View Full Version : Bát Tự hà lạc (Học Năng)
Lưu Bị
11-06-2005, 12:10 AM
LỜI NÓI ĐẦU
Một ông bạn già bảo Soạn giả: “Suốt đời anh chỉ lấy số giúp cho người, Tài Tử thế. Nếu không thích hành nghề, thì sao chẳng viết sách đi? Môn Bát Tự Hà Lạc của anh có cỡ lắm rồi đấy!”.
Chỗ thân nên mới trả lời văng mạng rằng: “Cớ gì! mắc cỡ thì có. Nào đã biết gì đâu mà viết với lách. Học số tuy gần 40 năm thật, nhưng lẽ quyển Kinh Dịch chưa sờn, chứ đừng có nói là đã hân hạnh dứt lấy một lần, thì phỏng viết sách ra có ích gì, hay chỉ làm thiệt lấy đôi ba ram giấy và ít ký mực của học sinh nghèo”.
Ông bạn nghe xong mỉm cười rồi lại nghiêm nét mặt mà nói: “Chà! mặc cảm vừa vừa thôi chứ. Tuổi anh nay mai sắp sang tuần “Thất - Thập cổ lai hi rồi”, liệu ít nữa, xuống lòng đất mẹ có mang được tí sở học đi không? Mà nếu thiên hạ ai cũng nghĩ (Tếu) như anh cả, thì rồi môn BÁT - TỰ HÀ - LẠC đến mất giống ư?
Tuy câu chuyện đối đáp tầm phào như trên, mà rồi cũng làm cho đầu óc phải suy nghĩ. Soạn giả tự nhủ: “Ừ, anh bạn nói cũng có lý. Như người học Phật có ứng khẩu được KỆ mới là hiểu KINH. Học sách Thánh Hiền mà không làm được bài vở gì thì sao gọi là triết học. Suốt đời chưa trình làng được một chữ nghĩa nào về LÝ - SỐ, thì rồi đây, khi sang thế giới bên kia lỡ gặp các Cụ: Chu Công, Khổng Tử, Trần Đoàn, Thiệu Khang Tiết v.v... liệu các Cụ có để yên cho hay không, hay Khai trừ thẳng cánh”. Nghĩ vậy mà thấy rờn rợn góc gáy, nên rấp tâm phải viết một cái gì về LÝ SỐ, mặc dù vẫn viết rằng: Viết ra thì cũng tội, mà không viết ra cũng tội.
Nhưng viết gì đây?
Tử Vi, KINH DỊCH, MAI HOA, KỲ MÔN, GIÁP ĐỘN v.v... đều đã đủ mặt ở thị trường sách vở từ trong Thư Cục, Ấn Quán cho ra đến vỉa hè. Nhìn kỹ thì thấy thiếu BÁT TỰ và HÀ LẠC LÝ SỐ là 2 môn thịnh hành nhất ở các phố Hoa Kiều.
Gần đây, tình cờ gặp một thầy Tướng Số, người Hoa Kiều là chỗ quen nên ông ta hỏi: “Học giả Việt Nam các ông chỉ có lấy Tử Vi thôi, không ai biết lấy BÁT TỰ và HÀ LẠC à?”.
Chẳng lẽ soạn giả lại vô lễ nổi xung lên, nhưng liền nhớ ngay câu chuyện đối thoại xưa giữa YẾT KIÊU đục thuyền và giặc Nguyên, nên cũng bắt chước lối hiên ngang mà trả lời rằng: “Học giả Việt chúng tôi, trừ hạng tôi ra, lấy đấu mà đong không hết, còn ai cũng uyên thâm đủ các môn NHÂM, CẦM, ĐỘN, TOÁN cả, con cháu Trạng Trình mà không tinh thông sao được. Ông đã đọc Sử nước tôi chưa? Sở dĩ chúng tôi chỉ lấy Tử Vi thôi, là vì khoa ấy dễ phổ biến hơn hết”.
Ông thầy Tàu ngồi im. Lời của ông tuy không có gì là kỵ thị Văn Hóa, nhưng vô tình đã lùa ngọn roi châm chọc vào bên cạnh sườn Học Vấn gầy còm của Soạn giả, khiến hắn này phải có một quyết định như câu Dịch, hào 3 quẻ quải: “Quyết quyết độc hành”.
Thôi, đúng cũng là số đến ngày phải cầm bút rồi, mặc dầu đây không phải là “Bút Mộng Hoa” của Thi Hào Lý Bạch chi cả mà chỉ là bút rỉ mực cợn, đi đôi với bộ mắt đã mờ, gân tay đã mỏi, nhưng cũng cứ cố gắng và mạo muội vạch ra cuốn BÁT TỰ - HÀ LẠC này.
Xin tâm thành gọi là chút quà mọn tinh thần, Kính gửi đến gần xa quý vị xem chơi.
TẠI SÀI GÒN NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG NĂM QUÝ SỬU 1973
SOẠN GIẢ CẨN CHÍ
HỌC NĂNG
--g--
Lưu Bị
11-06-2005, 12:11 AM
TỰA
Nếu tựa quy định người viết sách phải trình bày ý hướng của mình (Tự: TRẦN THUẬT trước tác giả chi ý thú tác giả. TỪ HẢI) thì nơi đây xin kính cẩn trần thuật như sau:
Ý kiến sách này có 2 mục tiêu:
Một là: Muốn phổ thông hóa một môn học về ĐỊNH MỆNH thuộc trình độ cao hơn Phổ Thông, nguyên nhân: LÝ SỐ HÀ LẠC từ xưa, vẫn được coi như là một môn học khó hiểu, chỉ có một số ít Học giả khá chữ Nho và chuyên Kinh Dịch mới nghiên cứu thôi. Một bác Đại Hiền đời Tống, Trần Y Xuyên Tiên Sinh đã phải nói là: HÀ - LẠC... cực chính đại, không nên khinh thường, đem truyền thụ cho bọn Phàm Tục (Cực chính đại, bất khinh di truyền thụ dung tục chi bối – HÀ LẠC LÝ SỐ quyển 1) ở một thời đại Nho Học cực thịnh, cách đây gần 10 thế kỷ, mà còn có câu ấy.
Huống chi ngày nay ở nước ta, NHO HỌC đã hồ tàn, mà người nghiên cứu KINH - DỊCH cũng hiếm có, nếu cứ tình trạng này mà lơi là, ngại khó thì ắt hẳn không chóng thì chầy môn HÀ LẠC sẽ mai một dần dần rồi biến mất, trên quê hương của những Đại gia Lý Số, Trạng Trình, Trạng Bùng v.v...
Chỉ vì nghĩ vậy mà điếc không sợ súng, sách này dám cả gan đem môn Hà Lạc ra phiên dịch, phần dịch, phần biên soạn thành chữ Quốc Ngũ để mong đem phổ biến rộng rãi giữa đám bà con anh em những kiến thức mà xưa nay người ta vẫn coi như vừa Huyền Bí vừa Bí Truyền. Sách này còn dám kỳ vọng rằng: Bất cứ độc giả nào, không cần biết một nét chữ Nho, chỉ cần xem kỹ, cũng có thể tự lấy và tự giải đoán được quẻ Hà Lạc. Nếu đạt được kết quả ấy thì HÀ LẠC mới có đất đứng ở giữa khoảng vườn rộng rãi, cây HÀ LẠC mới nhìn thấy bóng mặt trời, mới nở ngành xanh ngọn, phát huy được tinh hoa, để mang lại một cảm hứng mới cho các bạn hiếu đọc, và để ganh đua với nhiều Môn học khác như Tử Vi, Chiêm Tinh Học, Bốc Dịch... Kể ra cũng là một việc làm khá mạo muội như muốn san quả đồi thành đường phẳng để đi, nhưng sở dĩ soạn giả dám làm là vì có một sức tin tưởng mãnh liệt vào Trí tuệ thông minh và đức kiên nhẫn của bà con anh em người Việt chúng ta, bao giờ cũng tìm hiểu đến nơi và không bao giờ chịu lùi bước trước một vấn đề khó hiểu nào.
Tất có bản sẽ hỏi: Làm một việc có ý cầu kỳ như trên, để nhằm mục đích gì? Phải chăng cũng chỉ là tiếp tay vào với Cao Trào Tướng số đương lên, là a dua với (bọn thầy Mù gỡ gạo) như lời cụ Phan Bội Châu đã nói, là đổi món thuốc độc để mê hoặc lòng người, làm giảm mất CHÍ - TỰ - CƯỜNG và ĐỨC - TỰ - TIN của DÂN TỘC mà cuộc HÒA BÌNH sắp thực hiện cần phải tái Võ Trang tinh thần trong công cuộc cấp bách tranh thủ TỰ DO và điều kiện SINH TỒN hợp lý với Thế giới? Câu hỏi trên này quả có nghiêm nghị và xác đáng. Ấy cũng chỉ vì soạn giả không muốn chia xẻ cái quan niệm của Cao Trào Tuyệt Đối Tin Tưởng Định Mệnh mà sách này mong đạt một mục tiêu thứ 2 là: Tương đối hóa niềm tin Định Mệnh. Thật vậy, dù người ta sinh ra có Số, nhưng không sao có thể nghĩ được rằng: Ở giữa thời đại nguyên tử ngày nay, con người vẫn còn, như muôn ngàn kiếp xưa, chỉ là cái công cụ của Tạo hóa như cái máy lò so, để thi hành mệnh lệnh của Trời theo câu thường nói: “Một miếng ăn, một hớp uống cũng đều do Tiền định (Nhất ẩm nhất trác giai do Tiền định), hoặc: “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Kiều).
