ chúng cũng không tưởng tượng nổi.
Năm người đến trước Tự Kinh quỳ gối lạy bốn lạy:
— Nội tổ.
Lại lạy vợ chồng Tự Hấp:
— Nghĩa phụ, nghĩa mẫu.
Tự Kinh vuốt tóc năm thiếu nữ:
— Các cháu ơi! Tại sao các cháu lại dùng tiếng Nội tổ, Nghĩa phụ, Nghĩa mẫu
mà không dùng tiếng Ông nội, bố mẹ? Lại nữa, con thì là con, chứ không có cái
việc phân chia con đẻ, con nuôi. Vậy thì cũng không còn cái gì là nghĩa phụ,
nghĩa mẫu nữa.
Năm thiếu nữ hành bốn lễ với vợ chồng Tự Duy:
— Chúng cháu ra mắt chú thím.
Anh Hoa chỉ các sư đệ:
— Các con mau hành lễ với các sư thúc đi.
Năm thiếu nữ lại hành lễ:
— Chúng cháu ra mắt chư vị sư thúc.
Tự Kinh vui vẻ nhìn năm đứa cháu nội mới, ông suy nghĩ một lát rồi nói:
— Bây giờ ông đặt tên cho bốn cháu. Các cháu nhớ, từ ngày hôm nay các cháu
đều mang họ Trần đấy nhá. Ông chỉ vào thiếu nữ lớn tuổi nhất:
— Dáng người cháu thanh thoát, giống như chim anh vũ, ông cho cháu mang tên
Hoàng Anh.
Ông chỉ vào thiếu nữ da trắng mịn:
— Ông đặt cho cháu tên là Bạch Hạc.
Ông chỉ vào thiếu nữ có mái tóc đen dài óng mượt :
— Ông đặt cho cháu tên là Huyền Mi.
Ông chỉ vào hai thiếu nữ còn lại:
— Ông thấy cháu ríu rít như con sẻ, vậy thì tên cháu là Thanh Tước. Còn cháu,
cháu nhỏ nhất, nhẹ nhàng như chim yến, da dẻ hồng hào, ông cho cháu tên là
Hồng Yến.
Trong khi cha con, ông cháu nói truyện thì con thuyền dương buồm cỡi sóng đi
dọc con sông Phú lương (Hồng hà).
Tự Kinh bảo Tô Trung Sách:
— Trước khi chúng ta bàn truyện đại sự, con nên kiểm soát lại một lượt. Tường
có mạch, bức vách có tai.
Trung Sách đứng dậy đi một vòng các khoang, sàn thuyền bánh lái, rồi trở vào:
— Trình sư phụ, hoàn toàn an ninh.
Tự Kinh đưa mắt nhìn các con, các đệ tử một lượt rồi lên tiếng:
— Nhân dịp cuối năm ta cho triệu hồi các con về đây trước là để ăn tết, hai là
để kiểm điểm lại tình hình Đại Việt ta.
Ông bảo Tự Hấp:
— Trước hết con hãy trình bầy tình hình triều đình ra sao đã.
— Thưa bố, tình hình triều đình thực nát bét, nếu không có gì thay đổi, e chỉ
mấy chục năm nữa thì đất nước này sẽ loạn to. Đại Việt ta sẽ cứ phải cúi đầu
trước Trung nguyên và lùi bước trước Chiêm thành.
— Con hãy tóm lược tình hình kể từ khi vua Nhân tông băng hà đến giờ cho bố
nghe.
— Sau khi ta thắng Tống, bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết dẫn tàn quân về nước;
triều đình mau chóng tổ chức, kiến thiết lại đất nước (1077). Do vậy dân giầu
nước mạnh. Phía Nam, Chiêm tiến cống. Phía Tây, Lão Qua tuân phục. Phía
Bắc Tống phải nể sợ. Đất nước trải qua 50 năm cường thịnh. Niên hiệu Thiên
phù Khánh thọ nguyên niên (Đinh Mùi 1127) nhà vua băng, miếu hiệu là Nhân
tông. Trước đây nhà vua không có hoàng nam, lập con của người em là Sùng
hiền hầu, do phu nhân Đỗ thị sinh ra, tên Dương Hoán lên làm thái tử. Thái tử
Dương Hoán nguyên là thánh tăng Từ Đạo Hạnh thác sinh. Tự Kinh muốn cho
các cháu nuôi cảm thấy là cháu thực sự, chứ không phải là tỳ nữ, ông hỏi
chúng:
— Có cháu nào biết về sự tích này không?
Hồng Yến lễ phép:
— Thưa ông cháu biết ạ.
— Cháu kể ông nghe thử?
— Nguyên thánh tăng Từ Đạo Hạnh rất thân với Sùng hiền hầu. Một hôm hầu
than với ngài là hầu không có con trai, ngỏ ý muốn đi cầu tự. Ngài hứa giúp, rồi
dặn hầu rằng: Khi nào phu nhân trở dạ thì báo cho ngài biết. Đến ngày phu
nhân trở dạ, cứ đau bụng hoài mà không sinh. Hầu nhớ lời dặn, vội cho người
phi ngựa báo cho ngài. Ngài bèn tắm rửa rồi vào hang núi hóa thân, xuất hồn
nhập vào thai nhi. Bấy giờ phu nhân mới sinh. Xác của ngài hiện vẫn còn ở
hang Thạch thất, núi Sài sơn.
Tự Kinh khen:
— Cháu tôi giỏi quá. Được rồi Tự Hấp tiếp đi.
— Đúng lúc vua Nhân tông băng, thì bên Trung nguyên xẩy ra biến cố: Một bộ
tộc phía Bắc Trung nguyên cường thịnh, thành lập nước Kim. Kim liên minh với
Tống đánh chiếm nước Liêu. Liêu bị diệt, Kim vi ước, thuận thế tràn vào Trung
nguyên chiếm vùng đất của Liêu đã lấn của Tống trước kia đã đành, mà còn
tiến quân đánh Tống. Người Kim chiếm Biện kinh, bắt vua Huy tông, Khâm
tông đem về Bắc. Một hoàng tử, em của Khâm tông tên Triệu Cấu vượt sông
Trường giang, xuống Nam kinh, họp quân tái lập triều Tống, võ lâm gọi là triều
Nam Tống.
Tự Duy hỏi:
— Bấy giờ các văn thần võ tướng Đại Việt đâu mà không nhân dịp này chỉ cờ
lên Bắc, tái chiếm lãnh thổ thời vua Hùng, vua Trưng?
— Một là, trong triều đang có tang vua Nhân tông. Hai là, các tướng giỏi thời
Anh vũ Chiêu thắng người thì chết, kẻ thì quá già, nên không ai bàn tới. Ba là,
vua mới lên ngôi tuổi chưa quá 12 , nên triều đình chỉ biết an phận. Nhà vua lên
ngôi, bị ác tật, được Minh Không đại sư trị khỏi, nhưng chỉ làm vua được có 11
năm thì băng hà, miếu hiệu là Thần tông. Thái tử Thiên Tộ, mới ba tuổi lên
ngôi vua (Sau khi băng, miếu hiệu là Anh tông). Chiêu Hiếu thái hoàng thái
hậu là Đỗ thị (Vợ Sùng hiền hầu, mẹ Thần tông), Cảm Thánh hoàng thái hậu
họ Lê (vợ vua Thần tông) làm phụ chính. Tất cả những suy đồi của triều đình
bắt đầu từ hai người đàn bà này.
Thuật đến đây, Tự Hấp thấy gương mặt phụ thân hiện ra nét buồn, ông vẫy tay
cho con ngừng lại, mắt ông nhìn về cuối giòng sông. Một lát sau, ông cất tiếng
trầm trầm :
— Từ trước đến nay, sư phụ với các con cùng không muốn nói đến việc ấy.
Thôi, con bỏ qua đi. Người ấy bây giờ ẩn thân ở bên Trung quốc, xa lánh mọi
người. Ta chẳng nên nói tới làm gì.
— Dạ.
Các đệ tử cùng ngơ ngác nhìn nhau, tự hỏi : Không biết việc vua Thần tông
băng, đã xẩy ra việc gì, mà khiến cho sự phụ nhớ tới là buồn lòng. Còn người
ấy là ai ? Có liên hệ gì với sư phụ ?
Đại đệ tử của Trần Tự Kinh là Quách Tử Minh hỏi:
— Sư đệ, gốc tích hai người đàn bà này ra sao?
— Chiêu Hiếu thái hoàng thái hậu họ Đỗ, là chính phi của Sùng Hiền hầu, sinh
ra vua Thần tông. Hồi vua Thần tông lên ngôi, thì Sùng Hiền hầu được tôn làm
thái thượng hoàng, rồi phụ chính, vì vậy bà không thể can dự vào chính sự. Nay
con bà là vua Thần tông băng, cháu nội mới ba tuổi lên ngôi vua; con dâu bà là
Cảm Thánh hoàng thái hậu mới hai mươi tuổi, lại xuất thân trong gia đình tiểu
lại, nên bà có cớ xen vào việc triều chính.
Tự Hấp ngừng lại cho mọi người theo kịp rồi tiếp:
— Còn truyện Cảm Thánh hoàng thái hậu thì hơi dài giòng. Nguyên khi Thần
tông lên ngôi, tuy tuổi mới mười ba, nhưng mẹ là Chiêu Hiếu hoàng thái hậu đã
tuyển cho một lúc hơn chục bà vợ ở lứa tuổi mười đến mười ba. Trong những phi
tần đó , thì con gái Lê Xương xinh đẹp hơn hết, lại được lòng Chiêu Hiếu hoàng
thái hậu, nên bà muốn lập làm hoàng hậu. Nhưng triều thần phản đối, vì cha cô
chỉ là một chức quan quá nhỏ. Hơn nữa Lê thị là người thất học, nói năng thô lỗ
cọc cằn, không xứng với ngôi mẫu nghi thiên hạ. Vì vậy bà chỉ có thể phong
cho Lê thị làm Minh Bảo phu nhân. Bất đắc dĩ bà phải phong con gái của Điện
tiền chỉ huy sứ Lý Sơn làm Lệ Thiên hoàng hậu. Hơn năm năm sau, Lý Sơn
được thăng chức Phiêu kỵ thượng tướng quân rồi đổi đi trấn ở Bắc cương. Một
đêm, Lệ Thiên hoàng hậu không bệnh mà băng, bấy giờ bà mới mười sáu tuổi.
Ngự y nói rằng, bà bị cảm mạo mà qua đời. Nhưng ngõ tác khâm liệm hậu thì
biết rằng bà bị đánh một Huyền âm chưởng vào đầu. Sau khi Lệ Thiên hoàng
hậu băng, thì Minh Bảo phu nhân được phong làm Cảm Thánh hoàng hậu.
Tự Kinh hỏi:
— Có chắc là Huyền âm chưởng không ? Ta tưởng từ khi Trường bạch song
hùng chết rồi, thì chưởng này bị tuyệt tích, mà nay lại thấy xuất hiện ở Hoàng
thành ! Kể cũng lạ.
Anh Hoa khẳng định :
— Thưa bố, chính mắt con đã được thấy di thể Hoàng hậu. Thân thể bà chương
phình lên, da xám đen, người lạnh như băng.
— Các con nghĩ sao?
Đệ nhị đệ tử của Tự Kinh tên Vũ Tử Mẫn là người uyên thâm Nho học, mưu trí
trùm hoàn vũ, ông ứng lời sư phụ:
— Huyền âm chưởng nguyên là võ công của phái Trường bạch bên Trung
nguyên. Kể từ khi Trường bạch song hùng bị Phò mã Thân Thiệu Thái đánh
bại, tổ phụ xin phò mã tha mạng sống cho họ, rồi giam lỏng trong trang Thiên
trường nhà ta. Cho đến khi hai ông qua đời, con thì còn thơ, đệ tử thì không có.
Sao chưởng này lại có thể lưu truyền được? Việc này ta phải điều tra cho ra
manh mối, bằng không, thì phái Đông-a nhà ta mang tiếng không ít.
Mọi người đều gật đầu đồng ý. Vũ Tử Mẫn tiếp :
— Theo đệ tử nghĩ, Lệ Thiên hoàng hậu bị ám toán, do việc tranh quyền trong
nội cung họ Lý. Đây là việc của triều đình, mà từ Thái hậu cho tới nhà vua đều
nhắm mắt bỏ qua, thì mình cũng không nên can thiệp vào. Muốn tìm ra thủ
phạm, thì ta chỉ việc đặt câu hỏi: Lệ Thiên băng thì ai được hưởng lợi là biết
ngay.
Tự Kinh gật đầu tỏ ý công nhận Tử Mẫn có lý. Ông nhắc con:
— Tự Hấp tiếp đi.
— Lý Sơn nghe tin con gái bị ám toán, ông từ Bắc cương về triều xin điều tra
nội vụ. Thái hoàng thái hậu triệu ông vào cung ban yến, an ủi. Nhưng ngay
đêm đó trở về, ông mửa ra máu mà chết, người nhà cáo với triều đình rằng ông
bị đầu độc.
Tự Kinh lắc đầu:
— Quá lắm rồi, con tiếp đi.
— Thái tử Thiên Tộ lên ngôi vua, lấy hiệu là Đại Định (sau là vua Anh tông),
phong cho em trai của Chiêu Hiếu thái hoàng thái hậu tên Đỗ Anh Vũ làm
Cung điện lệnh tri nội ngoại sự. Thế là triều đình có ông vua còn bế ngửa ngồi
trên, hai bà thái hậu cầm quyền ở trong, và một ngoại thích ở ngoài chuyên
quyền.
Tự Kinh hỏi :
— Đỗ Anh Vũ xuất thân từ đâu ?
— Y là ngoại đồ của phái Tiêu sơn. Sư phụ của là Khánh Hỷ đại sư, thủ tọa
Vạn Hạnh đường.
Đệ tam đệ tử cua Tự Kinh là Cao Tử Đức hỏi:
— Sư huynh, đệ đã đọc tất cả thư tịch về quan chế Đại Việt cũng như Trung
nguyên, chưa từng nghe nói đến chức Cung điện lệnh tri nội ngoại sự bao giờ
cả. Chức này là chức văn hay võ? Cao hay thấp hơn thượng thư?
— Đấy, mối loạn từ cái chức này sinh ra. Nguyên Đỗ thái hoàng thái hậu muốn
thu trọn quyền, bà cần có một người nắm cả văn lẫn võ thân tín ở bên cạnh.
Chức này phải cao hơn tể tướng, trong khi Anh Vũ chức quá nhỏ, không thể
phong cho y được. Vì vậy bà mới nặn ra cái chức quái gở là Tri nội ngoại sự,
tức được quyền can thiệp cả trong nội cung lẫn triều đình. Từ đấy mọi quyền
hành, đều do Anh Vũ ban phát cả, hóa cho nên, dưỡng tử của vua Nhân tông là
Thân Lợi mới nổi loạn. Bốn trong mười hai hiệu Thiên tử binh theo Thân Lợi,
nội chiến trong hai năm thì Thân Lợi bị diệt. Sau cuộc nội chiến, bốn hiệu binh
theo Thân Lợi tan rã, tám hiệu khác theo triều đình bị hao hụt quá nửa. Anh Vũ
cho giải tán Thiên tử binh, y tuyển mấy nghìn cấm binh gọi là Phụng quốc vệ
để giữ kinh thành mà thôi.
Cử tọa đều lắc đầu, tỏ vẻ lo lắng.
Tự Kinh than:
— Mười hiệu Thiên tử binh là mười đạo binh được Khai Quốc vương cùng các
anh hùng thời vua Thái tông, Thánh tông bỏ ra biết bao nhiêu tâm huyết tổ
chức, huấn luyện; từng bình Chiêm, phạt Tống, bao năm qua... phút chốc do hai
mụ đàn bà thất học mà tan rã. Ôi! Thực đau đớn thay. Con tiếp đi.
— Niên hiệu Đại Định thứ tám (Đinh Mão, 1147), nhà vua đã 12 tuổi, nhân cơ
thể suy nhược, quan thái y tâu Thái hoàng thái hậu cho nhà vua tập võ, hầu
thân thể khỏe mạnh. Thái hoàng thái hậu cử một hoàng thúc tên Lý Long Vũ
dạy nhà vua. Nhà vua luyện võ được sáu tháng thì nổ ra vụ Anh Vũ tư thông
với Cảm Thánh Lê thái hậu. Nhà vua ra lệnh bắt Anh Vũ đem chém, nhưng võ
sĩ không ai tuân chỉ, vì chúng đều là chân tay y. Nhà vua hô Long Vũ bắt y.
Long Vũ phải đánh tới hơn tám mươi chiêu mới hạ được y. Y chạy thoát sang ẩn
ở cung Quảng từ của Thái hoàng thái hậu. Thái hoàng thái hậu ban chỉ triệu
nhà vua với Long Vũ vào cung Quang từ, an ủi rằng : Cái vụ y tư thông với Lê
thái hậu là do người ta bịa đặt, rồi xin nhà vua tha cho Anh Vũ. Nhưng ngay
ngày hôm sau, Anh Vũ giả chiếu chỉ vua, sai cấm binh giết cả nhà Long Vũ. Từ
đấy Thái hoàng thái hậu ban chỉ cấm không cho các hoàng tử, công chúa, cung
nga tập võ. Lại có chỉ rằng, tự hậu khi tuyển thái giám, cung nga, thì những
người biết võ không được dự. Tháng mười một năm ấy, Thái hoàng thái hậu bắt
quả tang Anh Vũ tư thông với Cảm Thánh Lê thái hậu. Ngay đêm đó, thái
hoàng thái hậu băng, Anh Vũ cáo với triều đình rằng bà bị cảm mạo mà qua
đời. Nhưng thực ra bà bị đánh một Huyền âm chưởng.
Tô Trung Sách hỏi:
— Như vậy thì chính Đỗ Anh Vũ đã giết chị mình rồi! Cái người xử dụng
Huyền âm chưởng hẳn có liên hệ với Anh Vũ. Tội giết Thái hoàng thái hậu
thực không nhỏ, thế các quan đâu mà không chặt đầu y đi cho rồi. Không lẽ họ
đều cúi đầu chịu câm nín ư?
— Các quan đều sợ uy quyền của Anh Vũ nên đành ngậm miệng. Chỉ có người
ấy là dám lên tiếng mà thôi. Người ấy dự định giết Anh Vũ, mà không muốn
chạm tới Cảm Thánh thái hậu. Người ấy cho rằng dù sao Cảm Thánh thái hậu
cũng là người của tiên đế, và là mẫu nghi thiên hạ. Anh Vũ được tin này, y cầu
cứu với Cảm Thánh thái hậu. Cảm Thánh thái hậu sai người phục kích định hại
người ấy. Giữa lúc người ấy gặp nguy nan, thì phụ thân dẫn tôi với Tự Duy đi
qua. Người hiển lộ bản lãnh, cứu người ấy thoát chết. Người ấy bỏ hết mội sự,
đem tông tộc sang Trung nguyên ẩn thân. Sau đó ba năm, Anh Vũ chuyên
quyền quá đáng, nên các quan mới họp nhau, mưu trừ y. Niên hiệu Đại Định
thứ mười một (Canh Ngọ, 1150) các quan tổ chức cuộc binh biến giết Anh Vũ,
nhưng bất thành.
Tự Duy lắc đầu:
— Tổ chức binh biến làm gì? Chỉ cần khi vào triều, một người nào đó thí cho y
một mũi kiếm là xong. Em chắc cuộc binh biến không thành.
— Đúng thế! Điện tiền đô chỉ huy sứ Vũ Đái, hỏa đầu đô Quảng vũ là Lương
Thượng Cá, hỏa đầu đô Ngọc giai là Đồng Lợi, nội thị đô tri là Đỗ Ất; mưu với
Trí Minh vương Lý Long Dũng, Bảo Minh hầu Lý Long Can, Bảo Thắng hầu
Lý Long Hiền, phò mã Dương Tự Minh. Ước định xong xuôi, Vũ Đái đem quân
đến cửa Việt thành, đánh đuổi bọn cấm quân của Anh Vũ, giải vây cho nhà
vua, rồi tâu hết tội trạng Anh Vũ. Nhà vua ban chỉ bắt Anh Vũ. Anh Vũ bị bắt
trói ở hành lang tả Hưng thánh, giao cho quan đình úy tra xét. Cảm Thánh thái
hậu sai người đem vàng bạc đút lót cho Vũ Đái, Đàm Dĩ Mông, Nguyễn
Dương. Nguyễn Dương thấy các đồng liêu nhận vàng thì kinh hãi nói rằng : ị
Các ông với tôi mưu trừ kẻ ác, mà các ông ăn hối lộ, e rằng chúng ta không
thoát khỏi tay Anh Vũ với dâm phụ đâu; chi bằng ta cứ tùng quyền giết y đi cho
rồi Ể, nói dứt cầm giáo đâm Anh Vũ.
Đệ ngũ đệ tử của Tự Kinh là Trần Tử Giác lắc đầu:
— Không xong rồi. Khi mọi người đều ăn của đút thì họ sẽ cản Nguyễn Dương
ngay.
— Đúng vậy!
— Đô tả Hưng thánh là Đàm Dĩ Mông, nhảy vào dùng kiếm gạt giáo của
Dương, ngăn rằng: ị Điện tiền bảo tội Anh Vũ đáng chết, nhưng phải đợi chỉ dụ
của hoàng thượng đã Ể.
Thế là hai người thi diễn cuộc đấu. Võ công Mông thua Dương xa.Vũ Đái rút
kiếm nhảy vào tiếp Mông. Dương biết đấu không lại hai người, như vậy đại
cuộc đã hỏng rồi. Y đánh liền hai chiêu như vũ bão, rồi nhảy lui lại chỉ tay vào
mặt Vũ Đái:
— Mày với tao mưu đại sự cứu nước, nhưng mày tham vàng trở mặt, rồi mày sẽ
chết về tay gian phu dâm phụ. Mày nên đổi tên là Vũ Cứt cho đúng.
Nói dứt, Dương nhảy xuống giếng tự tử chết.
Vũ Tử Mẫn lắc đầu:
— Đệ không tin Nguyễn Dương nhảy xuống giếng tự tử. Vì các giếng trong
thành Thăng long đều không sâu lắm, trong khi Nguyễn là một cựu võ quan
thủy quân, làm sao y có thể chết đuối? Có lẽ y bị giết thì đúng hơn. Xin sư
huynh tiếp cho.
— Nhà vua sai giam Anh Vũ lại, rồi đem ra xét xử. Đêm hôm ấy, thái hậu khóc
lóc với nhà vua, hôm sau nhà vua cử ra mấy đại thần thuộc phe đảng Anh Vũ
để xét xử y. Y chỉ bị cách hết chức tước, bắt đi làm ruộng công ở xã Nhật tảo,
ngoài thành Thăng long. Tiếng là bị đầy, nhưng thái hậu mật đem y ẩn vào
Hoàng cung, để gian dâm. Y bầy mưu cho thái hậu, cứ nay lập đàn cầu phúc,
mai lập đàn cầu phúc, rồi xin nhà vua ban chỉ ân xá cho người có tội một hai
bậc. Vì vậy chỉ mấy tháng sau, Anh Vũ được trở lại giữ chức Thái úy phụ chính
như xưa. Trước đây, y đã bị người dưới quyền phản, mà hút mất mạng. Bây
giơ,ợ y sai chân tay đi tuyển bọn vong mạng, bọn tử tù thành lập đội Phụng
quốc vệ bảo vệ dinh thự, vợ con, rồi đem bọn này thay thế cấm quân canh
phòng Hoàng cung. Trước kia, mỗi khi nhà vua cần ban chính lệnh thì đem ra
triều nghị, rồi ban chiếu chỉ. Bây giờ y bàn với thái hậu, tự soạn chiếu chỉ rồi
bảo nhà vua ký. Nhà vua chỉ biết tuân theo.
Tự Kinh than:
— Thế thì y thành thái thượng hoàng rồi. Bây giờ y tha hồ trả thù. Còn cái ông
vua thì chỉ là con chó cho y sai khiến mà thôi.
— Quả như phụ thân luận. Y ban chiếu kể tội bọn Vũ Đái tự tiện đem quân vào
cung, rồi sai bắt giam vào ngục. Y lại sai đem những người đó ra xử. Trí Minh
vương bị giáng xuống tước hầu, Bảo Ninh hầu xuống tước minh tự, Bảo Thắng
hầu xuống tước phụng chức. Bọn nội thị Đỗ Ất năm người bị cỡi ngựa gỗ. Hỏa
đầu đô Ngọc giai là Đồng Lợi và tám người bộ hạ bị chém ở chợ Tây giai.
Điện tiền đô chỉ huy Vũ Đái và hai mươi thủ hạ bị chém đầu bêu ở bên sông.
Phò mã Dương Tự Minh và ba mươi thủ hạ bị đầy lên vùng Bắc cương . Ngoài
ra còn hơn ba trăm người có dính dáng vào vụ hạ bệ Anh Vũ năm trước, đều bị
đi làm ruộng công điền ở Nhật tảo. Vài tháng sau Anh Vũ giả chiếu chỉ giết
hết.
Thanh Tước hỏi:
— Thưa bố, hình phạt cỡi ngựa gỗ ra sao? Bắt cỡi ngựa gỗ như con ngựa thờ ở
đền Phù đổng Thiên vương thì có gì là đau đớn đâu?
Cử tọa cười ầm lên, làm Thanh Tước xấu hổ. Bà Anh Hoa bẹo má con:
— Để mẹ giảng cho con biết. Cỡi ngựa gỗ là hình phạt do Đỗ Anh Vũ chế ra,
cực kỳ tàn bạo. Tội nhân bị lột quần áo, chỉ còn cái khố, rồi dùng giây mây trói
vào tấm ván theo thế nằm ngửa; lại dùng đinh đóng bàn chân, bàn tay dính vào
ván.
Thấy năm đứa con gái nuôi nhăn mặt, rùng mình Tự Hấp đưa mắt nhìn chúng,
rồi mỉm cười, ngụ ý: Còn hơn thế nữa. Ông đưa mắt cho vợ, bảo giảng tiếp:
— Tội nhân bị rước đi rao khắp kinh thành cho dân chúng xem. Cuộc rao này
như sau: Cho một đội hình binh đánh chiêng trống đi trước, bốn hình binh khiêng
tấm ván đi theo trong thế lộn ngược, đầu xuống dưới, chân lên trên. Mỗi khi tới
chỗ đông người, thì người đội trưởng cầm loa đọc bản án cho dân chúng nghe.
Ngoài ra, cái đội này còn có một thằng hề, quần áo diêm dúa, mặt bôi xanh,
bôi đỏ, tay xách thùng phân đi theo. Mỗi khi tội nhân đau đớn kêu gào, thì nó
lại làm trò, diễu cợt cho khán giả cười. Nếu như tội nhân chửi rủa vua hay Anh
Vũ, thì thằng hề múc một gáo phân tạt vào mặt.
Anh Hoa tiếp lời chồng:
— Không những y gian dâm với thái hậu, mà y còn cưỡng dâm các cung nga
khác. Để phòng trường hợp bị ám toán bất ngờ, y ép vua ban chiếu bắt bọn
hoạn quan cung nào ở cung ấy không được vào những cung khác, kẻ nào phạm
thì bị giết. Bọn Phụng quốc vệ canh giữ mà để người khác vào cung, cũng bị
giết. Chiếu ban ra, các thân vương, đại thần tụ hội nhau chỉ chích dữ lắm. Thái
hậu với y kinh hãi, vội ban chiếu: Cấm bách quan trong triều không cho đi lại
nhà các thân vương, trong cung không được hội họp quá ba người; ai trái lệnh
thì giết.
Cử tọa bật lên tiếng thở dài.
Tự Kinh hỏi :
— An Vũ làm nhiều điều ác như vậy, mà sư phụ y là Khánh Hỷ đại sư đâu,
không ngăn cấm y ?
— Khánh Hỷ đại sư viên tịch đã lâu rồi !
— Ấy à !
Tự Kinh than :
— Ngài viên tịch trong trường hợp nào ?
— Ngài từ Tiêu sơn về Thăng long vân du Chiêu thiền tự. Đang đêm bị kẻ lạ
đánh trộm một Huyền âm chưởng. Ngài đau đớn đến chết đi sống lại trong 49
ngày rồi viên tịch. Triều đình cũng như phái Tiêu sơn phái rất nhiều người đi
điều tra, mà cũng không ra manh mối.
Tự Kinh lắc đầu :
— Thôi Anh Hoa tiếp đi.
Anh Hoa tiếp:
— Anh Vũ lại sợ chính bọn Phụng quốc vệ làm phản, y ép vua ban chiếu: Các
Phụng quốc vệ phải cất vũ khí vào kho, nếu có chiếu chỉ mới được lấy ra; ai
không có lệnh mà tự tiện lấy ra thì bị xử tử. Ai không có nhiệm vụ mà qua lại
hành lang chứa vũ khí thì bị phạt tám mươi trượng.
Tự Kinh thở dài hỏi:
— Năm nay Đại Định hoàng đế tuổi đã trên hai mươi, không lẽ ông không biết
nắm lấy quyền?
— Thưa, một là ông không được tập võ. Hai là ông bị bà, rồi mẹ áp đảo riết rồi
ông trở thành cục bột, chỉ biết ăn với ngủ. Ba là từ vệ sĩ, cho tới thái giám, cung
nga, đều là người của Anh Vũ, nên ông ta đành bó tay.
— Ông ta đã có hoàng nam chưa?
— Thưa có rồi, hoàng trưởng tử năm nay đã bẩy tuổi, tên là Long Xưởng, cực
kỳ thông minh, được phong Thái tử. Bốn tuổi Thái tử học văn với quan Thái phó
Hoàng Nghĩa Hiền, là một túc nho, lại thanh liêm, chính trực. Năm tuổi lầu
thông Thi, Thư, và hiểu rõ quốc sử. Dường như quan Thái phó muốn huấn luyện
cho Thái tử có chí khí như Khai Quốc vương. Tin này đến tai Anh Vũ. Anh Vũ
sợ tương lai Thái tử trở thành người có tài; đến tuổi mười hai, mười ba được mở
phủ đệ riêng, ắt sẽ quy tụ anh hùng; thì y sẽ khó sống. Vì vậy, y tâu riêng với
Thái hậu. Từ đấy, mỗi khi quan Thái phó giảng sách cho Thái tử, thì Thái hậu
ngồi sau màn nghe. Vì vậy Thái phó chỉ dám giảng thơ, văn mà thôi. Nhưng
Thái tử cũng không vừa, thường tìm cách trốn ra nhà Thái phó để học thêm.
Việc này Thái hậu chưa biết.
Cao Tử Đức hỏi:
— Sư huynh! Thế sinh mẫu của Thái tử là ai?
— Là Chiêu Linh hoàng hậu. Hậu họ Vũ, con quan An vũ kinh lược sứ Thanh
hóa. Ông là một đại cao thủ phái Mê linh. Hậu là người tính tình ôn nhu, văn
nhã, có phong thái mẫu nghi thiên hạ; học một biết mười, văn chương quán thế,
lại luyện chút ít võ nghệ với phụ thân. Khi hậu nhập cung, ông có gửi một nữ
cao thủ giả làm bộc phu, với mười tám đệ tử giả làm cung nữ theo hầu hậu, đêm
đêm luyện võ cho hậu. Khi hậu thấy Thái tử bị Thái hoàng thái hậu, rồi Thái
hậu cấm luyện võ, hậu âm thầm truyền thụ võ nghệ cho con. Chính hậu giảng
sách cho Thái tử. Có thể nói, kiến thức Thái tử hầu hết do hậu truyền cho.
Trong Hoàng cung, duy có cung Chiêu Linh là Đỗ Anh Vũ với hai bà thái hậu
kiêng nể một chút.
Tự Kinh gõ tay lên án thư, rồi thở dài:
— Từ lâu rồi phái Đông a nhà ta không lý gì đến việc triều đình. Nhưng nay có
ba việc ta không thể nhắm mắt. Một là vụ Lý Sơn bị đánh thuốc độc,ỳ hoàng
hậu bị ám toán. Hai vụ Lý Long Vũ bị giết cả nhà. Ba là vụ Huyền âm chưởng
tái xuất giang hồ. Lý Sơn, Long Vũ là cháu bốn đời Khai Quốc vương, như vậy
ông với chúng ta có tình huyết tộc, so vai vế ta phải gọi người bằng anh. Hai
người lại là đệ tử duy nhất của phái Đông a hiện làm quan tại triều. Nay hai
ông với con gái bị bọn ngoại thích hại, ta không thể nhắm mắt làm ngơ. Ta mà
làm ngơ, thì bọn ngoại thích sẽ thừa thế lấn tới, riết rồi chúng ta không còn chỗ
đứng trong thiên hạ nữa. Còn việc Huyền âm chưởng tái xuất giang hồ, thì ta
phải tích cực. Từ khi Trường bạch song hung chết tại trang chúng ta, thì chưởng
quái ác này tuyệt tích. Nay tự nhiên có người xử dụng, thì ta phải tìm cho ra ác
nhân, rồi tiêu diệt chúng, để trừ đi mối lo cho võ lâm.
Ông suy nghĩ một lúc rồi nói:
— Đất nước này sở dĩ còn là do công lao của biết bao tiền nhân đã hy sinh
xương máu, đã đổ mồ hôi ra xây dựng. Chúng ta không thể để cho điêu tàn
trong sớm tối. Chúng ta là con cháu Ượng sơn song hiệp, Mộc tồn hòa thượng,
chúng ta phải ra tay, cứu sự nghiệp của vua Hùng, vua An Dương, vua Trưng.
Còn sự nghiệp cua triều Lý, thì để họ lo lấy. Khi đức của họ đã suy đồi, phước
khí hết, dù ta có cứu cũng vô ích. Ta biết rõ Đại Định hoàng đế tuổi đã trên hai
mươi, nhưng bị mẹ, cùng phe đảng Anh Vũ khống chế mà vô lực: Phụng quốc
vệ, quân đội, thái giám, cung nữ trong tay chúng. Vậy trước mắt chúng ta có ba
việc lớn phải làm. Một là, cứu vãn sự an nguy của xã tắc. Hai là, trừ gian diệt
bạo. Ba là, xây dựng lại những gì đã mất. Nhưng tuyệt đối không can dự vào
việc hoàng tộc triều Lý. Ta phải đi gặp chưởng môn nhân Ngũ đại môn phái
Đại Việt để bàn việc về những việc này.
— Nhưng thưa bố...
Anh Hoa tiếp : Các phái, Mê linh, Tản viên đều có sự.
— Con nói ? ! ? ! ? !
— Chưởng môn phái Mê linh là sư thái Nghi Hòa không rõ đi đâu mất tích, các
đệ tử thì còn trẻ, thành ra ba tuyệt kỹ trấn môn là Long biên kiếm pháp, Nội
công  nhu, Không minh tâm pháp bị thất truyền. Đại đệ tử của người là sư thái
Nghi Ninh tạm lên thay thế. Đại hiệp Đặng Phi Sơn cũng mất tích trong trường
hợp tương tự, thành ra Ngũ tuyệt kỹ của phái Tản viên là Phục ngưu thần
chưởng Dương cương, Âm nhu, Lĩnh Nam chỉ pháp, Vô ngã tướng Thiền công,
Tán cốt lạc phách tiêu hồn chưởng bị thất truyền. Ngôi chưởng môn bị bỏ trống.
Năm năm trước, phái Tản viên tổ chức đại hội ước định rằng : Tạm cử Tôn Đức
Hòa quyền chưởng môn. Sau này bất cứ ai biết xử dụng hoặc tìm được Ngũ đại
tuyệt kỹ, thì sẽ được tôn làm chưởng môn thực thụ.
Tự Kinh than :
— Hai phái Tản viên, Mê linh sở dĩ được võ lâm Hoa Việt tôn là môn phái lớn,
vì có các tuyệt kỹ trấn môn bị mai một, thì môn phái trở thành một bang hội
nhỏ, chưởng môn thành vô quyền. Hỏng.
Ông trầm tư một lát rồi tiếp :
— Dù gì ta cũng vẫn phải tôn kính họ. Ta sẽ gặp họ để bàn quốc sự.
Các đệ tử đều ngạc nhiên về quyết định của Tự Kinh. Bởi từ xưa đến giờ, ông
thường chủ trương, rũ áo đứng ngoài mọi sự của xã tắc, dù đệ tử nhiều lần xin
ông can thiệp vào các biến cố bất lợi cho đất nước. Thế mà bây giờ ông lại đổi
hẳn thái độ.
Ông tiếp:
— Các con ngạc nhiên về quyết định của ta phải không? Đâu có gì lạ! Trước
nay ta không cho các con xuất chính, ra làm quan, vì ta nghĩ: Các con là những
người hiệp nghĩa, dọc ngang trên đời, mà chỉ vì mấy đấu gạo, đem thân cho
những tên ngu xuẩn sai bảo, cho những con đàn bà không đáng giá ba đồng xu
chửi bới, ra luồn, vào cúi. Nay ta vẫn giữ cái chí đó. Ta quyết định cứu nước
bằng con đường hiệp nghĩa, như Ưng sơn song hiệp như Mộc tồn hòa thượng.
Các đệ tử cùng chắp tay:
— Tuân lệnh sư phụ.
— Vậy sau tết này, chỉ mình Trung Sách ở nhà trông coi trang ấp là đủ. Còn
các con, hãy đem đệ tử chia nhau mỗi người một vùng, đi lại trên giang hồ, tru
diệt bọn tham quan, bọn cường hào ác bá, bọn bất trung bất hiếu. Tất cả do Tự
Hấp điều động.
Thình lình thuyền phu vào cúi rạp người xuống, nói với Tự Kinh:
— Trình thái sư phụ, có một xác chết bị trói trôi trước thuyền, xin thái sư phụ
phát lạc.
Tự Kinh ra lệnh:
— Vớt lên, rồi đem về bến mua quan tài mai táng, cho ấm áp thân thể người ta.
Nói rồi ông cùng chư đệ tử lên trên sàn thuyền. Thuyền phu tung xuống chiếc
giây, chiếc giây cuốn lấy nửa thân mình tử thi, y giật mạnh sợi giây, tử thi bay
bổng lên cao. Tự Hấp vung tay một cái, tử thi bay ngang hơn trượng rồi rơi
xuống sàn thuyền nhẹ nhàng như cầm đặt xuống vậy.
Mọi người đều chạy lại xem: Tử thi bị trói thành năm khúc, bằng năm sáu sợi
dây thừng, trong tư thế hai tay buông xuôi.
Phạm Tử Tuệ là thầy thuốc, ông rút kiếm đưa một nhát, cả năm sợi dây đều đứt
một lượt, ông vạch quần áo nạn nhân ra xem xét: Đó là một người đàn ông tuổi
khá lớn, miệng bị nhét đầy dẻ, trên người không có một vết thương, chứng tỏ sát
nhân nhét dẻ vào miệng nạn nhân để không thể kêu cứu, rồi đem quẳng xuống
sông. Nạn nhân chết vì ngộp thở,
Tò mò Tử Tuệ án tay vào ngực nạn nhân, thấy còn hơi ấm, ông vận nội lực dồn
chân khí vào Đốc mạch, thình lình tim nạn nhân đập trở lại. Ông reo lên:
— Y chưa chết.
Ông rút trong bọc ra một hộp kim, lấy kim châm lên huyệt Nhân trung, nạn
nhân á lên một tiếng lớn, rồi mở mắt ra. Tử Tuệ gọi rối rít:
— Nạn nhân bị ngâm dưới nước lâu quá, lạnh cóng hết chân tay. Mau mở cửa
khoang thuyền, lấy quần áo khô thay cho người ta, rồi đốt lửa lên để sưởi ấm.
Nói rồi ông bồng nạn nhân vào một khoang nhỏ cùng với mấy thuyền phu cấp
cứu. Lát sau nạn nhân đã tỉnh táo hẳn. Tử Tuệ dẫn nạn nhân ra hành lễ với sư
phụ.
Tự Kinh an ủi nạn nhân:
— Tội nghiệp quá! Ông là ai? Năm nay niên kỷ bao nhiêu? Tại sao ông lại bị
trôi sông?
Người đàn ông đó định hành đại lễ, thì Tử Tuệ sẽ để tay lên vai ông, rồi nói:
— Ông vừa mới chết hụt, sức khỏe chưa bình phục hẳn, không nên đa lễ.
Người đàn ông đó nói bằng một giọng thanh thoát nhỏ nhẹ:
— Tôi họ Đoàn tên Thông, năm nay sáu mươi ba tuổi, quê ở lộ Hồng châu, làm
thầy địa lý.
Tự Hấp bật lên tiếng á, rồi hỏi:
— Phải chăng thầy tự là An Dương, đã mười đời làm thầy địa lý. Thầy từng
được triều đình mời về Thăng long để an vị xây một số cung điện không?
Dường như đó là hành cung Ngự thiên; điện Thụy quang; hai gác Ánh vân,
Điện phú; cửa Thanh hòa; hai thềm Nghi phượng, Ngọc Lan; đình Thưởng hoa;
hồ Kim liên; cầu Minh nguyệt?
( GHI CHÚ CỦA THUẬT GIẢ:
Việc xây các cung điện trên, chép trong ĐVSKTT, Lý kỷ, Anh tông kỷ, niên
hiệu Đại Định thứ 19, Mậu Dần, DL. 1156.)
— Vâng, đúng thế.
Trong khi Đoàn Thông nói thì Tử Tuệ vẫn cầm tay ông ta để dồn chân khí vào.
— Thầy tiếp đi.
Tử Tuệ nhắc: Rồi tại sao thầy lạ bị trôi sông?
— Nguyên khi tôi xem đất, định hướng, biệt mạch, thì được đặt dưới quyền
quan Cần c
DaoKy
01-08-2004, 01:58 PM
HỒI THỨ BA
ĐỀN THỜ VUA TRƯNG
******
Niên hiệu Đại Định thứ 21, đời vua Anh tông của Đại Việt, bên Trung nguyên
là niên hiệu Thiệu Hưng thứ 30, đời vua Cao Tông đời Nam Tống (Canh Thìn
DL. 1160).
Theo hội điển sự lệ của triều Lý, thì hằng năm nhà vua sẽ ban đại yến cho
hoàng tộc vào các ngày đản sinh, ngày kị của năm vị tiên tiên đế, năm vị hoàng
hậu; ngày lễ Càn nguyên (sinh nhật của vua); các ngày tết Nguyên đán, Hàn
thực, Trung nguyên, Trung thu. Lại ban tiểu yến vào ngày đầu của tiết khí. Mỗi
năm có 24 tiết khí, nên có 24 buổi tiểu yến. Cộng chung là 39 buổi.
Theo luật cung đình thời Lý, thì mỗi tiết khí đến, trăm vạn loại chim muông, hoa
quả nảy nở, quan Thái sử lệnh thuộc bộ Lễ sẽ ban lệnh cho các vùng tiến
phương vật cho nhà vua. Mỗi vùng sẽ dâng những đặc sản mà vùng khác không
có, hoặc có nhưng kém phẩm chất. Các vị An phủ sứ, Tuyên vũ sứ vùng ấy, sẽ
dâng thời trân của vùng mình lên Thiên tử. Như trấn Đông triều, sẽ dâng Đông
trùng hạ thảo vào tiết Tiểu hàn. Trấn Thiên trường dâng chuối thơm vào tiết
Đông chí. Trấn Trường yên dâng rươi vào tiết Hàn lộ. Những buổi ban yến này
mục đích để nhà vua và hoàng tộc thắt thêm tình thân huyết tộc. Từ khi Đỗ Anh
Vũ chuyên quyền, thì lệ này bãi bỏ.