Hãy xem lại Kinh Dịch. Ta sẽ thấy ở đây một niềm sảng khoái vô biên, con người đã được công nhận là 1 đấng trong 3 Ngôi (Tam Tài: THIÊN, ĐỊA, NHÂN) có đường lối tự quyết cũng như TRỜI ĐẤT để điều hành VŨ TRỤ (hữu thiên đạo yên hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên, Hê Tử Hạ) Há rằng người lại thất thế, trụt xuống ngang hàng với muôn loài để cũng bị động như chúng, làm nô lệ cho trời đất, vốn là 2 Đồng Liêu thượng đỉnh vẫn ngồi bên cạnh mình, trong TAM ĐẦU CHẾ nói trên? Có lẽ, cái chức vụ tối cao kia đã bị người ta quên lãng lâu ngày, nên một nhóm TỐNG NHO LÝ HỌC bèn quát khởi lên để nhắc lại quyền ấy, trong nhóm tiêu biểu nhất có Thiệu Khang Tiết Tiên Sinh đã nêu cao ngọn cờ TỔ SƯ TRẦN ĐOÀN để dâng cho loài người chữ lý số làm liều thuốc cấp thời chữa bệnh cứng rắn và ngoan cố của SỐ MỆNH.
Vinh dự nước Việt Nam ta cũng có đóng góp nhiều danh nhân vào ngành Lý Học này. Tay cự phách nhất là cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mà người Trung Hoa xưa phải tôn trọng với câu (An Nam Lý Học hữu Trinh Tuyền).
- Trên vừa nói: Lý chữa bệnh được cho Số, tại sao? Số và Lý là cái gì? Ta thử xét xem. Ai cũng biết, Số do trời sinh ra bằng Năm, tháng, ngày giờ sanh bất di bất dịch. Số là vật bất biến. Trời nắm quyền số (Nam Tảo Bắc Đẩu). Vậy còn Lý về ai, nếu không về tay người, Lý duy ở tư tưởng người mà có, tất cả cái gì không do trời là Lý sáng tạo ra hết, cả về vật chất lẫn tinh thần. Lý biến Dịch vô cùng qua thời gian, không gian và qua cả tư tưởng thời đại của con người nữa; nền Văn minh của nhân loại từ thuở Hồng Hoang cho đến thời kỳ toàn thể thành Phật thành Tiên sau này đều cũng bởi người làm ra cả. Vậy thì Lý còn nặng đồng cân hơn. Số mà không Lý thì thật là vô lý. Nếu chỉ có Số không thôi, thì chim muông vạn vật đều có số cả, vì đều có ngày tháng sanh đẻ, đâu kém chi người. Sở dĩ chúng không có óc sáng tạo như người nên chỉ có Số mà không có Lý, Thiệu Ung tiên sinh rất coi trọng Lý nên nói rằng: (Phải sáng cái Lý trước khi khởi cái Số. Vì lấy Số mà không suy Lý là không được vậy. Khởi Số tất tiên minh Lý. Cái Số bất suy Lý thị bất đắc giả. MAI HOA DỊCH SỐ). Sách Tử Bình cũng ca tụng (Đo được cái Lý thì có thể biết được đến chỗ tuyệt diệu của điều U Vi, Độ Lý khả tri U Vi chi diệu).
Phạm Vi loại sách thực hành như quyển Hà Lạc này không cho phép bàn rộng về thuyết của chữ Lý (Xin xem lời phiếm bàn ở trang...) nên có điều nhận xét sau đây: Nếu người cũng tin Lý như tin Số thì có thể đi tới kết quả là: Người có thể cải tạo được phần nào Số mình. Nói một cách khác, người sẽ tự tạo lấy cho mình, một Định mệnh mới, nó tuy không thỏa mãn được hoàn toàn ý mình, nhưng cũng không quá lệ thuộc vào ý trời nữa.
Đó thiết tưởng là cái thâm ý trong tinh thần Lý Số HÀ LẠC như soạn giả đã tìm hiểu. Để xác định, xin tạm dùng phương trình thức sau đây:
SỐ + LÝ = ĐỊNH MỆNH
SỐ có thể vi với HẰNG SỐ (như số Pi không thay đổi).
LÝ có thể vi với BIẾN SỐ (thay đổi).
ĐỊNH MỆNH tức như HÀM SỐ vậy.
Đặt phương trình thức như trên là có ý muốn trình bày rằng: Người có Lý phải chịu lấy trách nhiệm của mình chứ đừng cái gì cũng nhất nhất đổ tại trời. Nhân loại hung suy, dân tộc tồn vong, cá nhân thành bại, đều do tự mình một phần lớn, há rằng cứ oán trời, kêu đất trách người khác hay sao.
THƯỜNG NHẬN THẤY RẰNG:
Các bậc Học giả xưa, rất dè dặt việc viết sách. Sách nào thật hữu ích cho đời thì mới viết. Đối với hiện tinh hiện trạng của dân ta, cứ thực mà nói, thì còn nghèo nàn về Kinh tế, nhá nhem về Khoa học và dở dang về Đạo đức, nếu loại sách Số Tướng còn hữu ích chăng nữa, thì cũng chỉ hữu ích vào hàng thứ sau cùng, sau những loại sách cần thiết để nâng cao mức sống cho dân lành, mở mang tri thức cho người thất học, và làm lại tinh thần cho bọn sa ngã vong thân. Đó là một lẽ khiến sách Hà Lạc này dùng dằng mãi mới dám ra đời.
LẠI VỐN NGHĨ RẰNG:
Trong hàng ngũ Văn hóa cổ truyền, tuy thưa như sao buổi sáng, như lá mùa thu, nhưng vẫn hãy còn một số các Cụ Túc Nho bậc trưởng Thượng, đã đâu đến vai mình được biên soạn loại sách này. Đó là một lẽ thứ hai bắt buộc phải chờ, chờ mãi, nay mới dám cho ra.
Là quyển đầu tiên về Hà Lạc, LÝ SỐ bằng QUỐC VĂN, Tất nhiên sách này thiếu hẳn kinh nghiệm đáng lẽ được rút ra, nếu có, ở các sách đã dịch rồi của các bậc Tiền Bối hay quý vị đàn anh.
Đọc lời Đề bạt trong cuốn Chu Dịch của Cụ Phan, mà huống hổ thẹn cho cái tài sơ học thiển của mình. Đến như Cụ mà còn phải nói: (Ý kiến có chốn lầm lỗi, chữ nghĩa có nhiều chốn quê mùa, xin nhờ các bậc cao minh bổ dạy cho...) Huống chi tầm thường Vu Lịch là kẻ soạn sách này, những mong quý vị học giả bốn phương lượng tình chỉ bảo.
Tại Sài Gòn ngày Tiết Vu Lan rằm Tháng 7 năm Quý Sửu
Soạn giả Cần Tự
Học Năng
Lưu Bị
11-06-2005, 12:13 AM
PHÀM LỆ
I. Sách này chính là sách HÀ LẠC nhưng để chữ BÁT TỰ lên trên để nhấn mạnh rằng: Muốn lấy HÀ LẠC hay các môn khác như Mệnh học, hay Mệnh lý, Tử Bình, Lưỡng Đầu Kiềm Toán Pháp v.v... đều phải bắt đầu bằng BÁT TỰ cả. Sách này chỉ dẫn đủ phương pháp để lấy Bát tự và có cả phần Bách Niên Lịch bằng Việt Ngữ để tiện dùng.
II. Sách này tuy Căn bản lấy ở quyển HÀ LẠC LÝ SỐ của TRẦN HY DI Tiên sinh nhưng là sách biên soạn vì những lý do:
a). Chỉ trích dịch những đoạn chính, những phần chính của sách nói trên.
b). Có Bố cục riêng không giống như sách trên.
c). Có tham khảo nhiều sách khác.
d). Có nhiều đoạn hoàn toàn do người Biên soạn sáng tác.
III. Mạch lạc của sách này đại khái trình bày theo thể thức sau đây:
A, B, C, D là CHƯƠNG (gồm nhiều Mục).
I, II, III v.v... là Mục (gồm nhiều Tiết)
1, 2, 3 v.v... là Tiết (gồm nhiều Đoạn)
a, b, c v.v... là Đoạn.
IV. Sách này hoàn toàn là loại sách Lý Số, tức là thực hành phần Hình nhi Hạ của triết lý Kinh Dịch, chứ không có lý thuyết về Dịch lý như phần Hình nhi Thượng.
V. Sách này hướng nhiều về giới Trí thức bình dân và các bạn trẻ (thanh niên, sinh viên, học sinh) nên:
- Hết sức tránh những danh từ chữ Nho khi không cần thiết.
- Cố gắng phổ thông hóa lời Văn (có khi đến sô bồ suồng sã) tất nhiên không làm vui lòng nhiều quý vị Học Giả nghiêm trang sẽ cho thế là làm giảm giá mất mộc môn học vi diệu của Thánh Hiền.
- Một số chữ cổ mỗi sách phiên âm một khác. Sách này tin ở quyển Chu Dịch của Phan Sào Nam. Tiên sinh Phan Bội Châu hơn cả; phần chấm câu, nghĩa Hào Từ cũng căn cứ nhiều vào sách ấy.
- Một số danh từ dùng về thời Phong kiến như Quân (vua) Sĩ (xuất chinh làm Quan), triều đình, những chức tước ngày nay không còn như Đại thần, Trung thư, Chi đạo... nay có thể thay thế bằng những tiếng hiện đại như Nguyên thủ, Công, Tư chức...
VI. Sách này cũng dùng phương pháp giáo khoa nên:
- Sau mỗi chương, thường có một bài tóm lược. Xem tóm lược trước để lấy ý Khái quát rồi sau hãy xem vào Chương thì khỏi bở ngỡ. Xem toàn chương xong, lại xem tóm lược nữa thì sẽ thấu đáo. Đó là lối Bác Văn Ước Lễ của cổ nhân.
Sau bài Tóm lược có bài Thực Tập như lối học Toán Lý Hóa. Viết để làm bài trước, xong rồi hãy nhìn vào giải đáp để kiểm soát. Làm kỹ thực tập ở sách này và làm thêm ra ngoài nữa thì không mấy chốc mà thành nhà Lý Số Học. Đó là phương pháp Cổ điển Học Nhi Thời Tập Chi mà ngày nay kêu là Lý thuyết và Thực hành đi đôi.
VII. Phần Cước chú, sở dĩ họa là có mấy tiếng Pháp, là vì khi gặp một vài danh từ chuyên khoa (Toán, Triết v.v...) đem so sánh với một tiếng ngoại ngữ, thiết tưởng càng làm sáng tỏ nghĩa thêm. Ngoài Cước chú ra, lại có phần lưu ý, đó là lời bổ túc rất cần thiết cho đoạn sách vừa trình bày, hoặc để lưu ý độc giả vào một đoạn nào quan trọng.
VIII. Phần II, Chương D, sau mỗi quẻ Hào, có một câu thơ thoát dịch ở thơ chữ Hán sách Hà Lạc ra. Có một số câu nghĩa rất Huyền bí như lời Sấm Vỹ, nên phiên âm Nguyên văn để quý vị Học Giả cùng nghiên cứu (Đại khái như những câu thơ ở: Hào 5 quẻ Thái, Hào 6 quẻ Bĩ, Hào 4 quẻ Đại Hữu, Hào 4, Hào 5 quẻ Ly, Hào 2, Hào 5 quẻ Đại Tráng, hào 4 quẻ Tấn).
XI. Cuối Chương D, có Đồ biểu Tổng quát 64 quẻ để tìm số trang của quẻ. Ví dụ: Muốn tìm quẻ Hỏa Sơn Lử trang nào? Thì tìm chữ hỏa ở hàng ngang, chữ Sơn ở hàng dọc (cũng như cách tìm số ở bảng Cửu Chương). Từ chữ Hỏa lấy ngón tay vạch thẳng xuống, từ chữ Sơn vạch qua ngang, 2 vạch sẽ gặp nhau ở ô vuông gốc thấy chữ Lữ trạng...
Lưu Bị
11-06-2005, 12:15 AM
Còn tiếp đợi Lưu bị đi ngũ 1 giấc rồi post lên cho các bác, bạn tham khão
barca
11-06-2005, 03:11 PM
Hay quá, cảm ơn lưu bị nhiều nhiều.
Lưu Bị
11-06-2005, 11:16 PM
http://img223.echo.cx/img223/8018/untitled12el.jpg
X. Ở Phụ Chương, có quyển BÁCH NIÊN LỊCH do ông Long Vân Vũ Mạnh Yêm vui lòng dịch giúp ở Lịch Trung Hoa ra. Lịch tuy chưa được đầy đủ, xong ít nhất cũng giúp cho ta tra được Can Chi ngày sanh và 24 tiết khí của trăm năm, trăm tuổi.
CHƯƠNG A
BÁT TỰ: BÀO THAI CỦA SỐ HÀ LẠC
Muốn lấy số Hà Lạc, trước hết phải đổi năm tháng ngày giờ sanh ra Bát tự đã, rồi đổi Bát Tự ra số Âm số Dương của Hà Đồ Lạc Thư, sau rồi lại đổi số Âm Dương ra thành quẻ Dịch: Quẻ Dịch lại đổi thành quẻ Hà Lạc để tìm hiểu Mệnh Vận con người. Như vậy từ Bát Tự đến số Hà Lạc, đã có 3 lần chuyển hình. Có thể vì quá trình biến hóa này với quá trình thay đổi hình dạng của trứng Ngài ra con Tằm, Tằm ra Nhộng và Nhộng ra Bướm.
Số Hà Lạc đã thoát thai từ Bát Tự cho nên nói rằng: Bát Tự là bào thai của Hà Lạc, hay nói ngược lại: Hà Lạac là Bát Tự đã chuyển hình. Bát Tự là cái cổng chung mà nhiều môn học phải đi qua trước khi phân ngành (như trên phàm lệ đã nói).
I. Bát tự là gì?
Theo đúng nghĩa, Bát Tự là 8 chữ, Tại sao gọi là 8 chữ? Thưa rằng: Dù lấy bằng phương pháp nào? số ai cũng phải có 4 yếu tố thì mới lập thành được. Đó là:
Năm sanh tức tuổi
Tháng sanh
Ngày sanh
Giờ sanh.
Mỗi yếu tố ấy diễn ra bằng 1 Can và 1 Chi. Vậy 4 yếu tố diễn ra bằng 4 Can và 4 Chi, tổng cộng là 8 chữ hay bát tự vậy.
Ví dụ: Ông A năm nay 53 tuổi, sanh tháng 4, ngày 21, giờ Thìn, An ra bát tự là:
Năm Tân Dậu (Tân là Can, Dậu là Chi).
Tháng sanh Quý Tỵ (Quý là Can, Tỵ là Chi).
Ngày Tân Mão (Tân là Can, Mão là Chi).
Giờ Nhâm Thìn (Nhâm là Can, Thìn là Chi).
Vấn đề đặt ra ngay bây giờ là phải biết thế nào là Can, thế nào là Chi? mà nhà Lý Số thường gọi là Thiên Can và Địa Chi, có nghĩa là Can của Trời, Chi của Đất, hai thứ ấy phối hợp nhau mới sanh ra con người.
Đối với vị nào đã có chữ Nho, hay đã biết Tử vi, thì Can Chi là chuyện dễ ợt. Nhưng vị nào mới bước chân du ngoạn lần đầu vào địa hạt Lý Số thì, dù thông minh đến đâu cũng nên chú ý ngay từ những bài đầu tiên, nhiên hậu mới theo dõi được môn Hà Lạc là môn học khá sâu xa mà các cụ nhà Nho xưa cũng không dám coi thường, vì nhất nhất là môn này dựa vào Dịch Lý.
II. 10 Can và 12 Chi (thập Can và thập nhị Chi).
Trên Trời dưới đất chỉ có 10 Can và 12 Chi, phối hợp với nhau mà Vũ Trụ vận hành, thời gian, không gian, nhân gian biến chuyển vô cùng tận.
10 Can là:
- Đọc xuôi:
1. GIÁP (viết tắt là G) - thuộc Dương hành Mộc.
2. ẤT (viết tắt là Â) - thuộc Âm hành Mộc.
3. BÍNH (viết tắt là B) - thuộc Dương hành Hỏa.
4. ĐINH (viết tắt là Đ) - thuộc Âm hành Hỏa.
5. MẬU (viết tắt là M) - thuộc Dương hành Thổ.
6. KỶ (viết tắt là K) - thuộc Âm hành Thổ.
7. CANH (viết tắt là C) - thuộc Dương hành Kim.
8. TÂN (viết tắt là T) - thuộc Âm hành Kim.
9. NHÂM (viết tắt là N) - thuộc Dương hành Thủy.
10. QUÝ (viết tắt là Q) - thuộc Âm hành Thủy.
Tất cả 5 Can Âm và 5 Can Dương, đều thuộc vào Ngũ hành (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ) và chia đều nhau cứ 2 Can chung 1 Hành.
- Đọc ngược (cần biết đọc ngược để nhiều khi dùng đến tính cho lẹ).