GHI CHÚ CỦA THUẬT GIẢ:
Đông trùng hạ thảo : Tên một vị thuốc, thường biến thể từ côn trùng sang thảo
mộc. Về mùa Đông thì là một loài tằm ẩn ở dưới đất. Về mùa Hè, thì biến
thành một loài cỏ. Và cứ thế luân hồi không ngừng. Xin xem bài đọc thêm ở
cuối quyển 1.
Năm nay, Đỗ Anh Vũ bị giết rồi, nhà vua nghe lời khuyên của Thái tử Long
Xưởng, ngài tuyên chỉ tái thiết lệ cũ. Buổi ban yến đầu tiên nhằm tiết Hàn lộ.
Khác với mọi năm, năm nay gió hanh may tới trễ, mà mùa rươi lại tới sớm. Quan
An vũ sứ trấn Trường yên vội sai ngựa lưu tinh phi như bay, đem về dâng cho
nhà vua hơn một yến, loại rươi thực lớn. Viên thái giám phụ trách ty Thượng
thiện tiếp nhận rươi rồi bắt tay vào làm yến rươi tức thì. Yến rươi gồm có năm
món chính: Chả rươi, mắm rươi, rươi xào, rươi chưng, rươi hấp.
Hoàng hậu thân dẫn cung nga, mang mỗi loại một bát lớn, đến cung Cảm Thánh
dâng cho Thái hậu, rồi ban chỉ triệu hoàng tộc vào cung Long hoa để cùng
hưởng món thời trân. Tuy nói rằng hoàng tộc, chứ thực ra chỉ bản thân, vợ, con,
cháu của : Các hoàng tử, các tước vương, công, hầu, các công chúa, phò mã mới
được hưởng đặc ân này mà thôi. Sau buổi yến, Hoàng hậu sẽ ban vàng, ngọc,
lụa cho con cháu trong hoàng tộc mới ra đời trong năm.
Theo luật lệ của các triều đại Việt xưa, ngoài Hoàng hậu ra, nhà vua còn có
nhiều bà vợ, mang chức tước khác nhau. Số các bà vợ này không nhất định. Ít
thì vài, ba chục, nhiều có thể tới ba nghìn.
Đại Định hoàng đế tuy bị bà nội, mẹ đẻ, Anh Vũ áp chế, tạo ngài thành một
người trì nghi, không chí khí, không quyết đoán,ù lỳ, chỉ biết hưởng thụ. Nhưng
trời ban cho nhà vua cái đặc ân là việc phòng the thì ngài rất khỏe. Ngoài hoàng
hậu ra, ngài cóÔ sáu bà phi là Thần phi, Quý phi, Thục phi, Đức phi, Hiền phi,
Giai phi; khoảng hơn hai chục bà ở vai thấp hơn như Tu dung, Tu nghi, Phu
nhân. Đấy là các bà Việt. Ngài cũng nạp thêm con gái của các động trưởng
vùng Bắc cương, các thiếu nữ người Lào, người Chàm. Theo TTCTBK thì ngài
rất thích con gái người Chàm. ĐVSKTT chép : Niên hiệu Đại Định thứ 15, mùa
Đông, tháng mười (Giáp Tuất, DL. 1154) vua Chiêm là Chế bì La bút dâng con
gái, nhà vua thu nạp và phong ngay làm Nam phương phu nhân, lại ban cho hiệu
là Chiêu đức huyền quân (Nàng tiên có nhiều đức) sau thăng lên Giai phi. Giai
phi là người đẹp nhất trong hậu cung, nàng lại lầu thông Thi, Thư, đàn ngọt hát
hay nên được nhà vua sủng ái nhất. Ngoài ra ngài còn hàng mấy chục bà ở bậc
Tu dung, Tu nghi, Phu nhân đều có cung riêng. Trong những cung ấy, các bà có
thái giám, cung nga hầu hạ. Tuy các cung nga làm nhiệm vụ hèn hạ, nhưng bất
cứ lúc nào, nhà vua thấy một cung nga... coi ngon mắt, thì vẫn có thể đem về
chỗ ngủ riêng của mình để ngự . Chỗ ngủ riêng của nhà vua gọi chung là tẩm
cung. Tẩm cung của các vua nhà Lý là cung Long thụy (Long là rồng, thụy là
ngủ). Khi một cung nga, được vua ngự, thì gọi là được ban hồng ân. Thường, một
cung nga sau lần được ban hồng ân, nhà vua sẽ ban chế thăng chức cao hay thấp
tùy ý. Lại ban chỉ xây cung điện riêng cho ở, cấp thái giám, cung nữ hầu hạ.
Cho nên nhà vua có rất nhiều con.
Long Xưởng có cái may là hoàng nam đầu tiên, lại do hoàng hậu sinh ra, nên
được phong làm thái tử. Sau Long Xưởng, nhà vua còn có thêm ba hoàng tử,
chín công chúa nữa. Trong mười hai người em đó, không có người nào cùng mẹ
với Long Xưởng.
Biết rằng mình là con cả, lại là trừ quân, sau này phụ hoàng băng hà rồi, sẽ nối
ngôi vua; nên Long Xưởng hết sức lễ độ với các bà phi, cũng như chăm sóc các
em, để tạo một hòa khí trong hoàng tộc. Nó nghĩ: Khi mình lên ngôi vua rồi, thì
tất cả tài vật trong thiên hạ đều là của mình. Vì vậy nó không cần giữ bất cứ vật
gì làm của riêng. Mỗi khi được phụ hoàng, mẫu hậu ban thưởng, hoặc được các
quan dâng cho cái gì, Long Xưởng lại họp các em, rồi chia đều, không phân biệt
lớn nhỏ, nam nữ. Hóa cho nên trong ba em trai là Long Minh, Long Đức, Long
Hòa, không người nào tỏ ý ganh tỵ, kèn cựa với anh. Đó là điều hiếm có trong
lịch sử các nước Á châu.
Tuy nhiên, hằng ngày, Long Xưởng sủng ái nhất là công chúa Đoan Nghi, con
của thần phi Bùi Chiêu Dương sinh ra. Đoan Nghi nhỏ hơn Long Xưởng hai tuổi,
cực kỳ thông minh, lại ôn nhu văn nhã. Anh em gần nhau như bóng với hình.
Các bà phi khác đã chuẩn bị cho các con y phục chỉnh tề, sau đó tất cả cùng
dùng xe tới cung Chiêu Linh để cùng đi với Long Xưởng dự yến. Long Xưởng
hành lễ với các bà phi, rồi hướng vào các em:
— Hôm nay là ngày rằm tháng mười. Phụ hoàng ban yến tại cung Long hoa.
Vậy anh nhắc các em về lễ nghi lần nữa.
Rồi Long Xưởng dặn dò các em thực kỹ nghi thức triều yết phụ hoàng, mẫu hậu,
khi hành lễ với các thân vương, cung cách đối đáp với các thế tử, quận chúa,
công tử, tiểu thư... thực chi tiết.
Mọi việc xong xuôi, nó chia cho các em đi trên ba xe. Xe của Long Xưởng có ba
em trai, trong khi có hai xe phải chở đến chín công chúa, với ba nhũ mẫu. Thấy
xe có Đoan Nghi hơi chật, nó nảy ra ý đem bớt Đoan Nghi sang xe mình. Nó lại
trước Bùi thần phi, cung tay:
— Hài nhi xin thần phi để Đoan Nghi đi cùng xe với hài nhi, cho vui.
Thần phi nắm tay Long Xưởng, rồi nói bằng lời cảm động:
— Chắc thái tử mới đọc bộ sách nào hay, định giảng cho Đoan Nghi hẳn! Thái
tử cứ tự tiện. Anh dạy em, thì là điều cha mẹ đều mong ước.
Hai chiếc xe rầm rộ lên đường. Trên đường đi, Đoan Nghi hỏi anh :
— Này ! Anh Long Xưởng ơi ! Hồi xưa, mình có ba bà thái tổ cô anh hùng, trấn
ngự biên cương phải không ? Các ngài là những ai vậy ?
Để thử trí nhớ các em, Long Xưởng hỏi Long Minh :
— Long Minh trả lời cho Đoan Nghi đi.
Long Minh vuốt má Đoan Nghi :
— Con bé ngoan ngoãn, mít ướt nhất Đại Việt nghe cho rõ nhé. Ba vị ấy đều là
công chúa con đức Thái tông. Vị thứ nhất là công chúa Bình Dương !
— À, em biết rồi ! Ngài là Quan thế âm phân thân giáng thế, phải không ?
Long Minh bật cười :
— Phải, mà không phải.
— Tại sao ? Phải thì là phải, không thì là không, chứ có đâu vừa phải, lại vừa
không!
— Nghe đã nào! Phải, vì hành trạng của ngài giống Quan Aạm, nên người
đương thời suy tôn ngài như vậy. Không, vì ngài là người trần như chúng ta.
— Vị thứ nhì, thứ ba là ai ?
Long Minh lại đáp :
— Vị thứ nhì là công chúa Kim Thành. Vị thứ ba là công chúa Trường Ninh. Ba
vị cùng ba phò mã, suốt đời trấn ngự biên cương mấy chục năm.
— Thế sao mẹ kể, đức Thánh tông cũng có ba công chúa anh hùng đánh Tống.
Các vị là những vị nào ?
— À, ba vị đó chúng ta phải gọi là tổ cô. Công chúa thưa nhất là Thiên Thành,
trấn ngự Bắc biên. Công chúa thứ nhì là Động Thiên, rất giỏi thủy chiến. Ngài
tuẫn quốc trận Phú lương. Công chúa thứ ba là Thiên Ninh tuẫn quốc trận Như
nguyệt.
Đoan Nghi reo lên :
— Em biết công chúa Thiên Ninh rồi, ngài là bà chúa kho chứ gì ? Hồi đầu năm
em theo mẹ đi Kinh Bắc lễ đền thờ ngài. Em có khấn xin vay ngài một chuỗi
ngọc trai. Thế mà nay đã là tháng mười, em vẫn chưa thấy gì !
Long Xưởng vuốt tóc Đoan Nghi :
— Có, ngài khen em ngoan, học giỏi, nên ngài không cho vay, mà ban thưởng
cho em luôn.
Đoan Nghi ngửa hai bàn tay ra :
— Đâu ? Ở chỗ nào ?
Long Xưởng móc trong bọc ra cái hộp bằng bạc, rồi mở hộp. Trong hộp có một
chuỗi ngọc trai năm vòng. Nó đeo vào cổ em:
— Đây chứ đâu !
Đoan Nghi chắp tay hướng lên trời :
— Đa tạ tổ cô đã ban cho con.
Long Hòa vốn ít nói, từ đầu đến cuối nó ngồi im, bây giờ mới lên tiếng :
— Đoan Nghi phải tạ ơn anh cả mới đúng !
Nguyên trước đây sứ thần Lão qua sang triều cống, họ cũng đem một ít lễ vật
dâng cho Thái tử. Nhân Long Xưởng nghe Thần phi nói chuyện với Hoàng hậu
rằng : Hôm đi lễ đền bà chúa kho, Đoan Nghi có khấn xin vay một chuỗi ngọc
trai. Long Xưởng ghi vào dạ. Hôm nay nó mang ra tặng em gái.
Đoan Nghi nhắc lại lời Long Hòa:
— Đa tạ anh cả.
Long Xưởng tát yêu em gái:
— Anh cứ mong mình có thực nhiều ngọc, ngà để tặng cho các em gái. Anh lại
mong học được nhiều điều mới lạ để dạy lại cho các em trai.
Xe đã tới điện Long hoa.
Một thái giám phụ trách kính sự hô lớn:
— Kính thỉnh chư vị điện hạ vào cung.
Lễ nghi tất.
Liếc mắt nhìn trong cung Long hoa, Long Xưởng nói với các em :
— Vì ác nhân Đỗ Anh Vũ ép phụ hoàng ban chỉ sát hại Chiêu Hòa vương Lý
Long Vũ, giáng truất Trí Minh vương Lý Long Dũng, Bảo Ninh hầu Lý Long
Can, Bảo Thắng hầu Lý Long Hiền, phò mã Dương Tự Minh, cho nên những
lần dự yến trước, thì người trong phủ này đều không được dự . Bây giờ ác nhân
đã bị tru diệt, nên các vị đều hiện diện. So trong ngọc diệp, anh em chúng ta đều
dưới vai các người. Vậy chúng ta phải tới đưa lời vấn an cho phải đạo.
Bốn anh em cùng đứng dậy, tới bục dành cho thân nhân Chiêu Hòa vương, chắp
tay hướng thế tử, quận chúa con Chiêu Hòa vương hành lễ. Nó dùng ngôn từ
bình dân:
— Bọn chúng cháu xin vấn an các cô, các chú.
Chiêu Hòa vương có bốn con trai, năm con gái, đều đã thành gia thất. Thế tử lớn
nhất là Lý Long Cẩn vội đáp lễ:
— Không dám! Xin các vị điện hạ chẳng nên hạ thể. Hôm nay đây, ác nhân đã
đền tội, chúng ta được hưởng huyết nhục trùng phùng là vui rồi.
Thế là mọi người lại bàn luận quanh vụ Đỗ Anh Vũ bị giết cả nhà. Thế tử Long
Cẩn than :
— Côi sơn song ưng tưởng đâu làm một mẻ quét sạch lũ hôi tanh họ Đỗ, không
ngờ lại để cho bọn tay sai cùng hung cực ác lọt lưới.
Long Xưởng kinh ngạc :
— Chúng là những đứa nào vậy ?
— Sở dĩ Anh Vũ hoành hành là ỷ có Thái hậu sủng ái, và bọn Nùng sơn tam
anh, Tô lịch nhị tiên võ công cao thâm không biết đâu mà lường... làm tay sai.
Cuộc ra tay của Hoàng hậu, quét sạch bọn hôi tanh trong triều sở dĩ thất bại là
do bọn này lọt lưới mà ra.
— ! ? ! ?
— Nùng sơn tam anh là Vương Nhất, Cao Nhị và Đỗ Anh Hào. Anh Hào là con
của Đỗ Anh Vũ, nhưng không rõ mẹ chúng là ai. Còn Tô lịch nhị tiên vốn họ
Lê, cháu của Thái hậu. Cả năm đứa này cùng học võ với một đại tôn sư. Có
người bảo võ công chúng ba phần giống Hoa sơn bên Trung quốc, bẩy phần
giống Đông a của Đại Việt. Hiện các võ quan trong triều không ai địch nổi một
trong năm tên này.
Nghe Long Cẩn nói, Long Xưởng nhớ lại ba người đàn ông và hai người đàn bà
theo Thái hậu đến cung Chiêu Linh đàn áp nhà vua hồi tháng tám. Một chút ánh
sáng ló dạng chiếu vào bóng đêm của Hoàng cung.
Long Xưởng hỏi :
— Sao chú biết rằng, trong các võ quan tại triều, không ai địch lại chúng ?
— À truyện này xẩy ra hồi thái tử còn thơ, nên không biết. Trong dịp tết Trung
thu, thái hậu cho mời tát cả các võ quan có võ công cao, các thị vệ, các đô đầu
vào cung Cảm Thánh dự tiệc. Thái hậu ban chỉ cho các quan : Ai chịu được của
Nùng sơn tam anh, Tô lịch nhị tiên hai mươi chiêu thì được thăng hai trật. Ai chịu
được mười chiêu thì được thăng một trật. Ai chịu được ba chiêu thì được tặng
một nén vàng.
— Thế kết quả ra sao ?
— Hầu hết các võ quan, thị vệ, không ai chịu được quá ba chiêu. Chỉ có ba
người đoạt giải mà thôi. Người thứ nhất là đô thống Lưu Khánh Bình đấu ngang
tay với Cao Nhị. Sau đó Bình được thăng lên hàng tướng quân. Người thứ nhì là
Tô Hiến Thành đấu với Cảm Linh, y chịu được trên trăm hiệp, cũng được thăng
hai trật. Người thứ ba là Đàm Dĩ Mông, đấu với Cảm Chi y chịu được sáu chiêu,
được thưởng hai nén vàng.
Đến đó viên thái giám kính sự hô :
— Hoàng thượng, hoàng hậu, chư vị quý phi giá lâm.
Mọi người im lặng quỳ gối.
Nhà vua cùng hoàng hậu, bốn bà phi vào cung Long hoa. An tọa rồi, nhà vua
tuyên chỉ :
— Miễn lễ!
Mọi người về chỗ ngồi.
Từ khi lên ngôi vào lúc ba tuổi đến giờ, nhà vua chỉ biết ăn, ngủ... Mọi sự do bà
nội, rồi Thái hậu với Đỗ Anh Vũ quyết đoán hết. Bất cứ nhà vua nói gì, đưa ý
kiến gì, cũng bị các bà quát mắng, sau đó bác bỏ. Riết rồi ngài thành cục bột,
khi có sự không biết nói gì, làm gì. Hôm nay là ngày đầu tiên, sau hơn hai chục
năm lên ngôi, nhà vua được ngồi chủ vị một buổi yến hội như thế này. Nhà vua
tỏ ra luống cuống, ngài đưa mắt cho Hoàng hậu. Hoàng hậu biết ý nhà vua, vội
thay ngài ban dụ. Trong dụ, đại ý nói nhân mùa rươi mới, nhà vua muốn hoàng
tộc cùng hội nhau dự yến. Bởi hơn hai chục năm qua, bị ác nhân Anh Vũ kiềm
chế ngài, rồi giết hại tôn thất, khiến hoàng tộc phân hóa, nghi ngờ, thù hận lẫn
nhau. Bữa yến hôm nay, để nối lại tình ruột thịt.
Thế rồi các thân vương, công chúa, phò mã cùng đưa lời chúc tụng nhà vua.
Trí Minh vương vốn đã nghe đã biết ông anh mình chỉ làm vua cho có danh vị.
Ngược lại, ông nghe nói, cũng như trực tiếp tìm hiểu về đứa cháu mình là Long
Xưởng. Nào là cực kỳ thông minh. Nào là khoan hòa, nhân từ. Ông hy vọng vào
Long Xưởng rất nhiều. Nhân dịp này, ông muốn thúc nhà vua cho lập Đông
cung triều để Long Xưởng sớm dự vào việc triều chính. Ông tâu :
— Tâu hoàng huynh! Từ khi đức Thái tổ nhà ta lập nghiệp rồng, ngài đã phong
cho đức Thái tông làm Khai Thiên vương, cho ở Đông phủ để dự vào chính sự.
Lại nữa, khi đức Thái tông vừa lên ngôi đã phong cho đức Thánh tông làm Khai
Hoàng vương, cho ra ở Đông cung. Nay thái tử Long Xưởng, tuổi tuy còn nhỏ,
nhưng thông tuệ khác thường, lại có đức độ, hành sự không khác Quốc phụ khi
ưa. Xin hoàng huynh khẩn phong chức tước cho thái tử, và lập Đông cung triều,
để thái tử quen với chính sự.
Nghe em tâu, nhà vua gật đầu :
— Trẫm sẽ ban hành chiếu chỉ như hoàng đệ tâu.
(Ghi chú của thuật giả.
Quốc phụ đây để chỉ Khai quốc vương Lý Long Bồ, con thứ nhì của vua Lý
Thái tổ. Ngài là cột trụ của triều vua Thái tổ, Thái tông, Thánh tông. Xin đọc
Anh hùng Tiêu sơn, Thuận Thiên di sử , Anh hùng Bắc cương, Anh linh thần võ
tộc Việt và Nam quốc sơn hà của Yên tử cư sĩ.)
Sau buổi hội yến đó, thì hơn tháng sau có chiếu chỉ ban ra phong chức tước cho
thái tử, gồm cả chức văn lẫn võ:
Thái sư, Thượng trụ quốc, khai phủ nghị đồng tam tư, Phụ quốc thượng tướng
quân, Lĩnh Nam tiết độ sứ, Hiển Trung vương.
Nhưng vì thái tử còn nhỏ, nên nhà vua không thể vượt luật cho mở phủ đệ riêng.
Ngược lại nhà vua dùng Chiêu Linh hoàng hậu, với thái tử như những đại học sĩ
làm việc bên cạnh.
Sau hơn hai năm trôi qua, thái tử đã lớn, nên được cho mở phủ đệ riêng, cho ra ở
Đông cung ngoài thành, cùng lập Đông cung triều.
Phủ đệ của Đông cung được xây dựng vào đời đức Thái tổ (Nhâm Tý,
DL.1012), niên hiệu Thuận Thiên thứ ba. Nguyên bấy giờ vua Lý Thái tổ mới
lên ngôi, lòng dân chưa an; luật pháp, kỷ cương chưa vững. Ngài ban chiếu cầu
hiền, rồi sai xây cung Long đức ngoài thành cho con trưởng là Khai Thiên vương
ở, để tiếp xúc với sĩ dân trong nước, và hiểu dân tình. Tuy nhiên cung Long đức
không phải là Đông cung, vì Khai Thiên vương chưa được lập làm trừ quân.
Sau khi Khai Thiên vương lên ngôi, tức vua Lý Thái tông, ngài phong cho con
trưởng là Khai Hoàng vương Nhật Tông làm Đông cung thái tử, cung Long đức
đổi thành Đông cung. Lúc thái tử Nhật tông đủ mười tuổi, được cho ra ở đây,
làm phủ đệ riêng, tiếp xúc với sĩ dân.
Rồi thái tử Nhật tông lên nối ngôi, tức vua Thánh tông. Bởi nhà vua chưa có
hoàng nam, nên Đông cung bị bỏ không một thời gian dài. Tới khi vua Thánh
tông băng, thì thái tử Càn Đức mới bẩy tuổi, chưa được mở phủ đệ riêng. Đông
cung vẫn không có chủ. Thái tử Càn Đức lên ngôi, sau là vua Nhân tông. Vua
Nhân tông không có con trai, ngài nuôi con của em là Sùng hiền hầu tên Lý
Dương Hoán, lập làm Thái tử.
Niên hiệu Thiên phù Duệ vũ thứ 6 (Ất Tỵ DL. 1125), vua cho thái tử Dương
Hoán ra ở Đông cung. Niên hiệu Thiên phù Khánh thọ nguyên niên (Đinh Mùi,
DL. 1127), vua Nhân tông băng, thái tử Dương Hoán lên nối ngôi, sau là vua
Thần tông. Bấy giờ vua Thần tông cũng chưa có hoàng nam, một lần nữa Đông
cung lại vô chủ.
Niên hiệu Thiên Thuận thứ 4 (Tân Hợi, DL. 1131), vua Thần Tông âm thầm ra
ngoài kinh thành thăm dân cho biết sự tình. Trong dịp này, nhà vua gặp một
thiếu nữ bán hoa, sắc nước hương trời tên Hồng Hạnh. Nhà vua say mê Hồng
Hạnh, rồi đón về, phong làm tu dung. Năm sau, ngày1 tháng 5 năm Nhâm Tý, tu
dung Hồng Hạnh sinh hoàng tử Thiên Lộc. Nhà vua lập làm thái tử, tước phong
Minh Đạo vương. Vì sinh hoàng nam, tu dung Hồng Hạnh được thăng lên thần
phi. Điều này làm Thái thượng hoàng (Sùng hiền hầu) và Chiêu Hiếu hoàng
thái hậu ( Đỗ phu nhân, vợ Sùng Hiền hầu) không vui, vì Hồng Hạnh là con nhà
dân dã.
Niên hiệu Thiên chương Bảo tự thứ 6 đời vua Thần Tông (Mậu Ngọ, DL. 1138),
tuy thái tử Thiên Lộc mới 7 tuổi, nhưng cũng được cho ra ở Đông cung. Tháng
bẩy năm đó, vua không khỏe. Biết rằng mình sắp băng, mới gọi tham tri chính
sự (Phó tể tướng) Từ Văn Thông vào để viết di chiếu cho thái tử Thiên Lộc nối
ngôi. Cảm Thánh hoàng hậu muốn tranh ngôi vua cho con mình là hoàng tử
Thiên Tộ, mới cùng hai bà phi Nhật Phụng và Phụng Thánh đem vàng ngọc đút
cho Từ Văn Thông và dặn rằng khi nhà vua bảo viết chiếu thì báo cho ba bà
biết. Quả nhiên khi vua sai viết chiếu, Thông cầm bút chần chờ, rồi mật báo cho
ba bà. Ba bà vào khóc rằng : ị Bọn thiếp nghe rằng người xưa lập con nối ngôi
thì lập con đích chứ không lập con thứ. Thiên Lộc là con của một tu dung, xuất
thân dân dã. Nếu cho Thiên Lộc nối ngôi, thì e người mẹ sẽ tiếm lấn sinh lòng
ghen ghét làm hại, thì mẹ con thiếp tránh sao khỏi hại Ể. Vì thế nhà vua xuống
chiếu lập Thiên Tộ lên làm vua, dù bấy giờ mới 3 tuổi (tức vua Anh Tông). Nhà
vua lên ngôi được hai ngày thì Chiêu Hiếu hoàng thái hậu, Cảm Thánh thái hậu
đuổi Thiên Lộc ra khỏi Đông cung. Từ đấy Đông cung tiếp tục bỏ trống cho đến
nay (1160) đã hai mươi ba năm.
Bây giờ Thái tử Long Xưởng đã mười tuổi, chư đại thần chiếu luật lệ xin cho ở
Đông cung, lập Đông cung triều. Nhà vua chưa kịp ban chỉ, thì đã gặp sự phản
đối của Thái hậu.
Nguyên sau khi Anh Vũ bị giết, phe đảng họ Lê thuộc giòng họ của thái hậu,
giòng họ Đỗ của Anh Vũ...sợ bóng sợ gió Côi sơn song ưng, chúng không dám
dự vào việc triều chính nữa. Kể từ khi lên ngôi đến nay là 25 năm, lần đầu tiên
nhà vua nắm lại được một số quyền hành. Trong suốt hai năm qua, được các lão
thần như thái sư Lưu Khánh Đàm, Tthái phó Hoàng Nghĩa Hiền, các thân vương
như Trí Minh vương Lý Long Dũng, Bảo Minh hầu Lý Long Can, Bảo Thắng
hầu Lý Long Hiền hết sức phò tá, nên Đại Việt đã có kỷ cương.
Công việc chỉnh đốn lại thực bận rộn. Nào tái tổ chức mười hai hiệu Thiên tử
binh, tái tổ chức đoàn thị vệ. Nào giảm cung nga, thái giám, giảm chi tiêu nội
cung. Nào chỉnh đốn lại hệ thống làng xã, tái phối trí hệ thống kiểm soát trâu
bò. Cấm hẳn việc giết trâu, bò, dù là quốc lễ. Hóa cho nên chưa đầy hai năm,
mà dân chúng no đủ, phong hóa được phục hưng. Bề ngoài, ai cũng tưởng nhà
vua làm, nhưng thực ra, nhà vua chỉ làm theo lời khuyên của đại thần, thân
vương, hoàng hậu, thái tử.
Thấy những thay đổi của triều đình, bọn tay chân của thái hậu gì mà không biết
rằng: Nhà vua chỉ là cục bột, mọi sự ngoài triều do các quan, mọi sự bề trong do
thái tử. Vì hoàng hậu bị thái hậu kiềm chế bằng độc chưởng Huyền âm, mỗi
tháng bà phải đến cung Cảm Thánh xin thái hậu ban thuốc giải, nên bà đóng vai
mũ ni che tai, ngớ ngớ ngẩn ngẩn. Bà muốn làm gì, khuyên nhà vua làm gì, lại
rỉ tai Long Xưởng. Bọn gian cứ tưởng những gì Long Xưởng tâu xin nhà vua làm
là của thái tử. Vì vậy chúngỳ càng sợ Long Xưởng. Chúng nghĩ : Bây giờ, với
tài trí ấy mà thái tử mở Đông cung triều, thì thực là nguy cho chúng. Chúng tâu
xin thái hậu bác bỏ việc này. Nhưng trước những luật lệ, điển chế của triều đình,
thái hậu đành nhượng bộ.
Tuy nhượng bộ, mà bà vẫn không chịu thua. Bà không để hoàng hậu cũng như
thái tử tuyển cung nga, thái giám, thị vệ, bộc phụ, mã phu cho Đông cung . Bà
dành quyền tuyển người cho cháu. Đấy là cái khăn để che dấu việc chuyên
quyền, chứ thực sự bà đem người của bà từ cung Cảm Thánh sang. Quan trọng
nhất là chức thái tử mật thư tỉnh sự, bà bổ nhiệm cháu gọi bằng cô tên Lê Du
vào chức này. Du tuổi đã trên năm mươi. Chức thái tử mật thư tỉnh sự rất quan
trọng, tương đương với ngày nay là đổng lý văn phòng. Với chức mật thư tỉnh sự,
Du coi hết văn thư, Du còn cai quản hết những người phục thị riêng cho Đông
cung như thị vệ, cung nga, thái giám, thân binh, bộc phụ, mã phu và cả nhũ mẫu
của thái tử nữa. Chức thứ nhì là trưởng sử, để ghi chép tất cả những gì xẩy ra
trong Đông cung. Thái hậu bổ nhiệm Đỗ Anh Hạc, cháu gọi Đỗ Anh Vũ bằng
chú, y thoát chết trong vụ Côi sơn song ưng xử mấy năm trước. Còn trưởng toán
thị vệ, bà bổ nhiệm thằng Ba, tức Đỗ Anh Hào, con của Anh Vũ. Y chính là tên
thích khách mà bà sai đến kiềm chế nhà vua hai năm trước.
Thế là nhất cử, nhất động của thái tử, bọn này đều mật tấu cho thái hậu hết.
Đông cung trở thành một nhà tù giam lỏng Long Xưởng.
Nhưng có một người, bà không có quyền thay thế, ví dù bà có quyền thay thế,
bà cũng không thể thay thế, đó là vú Loan, người nuôi sữa của thái tử.
Luật định ra từ thời vua Thái tổ về việc tuyển vú cho các hoàng tử, công chúa
như sau: Khi một hoàng tử, công chúa sinh ra, thì hoàng hậu tuyển chọn lấy một
phụ nữ trẻ, vợ của chức quan nhỏ, có sức khỏe, không bệnh tật, tâm tính lương
thuần; đang nuôi sữa cho con, phong làm nhũ mẫu.
Nhũ mẫu của công chúa được hưởng bổng bằng trưởng toán cung nga, hàm tới
tứ phẩm. Nhũ mẫu của hoàng tử, hưởng bổng bằng Lễ nghi học sĩ, hàm tới tam
phẩm. Sau ba năm, nhũ mẫu được ban thưởng rất nhiều vàng bạc, lại cấp ruộng
cho, rồi trả về với gia đình. Còn như vì lòng hiếu kính với người con sữa, nhũ
mẫu muốn ở lại trong cung, thì vẫn được cấp ruộng, lại cũng vẫn được hưởng
bổng như khi còn nuôi sữa. Người con của nhũ mẫu được phong chức nghĩa đệ
hay nghĩa muội của công chúa, hoàng tử.
Nhũ mẫu của Long Xưởng họ Chu tên Thúy Loan, con của một võ quan nhỏ là
Chu Minh, giữ chức sư trưởng trong hiệu binh địa phương Thiên trường. Năm
mười sáu tuổi, vú được gả cho một võ quan cấp tá lĩnh làm việc tại Khu mật
viện tên Tăng Quốc. Năm mười bảy tuổi vú sinh đứa con đầu lòng, là Tăng
Khoa. Tăng Khoa vừa đầy tháng thì vú được tuyển làm nhũ mẫu cho Long
Xưởng. Vú phải mượn người nuôi sữa cho con, để nhập cung. Tuy phải xa
chồng, xa con, nhưng vú được hoàng hậu cực kỳ sủng ái. Vú ở trong một phòng
trang trí sang trọng tại cung Chiêu Linh, nuôi ăn như những công chúa, hoàng tử.
Vú cũng cấp thái giám, cung nữ hầu hạ. Chiêu Linh hoàng hậu luôn ban thưởng
vàng bạc cho vú vào dịp đầy tháng, đầy năm của Long Xưởng. Cứ hai ngày, vú
được về thăm chồng một lần.
Khi hết hạn ba năm, vú Loan xin ở lại phục thị thái tử. Năm nay vú mới hai
mươi bảy tuổi, nhưng địa vị, uy tín của vú rất lớn, vì tâm tính hiền hậu, hay giúp
đỡ người. Bây giờ thái tử được phong tước vương, ra ở Đông cung, các quan
chiếu luật, xin thăng vú lên chức thái tử thượng thiện, tước Nhu mẫn, Đoan duệ
phu nhân. Cái chức thái tử thượng thiện tuy không lớn, nhưng rất quan trọng. Với
chức vụ này, vú cai quản kho lẫm, tài vật, điều khiển việc nấu nướng, y phục
của Đông cung. Đứa con sữa của vú là Tăng Khoa được phong tước thái tử
nghĩa đệ, được tự do ra vào Đông cung, được vào học ở trường Quốc tử giám.
Chồng của vú được thăng lên hàng tướng quân. Cả nhà vú được vào ở hẳn trong
Đông cung.
Gia đình vú chỉ vỏn vẹn có bốn người, gồm hai vợ chồng, với Tăng Khoa, thêm
một con ở bằng tuổi Khoa tên Nhài, mà vú mua về mấy tháng trước. Nguyên
con Nhài là con một thầy lang ở Gia lâm. Năm trước mẹ nó chết, dì ghẻ đánh
đập nó quá tàn nhẫn. Hàng xóm thương tình xin cho nó làm con ở nhà vú. Vú
không muốn chiếm đoạt con của người, vú gặp bố nó xin mua. Bố nó bán cho
vú với giá năm lạng bạc. Từ khi về với vú, con Nhài rất chăm chỉ, vừa ngoan,
vừa hiền, nó lại chịu khó học, nên cũng đọc thông văn tự. Nó được mọi nết, chỉ
phải một tội là mặt nó rỗ chằng chịt, rất khó coi. Năm nay nó đã mười bẩy tuổi,
cái tuổi mà hoa chớm nở. Con nhài trổ mã, chân tay dài, thân hình nảy nở. Ngực
nở, lưng tròn dáng đi nhẹ nhàng, tiếng nói trong mà ngọt như cam thảo.
Theo hội điển sự lệ triều Lý, thì khi một người được tuyển vào hậu cung, Đông
cung, thì Khu mật viện phải điều tra lý lịch. Khu mật viện cho người sang Gia
lâm tìm thầy lang điều tra thì biết rằng thầy là người chất phác, ngoan dân. Kết
quả con Nhài được tuyển làm người phụ nấu bếp cho vú Loan. Long Xưởng
dùng nó làm người hầu cận thên tín.
Vì vậy, tuy bị người của Cảm Thánh thái hậu bao vây, nhưng Long Xưởng vẫn
còn bốn người thân tín là vợ chồng vú Loan với đứa em sữa Tăng Khoa, con
Nhài. Bề ngoài thì Tăng Khoa học văn, chơi đùa với thái tử, chứ thực ra nó là
con thoi đem tin tức của thái tử cho thái sư Lưu Khánh Đàm, Thái phó Hoàng
Nghĩa Hiền. Nhất là nó thông báo cho Thái tử biết những gì xẩy ra ở ngoài kinh
thành. Ngoài ra, trong những giờ học, Long Xưởng được trò truyện với các em
trai, em gái.
Ngay hôm Hoàng hậu bị trúng Huyền âm độc chưởng của thằng Hai. Trong khi
bà đau đớn đến chết đi sống lại, thì Long Xưởng nhắc :
— Thần nhi nghe nói : Khi Linh Nhân hoàng thái hậu còn tại thế, tự tay người
chế ra một cái áo. Lúc nào người cũng mặc cái áo đó bên mình. Sau khi đức
Nhân tông lập hoàng hậu, người trao áo đó cho, và dặn rằng : Trọn đời ta, khi
thì giúp đức Thánh tông trị nước, để người bình Chiêm. Khi thì thính chính, phù
tá hoàng nhi. Ta đã đem tất cả tâm huyết ra chế thành cái áo này. Nay con là
Hoàng hậu, ta truyền cho con. Cái áo này, khi mặc vào có thể giúp cho mẫu
nghi thiên hạ giữ được chính đạo, phò tá thiên tử. AÔo lại có khả năng chống
được tất cả độc tố trong thiên hạ. Con hãy giữ lấy, sau này, đời đời chỉ truyền
cho các hoàng hậu mà thôi. Vậy cái áo ấy đâu ?
— Khi được phong làm hoàng hậu, mẹ được Thái hậu trao cho cái áo ấy. Mẹ đã
mặc thử, thì không thấy gì lạ cả. Mẹ lại đem ra nghiên cứu, thì chỉ thấy lớp
ngoài bằng lông hồ cừu, lớp giữa bằng lụa, lớp trong cùng bằng gấm. Không có
chữ hay đồ hình gì cả.
Bà lấy cái áo ấy trao cho Long Xưởng :
— Đây, di vật đó đây. Con vốn thông minh. Vậy con hãy đem về nghiên cứu
xem, biết đâu trong đó không có di thư, mật kế gì để lại cũng nên.
Long Xưởng nhận áo, đem về, nhờ nhũ mẫu dùng dao nhỏ tách lơ lụa, gấm, da
ra, rồi vạch từng cái lông, tìm từng nút chỉ cũng không thấy gì lạ. Một lần chán
nản, vương gục đầu xuống án thư ngủ thiếp đi. Ngủ một giấc, vương giật mình
thức dậy, vô ý tay đụng phải bát nước trà tươi, làm nước đổ lên lên lớp da.
Vương vội lấy khăn lau nước, thì thấy lớp da lờ mờ hiện lên những giòng chữ li ti
chép tất cả võ công mà Linh Nhân hoàng thái hậu đã học được : Võ công Đông
a, Chu sa Nhật hồ độc chưởng, nội công Âm nhu, Không minh tâm pháp, Long
biên kiếm pháp cùng võ công căn bản của phái Mê linh. Vương tỉnh ngộ, nghĩ
thầm :
— Thì ra xưa kia, Linh Nhân hoàng thái hậu đã dùng một thứ mực đặc biệt chép
mật thư trong lớp da này. Muốn đọc được, thì phải dùng nước trà tươi đổ lên, chữ
mới hiện ra.
Vương đóng cửa, đem nước trà bôi lên khắp lớp da, rồi chép ra giấy.
Vương nghĩ thầm :
— Mẫu hậu ta là đệ tử của phái Mê linh, tuy nhiên bản lĩnh của người không
được làm bao. Ta học lại mấy chiêu của người, thành ra vô dụng. Ta nghe, gần
đây chưởng môn phái Mê linh là Nghi Hòa sư thái bị ám toán, viên tịch thình
lình. Võ phổ của phái Mê linh bị mất, nên các tuyệt học thất truyền. Nên từ đấy,
võ công phái này không còn nổi danh như xưa. Nay ta vô tình có được di thư
này. Ta âm thầm luyện thành, rồi thình lình ra tay thanh toán bọn Nùng sơn tam
anh, Tô lịch nhị tiên, giải vây cho phụ hoàng, cho mẫu hậu.
Sợ rằng trong lúc vô tình, bị người của Thái hậu khám phá ra, Long Xưởng học
thuộc tất cả di thư, rồi nhờ nhũ mẫu may các lớp da, lụa, gấm lại như cũ. Từ đấy
vương đóng cửa âm thầm luyện di thư. Trong khi bề ngoài không chú ý gì đến
luyện võ cả.
Trước hôm thiết Đông cung triều lần đầu, Hoàng hậu đã dặn dò Thái tử phải tối
cẩn thận trong hai vấn đề: Một là tỏ ra thực nhân từ, yêu dân như yêu con. Hai
là phải làm như nhu nhược, ba phải; các quan bàn gì, thì chỉ ậm ừ, không quyết
đoán, để dò ý xem người nào của Thái hậu, rồi sau đó tìm lấy những người tâm
huyết, trung thành mà dùng.
Ngày lễ Thượng nguyên, 15 tháng giêng, niên hiệu Đại Định thứ 21 (Canh Thìn,
DL.1160), phủ Thái tử thiết Đông cung triều lần đầu tiên. Tuy Long Xưởng được
thiết Đông cung triều, tức là bắt tay vào những việc chăm lo cho toàn dân, là
điều mà Thái tử ước mơ, chờ đợi từ mấy năm nay... Nhưng trong lòng người
thiếu niên ấy lại nặng trĩu lo âu. Bởi nếu cứ nhìn bề ngoài của chính sự, ai cũng
tưởng mọi sự tốt đẹp. Nhưng trong thực tế, thì quốc sản khánh kiệt, triều đình
xung đột với cung Cảm Thánh. Các quan thì chia làm hai, một nửa xu phụ Thái
hậu, một nửa theo triều đình. Cái trở ngại lớn lao nhất của nhà vua cho tới Thái
tử là: Bên cung Cảm Thánh, thái hậu muốn làm gì thì làm. Bà không cần đến
đạo lý, điển chương, luật lệ.
Nguyên trước đây, bà cùng với Đỗ Anh Vũ áp chế nhà vua, không coi luật lệ,
kỷ cương ra gì. Hai người tự tuyển cung nga, thái giám, thị vệ, mà không cần
đến triều đình. Riết rồi các quan không còn tuân chỉ nhà vua, chạy theo xu phụ
y với Thái hậu. May sao, Côi sơn song ưng giết Anh Vũ cùng với chân tay thân
tín của y, Hoàng hậu cho bắt bọn quan lại phe đảng còn lại... Nhưng bọn quan
lại này, được đội võ sĩ riêng của Thái hậu giải thoát, rồi đặt chúng trựỳc thuộc
cung Cảm Thánh.
Tuy được thoát nạn, nhưng chúng cũng biết rằng, mình sống bám theo Thái hậu
là ở ngoài vòng pháp luật. Nếu một mai, nhà vua dành được quyền, hay Thái
hậu băng thì ba họ nhà chúng sẽ bị tru diệt. Chúng cũng nhìn thấy: Nhà vua tuy
nhu nhược, nhưng Thái tử lại cực kỳ thông minh; mai này nhà vua băng hà, thì
không biết những thảm khốc nào sẽ đến với chúng? Trước cái thế nguy đó, một
liều ba bẩy cũng liều, chúng xui Thái hậu: Hiện Thái hậu lâm cảnh cỡi cọp rồi,
dù người không muốn giết cọp, nhưng bước khỏi lưng cọp, e bị cọp cắn. Đám
quan lại theo Anh Vũ, không thuộc họ Đỗ cũng thuộc họ Lê là họ của hậu. Nay
Đỗ Anh Vũ chết, thì nhà vua sẽ nhân đó giết ba họ Anh Vũ, rồi không chừng
giết ba họ nhà hậu nữa. Vậy nhân người của Anh Vũ còn lại, đang gặp đường
cùng, Thái hậu phải chiêu mộ chúng, với anh em nhà hậu, rồi thiết lập trong
cung Cảm Thánh như một triều đình riêng biệt.
Thái hậu nghe theo. Bà đưa vào cung rất nhiều đàn ông, mà trong luật cung
đình, thì tại Hoàng thành không cho bất cứ người đàn ông nào vào, nếu không
phải thái giám. Bà công khai chiêu mộ bọn đầu trộm, đuôi cướp; lập thành năm
đội thị vệ riêng, ba đội nam, hai đội nữ. Đám thị vệ dần dần đông tới mấy trăm
người, do ba cao thủ võ lâm Vương Nhất, Cao Nhị, Đỗ Anh Hào chỉ huy. Bà
ban cho ba tên này mỹ danh là Nùng sơn tam anh. Cả triều đình không ai biết
căn cước chúng ra sao. Cái đêm Anh Vũ bị giết, thì cả ba đang ở trong cung
Cảm Thánh, nên thoát nạn. Bà còn lập hai đội nữ thị vệ do hai cung nữ tên Cảm
Linh, Cảm Chi, cháu gọi bà bằng cô, chỉ huy; đó chính là hai cung nữ đã hộ vệ
bà đến cung Chiêu Linh áp đảo nhà vua. Thái hậu lại luôn luôn ban chỉ trực tiếp
cho các quan. Đa số các chỉ dụ đó đều trái ngược với những điều triều đình đã
nghị sự.