Q. N. T. C. K. M. Đ. B. Â. G.
12 CHI là:
- Đọc xuôi:
1. Tý thuộc Dương hành Thủy
2. Sửu thuộc Âm hành Thổ
3. Dần thuộc Dương hành Mộc
4. Mão thuộc Âm hành Mộc.
5. Thìn thuộc Dương hành Thổ.
6. Tỵ thuộc Âm hành Hỏa.
7. Ngọ thuộc Dương hành Hỏa.
8. Mùi thuộc Âm hành Thổ.
9. Thân thuộc Dương hành Kim.
10. Dậu thuộc Âm hành Kim
11. Tuất thuộc Dương hành Thổ
12. Hợi thuộc Âm hành Thủy.
- Tổng cộng là 6 Chi Âm và 6 Chi Dương, đều thuộc vào Ngũ hành. Cứ mỗi Ngũ hành kiêm 2 chi, chỉ trừ hành Thổ kiêm 4 chi (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi). Có thể thắc mắc vì sao hành Thổ tham nhũng vậy? Riêng mình chiếu 4 Chi, trong khi mọi hành khác, chỉ được 2 chi, rất dễ hiểu.
Chỉ làm con tính chia nhờ:
Lưu Bị
11-06-2005, 11:18 PM
12 Chi / 5 Hành
2 2 Chi
Mỗi hành 2 Chi còn dư 2 Chi, chia nữa thì lẻ loi, mà để thì các Hành nhòm ngó tranh giành nhau. Ông hành Thổ vốn người Trung ương, có quyền hơn, nên lấy 2 chi dư là danh chính ngôn thuận. Vì vậy ông Hành Thổ được quyền hưởng 4 chi, chứ chẳng phải là tham nhũng gì cả.
Đọc ngược:
Hợi, Tuất, Dậu, Thân, Mùi, Ngọ.
Tỵ, Thìn, Mão, Dần, Sửu, Tý.
Chính Ấn
12-06-2005, 01:28 PM
Đang học theo Lưu Bị. Chúc Lưu Bị cuối tuần vui vẻ.
Lưu Bị
12-06-2005, 11:25 PM
Đang học theo Lưu Bị. Chúc Lưu Bị cuối tuần vui vẻ.
chào bác Chính ấn
Bác khoẽ ko?-hihi-
dạo này cháu đi làm từ 11 giờ khuya đến sáng nên về chĩ có ngũ, cãm ơn bác đã chú ý bài lưu bị thứ 2-3 tuần sau cháu sẽ vẽ ra các hình trên Photoshop và post hết phần còn lại nên bác ráng chờ nha sau đó thì, mời các tuyền bối có kinh nghiệm về cái này, làm mấy bài mẫu--g--
Châu Anh
13-06-2005, 06:46 PM
Ủa đi làm nữa hả?
Chịu khó quá.
barca
13-06-2005, 06:57 PM
Lưu Bị cho tôi bái sư học nghề bát tự hà lạc được không?
Lưu Bị
13-06-2005, 11:30 PM
Lưu Bị cho tôi bái sư học nghề bát tự hà lạc được không?
Lưu bị chĩ học được 1 chút, không đũ sức đễ dạy, có các tuyền bối nào giõi về môn này xin giơ tay xung phong làm người tutor--g-- không cần thầy giáo chĩ cần tutor -hihi- nếu có thầy càng tốt
thanks 1st
Lưu Bị
13-06-2005, 11:31 PM
Ủa đi làm nữa hả?
Chịu khó quá.
uhh kiếm tiền đễ làm chuyện sau này--sc--
Lưu Bị
15-06-2005, 10:06 AM
III. Một phương pháp để dễ nhớ Can Chi
Muốn dễ nhớ Can Chi, thì phải thể hiện nó lên trên vật gì cụ thể. Những vật ấy là:
1. Bàn tay 10 Can.
2. Bàn tay 12 Chi.
3. Địa bàn 12 Cung (Vẫn dùng vào Tử Vi).
Bàn tay 10 Can Bàn tay 12 Chi
Hình vẽ
http://img273.echo.cx/img273/9391/20050226153433hinh16yq.gif
Lưu ý 2: Những số viết vào cạnh CAN – CHI đều là số thứ tự, không ăn nhằm gì vào với số Hà Lạc cả.
V. Cách an Bát tự:
Thuộc kỹ Can Chi rồi đếm xuôi, đếm ngược đều lầu thông, phân biệt Âm Dương Ngũ Hành rành rẽ, bây giờ đi vào việc An Bát Tự được. Trên đã nói, số có 4 yếu tố, vậy phải đi lần lượt 4 giai đoạn:
1. An Can Chi của năm sanh tức tuổi.
2. An Can Chi của tháng sanh.
3. An Can Chi của ngày sanh.
4. An Can Chi của giờ sanh.
1. An Can Chi năm sanh:
Dùng bàn tay 12 Chi, hoặc Địa Bàn 12 Cung (xem hình trang 18 và 19), cần thuộc kỹ Can – Chi và đếm ngược xuôi mau lẹ.
NGUYÊN TẮC
- Cung và tuổi khởi điểm để đếm: Hành niên năm nào thì lấy cung ấy làm khởi điểm. Mỗi Cung chỉ có 2 tuổi khởi điểm: Nhỏ lên 1 tuổi, lớn 61 tuổi.
- Cách đếm: Phải đếm 2 vòng:
a). Vòng đi thuận chiều đếm từng chục tuổi mỗi Cung.
Năm Âm thì tìm những cung Âm mà đi.
Năm Dương thì tìm những cung Dương mà đi.
b). Vòng đi nghịch chiều đếm số tuổi lẻ dưới 1 chục, và đếm liền liền không bỏ cách Cung nào, không phân biệt Âm Dương.
Ví dụ 1: Hành niên năm Quý Sửu, tính tuổi 39 xem Can Chi là gì? Lấy cung Sửu và 1 tuổi làm khởi điểm.
a). Đếm xuôi từng chục tuổi.
QUÝ SỬU lên một ở cung SỬU
QUÝ MÃO lên 11 ở cung MÃO
QUÝ TỴ 21 ở cung TỴ
QUÝ MÙI 31 ở cung MÙI.
Ngừng lại ở cung Mùi, vì đi nữa sang cung Dậu là 41 tuổi thì qua 39. Từ cung Mùi bắt đầu đếm ngược lại.
b). Đếm ngược từng tuổi một.
31 Quý Mùi, 32 Nhâm Ngọ, 33 Tân Tỵ, 34 Canh Thìn, 35 Kỷ Mão, 36 Mậu Dần, 37 Đinh Sửu, 38 Bính Tý và 39 Ất Hợi.
Ví dụ 2: Hành niên năm Giáp Dần, tính tuổi 75, xem Can Chi gì?
Lấy cung Dần và tuổi 61 làm khởi điểm.
a). Đếm xuôi từng chục tuổi.
Giáp Dần 61 ở cung Dần.
Giáp Thìn 71 ở cung Thìn.
Ngừng lại ở cung Thìn, vì đi nữa sang cung Ngọ là 81 thì quá tuổi 75.
b). Đếm ngược từng tuổi 1.
71 Giáp Thìn, 72 Quý Mão, 73 Nhâm Dần, 74 Tân Sửu, 75 Canh Tý.
Có một điều rất quan trọng là Bát Tự tính tuổi khác hẳn Tử vi.
Cách tính tuổi của Bát tự
Theo phép tính Tử Vi thì sanh năm nào chịu tuổi năm ấy, từ giờ Tý giao thừa đến giờ Hợi đêm 30 tháng 12, đều thuộc vào một tuổi Can Chi.
Bát tự tính khác Bát tự lấy ngày giờ tiết Lập xuân làm cái mức để tính tuổi.
Sang năm mới rồi mà chưa Lập xuân (Lập xuân đến muộn). Nếu ai sanh vào khoảng ấy, thì còn phải chịu tuổi năm cũ, mặc dù người ta đang vui Xuân, mừng tuổi nhau tưng bừng.
- Trái lại, còn ở cuối tháng chạp năm cũ, mà đã Lập Xuân (Lập xuân đến sớm), nếu ai sanh vào khoảng ấy tức thì đuợc tuổi mới ngay.
Ví dụ 1: Năm Quý Sửu (1973) ngày mồng 2 tháng 01 giờ Thìn Lập Xuân. Em A, sanh vào giờ Mão trước giờ Lập xuân thế là chịu tuổi Nhâm Tý của năm cũ.
Ví dụ 2: Năm Tân Hợi (1971) ngày 21 tháng 12 giờ Dần Lập xuân, em B sanh vào giờ Mão, ngay sau Lập xuân 1 giờ, thế là được tính tuổi Nhâm Tý năm mới.
Để có một cái nhìn tổng quát về các tuổi, nên lập Bảng sau đây:
Bảng Lục Thập Hoa Giáp (L.T.H.G) và Nạp Âm
a). Thế nào là Lục Thập Hoa Giáp?
Tất cả các người sanh trên trái đất này, dù có mấy ngàn triệu người, nếu tính theo Can Chi, thì cũng chỉ có 60 tuổi không hơn không kém.
Tại sao thế? Tại vì chỉ có 10 Can phối hợp với 12 Chi mà thành ra.
Trên đã nói: Can Âm tìm Chi Âm để hợp, Can Dương tìm Chi Dương để hợp.