Lúc đầu, khi có những chỉ dụ của cung Cảm Thánh ban ra trái luật, các đại thần
trì nghi, tâu lại xin ý kiến nhà vua. Nhà vua tuyên chỉ: Khi có chỉ dụ của thái
hậu, cứ việc thi hành, không cần tâu lại. Dần dần cung Cảm Thánh trở thành
một triều đình với uy quyền mênh mông tuyệt đối. Một số các đại thần quay ra
xu phụ với thái hậu, tuy nhiên chúng vẫn phập phồng sợ bóng, sợ gió Côi sơn
song ưng, bằng không chúng đã xui Thái hậu phế nhà vua xuống, rồi lập một ấu
quân lên thay.
Theo hội điển sự lệ của triều Lý, thì mỗi tháng nhà vua thiết đại triều hai lần
vào ngày mùng một và mười rằm, thiết tiểu triều vào ngày mùng mười và hai
mươi. Khi thiết tiểu triều, thành phần gồm có Tam công là Thái sư, Thái phó,
Thái úy; Tể tướng, lục bộ Thượng thư, quản Khu mật viện, Tổng trấn Thăng
long, Đô đốc thống lĩnh thủy quân, và những quan lại chuyên môn sẽ bàn đến
trong buổi đình nghị. Khi thiết đại triều, thành phần cũng như trên, thêm các
thân vương, thống lĩnh kỵ binh, thống lĩnh mười hiệu Thiên tử binh, các An phủ
sứ, Tuyên vũ sứ.
Dù thiết đại triều, hay tiểu triều thì cũng nghị những vấn đề đại cương. Khi nhà
vua lập Thái tử, mỗi tháng Thái tử thiết Đông cung triều bốn lần vào ngay ngày
hôm sau thiết đại và tiểu triều. Đông cung triều chỉ để thi hành, hoặc kiểm soát
việc thi hành những việc triều đình đã nghị, đã ban ra.
Đông cung triều gồm có các quan như triều đình, nhưng thêm chữ thái tử ở đầu.
Như triều đình có Thái sư, Thái phó, Thái bảo, thì Đông cung triều có Thái tử
thái sư, Thái tử thiếu sư, Thái tử thái bảo...Thông thường các Đông cung quan
cũng kiêm luôn những chức vụ khác của triều đình. Long Xưởng không hy vọng
gì vào các Đông cung quan vì họ đều là chân tay của Thái hậu. Biết thế, Long
Xưởng mời thêm các vị trong hoàng tộc như Trí Minh vương, Bảo Thắng hầu,
Bảo Minh hầu vào Đông cung quan, nhưng dặằn riêng rằng khi nghị sự thì các
vị này cứ ù ù, cạc cạc để cho chân tay của Thái hậu tin rằng các ông chỉ là cái
bị thịt. Rồi sau đó nếu có ý kiến gì, thì mật tấu cho Long Xưởng bằng đường
dây của vú Loan, của Tăng Khoa.
Khi thiết triều Đông cung, thì chỉ có ba hồi chiêng trống, chứ không cử nhạc.
Thái tử từ trong bước ra.
Lễ quan hô:
— Thái tử giá lâm.
Tất cả các quan đều quỳ gối hành đại lễ. Duy ba người là Trí Minh vương Lý
Long Dũng là chú vua; quan Thái phó Hoàng Nghĩa Hiền, quan Thái sư Lưu
Khánh Đàm cùng các thầy của Thái tử nên miễn mọi lễ nghi.
Thái tử cung tay đáp lễ với các quan.
Lễ quan hô:
— Bình thân.
Các quan đứng làm hai hàng, văn bên trái, võ bên phải. Trí Minh vương, Thái
sư, Thái phó thì được ngồi.
Thái tử vái Trí Minh vương:
— Hài nhi xin vấn an thúc phụ.
— Đa tạ điện hạ, thần vẫn an.
Thái tử lại vái Thái sư, Thái phó, đưa ra lời vấn an bằng ngôn từ bình dân:
— Con xin vấn an hai thầy.
Nhìn Thái phó Hoàng Nghĩa Hiền, thái tử vui vẻ:
— Thưa thầy, nhìn sắc diện thầy, con thấy dường như thầy có điều gì cao hứng
lắm thì phải?
— Đúng như điện hạ phán, thần vui mừng, vì hôm nay là ngay đầu tiên điện hạ
thiết triều; bắt đầu một kỷ nguyên mới.
Long Xưởng nói với các quan:
— Chư vị đây đều là những người văn mô, vũ lược, lại có tấm lòng son với xã
tắc. Hôm nay, các vị cùng Xưởng này họp tiểu triều. Xưởng mong các vị đừng
tiếc công dạy dỗ. Điều khiến Xưởng ăn không ngon, ngủ không yên là sao kiến
thiết Đại Việt ta thành một nước hùng mạnh,dân chúng hạnh phúc như thời vua
Hùng, vua Trưng xưa, hay như thời các vị tiên đế bản triều.
Lại quay sang nói với Hoàng Nghĩa Hiền:
— Thưa thầy! Chương trình nghị sự hôm nay gồm có những gì?
— Khải, thứ nhất, nghị chi tiết việc dựng đền thờ vua Trưng ở phường Bố cái.
Thứ nhì, nghị việc chi dụng của hậu cung. Thứ ba, nghị việc tuyển thiện nhân
cho Đông cung. Về vụ thứ nhất xin để quan Lễ bộ thượng thư tâu.
Một đại thần bước ra :
— Thần Chu An Thái, Thái tử thiếu sư, Tiên Dung điện đại học sĩ, Đăng châu
hầu, Lễ bộ thượng thư, xin kính khải.
— Xin đại học sĩ bình thân.
— Do chỉ dụ của Thái tử, truyền thiểm bộ kiếm thế đất linh lập đền thờ vua
Trưng. Sau hơn nửa tháng, thần tìm ra khu đất, mà lúc ngài thắng giặc tại Long
biên, đã lập đàn tế Quốc tổ. Khu đất này xứng đáng lập đền thờ ngài.
— Như vậy hẳn đại học sĩ đã tìm được di tích gì từ thời Lĩnh Nam còn sót lại
chăng ?
— Khải, khi lập đàn tế Quốc tổ, vua Trưng sai lấy đá trắng ở núi Tản viên tạc
bốn cái cột đài. Sau khi tế, hai cột được đưa về kinh đô Mê linh, nay không biết
ở đâu. Hai tảng còn lại để ở cửa thành Long biên. Lúc Bắc bình vương Đào Kỳ
cùng vương phi sắp phá vòng vây chạy về Cổ loa, người truyền đem hai tảng đá
linh chôn vào chỗ kín. Hậu nhân không biết hai tảng đá đó chôn ở chỗ nào.
Trong khi thần tìm đất linh xây đền, thần thấy bờ sông ở phường Bố cái có ánh
sáng chiếu lên, thần sai đào chỗ ấy, thì tìm ra hai cái cột đá linh thời Lĩnh Nam.
Long Xưởng rót một chung cam thảo trao cho An Thái:
— Đại học sĩ hành sự mẫn cán, mau chóng, thực xứng đáng làm con cháu của
vua Trưng, nên anh linh ngài mới đưa khanh tới chỗ chôn báu vật. Khanh hãy
uống chung nước này lấy giọng.
An Thái uống hết chung trà rồi dâng sơ đồ vẽ đền, gồm có ba gian chính điện,
hai dẫy ngang mỗi dẫy ba gian nữa. Bên dưới ghi rõ chi phí xây cất, thời gian
khởi công, thời gian hoàn tất. Long Xưởng đọc qua, không thấy mục ghi số tiền
công khố phải chi, thì ngạc nhiên:
— Khanh cho biết tổng số công khố phải chi ra là bao nhiêu?
— Khải điện hạ, trải qua tất cả các triều đại, mỗi khi xây, hoặc tu bổ đền thờ
Nhị thánh thì không bao giờ công khố phải chi cả. Thủ tục như sau: Triều đình
ban chỉ dụ cho bộ Lễ tìm địa điểm, hoặc dân chúng xin lập tại địa điểm nào. Bộ
Lễ sẽ thể theo ý dân, vẽ đồ hình, rồi tâu lên. Dân chúng họp nhau, tìm người
đức hạnh, có uy tín bầu lấy ban kiến tạo. Bấy giờ mới quyên giáo thập phương,
lấy tiền xây cất.
— Có bao giờ tiền thập phương cúng, mà không đủ để xây cất không?
— Khải, việc này chưa từng xẩy ra. Chỉ nguyên lính của ngài với chư tướng
cúng, cũng dư thừa rồi.
Long Xưởng kinh ngạc:
— Lính của ngài? Ngài tuẫn quốc đã 1117 năm rồi, mà lính của ngài còn sống
ư?
Thái phó Hoàng Nghĩa Hiền biết vấn đề này ông chưa giảng cho Long Xưởng,
nên Long Xưởng không biết. Ông vội xen vào:
— Khải, nguyên sau khi vua Trưng cùng chư tướng tuẫn quốc rồi, các ngài hiển
linh, thường nhập vào những người có phúc trạch, để phán lời ích quốc, lợi dân.
Trong ngôn từ bình dân, người ta gọi những người được các ngài nhập đồng là
lính. Hằng năm, vào đầu tháng hai, trên toàn quốc mở hội Mê linh, tất cả lính
của các ngài đều trẩy hội Hát giang hầu bóng. Hoặc không trẩy hội Hát giang
được thì hầu ở những am điện địa phương. Những lính của các ngài, thường khá
giả, nên họ cúng rất hậu. Có điều sau khi lập đền thờ, thì cần ruộng, đất, lấy lợi
hoa mầu, ấy mới là điều cần thiết, mà triều đình phải chu toàn.
Long Xưởng vui vẻ:
— Thưa thầy, con được hưởng bổng của tước đại vương đã hai năm, nhưng vẫn
ở trong cung với mẫu hậu. Lương, tiền, hoa lợi hai trăm mẫu ruộng kim điền,
hoặc là con phát cho kẻ khó, hoặc là con tặng cho võ lâm, hào kiệt. Vậy con có
quyền dùng ruộng được phụ hoàng ban cho, cúng vào đền của ngài không?
— Khải Thái tử, đúng luật thì không được, nhưng lệ thì được. Lệ này có vào
thời đức Thánh tông. Bấy giờ Linh Nhân hoàng thái hậu mới tiến cung, còn ở
chức phu nhân. Đức Thánh tông ban cho ngài một trăm mẫu kim điền. Ngài đã
cúng vào chùa Báo ân hai mươi mẫu. Từ đấy việc hoàng tộc dùng ruộng đất
phong cúng vào đền chùa thành lệ.
Long Xưởng hỏi Chu An Thái:
— Theo đại học sĩ, thì việc hương khói đền thờ vua Trưng, phải cần hoa lợi bao
nhiêu mẫu kim điền?
— Khải, khoảng hai mẫu.
Long Xưởng tuyên chỉ cho Mật thư tỉnh sự Lê Du:
— Lê tỉnh sự, hãy làm thủ tục, để cô gia cúng vào đền thờ vua Trưng mười mẫu
kim điền.
Việc nghị sự xây đền vua Trưng đã xong.
(Ghi chú của thuật giả.
Việc này ĐVSKTT, Lý kỷ, Anh tông kỷ chép giản dị như sau:
...Canh Thìn, niên hiệu Đại Định năm thứ 21, Tống Thiệu Hưng năm thứ 30
(DL.1160), mùa Xuân tháng giêng, làm đền thờ Hai Bà ở phường Bố Cái...
Huyền sử nói rằng, Hai Bà nhảy xuống sông Hát giang tự tử. Anh linh hóa
thành tượng đồng, đến thời Lý thì trôi đến bờ sông Hồng ngoại thành Thăng
long, chiếu hào quang sách rực, rồi báo mộng cho dân chúng biết. Dân chúng ra
chỗ ấy thì thấy hai tượng đồng, bèn vớt lên rồi xin triều đình cho lập đền thờ.
Nhân đó đặt tên xã ấy là Đồng nhân (Nay là phường Đồng nhân, quận Hai Bà
Trưng, Hà nội). Đến đời Lê bãi sông có đền tọa lạc bị nước xói lở, dân chúng
lại di chuyển đền đến xã Đại từ. Vào thời Gia long (1818) đất lại bị lở đền di
chuyển đến địa điểm hiện nay.
Chỉ độc giả Anh hùng Đông a mới đươc biết chi tiết việc này mà thôi. Nếu độc
giả muốn hành hương đền này thì cứ về Hà nội, đi xe đến quận Hai Bà Trưng,
sẽ thấy đền tọa lạc cạnh Viên minh tư. Viên minh tự là nơi mà thuật giả có nhều
kỷ niệm thời thơ ấu. Bởi bản sư trụ trì tại đây. Trước kia thì chùa do sư ni trụ trì,
đền do thủ từ trông coi riêng. Từ sau khi bản sư trụ trì thì ngài kiêm luôn. Năm
1993, thuật giả trở lại viếng đền chùa, chỉ gặp sư cô Đàm Vinh là vai sư điệt của
thuật giả. Sư cô dẫn thuật giả thăm đền, chùa cùng tháp của bản sư.
Độc giả muốn thâm cứu thêm về ngôi đền này có thể tìm trong các thư tịch sau.
Bằng chữ Hán:
ĐVSKTT Lý kỷ, Anh tông kỷ.
Đại việt địa dư chí.
Hà nội địa dư chí.
Thăng long cổ tích khảo,.
Hà nội sơn xuyên phong vực.
Các tỉnh địa dư chí.
Bắc Thành địa dư chí lục,
Bắc kỳ giang sơn cổ tích bị khảo,
La thành cổ tích vịnh.
Bằng chữ Việt : của Yên tử cư sĩ gồm ba bộ.
Anh hùng Lĩnh Nam,
Động đình hồ ngoại sử,
Cẩm khê di hận.
Đều do Nam á Paris xuất bản.)
Thái phó Hoàng Nghĩa Hiền khải :
— Bây giờ nghị tới việc chi tiêu của nội cung. Thần xin để Thái tử thiềm sự
khải.
Một văn quan bước ra:
— Thần Thái tử thiềm sự, lĩnh Hộ bộ tham tri Văn Đức Ý xin khải.
(Ghi chú của thuật giả:
Như vậy Ý lĩnh hai chức vụ. Chức vụ Đông cung quan là Thái tử thiềm sự, tương
đương với ngày nay là bộ trưởng phủ Tổng thống hay Thủ tướng. Chức vụ của
triều đình là Tham tri bộ hộ, tương đương với thứ trưởng bộ Tài chánh.)
— Trong hai năm vừa qua, việc chi dụng của nội cung lên quá cao. Cao nhất kể
từ khi bản triều lập chính thống. Hiện quốc sản, công nho trống rỗng, đến nỗi hai
tháng qua, binh tướng các lộ chưa được phát bổng. Vì vậy buổi thiết triều hôm
qua, đình thần nghị tìm cách giảm chi nội cung, và giao cho Đông cung triều
nghị chi tiết, nên giảm chi ở cung nào? Giảm người? Giảm mua sắm? Hay tăng
thuế?
Thái tử xua tay:
— Cô gia thấy giữa hai việc giảm chi với tăng thuế, thì ta nên chọn việc giảm
chi. Xưa, thời Thuận Thiên, đức Thái tổ cai trị trong mười tám năm, mà không
hề tăng thuế, trái lại tha thuế đến sáu năm
dungkq
02-08-2004, 10:15 PM
Bác Tuần Không mấy hôm nay bận quá hay sao mà không chuyển giùm bài viết này sang tiếng Việt để mọi người cùng thưởng thức. :D
work07
02-08-2004, 10:59 PM
Xin phép anh Daoky cho anh em dùng chế độ edit để xóa phần chữ đọc không được sau khi đã convert sang Unicode.
Đệ
TuanKhong
03-08-2004, 04:29 AM
Xin phép anh Daoky cho anh em dùng chế độ edit để xóa phần chữ đọc không được sau khi đã convert sang Unicode.
Chào anh work07,
Nếu được, thì dùng chế độ edit để thay thế vào bài chưa chuyển mã bằng cách copy bài đã được chuyển mã rồi chồng lên bài chưa chuyển mã. Rồi sau đó xóa đi bài chuyển mã để cho không những được gọn, đẹp, mà còn giữ "nguyên tác" nữa.
work07
03-08-2004, 09:35 AM
Tuần Không đúng là thông minh hơn người hihi. Phải rồi, cách đó Vẹn Toàn nhất.
Triệt đang đóng 2 cung Thìn Tỵ nên chưa về kịp, Tuần chịu khó chút nha.
Thân
w07
DaoKy
05-08-2004, 09:52 PM
Nhờ bạn giúp dùm cái phần delete chử không thể đọc cho trang web đuợc đẹp. hihi !!!
Chúc bạn vui vẻ. Thân.
DaoKy
DaoKy
06-08-2004, 12:17 PM
HỒI THỨ TƯ
Nhìn về phương Bắc
Chỉnh đốn phương Nam
******
Khi vua Lý Thái tổ lên ngôi vua, ngài đã thiết lập các Kinh diên quan để dạy
các hoàng tử. Thông thường mỗi hoàng tử đều có nhiều Kinh diên quan giảng
dạy. Nhà vua, đôi khi là hoàng hậu sẽ chọn một trong các Kinh diên quan, làm
thầy chính cho mỗi hoàng tử. Thầy của Thái tử được gọi là Thái tử thái phó. Khi
Thái tử lên ngôi vua, thì ông thầy riêng này trở thành một đại thần phụ chính,
giữ chức Thái phó, hay Thái sư, uy quyền bao trùm triều chính. Ông là cố vấn
cho vua mọi vấn đề, được miễn mọi lễ nghi : Không phải quỳ tâu, không phải
xưng tên, chức tước, được ngồi ghế.
Đại Định hoàng đế lên ngôi vua, mới ba tuổi, nên chưa có Kinh diên quan, dĩ
nhiên không có Thái phó. Đỗ Anh Vũ không hề dạy nhà vua, văn dốt, vũ rát,
cũng cứ được phong làm Thái sư. Khi nhà vua bắt đầu học chữ, thì hai đại thần
là Thái úy Lưu Khánh Đàm, Thượng thư bộ Lễ Hoàng Nghĩa Hiền được cử làm
Kinh diên quan. Năm nhà vua mười lăm tuổi thì Hoàng Nghĩa Hiền mới được
phong chức Thái phó. Còn Lưu Khánh Đàm thì vẫn chỉ là Thái úy. Hai đại thần
vẫn chưa được hưởng cái danh dự : Khi thiết triều được ngồi, không phải xưng
tên họ, không phải quỳ gối.
Trước đây, khi Đỗ Anh Vũ còn sống, mỗi khi một Kinh diên giảng quan nhập
cung giảng sách cho Thái tử, thì y sai một người ngồi dự thính, nói rằng đó là sứ
giả của Thái hậu, quan sát việc thị giảng. Nếu Kinh diên giảng quan là Hoàng
Nghĩa Hiền, Lưu Khánh Đàm thì chính Anh Vũ hoặc Thái hậu ngồi nghe. Nếu
hai ông giảng kinh, sách, thơ, văn thì không sao. Còn mỗi khi hai ông giảng về
chính sự cổ kim của Đại Việt, của Trung quốc, thì Thái hậu bắt ngừng ngay. Vì
vậy hai ông chỉ giảng về văn thơ mà thôi. Từ ngày Anh Vũ bị giết, hai ông mới
được tự do giảng bất cứ điều gì mà hai ông muốn.
Hôm nay, sau buổi thiết Đông cung triều đầu tiên, Long Xưởng nói với Lưu
Khánh Đàm:
— Thưa thầy, hôm qua con đọc bộ Dụng binh yếu chỉ, của công chúa Thánh
Thiên có nhiều chỗ không hiểu. Xin thỉnh thầy vào cung khai sáng cho con.
Các quan ra về. Riêng Khánh Đàm theo Thái tử vào Đông cung. Một đoàn thái
giám, cung nữ theo sau. Biết chúng theo dõi mình, nhưng Long Xưởng coi
thường. Vương ban chỉ cho vú Loan:
— Xin u (tiếng bình dân để chỉ mẹ đẻ, mẹ nuôi, vú nuôi sữa) dạy con Nhài
mang rượu, hoa quả vào thư phòng, để con vừa học, vừa dâng cho quan Thái sư.
Hai thầy trò vào ngự thư phòng, chủ khách phân ngôi xong, vương mở cuốn
Dụng binh yếu chỉ ra, để trước mặt Lưu Khánh Đàm:
— Đây, thưa thầy đoạn này khó hiểu quá, mong thầy chỉ dẫn cho.
Khánh Đàm nhìn vào trang sách, bất giác ông giật mình, vì giữa trang sách có
mẩu giấy viết:
— Thưa thầy, tất cả cung nga, thái giám, mã phu, bộc phụ đều là người tai mắt
của Thái hậu cả. Con có nhiều điều muốn thỉnh giáo thầy. Vậy thầy có cách
nào, để con được gặp riêng thầy không?
Khánh Đàm biết phía sau ông với Thái tử, bọn cung nga, thái giám đang hướng
mắt, vểnh tai nghe ngóng, ông vội nói:
— Đoạn này, lối văn cổ, quá tối nghĩa, Thái tử không hiểu cũng phải. Nghĩa
chính của nó như sau ị Đất nước ta vốn thuộc vùng thấp nhiệt, chỗ nào cũng có
đồng ruộng, ao hồ, nên ta cần luyện đoản binh, mà không cần luyện trường binh
Ể .
— Thưa thầy, thế sao thời đức Thái tổ, Thái tông, Khai Quốc vương lại luyện cả
trường binh, lẫn đoản binh?
— Không có gì lạ cả. Bởi bấy giờ vương đang muốn chỉ ngọn cờ lên Bắc đòi lại
cố thổ. Chiến trường Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam là nơi ta có thể dùng
trường binh. Để thần chú giải chi tiết đoạn này, hầu Thái tử.
Nói rồi ông cầm bút viết:
— Rằm tháng sau, Thái tử lấy cớ xem dân cho biết sự tình, rồi hành hương đền
thờ Linh Nhân hoàng thái hậu ở Dương xá. Thằng Ba là một người có rất nhiều
bí ẩn. Cao nhất là Hoàng thượng, Hoàng hậu, điện hạ, cho đến triều đình đều
không biết lý lịch y ra sao. Khi điện hạ xuất cung, ắt y sẽ đánh xe để kiểm soát.
Thần có cách tìm ra căn cước y. Khi đi giữa đường, điện hạ đổi ý, bắt y đưa đi
hành hương đền Kiêu kị, thờ công chúa Gia Hưng thời Lĩnh Nam. Lão thần xin
sắp xếp mọi sự Ể.
Thế rồi Lưu Khánh Đàm chuyển qua giảng về chính sự Đại Việt thời vua Thái
tổ, Thái tông, Thánh tông, Nhân tông. Sau khi giảng xong, ông hỏi:
— Không chóng thì chầy, Thái tử sẽ lên ngôi cửu ngũ. Vậy thần muốn nghe cái
chí của Thái tử.
Long Xưởng ngồi ngay ngắn lại, chắp tay xá Khánh Đàm :
— Thưa thầy, chí của con là muốn gây dựng lại sự nghiệp của các vị tiên
vương. Muốn thế thì trước hết phải làm gì ?
— Trước hết phải biết mình, biết người. Người đây là Tống. Không biết Thái tử
có thấy thế không ?
— Thưa thầy, con thấy chính sự của ta an hay nguy, thịnh hay suy, đều tùy thuộc
vào lẽ thịnh suy của Trung quốc. Thầy đã giảng về chính sự, pháp độ của tiên
đế. Bây giờ con xin thầy giảng cho nghe về những biến cố của Trung quốc vào
thời Tuyên Hòa, Tĩnh Khang. Những biến cố này quá mới, nên chưa chép thành
sử sách.
— Thái tử hỏi vậy thực phải.
Ông hớp một chung trà rồi cất tiếng sang sảng :
— Thời vua Thần tông, vì nghe lời Vương An Thạch, vua dồn toàn lực các đội
quân tinh nhuệ đang đối diện với Liêu, Hạ sang đánh Đại Việt. Nhà vua hy
vọng chiếm Đại Việt trong một vài tháng, rồi đem tù hàng binh Việt hợp với các
đội quân đó quay lên Bắc chống Liêu, đòi lại một phần ba lãnh thổ bị Liêu
chiếm. Nhưng, như điện hạ biết, các đội quân đó bị quân Việt, bị lam chướng
giết gần hết. Tin này đưa về Liêu, Hạ. Hai nước cùng đem quân vượt biên tràn
sang đánh Tống. Các đại thần Tống không biết làm gì hơn là cắt đất cho Liêu,
cho Hạ để được an thân. Trải qua đời vua Triết tông (1086 1100) lãnh thổ Tống
càng thu hẹp, triều đình càng suy đồi. Đến thời Huy tông (1101 1125) thì mất
nước. Vua bị bệnh tật liên miên, lại say mê đạo Lão, coi mọi việc đều là hư ảo.
Chính sự càng suy đồi. Bấy giờ Liêu bị một bộ lạc trong nước hưng thịnh lên,
đem quân đánh đổ, lập ra nước Kim. Kim chiếm tất cả lãnh thổ của Liêu, chiếm
luôn lãnh thổ Tống cắt dâng cho Liêu, rồi đem quân đánh Tống. Khi quân Kim
đang tiến như vũ bão, thì vua Huy tông đóng cửa cung tịnh tu. Niên hiệu Tuyên
Hòa thứ bẩy (Aãt Tỵ, DL.1125), vua nhường ngôi cho Thái tử Hằng, để đi tu.
Long Xưởng cười thích thú :
— Dường như bấy giờ bên Đại Việt là niên hiệu Thiên phù Duệ vũ thứ 6, đời
đức Nhân tông nhà ta thì phải ?
— Khải điện hạ đúng vậy. Thái tử Hằng vừa khóc, vừa lên kế vị, tức vua
Khâm tông, lấy hiệu là Tĩnh Khang. Khâm tông tôn phong Huy tông là Giáo
chủ đạo quân, Thái thượng hoàng đế. Năm này bọn Nùng Quỳnh, Mạc Thất
Nhân ở châu Quảng nguyên bên ta làm phản. Đức Nhân tông sai Lễ bộ thị lang
Lê Bá Ngọc mang quân đi đánh. Thắng. Bọn Nùng, Mạc bỏ chạy sang Ung
châu xin kiều ngụ. Quan trấn thủ Ung châu của Tống vẫn còn ớn ta trong sáu vụ
đánh sang vào thời các tiên đế, chỉ vì họ chứa chấp bọn phản loạn. Họ bắt
chúng giao cho ta.
Long Xưởng lại cười :
— Muôn đời, Trung nguyên luôn dòm ngó các nước lân bang, thấy yếu là ép,
thấy mạnh là lùi.
— Năm sau, niên hiệu Thiên phù Duệ vũ thứ bẩy, bên Tống là Tĩnh Khang
nguyên niên (1126). Đức Nhân tông nghe bên Tống hỗn loạn, có ý hợp với Kim
đánh Tống, rồi chia hai thiên hạ. Ta lấy vùng Nam sông Trường giang tức từ
Trường sa trở xuống. Phần còn lại nhường cho Kim.
Long Xưởng thích quá suýt xoa :
— Tuyệt. Thưa thầy như vậy ta chỉ đòi lại phần đất bị Trung nguyên chiếm, chứ
ta đâu có lấn chiếm của họ ?
— Điện hạ luận đúng.
— Con có một thắc mắc là, vào thời Lĩnh Nam vua Trưng từng chiếm lại được
vùng này. Lại nữa vào thời đức Thái tông, Khai Quốc vương đã hợp tám vùng
tộc Việt giúp Nùng Trí Cao tái chiếm cố thổ xưa. Sau đó bị bại. Thế mà vào
thời đức Nhân tông, khi ta đem quân phạt Tống. Sau khi diệt viện binh ở Hỏa
giáp, Hoài hóa thượng tướng quân, Trực tâm hầu Lý Đoan đã đề nghị với Trung
Thành vương rằng nhân thế thắng như chẻ tre, nên đem quân vượt Ngũ lĩnh,
chiếm Trương sa, tái lập cố thổ thời Lĩnh Nam. Tại sao bấy giờ ta không ra
quân, mà bây giờ lại muốn ra quân ?
— Điện hạ hỏi vậy thực phải. Bấy giờ ta không thể ra quân, vì ba lý do. Một là,
binh lực Tống mạnh hơn bao giờ cả. Sở dĩ ta đánh sang mà thành công, vì ta
xuất binh, tuyệt Tống không ngờ, không phòng. Ta cần rút về cố thủ để chống
lại cuộc phục thù của Tống. Hai là bấy giờ quốc sản của Tống giầu có, lương
thực sung túc. Ba là các nước Liêu Hạ đang án binh bất động. Ta ra quân, thì
mình ta phải đương với Tống.
Long Xưởng cung tay :
— Đa tạ thầy. Bây giờ con thử trình bầy ba lý do mà đức Nhân tông muốn xuất
quân, để thầy bổ khuyết cho. Một là lãnh thổ Tống hiện giờ hẹp hơn thời vua
Thần tông nhiều. Hai là lương thực, quân dụng, binh lực Tống bây giờ thua thời
Thần tông xa. Ba là, bây giờ Tống đang bị Kim bức ở phía Bắc muốn nghẹt thở,
nếu phía Nam mà ta ra quân thì sẽ thành công.
Khánh Đàm mỉm cười, khi thấy người học trò của mình kiến giải thức sáng sủa.
Ông giảng :
— Còn một điều nữa khiến đức Nhân tông ra binh là... Thời Lĩnh Nam, ta chiếm
lại được cố thổ, nhưng không giữ nổi, chỉ vì trong vùng tái chiếm, cứ ba người
Hán mới có một người Việt. Người Hán nổi lên Bình man quy Hán. Nhưng nay,
dân Trung nguyên quá bất mãn với triều Tống. Vùng Tống nhượng cho Liêu,
cho Kim, dân chúng ấm no, không có giặc cướp, lại chẳng có nạn tham quan ô
lại. Khi họ chấp nhận sống dưới quyền cai trị của Kim được, thì họ cũng có thể
sống dưới quyền cai trị của ta. Nếu như ta tái chiếm cố thổ, họ sẽ không giúp
Tống triều, mà ngược lại còn có thể theo ta, giúp ta. Ta cai trị dễ dàng.
— Thưa thầy, thế việc liên minh này tiến hành ra sao ?
— Đức Nhân tông nhân vụ Tống bắt tụi phản loạn trao cho ta, người lấy cớ đó
sai sứ mang tài vật sang cống để tạ ơn, nhưng thực ra là dó xét tình hình.
(GHI CHÚ CỦA THUẬT GIẢ
Việc này ĐVSKTT, Lý kỷ, Nhân tông kỷ chép giản dị như sau :
Bính Ngọ Thiên phù Duệ vũ thứ 7, Tống Khâm tông Hằng Tĩnh Khang nguyên
niên...
... Tháng 11 nhuận, sai Lệnh thư gia Nghiêm Thường, Ngự khố thư gia Từ Diên
mang 10 voi thuần, kim, ngân, sừng tê, sừng nai, sang cống Tống để tạ ơn việc
bắt Mạc Hiền. Sứ đến Quế châu yết kiến Kinh lược sứ. Kinh lược sứ từ rằng ị
Năm nay tại Đông kinh và các châu Kinh, Hồ, Lê đều đem binh đi đánh Kim,
chưa biết lúc nào mới dứt. Dọc đường không còn ngựa trạm. Xin sứ giả đem lễ
vật về Ể .
Chỉ độc giả Anh hùng Đông a mới biết chi tiết việc này mà thôi.)
Long Xưởng hỏi :
— Thưa thầy, rồi sau đó ta có sai sứ sang Kim không ? Tại sao việc Bắc tiến lại
bãi bỏ ?
— Có đấy chứ. Đức Nhân tông chuẩn bị sai sứ sang Kim. Nhưng sứ chưa lên
đường, thì người băng. Vụ phục hồi cố thổ từ đấy không ai nói đến nữa. Mà dù
có người nêu ra,
cũng chẳng ai nghe, vì quốc sản khánh kiệt, binh lực tan rã sau cuộc nội chiến
Thân Lợi khởi binh diệt Anh Vũ không thành. Rồi Thiên tử binh bị giải tán.
Đến đó con Nhài, người đầy tớ trung thành của vú Loan mang theo, nó bưng
vào một đĩa chim bồ câu quay, một đĩa chả mực. Long Xưởng rót một chung
rượu đậu nành, hai tay trân trọng dâng cho Khánh Đàm:
— Xin thầy cạn chung .
Rồi gắp dùi bồ câu quay bỏ vào bát Khánh Đàm.
Vào thời phong kiến xưa, hoàng đế, hoàng hậu, thái tử ban thưởng thức ăn cho
các quan là sự thường. Nhưng thái độ cung kính đãi hiền của Long Xưởng rất
hiếm. Khánh Đàm cảm động vì học trò hiếu kính thì ít, mà mừng vì tương lai
Đại Việt có một vị hoàng đế mẫn tiệp, biết nghe lời ngay, biết chiêu hiền, đãi sĩ
không kém gì vua Trưng xưa; không thua gì Khai Quốc vương trước đây... thì
nhiều.
Ông vừa ăn, vừa chỉ vào con Nhài:
— Con bé này là người thế nào ? Dương như nó không phải là cung nga, nên
thần không thấy nó trang phục như cung nữ ?
— Thưa thầy nó là đứa con gái bất hạnh, rồi vú Loan mua về để hầu hạ Tăng
Khoa. Khi vú nhập cung, thì mang nó theo.
Vương nói nhỏ :
— Trong Đông cung này chỉ có vợ chồng vú Loan, đứa em sữa Tăng Khoa với
nó là người thân tín của con.
— Tội nghiệp, đứa con gái này lưng ong chân tay dài, bàn chân bàn tay như úp
măng, da trắng, dáng đi nhẹ nhàng uyển chuyển... chỉ phải cái mặt rỗ, bằng
không thì là một tuyệt thế giai nhân.
Con Nhài cung tay :
— Tiểu tỳ đa ta Thái sư ban khen.
Nói rồi nó đứng hầu phia saiu ông.
Lưu Khánh Đàm tiếp :
— Năm Thiên phù Khánh thọ nguyên niên đời vua Nhân tông ( Đinh Mùi, DL.
1127). Bên Tống là năm Tĩnh Khang thứ nhì, Kim Thái tổ A Cốt Đà sai con thứ
nhì tên Oát Ly Bất cùng với tướng Niêm Hãn đem quân đánh Tống. Oát Ly Bất
phá tan các đạo quân của Tống, tiến về vây Biện kinh. Tháng năm, năm ấy
Biện kinh thất thủ. Người Kim cướp hết tài vật mấy nghìn năm tại Biện kinh, bắt
hai vua Tuyên Hòa, Tĩnh Khang, hoàng hậu, phi tần, cung nữ mang về Bắc.
(GHI CHÚ CỦA THUẬT GIẢ
TS quyển 22, Huy tông bản kỷ chép, về cái chết thê thảm của vua Huy tông như
sau :
... Năm Tĩnh Khang thứ nhì (1127) tháng 2 ngày Đinh Mão, người Kim bắt vua
về Bắc. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 5 (Aãt Mão, DL. 1135), tháng tư ngày Giáp
Tý, vua băng ở thành Ngũ quốc, thọ 54 tuổi. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 7 (Đinh
Tỵ, DL. 1237), tháng 9, ngày Giáp Tý, được tôn thụy hiệu là Thánh văn, Nhân
đức, Hiển hiếu hoàng đế. Miếu hiệu Huy tông. Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 12
(Nhâm Tuất, DL. 1142), tháng 8 ngày Aãt Dậu, tử cung (quan tài đựng xác vua)
được đưa về Lâm an... Niên hiệu Thiệu Hưng thứ 13 (Quý Hợi, DL. 1143),
tháng giêng ngày Kỷ Hợi tôn thêm thụy hiệu là Thể thần, Hợp đạo, Tuấn liệt,
Tôn công, Thánh văn, Nhân đức, Huệ từ, Hiển hiếu hoàng đế.
TS quyển 23, chép về cái chết của vua Khâm tông như sau :
...Niên hiệu Tĩnh Khang thứ nhì tháng 4, ngày Canh Thân, gió lớn làm cây gẫy
đá bay, người Kim bắt vua, hoàng hậu, hoàng thái tử về Bắc. Lại cướp hết các
bảo vật như: Xe báu của vua, của hoàng hậu, đồ sứ, quần áo, mũ miện, lễ khí,
pháp khí, nhạc khí, giáo phòng nhạc khí, tế khí, bát bửu, cửu đỉnh, ngọc khuê,
đồ thờ trời, đồng nhân, cổ khí, các báu vật ở cung Cảnh linh, lầu Đại thanh, gác
Tam quán thư, các sách của châu quận, bắt hết thái giám, cung nữ, thợ thủ công,
ca nhạc sĩ đem đi.
Tháng năm, ngày Canh Dần, Khang vương lên nối ngôi ở Nam kinh, tôn hiệu
cho vua là Hiếu từ, Uyên thánh hoàng đế. Niên hiệu Thiệu hưng thứ ba mươi
mốt (Tân Tỵ, DL.1161), tháng 5, ngày Tân Hợi vua băng ở Kim. Tháng 7 năm
đó, ngày Kỷ Sửu, tôn thụy hiệu là Cung văn, Thuận đức, Nhân hiếu hoàng đế.
— Hai vua bị bắt rồi, con thứ của vua Huy tông là Khang vương Triệu Cấu, vượt
Trường giang xuống Nam kinh, hô hào cần vương. Tuy Biện kinh thất thủ, nhưng
guồng máy cai trị của Tống ở miền Nam, miền Tây, miền Đông còn nguyên.
Tướng sĩ, quan lại, hào kiệt, võ lâm tôn Triệu Cấu lên làm vua, lấy niên hiệu là
Kiến Viêm. Đúng lúc này đức Nhân tông bên Đại Việt lâm bệnh. Tháng 12,
người triệu hạ thần vào nhận di chiếu rồi băng.)
— Ban nãy thầy dạy rằng dân Tống chán ghét triều đình. Thế sao nay, võ lâm,
hào kiệt còn giúp Triệu Cấu?
— Nguyên do như thế này: Kim đem hai vua về Bắc, làm nhục quá đáng. Họ
bầy tiệc để chúa tôi vừa uống rượu vừa đem hai vua ra hành hạ. Họ đào một cái
hố, chứa than quạt cho lửa hồng, lấy vỉ sắt đậy lên. Chúng bắt hai vua Tống
mặc y phục da khỉ, đội mũ , đeo mặt nạ như khỉ, chân tay đeo lục lạc. Cuối cùng
họ bỏ hai vua lên vỉ sắt. Chân hai vua bị nóng quá, nhảy chồm chồm lên, miệng
rên la, lục lạc khua, giống hệt hai con khỉ. Chúa tôi Kim vừa uống rượu, vừa reo
hò khoan khoái.
— Con hiểu rồi.
Long Xưởng đoán: Tin này đưa về Trung nguyên, khiến cho hào kiệt, võ lâm,
dân chúng nổi giận... Họ nổi giận vì tự ái, mà phất cờ, chứ không vì triều Tống.
— Đúng vậy. Trong các hào kiệt, tường sĩ ấy, có năm người thuộc loại kiệt hiệt
là Hàn Thế Trung, Trương Tuấn, Ngô Giới, Ngô Lân, Nhạc Phi. Năm người
đánh những trận long trời lở đất, chiếm lại được hầu hết các vùng ở phía Nam,
Đông. Võ lâm Trung nguyên gọi họ là Trường giang ngũ kiệt.
— Trong năm người đó thì Nhạc Phi nổi tiếng hơn hết. Vậy tiểu sử ông ta ra sao
?
— Ông ta tử là Bằng Cử, người đất Thang âm, Tương châu (Nay thuộc huyện
An dương, tỉnh Hà Nam). Sinh niên hiệu Sùng ninh đời vua Huy Tông nhà Tống
(Quý Mùi, DL. 1103). Rất có hiếu với mẹ. Nhà nghèo, hiếu học, lầu thông Tả
thị Xuân Thu, Tôn Ngô binh pháp. Lớn lên, tòng quân theo Tông Trạch, đánh
Kim. Sau làm tiên phong cho Trương Tuấn đánh Lý Thành. Có công đầu trong
việc đánh quân Kim, tái chiếm vùng Giang Hoài, được phong Vũ an quân
Tuyên thừa sứ. Chính tay Tống Cao tông viết lên lá cờ bốn chữ Tinh trung Nhạc
Phi ban tặng. Nhờ phái Thiếu lâm gửi giúp ba trăm đệ tử, Phi tiến quân đánh bại
danh tướng Kim là Ngột Truật, đuổi Kim chạy dài, tái chiếm mười thành trong
một tháng. Được phong hàm Thiếu bảo, giữ chức Hà Nam Bắc lộ chiêu thảo sứ.
Sau trận này, Phi mới biết rằng có tài dùng binh, mà không có tướng võ công
cao, cũng khó khắc địch. Phi cùng Hàn Thế Trung, Trương Tuấn, Ngô Giới,
Ngô Lân tổ chức đại hội võ lâm ở Nam ngạn Trường giang. Anh hùng võ lâm
các gia, các phái nghe lời hiệu triệu của năm tướng, bỏ hết tỵ hiềm, sai tử đệ kết
thành đội ngũ, theo giúp quân Tống. Trong dịp ngày, anh hùng võ lâm bầu
Nhạc Phi làm minh chủ, rồi ban hành một tờ hịch mang tên Phá Hồ, phục cừu .
Nội dung có ba điều quan trọng. Một là phục hồi Biện kinh, để bảo tồn quốc
thể. Hai là đánh thốc lên Bắc đem hai vua Tuyên Hòa, Tĩnh Khang về, để giữ
chính thống. Ba là diệt hết bọn Hồ, tuyệt mầm hậu hoạn.
Long Xưởng lắc đầu:
— Năm ông tướng này khí tiết có, tài dùng binh có, mưu lược có, nhưng thiếu
cái mẫn tiệp. Chung cuộc chắc sẽ gặp những thất bại, chết đuối trên cạn.
— Điện hạ thử đoán xem, Thiệu Hưng đế sẽ hành động như thế nào ?
— Con chắc cái ông vua Thiệu Hưng, phải tính kế để cha, anh không thể trở về.
Có lẽ ông ta phải chọn một trong các đường lối hành động sau: Một là cắt đất,
chịu nhục tiến cống, nhường cho Kim miền Bắc, còn y thì giữ miền Nam. Hai là
triệu Trường giang ngũ kiệt về triều, trao cho những chức thực lớn, nhưng vô
quyền. Trong năm tướng anh hùng trên, thì tên Nhạc Phi có tài cầm quân nhất, y
sẽ vu cho Phi cái tội gì đó, rồi đem giết. Bốn tên còn lại, thì muốn vo tròn, bóp
bẹp thế nào chẳng được.