Vậy làm con tính nhân nhỏ:
5 Can Âm x 6 Chi Âm : 30 tuổi Can – Chi Âm.
5 Can Dương x 6 Chi Dương : 30 tuổi Can – Chi Dương.
Tổng cộng : 60 tuổi Can – Chi
60 tuổi Can – Chi này hợp thành một bảng gọi là bảng Lục Thập Hoa Giáp. Thời gian từ khai thiên Lập địa đến mãi mãi sau này, cũng chỉ thâu tóm vào trong cái bảng này.
Bất sanh bất diệc, mặc dù loài người và vạn vật sanh sanh diệt diệt vô cùng tận.
Vì trở đi trở lại chỉ có 60 tuổi Can – Chi, nên mỗi tuổi Can – Chi 60 năm về trước hay 60 năm về sau, mới lại thấy trùng một lần.
Ví dụ: Một em bé sanh năm Giáp Dần lên 1 tuổi, thì chỉ có ông già lên 61 tuổi, sanh trước em 60 năm, là cùng tuổi Giáp Dần. Hoặc cháu chắt em bé ấy, 60 năm nữa mới sanh ra, thì cũng tuổi Giáp Dần. Lẽ này chứng minh tại sao trong mỗi Cung của 12 Chi, chỉ có 2 tuổi làm khởi điểm 1 và 61.
b). Thế nào là Nạp Âm?
Mỗi người trong chúng ta, ai cũng đội một tên Can – Chi trong bảng L.T.H.G. Nên mỗi người được bẩm thụ 1 Mạng thuộc vào một trong Ngũ hành. Mạng ấy tức là Nạp âm.
Ví dụ: Tuổi Giáp Dần mạng Thủy, hay nói là: Nạp âm Thủy cũng thế.
Lưu ý 3: Hành của Mạng do Can – Chi phối hợp, khác với hành của Can và của Chi tách riêng. Ví dụ: Giáp Dần mạng Thủy, nhưng tách riêng thì Giáp thuộc Mộc, Dần thuộc Mộc, Quý Sửu mạng Mộc nhưng tách riêng thì Quý thuộc Thủy và Sửu thuộc Thổ.
Lưu Bị
15-06-2005, 10:16 AM
Bảng Lục Thập Hoa Giáp (Nạp Âm)
Giáp Tí Ất Sửu Hải Trung Kim (Hải)
Bính Dần Đinh Mão Lô Trung Hỏa (Lô)
Mậu Thìn Kỷ Tỵ Đại Lâm Mộc (Đại)
Canh Ngọ Tân Mùi Lộ Bàng Thổ (Lộ)
Nhâm Thân Quý Dậu Kiếm Phong Kim (Kiếm)
Giáp Tuất Ất Hợi Sơn Đầu Hỏa (Sơn)
Bính Tí Đinh Sửu Giản Hạ Thuỷ (Giản)
Mậu Dần Kỷ Mão Thành Đầu Thổ (Thành)
Canh Thìn Tân Tỵ Bạch Lạp Kim (Bạch)
Nhâm Ngọ Quý Mùi Dương Liễu Mộc (Dương)
Giáp Thân Ất Sửu Tuyền Trung Thuỷ (Tuyền)
Bính Tuất Đinh Hợi Ốc Thượng Thổ (Ốc)
Mậu Tí Kỷ Sửu Tích Lịch Hỏa (Tích)
Canh Dần Tân Mão Tùng Bách Mộc (Tùng)
Nhâm Thìn Quý Tỵ Trường Lưu Thuỷ (Trường)
Giáp Ngọ Ất Mùi Sa Trung Kim (Sa)
Bính Thân Đinh Dậu Sơn Hạ Hỏa (Sơn)
Mậu Tuất Kỷ Hợi Bình Địa Mộc (Bình)
Canh Tí Tân Sửu Bích Thượng Thổ (Bích)
Nhâm Dần Quý Mão Kim Bạch Kim (Kim)
Giáp Thìn Ất Tỵ Phú Đăng Hỏa (Phú)
Bính Ngọ Đinh Mùi Thiên Hà Thuỷ
Mậu Thân Kỷ Dậu Đại Dịch Thổ
Canh Tuất Tân Hợi Thoa Xuyến Kim (Thoa)
Nhâm Tí Quý Sửu Tang Chá Mộc (Tang)
Giáp Dần Ất Mão Đại Khê Thuỷ
Bính Thìn Đinh Tỵ Sa Trung Thổ (Sa)
Mậu Ngọ Kỷ Mùi Thiên Thượng Hỏa (Thiên)
Canh Thân Tân Dậu Bạch Lựu Mộc (Bạch)
Nhâm Tuất Quý Hợi Đại Hải Thuỷ (Đại)
a). Cách sử dụng bảng L.T.H.G
- Phải biết hệ thống tổ chức của Bảng thì rồi mới biết cách dùng.
Bảng gồm 6 gia đình, mỗi gia đình 10 người vị chi là 60 người. Mỗi gia đình Can – Chi ấy do một Gia trưởng đứng chữ Giáp cầm đầu. Nên 6 gia đình Can – Chi thì có 6 gia trưởng là : G-Tý. G-Tuất, G-Thân, G-Ngọ, G-Thìn, G-Dần (Xem 6 Giáp trên Bảng ở ngay đầu mỗi gia đình sắp xếp theo hàng ngang và đánh số từ 1 đến 6).
Phải tìm gốc. Tuổi nào muốn biết mạng mình là gì phải tìm đến gốc là Gia trưởng thì mới biết.
Ví dụ: Muốn biết tuổi Canh Thìn mạng gì. Xòe bàn tay trái ra, hay mở tờ địa bàn 12 Cung ra. Đi từ cung Thìn đếm ngược lại. Nói: C-Thìn đến K-Mão, M-Dần, Đ-Sửu, B-Tý, Â-Hợi, sau cùng đến G-Tuất. Đây rồi, cụ Giáp Tuất ơi, cụ là Gia trưởng của C-Thìn, tóm được Cụ, phải theo miết Cụ đến tận nhà số 2 trong khóm Bảng L.T.H.G mà Cụ ở. Rồi điểm từ Cụ, theo hàng ngang đến tuổi C-Thìn thì nhìn thấy chữ Kim. Thế là biết C-Thìn mạng Kim.
Lưu ý 4: Cần biết tuổi nào mạng gì để rồi sau đây xem có hợp với quẻ Hà Lạc hay không.
2. An Can Chi tháng sanh:
Tính tháng về Bát tự cũng khác hẳn lối tính tháng của Tử Vi.
Tháng về Bát tự lệ thuộc vào Can – Chi của năm sanh và vào tiết hậu của mỗi tháng.
a). Can Chi năm sanh chi phối tháng sanh theo nguyên tắc Ngũ Dần sau đây:
Cặp năm Giáp Kỷ khởi tháng 01 ở Bính Dần.
Cặp năm Ất Canh khởi tháng 01 ở Mậu Dần.
Cặp năm Bính Tân khởi tháng 01 ở Canh Dần.
Căn năm Đinh Nhâm khởi tháng 01 ở Nhâm Dần.
Cặp năm Mậu Quý khởi tháng 01 ở Giáp Dần.
Muốn áp dụng Nguyên tắc Ngũ Dần thì trước hết phải biết tên Chi của 12 tháng đã. Dùng bàn tay 12 Chi để đếm.
Tháng 01 (hay Giêng) gọi là tháng Dần
Tháng 02 gọi là tháng Mão
Tháng 03 gọi là tháng Thìn
Tháng 04 gọi là tháng Tỵ
Tháng 05 gọi là tháng Ngọ
Tháng 06 gọi là tháng Mùi
Tháng 07 gọi là tháng Thân
Tháng 08 gọi là tháng Dậu
Tháng 09 gọi là tháng Tuất
Tháng 10 gọi là tháng Hợi
Tháng 11 gọi là tháng Tý
Tháng 12 (Chạp) gọi là tháng Sửu
Biết tên Chi rồi, đi tìm Can của mỗi tháng.
Ví dụ 1: Tuổi Giáp Dần sanh tháng năm. Xem Can Chi tháng là gì? Xòe bàn tay ra để đếm xuôi. Nói: Theo Ngũ Dần, tuổi Giáp khởi tháng 01 ở Bính Dần, vậy tháng 2 ở Đ.Mão, tháng 3 ở M.Thìn, tháng 4 ở K.Tỵ, tháng 5 ở C.Ngọ (C.Ngọ là đáp số của câu hỏi trên).
Ví dụ 2: Tuổi Kỷ Mùi, sanh tháng 3. Xem Can Chi tháng 3. Nói Kỷ ở trong cặp Giáp Kỷ vậy cũng tính như Giáp ở trên tính thấy tháng 3 là M-Thìn.
Bất luận tuổi Giáp là Kỷ gì (G-Thân, G-Tuất, K-Mão, K-Mùi v.v... đều theo luật của cặp G-K mà tính).
Ví dụ 3: Tuổi Quý Tỵ sanh tháng 5, xem Can – Chi tháng 6. Nói: Quý ở trong cặp Mậu Quý, vậy khởi tháng 01 ở Giáp Dần. Đếm xuôi G-Dần, Â-Mão, B-Thìn, Đ-Tỵ, M-Ngọ, K-Mùi.
Theo Ngũ Dần, chỉ cần Can của năm để tính tháng còn Chi của năm đứng ngõ ngoài không nói tới.
Lưu Bị
15-06-2005, 10:36 AM
NGUYỆT BIỂU TRA NĂM RA THÁNG
Năm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Tháng Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sữu
Giáp kĩ B D M K C T M Q G Â B Đ
Ất Canh M K C T N Q G Â B Đ M K
Bính Tân C T N Q G Â B Đ M K C T
Đinh nhâm N Q G Â B Đ M K C T N Q
Mậu Quý G Â B Đ M K C T N Q G Â
Lưu Bị
15-06-2005, 10:37 AM
Cước Chú (I) Bảng L.T.H.G dùng để gọi Can – Chi 60 năm, vừa để gọi Can Chi 60 ngày. Cũng như về năm, mỗi ngày cách trước 60 ngày hoặc cách sau 60 ngày mới lại trùng tên Can Chi một lần. Ví dụ: hôm nay là ngày G.Dần thì 60 ngày trước đây hoặc 60 ngày sau đây mới lại có ngày G-Dần.
b). Tiết hậu của tháng định đoạt vị trí tháng sanh.
Theo Tử vi, sanh tháng nào thì lấy Số theo tháng ấy, sanh tháng 1 thì nhất định là tháng 1, sanh tháng 12 thì nhất định là tháng 12. Tử Vi căn cứ vào con Số mà tính.
Bát tự không thể. Về Bát tự, sanh tháng 01 có khi tính là tháng 12 năm cũ. Sanh tháng 12 năm nay có khi tính là tháng 01 sang năm, thế mới rắc rối cái tơ vò. Đó là vì Bát tự không căn cứ vào con số tháng, mà chỉ căn cứ vào Tiết hậu của tháng (gọi tắt là Tiết). Mỗi tháng có một Tiết, 12 tháng là 12 Tiết. Tiết nào đến thì tháng ấy mới kể, chưa đến chưa kể, mặc kệ mồng 1 mồng 2 v.v... cứ réo lên là đầu tháng rồi đây. Đầu tháng với Tử Vi chứ không đầu tháng với Bát tự, vì tiết tháng của Bát tự nó đến không nhất định, có khi sớm, có khi muộn hàng cả chục ngày. Sự sớm muộn ấy đã thay đổi cả Can Chi của tháng và năm nữa. Nó định đoạt Vị trí tháng sanh, năm sanh là thế.
Vì vậy, muốn tính Can Chi tháng, phải thuộc tên Tiết của 12 tháng (tháng Bát tự gọi là Nguyệt Kiến vì tháng dựng theo Tiết).
Sau đây là Bảng 12 Tiết
Tháng Dần 01 Tiết Lập Xuân
Mão 2 Kinh - Trập
Thìn 3 Thanh – Minh
Tỵ 4 Lập - Hạ
Ngọ 5 Mang - Chủng
Mùi 6 Tiểu - Thử
Thân 7 Lập – Thu
Dậu 8 Bạch - Lộ
Tuất 9 Hàn - Lộ
Hợi 10 Lập – Đông
Tý 11 Đại - Tuyết
Sửu 12 Tiểu – Hàn
Nay đã trang bị đủ dụng cụ: Nguyên tắc Ngũ Dần hoặc Nguyệt Biểu, và bảng 12 tiết rồi thì có thể đi tìm Can Chi của tháng được.
Theo trình tự đi tìm thì:
- Trước hết phải xem Tiết tháng nó đến ngày giờ nào để định đoạt Chi tháng (xem Bách Niên Lịch Phụ chương sách này).
- Biết Chi rồi phải nhờ đến Ngũ Dần và Nguyệt Biểu để gọi ra Can tháng, cũng như phải có người Bố để khai họ tên cho Con (Can là họ và Chi là tên).
Bây giờ đi vào áp dụng:
- Ví dụ 1: Trường hợp tháng sanh đúng Tiết.
Năm Tân Dậu, sanh tháng 4, ngày 21.
(Xem Bách Niên Lịch) Tiết Lập Hạ tháng 4 đã đến từ lúc giờ Tỵ, ngày 29 tháng 3. Sanh 21 tháng tư sau Tiết Lập Hạ, mà chưa sang Tiết Mang Chủng tháng 5, thì vẫn còn ở tháng 4, nên được đặt tên Chi là tháng Tỵ.
- Tra Nguyệt Biểu thì thấy cặp Bính – Tân (tuổi Tân Dậu) đặt họ cho tháng Tỵ là Quý. Vậy là tháng Quý - Tỵ, nên có thể an:
Năm Tân Dậu tháng Quý Tỵ.
Ví dụ 2: Trường hợp tháng sanh lệch Tiết.
Năm Nhâm Thìn, sanh tháng 2 mồng 1.
- Mồng 10 tháng 2, tiết Kinh Trập mới đến Người này tuy sanh vào tháng 2, nhưng ông chủ mới là tiết Kinh - Trập chưa đến, thì hẳn còn phải chịu mệnh lệnh của ông chủ cũ mà tiết Lập Xuân tháng 01, nên được đặt tên Chi là Dần (Cũng coi như sanh vào tháng Dần, vì ai bảo cậu ra đời sớm trước Tiết).
- Tra Nguyệt Biểu thì thấy cặp Đinh Nhâm đặt họ cho tháng Dần là Nhâm. Vậy là tháng Nhâm Dần nên có thể an:
Năm Nhâm Thì tháng Nhâm Dần.
Ví dụ 3: Trường hợp tháng sanh lệch Tiết, mà lệch luôn cả năm sanh: lệch Tiến Bộ (1).
Năm Bính Ngọ, tháng 12 ngày 27.
- Ngày 25 tháng 12 đã Lập Xuân của năm sau là Đinh Mùi, sanh ngày 27 sau Lập Xuân, nên được hưởng tuổi năm mới là Đinh Mùi. Và Lập Xuân là tiết của tháng Dần nên cũng được coi như sanh tháng Dần.
- Cặp Đinh Nhâm cho thấy Can của tháng Dần là Nhâm. Vậy có thể an:
Năm Đinh Mùi, tháng Nhâm Dần.
Lưu ý 5: Xem ví dụ trên, người sanh tháng 12 năm trước, mà tính là sanh tháng 01 năm sau kể cũng kỳ. Nhưng đó là cái hay đặc biệt, rất khoa học của môn Bát tự, vì nó căn cứ vào Tiết hậu là cái gì có sự thật mà kinh nghiệm thời gian của Âm Dương Lịch hàng mấy ngàn năm đã chứng minh.
Ví dụ 4: Trường hợp tháng sanh lệch Tiết mà lệch luôn cả năm sanh: Lệch Thoái bộ (2).
Năm Quý Mão, tháng 01 ngày 10.
Ngày 11 tháng 01 mới, Lập Xuân Quý Mão. Vậy sanh ngày 10 trước Lập Xuân, thì còn phải chịu tuổi năm cũ là Nhâm Dần. Vì chịu tuổi năm cũ, nên tháng sanh cũng phải bỏ tháng 01 để theo tháng 12 năm cũ, tức là bỏ tháng Dần mà lui về tháng Sửu.
- Cặp Đinh Nhâm cho thấy Can của tháng Sửu là Quý. Vậy có thể an:
Năm Nhâm Dần tháng Quý Sửu.
3. An Can Chi ngày sanh:
Tìm ngày sanh giản dị hơn tìm tháng sanh nhiều. Chỉ cần tra ở Bách Niên Lịch trong sách này.
Trong Lịch mỗi tháng chỉ nên ra Can Chi của 3 ngày: Mồng 1, 11 và 21. Những ngày khác thì dùng bàn tay 12 Chi để tính ra được cả. Những ngày từ 01 đến 10 thì khởi từ 01 cứ thuận Can Chi mà đếm đi đến ngày sanh. Những ngày từ 11 đến 20 thì khởi từ 11 cứ thuận Can Chi mà đếm đến ngày sanh. Những ngày từ 21 đến cuối tháng (29 tháng thiếu hay 30 tháng đủ), thì khởi từ 21 mà đếm thuận đến ngày sanh.
Ví dụ 1: Năm Bính Dần tháng 10 ngày 8.
Tra Bách Niên Lịch và tính theo như trên thì tháng 10 là Kỷ Hợi.
- Ngày 01 tháng 10 là Mậu Tuất, dùng bàn tay 12 Chi mà tính thuận ngày thì 1 ở Tuất, 2 ở Hợi, 3 ở Tý, 4 ở Sửu, 5 ở Dần, 6 ở Mão, 7 ở Thìn, 8 ở Tỵ. Lại tính Mậu ở Tuất thì, tính thuận Kỷ ở Hợi, Canh ở Tý... đến Ất ở Tỵ. Vậy ngày 8 tháng 10 là ngày Ất Tỵ, có thể an:
Năm Bính Dần, tháng Kỷ Hợi, ngày Ất Tỵ.