— Quả đúng như Thái tử ước tính. Thiệu Hưng đế nghe tin này, vội vã ủy cho
Tể tướng Tần Cối sai sứ sang Kim nghị hòa. Điều kiện Tống đưa ra là: Tống
nhường vùng Hoài Bắc cho Kim. Hằng năm Tống nộp cho Kim ba nghìn tấm
lụa, mười vạn lạng bạc, một vạn lạng vàng, hai mươi vạn thạch lúa. Khi sứ
Tống sang Kim, thì đúng lúc Trường giang ngũ hùng đang tiến quân như vũ bão,
dân chúng ở những nơi bị Kim chiếm nổi dậy làm nội ứng. Vì vậy Kim chúa
bằng lòng điều kiện của Tống đưa ra liền. Sứ Tống trở về phục mệnh. Nhưng
trong khi đó, quân của Nhạc lại đánh bại Kim Ngột Truật, chiếm Yển thành,
đang tiến về Chu tiên trấn, cách kinh đô cũ của Tống có 45 dặm (22,5 km). Phi
tuyên cáo với sĩ dân là, sau khi chiếm Biện kinh, sẽ vượt Hoàng hà lên Bắc diệt
Kim, ép Kim trả hai vua (Canh Thân, DL. 1140). Tể tướng Tần Cối thấy nếu để
Nhạc Phi tái chiếm Biện kinh, thì thế lực Kim tan rã, ắt Kim trả hai vua về, rồi
rút khỏi Trung nguyên. Vì vậy, một ngày, y phát tới 12 tấm kim bài, bắt Nhạc
Phi ngừng tiến quân, về triều phục mệnh. Nhạc Phi vâng chỉ ngưng tiến quân,
khiến tướng sĩ, hào kiệt cùng phản đối. Nhạc Phi về triều, được trao cho chức
Khu mật viện phó sứ. Anh hùng thiên hạ khắp nơi thấy việc làm của Tần Cối,
họ nhao nhao lên, đòi đem quân về triều giết gian tặc. Cối thấy uy tín Nhạc Phi
quá lớn, càng kinh sợ. Y sai chân tay là Mặc Sĩ Tiết đàn hạch Nhạc Phi rằng:
Tại sao có kim bài gọi về, mà vẫn quân ? Phải đợi đến lần thứ mười ba mới chịu
tuân chỉ. Cối sai giam cha con Nhạc Phi ở chùa Đại lý, rồi giả chiếu chỉ giết đi
(Tân Dậu, DL. 1141).
— Thưa thầy, con nghĩ việc gọi Nhạc Phi về, rồi giết chết Nhạc Phi là ông vua
Thiệu Hưng chứ không phải Tần Cối.
Khánh Đàm không ngờ học trò mình lại thông minh ngư vậy, ông hỏi :
— Xin điện hạ minh giải ?
Long Xưởng bật cười:
— Cái ông Nhạc Phi này có tài cầm quân nhưng là một thứ ngu trung, không
xứng làm đại tướng. Chỉ nên cho làm chiến tướng mà thôi! Như thầy giảng, triều
đình Nam Tống là do Triệu Cấu lập lên với hàng vạn quan chức... Nếu nay
Nhạc Phi đem được hai vua về, thì ngôi vua của Cấu sẽ phải trả cho ông anh là
vua Khâm tông; quan chức sẽ thay đổi toàn diện. Trong lịch sử Trung nguyên,
thì đất không hai mặt trời, nước không hai vua. Khi một vua lên ngôi, thì một
vua phải phế, rồi bị giết. Đó là lẽ thường tình. Con nghĩ, khi cái ông vua Thiệu
hưng nghe tin Nhạc Phi thắng trận, rồi truyền hịch đi khắằp nơi đòi đánh thốc
lên Bắc đem hai vua Huy, Khâm về. Lại được tin anh hùng ứng nghĩa đông đảo,
thì sợ hãi đến mất hồn mất vía. Chắc chắn ông ta phải giết Nhạc Phi để tự vệ.
Dù ông ta có ngu, thì bọn văn quan ở tòa Trung thư, Thượng thư lệnh bàn ra,
tính vào với Triệu Cấu, rồi cuối cùng đã giết cha con gã ngu trung Nhạc Phi.
Khánh Đàm tránh né không muốn phê phán Thiệu Hưng đế vì ông nghĩ đến
việc chính Anh Vũ lấn quyền Đại Định hoàng đế, nhưng chính nhà vua ban chỉ
sát hại công thần, tôn thất. Nếu bây giờ ông kết tội Thiệu Hưng đế thì có khác
gì kết tội Đại Định hoàng đế. Ông nói lảng :
— Đó chẳng qua là Thái tử lý luận.
Long Xưởng lắc đầu:
— Được rồi, bây giờ con xin kiến giải, để thầy cho biết cao kiến.
— Thứ nhất Thiệu hưng hoàng đế là ông vua thông minh, có tính quyết đoán.
Ông ta lại là người cần lao chính sự, không việc gì mà ông ta không ghé mắt
vào; trong khi Tần Cối là một tể tướng không có nhiều quyền. Thử hỏi như vậy
làm sao y có thể giả mạo chiếu chỉ, bắt một tướng đang thắằng trận thế như chẻ
tre lui quân? Rồi Nhạc Phi lui quân, một việc rầm rộ như thế màợ nhà vua
không biết ư? Lại nữa, Nhạc Phi đang cầm quân nghiêng nước, bỗng bị cách
chức đem ve,ả làm việc ở trong triều đến bẩy năm sau mới đem ra xử tội, rồi
đem giết ở trong ngục. Gã Triệu Cấu có mù, có điếc đâu mà không biết? Sau đó
con Phi là Vân cùng với tùy tướng của Phi, bị mang ra chợ giết; tài sản bị tịch
thu. Triệu Cấu có bị bưng bít đến đâu, y cũng phải biết chứ? Việc này rõ ràng
rằng, cái gã vua Tống chủ trương. Bởi cho đến lúc này, Cối cũng vẫn là tể
tướng, được trọng dụng, tước tới Quận vương. Nếu Cối giả chiếu chỉ thì nhà vua
không giết y, ắt cũng cách chức y, chứ có đâu vẫn trọng dụng y ?
(GHI CHÚ CỦA THUẬT GIẢ
Theo Tống sử quyển 473 trang 13.743 tới trang 13.767, Liệt truyện 232, Gian
thần 3, thì Tần Cối được Cao tông cực kỳ tin dùng cho đến khi băng. Mãi tới đời
con Cao tông là là Hiếu tông, niên hiệu Thuần Hy thứ nhì (Aãt Mùi, 1175) y
mới chết. Thọ 66 tuổi. Trước khi chết, tước của y là Kiến Khang quận vương.
Khi y chết, nhà vua ban cho thụy hiệu là Hiếu Trung. Đến mãi niên hiệu Khai
Hỷ thứ nhì, vẫn là vua Hiếu tông ( Bính Dần, 1206) tháng tư, mới ban chỉ đoạt
vương tước. Nhưng hai năm sau, niên hiệu Gia Định nguyên niên, cũng vẫn vua
Hiếu tông (Mậu Thìn, 1208) lại phục hồi danh dự, phong tước Thân vương.)
Khánh Đàm ngừng lại, thở dài, chép miệng:
— Chả phải Trường giang ngũ kiệt thiếu mẫn tiệp đâu, mà chỉ vì cả nghìn năm
nay các tướng bên Trung nguyên tuy tài ba, dũng cảm, nhưng họ không thoát ra
ngoài Tả thị Xuân Thu, Lục thao, Tam lược, Tôn Ngô binh pháp mà thôi. Kìa
Hàn Tín dụng binh như thần, một tay dựng nghiệp cho triều Hán, rồi kết qủa cả
ba họ bị giết. Thời Đông Hán, Nghiêm Tử Lăng một tay dựng nghiệp cho vua
Quang Vũ, kết quả bị Quang Vũ ném vào tù định giết. Rất may được anh hùng
Lĩnh Nam cứu ra.
— Thưa thầy, theo các thư tịch trên của Trung nguyên, thì một đấng minh quân
cần những đức tính gì? Một tể tướng cần những đức tính gì? Một vị tướng cần
những đức tính gì?
— Thái tử hỏi vậy thực phải. Ta luôn phải đối đầu với Trung nguyên, thì cần
phải biết các ông vua, ông tể tướng, các ông tướng của họ được đào tạo như thế
nào. Biết được cái sở học của họ, ta mới ước tính cái sở hành của họ mà đối
phó. Có phải thế không?
— Thưa thầy vâng.
— Thần xin vì Thái tử mà nói về những ông vua, những ông đại thần, những
ông tướng của Trung nguyên đã. Trước hết là những ông vua. Phàm làm vua
phải hội đủ tám đức là : Nhân, hiếu, thông, minh, kính, tắc, kiếm, học. Các bà
hoàng hậu, các bà phi, khi sinh ra một hoàng nam, là phải dạy cho con mình hội
đủ bằng ấy đức tính. Khi bắt đầu học chữ, đến lượt quan Thái phó phải dạy Tứ
thư, Ngũ kinh, và luyện cho hoàng tử sao có đủ các đức tính trên. Trong tám đức
thì đức nhân, đức hiếu là quan trọng nhất.
Long Xưởng à lên một tiếng :
— Con hiểu rồi ! Con hiểu rồi ! Trước đây mỗi khi đọc Bắc sử, thấy một ông
vua băng, dù ông vua đó bất nhân, bất hiếu, ngu đần đến mấy đi nữa, thì ông
vua con đặt tôn hiệu cho vua cha, nhất định ít nhất phải có hai hay ba chữ trong
tám chữ trên. Như Tống Thái tổ có chữ chí minh, đại hiếu hoàng đếÅ. Vua
Chân tông có chữ văn minh, võ định, chương thánh, nguyên hiếu hoàng đế
Å.Vua Nhân tông có chữ ị thần văn, thánh võ, duệ triết, minh hiếu hoàng đế Å.
Vua Thần tông có chữ anh văn, liệt võ, khâm nhân, thánh hiếu hoàng đế Å.
Chỉ duy vua Thái tông là không có chữ hiếu trong thụy hiệu mà thôi. Thưa thầy
tại sao vậy?
— Thái tử minh mẫn thực, đã nhận ra cái khác thường ấy. Khi vua Thái tông tại
vị, cũng như sau khi băng, Tống triều tranh né nói đến chữ hiếu. Nên toàn triều
Tống, duy vua Thái tông là không có chữ hiếu trong thụy hiệu. Bởi ông đã làm
một việc đại bất hiếu, bỏ di chúc của mẹ để lại, không nhường ngôi cho em là
Tần vương Đình Mỹ mà nhường ngôi cho con là vua Chân tông. Trái lại ông vu
hãm cho em những tội tưởng tượng, đầy đi xa, rồi giết chết.
— Thưa thầy, còn các quan văn, quan võ của Trung nguyên, thì họ phải có đức
tính gì ?
— Cũng cần tám đức. Tám đức của quan văn là : Trung, chính, minh, biện, thứ,
dung, khoan, hậu. Còn tám đức của quan võ gồm : Liêm, quả, trí, tín, nhân,
dũng, nghiêm, minh.
— Thưa thầy, vì được huấn luyện như vậy, nên quan văn, quan võ của họ thiếu
cái mẫn tiệp. Con thì con cho rằng quan văn hay quan võ cũng cần có nhiều
đức, nhưng căn bản là tinh, minh, mẫn, cán.
Đến đó viên thái giám hầu cận vào cung tay :
— Khải Thái tử, phủ thừa Thăng long có tấu trình khẩn.
Nói rồi y trình cho Long Xưởng một trục giấy. Long Xưởng trao cho Lưu Khánh
Đàm. Lưu cầm lấy đọc. Long Xưởng thấy ông mở to mắt, ngồi bất động, thì biết
có việc chẳng lành. Vương hỏi :
— Thưa thầy, việc gì đã xẩy ra ?
— Thái tử thiềm sự, Hộ bộ tham tri, trên đường dư Đông cung triều trở về bị ám
toán. Ông ta bị giết cùng với mã phu. Con ngựa cũng bị giết. Ngõ tác giảo
nghiệm cho biết, ông ta cùng với mã phu, ngựa bị giết vì Huyền âm chưởng.
Hai thầy trò cùng kinh hãi nhin nhau : Đức Ý bị giết nhất định do việc ông ta
trình bầy những lạm chi của cung Cảm Thánh. Như vậy rõ ràng một trong các
quan dự Đông cung triều đã mật tấu với Thái hậu, và Thái hậu đã ra lệnh cho
người đi giết ông ta để dằn mặt các quan.
Đến đây thấy Khánh Đàm hơi mệt, Long Xưởng vái một vái:
— Xin thầy tạm nghỉ, ngày khác con lại thỉnh thầy tứ giáo.
Long Xưởng truyền cho cung nữ chầu hầu :
— Người mời Nhu mẫn đoan duệ phu nhân.
Lát sau, vú Loan bước vào hành lễ với Khánh Đàm :
— Tiểu tỳ xin tham kiến Thái sư.
— Phu nhân không nên đa lễ.
Vú Loan trao cho Long Xưởng năm bao thư, với năm cánh thiếp:
— Khải điện hạ, cỗ dâng Thái sư, Thái phó, chư vị Kinh diên quan, tiểu tỳ đã
kiểm soát kỹ rồi. Chỉ còn chờ điện hạ ký vào thiếp này là tiểu tỳ thân đem đến
dinh các ngài ngay.
Long Xưởng ký rồi nói với Khánh Đàm :
— Thưa thầy ! Hôm nay là ngày con thiết Đông cung triều lần đầu tiên. Nhớ
công ơn dạy dỗ của các thầy, con sai làm cỗ dâng các thầy, gọi là tỏ lòng hiếu
kính. Vú của con thân dẫn cung nga, thái giám mang tới dinh các thầy.
Khánh Đàm nói mấy câu cảm tạ, rồi lên xe ra về.
Một cỗ xe tứ mã chạy vào cổng phủ. Thân binh báo:
— Có công chúa Đoan Nghi xin cầu kiến.
— Để ta ra đón công chúa.
Long Xưởng với Tăng Khoa ra cổng cung. Đoan Nghi thấy anh thì reo lên:
— Anh! Nghe nói hôm nay anh thiết Đông cung triều. Em học xong vội đến
thăm anh. Sao, có mệt lắm không?
Long Xưởng nắm tay em:
— Mệt gì thì mệt, nhưng cứ gặp em là anh hết mệt ngay.
Thấy trên xe còn có một thiếu nữ, dáng điệu thanh nhã, mắt bồ câu, da trắng
mịn, môi hồng tươi. Nhất là cái lưng tròn. Thực là một tuyệt thế giai nhân. Thiếu
nữ ngồi cạnh Đoan Nghi, hành lễ với Long Xưởng. Long Xưởng hỏi :
— Ai đây ?
— Là chị Bùi Trang Hòa, con của cậu em.
Dù là Thái tử, tước phong tới vương, dù là ông vua con, dù thông minh tuyệt
đỉnh, từng sống trong Hoàng cung, đã thấy không biết bao nhiêu cung tần, mỹ
nữ, nhưng lần đầu tiên Long Xưởng thấy một người đẹp như Trang Hòa. Tự
nhiên vương cảm thấy luống cuống :
— Thì ra Bùi tiểu thư, ái nữ của quan Thái tử thái bảo, Lại bộ tham tri Bùi Kinh
An, lĩnh đấy Cần chính điện thuyết thư đấy. Bùi thiếu sư là thầy của anh, thì
Trang Hòa là người nhà cả. Em mời Bùi tiểu thư vào chơi. Em với Bùiấ tiểu thư
ăn cơm trưa với anh nghe? Hôm nay có món ngon đặc biệt lắm.
— Mẹ giỏi thực. Em xin với mẹ rằng sau buổi học sẽ đi thăm anh. Mẹ bảo: Thế
nào anh cũng giữ em lại ăn cơm trưa.
Đoan Nghi để ngón chỏ lên môi, rồi hôn đến choét một cái, miệng mỉm cười,
ánh mắt chiếu ra tia sáng lung linh:
— Anh! món ngon đặc biệt là món gì vậy?
— Cái gì mà mình chưa bao giờ được ăn, thì cũng là đặc biệt. Cái đặc biệt hôm
nay là món ốc nấu giả ba ba. Em có nghe nói bao giờ không?
— Không! Món này gồm những gì?
— Lát nữa em hỏi vú Loan thì biết.
Vú Loan cũng ra đón Đoan Nghi:
— Công chúa giá lâm vừa đúng lúc. Các món ăn đã nấu xong.
Nhìn món ăn bốc khói nghi ngút, Đoan Nghi dùng đũa đảo bát giả ba ba, rồi hít
hà: — Chà, thơm ngon quá. Chị Trang Hòa nấu ăn giỏi lắm. Chắc chị biết cái
món này ?
Trang Hòa cũng cầm đũa đảo bát giả ba ba, rồi nói :
— Thơm quá, có mùi mẻ này, có mùi mắm tôm này. À, có chuối xanh này, có
ốc này, có thịt lợn này, có bánh đa này. Món ngon thế này mà sao ngự trù chưa
từng dâng cho Thái tử nhỉ?
Vú Loan nhìn Long Xưởng, nhìn Đoan Nhu, nhìn Trang Hòa như nhìn chính
người con mình. Trong lòng người mẹ nuôi này tràn ngập yêu thương:
— Để nô tỳ nói cho công chúa, tiểu thư nghe. Nguyên sau khi đức Thái tổ băng
hà vì trúng độc, đức Thái tông ban chỉ cấm dâng những món ăn bình dân trong
nội cung, mà Ngự y khó kiểm soát được. Oãc, nghêu, sò, rùa v.v bị cấm ngặt.
Nay Thái tử được ra ở Đông cung, thì không bị chi phối luật trên nữa, nên nô tỳ
mới dám dâng lên Thái tử.
Bà chỉ vào con Nhài :
— Món ăn gì thì tiểu tỳ cũng dám tự hào cả. Còn món này, cũng như các món
cá nướng, ca rán, chả cá thì con Nhài này nó làm giỏi bặc nhất. Nó còn có tài
nấu tất cả các món ăn Trung quốc mà không một đầu bếp Hoàng cung nào sánh
kịp.
Đoan Nghi nhìn con Nhài :
—Ôi chà, sao lại có người từ dáng dấp cho chí cơ thể đều đêp thế này ? Chỉ
tiếc cái mặt rỗ mà thôi.
Long Xưởng thêm :
— Nhài lớn hơn anh mấy tuổi, cuộc đời nó thực bất hạnh. Nó cũng có học. Khi
quan Thái phó giảng sách cho anh anh cho nó đứng hầu bên cạnh, vốn có căn
bản nên nó cũng hiểu được bẩy phần.
Đoan Nghi nắm lấy tay vú Loan, nói với Long Xưởng:
— Anh ơi! Có cách nào đổi ngôn từ xưng hô được không? Vú nuôi anh, thì anh
cũng như con vú. Giữa mẹ con, mà cứ Thái tử, công chúa, nô tỳ thì mất cái thâm
tình đi. Còn Trang Hòa nữa ! Chị ấy là con của thầy dạy anh, thì cũng như em
của anh. Thế mà Hòa cứ phải gọi anh là Thái tử, còn anh thì cứ gọi chị ấy là
tiểu thư, nghe nó khách sáo làm sao ấy.
Long Xưởng tát yêu cô em gái:
— Luật lệ từ đời đức Thái tổ như vậy thì anh làm sao mà đổi đươc? Tuy lối xưng
hô có cách biệt, nhưng tình giữa vú với anh, cũng thâm sâu như mẫu hậu. Anh
nghĩ có khi vú yêu thương anh còn hơn Tăng Khoa nữa. Chỉ duy trường hợp
Trang Hòa thì không có trong luật lệ, chúng mình tha hồ định đoạt.
— Hay quá.
Đoan Nghi reo : Từ nay Trang Hòa cứ gọi anh là anh giống em. Còn anh cũng
gọi Trang Hòa là em. Được không ?
— Anh đã bảo, em muốn là trời muốn mà.
Long Xưởng hỏi Trang Hòa :
— Em cũng học cùng với Đoan Nghi đấy à ?
— Vâng, chúng em học cùng thầy mấy năm rồi !
— Thế thầy là ? ? ?
— Là bố em.
Chợt nhớ ra một truyện, Long Xưởng bảo Đoan Nghi, Trang Hòa :
— Tổ mẫu chỉ cấm phi tần, cung nga, thái giám luyện võ trong Hoàng thành,
chứ không cấm luyện võ ở trong Kinh thành. Phủ Đông cung nằm ngoài Hoàng
thành, có nhiều phòng luyện võ từ đời đức Thái tổ để lại. Vậy từ nay hai em
đến đây để luyện võ với anh.
— Có ai nữa không ?
— Có Tăng Khoa, con của vú Loan .
— Gia sư là ai vậy ?
— Là tướng quân Tăng Quốc, chồng của vú Loan.
Đoan Nghi nhìn vú Loan, than:
— Vú của anh, thì anh đem về Đông cung báo hiếu được. Còn vú của em bây
giờ đang sống ở Đăng châu, nghe nói chồng đã chết, không biết tin tức ra sao?
Lắm lúc nhớ vú, em khóc một mình hoài.
— Em muốn gặp lại vú cũng không khó. Để anh sai một cung nữ về Đăng châu
tìm vú lên cho em. Thế gia cảnh vú ra sao ?
— Chồng vú là một thị vệ, tên Từ Nam, đã qua đời rồi. Vú chỉ có một người con
gái bằng tuổi em tên Từ Thụy Hương.
— Tại sao em không xin với Thần phi, gọi vú về sống trong cung ?
— Lúc hết nuôi sữa, mẹ em cũng giữ vú lại đấy chứ. Nhưng quan Ngự sử đại
phu đàn hặc rằng lý lịch vú không rõ ràng. Vì vậy vú đành khóc rồi về quê.
— Anh không hiểu !
— Nguyên do như thế này. Hồi còn trẻ, vú là một ca kỹ xinh đẹp nhất của
Thăng long tên Trần Lệ Mai. Nhiều người say mê cầu thân, nhưng vú từ chối,
mà kết hôn với thị vệ Từ Nam. Một đêm, Từ Nam canh phòng cung Cảm
Thánh, bị gian nhân đánh một quyền vào lưng, mê man. Tuy Ngự y Trần thị
Phương Thanh cứu ông thoát chết, nhưng hai chân thành tê liệt. Trong thời gian
này vú mang thai Thụy Hương. Nhân vú khỏe mạnh, Thụy Hương xinh đẹp, nên
vú được tuyển làm nhũ mẫu cho em. Khi em đủ ba tuổi, hết hạn nuôi sữa, thì Từ
Nam chết. Vú mới 23 tuổi, nhan sắc vú càng diễm lệ, nhiều người có địa vị xin
cầu hôn, vú đều từ chối. Vú xin ở lại trong cung với em. Nhưng Ngự y Trần thị
Phương Thanh tâu rằng vú không phải là người trinh tĩnh, Thụy Hương là con
hoang, không phải là con Từ Nam. Theo bà Phương Thanh, thì Từ Nam bị người
ta đánh, khiến xương sống bị tổn thương, mà trở thành người giống thái giám,
không thể có con. Quan Ngự sử đại phu hặc rằng : Vú là người bất trinh, chồng
bị liệt nằm đó, mà đi lang chạ với tình nhân sinh con. Vì vậy mẹ em đành
thưởng cho vú thực nhiều vàng bạc rồi đưa vú về quê sống.
— Em yên tâm, Đông cung nằm ngoài Hoàng thành, anh toàn quyền quyết
định. Anh cam đoan chỉ ba ngày nữa sẽ đưa vú với con vú về Thăng long gặp
em.
Đoan Nhhi nắm tay anh, ánh mắt sáng ngời:
— Cảm ơn anh trước. Ví thử vú lên đây, anh có thể để vú ở tạm trong Đông
cung không? Một mai em ra ở riêng, sẽ đem vú về phụng dưỡng.
Long Xưởng bẹo má cô em gái, nhắc lại lần thứ ba :
— Ý em muốn là trời muốn.
Ngay hôm ấy, Long Xưởng phát lệnh chỉ, sai một cung nga lên đường đi Đăng
châu tìm vú Mai. Hai hôm sau, vú Mai với con gái tên Thụy Hương được đưa về
Thăng long. Để làm vui lòng cô em gái, Long Xưởng thân dẫn Đoan Nghi ra
cửa Đoan phượng đón vú. Tuy hơn mười năm xa cách, Đoan Nghi từ một cô bé
mới biết nói, nay đã trở thành một thiếu nữ, nhưng vú Mai cũng nhận ra nàng.
Thoáng nhìn vú, Long Xưởng giật mình vì vương không ngờ vú lại xinh đẹp đến
như thế. Hèn gì ngưới ta không ghen ghét với vú. Con gái vú là Thụy Hương, có
một sắc đẹp huyền ảo, như có như không, khiến người ngoài nhìn nàng, có cảm
tưởng như bị hút vào đôi mắt u uẩn. Lạ một điều vú Mai, Thụy Hương đều đẹp
nhưng hai người hai vẻ khác nhau.
Lễ nghi tất.
Long Xưởng truyền đưa vú với con gái là Thụy Hương vào ở trong Đông cung.
Ngay chiều hôm đó Long Xưởng ban chỉ phong vú Mai làm Thạc hòa Anh văn
phu nhân, lĩnh chức Kim ốc bảo khố. Chức này phụ trách trông coi dinh thự, kho
tàng, lưu giữ bảo vật của Đông cung. Thụy Hương đươc phong nghĩa muội của
công chúa Đoan Nghi.
Kể từ hôm ấy, hằng ngày, sau buổi học văn, thì Đoan Nghi, Trang Hòa tới
Đông cung luyện võ với Long Xưởng, Tăng Khoa, Thụy Hương. Tăng Quốc
đóng vai gia sư để che dấu tai mắt của Thái hậu, còn thực ra thì Long Xưởng tự
luyện võ công Mê linh suốt ngày đêm, rồi dạy lại cho bốn người.
Một hôm, sau buổi luyện võ, Long Xưởng nghĩ đến tháng sau sẽ ra ngoài thành,
hành hương đền thờ công chúa Gia Hưng Trần Quốc, đền thờ Linh Nhân hoàng
thái hậu, chắc có nhiều chuyện vui. Vương nói với em:
— Tháng sau, anh đi hành hương đền thờ cao tổ mẫu Linh Nhân hoàng thái hậu
ở Dương xá. Anh muốn em với Trang Hòa cùng đi. Em về xin phép mẹ, Trang
Hòa cũng xin phép Thái bảo rồi đi với anh.
Đoan Nghi reo lên:
— Thế mình có phải sắm lễ gì không?
— Có chứ.
Tháng sau ngày mười tư, Long Xưởng tuyên chỉ cho thằng Ba:
— Này anh Ba. Ngày mai, ta muốn theo gương Khai Quốc vương, giả dạng dân
chúng, ra ngoài thành thăm dân cho biết sự tình. Ta phải dấu thân phận, không
cho ai nhận ra chúng ta. Vậy anh cũng mặc y phục dân dã, theo hộ giá cho ta.
Còn xe, nếu đi xe của Đông cung, e dân chúng nhận ra căn cước thì hỏng bét.
Vậy anh lấy xe của vú Loan đưa ta đi.
— Khải Thái tử, xin Thái tử cho biết đại giá Thái tử thăm những nơi nào?
—Vì xuất hành lần đầu, ta muốn đi Dương xá hành hương đền thờ cao tổ mẫu
là Linh Nhân hoàng thái hậu.
Long Xưởng lại ban chỉ cho vú Loan sắm sửa lễ vật để mang đi, rồi lấy xe đến
cung Chiêu Linh vấn an Hoàng hậu. Vừa tới nơi, người cung nga hầu cận
Hoàng hậu đã nói nhỏ :
— Thái tử vào ngay đi. Hoàng hậu đang se mình.
Long Xưởng vào trong cung, lên tiếng :
— Thần nhi vấn an mẫu hậu.
— Hài nhi đấy ư ? Vào đây.
Long Xưởng ngồi xuống cạnh dường. Thấy một cung nga ngồi trên chiếc ghế
chầu hầu phía sau, Long Xưởng hỏi :
— Cung nga này là ai vậy ? Xin mẫu hậu cho y thị lui.
Hoàng hậu nói nhỏ :
— Cung nga nào đâu ? Á tỳ đấy mà. Từ hôm con sang Đông cung, Á tỳ nhớ con
quá, bà ta xin với mẹ được sang Đông cung hầu hạ con. Mẹ thấy cung nga ở
đây thì nhiều, nhưng chỉ có Á tỳ là chú ý chăm sóc, hầu hạ con kỹ nhất. Vì vậy
mẹ cũng muốn đưa nó ta sang Đông cung với con. Con có bằng lòng không ?
Nguyên từ khi triều Lý lập lên, thì tất cả những người hầu hạ nhà vua, Hoàng
hậu, Phi tần nếu không là thái giám thì cũng là cung nữ. Thái giám thì hoặc là
bẩm sinh, hoặc là tự nguyện tĩnh thân (tức là xẻo cái ấy đi). Còn cung nữ thì
tuyển những thiếu nữ từ mười hai tới mười lăm, xinh đẹp, không bệnh tật, hoặc
con nhà giầu, hoặc con các chức quan nhỏ. Bởi các cung nữ này bất cứ lúc nào
nhà vua hứng ; cũng có thể dùng làm vợ. Tuy nhiên, Hoàng hậu hay các bà phi
cũng có quyền tự tuyển thêm người hầu hạ.
Nghe mẹ hỏi, Long Xưởng nói với Á tỳ :
— Bên Đông cung, Thái hậu tuyển cho cô gia nhiều cung nữ, bộc phụ. Nhưng
những người đó đều là tai mắt của Thái hậu, nên cô gia vẫn thiếu người trung
thành ở cạnh. Nếu Á tỳ sang đó, thì sẽ được ở dưới quyền vú Loan tức Nhu mẫn
Đoan duệ phu nhân. Bên đó cô gia cũng có con Nhài, tuy xấu mặt, nhưng lọng
dạ trung thành, hầu hạ cô gia rất tận tâm.
Á tỳ cảm động, nàng bật lên tiếng khóc, rồi quỳ uống tạ ơn Long Xưởng. Long
Xưởng tuyên chỉ :
— Kể từ hôm nay, cô gia thăng Á tỳ lên làm Á Nương. Bây gờ cô gia muốn
thăm bệnh mẫu hậu vậy Á Nương hãy lui ra ngoài chờ.
Á Nương ra rồi Hoàng hậu nói nhỏ :
— Từ hôm con thiết Đông cung triều đến nay có gì khó khăn không ?
Long Xưởng cứ thực tình trình bầy. Hoàng hậu ghé miệng vào tai Long Xưởng
nói thầm :
— Mẹ bị trúng Huyền âm chưởng, lại bị bao vây, không thể liên lạc với ông
ngoại. Nay con được thiết Đông cung triều, được tiếp xúc với võ lâm trong nước.
Con phải âm thầm báo cho các đại tôn sư võ học biết rằng : Thủ phạm dùng
Huyền âm chưởng gây ra biết bao nhiêu vụ án bấy lâu nay... chính là bọn chân
tay của Thái hậu. Như vậy họ sẽ tìm cách trừ chúng đi. Con lại tìm cách liên lạc
với người của phái Sài sơn, xin họ chữa tuyệt nọc Huyền âm chưởng cho mẹ.
Long Xưởng tâu nhỏ vừa đủ cho Hoàng hậu nghe về việc mình đã tìm ra điều bí
mật trong chiếc áo hồ cừu. Từ ngày ra Đông cung, được quyền luyện võ, mình
đã mời một võ quan, bản lĩnh bình thường là Tăng Quốc, làm gia sư để che mắt
Thái hậu. Trong khi mình luyện võ công Mê linh, bí mật luyện nội công Aạm
nhu, Mê linh kiếm pháp. Ngoài ra mình còn luyện võ cho công chúa Đoan Nghi,
tiểu thư Trang Hòa, con trai vú Loan là Tăng Khoa,và con gái vú Mai là Thụy
Hương.
Hoàng hậu hỏi :
— Khi con luyện võ như vậy, thì thằng Ba có biết không ?
— Lúc đầu, nó có đến quan sát. Nó thấy Tăng Quốc dạy cho bọn con bản sự
quá tầm thường. Nó lắc đầu bỏ đi.
Long Xưởng xuất ra tập giấy chép nội công Aạm nhu, Long biên kiếm pháp trao
cho Hoàng hậu :
— Đây, bí lục võ công Mê linh đây, mẹ học thuộc rồi đốt đi. Những lúc vắng
vẻ, mẹ tự luyện. Khi mẹ đã có đủ bản lãnh thắng bọn Nùng sơn tam anh, Tô
lịch nhị tiên ; mẹ con ta thình lình ra tay, để thoát khỏi cảnh tù giam lỏng này.
Long Xưởng tiếp :
— Nay mai, con giả đi hành hương, rồi gặp Thái sư Lưu Khánh Đàm.
Hoàng hậu rùng mình :
— Mẹ chỉ ngại một điều là cái thằng Ba lúc nào cũng theo sát con như bóng với
hình, thì liệu con có thể bàn đại sự với Thái sư không ? Muốn diệt cái mầm
mống ngoại thích nguy hiểm của họ Đỗ, họ Lê thì cần phải trừ khử bọn Nùng
sơn tam anh, Tô lịch nhị tiên. Hễ trừ chúng rồi, thì mẹ mới làm chủ được Hoàng
cung. Làm chủ Hoàng cung rồi, thì không còn cái triều đình gà mái gáy của
Thái hậu nữa. Khổ một điều là hiện các võ quan, thị vệ trong triều không ai
địch nổi thằng Ba, thì còn hy vọng gì thắng thằng Hai, thằng Cả nữa ? Aãy là
chưa kể sư phụ chúng, bản lãnh cao thâm không biết đâu mà lường. Còn như đợi
cho mẹ con ta đủ bản lĩnh thắng chúng thì e lâu quá.
Bà ngồi nhỏm dậy, ghé miệng vào tai Long Xưởng :
— Thái hậu vốn thất học, lại tham dâm, trước kia người ỷ vào Anh Vũ. Nay
Anh Vũ chết rồi, người ỷ vào bọn Nùng sơn anh, Tô lịch nhị tiên, mà không
nghĩ đến nắm Khu mật viện. Bây giờ con đã thiết Đông cung triều, con phải
chọn lấy những người thân tín nhất, thay dần bọn quan lại trong Khu mật viện.
Khi con nắm được Khu mật viện thì bao nhiêu cơ mật quốc gia con sẽ biết hết.
Trước đây, Khai Quốc vương cũng từng ở trường hợp cô độc như con, khi lĩnh
chức Phụ quốc thái úy, người khởi nắm Khu mật viện trước, rồi sau nắm được
cả.
Bà suy nghĩ một lát rồi tiếp:
— Khu mật viện có ba ty. Ty Phòng ngự do người của Binh bộ đảm trách. Ty
Nội sát do người của Lại bộ đảm trách. Ty Mật sự thì do phụ hoàng cử. Hiện
người đảm trách ty Mật sự là Tô Hiến Thành. Con lấy lý ông ta có công, trao
thêm binh quyền, sai đi tuần cảnh ở Nam thùy. Chồng của vú Loan là Tăng
Quốc rất trung thành với con, ông ta mới được thăng lên tướng quân, con cử ông
ta thay Tô. Với Tăng Quốc, con ban chỉ cho ông được mật khải mọi sự với con.
Như vậy, dần dần con tìm kiếm những người thân tín nắm hai ty kia.
Long Xưởng như người mù được mở mắt, vương nói :
— Con sẽ cố gắng làm như ý chỉ của mẫu hậu.
— Có một việc, con cần theo dõi, là trước đây Chiêu Hiếu thái hậu định phế
phụ hoàng con xuống, lập em bà là Đỗ Anh Vũ lên thay. Bà sai mật sứ sang
Tống cầu phong cho y. Nhưng Tống không chịu. Khi Chiêu Hiếu thái hậu băng
rồi, đến Cảm Thánh thái hậu cũng muốn học theo thái hậu Dương Vân N
DaoKy
06-08-2004, 12:24 PM
HỒI THỨ NĂM
VẠN TÍN HẦU
******
Xe ngừng lại trước cổng ngôi đền, tường gạch lợp ngói. Một người đàn bà đứng
tuổi, một thiếu niên khoảng mười bẩy, mười tám cùng chạy ra cúi đầu chào:
— Kính chào quý khách! Xin mời quý khách vào lễ bà.
Thiếu niên cầm lấy dây cương ngựa, buộc vào gốc cây. Long Xưởng nhìn lên
cổng, có bốn chữ:
Trưng vương đại công thần linh từ.
(Đền thờ đại công thần linh thiêng của Trưng vương)
Thằng Ba bưng mâm lễ vật đi theo Long Xưởng, vào trong sân. Đây là một ngôi
đền, có ba gian. Phía trước là một hàng hiên. Trên nóc hiên, gian giữa có chữ:
Uy trấn Đông hải
(Oai trấn biển Đông)
Hai bên có đôi câu đối:
Tô khấu tước bình, trực bả quần thoa đương kiếm kích,
Trưng vương dực tải, hảo tương cân quắc hộ sơn hà.
Thằng Ba hỏi:
— Thưa chủ nhân, đôi câu đối này nghĩa như thế nào? Xin chủ nhân giảng cho
tiểu nhân.
— Vế trên có nghiã: Dẹp giặc Tô Định, dùng quần thoa đương với kiếm, kích.
Vế dưới nghĩa là: Phù vua Trưng, đem khăn yếm giữ non sông.
Thằng Ba trao lễ vật cho bà từ, với thiếu niên, rồi lùi ra ngoài coi xe. Bà từ tiếp
lễ, đặt lên trên bệ thờ. Bà đánh lửa thắp hương. Liếc qua bát, đĩa, khay... đều
bằng bạc, vành viền vàng. Nhìn mâm lễ vật, tuy không nhiều, nhưng toàn
những loại thượng phẩm : Một con lợn sữa quay, miệng ngậm bông sen. Một con
gà trống luộc, đặt trong tư thế quỳ, cổ ngửa lên, miệng ngậm bông hồng? Bốn
con bồ câu quay, đặt theo tư thế đầu ra ngoài đĩa, giữa đặt một nhánh hoa đào
nhỏ. Một mâm ngũ quả xếp cao . Hai chai rượu cúc, bốn bó hoa. Lại nữa có đến
bốn người theo hầu, người nào y phục cũng sang trọng... bà từ biết rằng vị hai
tiểu công tử , ba vị tiểu thư này, thân phận thực không nhỏ. Bà hỏi bằng giọng
khách sáo:
— Không biết công tử, tiểu thư từ đâu tới? Công tử tiểu thư có cần người hát
chầu không?
Long Xưởng chỉ vào ba người họ Đào:
— Tôi đến từ Thăng long. Tôi có mời ba vị này từ bến đò Long biên theo để hát
chầu ngài.
Đào Duy, Như Yên, Như Như ngồi lên cái chiếu bên trái. Đào Duy đánh trống,
Như Yên vừa hát vừa kéo nhị, Như Như đánh đàn. Khi Long Xưởng, Tăng
Khoa, Đoan Nghi, Trang Hòa, Thụy Hương vừa đứng vào giữa chiếu chắp hai
tay lễ, thì âm nhạc nổi lên. Như Yên cất tiếng ngâm sa mạc:
Phấn son tô điểm sơn hà,
Làm cho tỏ mặt đàn bà Lĩnh Nam.
Vua Quang Vũ khởi binh trăm vạn,
Đánh xuống vùng Nam hải (1) chiếm Thường sơn (2)
Nam an hầu Đoàn Chí, lĩnh đô đốc thủy quân,
Mang hạm đội, vượt sóng, ầm ầm như thác đổ.
Một trận biển Đông, Giao long vân vũ,(3)
Chém bay đầu Đoàn Chí, bắt Sầm Anh. (4)
Đổ quân lên, quyết chiếm Lạc dương,
Triều Đông Hán chông chênh như trứng đổ.
Xuân phong Lãng bạc, thiêu Yên võ,(5)
Hạ hiểu Thần phù, kích Trường yên.(6)
Muôn nghìn năm thanh sử ghi tên,
Dùng yếm thắm, quần thoa đương kiếm kích.
Hôm nay, ngồi tưởng uy linh nữ kiệt,
Lễ một mâm dâng trước anh hùng,
Đời đời gương sáng soi chung.
Chú giải.
(1). Nam hải: Tên vùng đất về thời vua Trưng, nay gồm Một phần tỉnh Cảng
Tây, toàn tỉnh Quảng Đông, đảo Hải Nam. Bấy giờ vùng này do công chúa
Thánh Thiên trấn thủ.
(2). Thường sơn, tên một ngọn núi nhỏ, nơi diễn ra trận đánh kinh khủng giữa
tướng Hán là Phiêu kị đai tướng quân, tước Phù lạc hầu Lưu Long với Đông
triều công chúa Lê Chân.
(3). Giao long: Các tướng Hán đánh nhau với công chúa Gia hưng, hầu hết bị
bại, họ tâu về triều rằng công chúa là con giao long tu nghìn năm ở biển Nam
hải.
(4) Sầm Anh, danh tướng Hán, lĩnh ấn Long nhương đại tướng quân. Bị công
chúa Gia hưng bắt sống trong trận thủy chiến Nam hải.
(5) Gió Xuân trong trận Lãng bạc giúp công chúa Gia Hưng đốt quân Mã Viện
ở Yên vũ vào đêm giao thừa Quý Mão (43 sau Tây lịch).
(6) Nắng hạ chiếu xuống cửa biển Thần phù, công chúa Gia Hưng đại phá quân
Hán ở Trường yên (Ninh bình ngày nay).
Bọn Đào Duy tấu liên tiếp năm bản khác nhau, đại ý các bài ca đều thuật chiến
công thời Lĩnh Nam của vua Trưng cùng chư tướng. Sau khi hết tuần nhang, bà
từ hạ lễ, xuống. Long Xưởng móc trong túi ra một nén bạc, hai tay cung kính
trao cho bà từ.
— Gọi là chút ít, gửi bà để mua sắm đèn nhang, dâng lên công chúa điện hạ.
Thời bấy giờ, dù người giầu có đến đâu, khi đi lễ chùa, đền... cũng chỉ cúng đến
một quan tiền là nhiều lắm. Đây Long Xưởng cúng đến một nén bạc mười
lượng, tức một trăm quan tiền, thế mà bà từ vẫn bình thản:
— Phúc đức quá.
Bà hạ lễ trên bàn thờ xuống, rồi dùng dao chặt đùi sau con lợn sữa quay, xếp
vào hai cái đĩa; trong khi thiếu niên chặt một nửa con gà trống luộc xếp vào cái
đĩa khác. Cả hai đem bát đũa bầy ra. Bà nói với Long Xưởng, với bọn Đào
Duy:
— Mời các công tử , các tiểu thư với các vị thụ lộc Bà.
Long Xưởng lên tiếng gọi thằng Ba:
— Này anh Ba, vào đây thụ lộc công chúa với chúng tôi.
Bỗng có tiếng ăn mày vọng vào:
— Con cá nó sống vì nước,
Con người sống vì đồng tiền bát cơm,
Lậy ông đi qua, lậy bà đi lại,
Cho chút cơm thừa canh cặn,
Làm phúc cũng như làm giầu
Ngày sau con rể, con dâu đầy nhà.
Người ăn mày đầu đội chiếc nón rách che khuất mặt, thành ra không biết y già
hay trẻ? Long Xưởng, Đoan Nghi Trang Hòa từng nghe cung nga, thái giám nói
nhiều về ăn mày. Đó là những người nghèo khổ cùng cực, ngủ đường ngủ chợ,
quần áo không có mà mặc, cơm không có mà ăn. Nhưng cũng nhiều cao nhân,
dị sĩ, thường giả dạng ăn mày để trừ gian, diệt bạo. Thời vua Thánh tông, Nhân
tông từng có Long biên ngũ hùng, Tây hồ thất kiệt, thủa niên thiếu phải đi ăn
mày. Sau trở thành đại tướng làm nghiêng ngửa giang sơn Chiêm, Tống; khi
tuẫn quốc, quốc sử ghi tên, dân chúng thờ kính. Hóa cho nên trong chuyến xuất
hành này, Long Xưởng ước mong gặp được những người có lòng son với xã tắc,
mà phải đi ăn mày. Vương cầm nửa con gà luộc chưa chặt, một con bồ câu
quay, một nải chuối, với đĩa xôi, bỏ vào cái khay, hai tay trịnh trọng trao cho
người ăn mày:
— Đây, lộc của công chúa đây, người ăn đi.
— Đa tạ hồng ân của công chúa, đa tạ tiểu công tử.
Đoan Nghi hỏi:
— Này, ông nghèo lắm hả. Trời ơi! Quần áo sao mà rách thế kia! Sao mà khổ
thế. Ông có nhà không?
— Thưa tiểu thư không.
— Nhà của anh tôi rộng lắm, ví thử anh tôi mời ông về ở chung, ông có bằng
lòng không?
— Dạ, dạ. Xin đa tạ tiểu thư. Tôi không dám đâu. Giá tiểu thư có tiền, cho tôi
mấy lượng bạc, tôi mua túp lều ở thì tốt quá.
Nói rồi ông ta xòe bàn tay ra chờ đợi.
Đoan Nghi luống cuống:
— Tôi có bạc, nhưng để ở nhà. Làm sao bây giờ!
Nàng quay lại hỏi Trang Hòa :
— Chị có mang bạc đi theo không ?
Trang Hòa trả lời bằng cái lắc đầu. Đoan Nghi nhìn Thụy Hương. Thụy Hương
móc trong túi ra một lượng bạc :
— Em chỉ mang theo có bấy nhiêu thôi.
Người ăn mày chỉ vào đôi xuyến trên tay Đoan Nghi:
— Không có bạc, thì tiểu thư cho tôi đôi xuyến kia vậy.
Đoan Nghi suy nghĩ một lát rồi tháo đôi xuyến trao cho người ăn mày:
— Đôi xuyến này, ông ngoại tôi cho tôi nhân sinh nhật chín tuổi. Đem cho ông
thì phụ lòng người. Nhưng tôi có đeo bên cạnh cũng chẳng ích gì. Tôi cho ông
đấy.
Thằng Ba can thiệp:
— Tiểu thư. Bọn ăn xin vốn vô lại, không nên đem của quý cho chúng. Như vậy
chiều về nhà, bà đánh đòn cho mà coi.
— Mẹ ta hiền lắm, chắc không đánh ta đâu. Nếu mẹ ta có đánh ta, thì ta chịu
vậy. Bố thí cho kẻ khó, mới là từ bi. Ta bố thí rồi, trong lòng sẽ vui biết bao. Mẹ
có đánh đòn đau đến mấy ta cũng chịu được. Người không nên cản ta.
Người ăn mày cầm lấy đôi xuyến bỏ vào túi, rồi vái Đoan Nghi ba vái. Vái
xong, y ngồi xuống cạnh cái cột đền, tay bốc xôi, tay xé thịt gà ăn.
Y nói một mình:
— Ngon quá ! Nhưng thiếu nước mắm. Ngày xưa, công chúa Gia Hưng thích
nước mắm lắm. Công chúa xơi món gì cũng phải có nước mắm chắt, thế mà nay
người ta cúng ngài, lại quên mất cái gia vị này.
Thằng Ba hừ một tiếng, rồi mắng người ăn mày:
— Láo vừa thôi nghe! Thịt gà phải ăn với lá chanh, chấm với muối. Ai đời lại
chấm nước mắm bao giờ! Đã dốt, còn lên mặt dạy đời! Cút!
Người ăn mày chửi đổng:
— Hỡi ơi! Xưa nay, người ta chỉ biết chuyện cáo mượn oai hùm, chứ chưa từng
nghe nói cứt hùm cũng oai bao giờ!
Thằng Ba nổi cáu:
— Mi có câm cái mõm mi đi không? Ông lại vả cho rụng răng bây giờ?
— Ôi! Sao chủ nhân thì phúc đức, mà tôi tớ lại hung dữ như chó điên vậy kìa?
Thằng Ba lạng người tới vung tay tát người ăn mày một cái. Long Xưởng quát:
— Không được đánh người.
Nhưng không kịp. Bốp một tiếng. Rõ ràng thằng Ba tát người ăn mày, mà thân
hình nó lại bay tung về sau. Chính tay nó tát vào mặt nó, làm bốn cái răng cửa
bị gẫy. Hai môi nó sưng vù, máu ri rỉ chảy ra mép.
Trong khi Long Xưởng kinh ngạc, thì bà từ với thiếu niên thản nhiên lau bàn
thờ. Ba người họ Đào lơ đãng nhìn ra sân. Thằng Ba gầm lên:
— Hôm nay mi phải chết.
Rồi nó tung người lại, chân phóng cước vào ngực người ăn mày. Binh một tiếng,
tiếp theo tiếng vù . Thằng Ba bay bổng ra sân, rơi xuống đất đến huỵnh. Nó
nằm ngửa mặt lên trời, hai chân, hai tay múa loạn xạ. Trong khi người ăn mày
vẫn ngồi dựa cột đền, tay cầm nửa con gà, tay bốc xôi ăn, như không có sự gì
xẩy ra.
Long Xưởng từng học võ với mẫu hậu, vương đã được chứng kiến mẫu hậu đấu
với thằng Ba ngang tay. Bây giờ thấy người ăn mày thủy chung không đứng
dậy, cũng chẳng xuất chiêu, mà làm cho thằng Ba lạc bại, thì vương biết rằng
đây là một kỳ nhân, dị sĩ, giả làm ăn mày. Vương chắp tay cung kính:
— Gia nhân của tôi có chút mạo phạm. Xin cao nhân dung thứ cho.
— Dung thứ! Tiểu công tử có thấy y hung hăng đánh tôi không? Y đánh tôi, chứ
tôi có đánh y đâu mà bảo dung thứ?
— Tiểu bối xin tiền bối cho biết cao danh, quý tính?
Người ăn mày chưa kịp trả lời, thì thằng Ba đứng dậy nhìn y:
— Mi có giỏi hãy đứng dậy cùng ta chiết chiêu, chứ ngồi như vậy là hèn nhát.
Nói rồi nó xuất chưởng đánh thẳng vào đầu người ăn mày. Người ăn mày vẫn
ngồi bất động, ngón tay chỏ chĩa ra. Bộp một tiếng, thằng Ba ôm tay nhăn nhó,
đau đớn cực kỳ. Nhưng nó nhảy lùi lại ba bước, rồi cười đầy vẻ đắc thắng:
— Cho mi nếm mùi đau khổ của Huyền âm độc chưởng. Chỉ cần một khắc nữa,
mi sẽ đau đớn đến phải kêu cha gọi mẹ, rồi sau đấy công lực của mi mất hết,
người mi sẽ mềm xèo như sợi bún. Ha! Ha! Mi có mau rập đầu lạy lão gia một
trăm lạy, lão gia sẽ tha cho mi cái tội vô lễ hôm nay.
Nhưng tiếng cười của nó bị tắt ngấm ngay, vì nó cảm thấy chân khí bế tắc, hai
bàn tay xám ngắt, sưng vù. Toàn thân nó đau đớn cùng cực. Rõ ràng nó bị trúng
Huyền âm nội lực. Nó cười ha hả:
— À thì ra mi cũng biết Huyền âm nội lực. Mi dùng Huyền âm nội lực xử dụng
Huyền âm chỉ! Nhưng đối với ta thì vô ích.
Nói dứt, nó móc trong túi ra một hộp thuốc, lấy ba viên bỏ vào miệng nhai ngấu
nghiến rồi nuốt. Sau khi nuốt thuốc, nó thấy tay lại sưng lớn hơn, cảm giác đau
đớn càng tăng. Nó nghiến răng, cúi gập người xuống để khỏi bật thành tiếng
kêu, nhưng cuối cùng không tự chủ được, nó thét lên:
— Ái! Đau quá! Ái.
Bấy giờ người ăn mày mới mở cái nón ra. Đó là một người đàn ông, gương mặt
khó có thể đoán đươc rằng ông ta còn trẻ hay già. Mặt ông đẹp như Phật Di
Lặc, tóc bạc như cước. Ông ta cung tay hành lễ với Long Xưởng, Đoan Nghi
Trang Hòa:
— Tiểu công tử. Tiểu thư ! Của bố thí không bằng cung cách bố thí. Chỉ cần
một cử chỉ của công tử ban lộc cho lão ban nãy, lão cũng biết công tử, tiểu thư
có tâm Bồ tát. Còn tiểu thư, không tiếc của, ban vàng, lại không sợ trách phạt,
thì hỡi ơi lòng dạ tiểu thư còn rộng hơn biển Đông nữa.
Nói rồi lão đeo đôi xuyến vào tay Đoan Nghi. Trong khi lão ăn mày nói, thì
thằng Ba vẫn đau đớn lăn lộn trên nền điện. Lão ăn mày hướng thiếu niên giữ
đền ra lệnh:
— Quang Anh, hỏi cung nó.
Thiếu niên dạ một tiếng rồi nói với thằng Ba:
— Mi có biết tại sao mi đau đớn như vậy không?
— Ái! Tôi không biết. Đau quá, giết tôi đi!
Quang Anh chỉ vào lão ăn mày:
— Mi có biết sư phụ ta là ai không?
— Tôi cũng không biết. AÔi! Giết...tôi đi.
— Ta cần biết một số tin tức. Nếu mi khai đầy đủ, ta sẽ giải khai cái đau đớn
cho mi.
— AÔi! Tôi xin nói.
— Họ, tên thực của mi là gì?
— Tôi họ Đỗ, tên thực là Đỗ Anh Hào.
— Năm nay mi bao nhiêu tuổi
— Hai mươi ba tuổi.
— Cha mi là ai?
— Là...ái...là Đỗ Anh Vũ.
— Mẹ mi là ai?
— Tôi không biết!
— Mi không biết ư ? Như vậy là mi nói láo. Được, ta để cho mi đau đớn đến
chết , xem mi có chịu nói hay không!
Thằng Ba tức Đỗ Anh Hào run rẩy, lăn lộn một lúc, rồi không chịu được, nó
rên:
— AÔi! Đau chết mất. Tôi xin nói... mẹ tôi là...Cảm Thánh hoàng thái hậu.
Quang Anh điểm vào huyệt đại trùy của Anh Hào, lập tức cảm giác đau đớn
biến mất. Nhưng chân tay nó vẫn còn run.
Nghe Anh Hào cung khai, Long Xưởng kinh hoàng đến nỗi tưởng rằng mình
nằm mơ. Vương nghĩ thầm: Từ trước đến nay, mình được mẫu hậu cho biết việc
Đỗ Anh Vũ tư thông với Thái hậu, chuyên quyền, giết hại trung thần, tàn sát
tông thất... Chứ tuyệt không ngờ hai người lại có con với nhau. Phụ hoàng ta
sinh năm Thiên chương bảo tự thứ tư (Bính Thìn, DL. 1136) tính đến nay là 25
tuổi. Hai năm sau đức Thần tông băng, như vậy thì đức Thần tông vừa băng thì
Anh Vũ đã tư thông với Thái hậu. Thái hậu mang thai tên này ngay. Ỷ là con
của Thái hậu với Anh Vũ, nên tên Anh Hào mới coi thường cả phụ hoàng lẫn
mẫu hậu ta.
— Mi có bao nhiêu anh em ?
— Mười hai người. Tám chị em gái, bốn anh em trai. Nhưng chỉ mình tôi là con
của Thái hậu mà thôi.
— Trong cung Cảm Thánh có ba người được Thái hậu ban cho mỹ danh là
Nùng sơn tam anh. Mi đứng thứ ba, vậy còn hai người nữa là ai ?
— Người đứng thứ nhất là sư thúc Vương Nhất. Người đứng thứ nhì là sư thúc
Cao Phi. Cả hai đều là sư thúc của tôi, do thái sư phụ đưa vào cung giúp Thái
hậu.
— Còn hai cung nữ tên Cảm Linh, Cảm Chi ?
— Họ là cháu gọi Thái hậu bằng cô ruột tức con cô con cậu vớ tôi. Cảm Linh là
vợ Vương sư thúc. Cảm Chi là vợ Cao sư thúc.
— Hai người này thuộc môn phái nào ?
— Tôi không biết.
— Mi học võ với ai?
— Với phụ thân.
— Cha mi là đệ tử của Khánh Hỷ đại sư thuộc phái Tiêu sơn, thì làm sao biết
Huyền âm nội lực mà dạy mi?
— Bố tôi học Huyền âm nội lực với thái sư phụ.
— Thái sư phụ tên là gì? Hiện ở đâu?
— Tôi không biết tên người. Người ẩn hiện bất thường. Tôi đã gặp người nhiều
lần trong cung Cảm Thánh.
Cách đây mười tám năm. Khánh Hỷ đại sư thủ tọa Vạn Hạnh đường của phái
Tiêu sơn, trong khi vân du Thăng long, ngài hành hương chùa Chiêu thiền (chùa
Láng) thì bị kẻ lạ mặt đánh lén một Huyền âm chưởng. Ngài quằn quại, lăn lộn
bốn mươi chín ngày rồi viên tịch. Trong khi ngài đau đớn cùng cực, các sư
huynh, sư đệ hỏi ngài danh tính thủ phạm, ngài nghiến răng chịu đau, trả lời
Khi nghiệp quả đã đến, thì phải an phận mà nhận Å, rồi viên tịch. Vụ án một đệ
nhất cao thủ của phái võ lớn nhất Đại Việt bị ám toán , đã gây trấn động võ
lâm Hoa Việt. Hơn nữa, ngài bị ám toán ngay giữa Thăng long, vào lúc đệ tử
của ngài là Đỗ Anh Vũ đang làm Thái sư, quyền nghiêng thiên hạ, càng khiến
cho võ lâm quan tâm. Phái Tiêu sơn, cũng như triều đình cử không biết bao
nhiêu cao thủ, quan lại điều tra, mà cho đến nay vẫn chưa tìm được tông tích thủ
phạm. Hơn năm sau đến lượt chưởng môn phái Tản viên là Đặng Phi Sơn, cũng
bị gian nhân dùng Huyền âm chưởng đả thương rồi bỏ mạng. Gần đây nhất,
Nghi Hòa sư thái, chưởng môn phái Mê linh lại bị trúng Huyền âm chưởng qua
đời, và gần nhất Văn Đức Ý đi dự Đông cung triều về, bị giết với mã phu, ngựa.
Bây giờ nảy ra vụ Anh Vũ luyện Huyền âm công, rồi dạy con... Thái hậu đem
vào cung hai cặp vợ chồng đều là đại hành gia, xử dụng Huyền âm nội lực.
Quang Anh hỏi:
— Mi có biết tại sao, mi dùng Huyền âm chưởng đánh sư phụ ta, mà chính mi lại
bị trúng độc chưởng này không?
— Tôi không biết.
Anh Hào hướng lão ăn mày rập đầu binh binh: Xin lão tiên sinh tha cho tiểu bối.
Đối với cuộc thẩm vấn của Quang Anh, dường như lão ăn mày bỏ ngoài tai, lão
cứ thản nhiên uống rượu, ăn thịt. Thấy Anh Hào lậy mình, mặt lão vẫn lạnh như
tiền.
Quang Anh hỏi tiếp:
— Mi có biết tại sao, khi mi uống thuốc giải Huyền âm độc chưởng của mi,
không những cơn đau không giảm, mà còn đau hơn không?
— Tôi cũng không biết nữa. Xin thiếu hiệp nói cho tôi biết.
— Cũng được! Ta sẽ nói cho mi nghe. Nhưng mi phải nói rõ về Huyền âm nội
lực của mi, cho chủ nhân mi nghe đã.
Anh Hào hướng vào Long Xưởng nói với giọng kẻ cả, đầy tự hào:
— Thông thường khi người nào bị đánh bằng Huyền âm nội lực, thì bất biết
công lực cao hay thấp, chỉ cần hai chưởng chạm nhau, là độc chất chạy vào cơ
thể, lan rất mau. Khoảng trên dưới một khắc, thì tay xám ngắt, sưng lớn, rồi đau
đớn cùng cực, lăn lộn đến nỗi muốn tự tử cũng không còn sức. Dù có điểm
huyệt, hay uống thuốc trấn thống, thì cao nhất là bẩy ngày, công lực mất hết,
sức không còn, đến nỗi đi đứng cũng phải có người nâng đỡ. Nếu uống hai viên
thuốc giải của bản môn thì không sao. Còn như chỉ uống một viên, thì không
chết, nhưng công lực mất hết, phải luyện lại từ đầu. Từ đấy, mỗi năm phải uống
một viên nữa. Bằng không lại đau đớn sau 49 ngày cũng chết.
Cách đây hai năm, Đỗ Anh Hào đã dùng chưởng này đánh Hoàng hậu, sau đó
Thái hậu kiềm chế bà. Chính vì vậy mà bà không dám ra mặt giúp nhà vua
trong việc phục hồi quốc gia. Hôm qua trong lúc Long Xưởng thần hôn định tỉnh,
Hoàng hậu đã khẩn khoản nhắc nó phải tìm người của phái Sài sơn, hầu giải
vĩnh viễn độc chưởng cho bà.
Long Xưởng rùng mình hỏi:
— Huyền âm nội lực phát xuất từ đâu?
Anh Hào lắc đầu tỏ vẻ không biết. Y hỏi lại Quang Anh:
— Thiếu hiệp có biết không? Nếu thiếu hiệp biết xin đừng tiếc công dạy bảo.
Quang Anh cũng lắc đầu, y hỏi lão ăn mày:
— Sư phụ, đệ tử...
Lão ăn mày chỉ vào bà từ:
— À, cái vụ này thì ta không biết rõ. Mi hỏi sư mẫu ấy.
Câu nói của lão ăn mày khiến Long Xưởng tìm ra được một chút ánh sáng:
— Mình đáng chết thực. Từ sáng đến giờ, những gì xẩy ra, đều có thứ lớp. Lão
ăn đã biết thân phận mình rồi. Rõ ràng có một bàn tay nào đó đã xếp đặt. Mình
phải cẩn thận mới được: Lão ăn mày với bà từ là vợ chồng. Lão với vợ, đệ tử
chuẩn bị sẵn để chờ mình, mà mình không biết. Như vậy vợ chồng lão là cao
nhân đương thời đã biết rõ chân tướng mình, nên chờ đón mình tại đây với mục
đích gì, mình chưa biết. Như vậy mình phải tỏ ra biết trọng hiền tài... Nếu như
được lão trợ giúp thì có thể trị được đám cao thủ của cung Cảm Thánh. Lại còn
vợ chồng Đào Duy nữa, biết đâu họ không cùng hành sự? Nhưng ai xếp đặt?
Chắc chắn những người này không phải của Thái hậu rồi, vì những gì xẩy ra
đều bất lợi cho Thái hậu cả. Họ là người của ông ngoại hay của quan Thái sư
Lưu Khánh Đàm cũng nên. Dù họ là người của ai, thì rõ ràng họ làm lợi cho ta.
Bà từ nguýt chồng một cái, rồi nói mát:
— Xưa nay, lão già kia hằng tự hào là thông kim, bác cổ, mà nay cũng phải lùi
sau lão nương một bước ư?
Lão ăn mày cười hề hề:
— Bao giờ tôi cũng thua bà. Ai mà hơn đươc bà kia chứ. Nhất bà, nhì trời, thứ
ba thịt gà.
Lão lại cầm đùi gà chấm muối vừa ăn vừa uống rượu. Bà từ lắc đầu, nói với
Long Xưởng:
— Nguyên vào thời Tần Thủy Hoàng, sau khi thống nhất Trung quốc, y muốn
đánh chiếm Âu lạc. Tể tướng Triệu Cao bàn rằng : Đất Việt xưa nay là nơi rồng
nằm, hổ phục, vậy trước ta phải sai sứ sang dò xét phong thổ , binh lực, võ học
của chúng đã. Thủy Hoàng thuận đề nghị ấy. Y sai sứ sang bắt vua An Dương
(257 TTL 207 TTL) cống một đội võ sĩ để làm thị vệ . Khi sứ Tần sang, vua An
Dương biết rằng võ học Trung quốc đang thịnh thời, mà Thủy Hoàng đòi cống
võ sĩ, thì chỉ với mục đích tìm hiểu võ học cua Âu lạc mà thôi. Ngài sai quan
Đại Tư mã là tổ sư Lý Thân mang một đoàn đệ tử sang Tần.
Quang Anh hỏi :
— Thưa sư mẫu, quê tổ ở đâu ?
— Tổ quán ngoại ô Thăng long... Khi sứ đoàn Âu lạc tới Hàm dương, Thủy
Hoàng sai tất cả những cao thủ bậc nhất Trung quốc đấu với sứ đoàn trước sân
rồng. Tổ ra lệnh cho chư đệ tử rằng : Ban ngày, khi đấu cứ đánh cầm chừng, để
ngài với chín đại đệ tử ghi nhớ tất cả những chiêu thức của đối thủ. Đêm, tổ với
các đệ tử mới diễn lại những chiêu thức đó, rồi tìm ra phá cách. Sau những trận
long tranh, hổ đấu, tổ với chín đệ tử tìm ra rằng, tại Trung quốc có chín phái võ,
và tìm ra đầy đủ cách khắc chế. Cuối cùng chư đệ tử của tổ thắng tất cả những
cao thủ bậc nhất của Tần.
Tuy mới luyện võ, nhưng giai đoạn lịch sử này Long Xưởng từng đọc qua. Nay
nghe bà từ kể, nó gật đầu tỏ vẻ thích thú. Bà từ hỏi :
— Tiểu công tử ! Thì ra tiểu công tử cũng biết rõ chuyện này rồi ư ?
— Thưa cao nhân, vãn sinh đã đọc giai thoại này trong bộ Âu lạc giản sử. Bộ
này viết từ thời vua Trưng.
— Công tử thử kể tiếp, xem có giống như bản phả của chúng ta không nào !
— Dạ ! Sau đó Tần Thủy Hoàng phong cho ngài làm Tư lệ hiệu úy, cùng đệ tử
cầm quân trấn vùng Lâm thao, đánh Hung nô. Trong khi ruổi ngựa trên vùng
tuyết phủ phía Bắc Vạn lý trường thành, ngài đã tìm được nguyên lý Âm thắng
Dương, do vậy ngài viết ra nội công Âm nhu, gồm 99 câu quyết. Ngài lại thu
góp tất cả yếu quyết kiếm thuật Trung quốc, rồi tìm ra các chiêu khắc chế, đặt
trên căn bản dĩ nhu chế cương, dĩ tốc chế mãnh, sau thành pho Long biên kiếm
pháp. Đại đệ tử của ngài là Vũ Bảo Trung thu thập nghiên cứu tất cả tinh yếu
quyền, chưởng của Trung quốc, rồi nghĩ ra các chiêu khắc chế. Đó là pho Thiết
kình phi chưởng, Âu lạc chưởng pháp, còn có tên khác là Cổ loa chưởng pháp.
Sau khi bình Hung nô, Thủy Hoàng phong cho ngài tước Vạn tín hầu, các đệ tử
của ngài đều được phong tước bá, rồi cho hồi hương. Y xin ngài để lại một đệ tử
làm Tổng lĩnh thị vệ. Ngài để đệ nhị đệ tử là Trần Mạnh Chi ở lại. Mạnh Chi
lấy vợ Hán, thu dụng đệ tử rồi lập ra phái Trường bạch. Ngài về nước được mấy
năm, thì Hung nô lại vượt Vạn lý trường thành quấy rối Trung quốc. Thủy
Hoàng sai sứ sang tìm ngài. Ngài không muốn vì bạo chúa mà lăn mình vào chỗ
chết, bèn trốn vào rừng. Vua An Dương cáo với sứ rằng ngài qua đơì rồi. Sứ về
tâu lại, Thủy Hoàng tin là là thực. Nhưng quan Tư thiên giám coi Thiên văn
thấy tướng tinh của ngài vẫn còn , y tâu lại. Thủy Hoàng sai sứ yêu sách : Chết
rồi thì phải đem xác qua. Ngài biết rằng nếu mình xuất hiện, thì chẳng hóa ra
vua An Dương nói dối ư ? Thủy Hoàng có thể kiếm cớ gây chiến. Ngài họp chư
đệ tử lại, dăn dò việc sau, rồi tự tử chết. Vua An Dương sai ướp xác ngài, trao
cho sứ của Tần. Thủy Hoàng thấy ngài chết thực rồi, y sai làm một tượng bằng
đồng đen giống ngài, trong bụng có máy, khiến chân tay cử động được, rồi để
lên ngựa cho ruổi trên Vạn lý trường thành. Quân Hung nô nhìn thấy, tưởng là
ngài , bèn bỏ chạy. Về phía Âu lạc, vua An Dương sai lập đền thờ ngài. Nhưng
khi Triệu Đà chiếm Âu lạc, y phá đi. Đến đời Đường, Triệu Xương sang cai trị
nước ta (803), đêm thường nằm mơ thấy cùng ngài bàn sách Xuân Thu, Tả
truyện. Y bèn hỏi tìm đến quê cũ của ngài, rồi cho lập đền thờ. Sau đó Cao
Biền sang cai trị nước ta, y được ngài hiển linh giúp đánh quân Nam chiếu, y lại
sai tu bổ đền ngài.
(Ghi chú của thuật giả.
Trải qua gần 1194 năm, với biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, với biết bao
nhiêu cuộc trùng tu, nay (1997) đền của Vạn tín hầu vẫn còn tại xã Thụy
Hương, huyện Từ liêm Hà nội.
Tài liệu Trung quốc.
Tư mã Thiên, Sử ký :
Quyển 6, Tần Thủy Hoàng bản kỷ.
Quyển 112 Bình tân hầu Chủ phụ liệt truyện.
Quyển 113 Nam Việt liệt truyện.
Quyển 114 Đông Việt liệt truyện.
Tài liệuViệt Nam, chữ Hán.
ĐVSKTT,
KĐVSTGCM,
Đại Việt địa dư chí,
Nam Việt địa dư chí,
Địa dư chí,
Hoàng Việt địa dư,
Nam sử lược biên,
Thăng long cổ tích khảo,
Nhị Hoàng di ái lục,
Long biên bách nhị vịnh,
Chư dư chí tạp biên,
Thoái thực kỳ văn.
Tài liệu ViệtNam, chữ Quốc ngữ.
Anh hùng Lĩnh Nam.
Động đình hồ ngoại sử.
Cẩm khê di hận.
Của Yên tử cư sĩ, do Nam á Paris xuất bản)
Thuật đến đây, Long Xưởng cung tay:
— Bộ Âu lạc giản sử chỉ chép đến đoạn vua An Dương lập đền thờ. Còn những
việc sau tiểu sinh biết là do thầy dạy giảng thêm. Tiểu sinh xin kính cẩn lắng
nghe cao nhân bổ khuyết cho những thiếu sót.
Bà từ nói với Long Xưởng như mẹ nói với con:
— Công tử mới bằng này tuổi, mà kiến thức thực rộng bao la. Những điều công
tử kể thuộc về quốc sử. Còn những bí ẩn của võ sử còn nhiều lắm. Tôi xin vì
công tử mà kể.
Bà nhìn lên tượng công chúa Gia Hưng, rồi tiếp:
— Sau khi Âu lạc bị Triệu Đà chiếm. Các tướng của vua An Dương không chịu
phục. Họ đem bộ thuộc, gia đình quy dân lập ấp, mưu đồ phục quốc. Đệ tử của
Trung tín hầu Vũ Bảo Trung lập ra phái Cửu chân. Đệ tử của Cao cảnh hầu
Cao Nỗ lập ra phái Hoa lư. Đệ tử của Phương chính hầu Trần Tự Minh lập ra
phái Khúc giang. Con cháu của tổ lập ra phái Long biên. Khi con cháu Triệu Đà
bị vong quốc, lập ra phái Quế lâm. Đến hời Lĩnh Nam, nước ta có các phái Tản
viên, Tây vu, Khúc giang, Quế lâm, Hoa lư, Cửu chân, Long biên. Các phái hợp
nhau, cùng vua Trưng phất cờ khởi nghĩa, lập ra triều đình Lĩnh Nam. Lĩnh Nam
bị Hán diệt, các đệ tử của ba phái Long biên, Cửu chân, Hoa lư lập ra phái Mê
linh....cho tới nay.
Bà chỉ vào Anh Hào:
— Trở lại với phái Trường bạch bên Trung quốc, đời đời cha truyền con nối. Tới
thời Tây Hán, vị chưởng môn sai đệ tử là Mao Đông Các đi diệt trừ một ác bá.
Không may, y bị tên ác bá bầy mưu gian bắt giam. Tên ác bá muốn có nội công
Âm nhu của phái Trường bạch, y dùng năm loại côn trùng độc là rắn, rết, tằm,
nhện, bò cạp cho cắn Đông Các để y phải khai ra bí quyết luyện công. Không
ngờ trong khi bị đau đớn cùng cực, y vận công chống độc, nội công Âm nhu với
ngũ độc hòa hợp với nhau thành một thứ độc công kinh thế hãi tục. Đông Các
phá vỡ gông cùm, rồi tiêu diệt trọn vẹn kẻ thù, trở về phục mệnh sư phụ. Sau
khi tìm hiểu độc công của đệ tử, vị chưởng môn phái Trường bạch thấy rằng nếu
người nào luyện nội công này, nó sẽ làm mất nhân tính đi, mà trở thành ác
nhân, điên điên, khùng khùng. Ông bắt Mao Đông Các phải chấm dứt luyện
độc công . Y không tuân. Trong một lần theo sư phụ đi hành hiệp, y đánh trộm
sư phụ một độc chưởng. Ông bị thương nặng, đau đớn khốn khổ , chết đi sống lại
trong 49 ngày rồi chết. Sư phụ chết rồi, y dối sư huynh, sư đệ đồng môn rằng sư
phụ gác kiếm quy ẩn, trao cho y làm chưởng môn. Từ đấy y dạy độc công cho
đệ tử phái Trường bạch, cũng chính y tìm ra được thuốc giải. Đại đệ tử của y là
Phan Sùng dùng độc chưởng đi khống chế võ lâm Trung quốc giúp Cảnh Thủy
hoàng đế trung hưng Hán nghiệp. Ai bị đánh trúng, phải bái y làm sư phụ, thì y
cho thuốc giải. Thuốc giải này chỉ hiệu nghiệm một năm. Năm sau lại phải uống
tiếp. Trong năm đó, nếu không trung thành với y, thì không có thuốc giải, nạn
nhân sẽ đau đớn trong 49 ngày rồi chết. Thực là một thứ nội công ác độc nhưng
vô song, vô đối.
Long Xưởng hỏi:
— Thưa cao nhân, tại sao lại gọi là vô song, vô đối? Không lẽ luyện nội công
này, thì trở thành anh hùng vô địch ư ?
Bà từ mỉm cười:
— Công tử mới học võ, nên công tử chưa thể hiểu nổi cái ác liệt của nội công
này. Bởi nó bao gồm cả chính lẫn tà, rất khó chống đỡ. Chính vì gốc nó là nội
công Âm nhu của phái Long biên. Tà vì nó dùng nội công Âm nhu đẩy ngũ độc
vào cơ thể đối thủ. Bất cứ cao thủ nào, trong khi đấu với đệ tử phái này, chỉ cần
chạm vào chưởng của chúng, là lập tức độc tố chạy vào kinh mạch, trong vòng
một khắc thì đau đớn đến chết đi sống lại. Sau này chỉ có Thiền công là chống
được mà thôi.
Bà lắc đầu:
— Sau trận đánh trên đồi Vương sơn, ở phía Nam Lạc dương, Mao Đông Các
cùng hai con gái bị giết; di thư của phái này bị Cửu chân vương Đào Thế Kiệt
đốt cháy ở Kinh châu. Võ lâm Hoa Việt tưởng đâu Huyền âm nội công bị tuyệt
diệt . Nào ngờ, cặp vợ chồng Phan Anh, Trần Nghi Gia còn sống, chúng truyền
cho con. Trong trận đánh ở Nam hải với công chúa Thánh Thiên, tuy vợ chồng
Phan Anh bị giết, mà Huyền âm công vẫn lưu truyền. Nhưng các đời sau không
biết chế thuốc giải, thành ra phái này không rộng lớn. Mãi tới thời vua Lý
Thánh tông, bọn ma đầu Hồng thiết giáo Đại Việt là Vũ Chương Hào, Lê Phúc
Huynh, Đinh Kiếm Thương chạy sang Trung nguyên trao đổi võ công với bọn
Trường bạch, chúng mới chế được thuốc giải. Trong trận đánh ở Yên dũng
(1077), Trường bạch song hùng bị bại dưới tay phò mã Thân Thiệu Thái, hai
người được Kinh Nam vương xin ân xá cho, nhưng bắt phải ở lại Đại Việt cho
đến già, rồi chết. Bấy lâu nay võ lâm Hoa Việt tưởng đâu võ công ác độc này
tuyệt chủng. Cho đến khi đại sư Khánh Hỷ, sư thái Nghi Hoà, đại hiệp Phi Sơn
bị giết, bấy giờ võ lâm nổi lên cơn phong ba. Người người ra sức đi tìm thủ
phạm, tìm bọn luyện độc chưởng này để tiêu diệt.
Bà chỉ vào tên Đỗ Anh Hào:
— May mắn thay, hôm nay chúng ta đã tìm ra được một chút ánh sáng.
Long Xưởng hỏi:
— Thưa cao nhân, giữa Chu sa Nhật Hồ độc công với Huyền âm công khác
nhau thế nào?
— Khác rất nhiều. Chu sa Nhật Hồ độc chưởng phát xuất từ Tây vực. Đại ma
đầu Nhật Hồ lão nhân đem vào Đại Việt dưới thời Thập nhị sứ quân. Độc công
này do hai tên khùng người Tây vực phát minh ra có tên là Chu sa hồng thiết
tâm pháp, dùng 28 vị thuốc độc luyện công. Nội công này thuần dương, rất dễ
trừ. Đến thời đức Lý Thái tổ, phái Sài sơn đã tìm ra thuốc giải vĩnh viễn, nên nó
không còn là mối lo nữa. Vả phương pháp luyện cũng thất truyền sau khi ma
đầu Đinh Kiếm Thương tức sư Đại Điên bị thánh tăng Từ Đạo Hạnh giết.
Bà hất hàm cho Quang Anh:
— Con tiếp tục hỏi cung nó đi.
(Ghi chú của thuật giả.
Về những uẩn khúc này, xin đọc Anh hùng Lĩnh Nam 4 quyển, Động đình hồ
ngoại sử 3 quyển, Cẩm khê di hận 4 quyển, của Yên tử cư sĩ do Nam á Paris
xuất bản.)
Quang Anh hỏi Anh Hào:
— Bây giờ mi sắp chết rồi. Để ta nói cho mi nghe, kẻo mi chết, xuống Âm phủ;
Diêm vương hỏi tại sao mi chết, mà mi không biết, e Diêm vương mắng mi là
phường hồ đồ rồi ra lệnh chém mi, thì mi lại chết một lần nữa. Sư phụ ta là đại
danh y đương thời, nên lão nhân gia chỉ nhìn qua nước da, ánh mắt đã biết mi
luyện nội công Âm nhu, cùng Huyền âm chưởng. Nên khi mi phát chiêu, lão
nhân gia đã đẩy những gì mi đánh ra trở lại người mi.
— Nhưng tại sao... tại sao tôi đã uống thuốc giải mà vô hiệu ?
— Ta đã nói hết đâu ? Trong khi đỡ chiêu của mi, sư phụ ta còn đẩy vào người
mi một viên thuốc nữa. Thành ra thuốc giải của mi vô dụng đã đành mà thuốc
hợp với Huyền âm công thành một thứ độc công vô cùng bá đạo, cho nên không
những thuốc giải của mi vô hiệu, mà còn làm cho đau hơn. Bây giờ mi muốn
sống, hay muốn đau đớn cùng cực rồi chết ?
— Tôi...tôi muốn sống.
— Kể từ hôm nay, mi phải tuân theo ba điều.
— ? ! ? ! ?
— Một là mi phải đậy kín miệng bình, không được tiết lộ những gì xẩy ra hôm
nay, dù với Thái hậu.
— Tôi xin tuân. Còn điều thứ nhì ?
— Mi phải tuyệt đối trung thành với chủ nhân mi. Bất cứ chủ nhân mi ra lệnh gì
mi phải nhất nhất tuân theo.
— Tôi xin tuân ! Còn điều thứ ba ? ! ?
— Mi phải khai tất cả những bí mật trong cung Cảm Thánh cho ta. Như vậy, cứ
ngày trăng tròn, mi phải ra chùa Một cột gặp sư phụ ta để lĩnh một viên thuốc
giải. Nếu mi quên, thì sang ngày mười sáu, cơn đau sẽ hành hạ mi. Thôi, bây
giờ mi ra ngoài kia, khai tất cả những bí ẩn trong cung Cảm Thánh cho ta.
Đợi Quang Anh với Đỗ Anh Hào ra ngoài, bà từ mời bọn Long Xưởng, ngồi
xuống chiếc phản. Bà với lão ăn mày ngồi vào ngôi chủ vị tiếp khách. Vợ
chồng Đào Duy, chắp tay đứng hầu.
Lão ăn mày nhìn Long Xưởng :
— Thái tử, lão phu đi ăn mày, khắp hang cùng ngõ hẻm đâu đâu cũng nghe
người ta đồn rằng: Thái tử Long Xưởng tuổi tuy còn nhỏ, mà có phong thái như
Khai Quốc vương xưa. Nào văn chương quán thế, trí lự khác phàm. Tương lai có
thể vừa là Khai Quốc vương, vừa là vua Lý Thánh tông. Hôm nay lão phu mới
được gặp. Những gì Thái tử nói từ nãy đến giờ, lão phu mới thấy tư cách Thái tử
còn hơn tiếng đồn nữa.
— Đa tạ tiên sinh quá khen. Xưởng này có làm được những công nghiệp như
vua Thánh tông, như Khai Quóãc vương hay không, còn nhờ vào sự dạy dỗ của
những người như tiên sinh.
Hành tung của lão ăn mày, của bà từ, gợi cho ký ức giúp Long Xưởng nhớ lại
trong buổi thiết triều hai năm trước về việc Đỗ Anh Vũ bị giết... Vương chắp tay
hành lễ với người ăn mày và bà từ :
— Thì ta tiền bối có đại danh là Nam phương thần y, họ Lê, tên Thúc Cẩn,
chưởng môn phái Sài sơn đấy ! Còn phu nhân đây hẳn là Ngô Lan Chi, một cao
thủ phái Mê linh. Hèn gì, hành trạng khác thường. Tiểu sinh có mắt như mù. Xin
hai vị đại xá cho.
Long Xưởng chợt nhớ ra rằng : Ông ngoại của vương là sư huynh của Ngô Lan
Chi, vương nảy ra ý nhận họ, để cầu thân . Vương chắp tay hành lễ :
— Đệ tử xin bái kiến thái sư thúc.
Lan Chi nắm tay Long Xưởng :
— Thái tử chẳng nên đa lễ. Quan Thái sư nhờ chúng ta giúp Thái tử. Chúng ta
chờ Thái tử từ qua tới giờ. Giúp Thái tử thì chúng ta sẵn sàng. Nhưng ta chỉ giúp
cái chí của Thái tử mà thôi. Vậy trước hết Thái tử cho chúng ta biết cái chí của
Thái tử như thế nào ?
Long Xưởng ngồi ngay ngắn lại, chỉnh đốn y phục, rồi cung tay hướng vợ chồng
Lê Thúc Cẩn xá ba xá:
— Xưởng này trẻ người, non dạ, tư chất lại đần độn, kiến thức chỉ trông vào
thầy dạy là quan Thái phó Hoàng Nghĩa Hiền và di thư của tiền nhân để lại.
Hôm nay, duyên may gặp gỡ tiên sinh cùng phu nhân. Phu nhân lại là chỗ đồng
môn với ngoại tổ. Xưởng xin dãi bầy ước vọng, mong hai vị dạy cho những lời
vàng ngọc.
Lê Thúc Cẩn từng ngao du tứ phương trị bệnh cho dân chúng. Lão nghe nhiều,
biết rộng, kinh lịch có thừa ; thế mà hôm nay, ngồi trước một thiếu niên mười
tuổi, nói năng như những bậc anh hùng cao niên khuất thân cầu hiền, lão kinh
ngạc không ít.
Long Xưởng tiếp :
— Bản triều do đức Thái tổ, ứng lòng người, hợp lòng trời, lậỳp nền chính
thống. Đến đời đức Thái tông, Thánh tông, Nhân tông, nhờ liệt tổ Đại Việt phù
hộ. Nhờ Khai Quốc vương cùng anh hùng khuông phò... mà phía Nam bình
Chiêm, mở rộng Nam giới tới Hải vân sơn, sáu lần chỉ ngọn cờ lên Bắc, khiến
cho giang sơn Tống nghiêng ngửa, bỏ mộng xâm lăng. Bên trong, việc nội trị
vững vàng, dân chúng ấm no, học phong mở rộng. Nhất là anh hùng võ lâm
cùng triều đình như hai mà là một.
Thúc Cần, Chi Lan cùng gật đầu tán thành những điều Long Xưởng nói .
— Nhưng từ khi đức Thần tông băng, nội cung thì bị cái nạn gà mái gáy, gây ra
những vết nhơ, muôn đời không rửa sạch. Triều đình thì cường thần làm những
chuyện bạo thiên, nghịch địa, tàn sát tông thất, tru diệt trung thần, bạc đãi hiền
tài, khinh rẻ võ lâm. Hóa cho nên nhân tài bị mai một với cỏ cây, võ lâm xa
lánh, tông thất thù hận. Học phong suy đồi, sĩ dân không ham luyện võ. Những
lúc Xưởng này đọc sách, thấy tổ tiên anh hùng như vậy, dân chúng ấm no như
vậy... mà tiếc, mà buồn đến không cầm được nước mắt, ăn không ngon, ngủ
không yên. Cho nên Xưởng này khuất thân cầu hiền, mong xây dựng lại cái
thịnh thời đời vua Thái tông, Thánh tông, Nhân tông. Mong tiên sinh với phu
nhân đừng tiếc công dạy bảo.
Thúc Cần mỉm cười :
— Dạy cho Thái tử thì vợ chồng lão không dám. Tuy nhiên, nghe Thái tử bầy tỏ
cái chí, thì dù kẻ ngu phu, ngu phụ cũng phải cảm động, huống hồ vợ chồng lão
phu. Nhưng Thái tử ơi ! Khổng tử nói rằng : Trong một ấp mười nhà tất có người
trung tín ! Kìa, tại triều chẳng có Thái sư Lưu Khánh Đàm, ngồi trong màn mà
quyết thắng ngoài ngàn dặm đó ư ? Luận về chính sự Tống, Chiêm, cùng những
kế sách cho dân giầu nước mạnh thì có Thái phó Hoàng Nghĩa Hiền. Lại còn
những bậc trung thần như Vũ Tán Đường, Trần Trung Tá, Phí Công Tín... Kể
sao cho hết. Họ cũng muốn đem tài lương đống ra giúp triều đình. Nhưng, họ
đều bó chân, bó tay, vì Hoàng thượng thì không thể làm bất cứ việc gì trái với
Thái hậu. Trong khi Cảm Thánh hoàng thái hậu chuyên quyền. Nay lão phu
muốn giúp Thái tử làm những chuyện như thời vua Thái tông, Thánh tông, thì
cần phải giải tán cái triều đình gà mái gáy bên cung Cảm Thánh. Mà muốn giải
tán cái triều đình gà mái gáy kia, thì cần phải gỡ cái vòng vây trong Hoàng
thành cho Hoàng thượng, cho Hoàng hậu, và nhất là gỡ cái lưới bao vây thái tử
ở Đông cung. Gỡ cái lưới này thì ngoài tầm tay của Thái sư, Thái phó. Chính vì
lẽ đó mà Lưu Thái sư mới xếp đặt để Thái tử gặp vợ chồng lão phu hôm nay.