Ví dụ 2: Năm Đinh Dậu, tháng 3 Giáp Thìn, ngày 26, tra Bách Niên Lịch thì ngày 21 tháng 3 là Nhâm Tuất. Tính thuận 22 là Quý Hợi, 23 là Giáp Tý... đến 26 là Đinh Mão. Có thể an: Năm Đinh Dậu tháng Giáp Thìn, ngày Đinh Mão.
4. An Can Chi giờ sanh:
Giờ đây là giờ Âm lịch, thường dùng để tính số, và gồm 2 giờ đồng hồ. Một ngày đêm có 24 giờ đồng hồ, thì chỉ có 12 giờ Âm lịch, nghĩa là 1 giờ Âm lịch gồm 2 giờ đồng hồ.
Sách Tử Vi nào cũng nói về giờ. Tiện đây cũng viết ra để độc giả khỏi mất công đi tìm kiếm.
12 Giờ Âm Lịch là
1. Giờ Tý từ 23g đến 01g.
2. Giờ Sửu từ 01g đến 03g.
3. Giờ Dần từ 03g đến 05g.
4. Giờ Mão từ 05g đến 07g.
5. Giờ Thìn từ 07g đến 09g.
6. Giờ Tỵ từ 09g đến 11g.
7. Giờ Ngọ từ 11g đến 13g.
8. Giờ Mùi từ 13g đến 15g.
9. Giờ Thân từ 15g đến 17g
10. Giờ Dậu từ 17g đến 19g.
11. Giờ Tuất từ 19g đến 21g.
12. Giờ Hợi từ 21g đến 23g.
Lưu ý 6: Muốn cho dễ nhớ, đem bảng địa bàn 12 cung mà viết thêm số giờ vào từng cung từ Tý đến Hợi.
b). Bảng giờ trên đây là giờ chính thức. Nhưng từ hồi 1943 xảy ra chiến tranh ở Việt Nam, liên miên tới ngày nay, đồng hồ của nhà nước có vặn lại nhiều lần, khi thì lấy nhanh lên 1 hay 2 giờ, khi thì trở lại giờ chính thức. Nhà Lý Số cần biết để tính giờ cho đúng.
Sau đây là bảng giờ của đồng hồ vặn lại.
Từ 01/1/1943 đến 9/3/1945, giờ Tý từ 0g đến 2g (nhanh lên 4g).
Từ 09/3/1945 đến 01/9/1945, giờ Tý từ 1g đến 3g (nhanh lên 2g).
Từ 02/9/1945 đến 28/2/1946, giờ Tý từ 23g đến 1g (tức giờ chính thức).
Từ 01/3/1946 đến 30/6/1955, giờ Tý từ 0g đến 2g (nhanh lên 4g).
Từ 01/7/1955 đến 31/12/1959,giờ Tý từ 23g đến 1g (tức giờ chính thức).
Từ 01/1/1960 đến nay, giờ Tý từ 0g đến 2g (nhanh lên 1g).
Can Chi giờ sanh
a). Can của giờ sanh hoàn toàn do Can của ngày sanh định đoạt cũng như Can của tháng sanh hoàn toàn do can của năm sanh định đoạt. Chỉ dùng Can thôi chứ không dùng Chi, cũng như Cha khai tên họ cho con.
b). Muốn tính Can Chi giờ sanh thì cần biết nguyên tắc Ngũ Tý sau đây, rồi xòe bàn tay 12 Chi ra, đếm xuôi cả Can lẫn Chi từ cung Tý đến giờ sanh thì ngưng. Nguyên tắc Ngũ Tý.
Cặp ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tý.
Cặp ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tý.
Cặp ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tý.
Cặp ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tý.
Cặp ngày Mậu Tý khởi giờ Nhâm Tý.
Ví dụ: Năm Tân Dậu, tháng Quý Tỵ.
Ngày Tân Mão, giờ... Thìn.
Tính: Theo nguyên tắc Ngũ Tý trên thì ngày Tân Mão thuộc cặp Bính Tân, vậy khởi giờ Mậu Tý. Đếm Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn. Điều chữ Nhâm vào chỗ giờ Thìn, ở trên thành giờ Nhâm Thìn.
Thời này dùng software lẹ hơn nên các bác, huynh tỹ chĩ cần dùng phần lấy lá số bên thương việt sau đó có bát tự
là năm tháng ngày giờ gồm 8 chữ nên là bát tự như là cũa lưu bị
Năm Bính Dần tháng: Giáp Ngọ Nga`y: Nhâm Dần Giờ: Đinh Mùi
Lưu Bị
15-06-2005, 10:51 AM
TÓM LƯỢC CHƯƠNG A
BÁT TỰ
I. Muốn lấy số Hà Lạc, trước hết phải lấy Bát tự của số, nghĩa là Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ sanh.
II. Muốn an Can Chi, trước hết phải thuộc lòng tên 10 Can và 12 Chi và đếm được ngược xuôi trên bàn tay cũng như trên địa bàn 12 cung, lại cần nhớ, Can Chi nào thuộc Âm hay Dương và thuộc hành gì (THỦY, HỎA, MỘC, KIM, THỔ)
1). An Can Chi năm sanh:
Cần nhớ 2 nguyên tắc về:
- Cung và Tuổi khởi điểm để đếm: 1 và 61.
- Cách đếm 2 vòng:
a). Vòng thuận đếm từng chục tuổi.
b). Vòng nghịch đếm số lẻ dưới một chục.
Có 2 ví dụ: Lấy 1 tuổi làm khởi điểm, lấy 61...
Tính tuổi Bát tự căn cứ vào Tiết Lập Xuân, ví dụ:
Em A sanh trước Lập Xuân nên chịu tuổi năm cũ.
Em B sanh sau Lập Xuân được tuổi năm mới.
Bảng Lục Thập Hoa Giáp và Nạp Âm để giải thích.
a. Tại sao chỉ có 60 tuổi Can Chi?
b. Nạp âm tức Mạng thuộc Ngũ hành.
c. Cách sử dụng Bảng L.T.H.G để tìm mạng của tuổi.
2). An Can Chi tháng sanh
a). Can của năm sanh gọi là Can tháng sanh: Cần nhớ Luật Ngũ Dần, Bảng tên 12 Chi tháng và Nguyệt biểu.
b). Tiết hậu của tháng quyết định tháng sanh, sanh sau Tiết tháng nào thì mới kể là sanh vào tháng ấy (Cần nhớ tên 12 Tiết). Áp dụng, có 4 ví dụ (sanh đúng Tiết, Lệch Tiết mà không lệch năm, Lệch tiến bộ, lệch thoái bộ).
3). An Can chi ngày sanh.
Tra bảng niên lịch và khởi đếm từ 3 ngày trong tháng: ngày 01, 11, 21.
4). An Can Chi giờ sanh.Phải tính giờ chính thức.
a). Can ngày sanh quyết định Can giờ sanh.
b). Nhớ Luật Ngũ Tý và xem Nhật biểu.
CHƯƠNG B
TỪ BÁT TỰ ĐẾN SỐ VÀ QUẺ HÀ LẠC
Số Hà Lạc tức là số Hà Đồ Lạc Thư gọi tắt.
Trước khi tìm hiểu tại sao Hà Đồ Lạc Thư lại có số và những con số gì, thì ta hãy cứ theo đúng những nguyên tắc mà phương pháp Hà Lạc đã đặt ra, để ta dựng thành một công thức số Hà Lạc đi đã. Đây nói công thức là vì đường đi vào toán học toàn số là số mặc dù đơn sơ nhưng cũng cần phải nhớ thì mới tính được Hà Lạc.
Trên đầu Chương A đã nói: Số Hà Lạc là do Bát tự chuyển hình mà thành. Vậy phải lần lượt đi qua các giai đoạn chuyển hình ấy.
I. Bát tự chuyển hình ra số Hà Lạc:
Bát tự chỉ có Can và Can Chi. Vậy muốn đổi Can ra số thì phải biết Bảng trị số (1) của Can và Chi.
a). Bảng trị số của Can
Mậu : 1
Ất và Quý : 2
Canh : 3
Tân : 4
Nhâm Giáp : 6
Số 5 đứng giữa không đi với Can nào.
Đinh : 7
Bính : 8
Kỷ : 9
Lưu ý 7: Chưa cần hiểu tại sao Can – Chi có những trị số ấy và tại sao sắp xếp như trên, không theo thứ tự Giáp, Ất, Bính, Đinh v.v... sẽ có trang giải thích sau.
b). Bảng trị số của Chi
Hợi Tý là Thủy : Sanh ở số 1, thành ở số 6.
Tý Ngọ là Hỏa : Sanh ở số 2, thành ở số 7.
Dần Mão là Mộc : Sanh ở số 3, thành ở số 8.
Thân Dậu là Kim : Sanh ở số 4, thành ở số 9.
Thìn Tuất - Sửu Mùi là Thổ: Sanh ở số 5, thành ở số 10.