Lão phu xin vì Thái tử mà làm việc này.
Long Xưởng như người mù được mở mắt, Thái tử lại xá ba xá :
— Xin tiên sinh dạy tiếp cho.
— Bọn xu phụ bên cung Cảm thánh sở dĩ có, vì Thái hậu nắm quyền. Muốn lấy
lại quyền thì phải có lực. Hai năm trước, sau vụ án Đỗ Anh Vũ, Hoàng hậu đã
làm, nhưng vì lực không đủ, lại làm gấp qua nên thất bại. Nay Thái tử muốn
làm, thì phải biết rõ nội tình cung Cảm Thánh.
Ông chỉ ra ngoài xe, chỗ Đỗ Anh Hào ngồi :
— Ta có tên họ Đỗ kia, y đang cung khai những gì ta cần biết. Khi ta biết rồi thì
theo đó mà hành sự.
Lát sau, Quang Anh trở lại, y thuật lại những gì gã Đỗ Anh Hào kể.
— ...Trong cuộc chiến tranh thời Anh vũ chiêu thắng, có rất nhiều tướng Tống,
cũng như cao thủ bị Đại Việt bắt sống. Họ được Kinh Nam vương với công chúa
Huệ Nhu xin cho khỏi họa sát thân. Linh Nhân hoàng thái hậu trao họ cho
vương giữ, đợi hết chiến tranh sẽ trả về Tống. Sau khi Tống Việt hòa tất cả binh
tướng Tống đều được trao trả. Vương chỉ giữ lại sáu đại cao thủ đó là Trường
bạch song hùng, Hoa sơn tứ đại thần kiếm. Theo ý vương, thì các tướng đươc trả
về, không là mối lo cho Đại Việt. Còn Trường bạch song hùng, Hoa sơn tứ đại
thần kiếm là những cao thủ võ công kinh thế hãi tục. Trong môn phái, họ là
những người duy nhất được học tuyệt nghệ. Nay họ bị nhục, họ sẽ truyền nghề
cho đồ tử, đồ tôn, để chúng sang rửa nhục cho môn hộ. Vậy nếu như giữ họ lại
Đại Việt, họ chết rồi, thì tuyệt học hai phái này sẽ mất, mối lo đồ tử đồ tôn sang
trả thù không còn nữa.
Trường bạch song hùng Mao Cung, Mao Kính bại dưới tay phò mã Thân Thiệu
Thái trong trận Yên dũng, bị trúng Chu sa độc chưởng, rồi bị bắt. Triều đình
cũng như võ lâm Đại Việt định giết chúng đi, để Huyền âm công tuyệt chủng.
Nhưng hai người được Kinh Nam vương Trần Tự Mai, công chúa Huệ Nhu xin
Thân phò mã tha mạng cho. Vương truyền giam lỏng hai người lại Thiên trường.
Hàng tháng chúng được trao thuốc giải. Họ lấy vợ Việt. Hai người vốn giỏi
nghề trị độc, họ làm thầy lang chữa bệnh cho dân chúng, để sống cho qua ngày.
Trường bạch nhất hùng không có con trai. Trường bạch nhị hùng sinh được một
trai tên Mao Khiêm, lại cũng có tên Bình, nên đôi khi gọi là Mao Bình. Khi Mao
Kính sắp qua đời, Mao Khiêm mới có năm tuổi, chưa tập võ. Y trăn trối, xin
công chúa Huệ Nhu rằng : Sau này Mao Khiêm lớn lên, công chúa thương tình
dạy cho nó một ít bản sự. Từ đấy võ lâm Hoa Việt tin rằng Huyền âm công
tuyệt tích.
Trường bạch song hùng tuy giữ lời hứa không dạy Huyền âm công cho ai.
Nhưng trước khi chết, Mao Kính cảm thấy bồn chồn trong dạ, vì một pho võ
công vô địch, lưu truyền hơn nghìn năm, bây giờ mai một đi thì thực là điều
đáng tiếc. Vì vậy y dùng tất cả tàn lực, viết lại thành cuốn phổ, rồi trao cho vợ,
trối rằng : Phái Trường bạch nhà ta gốc từ tổ Vạn tín hầu Lý Thân của Đại
Việt, nguyên thuộc chính phái. Đến đời tổ Mao Đông Các, người hợp với ngũ
độc thành Huyền âm độc công. Bất cứ võ lâm chính hay tà nghe đến danh đều
kinh hồn động phách. Đến anh em ta, cả hai đều thành anh hùng vô địch. Vì
vua Tống Thần tông với tể tướng Vương An Thạch hậu lễ, lên núi cầu hiền, mà
chúng ta hạ sơn. Bởi thất thế, chúng ta đành gửi xương ở đất Nam man. Nếu nay
ta chết đi, mà để tâm pháp này tuyệt chủng, thì thực có tội với liệt tổ. Vậy, sau
khi ta qua đời, nàng phải ẩn nhẫn nuôi con. Đợi sau khi nó lớn, học được võ
công Đông a rồi, thì nàng cùng con xin cải táng đem xương ta về cố quốc. Khi
về tới nơi, nàng tìm chỗ ẩn, trao tập phổ này cho con. Đợi nó luyện thành bản
lĩnh nghiêng trời lệch đất rồi hãy tìm đến tổng đường phái Trường bạch mà nhận
họ .
Vợ Mao Kính cho xây ngôi từ đường, thờ Trường bạch song hùng ngay trên mồ
hai người. Lúc sống, hai người, dùng tài trị độc cứu rất nhiều dân bản xứ thoát
chết , nên sau khi chết, họ nhớ ơn. Những ngày sóc, ngày vọng, họ đem lễ đến
miếu thờ, cúng bái rất đông.
Khi Mao Khiêm bẩy tuổi, cái tuổi bắt đầu được tập võ, thì Kinh Nam vương với
công chúa Huệ Nhu đều hoăng cả rồi. Chiếu di chúc, con của vương là thế tử Vị
Hoàng, thương tình Mao Khiêm cũng thuộc hai giòng máu như mình. Thế tử thu
Khiêm làm đệ tử, và dốc túi truyền thụ võ công Hoa sơn, Đông a cho nó. Năm
mười tám tuổi, Mao Khiêm đã học được bẩy thành bản lãnh của sư phu, thì sứ
Tống sang đòi cải táng xương Trường bạch song hùng về cố quốc. Triều đình
Đại Việt xin phái Đông a chu toàn việc đó. Mẹ con Mao Khiêm được theo sứ
Tống hồi hương. Miếu thờ cũng bị phá hủy luôn.
Hoa sơn tứ đại thần kiếm bị giam lỏng ở Thiên trường. Họ được cấp đất, cấp
nhà ở. Vì họ là đạo sĩ, nên họ rất giỏi việc trừ tà, bắt ma.Họ thu được cảm tình
của dân chúng. Nhưng bốn người luôn tưởng nhớ môn hộ, tưởng nhớ có quốc.
Họ lập ra hai cái đài, một cái mang tên Thế lệ đoạn trường (Khóc đến đứt ruột
ra), một cái tên Tiêu hồn lạc phách (Hồn bị tan nát phách bị lạc mất). Ngày này
lên đài, hướng mắt nhìn về Bắc, tưởng nhớ cố quốc. Buồn quá bốn người mang
Hoa sơn tứ đại thần kỹ là Nội công, Quyền pháp, Chưởng pháp, Kiếm pháp, ra
nghiên cứu, bổ khuyết, sáng chế thành bộ võ kinh, mang tên Vô song vô đối,
Trung nguyên võ kinh, gọi tắt là Vô Trung kinh. Nhưng bốn người không làm
cách nào chuyển về Trung thổ cho đồ tử, đồ tôn. Mãi tới khi công chúa Huệ
Nhu hoăng, sứ Tống sang điếu tang, họ mới làm một bài kệ ngắn, mật gửi sứ
đoàn mang về cho phái Hoa sơn. Nhưng từ khi Tứ đại thần kiếm bị băắt, tuyệt
nghệ thất truyền, đồ tử đồ tôn của họ không có những tay kiệt hiệt, nên không
dành được những chỗ đứng cao trong Tống triều. Mãi gần đây nhân hai vua
Tống bị Kim bắt, mới có ba người là Ngô Giới, Ngô Lân, Lưu Kỳ phất cờ trung
hưng, mà trở thành ba đại thần. Phái Hoa sơn có ảnh hưởng lớn tại triều Nam
Tống. Nhân dịp này, họ cử cao thủ theo sứ đoàn sang tìm nơi chôn Vô Trung
kinh.
Niên hiệu Thiệu Minh thứ nhì (Kỷ Mùi, DL. 1139), bên Trung nguyên là niên
hiệu Thiệu Hưng thứ 9, vua Thần Tông băng, Thái tử Thiên tộ mới ba tuổi lên
nối ngôi. Chiêu Hiếu thái hậu họ Đỗ (Vợ Sùng hiền hầu, mẹ vua Thần tông, bà
Đại Định hoàng đế, tức vua Anh Tông) có ý muốn cướp ngôi vua cho em mình
là Đỗ Anh Vũ. Bà cử mật sứ sang xin Tống phong cho Anh Vũ làm vua Đại
Việt. Thiệu Hưng hoàng đế đem việc này đình nghị. Các quan đều bàn không
nên, vì như vậy là dung dưỡng bọn gian thần tặc tử. Thiệu Hưng đế cử sứ sang
phong cho Thái tử Thiên Tộ làm Giao chỉ quận vương. Mao Khiêm được chỉ
định theo làm thông dịch. Triều đình Tống ban mật dụ cho Mao Khiêm như sau:
DaoKy
06-08-2004, 01:11 PM
Huynh không ngờ khi post lên lại trùng lấp vì đường truyền A S D L lúc được lúc mất , nên huynh post tiếp thi ra lại co hai bài trung với nhau nhời Đệ xoá dùm nha ! Sau Khi chuyển fon rồi nhờ Đệ xoá phần chử không đọc được ! hihihi !!! Phiền cho Đệ quá xá!
Vài hàng gửi đệ< Chúc vui vẻ. Thân.
Huynh DaoKy
khucthanhgiang
06-08-2004, 01:57 PM
Chào anh DaoKy
Truyện hay quá vì muốn xem tiếp nên KTG mạo muội chuyển mã để xem mà chưa được anh và 7 ca cho phép ....hì ...sorry .
DaoKy
06-08-2004, 06:52 PM
Anh DaoKy lại thiếu nợ Khúc Cô sầu rồi hihi!!! Cảm ơn Khúc sông sầu nhé! Hôm nào rảnh anh DạoKy mời đi nhậu một bửa nha hihihi!!!
Nếu từ nay trở đi anh DaoKy có post những bài như thế thi phải nhờ đến Khúc Cô Sầu giúp dùm, thành thật cảm ơn!
Chúc vui vẻ. Thân.
Anh DaoKy
TuanKhong
07-08-2004, 01:58 AM
Thân chào chú DaoKy và cô Khúc,
TuanKhong xin mạn phép lấy bài chuyển mã của cô Khúc chồng lên bài viết của chú Daoky, và xin phép xóa các bài chuyển mã để cho gọn và đẹp.
TuanKhong luôn tiện cảm ơn cô Khúc đã giúp chuyển mã các bài viết trên.
TuanKhong
DaoKy
07-08-2004, 01:50 PM
HỒI THỨ SÁU
VẠN DẶM CẦU HIỀN
Trời bắt đầu vào Thu, cái lạnh đã bắt đầu len lỏi trong không gian, những chiếc
lá bàng vàng úa đầu tiên bay lượn theo gió rơi lả tả xuống đất.
Trên con đường thiên lý, từ Thăng long hướng về Thiên trường, một chiếc xe
song mã đang sải bước, tiếng nhạc ngựa rung nhịp nhàng. Người đánh xe là một
đứa trẻ, tuổi khoảng mười một, mười hai. Cạnh nó, một đứa con trai, một đứa con
gái nữa, tuổi suýt soát với nó. Thoáng nhìn, người ta cũng biết ba trẻ là anh em
ruột, vì chúng có nhiều nét giống nhau. Ghế phía sau của ba đứa trẻ, là một đôi
thiếu niên nam nữ ngồi ngắm trời. Đôi nam nữ đó, nam thì hùng vĩ, tuấn tú; nữ
thì yểu điệu, ôn nhu, văn nhã.
Bỗng đứa con trai quay lại sau hỏi:
— Mẹ ơi! Con tỳ, con vị của con nó quấy rầy con quá, con đói đứt ruột ra rồi!
Thiếu phụ an ủi:
— Con chịu khó nhịn một lát nữa thôi, là ta tới khu ngã ba đường Thăng long đi
Trường yên, Thiên trường, ở đó có nhiều quán ăn, tha hồ cho con ăn.
Đứa bé gái bẹo tai đứa con trai:
— Cái anh Thủ Huy này, mới ăn ban nãy, mà đã đói rồi, bộ trong bụng anh có
con hổ hay sao, mà cứ ăn một lúc lại đòi ăn?
Đứa con trai ngồi cạnh thằng Thủ Huy xen vào:
— Thì nam thực như hổ, nữ thực như miêu mà. Nó với anh đều là con trai, thì
phải ăn như hổ cũng là sự thường thôi! Còn em là gái mà cũng ăn khỏe thì mới
là điều lạ lùng. Có lẽ phải đổi câu nam thực như hổ, nữ thực như miêu thành
nam thực như hổ, nữ thực như voi cho hợp.
— Hứ! Hai ông dạ dầy lủng, cùng đói như nhau nên bênh nhau. Không chừng
anh Thủ Lý còn đói hơn anh Thủ Huy nữa.
Bỗng có tiếng vó ngựa khua móng dồn dập, Thủ Lý đứng lên nhìn về phia sau
xe, rồi la lớn:
— Có hai con ngựa đuổi theo ba con ngựa. Ồ, ba người chạy trước thì hai người
mặc y phục võ, một người là trẻ con. Còn hai người đuổi theo, thì một già một
trẻ.
Trung niên nam tử lên tiếng:
— Bọn võ lâm à? Như vậy là có liên quan tới bọn giang hồ hắc đạo rồi. Ta
đứng tọa thủ bàng quan, không nên dây với hủi chi cho bực mình.
Ba kị mã phi ngựa chạy, tới gần chiếc xe thì phải ghì cương cho ngựa chậm lại,
vì đường hẹp, không đủ chỗ cho họ vượt qua. Hai kị mã phía sau đã đuổi kịp.
Hai võ sĩ nói với đứa trẻ:
— Tình hình nguy lắm rồi, xin chủ nhân bỏ chạy trước đi để thuộc hạ cản
đường, tử chiến với chúng.
Đứa trẻ vọt ngựa lên trước, rồi ra roi cho ngựa phi nước đại. Còn hai võ sĩ thì
cầm ngang đoản đao, gò cương cho ngựa dàn ra đường. Một người nói:
— Nghi tàm song ma! Hôm nay dù có thịt nát xương tan, ta cũng nhất quyết tử
chiến với bọn mi.
Thiếu phụ trên xe ngựa phía trước nói nhỏ với chồng:
— Bọn Nghi tàm song ma dường như có tên là Vũ An, Vũ Minh thì phải. Chúng
nó là hai cha con. Vậy tên già kia là Vũ An rồi. Còn tên trẻ là Vũ Minh. Không
biết chúng đuổi theo đứa trẻ công tử kia với mục đích gì? Cướp của chăng?
Người chồng thở dài:
— Thời với thế! Ai đời giữa ngay thủ đô Thăng long, mà bọn trộm cướp kết
đảng, xưng là ma, là quỷ mà vẫn để yên được. Bây giờ ngay trên đường cái
quan, mà chúng hoành hành như rừng núi vậy. Vua, quan... chết hết cả rồi.
Nghi tàm song ma với hai võ sĩ đã bắt đầu giao chiến. Song ma dùng côn nhị
khúc múa như mây trôi, như sóng vỗ. Côn, đao chạm nhau kêu lên những tiếng
loảng xoảng. Thiếu phụ hỏi chồng:
— Anh thấy thế nao?
— Kể về chiêu thức thì hai bên ngang nhau. Nhưng về nội lực thì Song ma bỏ
xa hai võ sĩ.
Ông quay lại bảo con:
— Thôi ta đi thôi!
Thủ Huy ra roi cho ngựa vọt tới trước, tuy vậy nó vẫn còn tiếc rẻ, thỉnh thoảng
lại quay đầu về sau quan sát chiến trường.
Xe chạy một lát, thì không còn nghe thấy tiếng vũ khí chạm nhau nữa. Hơn
khắc sau, chợt đứa con gái chỉ về phía trước:
— Kìa, anh chàng công tử kìa? Chắc anh ta gò ngựa chờ hai tùy tùng đấy.
Khi xe vượt qua con ngựa của công tử, thằng Thủ Lý tội nghiệp, nhắc:
— Chạy thì chạy cho mau, chậm tý nữa chúng đuổi tới e mất mạng đấy. Hai gia
nhân của anh giờ này chắc bị giết rồi.
Gã tiểu công tử tỏ ra cương cường:
— Nếu hai gia nhân bị giết rồi, thì tôi có chạy cũng vô ích, chúng sẽ đuổi kịp, vì
vậy tôi không chạy nữa.
Chiếc xe ngựa lại bon bon lên đường. Xe chạy được khoảng ba khắc sau, thì đứa
con gái chỉ tay về trước:
— Kìa ngã ba kia kìa. Ừ, nhà cửa san sát, chắc có nhiều quán ăn, tha hồ cho
anh Thủ Lý, Thủ Huy ăn nhé! Cười đi!
Hai đứa con trai ứng lời đứa con gái cùng nhau hì lên một tiếng. Đứa trẻ tên Thủ
Huy ghì cương cho xe chạy chậm chậm lại. Xe đi giữa hai dẫy nhà, toàn là quán
ăn. Nó giật dây cương, hai con ngưạ đứng lại trước một nhà hàng có bảng hiệu
Quán Bích động. Một thiếu niên tuổi khoảng mười lăm, mười sáu chạy ra cầm
lấy cương ngựa. trong khi đó chủ quán đon đả đón khách.
Thiếu phụ chỉ lên lầu:
— Cho tôi một bàn ở trên lầu.
Chủ nhà hàng vui vẻ dẫn khách lên lầu.
Thiếu phụ hỏi:
— Này ông chủ! Mùa này là mùa rươi, ông cho tôi hai đĩa chả rươi, một con gà
mái tơ luộc, hai bát canh cá rô nấu với cải bẹ xanh, một đĩa cà pháo mắm tôm.
Cơm thì ông cho chúng tôi cơm gạo dự.
Chợt trung niên nam tử lắng tai chú ý nghe rồi nói:
— Dường như có người phi ngựa từ Thăng long về phía này thì phải. Một con
phi trước, hai con phi sau. Có lẽ hai người đuổi một người. Anh nghĩờ bọn Nghi
tàm giết chết hai gia nhân, rồi đuổi theo gã tiểu công tử.
Câu nói vừa dứt thì ba con ngựa đã tới trước quán. Đúng như trung niên nam tử
nói, kị mã chạy trước quả là gã tiểu công tử, còn hai người đuổi theo là Nghi
tàm song ma.
Đường phố đông người, khiến ngựa không phi được, nên Song ma đã bắt được
gã thiếu niên công tử. Hai cha con kè hai bên ngựa của gã thiếu niên công tử.
Vũ An túm láy cổ áo thiếu niên, rồi cười ha hả:
— Xem mi có chạy được nữa không?
Đứa trẻ lắc mình một cái, y đã vuột khỏi tay Vũ An. Nhưng Vũ An lại chụp tiếp.
Vũ Minh nắm lấy cương ngựa của tiểu công tửÔ, rồi cùng Vũ An giật cương cho
ngựa quay về hướng Thăng long.
Thiếu phụ mỉm cười nhìn chồng, rồi lấy hai cái đũa trong ống, tay vung lên, hai
cái đũa xé gió kêu lên hai tiếng vi vu. Một cái trúng huyệt Đaiỳ trùy của Vũ
Minh, một cái trúng huyệt Thiên tông của Vũ An. Lập tức cả hai người cùng tê
liệt, ngồi như hai pho tượng trên ngựa. Đứa trẻ bị bắt chỉ sẽ vùng vẫy là đã thoát
khỏi tay Vũ An. Nó tỏ ra bình tĩnh cầm cương ngựa của mình, thong thả đi giữa
phố đông đặc người, coi như không biết đến Song ma đã bắt nó. Nó tiến tới tửu
lầu Bích động trao cương ngựa cho tửu bảo rồi khoan thai lên lầu, ngồi vào cái
bàn cạnh cặp vợ chồng trẻ với ba đứa con. Nó liếc mắt nhìn năm người, khẽ gật
đầu chào, miệng mỉm cười làm quen.
Thủ Lý, Thủ Huy cùng mỉm cươiợ đáp lại.
Dưới đường, Vũ Minh lên tiếng:
— Bố ơi! Tại sao chân tay chúng mình lại tê liệt như thế này?
— Còn tại sao nữa? Chúng mình bị người ta ném ám khí điểm huyệạt chứ còn
làm sao nữa. Không biết kẻ nào đã ra tay ám toán mình. Nghĩ tức thực là tức.
Trên lầu, trung niên nam tử bảo vợ:
— Thôi, em dạy dỗ chúng như vậy đủ rồi, tha cho chúng đi.
Thiếu phụ mỉm cười, bà bốc hai hạt đậu lạc (phộng) rồi vung tay lên. Cả hai hạt
đậu đều trúng huyệt Chí dương của Song ma. Lập tức cả hai lại cử động được
như thường. Vừa cử động đươc, Song ma cột ngựa vào gốc cây bên đường, rồi
tung mình lên tửu lầu. Hai người tiến đến ngồi hai bên đứa trẻ. Đứa trẻ tỏ vẻ
không sợ, nó hỏi:
— Này hai gã tướng cướp kia! Giữa ta với hai đứa bay vốn không quen biết, lại
không thù, không oán. Hà cớ chúng bay cứ theo làm khó dễ ta hoài? Nếu như sư
phụ ta biết, ắt người sẽ xé xác bọn mi ra, bấy giờ bọn mi có van xin cũng vô ích.
Vũ An cười khành khạch:
— Sư phụ mi là ai? Nói nghe thử? Nếu sư phụ mi đến đây, e ta sẽ bóp chết y
như bóp một con dán mà thôi.
Vũ Minh cũng cười, y nói bằng giọng cực kỳ đểu giả:
— Ví thử như sư phụ mi có là Ngọc hoàng đại đế, nhưng hôm nay hai ông nội
mi cho mi chầu Diêm vương rồi, thì sư phụ mi cũng không biết tại sao mi chết.
Chết do ai giết mà trả thù.
Đứa trẻ chỉ vào bàn của cặp vợ chồng và ba đứa con đang ăn:
— Ta có chết đi, thì còn năm người này sống. Họ sẽ nói cho sư phụ ta biết rằng
ngày hôm nay hai tên Vũ An, Vũ Minh có biệt hiệu là Nghi tàm song ma, đã hại
ta.
Nói rồi nó nói với đứa trẻ tên Thủ Huy:
— Có phải thế không huynh?
Thủ Huy gật đầu:
— Đúng thế. Nhưng anh phải nói tên anh, cùng danh tính sư phụ anh ra cho các
vị đây biết đi chứ!
— Ừ nhỉ! Hai tên cướp kia, bọn mi hãy nghe cho rõ nhé. Sư phụ ta gồm hai vị,
một nam, một nữ. Hai vị có đại danh là Côi sơn song ưng. Còn ta ư, thì ta tên là
Xương Long.
Nghe đứa trẻ nói, cặp vợ chồng với ba đứa con cùng đưa mắt nhìn nhau, bất
giác cả năm cùng cau mặt lại. Trong khi mặt Nghi tàm song ma tái xanh như tầu
lá chuối. Bỗng lão già tức Vũ An cười rộ:
— Mi nói láo vừa thôi nghe. Nếu như mi là đệ tử của Song ưng, thì tại sao mi chỉ
biết ử dụng có mấy chiêu võ mèo cào của phái Mê linh. Nội công của mi cũng
là nội công Mê linh ? Lão gia đã già đời rồi, mi đừng hòng hù dọa. Ngay Song
ưng có mặt taiỳ đây, lão gia cũng xách cổ lên như xách cổ mi ban nãy. Thôi bây
giờ mi hãy ngoan ngoãn đi theo lão gia, bằng không, lão gia phải xách cổ mi như
xách cổ con chó tiền rưỡi bây giờ!
Cặp vợ chồng trung niên nghe Vũ An nói thì cau mặt lại, rồi đưa mắt cho đứa trẻ
tên Thủ Huy. Đứa trẻ bỏ chỗ ngồi, tiến đến bên Nghi tàm song ma, thình lình nó
vung tay tát vào mặt Vũ An hai cái. Nó ra tay cực kỳ thần tốc, lại không có triệu
chứng gì, nên gã Vũ An tránh không kịp. Bốp, bốp hai cái. Sau khi ra tay, thằng
Huy trở về chỗ ngồi, cử chỉ tư thái ung dung.
Xương Long reo:
— Huynh đài hay thực. Này huynh! Huynh nên chụp bát canh lên đầu hắn, để
làm trò hề mua vui cho thực khách.
Bị trúng đòn, Vũ An cảm thấy đau thấu tâm can, lão quát lên:
— Thằng ôn vật đánh trộm, lão gia phải bóp chết mi!
Nói rồi lão nhảy bổ đến xuất hai Ưng trảo chụp Thủ Huy. Thủ Huy vung tay trái
lên, cái xương chân gà từ tay nó bay trúng huyệt Kiên ngung của lão Vũ An, lập
tức người lão cứng đơ trong tư thế hai chân đứng trung bình tấn, hai tay dơ ra
trước mặt của hai thức Ưng trảo. Nó lại vung tay cái nữa, bát canh trước mặt nó
bay lên, rồi chụp lên đầu lão Vũ An. Canh túa từ đỉnh đầu túa xuống tóc trông
thực thảm thiết.
Thực khách trên tửu lầu cùng ngừng ăn xem trò náo nhiệt.
Vũ Minh tung người lên cao, tay phóng chưởng tấn công Thủ Huy, chưởng
phong bao trùm cả phòng ăn. Thủ Huy tung đôi đũa lên. Đôi đũa xuyên qua
chưởng của Vũ Minh, làm y cảm thấy hai bàn tay nhức nhối cực kỳ khó chịu. Y
phải thu chưởng lại, rồi phát chiêu Ưng trảo chụp nó. Thủ Huy cũng ra chiêu Hổ
trảo trả đòn. Nó ra chiêu sau, mà lại tới trước. Nếu Vũ Minh không thu tay về thì
hai mắt sẽ bị móc ra. Y vội biến trảo thành cái gạt, gạt tay Thủ Huy. Nhưng y
gạt hụt, vì Thủ Huy đã thu chiêu, rồi thè lưỡi ra nhát y. Vũ Minh phóng tới chụp
Thủ Huy , Thủ Huy lại trầm người xuống tránh, rồi túm vạt áo đối thủ giật
mạnh; áo rách mất vạt trước, để lộ lồng ngực lông lá đen xì . Sau khi xé rách vạt
áo đối thủ, Thủ Huy cười ha hả chạy vòng quanh bàn tửu lầu. Thực khách cùng
vỗ tay cười khoái trá.
Thiếu phụ, mẹ của Thủ Huy nhăn mặt mắng con:
— Cái thằng hư quá! Dây dưa với tụi hủi làm chi không biết nữa, bữa ăn mất cả
ngon. Có giải quyết mau đi không!
Nghe mẹ mắng, Thủ Huy lên tiếng hỏi:
— Mẹ ơi! Giết nó hay tha?
— Nó đánh nhau với con, chứ không phải mẹ. Tha hay không là tùy con.
Thủ Huy nói với Vũ Minh:
— Này! Nghi tàm song ma, thôi nghe, chơi như vậy đủ rồi! Ngừng đi! bằng
không mẹ tao đánh đòn tao.
Nói rồi nó phóng một chỉ nhanh không thể tưởng tượng nổi, véo một tiếng, Vũ
Minh đã bị điểm trúng huyệt Hoàn khiêu, toàn thân y tê liệt, đứng như trời trồng.
Còn Thủ Huy thì về bàn ngồi điềm tĩnh ăn uống.
Năm người đã ăn uống xong.
Thiếu phụ gọi tửu bảo tính tiền, thì tửu bảo chỉ vào thiếu niên công tử:
— Vị này đã trả rồi.
Thủ Lý cầm tay Xương Long:
— Cảm ơn anh. Hậu hội hữu kỳ.
Năm người xuống lầu. Khi qua chỗ hai gã họ Vũ, người thiếu phụ cầm lấy cái
bát ăn cơm bóp mạnh, cái bát vỡ ra làm những mảnh nhỏ. Bà nhặt những mảnh
nhỏ bỏ vào bàn tay rồi bóp thành bột, chứng tỏ bà có nội lực siêu phàm. Bà
nhìn Nghi tàm song ma mỉm cười, tay khoằm khoằm ướm thử lên đầu Vũ Minh
như định bóp.
— Này Nghi tàm tiểu ma, nếu ta nhả kình lực, bóp thực mạnh, thì cái gì sẽ xẩy
ra nhỉ?
Vũ Minh bở vía, y nói bằng giọng run run:
— Trường hợp này lọ là phải nói. Cái đầu lão gia sẽ lủng năm lỗ, dĩ nhiên lão
gia sẽ chết.
Vũ An tỏ vẻ biết điều hơn. Y xuống nước:
— Phu nhân, xin phu nhân thương tình tha cho cái mạng kiến ruồi này. Nó là
con trai độc nhất của tiểu nhân.
Thiếu phụ vỗ nhẹ lên lưng Song ma, mỗi người một cái rồi nói:
— Được! Lần đầu ta tha chết cho. Nay ta tạm phóng vào người bọn mi một
chiêu chưởng bằng nội lực bức mạch. Vậy nội trong mười ngày, cha con mi phải
tới trang Thiên trường tạ tội, bằng không tất cả mạch máu sẽ vỡ ra mà chết.
Nghe không?
Song ma run run:
— Xin tuân lệnh phu nhân.
Năm người khoan thai xuống lầu.
Xương Long vội chạy theo năm người, rồi nắm lấy tay Thủ Huy:
— Ê! Anh bạn. Anh bạn cao danh quý tính là gì vậy? Có thể cho Xương Long
này biết được không?
— Tôi họ Trần tên Thủ Huy.
Nó chỉ vào người anh nó:
— Anh tôi tên là Thủ Lý.
Nó chỉ cô em gái:
— Em gái tôi tên Kim Ngân.
Nó định giới thiệu bố mẹ, thì thiếu phụ lắc đầu tỏ ý không cho nó tiết lộ danh
tính.
Thủ Lý hỏi:
— Này anh Xương Long, ban nãy anh nói anh là đệ tử của Côi sơn son ưng, thế
mà dường như nội công của anh lại là nội công Mê linh, bản sự của anh lại quá
bình thường. Tại sao thế?
Xương Long xịu mặt xuống:
— Bình thường thì còn khá. Đệ chưa từng gặp Côi sơn song ưng bao giờ. Đệ
đang đi tìm Song ưng để xin thụ giáo mà chưa thấy lão nhân gia.
Trung niên nam tử hỏi Xương Long:
— Trong thiên hạ thiếu gì người biết võ, tại sao cháu lại đi tìm Song ưng?
— Thưa, tại vì cháu nghe người ta nói rằng muốn làm lên sự nghiệp hiển hách,
thì phải có tài kiêm văn võ, nên cháu xin với cha mẹ cháu cho cháu học võ.
Nhưng bà nội cháu, cha mẹ cháu không cho cháu học. Thày dạy văn của cháu
nói rằng, nếu bà nội cháu cấm, thì không ai dám dạy cháu đâu; trừ phi cháu tìm
được Côi sơn song ưng hoặc đại hiệp Trần Tự Hấp của phái Đông a; vì các vị
này không... không sợ bà nội cháu. Như vậy, chỉ các vị này mới có thể thu nhận
cháu làm đệ tử.
— Phàm khi học võ thì phải tìm minh sư. Cháu đã biết gì về Côi sơn song ưng,
về đại hiệp Tự Hấp nào?
Xương Long sửa y phục lại cho ngay ngắn, cử chỉ này tỏ ra nó kính trọng Song
ưng, Tự Hấp vô cùng:
— Cháu đã nghe nhiều người nói về Song ưng. Cả hai vị đều là đệ nhất danh
nhân đương thời, võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Cả hai vị không
biết thuộc môn phái nào. Còn đại hiệp Tự Hấp với phu nhân đều thuộc phái
Đông a. Cũng có người bảo Côi sơn song ưng chính là ông bà Trần Tự Hấp. Côi
sơn nam hiệp Trần Tự Hấp là cháu bốn đời Kinh Nam vương Trần Tự Mai với
công chúa Huệ Nhu. Vương với công chúa còn có biệt hiệu là Ưng sơn song
hiệp. Hai ngài là những nhân vật khét tiếng về thời vua Tống Nhân tông, Anh
tông, Thần tông bên Trung nguyên; tương đương với bên Đại Việt là đời đức
Thái tổ, Thái tông, Thánh tông, Nhân tông.
Thủ Huy khen:
— Giỏi, về võ công thì anh mù tịt, nhưng kiến thức anh rộng nhỉ. Tôi biết Côi
sơn song ưng không phải là người thuộc phái Đông a. Nhưng thôi! Ban nãy anh
nói về Ưng sơn song hiệp. Thế anh có biết các đời kế tiếp của Ưng sơn song
hiệp không? Nếu anh nói đúng, tôi sẽ cùng anh đi tìm Côi sơn song ưng, hoặc
đại hiệp Tự Hấp.
Mắt Xương Long sáng ngời, nó chắp tay vái Thủ Huy:
— Đa tạ anh trước. Cứ như bộ Anh vũ chiêu thắng thực lục, thì khi về già, Kinh
Nam vương với công chúa Huệ Nhu ẩn ở Thiên trường với ba thế tử là Vị
Hoàng, Thiên Trường, Linh Cơ và quận chúa Minh Thúy. Trước khi băng, vương
có di chúc cho các con, các cháu ba điều: Một là phải học văn luyện võ cho hơn
đời. Hai là lấy tiêu dao với cỏ cây, hành hiệp cứu khốn phò nguy. Ba là tuyệt
đối xa lánh công danh.
— Giỏi! Rồi sao?
— Ngài Vị Hoàng sinh ngài Tự Quang, ngài Tự Quang sinh ngài Tự Kinh. Ngài
Tự Kinh sinh ra ngài Tự Hấp, tức Côi sơn nam hiệp.
Thiếu phụ lắc đầu:
— Cháu nói chỉ đúng một nửa. Ông Tự Hấp không phải Côi sơn nam hiệp. Thế
cháu có nghe biết Côi sơn nữ hiệp là ai không?
— Dạ, cháu nghe nói nữ hiệp là con của đại hiệp Bùi Kính Thiên trong phái
Đông a nhũ danh Bùi Anh Hoa.
Thiếu phụ lắc đầu:
— Kiến thức của cháu khá rộng, nhưng về tên của Côi sơn nam hiệp thì không
phải là Trần Tự Hấp, và dĩ nhiên tên của nữ hiệp cũng không phải là Bùi Anh
Hoa. Côi sơn song ưng với ông bà Trần Tự Hấp, Bùi Anh Hoa là bốn người
khác nhau.
(Ghi chú của thuật giả:
Để biết về hành trạng của Ưng sơn song hiệp, xin xem Anh linh thần võ tộc Việt
(Xuân thu Hoa kỳ xuất bản 1993) và Nam quốc sơn hà (Đại Nam Hoa kỳ xuất
bản 1996) của Yên tử cư sĩ.
Về bộ Anh vũ chiêu thắng thực lục, tức bộ thông sử chép từ thời vua Lý Thái tổ
đến khi Triệu Tiết, Quách Quỳ đem quân đánh Đại Việt bị bại (1010 1077), nay
thất truyền. Dường như bộ này Trương Phụ, Mộc Thạch đem về Kim lăng năm
1407. Khi bát quốc đánh Kim lăng, thì người Nhật cướp mang về. Sau này tôi
nhờ học giả Trần Kinh Hòa, trưởng ban sử học Đông Nam Á đại học Soka Nhật
bản, và chính tôi đã lục lọi hết mọi thư viện của Nhật bản mà cũng không tìm ra
dấu vết. Nếu các thức giả VN tại Nhật đọc được những giòng này, thử tìm khắp
các thư viện xem. Biết đâu? Nếu quả như tìm không thấy, thì nó đã bị tiêu hủy
rồi. Hỡi ơi! Đau đớn biết bao!)
Thiếu phụ đưa mắt cho Thủ Huy:
— Xương Long đáp trúng hết. Duy tên của Côi sơn song ưng thì sai. Tuy nhiên
con cũng phải giữ lời hứa đấy nhé.
— Dạ. Con sẽ cùng anh í đi tìm Côi sơn song ưng hay ít ra là ông bà Trần Tự
Hấp.
Thiếu phụ hỏi Xương Long:
— Cháu chưa biết Song ưng mà đi tìm, thì giả như cháu gặp Song ưng đi nữa, vị
tất Song ưng thu cháu làm đệ tử. Lại còn ông bà Trần Tự Hấp của phái Dông a
nữa, ta nghe nói ông bà không muốn nhận đệ tử nữa thì phải.
Mặt Xương Long xịu xuống gần như muốn khóc, thiếu phụ thương tình hỏi:
— Thế cháu có biết các vị ấy ở đâu không?
— Không! Cháu hỏi dò mãi, mà chả ai biết hai ông bà ấy ở đâu? Sau cháu nghe
đồn rằng: Song ưng, cũng như ông bà Tự Hấp đều là cao thủ phái Đông a. Mà
tổng đường phái Đông a ở Thiên trường, nên cháu mới lấy ngựa đi Thiên trường
để hỏi tin tức. Không may giữa đường gặp bọn Nghi tàm song ma, chúng muốn
bắt cóc cháu để đòi bố mẹ cháu đem vàng chuộc.
— Bố mẹ cháu là ai? Phải chăng là tể tướng, thượng thư? Đúng rồi, ta thấy cháu
cỡi con ngựa hùng vĩ, yên cương nạm bạc, lại có hai võ sĩ theo hộ vệ, thì bố mẹ
cháu phải có lý lịch lớn lắm.
Xương Long luống cuống:
— Bố mẹ cháu là thương gia ở Thăng long. Còn ngựa, thì cháu mượn của một
thế tử, con ông thân vương, chứ bố mẹ cháu đâu có ngựa đẹp thế này.
Thiếu phụ bẹo tai Xương Long:
— Cháu mới gặp chúng ta lần đầu ở giữa đường, mà cháu dám nói thực ra hết,
thế cháu không sợ ư? Này cháu! Bây giờ ta cũng muốn có vàng tiêu, chúng ta
sắp bắt cóc cháu đấy. Cháu có sợ không? Chúng ta dữ hơn Nghi tàm song ma
nhiều, ta nói cho mà biết.
Xương Long chắp tay vái dài:
— Phu nhân dạy quá lời, chứ ngu tối như cháu, mà cháu chỉ liếc qua cũng biết
phu nhân là người đi diệt kẻ ác, chứ không thể là kẻ ác đươc. Xin phu nhân cho
cháu biết cao danh quý tính?
— Ừ! Ta cho cháu biết cũng chẳng sao. Phu quân ta họ Trần tên Kế Vy.
Xương Long chắp tay:
— Cháu xin bái kiến Trần tiên sinh và phu nhân.
Thủ Lý nắm lấy tay Xương Long:
— Gia đình chúng tôi cũng đi Thiên trường, vậy anh có muốn đi cùng không?
Tôi nói cho anh biết, nhà của ông bà Tự Hấp cũng ở gần nhà tôi. Nếu anh
muốn tôi dẫn đường, thì anh phải trả công tôi thực nhiều tiền.
Xương Long móc tay vào trong túi, nó chỉ còn hai chỉ bạc. Chợt nhớ ra điều gì,
nó cởi chiếc giây chuyền trên cổ có móc một tượng Phật Quán thế âm bằng
ngọc đỏ chói ra trao cho Tự Lý:
— Tôi có nhiều vàng ngọc, nhưng đều để ở Thăng long. Trên mình tôi chỉ có
vật này. Nó là báu vật bố tôi cho tôi nhân ngày sinh nhật mười tuổi. Tôi xin biếu
anh.
Tự Lý lắc đầu:
— Tượng Phật này là kỷ niệm đẹp của anh, tôi đâu nỡ nhận. Anh có cái gì khác
không?
— Hay là đợi sau này về Thăng long, tôi sẽ biếu anh. Tôi có nhiều vàng ngọc
lắm.
— Lời nói xuông thì lấy gì làm bằng? Ví thử tôi dẫn anh đi tìm Song ưng, khi
thấy rồi anh lại chối biến, thì bấy giờ tôi làm gì được anh?
Xương Long quýnh quá, nó ngửa mặt lên nhìn trời, rồi chắp tay khấn:
— Trời xanh chứng cho Xương Long. Hôm nay Xương Long nhờ anh Thủ Lý
dẫn đi tìm Côi sơn song ưng. Nếu như tìm thấy Song ưng thì sau này Xương Long
có gì, xin tặng cho anh Thủ Lý hết.
(Ghi chú của thuật giả.
Từ ngữ sau này có gì Xương Long muốn nói là tiền bạc, nhưng có ai ngờ Xương
Long khấn phải giờ linh, mà từ ngữ có gì có nghĩa là tất cả tài sản của Xương
Long. Tài sản của Xương Long sau này chính là giang sơn Đại Việt. Ngôi vua
Đaiỳ Việt từ họ Lý, Xương Long trao cho họ Trần kể từ đây.)
Thủ Huy bảo Xương Long:
— Để tôi cỡi chung ngựa với anh cho vui.
Nói rồi nó quát lên một tiếng, phi thân ngồi trên lưng ngựa. Xương Long cũng
vọt mình lên theo rồi ra roi cho ngựa phi nước đại. Thủ Lý thay em, cầm cương
đánh xe ngựa cho bố mẹ với Kim Ngân theo sau.
Xe ngựa chạy không nhanh cho lắm, nên phút chốc hai trẻ đã bỏ xa chiếc xe
song mã. Hơn giờ sau, ngựa của hai trẻ đã tới một khu đầm sen. Xương Long gò
cương cho ngựa dừng lại, rồi hỏi:
— Này anh Thủ Huy, phải chăng anh học võ với song thân? Tôi thấy Nghi tàm
song ma võ công cao thâm là thế mà anh thắng chúng dễ dàng quá. Vậy chắc
võ công bá phụ, bá mẫu phải cao thâm lắm nhỉ?
Thủ Huy không trả lời câu hỏi của Xương Long, mà hỏi ngược lại:
— Tại sao anh biết võ công của Nghi tàm song ma cao thâm?
— Dễ hiểu quá! Bố tôi bỏ biết bao nhiêu tiền ra mới mộ được hai võ sĩ kiệt hiệt,
thế mà chỉ đấu với Song ma có trăm hiệp là lạc bại. Hai người bị chúng đánh
đến nỗi phải bỏ chạy bán mạng. Trong khi anh chỉ đánh có mấy chiêu, đã biến
Song ma thành trò cười cho thiên hạ. Phải chi tôi có người bạn như anh ở bên
cạnh thì hay biết mấy!
Thủ Huy liếc nhìn Xương Long, thấy trên mặt nó hiện ra những nét chân thành,
thì cảm động:
— Vậy thế này, tôi với anh kết nghĩa anh em, sau khi kết nghĩa, chúng ta sẽ
luôn được ở cạnh nhau.
Xương Long mừng chi siết kể, nó nắm tay Thủ Huy chỉ về ngôi làng ven đường:
— Kìa, dường như trong làng có chùa đình chi thì phải. Chúng ta vào đó làm lễ
kết bạn, để có sự chứng kiến của thần, Phật.
Hai đứa nhảy lên ngựa chạy vào làng, đến trước ngôi đền thì gò cương đứng lại.
Xương Long hỏi:
— Không biết đền này thờ ai?
Thủ Huy chỉ lên bức đại tự:
— Đây không phải là đền thờ, mà là chùa và tháp Phổ minh. Anh em chúng tôi
thường ra đây chơi, nên biết rất rõ.
Nghe đến tên Phổ minh, mất Xương Long sáng lên:
— À, di tích này tôi biết rồi. Chùa được xây vào niên hiệu Thuận thiên thứ 19
(1028). Nguyên vào thời gian này Dực thánh vương, Vũ đức vương, Đông chinh
vương khởi loạn; Ngô quốc quận vương Trần Tự Mai cùng công chúa Huệ Nhu
đem anh hùng Trung nguyên về giúp Khai quốc vương dẹp loạn. Nhân đó vương
cho xây chùa để cầu phúc cho thân mẫu. Đến niên hiệu Anh vũ Chiêu thắng thứ
nhì (1076), hai thánh tăng Minh Không, Đạo Hạnh vân du Trung quốc, giúp vua
Tống trừ tà, được vua ban thưởng vàng bạc, hai vị từ chối không nhận; chỉ xin
được vào kho lựa một ít đồng đen đem về đúc chuông. Vua đồng ý. Hai ngài
làm phép lấy hết kho đồng đem về đúc An Nam tứ đại thần khí. Vạc Phổ minh
này là một.
Thủ Huy tỏ vẻ khâm phục:
— Kiến thức anh rộng thực.
(Ghi chú của thuật giả:
Về hành trạng hai thánh tăng Minh Không, Đạo Hạnh, hóa phép lấy hết kho
đồng của Tống xin xem Nam quốc sơn hà hồi thứ 44, của Yên tử cư sĩ, do Đại
Nam, Hoa kỳ xuất bản 1996.)
Một tiểu sa di chạy ra chắp tay vái dài:
— A di đà Phật xin mời hai thí chủ vào lễ Phật.
Hai trẻ vào bảo điện quỳ gối lễ Phật, trong khi tiểu sa di đánh chuông. Xương
Long khấn:
— Hôm nay là ngày 21 tháng 10, xin chín phương trời, mười phương Phật chứng
giám cho lễ kết nghĩa của chúng con. Chúng con là Lý Long Xưởng và Trần
Thủ Huy, tuy không cùng cha mẹ sinh ra, nhưng xin kết làm anh em. Chúng con
xin thề rằng có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu. Kẻ nào ăn ở hai lòng, thì sẽ
bị chết dưới muôn nghìn mũi tên.
Sau khi lễ tám lễ, hai trẻ cùng giao bái, rồi so ngày sinh, Long Xưởng lớn hơn
Thủ Huy một tuổi. Thủ Huy chắp tay vái:
— Đại ca.
Long Xưởng đáp lễ:
— Nhị đệ.
Thủ Huy hỏi:
— Thì ra đại ca họ Lý, tên Long Xưởng chứ không phải tên là Xương Long à?
— Đúng vậy. Ngu huynh phải đảo ngược tên đi, để bọn trộm cướp không truy
lùng lý lịch mà hại ngu huynh. Nhưng... nhưng khi thề, thì phải thề cho đúng, đức
Phật mới chứng cho chứ. Tuy vậy điều bí mật này nhị đệ chỉ nên để trong tâm
mà thôi, còn bề ngoài thì nhị đệ cứ gọi ta là Xương Long.
— Được chứ.
Sau lần đi hành hương đền thờ công chúa Gia Hưng ở Kiêu kị trở về, thì thằng
Ba tức Đỗ Anh Hào sợ Long Xưởng như sợ cọp. Tất cả những biến cố trong
cung Cảm Thánh, nó phải báo cho Long Xưởng biết. Vợ chồng Đào Duy được
Lê Thúc Cẩn đem vào ở trong Đông cung, cùng Quang Anh để giúp đỡ, bảo vệ
cho Long Xưởng. Hằng ngày, Thủ Huy công khai tự luyện nội công Âm nhu, võ
công Mê linh, rồi dạy lại cho Đoan Nghi, Trang Hòa, Thụy Hương, Tăng Khoa.
Thái phó Hoàng Nghĩa Hiền nghe tin này, ông khuyên Long Xưởng :
— Việc Thái tử luyện võ, thần biết rằng Thái tử dự bị sau này đối phó với Nùng
sơn tam anh, Tô lịch nhị tiên. Bọn chúng là những cao thủ bậc nhất thiên hạ,
muốn có bản lĩnh thắng chúng thì phải luyện tập rất lâu mới thành. Biết rằng lâu
mới thành thì thái tử phải dấu kín. Bất cứ trường hợp nào dù nguy nan đến đâu,
Thái tử cũng phải làm như mình chưa luyện võ. Một mai khi thành rồi, thì mình
ra tay thình lình, mới thành công. Còn như bây giờ việc chuẩn bị tới tai Thái hậu
thì Thái hậu sẽ không ngần ngại gì mà ngầm giếtThái tử.
Cho nên, hiện giờ nội công Âm nhu, Mê linh kiếm pháp của Long Xưởng tương
đối đã có thể xử dụng được nhưng Long Xưởng vẫn giả ngây giả dại.
Nhắc lại, nhờ có Anh Hào cung cấp tin tức. Sau khi nắm vững tất cả tình hình
trong cung Cảm Thánh, Lê Thúc Cẩn bắt Đỗ Anh Hào tuyển thêm một số
Phụng quốc vệầ cho Đông cung, để ông có dịp đem vào ba mươi đệ tử thay thế.
Số Phụng quốc vệầ cũ trả về cho Đàm Dĩ Mông. Từ đấy Đông cung không sợ
bị Thái hậu khống chế nữa.
Ngô Lan Chi bàn:
— Như chương trình của Thái sư đưa ra. Chúng ta có ba việc phải làm. Thứ nhát
là tổ chức đại hội Lộc hà, giỗ Bắc Bình vương Đào Kỳ với vương phi Phương
Dung vào ngày rằm tháng tám. Thứ nhì, tổ chức kỳ thi võ, tuyển nhân tài, bổ
dụng làm võ tướng. Thứ ba là tìm cho ra tung tích bọn sứ đoàn Tống, tiêu diệt
bọn Mao Khiêm. Mặc dù Thái tử đã gửi thư đến các chưởng môn nhân. Các
Tuyên vũ sứ, An vũ sứ đã sức thư đến từng làng, từng xã về việc này. Tuy
nhiên, các đại tôn sư vốn cao ngạo. Ta phải theo gương Khai Quốc vương xưa,
thân đi mời các gia, các phái. Vậy Thái tử nên đi Thiên trường mời phái Đông a,
với các gia, các bang ở Nam Thăng long; còn trượng phu tôi thì lên Tản lĩnh mời
phái Tản viên, rồi về Kinh Bắc mời phái Tiêu sơn. Tôi sẽ mời sư phụ với phái
Mê linh. Còn phái Sài sơn nhà mình thì chúng tôi đã thông tri cho chư đệ tử rồi.
Vì vậy Long Xưởng cải trang làm một công tử nhà giầu, đem hai Phụng quốc vệ
thân tín hộ vệ. Nào ngờ cuộc chuẩn bị bí mật như vậy, mà sao đến nỗi bọn giặc
cướp vặt ở Nghi tàm cũng biết, chúng đón đường định bắt Long Xưởng, chưa rõ
với mục đích gì? Giữa lúc Song ma đánh bại hai Phụng quốc vệ, định bắt Long
Xưởng, thì gặp vợ chồng Trần Kế Vy với hai con là Thủ Lý, Thủ Huy ra tay
giải cứu. Thủ Huy còn kết nghĩa với Long Xưởng.
Hai trẻ đem mấy chỉ bạc cúng dàng rồi lại lên ngựa ra đi. Khoảng hơn khắc sau,
chúng đã tới bờ sông. Xương Long hỏi:
— Sông này là sông gì vậy?
— Nó là sông Hồng hà. Qua bên kia sông khoảng hơn khắc sẽ tới nhà đệ.
Thủ Huy chỉ sang bên kia sông nói với Xương Long:
— Bên kia sông là trang Thiên trường, nhà đệ ở trong đó. Tổng đàn phái Đông
a cũng ở đấy.
Có một con đò lớn đậu ở bên sông, bên sườn ghi chữ Thập bát Nhất liễu. Chủ
nhà đò là một lão già. Lão cung cung kính kính cúi rạp người xuống:
— Kính mời hai vị xuống đò, chúng tôi xin đưa sang sông.
Thủ Huy thấy con đò lớn quá, khác hẳn với những con đò mà trước đây nó đã
cùng cha mẹ qua sông. Nó hỏi:
— Này ông chủ đò, sao đò lớn quá vậy? Dường như ông mới tới đây làm ăn thì
phải?
— Thưa công tử vâng. Mời hai công tử xuống cho.
Không nghi ngờ, Thủ Huy, Xương Long bước xuống. Đò chỉ có hai người khách
duy nhất là Xương Long với Thủ Huy. Trong lòng con đò có cái án thư, hai chiếc
ghế chạm trổ rất tinh vi, một cái lư hương bốc khói thơm ngát. Hai tỳ nữ bưng
hoa quả, pha trà mời khách.
Xương Long chưa kinh lịch giang hồ, nó ăn trái cây, uống nước trà rất tự nhiên.
Còn Thủ Huy, nó từng theo cha mẹ qua lại giang hồ nhiều, thấy con đò sang
trọng quá đáng, nó đã kinh ngạc rồi. Bây giờ lại thấy trong đò có chén sứ bịt
vàng, đĩa với dao bạc, tỳ nữ xinh đẹp hầu hạ, nó sinh nghi, không ăn trái cây,
mà hỏi chủ đò:
— Này ông chủ đò, ông đến đây từ bao giờ vậy? Ủa sao đò không sang ngang,
mà lai xuôi giòng thế kia?
Chủ đò trả lời lơ mơ:
— Trước hết đò phải xuôi giòng, rồi mới sang ngang được chứ!
Thủ Huy quát lên:
— Quay lái cho đò sang ngang ngay!
Mặc Thủ Huy quát, con đò dương buồm lên, rồi vọt mình cỡi sóng xuôi về
hướng Đông. Thủ Huy tung mình về phía lái, nó phóng chỉ điểm huyệt người lái
đò, người lái đò trúng chỉ ngã lăn ra. Thủ Huy cướp lấy tay lái kéo mạnh, con đò
quay mũi hướng sang bên kia sông. Lão chủ đò thấy Thủ Huy còn nhỏ mà võ
công đã cao cường thì kinh ngạc không ít. Lão kêu lên tiếng ủa, rồi tung mình
đến chụp cần lái từ tay Thủ Huy. Thủ Huy buông tay lái, phóng hai quyền vào
thái dương lão. Lão nghiêng đầu tránh khỏi rồi phát chiêu chưởng tấn công Thủ
Huy.
Trong khi đó, một người lực lưỡng khác từ ngoài nhảy vào cầm lấy tay lái. Con
thuyền lại lướt sóng chạy về hướng Đông.
Lão chủ đò với Thủ Huy tiếp tục giao đấu. Đấu được hơn năm chục hiệp, thì
Thủ Huy đã mệt nhoài. Nó đánh bậy hai chiêu rồi nhảy lùi lại hô lớn:
— Ngừng tay!
Nó vừa nói, vừa thở hổn hển:
— Nhất định người không phải là chủ đò bình thường, vì... vì ta thấy võ công
người cao thâm gấp bội ta. Trong khi giao đấu rõ ràng người chỉ đánh lấy lệ,
bằng không, chỉ hai chiêu là ta đã mất mạng rồi. Như vậy là người không có ác
ý. Người là ai?
Nó đổi cách xưng hô:
— Tại hạ thua tiền bối rồi, vậy tiền bối muốn mổ, muốn băm vằm thế nào tại hạ
cũng không ân hận. Nhưng trước khi giết tiểu bối, xin tiền bối hứa cho ba điều.
Lão già cũng đổi cách xưng hô:
— Được! Thiếu hiệp cứ nói.
Thủ Huy chỉ vào Xương Long:
— Yêu cầu thứ nhất của tiểu bối thực giản dị: Đây là người bạn mới kết nghĩa
của tiểu bối. Sau khi giết tiểu bối rồi, thì tiền bối không được làm khó dễ anh ấy.
— Được, lão bộc này xin hứa! Còn yêu cầu thứ nhì?
Thấy lão đổi cách xưng hô tự nhận là lão bộc, tức tên đầy tớ già, Thủ Huy kinh
ngạc không ít. Nó tiếp:
— Yêu cầu thứ nhì là, xin tiền bối cho biết cao danh quý tính?
Lão già chủ đò cười:
— Lão bộc đi làm đầy tớ cho người, thì làm gì có danh mà cao, có tính mà quý?
Lão có biệt danh chủ đặt cho là Thập bát nhất liễu bộc, nghĩa là tên đầy tớ thứ
18 tên Liễu, thường được bạn hữu gọi là Nhất Liễu. Vì vậy con đò của lão cũng
mang tên Thập bát Nhất Liễu.
Thủ Huy chỉ vào Xương Long:
— Sau khi tiểu bối chết rồi, Nhất Liễu tiên sinh đưa anh ấy về Thăng long với
gia đình.
Nhất Liễu cười:
— Thưa thiếu hiệp, lão bộc này đem đò đón bạn của thiếu hiệp ở bến sông Vị
hoàng, cũng chỉ với mục đích đưa bạn của thiếu hiệp về Thăng long mà thôi.
Nếu như thiếu hiệp có thể khuyên người bạn chịu về Thăng long, thì lão phu sẽ
cung cung, kính kính hầu hạ, chứ quyết không dám vô lễ với cả hai vị.
Xương Long xua tay:
— Không! Muôn ngàn lần không. Ta phải đi tìm cho bằng được Côi sơn song
ưng, với phái Đông a đã, bằng không nhất định ta không về nhà đâu.
Thủ Huy vẫy tay cho Xương Long:
— Xương Long đại ca. Phàm muốn làm anh hùng thì phải biết lúc nào nên tiến,
lúc nào nên thoái; như loài rồng, lúc to thì bằng trời đất, khi nhỏ thì bằng hạt bụi.
Hôm nay tiểu đệ đấu võ bị bại dưới tay người ta rồi, thì mình đành thu nhỏ cái tự
ái lại, nhường người ta cho đúng với đạo Trung dung. Đệ cam đoan, sau khi về
tới Thăng long, đệ sẽ dẫn đại ca đi tìm Côi sơn song ưng với ông bà Trần Tự
Hấp.
— Được rồi, ta bằng lòng về Thăng long. Nhưng này lão kia, người bắt ta để
làm gì vậy?
Lão chủ đò mỗi lúc một tỏ ra khách khí:
— Lão bộc có một vị bề trên rất hâm mộ công tử, nên người ra lệnh cho lão phu
đi mời công tử về làm thượng khách tại trang của người ít ngày mà thôi.
— Ta không tin.
— Công tử không tin, thì tiểu nhân đành chịu, chứ biết làm sao bây giờ?
Xương Long vẫn cương quyết:
— Dù sư đệ ta thua người, nhưng ta nhất quyết không về Thăng long đâu. Người
muốn giết ta thì cứ giết đi.
Con thuyền Nhất Liễu vẫn cỡi sóng lao đi vùn vụt.
Chợt mặt lão cau lại tỏ vẻ suy nghĩ, rồi lại lắc đầu. Lão hỏi Thủ Huy:
— Này thiếu hiệp, thiếu hiệp kết bạn với công tử gia đây lâu chưa? Trong
trường hợp nào? Tại đâu?
Thủ Huy cứ sự thực kể cho Nhất Liễu nghe. Nhất Liễu khen ngợi:
— Tuy mới kết bạn chưa quá một ngày, mà công tử đã vì nghĩa khí hy sinh cho
nghĩa huynh. Công tử nhất định chết thay cho nghĩa huynh sống. Thực là trung
nghĩa hiếm có.
Lão ngước mắt nhìn trời rồi hỏi:
— Lão bộc này lớn gan, giám hỏi: Công tử học nghệ với ai, mà mới tý tuổi đầu,
đã có bản lĩnh cao thâm khôn lường?
— Hỡi ơi! Tôi đã bại dưới tay tiền bối thì đâu dám đem tên sư phụ ra. Phen này
về gặp người, thì e phải đeo cái mặt mo mất.
Mặt lão Nhất Liễu cau lại thực khó coi, rồi lão nói một mình:
— Chiêu Đông hải lưu phong sao giữa chừng lại chuyển sang trái được kể cũng
lạ! Chiêu Ác ngưu nan độ sao lại chuyển xuống dưới nhỉ? Chiêu chỉ điểm vào
gã lái đò thì rõ ràng là Lĩnh Nam chỉ chính tông. Còn lại thì toàn võ công Hoa
sơn.
Lão hỏi:
— Thiếu hiệp! Thiếu hiệp có thể chiết với lão bộc này ít chiêu nữa không? Cam
đoan chỉ trong mười chiêu, lão nô này sẽ tìm ra môn hộ thiếu hiệp ngay.
Thủ Huy mỉm cười:
— Vậy thì chúng ta đánh cuộc, tiền bối nghĩ sao?
— Xin thiếu hiệp ra cho đầu đề.
Xương Long xen vào:
— Bây giờ thế nay! Lão đấu với sư đệ ta mười chiêu. Nếu trong mười chiêu, mà
lão không tìm ra môn hộ sư đệ ta, thì lão phải thả chúng ta ra, để ta đi tìm Côi
sơn song ưng với ông bà Trần Tự Hấp. Còn ngược lại, lão tìm ra, thì ta phải theo
lão về Thăng long.
Nhất Liễu tỏ vẻ tin tưởng:
— Được! Tiểu nhân nhận lời.
Lão cung tay nói với Thủ Huy:
— Xin thiếu hiệp xuất chiêu cho.
Thủ Huy nghĩ thầm:
— Lão đã không có ác ý, thì dù lão có ra những chiêu ác độc, ta cũng không
cần đỡ. Ta cứ đánh lung tung, không ra chiêu thức gì cả, thì có trời mà tìm.
Nghĩ vậy nó cung tay, rồi đẩy thẳng về trước, giống như hành lễ. Nhất Liễu
vòng tay gạt, rồi nói:
— Đây là chiêu Linh thứu thỉnh kinh của phái Thiếu lâm, ai cũng biết cả; thiếu
hiệp chẳng nên đa lễ.
Xương Long đếm:
— Chiêu thứ nhất.
Thủ Huy lại vòng tay phải lên cao, rồi tay trái chặt ngang, đẩy về trước. Nhất
Liễu bật cười:
— Đây là chiêu Ngưu tẩu như phi của phái Tản viên biến ra.
Xương Long đếm:
— Hai chiêu.
Cứ như thế, Thủ Huy đánh bẩy chiêu của bẩy môn phái khác nhau. Nhất Liễu
kinh hãi nghĩ thầm:
— Người này bác học quá, ta mà nhân nhượng thì bại mất.
Nghĩ vậy, y vận đến bẩy thành công lực rồi đánh ra một chưởng như vũ bão.
Thủ Huy kinh hãi, nó nghĩ rất nhanh:
— Lão này khôn bỏ mẹ. Lão ra chiêu trầm trọng để ta phải dùng hết công lực,
như vậy lão sẽ biết môn hộ của ta, chứ có đâu lão muốn giết ta? Đã vậy ta đánh
mấy chiêu không ra ngô, ra khoai gì, cho lão hết biết đường mà dò.
Nghĩ vậy nó nhắm mắt lại, hai tay đánh bừa về trước như chó bơi. Nhất Liễu
thấy chưởng phong mình ụp xuống mà Thủ Huy lại ra chiêu quái dị, sợ nó bị tổn
thương lão vội thu chiêu về, rồi nhảy lùi lại. Thủ Huy được thể, nó lại vờ ngã
lăn ra, hai chân đá lung tung. Thế là đã đủ mười chiêu.
Xương Long đứng ngoài la lớn:
— Ngừng tay. Đủ mười chiêu rồi.
Thủ Huy vọt người dậy như con cá kình, nó cười ha hả:
— Tiền bối thua rồi. Đủ mười chiêu, mà tiền bối không tìm ra môn hộ của tiểu
bối. Vậy tiền bối phải cho quay thuyền lại đi chứ?
Mặt Nhất Liễu buồn rười rượi:
— Thiếu hiệp quá thông minh, lại quá bác học, nên lão nô này bị bại. Nhưng
thiếu hiệp ơi! Nếu như trong ba ngày mà lão không mời được công tử gia đây về
Thăng long, thì chủ nhân lão nô sẽ giết cả nhà lão nô. Vậy mong công tử cứu
mệnh cho.
Thủ Huy bàn với Xương Long:
— Đại ca! Vụ này đại ca định sao? Đệ không có chủ trương gì cả.
Xương Long cương quyết:
— Bây giờ lão phải ra lệnh quay thuyền lại, rồi đệ dẫn ta đi tìm Côi sơn song
ưng với ông bà Trần Tự Hấp. Sau đó ta với đệ sẽ đến trang của chủ nhân lão
làm tân khách. Có điều mọi việc phải hoàn tất trong ba ngày, bằng không thì cả
nhà lão Nhất Liễu sẽ bị giết.
Xương Long tuy không biết võ, nhưng khi ra lệnh thì cử chỉ đường bệ, lời nói rất
uy nghiêm. Nó bảo Thủ Huy:
— Hiền đệ với ta lên trên sàn thuyền ngắm cảnh đi.
Nói rồi nó nắm tay Thủ Huy bỏ khoang thuyền, bước lên cầu thang. Gió sông
Hồng riu riu thổi, hai trẻ đứng trên sàn thuyền nhìn về phía hạ lưu. Lão Nhất
Liễu cũng đã lên theo. Lão ra lệnh cho gã cầm lái :
— Thằng Cu, mi quay thuyền trở lại bến Vị hoàng cho ta.
Gã lái thuyền tên Cu, hơi bỡ ngỡ một chút, mặt y hiện ra vẻ bất đắc dĩ. Y lắc
đầu liền hai ba cái như phản đối rồi bẻ tay lái, tay giật giây kéo buồm. Con
thuyền từ từ chậm dần, rồi quay mũi về bên trái.
Giữa lúc đó, một con thuyền đinh cực lớn từ phía trước đang vùn vụt lao tới. Gã
lái thuyền đinh thấy con thuyền Nhất Liễu đang chuyển mình, chặn phía trước
thì cầm loa hét lớn:
— Thuyền nào kia, mau quẹo gấp, bằng không thì đụng nhau bây giờ. Trời ơi!
Lái gì mà ẩu quá vậy?
Quát rồi, y bẻ mạnh tay lái cho mũi thuyền đinh ép sát vào bờ phải.
Lão Nhất Liễu cũng thấy cái nguy của hai con thuyền có thể đụng nhau, lão
giúp gã lái kéo mạnh tay lái. Con thuyền hơi nghiêng đi, rồi quay mũi thực gấp.
Hai con thuyền cùng nghiêng, rồi cùng đi song song, suýt đụng nhau, chỉ cách
nhau có hơn tấc, làm người cả hai bên thuyền kêu thét lên. Gã thuyền trưởng
chiếc thuyền đinh văng tục:
— Con bà nó, tí nữa thì hai thuyền vỡ đôi.
Giọng nói của gã có lẽ không phải người vùng Thiên trường, nghe ấm ớ kỳ lạ.
Dường như chưa hết tức, gã chỉ mặt thằng Cu:
— Cũng may không đụng nhau, bằng không thì ông bóp chết mi.
— Bóp cái mả cha mi.
Thằng Cu cũng gân cổ lên chửi lại: Mày nhát gan như thỏ thì mới sợ như vậy,
chứ ông nội mi lái, thì ông nội mi phải biết tính toán chứ! Đụng thế chó nào
được.
Gã thuyền trưởng thuyền đinh vung tay lên, hai mũi phi tiễn xé gió hướng vào
cổ, ngực thằng Cu. Dường như thằng Cu không biết võ, nó vẫn ngồi im. Thủ
Huy xẹt mình tới, vung tay bắt hai mũi phi tiễn, rồi nghiêng mình xá gã thuyền
trưởng:
— Tiên sinh đã cao niên, mà sao hỏa tính còn cao quá vậy? Anh lái thuyền của
chúng tôi nếu có lỗi, thì lỗi ấy đã qua rồi! Tội đâu lấy gì làm nặng cho lắm, mà
tiên sinh phải trừng phạt bằng hai mũi phi tiễn này. Tiểu bối xin hoàn trả tiên
sinh đây.
Nói rồi nó vung tay lên. Hai mũi phi tiễn hướng người gã thuyền trưởng xé gió
bay tới. Gã nghe tiếng gió rít thì biết kình lực của Thủ Huy rất mạnh. Gã vội
xoạc cẳng vung tay bắt. Nhưng thình lình phi tiễn đổi chiều, trúng vào hai sợi
giây buồm, hai sợi giây đứt đến phựt cùng một tiếng. Lập tức con thuyền đinh
quay ngang. Trong khi đó con thuyền Nhất Liễu rẽ sóng trôi nhanh vun vút.
Thằng Cu còn cố ngoái cổ lại chửi:
— Con bà mi, hôm nay cho mi biết tay các ông.
Gã thuyền trưởng thuyền đinh quát lên một tiếng, lập tức có ba người nữa từ
trong khoang bước ra, dương cung bắn sang thuyền Nhất Liễu. Ba mũi tên trúng
vào hai lá của cánh buồm. Hai cánh buồm bốc cháy. Thì ra ba mũi tên có mang
theo hai miếng dẻ tẩm dầu. Thoáng một cái, cánh buồm đã cháy loang ra đỏ
rực. Con thuyền Nhất Liễu từ từ dừng lại. Con thuyền đinh đã đuổi kịp con
thuyền Nhất Liễu. Gã thuyền trưởng cười ha hả:
— Chúng bay có chạy đằng trời. Phen này ông sẽ lột da đầu bọn bay.
DaoKy
09-08-2004, 07:51 PM
HỒI THỨ BẨY.
Viễn Lự Thâm Cơ.
Khi hai con thuyền kè mạn vào nhau, thì từ bên con thuyền đinh, ba tiễn thủ ban
nãy, cùng gã thuyền trưởng, tay cầm trường kiếm tung mình qua con thuyền
Nhất Liễu. Bốn người này đều mặc quần đen, áo đạo sĩ giống nhau, nhưng
mang bốn mầu khác nhau : Trắng, đen, xanh, hồng. Gã thuyền trưởng mặc áo
trắng.
Lão Nhất Liễu rút trung bọc ra một chiếc tù và rồi thổi lên tu tu. Lập tức trong
các khoang thuyền của lão xuất hiện hai đội võ sĩ đồng phục, một tay cầm mộc
che thân, một tay cầm đao, mau chóng dàn ra trên sàn thuyền.
Đối với Thủ Huy, Xương Long, lão Nhất Liễu tỏ ra lễ phép, lịch sự bao nhiêu thì
đối với đám người trên thuyền đinh, lão tỏ ra hách dịch bấy nhiêu. Lão quát:
— Các người là ai? Tại sao con thuyền lớn như thế kia mà lại không có bảng
tên?
Gã đạo sĩ mặc áo trắng cười nhạt:
— Hừ! Thuyền ta có bảng tên hay không, cũng không đến cái bản mặt như mi
hỏi đến.
Một người đứng trên đài chỉ huy, thân thể hùng vĩ. Tuổi y tuy lớn, nhưng mặt
đẹp, cằm vuông, tư thái phong lưu. Thực là một mỹ nam tử, trông gã như cây
ngọc trước gió.
Gã chỉ vào mặt viên lái thuyền với Thủ Huy:
— Này lão già Nhất Liễu kia, ai thì lão có thể ra oai được, chứ đối với ta thì mi
đừng hòng. Ta truyền lệnh cho mi phải đem nộp hai tên này để ta trừng phạt,
bằng không thì ta sẽ làm thịt hết bọn mi.
Thủ Huy bàn với Nhất Liễu:
— Tiền bối, dường như bọn này chủ tâm gây với ta từ trước thì phải, chứ không
hoàn toàn do việc lái thuyền đâu. Vì lão thuyền trưởng biết tên tiền bối. Mình
phải có cách nào để khỏi đổ máu thì hay hơn.
Từ trong khoang thuyền đinh, một trung niên nam tử, trong y phục đạo sĩ khoan
thai bước ra. Đạo sĩ thản nhiên nhìn hai bên tranh cãi, giống như người ngoài
cuộc vậy.
Nhất Liễu nói với Thủ Huy:
— Đúng như thiếu hiệp bàn. Lão sẽ có cách đối phó.
Lão bước ra đứng đối diện với đám người thuyền đinh:
— Tại hạ là Thập bát Nhất Liễu xin được biết cao danh quý tính của chư vị?
— Ta là ta!
Gã đạo sĩ áo trắng chỉ mặt Nhất Liễu : Cái bản mặt như mi, không đủ tư cách
hỏi tên ta. Nếu mi muốn dễ dàng xưng hô, thì cứ gọi ta làợ Ngọc hoàng Đại đế
cũng được.
Nói vừa dứt thì y xẹt tới, vung tay chụp thằng Cu, rồi tung mình trở lại. Thân
pháp, thủ pháp của y nhanh không thể tưởng tượng được. Nhất Liễu quát lên:
— Để người lại!
Rồi ra chiêu Ưng trảo chụp đối thủ. Đạo sĩ áo trắng trầm người xuống tránh,
vung tay trái đẩy về sau một chưởng. Nhất Liễu vội biến trảo thanh chưởng đỡ.
Bùng một tiếng, người Nhất Liễu lảo đảo bật lui lại sau ba bước. Lão ọe một
tiếng, rồi nhổ ra một búng máu. Đạo sĩ áo trắng cười nhạt:
— Ta mới vận có ba thành công lực.
Nhất Liễu biết đối thủ nói thực, lão vẫy tay một cái, hai đội võ sĩ đồng phục
cùng múa đao tấn công gã thuyền trưởng thuyền đinh. Lập tức gã áo trắng cùng
ba võ sĩ áo đen, xanh, hồng vung kiếm nhảy ra cản lại. Tuy chỉ có bốn người,
một người phải đấu với năm, nhưng đội võ sĩ áo đen vẫn có vẻ thắng thế.
Thoáng một cái, hai mươi võ sĩ của Nhất Liễu bị đánh bay xuống sông, bơi lóp
ngóp, nhưng không có người nào bị giết cả.
Thủ Huy nhận ra bọn võ sĩ thuyền đinh xử dụng võ công Hoa sơn bên Trung
nguyên.
Đạo sĩ áo trắng tung mình đến bên Xương Long, rồi phát chiêu Long trảo chụp
vương. Nhất Liễu, Thủ Huy quát lên:
— Ngừng tay!
Cả hai người cùng phát chưởng tấn công y, để y phải thu tay về tự cứu mình.
Nhưng gã vận công chịu chưởng của Thủ Huy, còn tay trái gạt chưởng của Nhất
Liễu. Bình, bình hai tiếng. Nhất Liễu bật tung lại sau, lưng lão đụng vào cánh
cửa buồng lái đến rầm một tiếng. Còn Thủ Huy thì cảm thấy trời long đất lở.
Đạo sĩ áo trắng để tay lên đầu Xương Long rồi cười nhạt:
— Hà! Hà, Hiển Trung vương. Không ngờ hôm nay người lại lọt vào tay ta.
Phàm thức thời mới là tuấn kiệt. Vương gia mau ra lệnh cho gã đô đốc Nhất
Liễu với đám quân tôm tép của y ngoan ngoãn đầu hàng. Bằng không ta nhả
kình lực thì đầu vương gia sẽ vỡ liền.
Sợ Xương Long bướng bỉnh, thì uổng mạng vô ích, Thủ Huy lên tiếng:
— Đại ca! Đừng chết đuối trong lỗ chân trâu. Chúng ta chưa biết họ là ai, thì
hãy tạm tùng quyền. Khổng tử còn phải chiụ đói ở nước Trần mà.
Qủa Long Xưởng định bướng thực, nhưng nghe lời Thủ Huy, vương vội nói với
Nhất Liễu:
— Nhất Liễu tiên sinh! Thì ra tiên sinh là đô đốc Lý Thần, chỉ huy hạm đội Âu
Cơ đấy. Tiên sinh nói dối ta từ sớm tới giờ. Kể ra gan đô đốc cũng lớn thực.
— Điện hạ minh giám, thần đã xưng tên với điện hạ rồi mà.
Long Xưởng tỉnh ngộ, nghĩ thầm:
— Ừ nhỉ! Hắn chẳng xưng là Thập bát tử nô đó sao? Thập bát tử là chữ Lý. Nô
là thần tử. Thì ra lão đã xưng là thần tử họ Lý nhà mình.
Long Xưởng tuyên chỉ:
— Đô đốc hãy lệnh cho tùy tòng không được vọng động.
Thủ Huy kinh ngạc hỏi Xương Long:
— Đại ca! Cái gì là Hiển Trung vương? Đại ca là thân vương đó sao?
Gã mặt đẹp cười nhạt:
— Này chú bé nhà quê kia ơi! Chú đã kết huynh đệ với Thái tử Lý Long
Xưởng, tước phong Hiển Trung vương, con trai đầu lòng của vua Giao chỉ mà
chú không biết. Hôm nay y lọt vào tay ta, nhưng ta không giết y đâu. Có điều ta
phải giữ y làm món hàng. Nếu chú biết điều thì ngoan ngoãn đi theo hầu hạ y, ta
sẽ dành cho chú chút ít lợi lộc. Còn như chú cứ dở mấy chiêu võ mèo cào của
chú ra, thì ta sẽ giết y, chứ không giết chú đâu.
Bỗng y ngây người ra, chau mày tỏ vẻ đắn đo suy nghĩ, rồi nói một mình:
— Chiêu Vân hoành Tần lĩnh sao lại trầm trọng như vậy nhỉ? Rõ ràng chiêu số
thì là chiêu số Hoa sơn, nhưng sao nội công lại không hoàn toàn giống nội công
Hoa sơn?
Y quay lại hỏi Thủ Huy:
— Này chú bé, phải chăng sư phụ chú là người của phái Hoa sơn bên Trung
nguyên? Cao danh quý tính của chú là gì ? Sư thừa là ai ?
Thủ Huy nghĩ rất nhanh:
— Từ gã thuyền trưởng cho đến bọn võ sĩ đều dùng võ công Hoa sơn bên Trung
quốc. Tiếng nói của y lại lơ lớ, thì có lẽ chúng là khách thương người Hoa đây.
Y tưởng ta là người phái Hoa sơn, thì ta cứ nhận bừa, để y lầm lẫn chơi cho bõ
ghét.
Nghĩ vậy nó trả lời:
— Hoa sơn thì đã sao. Tôi họ Trần tên Thủ Huy. Tôi không có sư phụ. Tôi học
võ với ông nội tôi.
Đám thủ hạ của Nhất Liễu đã được vớt lên thuyền.
Từ đầu đến cuối, đạo sĩ không nói, không rằng, bây giờ y mới lên tiếng:
— Phải chăng chú em là đồ tử đồ tôn của Hoa sơn tứ đại thần kiếm ?
Thủ Huy biết Hoa sơn tứ đại thần kiếm là bốn cao thủ bậc nhất của Trung
nguyên gần trăm năm trước. Vào thời vua Lý Nhân tông bên Đại Việt, bên
Trung nguyên là đời vua Tống Thần tông. Bấy giờ vua Thần tông nhà Tống
dùng Tân pháp của Vương An Thạch, làm cho Trung nguyên trở thành hùng
mạnh, quốc sản dư thừa. Nhà vua có ý đánh chiếm ba nước hùng mạnh xung
quanh. Bắc là Liêu, Tây là Hạ, Nam là Đại Việt. Vì Liêu ép Tống cắt đất ,
cống vàng lụa. Hạ thì bất không chịu xưng thần, đem quân phạm cạnh. Đại Việt
thì nhiều lần xuất quân vượt biên ép Tống. Đúng ra nhà vua đợi cho Tân pháp
thi hành trên mười lăm năm, rồi mới ra binh. Nhưng trong chín năm thi hành, Tân
pháp bị các Nho thần, danh sĩ chống đối quá. Vương An Thạch bàn với nhà vua
đem quân đánh chiếm Đại Việt, để dằn mặt cái mầm chống đối nội bộ. Cuộc
chuẩn bị cực kỳ tinh vi, trong đó có việc nhà vua khuất thân thỉnh tất cả các đại
tôn sư võ lâm Trung quốc theo giúp ; rồi cử Quách Quỳ làm chánh tướng, Triệu
Tiết làm phó tướng, đem 40 vạn chính binh, 60 vạn bảo binh, dân phu đánh Đại
Việt. Các danh môn đều cử những đại cao thủ theo trong quân. Phái Thiếu lâm
gửi Thập đại thần tăng, phái Trường bạch cử Trường bạch song hùng, phái Liêu
Đông cử Liêu Đông tam ma, phái Hoa sơn cử Tứ đại thần kiếm. Nhưng các cao
thủ đều bị võ lâm Đại Việt đánh bại. Liêu Đông tam ma bị giết. Thập đại thần
tăng bị hai Bồ tát Minh Không, Đạo Hạnh, tiên nương Bảo Hòa bắt sống ở Như
nguyệt. Trường bạch song hùng bị phò mã Thân Thiệu Thái với công chúa Bình
Dương bắt ở Yên dũng. Hoa sơn tứ đại thần kiếm bị Mộc tồn, Viên Chiếu hòa
thượng cầm tù ở Kháo túc. Sau chiến tranh, duy Thập đại thần tăng được tha về.
Còn Hoa sơn tứ đại thần kiếm với Trường bạch song hùng bị Kinh Nam vương
cầm tù cả đời ở Thiên trường (Xin đọc Nam quốc sơn hà của Yên tử cư sĩ do Đại
Nam Hoa kỳ xuất bản).
Tuy biết vậy nhưng Thủ Huy vẫn làm bộ như không biết :
— Đạo sư lẩm cẩm rồi. Tại sao là người phái Hoa sơn lại cứ phải là đồ tử đồ tôn
của Hoa sơn tứ đại thần kiếm ?
Đạo sĩ càng tỏ ra khách khí :
— Nếu đúng chú là đệ tử phái Hoa sơn, thì chú có biết chiêu này không?
Nói rồi y rút kiếm đánh liền hai chiêu Độc tích Hoa sơn, Thương tùng nghênh
khách. Thủ Huy mỉm cười, nó nghĩ thầm:
— Đây là bài kiếm trấn môn của phái Hoa sơn. Đối với ai thì nó huyền ảo, chứ
đối với ta thì không có gì là lạ cả. Ừ, sao chiêu thức y đánh ra lại chỉ biến hóa
có hai bậc, trong khi thực sự biến đến bốn bậc? Đã vậy, ta đánh hai chiêu tiếp
hai chiêu Độc tích Hoa sơn với Thương tùng nghênh khách với đầy đủ biến hóa
cho lão điên đầu chơi.
Nó cung tay hướng tên thủ hạ mặc áo trắng của đạo sĩ :
— Xin đại huynh cho mượn kiếm ?
Gã áo trắng đưa mắt nhìn đạo sĩ như hỏi ý kiến. Đạo sĩ gật đầu. Gã trao kiếm
cho Thủ Huy.
Thủ Huy rút kiếm đánh hai chiêu Sơn đầu tùy phong và chiêu Lạc nhạn thu
phân, hai chiêu biến thành bốn, tức biến hóa bậc hai, rồi miệng đọc quyết :
Khí trầm đơn điền,
Tâm hư bất động,
Tự Tốn chuyển Càn.
Tự Càn hựu Khảm.
(Khí về đơn điền,
Lòng để trống không,
Từ Tốn sang Càn,
Từ Càn về Khảm)
Trong khi kiếm biến từ bốn thành mười sáu, mười sáu thành hai trăm năm mươi
sáu, tức biến hóa bậc ba, bậc bốn; đoạn nó thu kiếm đứng nhìn đạo sĩ, như muốn
hỏi xem đạo sĩ có biết hai chiêu đó không?
Mặt vị đạo sĩ nhợt nhạt, trông thực nghiêm trọng, tay y vung kiếm đánh lại hai
chiêu Sơn đầu tùy phong và Lạc nhạn thu phân, nhưng chỉ biến thành mười sáu
chứ không biến thêm được nữa.
Y hỏi lại Thủ Huy:
— Tiểu công tử! Tiểu công tử có thể diễn lại hai chiêu vừa rồi cho bần đạo xem
một lần nữa không?
Thấy đạo sĩ đổi cách xưng hô, từ gọi nó là chú em đổi sang tiểu công tử ; Thủ
Huy đưa kiếm lên, từ từ diễn lại hai chiêu trên. Miệng giảng giải :
— Trời ơi ! Đạo trưởng đứng im mà vận khí thì sao kiếm chiêu có lực mà biến
hóa được ? Trong khi phát chiêu, thì chân phải đổi phương vị chứ !
Đạo sĩ, gã mặt đẹp, cùng đám tùy tùng mở to mắt ra quan sát, tay múa kiếm
theo Thủ Huy, chân đổi phương vị. Sau khi diễn xong biến hóa của hai chiêu
Sơn đầu tùy phong, Lạc nhạn thu phân, nó thu kiếm lại mỉm cười liếc nhìn : Trên
sàn thuyền ngoài đạo sĩ thủ lĩnh, gã mặt đẹp, còn có ba trung niên đaọ sĩ, ba
trung niên đạo cô.
Đạo sĩ thủ lĩnh hỏi:
— Chỉ mấy chiêu đó thôi, chưa thể coi như thiếu hiệp là người phái Hoa sơn. Xin
thiếu hiệp biểu diễn thêm ít chiêu nữa.
Thấy đạo sĩ đổi cách xưng hô, y đang gọi nó là chú em, chuyển sang tiểu công
tử, rồi bây giờ là thiếu hiệp, giọng nói càng tỏ vẻ khách khí, Thủ Huy cũng dùng
lời lẽ ôn tồn:
— Cái đó thì không khó !
Trong khi nó nghĩ thầm :
— Bọn này là người phái Hoa sơn , nhưng dường như chúng không học được bài
kiếm trấn môn. Vậy ta biểu diễn hết bài này cho chúng lé mắt chơi. Ta không
đọc kiếm quyết thì làm sao chúng học được ?
Nói rồi tay nó bắt kiếm quyết, chân bước theo phương vị Tiên thiên bát quái,
kiếm quay tròn, ánh sáng lấp lánh như sao sa. Từ đạo sĩ, gã thuyền trưởng cho
tới bọn võ sĩ đều ngây người ra mà nhìn.
Sau khi đánh hết 72 lộ Hoa sơn kiếm, Thủ Huy ngừng lại, bái tổ, rồi tra kiếm
vào vỏ đến cách một tiếng.
Nó giảng :
— Bài kiếm trấn môn của bản phái có bẩy mươi hai lộ. Căn bản biến hóa là
Thái cực sinh Lưỡng nghi tức Aạm, Dương, đó là biến hóa bậc một. Vì vậy 72 lộ
thành 144 chiêu.
Đạo sĩ nhìn gã mặt đẹp gật đầu liên tiếp. Thủ Huy lại nói tiếp :
— Khi tay ra các lộ biến hóa thành Lưỡng nghi, thì chân phải chuyển từ Càn là
thuần dương sang Khôn là thuần âm. Bằng không thì chân khí tuyệt, chân khí
tuyệt thì kiếm chiêu trở thành chậm chạp. Chậm chạp thì không còn là Hoa sơn
thần kiếm nữa.
Đạo sĩ hỏi :
— Rồi sao ?
— Thì Lưỡng nghi sinh Tứ tượng. Dương biến thành Thái dương, Thiếu dương.
Aạm biến thành Thái âm, Thiếu âm. Như vậy 144 chiêu thành 288 chiêu. Cuối
cùng Tứ tượng sinh Bát quái thành 576 chiêu. Bát quái biến hóa với tám quẻ
Càn, Khảm, Cấn, Trấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, vô cùng, thành 4.608 chiêu. Trong
phép biến hóa thì có khi tam hư thất thực, thành 13.824, có khi thất hư tam
thực...số chiêu thành 32.256. Cộng chung có 46.080. Nhưng cái khó khăn là làm
thế nào đang hư lại biến ra thực ? Làm thế nào để nối các chiêu lại với nhau ?
Đạo sĩ run run hỏi :
— Thiếu hiệp ! Thì ra thiếu hiệp là truyền nhân của phái Hoa sơn. Xin thiếu
hiệp đọc cho bần đạo nghe bài quyết biến hóa với bài kiếm trấn môn này.
Nguyện không bao giờ quên.
Thủ Huy thấy trêu bọn Hoa sơn như vậy cũng đủ rồi, nó đáp :
— Dĩ nhiên là được. Rõ ràng đạo sư với chư vị đây cùng là người đồng môn với
tiểu bối. Đã đồng môn sao lại ỷ lớn hiếp nhỏ? Sao lại làm khó dễ nhau?
— Tại sao thiếu hiệp biết ta là người phái Hoa sơn ?
— Có gì mà không hiểu.
Thủ Huy chỉ vào đạo sĩ : Phái Hoa sơn đặt tổng đường trên Hoa nhạc. Hoa nhạc
là một trong Ngũ nhạc. Cho nên đời nào cũng có năm người vai vế tối cao mang
tên Ngũ nhạc. Người chưởng môn là Trung nhạc Tung sơn, luôn luôn mặc áo
vàng. Đạo sư chính là chưởng môn phái này.
Nó chỉ vào bốn đạo sĩ áo trắng, đen, xanh, hồng :
— Đạo sư với bốn vị này hiện diện tại đây, thì ra phái Hoa sơn kéo hết Ngũ
nhạc, tinh hoa sang Đại Việt, ắt có mưu đồ lớn chứ không bình thường đâu. Vị
mặc áo trắng chắc là Tây nhạc Hoa sơn. Vị mặc áo đen là Bắc nhạc Hằng sơn.
Vị mặc áo xanh là Đông nhạc Thái sơn. Còn vị mặc áo hồng kia chắc là Nam
nhạc Hành sơn.
Không thấy đạo sĩ áo vàng nói gì , biết rằng mình đoán đúng. Nó chỉ vào ba
đạo sĩ trung niên:
— Trong dãy Hoa sơn có ba ngọn cao nhất là ba ngọn trống, mang tên Liên hoa,
Tiên nhân, Lạc nhạn, gọi chung là Hoa nhạc tam phong. Cho nên ba người có
vai vế cao mang tên này. Chắc là ba vị.
Nó chỉ vào ba đạo cô :
— Ngoài ra, dãy Hoa sơn còn có ba ngọn nhỏ hơn, là Vân đài, Công chúa, Mao
nữ, gọi chung là Hoa nhạc tam nương, hay ba ngọn mái. Ba vị đây chắc mang
tên này. Vị mặc áo tím tên là Vân Đài, vị mặc áo trắng tên là Công Chúa, vị
mặc áo xanh tên là Mao Nữ.
Nghe Thủ Huy nói, Long Xưởng chợt để ý đến đạo cô Vân Đài. Bà này đứng ở
phía sau mấy đạo sĩ. Mặt bà ta hơi xạm đen, da dăn deo, nhưng da cổ, bàn tay
thì trắng ngần, mịn như mỡ. Nhất là cái lưng ong tuyệt đẹp. Nhìn chung dáng
dấp của bà, rất quen thuộc, rất thân ái, mà trong nhất thời Long Xưởng không
nhớ đã gặp bà ta ở đâu ?
Đạo sĩ áo vàng đưa mắt nhìn gã mặt đẹp, rồi đánh trống lảng :
— Thôi thì cứ coi bọn bần đạo là người phái Hoa sơn, tức cùng môn hộ với thiếu
hiệp đi.
— Bây giờ đạo sư đã nhận là người phái Hoa sơn rồi phải không ? Đã cùng môn
hộ sao các vị lại ỷ lớn hiếp nhỏ. Như vậy coi có được không ?
— Thì ngôn ngữ Việt chả có câu đánh nhau vỡ đầu rồi mới nhận họ đó sao?
— Thôi cũng được. Nhưng xin đạo sư cho tiểu bối biết cao danh quý tính đã !
— Bần đạo họ Ngô, tên Giới, đạo hiệu là Trung nhạc Tung sơn.
Nhất Liễu cũng như đám tùy tùng của lão cùng bật lên tiếng ủa đầy vẻ thán
phục. Thủ Huy cung tay vái:
— Thì ra đạo sư nguyên là một trong Trường giang ngũ hùng đấy, hèn chi tư thái
khác phàm.
Ngô Giới kinh ngạc vô cùng, vì muôn ngàn lần y không thể tưởng tượng được
rằng, một đứa trẻ ở xứ Nam man này mà lại có thể biết tiếng tăm của y. Y hỏi
lại:
— Tiểu công tử biết gì về Trường giang ngũ hùng?
Thủ Huy cũng đổi cách xưng hô:
— Dĩ nhiên là tiểu bối biết, lại biết rất nhiều, rất kỹ nữa. Này Ngô đạo sư, nếu
như tiểu bối nói ra được hết hành trạng của Trường giang ngũ hùng, thì đạo sư
không được làm khó dễ đại ca của tiểu bối nữa. Đạo sư nghĩ sao?
Đoán chắc Thủ Huy không thể biết thêm gì về Trường giang ngũ hùng, Ngô
Giới gật đầu:
— Được, bần đạo xin hứa.
Thủ Huy mỉm cười:
— Trường giang ngũ hùng gồm năm người là Ngô Giới, Ngô Lân, Hàn Thế
Trung, Nhạc Phi và Trương Tuấn.
Ngô Giới kinh ngạc đến ngây người ra. Y hỏi :
— Thiếu hiệp biết gì về ta nào? Thiếu hiệp hãy nói nghe thử !
— Đạo sư tự là Tấn Khanh, quê ở Lũng can. Thủa nhỏ cực thông minh, bất cứ
sách nào, chỉ liếc qua là đã hiểu được đại lược. Đạo sư cùng em là Ngô Lân
được Thiên Hư đạo sư chưởng môn phái Hoa sơn thu làm đệ tử. Năm mười chín
tuổi, cùng em trai, đã nổi tiếng văn chương quán thế, võ công vô địch, lầu thông
Lục thao tam lược, Tôn Ngô binh pháp. Lúc đầu, hai anh em bỏ tiền nhà cùng
em tổ chức đội hương binh. Khi hai vua Huy tông, Khâm tông của Tống triều bị
Kim bắt đem về Bắc, thì con Huy tông là Triệu Cấu vượt Trường giang, chạy
xuống Nam lập lại triều Tống ; thường gọi là triều Nam Tống. Nhưng sĩ dân, võ
lâm thiên hạ khổ vì các vua triều Tống hôn ám, quan lại tham nhũng, nên không
ai theo Cấu. Do vậy, y bị tướng Kim là Ngột Truật đuổi cho chạy bán mạng, vô
sở bất chí.
(Ghi chú của thuật giả:
Đoạn này tôi thuật theo Tống sử, quyển 366, trang 11 399, Lưu Kỳ, Ngô Giới,
Ngô Lân liệt truyện.)
Thủ Huy biết rằng Ngô là danh tướng của triều Nam Tống, nên nó gọi tên tục
của Thiệu Hưng hoàng đế Tống ra, để cho y tức giận. Thế mà y với thủ hạ
không hề phản ứng.
Nó tiếp:
— Sau dân Tống nghe tin, Kim đem hai vua làm trò giải trí như: Đeo lục lạc trên
người, bắt ngồi trên vỉ sắt, rồi đốt lửa dưới vỉ; trong khi hai vua bị nóng quá nhảy
lên choi choi, thì chúa tôi Kim ngồi uống ượu ăn thịt, cười khoái trá.
Thủ Huy nói đến đây, thì Ngô Giới cùng với đám tùy tùng nghiến răng ken két,
tỏ ra phẫn hận cùng cực.
Thủ Huy tiếp:
— Tin này đưa đưa về Trung nguyên, khiến anh hùng, sĩ dân Tống cực kỳ phẫn
uất. Nhân đó đạo sư với em là Ngô Lân phất cờ cần vương. Niên hiệu Thiên
thuận thứ tư (Tân Hợi, 1131) hai vị đánh bại Kim Ngột Truật một trận, đuổi y
chạy dài đến hơn trăm dặm.
Ngô Giới cười:
— Thiếu hiệp ơi! Thiếu hiệp nhớ sai rồi. Năm đó là niên hiệu Thiệu hưng
nguyên niên, chứ đâu phải Thiên thuận thứ tư?
Long Xưởng cãi dùm Thủ Huy:
— Tiểu đệ của cô gia nói đúng. Năm đó là niên hiệu Thiên thuận thứ tư, đời vua
Thần tông bản triều, bên Trung nguyên là niên hiệu Thiệu hưng nguyên niên.
Ngô Giới là thứ anh hùng hào sảng, y gật đầu:
— Được! Thiếu hiệp nói đúng. Thiếu hiệp tiếp đi.
— Niên hiệu Thiên chương Bảo tượng thứ nhì, đời vua Thần tông bản triều
(Giáp Dần, 1134), hai vị hợp quân với Hàn Thế Trung, Trương Tuấn, Nhạc Phi,
phá quân Kim năm trận, oai rúng Trung nguyên. Nhờ vậy anh hùng sĩ dân thiên
hạ mới quy phục triều Nam Tống. Từ đấy năm vị được võ lâm Trung nguyên đặt
cho mỹ danh là Trường giang ngũ hùng hay ngũ kiệt. Thưa đạo sư có đúng thế
không?
Ngô Giới gật đầu:
— Tất cả những gì thiếu hiệp nói đều đúng hết. Nhưng bần đạo có một thắc
mắc là: Những kiến thức của thiếu hiệp về Trung nguyên, do ai truyền cho?
Thủ Huy cười:
— Trời ơi! Đạo sư lại không biết gì về anh em tiểu bối rồi. Từ nãy đến giờ tiểu
bối đã bầy tỏ kiến thức về đạo sư. Như vậy có nghĩa là những điều đó, hầu hết
người Việt đều biết.
Ngô Giới càng tỏ ra khách khí, không dám coi thường hai đứa trẻ này nữa. Y
cung tay:
— Thiếu hiệp, nếu thiếu hiệp nói ra được chức tước của bần đạo, thì bần đạo
mới phục.
Thủ Huy nghĩ thầm:
— Bọn này quyết không phải là khách thương, cũng không thể là trộm cướp.
Chúng được cầm đầu bởi một đại hào kiệt Trung quốc, thì có lẽ chúng là sứ
đoàn của Tống đây. Y là sứ thần, nên thường có giọng trịch thượng, mục hạ vô
nhân. Ta phải dọa cho chúng sợ con cháu thánh Gióng mới được.
Nghĩ vậy, nó chắp tay vái Ngô:
— Đạo sư ơi! Điều này dễ quá. Niên hiệu Thiệu minh thứ nhì (Kỷ Mùi, 1131),
đời vua Thần tông bên Đại Việt...
Thấy bọn người bên thuyền đinh ngơ ngơ ngác ngác, nó làm bộ không thèm biết
đến niên hiệu của Tống, coi như Tống không phải là chính thống, mà Kim mới
là chính thống; nhân tiện đề cao Long Xưởng, nó hỏi:
— Đại ca! Năm ấy bên Trung nguyên là niên hiệu gì của Kim đại đế nhỉ? Đại
ca có nhớ không?
Hiểu ý Thủ Huy, Long Xưởng nghĩ rất nhanh:
— Phụ hoàng ta đang nhận sắc phong của Tống. Tương lai ta cũng phải nhận
sắc phong của chúng, mà bọn này là sứ đoàn, ta không thể làm nhục toàn thể
nước Tống.
Nghĩ vậy Long Xưởng đáp:
— Năm đó là niên hiệu Thiệu hưng thứ chín.
— Cảm ơn đại ca. Năm đó Tống với Kim nghị hòa, triều đình nghị công trong
việc trung hưng, thì hai vị họ Ngô đứng đầu. Đạo sư được phong Đặc tiến, Khai
phủ nghị đồng tam tư, lĩnh Tứ xuyên tuyên vũ sứ. Nhưng năm đó, cha con Nhạc
Phi bị bắt giam ở chùa Đại lý vì cái tội tụ họp quần hào Trung nguyên cắt máu
ăn thề; định đánh thốc lên Bắc đem hai vua Huy tông, Khâm tông về. Mà...hỡi
ơi, Ngô đạo sư cũng có dự vào vụ này.
Nó cười lớn:
— Về tài dùng binh thì đạo sư cũng như Trường giang ngũ kiệt khó ai sánh
bằng. Nhưng về kiến thức, cũng như minh mẫn thì bình thường thôi. Rất may mà
đầu đạo sư không bị chặt ; thây không bị đem phơi nắng, phơi mưa cho ruồi bâu,
cho quạ rỉa. Vợ, con gái, nàng hầu chưa bị đem làm trò giải trí cho binh lính.
Mặt Ngô Giới tái đi:
— Thì ra tiểu thiếu hiệp là người minh mẫn đấy. Ta, Ngô Giới xin rửa tai nghe
điều mà huynh đệ bảo ta u mê.
Thủ Huy chọc cho Ngô Giới nổi giận, nó thích lắm, miệng cười khúc khích:
— Có gì đâu mà đạo sư phải giận. Tôi xin vì đạo sư mà nói: Cái gã Triệu Cấu
kia, tài không hơn cha là vua Huy Tông, đức không hơn anh là vua Khâm Tông.
Chỉ vì cha, anh bị Kim bắt đi, sĩ dân thiên hạ nhân cái nhục mất nước phò tá y,
mà y được lên làm vua. Nay Trường giang ngũ kiệt định đánh thốc lên Bắc đem
hai vua cha, anh về, thì cái gã Triệu Cấu kia sẽ còn ngồi trên ngai vàng được
không? Dĩ nhiên là không. Vì vậy y phải theo lời Tần Cối mà nghị hòa. Nghị
hòa xong, yên phía ngoài rồi, y mới củng cố ngai vàng. Trước hết y bắt giam cha
con Nhạc Phi, để những kẻ nào còn muốn bàn chuyện đem hai vua về coi đó
làm cái gương. Nó quay lại nhìn Ngô Giới, thấy mặt y tái xanh, nó hỏi:
— Có đúng thế không?
Thấy Ngô Giới im lặng, nó tiếp:
— Vì vậy đạo sư vội giả chết ở Tiên nhân quan, lên ẩn ở núi Hoa sơn, đi tu lấy
đạo hiệu là Trung nhạc Tung sơn tử; dù tuổi mới có bốn mươi bẩy. Hai năm
sau Nhạc Phi bị gã Triệu Cấu tức Thiệu Hưng giết ở chùa Đại lý. Hai tướng có
công không kém Phi là con Phi tên Vân, cùng với danh tướng Trương Mẫn bị
đem chém ở chợ; tài sản bị tịch thu. Vợ, tôi tớ bị đem cho binh lính giải trí lúc xa
nhà... Mấy người đó chết thực đáng kiếp, đáng tội. Đó là cái tội ngu trung. Thấy
hoàn cảnh Nhạc Phi, đạo sư rét quá, vội tiêu dao mây nước. Gã vua Thiệu Hưng
biết đạo sư giả chết, nhưng cũng vờ than khóc, rồi ban cho ba mươi vạn đồng
tiền, truy phong tước Thái sư.
Nhất Liễu hỏi Ngô Giới:
— Này Ngô Tuyên vũ sứ, thì ra người sang Đại Việt ta với mưu đồ tư riêng, chứ
không phải là sứ thần của Thiệu Hưng hoàng đế phải không? Người đã nhập
cảnh bất hợp pháp, lại còn vô phép với Thái tử nữa. Người to gan thực.
Ngô Giới móc trong túi ra tấm thẻ bài:
— Này Lý đô đốc, người hãy đọc đi.
Nhất Liễu chỉ liếc qua, ông cũng biết đó là thẻ bài của cung Cảm Thánh. Tuy
nhiên ông vẫn cầm lên đọc: Ngô Giới, Thiên sứ. Bất cứ văn võ bách quan, thấy
Thiên sứ đều phải kính trọng. Kẻ nào làm trái với lệnh bài này, sẽ bị xử tử toàn
gia.
Ngô Giới chỉ gã mặt đẹp giới thiệu :
— Bần đạo xin giới thiệu với các vị đây là sư đệ của bần đạo. Y họ Lưu tên Kỳ.
Long Xưởng nghĩ thầm :
— Thì ra Ngô Giới là chánh sứ, tên Lưu Kỳ là phó sứ. Theo cung từ của Đỗ
Anh Hào, thì tên Lưu Kỳ này chính là tình nhân của Thái hậu đây. Y với Thái
hậu đang chuẩn bị phế phụ hoàng ta xuống, rồi tôn y lên làm vua đây.
Nghĩ vậy vương ung dung :
— À, thì ra Phiêu kỵ thượng tướng quân, Hoài Nam hầu, lĩnh Giang hoài tiết độ
sứ Lưu Kỳ, tự là Tín Thúc đấy? Cô gia nghe nói, trong trận đánh khủng khiếp
với Kim Ngôt Truật, người bị bại, rồi mửa ra máu mà chết. Thiệu Hưng đế truy
phong cho người tới Khai phủ nghị đồng tam tư, thụy là Vũ Mục, lại ban cho gia
đình 300 lượng bạc, gấm 300 tấm, để phủ tuất. Sao người vẫn sống nhăn ?
Chỉ một câu nói của Long Xưởng : Nêu ra tên tự , chức, tước, chức tước truy
phong, tên thụy, số vàng, số gấm phủ tuất của Lưu Kỳ; không sai một ly, làm
cho y phát rét.
Long Xưởng nhìn Lưu, rồi gật đầu:
— Khắp Trung nguyên đều đồn rằng người là một đệ nhất mỹ nam tử của Nam
Tống. Lòng dạ người lại trung chính, có tài cầm quân, võ công cao siêu không
biết đâu mà lường. Nhưng chỉ vì người nói năng thô lỗ cộc cằn, lại ỷ vào công
trạng mà nghịch với Hàn Thế Trung, nên hoạn lộ người đầy chông gai. Chắc vì
vậy, mà người cũng như Ngô Tuyên vũ sứ đây giả chết. Đúng không?
— Đúng thì đúng, có sao đâu.
(Ghi chú của thuật giả.
Tiểu sử của Lưu Kỳ, tôi thuật theo Tống Sử, quyển 366 từ trang11. 399 đến trang
11. 408)
Thủ Huy thấy Nhất Liễu tần ngần, nó biết rằng ông này không làm gì hơn được,
bởi cái lệnh bài kia. Nó vội cứu ông:
— Này Ngô đạo sư. Tiểu bối đã nói rõ hành trạng của đạo sư rồi. Vậy đạo sư
không được làm khó dễ đại ca của tiểu bối nữa nghe.
Ngô Giới nhìn Nhất Liễu:
— Được! Ta bần đạo xin hứa.
Thủ Huy được thể nó tiếp :
— Nghĩ tình cảnh đạo sư với em đạo sư là Ngô Lân của đạo sư, thực đáng
thương. Bởi hai vị được anh hùng Trung nguyên tặng cho mỹ danh là Hoa sơn
thần kiếm. Nhưng hai vị chỉ có hư danh, mà không có thực.
— Thiếu hiệp ! Ta lấy lễ mà xưng hô với thiếu hiệp, ha cớ thiếu hiệp lại nhục
mạ ta ?
— Tiểu bối đâu dám. Này đạo sư ! Tiểu bối xin nhắc lại : Hai vị tuy được tôn là
Hoa sơn thần kiếm. Nhưng chỉ có hư danh mà thôi. Vì từ thời vua Thần tông
triều Tống đến giờ, Hoa sơn tứ đại thần kỹ đã bị mai một. Phái Hoa sơn không
còn được coi là Thái sơn Bắc đẩu võ lâm Trung nguyên nữa.
Nghe đối đáp giữa Ngô Giới với Thủ Huy, những gì mà Thái sư Lưu Khánh
Đàm giảng về các biến cố ở Trung nguyên, những gì Khu mật viện trình lên,
cũng như bản cung khai của Đỗ Anh Hào, hiện lên trong ký ức Long Xưởng.
Vương tự nhủ thầm :
— Cái tên Ngô Giới này là một hào kiệt, nhân thế nước nước loạn ly, dân chúng
bị ngoại xâm tàn sát, mà khởi binh. Muốn khởi binh, thì phải có chính nghĩa để
quy tụ anh hùng. Cái chính nghĩa lớn nhất bấy giờ, là việc hai vua Huy tông,
Khâm tông bị bắt đem về Bắc làm nhục. Nhưng, khi thành công, thì người hưởng
là Triệu Cấu, tức Thiệu Hưng... vì lo sợ cha, anh trở về, sẽ bị mất ngôi, nên
không muốn tiến quân nữa. Cấu bàn với Tể tướng Tần Cối sao giữ được ngôi
vua. Cối bàn chuyện nghị hòa, chia đất với Kim. Dĩ nhiên, giữa lúc thế quân
Tống như chẻ tre, mà nghị hòa thì các tướng phản đối. Cấu bèn giết người cầm
quân giỏi nhất là Nhạc Phi, để dằn mặt các tướng khác. Vì vậy Ngô Giới phải
cáo bệnh, rồi giả chết để an thân... Nhưng sao y lại được Thái hậu cấp thẻ bài là
sứ của Tống ? Sao y lại thành đạo sĩ ? Không biết có phải y là người cầm đầu sứ
đoàn trước đây cùng sang với Mao Khiêm, tiềm ẩn; mục đích gây cho Đại Việt
có nội chiến, rồi Tống đem quân sang chiếm hay không ? Y tuy là chánh sứ,
nhưng lại bị phó sứ Lưu Kỳ lấn áp, vì Kỳ ỷ là tình nhân của Thái hậu ? Y với
Thái hậu, đang chuẩn bị phế phụ hoàng ta xuống, rồi lên làm vua , trong khi
Ngô Giới lại không đồng ý ? Ta phải dò cho ra mới được. Tên Ngô Giới tuy có
hành vi bất thiện với ta, nhưng đối với Trung quốc, y là một thứ anh hùng. Người
như thế ta phải thu phục lấy nhân tâm, rồi kết thân, hơn là gây hấn. Còn tên Lưu
Kỳ, ta phải tìm cách giết y đi, để không còn là mối lo nữa.
Mặt Ngô Giới tái xanh, y hừ một tiếng :
— Thiếu hiệp căn cứ vào đâu mà nói những lời huyền hoặc như vậy ?
Thủ Huy càng dọa già, nó nói với Long Xưởng :
— Đại ca ! Có đúng không ? Chuyện này đến đứa con nít như tiểu đệ mà còn
biết, thì dĩ nhiên võ lâm thiên hạ đều biết. Thế mà Ngô đạo sư lại còn cố dấu
diếm.
Thủ Huy tưởng mình nói đùa với Long Xưởng để chọc giận Ngô Giới, nó nào
ngờ những uẩn khúc này Long Xưởng cũng biết.
Long Xưởng trả lời :
— Này Ngô Tuyên vũ sứ !
Một lần nữa Ngô Giới kinh hãi, vì Long Xưởng lại gọi y bằng chức tước cuối
cùng của y tại triều Tống. Y lắng tai nghe:
— Cô gia thử nói xem có đúng không nghe.... Kể từ khi tổ Trần Đoàn của quý
phái giúp Tống Thái tổ chiếm được Trung nguyên, thì phái Hoa sơn trở thành nơi
phát tích ra Tống triều. Phái Hoa sơn thời này nổi tiếng nhờ pho nội công dương
cương áp đảo cả Dịch cân kinh của Thiếu lâm, Thái cực công của Võ đang. Lại
có pho chưởng biến hóa ảo diệu nữa, mà được thiên hạ tôn là Thiên hạ nhị đại
thần kỹ. Nhưng quý phái vẫn phải nhường phái Côn luân về kiếm pháp. Đến
thời vua Tống Nhân tông, nhờ Hoa sơn tứ lão chế ra pho kiếm pháp lấy mau
thắng chậm, lấy động chế tĩnh, khiến kiếm pháp Hoa sơn vượt xa kiếm pháp
Côn luân. Vào thời này học trò Đông sơn lão nhân là Đich Thanh trở thành võ
trạng. Thế là Hoa sơn có Thiên hạ tam đại thần kỹ.
Long Xưởng ngừng lại hỏi Ngô Giới :
— Có đúng thế không.
— ! ! !
— Khi Nùng Trí Cao khởi binh. Hoa sơn tam lão Tây, Nam, Bắc đều bị võ lâm
Đại Việt giết. Đông sơn lão nhân uất ức, vì bị công chúa Bình Dương dùng Mê
linh kiếm pháp đả bại trong đại hội Lộc hà, vì ba sư đệ Nam, Bắc, Tây lão nhân
bị chết. Lão nhân gác kiếm quy ẩn, tìm phương pháp khắc chế Long biên kiếm
pháp của Đại Việt, tuy không thành nhưng cũng chế ra pho kiếm khí, biến hóa
thần diệu, võ lâm Trung nguyên đều phải cúi đầu bái phục. Từ đấy Hoa sơn có
Thiên hạ tứ đại thần kỹ.
Thấy Long Xưởng nói vanh vách nhưng uẩn khúc của phái Hoa sơn, Thủ Huy
kinh ngạc không ít. Nó hỏi Ngô Giới :
— Đại ca của tôi nói có đúng không ?
— Đúng thì đã sao ?
Long Xưởng tự nhủ :
— Tên Ngô Giới đúng là người cầm đầu sứ đoàn Tống, đi theo tên Mao Khiêm
rồi. Còn cái tên Lưu Kỳ ắt là phó sứ. Ta phải nói huỵch toẹt âm mưu của chúng
ra, cho chúng bở vía.
Nghĩ vậy vương làm bộ nói với Thủ Huy, nhưng thực ra để dọa Ngô Giới :
— Này nhị đệ. Đến đời vua Tống Thần tông, Hoa sơn lại nổi danh với Hoa sơn
tứ đại thần kiếm. Bốn vị theo Quách Qùy, Triệu Tiết mang quân sang đánh Đại
Việt. Trong trận Như nguyệt, bốn vị bị Mộc tồn, Viên Chiếu bồ tát bắt sống.
May sao, công chúa Huệ Nhu nghĩ tình đồng Môn, nhờ Kinh Nam vương xin lĩnh
bốn vị, rồi đem về an trí ở Thiên trường, đợi hết chiến tranh, sẽ trả cho Tống
triều. Nhưng khi hết chiến tranh, bốn vị vẫn bị lưu lại cho đến chết. Đó là nói
cho có vẻ mỹ tự, chứ thực sự ra bốn vị ấy bị giam lỏng ở Thiên trường. Vì vậy,
Thiên hạ tứ đại thần kỹ bị mai một. Phái Hoa sơn từ đấy chỉ còn hư danh.
Long Xưởng nhìn lên bầu trời trong xanh, thái độ như một ông vua con, coi
thường Ngô Giới :
— Vì bốn thần kỹ bị mất, mà Tuyên vũ sứ cùng các cao thủ Hoa sơn mới nghĩ
đến làm sao phục hồi lại ngôi vị Thái sơn Bắc đẩu cho phái mình. Các vị bèn
gửi người sang Đại Việt, yết kiến đại hiệp Trần Tự Kinh, xin nghĩ tình công
chúa Huệ Nhu, mà cho sao chép bốn cuốn phổ của bốn thần kỹ. Nhưng cô gia
dám quyết rằng đại hiệp Tự Kinh sẽ từ chối.
Thấy Ngô Giới im lặng, chứng tỏ lời mình đúng. Long Xưởng cười mỉa mai :
— Giữa lúc đó thì Mao Khiêm từ Đai Việt về Tống. Các vị tìm y để hỏi xem y
có được học Hoa sơn tứ đại thần kỹ không ? Khi thảo luận với y, các vị mới bật
ngửa ra rằng bản lĩnh võ công Hoa sơn của y được thế tử Vị Hoàng dạy cho
cũng không hơn các vị. Y cũng tiết lộ rằng, trong những ngày bị giam lỏng ở Đại
Việt, Hoa sơn tứ đại thần kiếm ngày đêm thương nhớ cố hương thường hướng về
phương Bắc. Bốn vị ấy làm hai cái đài. Một cái gọi là - Thế lệ đoạn trường -
(khóc đến đứt ruột ra). Một cái là - Tiêu hồn lạc phách - (mất hồn, lạc phách).
Ngày ngày bốn vị ấy lên đó, ngồi hướng mặt về Bắc, mắt mờ lệ, tưởng nhớ cố
quốc, tưởng nhớ quê hương, ân hận vì tuyệt học của Hoa sơn không truyền lại
cho hậu thế được.
Thấy từ Ngô Giới cho tới Lưu Kỳ, tùy tùng đều cúi đầu xuống, như cùng thông
cảm mối hận thiên thu của bốn vị tổ Hoa sơn. Long Xưởng tiếp :
— Trong những ngày ấy, bốn vị cùng đem Thiên hạ tứ đại thần kỹ nghiên cứu
lại, bổ khuyết những sở hở, thêm vào những kinh nghiệm, những phát minh. Hóa
cho nên Thiên hạ tứ đại thần kỹ trở thành một bộ võ kinh mới, vô địch thiên hạ ;
chỉ thua có bộ Vạn pháp quy nguyên của Đại Việt mà thôi. Bốn vị đạo sư đặt
tên bộ võ kinh mới là Vô song, vô đối Trung nguyên võ kinh. Gọi tắt là Vô
Trung kinh.
Ngô Giới tỏ vẻ khâm phục :
— Kiến thức vương gia thực mênh mông.
— Đa tạ Tuyên vũ sứ quá khen. Để cô gia tiếp . Bốn đạo sư nghĩ rằng : Một mai
mình qua đời rồi, Vô song vô đối Trung nguyên võ kinh bị mai một đi, thì thực là
thiên cổ trường hận. Bốn vị ấy mới tìm một nơi nào đó dấu bộ võ kinh này, chờ
có dịp sẽ chuyển về Trung thổ. Hay ít ra cũng báo cho đồ tử đồ tôn biết nơi dấu,
để sau này tìm kiếm. Bốn vị nghĩ ra một phương pháp, là làm một bài ca khuyết
gửi về cho phái Hoa sơn như sau :
Vô trung, vô đối,
Trung thổ võ kinh.
Nam phương tuyệt tích,
Bắc phương u minh.
Thùy khả tầm đắc,
Bình Man, Địch, Nhung.
(Bộ võ kinh của Trung quốc, không có võ công nào sánh bằng, không có võ
công nào địch lại, ai mà tìm được, thì có thể dùng nó chiến thắng các nước Man,
Địch, Nhung).
Ghi chú của thuât giả : Man là các nước phương Nam Trung quốc, để chỉ Đại
Việt, Đại lý, Xiêm la, Chiêm thành, Chân lạp, Lão qua. Nhung là các nước
phương Tây Trung quốc, để chỉ Tây hạ, Tây liêu, Thổ phồn, Thanh hải, Tây
tạng. Địch là các nước phía Bắc Trung quốc để chỉ các nước Cao ly, Kim, Liêu,
Mông cổ v.v.
Thấy mặt Ngô Giới thực khó coi, Long Xưởng tiếp :
— Nhưng phái Đông a canh phòng quá kỹ. Bốn vị gần như tuyệt vọng. May
đâu, nhân dịp Kinh Nam vương phi là Trưởng đại công chúa Huệ Nhu băng,
Tống triều cũng như phái Hoa sơn cử sứ giả sang điếu tang. Trong khi phái Đông
a tang gia bối rối, bốn vị đã mật truyền bài ca khuyết trên cho đại diện phái Hoa
sơn, cùng nói rõ nơi cất võ kinh. Từ đấy, phái Hoa sơn tìm đủ cách, để sang Đại
Việt tìm bộ Vô Trung kinh, mà không ai có gan, bởi muốn tìm bộ kinh trên thì
phải đột nhập tổng đường phái Đông a. Mà bắc thang lên trời thì dễ, chứ đột
nhập tổng đường phái này thì khó. Có phải thế không ?
Mặt Ngô Giới càng tái xanh hơn.
— Tuyệt vọng qúa, hóa liều, Tuyên vũ sứ nghĩ đến việc đội lốt khách thương
sang Đại Việt, hầu dò dẫm, ăn cắp võ phổ. Tuyên vũ sứ biết rằng một mình
phái Hoa sơn qua Đại Việt, không khéo sẽ bỏ thân ở đây mất. Nên Tuyên vũ sứ
đột nhập hoàng cung, mật thú tội khi quân giả chết với vua Tống, rồi tình
nguyện làm mật sứ theo Mao Khiêm. Đạo sư tưởng răng mình hành sự giống
như Yên vương Triệu Nguyên Nghiễm xưa kia, để lỡ ra khi ăn cắp võ kinh bị lộ,
còn nhờ triều đình Đại Việt can thiệp với phái Đông a tha mạng cho.
(Ghi chú của thuật giả.
Việc Định vương Triệu Nguyên Nghiễm cầm đầu một sứ đoàn mật sang Đại
Viêt, xẩy ra vào thời vua Lý Thái tổ. Xin đọc Anh hùng Tiêu sơn, 3 quyển, 910
trang của Yên tử cư sĩ do Xuân thu Hoa kỳ xuất bản. Về già Nguyên Nghiễm
được cải phong là Yên vương.)
Bị Long Xưởng nói toẹt âm mưu ra, Ngô Giới kinh hãi vô cùng. Y chống chế :
— Thái tử chỉ nghe đồn nhảm. Bần đạo sang Đại Việt với mật chỉ khác...
Long Xưởng cau mặt lại, nói gằn từng tiếng:
— Này Ngô Tuyên vũ sứ, giữa chúng ta đều là người có địa vị cả, việc gì mà
phải chối quanh ? Nếu như Tuyên vũ sứ còn giữ được Hoa sơn tứ đại thần kỹ, thì
tại sao vừa rồi Tuyên vũ sứ thấy nhị đệ của cô gia đánh vài chiêu kiếm Hoa sơn,
mà Tuyên vũ sứ phải ngây người ra xin y diễn lại để học ?
Long Xưởng chỉ vào bốn sư đệ của Ngô Giới:
— Hoa sơn có tứ đại thần kỹ, nên đời đời chọn lấy năm đệ tử ngộ tính cực cao,
để truyền tuyệt nghệ. Năm người đó luôn mang tên của Ngũ nhạc : Trung nhạc
Tung sơn, Tây nhạc Hoa sơn, Bắc nhạc Hành sơn, Đông nhạc Thái sơn, Nam
nhạc Hằng sơn. Vì trong Dịch lý, thì Trung ương thuộc mầu vàng, Đông thuộc
mầu xanh, Tây thuộc mầu trắng, Nam thuộc màu đỏ, Bắc thuộc mầu đen. Nên
cứ nhìn y phục thì biết đạo hiệu , cùng địa vị trong môn phái. Thời vua Tống
Nhân tông quý phái có Hoa sơn ngũ lão, thời vua Thần tông có Hoa sơn ngũ đại
thần kiếm, nhưng chỉ có bốn vị sang Đại Việt rồi bị bắt. Còn một vị sớm vãng
du tiên cảnh. Bây giờ, Tuyên vũ sứ với bốn vị đạo sư đây thuộc vai vế cao nhất
của Hoa sơn. Bởi cô gia thấy bản lĩnh, phong thái của năm đạo sư thực siêu
phàm. Năm vị đang cầm vận mệnh quý phái. Thế mà quý phái kéo tất cả vào
Đại Việt, thì cái việc sang đây của đạo sư ắt phải quan trọng lắm.
Nghe Long Xưởng phân tích sự kiện, mặt Ngô Giới tái xanh. Y chống chế:
— Chưa hẳn thế...
Y quay lại nói với Thủ Huy:
— Những gì đại ca của thiếu hiệp nói hoàn toàn sai.
Thủ Huy cười :
— Khổ quá, Ngô đạo sư là người dùng binh giỏi, thì phải biết mình, biết người
chứ? Trong khi anh em tiểu bối chỉ là hai đứa trẻ chưa ráo máu đầu, tự biết
mình, lại biết rất rõ về đạo sư. Đạo sư không biết gì về anh em tiểu bối thì chớ,
mà lại còn giả ngây, giả ngô nữa.
Nó nhắc lại những gì đã nói ban nãy về việc Trường giang ngũ kiệt bị vua Tống
tìm cách hại, để không ai dám nhắc đến việc đem hai vua Huy Tông, Khâm
Tông từ Kim về rồi hỏi lại :
— Có đúng thế không?
Thấy Ngô Giới im lặng, nó tiếp:
— Ban nãy tiểu bối đã nói rồi, mà đạo sư lại quên, hay cố tình quên. Vậy tiểu
bối xin nhắc lại một lần nữa : Vì thấy Nhạc Phi bị bắt, đạo sư vội giả chết ở
Tiên nhân quan, lên ẩn ở núi Hoa sơn, đi tu lấy đạo hiệu là Trung nhạc Tung sơn
tử; dù tuổi mới có bốn mươi bẩy. Hai năm sau Nhạc Phi bị gã Triệu Cấu tức
Thiệu Hưng giết ở chùa Đại lý. Hai tướng có công không kém Phi là con Phi tên
Vân, cùng với danh tướng Trương Mẫn bị đem chém ở chợ; tài sản bị tịch thu.
Vợ, tôi tớ bị đem cho binh lính giải trí lúc xa nhà... Mấy người đó chết thực đáng
kiếp, đáng tội. Đó là cái tội ngu trung. Thấy hoàn cảnh Nhạc Phi, đạo sư rét
quá, vội tiêu dao mây nước. Gã vua Thiệu Hưng biết đạo sư giả chết, nhưng
cũng vờ than khóc, rồi ban cho ba mươi vạn đồng tiền, truy phong tước Thái sư.
Đến đây nó cười :
— Này Ngô đạo sư. Đã hai lần tiểu bối nói rõ hành trạng của đạo sư rồi. Vậy
đạo sư không được làm khó dễ đại ca của tiểu bối nữa nghe.
Ngô Giới nhìn Nhất Liễu:
— Được! Ta bần đạo xin hứa.
Y đổi cách xưng hô:
— Nhưng sự thể đã như thế này, thì ta xin mời Hiển Trung vương, thiếu hiệp với
đô đốc Nhất Liễu du ngoạn núi Hoa sơn ít lâu. không biết thiếu hiệp có vui lòng
không?
Thủ Huy cau mặt:
— Ít lâu? Ít lâu là mấy tháng?
— Chóng hay chầy là tùy ở thiếu hiệp.
—???
Ngô Giới chỉ khoang lớn của thuyền đinh:
— Nào mời các vị vào trong khoang thuyền, chúng ta uống chung trà, bàn
chuyện đại sự.
Sự không đừng được, Long Xưởng nói với Thủ Huy, Nhất Liễu:
— Nhị đệ! Đô đốc! Chúng ta hãy cùng làm khách của Tuyên vũ sứ.
Nói rồi vương theo sau Ngô Giới, cử chỉ đường bệ, tư thái ung dung, làm Ngô
kinh ngạc không ít, trong lòng viên tướng Tống nhủ thầm:
— Thiếu niên này đởm lược thực phi phàm. Rõ ràng y bị ta uy hiếp, có thể mất
mạng, mà vẫn bình tĩnh, ngôn từ ôn hòa. Thực khó mà kiếm được người thứ nhì.
Nay mai y lên làm vua Giao chỉ thì là điều rất nguy hại cho Trung nguyên.
Phân ngôi chủ khách xong. Ngô Giới mở lời trước thái độ của y tỏ ra hòa nhã:
— Có gì đâu! Đúng như Hiển trung vương nói. Mục đích chuyến đi của bần đạo
là tìm lại Vô Trung võ kinh. Nhưng nay tìm không được, mà thiếu hiệp lại thuộc
lòng bộ này, thì thiếu hiệp là bộ võ phổ sống. Vì vậy, bần đạo mời thiếu hiệp du
ngoạn Hoa sơn, rồi viết lại cho bần đạo, thế thôi.
Thủ Huy thấy y lại đổi thái độ thì mỉm cười:
— Không lẽ chỉ có vậy sao? Tiểu bối không tin. Này Ngô đạo sư, ít nhất đạo sư
có đến hai hay ba mục đích khác nhau trong vụ này.
Ngô Giới tái mặt, y nói với Long Xưởng:
— Nhị đệ của vương gia thực là xuất chúng. Sau này vương gia lên ngôi rồi, mà
đặt y vao chức tể tướng, thì không một gian nhân nào qua mắt đươc y. Này
vương gia, bần đạo biết vương gia rời Thăng long đi Thiên trường để mời Đông a
ngũ tuyệt tham dự đại hội Lộc hà. Mà đại hội Lộc hà chỉ với mục đích chỉnh
đốn lại kỷ cương, nêu cao chủ đạo tộc Việt. Nhưng nếu như đại hội thành công,
các gia, các phái đồng tâm trợ giúp triều đình, thì ít ra có hai giòng họ ngoại
thích bị tru di tam tộc. Vương gia có biết việc đó không?
— Ta quyết nêu cao đức từ bi hỷ xả của đức Thế tôn, đại nghĩa bốn nghìn năm
chủ đạo của tộc Việt, thì sao lại có thể tàn sát ngoại thích nhỉ?
— Vương gia nghĩ thế, sẽ làm thế. Nhưng bọn họ Đỗ của Chiêu Hiếu thái hậu,
họ Lê của Cảm Thánh thái hậu lại không nghĩ thế. Chúng chỉ nghĩ đến việc cũ
là chúng đã tàn sát tông thất quá nhiều. Khi quyền rời khỏi tay Thái hậu, bấy
giờ phụ hoàng hoặc vương gia cầm quyền thì chúng sẽ không còn đất mà chôn.
Trước cái thế một mất, một còn, chúng phải ép, phải xin Thái hậu hạ vương gia.
Nhưng vương gia là người anh minh, hành sự quang minh lỗi lạc, Thái hậu không
thể phế vương gia được. Nay biết tin vương gia âm thầm đi Thiên trường, Thái
hậu sai Nghi tàm song ma đón đường bắt cóc vương gia giam lại ít ngày. Bấy
giờ...
Y mỉm cười nhìn Thủ Huy:
— Cái gì sẽ xẩy ra, thiếu hiệp có biết không?
===============================================
*** TuanKhong chuyển mã ........
DaoKy
24-08-2004, 07:36 PM
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.