Biết 2 Bảng trị số rồi, bây giờ chỉ chiếu theo đó mà đổi Can – Chi ra số.
c). Áp dụng ví dụ 1
Năm Tân 4 Dậu 4.9
Tháng Quý 2 Tỵ 2.7
Ngày Tân 4 Mão 3.8
Giờ Nhâm 6 Thìn 5.10
Ví dụ 2:
Năm Bính 8 Dần 3.3
Tháng Kỷ 9 Hợi 1.6
Ngày Ất 2 Tỵ 2.7
Giờ Bính 8 Tuất 5.10
d). Thực tập.
Độc giả lấy một mảnh giấy, viết đủ năm, tháng, ngày, giờ sanh sau đây, rồi An ra Can Chi. Xong rồi đổi Can Chi ấy ra số Hà Lạc. Khi đổi xong, hãy xem đáp số ở dưới để kiểm soát.
Đề toán Hà Lạc
1. Năm Kỷ Sửu, tháng 3, ngày 26, giờ Dần
2. Năm Quý Tỵ, tháng 7, ngày 11, giờ Mùi.
3. Năm Ất Mùi, tháng 11, ngày 03, giờ Tỵ.
4. Năm Đinh Dậu, tháng 3, ngày 26, giờ Tuất.
Lưu ý 8. Muốn làm những bài toán trên đây, cần luôn luôn nhớ 2 nguyên tắc Ngũ Dần và Ngũ Tý. Bảng 12 Tiết, Nguyệt biểu, Nhật biểu và 2 Bảng trị số Can Chi.
Tra Bảng Niên lịch ở cuối sách này.
Bàn tay 12 Chi luôn luôn chuyển động, ngón tay cái chỉ trỏ vào các cung trên đốt tay (Bàn tay này thật quan trọng chẳng cớ mà Bài Ca Kỳ Môn Giáp Độn phải có câu: Trời Đất đều thu vào 1 bàn tay (Thiên Địa đô lai nhất chưởng trung).
Giải đáp:
1). Năm Kỷ 9 Sửu 5.10
Tháng Mậu 1 Thìn 5.10 (Tiết Thanh Minh: 8-3).
Ngày Quý 2 Mùi 5.10
Giờ Giáp 6 Dần 3.8
2). Năm Quý 2 Tỵ 2.7
Tháng Canh 3 Thân 4.9 (Tiết Lập Thu 29-6)
Ngày Nhâm 6 Dần 3.8
Giờ Đinh 7 Mùi 5.10
3). Năm Ất 2 Mùi 5.10
Tháng Mậu 1 Tý 1.6 (Tiết Đại Tuyết 25-10).
Ngày Tân 4 Hợi 1.6
Giờ Quý 2 Tỵ 2.7
4). Năm Đinh 7 Dậu 4.9
Tháng Giáp 6 Thìn 5.10 (Tiết Thanh Minh 6-3).
Ngày Đinh 7 Mão 3.8
Giờ Canh 3 Tuất 5.10
Nguyên lai số Hà Lạc
Đã biết: Hà là Hà đồ, Lạc là Lạc thư tức là cái Đồ biểu ở sông Hà, và cái sách ở sông Lạc. Nay muốn tìm hiểu sơ qua tại sao Hà Lạc có số và những con số gì, xin trích dịch dưới đây một trang chữ Hán ở quyển 1 sách Hà Lạc Lý Số của Trần Hy Di Tiên sinh tên là Trần Đoàn, tự là Đồ Nam, sanh ở cuối đời Đường (618-906), nước Trung Hoa xưa.
1-. Thiên nói về Hà Đồ
Hình vẽ
Xưa con Long Mã đội cái Đồ biểu có:
1 chấm trắng, 6 chấm đen ở trên lưng gần đuôi.
7 chấm trắng, 2 chấm đen ở trên lưng gần đầu.
3 chấm trắng, 8 chấm đen ở bên tả lưng.
9 chấm trắng, 4 chấm đen ở bên hữu lưng
5 chấm trắng, 10 chấm đen ở giữa lưng.
Vua Hy Hoàng cùng họ Đại Nao định nghĩa rằng:
Số 1.6 ở phía dưới hợp phương Bắc sanh ra Thủy thuộc cung Tý Hợi.
Số 2.7 ở phía trên hợp phương Nam sanh ra Hỏa thuộc cung Tỵ Ngọ.
Số 3.8 ở phía Tả hợp phương Đông sanh ra Mộc thuộc cung Dần Mão.
Số 4.9 ở phía Hữu hợp phương Tây sanh ra Kim thuộc cung Thân Dậu.
Số 5.10 ở giữa hợp phương Tây sanh Thổ thuộc cung Thìn Tuất Sửu Mùi.
Địa Chi của Bát Tự bắt đầu có số từ đó:
Tiếp đến Đồ Nam tiên sinh bèn đem Can Chi năm tháng, ngày, giờ sanh của con người phối hợp với số của Lạc Thư, kết quả sau biết được cái mà trời đất phú bẩm cho từng người nó dày mỏng như thế nào. Đạo Đại Dịch bỗng nhiên lại lóe sáng. Thật đáng gọi là một cái công đối với Tiên Thánh. Kẻ học giả về sau, nếu coi đây như một đồ chơi Kỷ Hà Học thì chẳng hóa ra rơi vào điều tự bạo tự khi lắm thay.
2). Thiên nói về Lạc Thư:
Hình vẽ
Con Rùa sông đội sách là một thứ đại quy, lưng có một vạch dài 2 vạch ngắn là nét chữ.
Gần đuôi có 1 chấm trắng.
Gần đầu có 9 chấm tía.
Lưng bên hữu có 2 chấm đen.
Lưng ben tả có 4 chấm xanh biếc.
Gần chân bên hữu có 6 chấm trắng.
Gần chân bên tả có 8 chấm trắng.
Sườn bên tả có 3 màu xanh lục.
Sườn bên hữu có 7 màu đỏ.
Giữa lưng có 5 chấm vàng.
Tất cả gồm 9 vị trí và 7 màu sắc. 9 vị ấy định phương hướng. Còn nhân có 2 vạch mới đặt ra hào.
1. Chấm trắng gần đuôi là quẻ Khảm.
2. Chấm đen ở vai bên hữu là quẻ Khôn.
3. Chấm màu xanh lục ở sườn bên Tả là Chấn
4. Chấm biếc ở vai bên tả là Tốn.
6. Chấm trắng gần chân bên hữu là Kiền (hay Càn)
7. Chấm đỏ ở sườn bên hữu là Đoài.
8. Chấm trắng gần chân bên Tả là Cấn.
9. Chấm tía gần đầu là Ly.
Số 5 ở giữa (trung ương) là cái cốt yếu để sinh ra 8 phương 8 quẻ. Lạc Thư là cái biểu tượng do Thần quy sông Lạc mà có vậy.
Lưu ý 9.
a). Bản dịch trên theo đúng Nguyên văn chữ Hán con Long Mã hay con Thần Quy. Có sự thực hay không điều đó phạm vi và mục đích của quyển sách này không cho phép bàn đến. Dù có, dù không thì Hà Đồ Lạc Thư vẫn là 2 biểu tượng tối sơ cho nền trí thức đời Thượng Cổ Á Đông, nó gồm nhiều môn học: Triết, Toán, Ngũ hành, Phương vị v.v... Biểu tượng ấy đem dùng vào môn Lý Số để tìm hiểu Mệnh vận con người, qua kinh nghiệm mấy ngàn năm, đã chứng minh cho thấy nhiều cái đúng về phương diện nào. Vậy thì nó không phải là không có Căn bản khoa học. Sở dĩ người ta còn gọi môn Lý số là khoa học huyền bí là vì người ta chưa tìm được đủ điều kiện để trình bày nó theo đúng phương pháp mới mà các khoa học ngày nay đòi hỏi.
b). Mục đích của ban dịch trên là để đặt sự liên hệ về toán học giữa những Can Chi của Bát tự với Hà đồ Lạc thư mà những con số được chọn làm Chủ điểm.
Về 12 Chi chỉ dùng phép tam đoạn luận sơ đẳng cũng nhìn thấy ngay liên hệ ấy.
Ví dụ: (Tiền đề) hành Thủy có số 1.6
(Hậu đề) Tý Ngọ là Thủy.
(Đoán Án) vậy Tý Ngọ có số 1.6.
Các Chi khác cũng đồng Lý luận.
Về 10 Can. Nhìn bảng trị số thấy có vẻ lộn xộn vì 2 lẽ:
Hàng Can không sắp theo thứ tự cũ: Giáp, Ất, Bính, v.v... 10 Can phải đảo lộn theo trật tự của hàng số 1, 2, 3... đến 9.
Những số 1, 2, 3... 9 đến với Can một cách đột ngột không có trung gian giới thiệu, phải tìm trung gian ấy ở đâu?
Tìm ở Lạc thư. Đó là 8 quẻ trong Bảng 10 Can phối quẻ sau đây mà còn gọi là Bảng nạp giáp nữa.
Bảng 10 Can phối quẻ (Nạp Giáp)
8 quẻ trên Lạc Thư của Trần Quy đều có con số.
10 Can theo 8 Quẻ ấy, nên cũng được phối vào những con số ấy.
Mậu theo Khảm nên được phối số 1 của Khảm.
Ất – Quý theo Khôn nên được phối số 2 của Khôn.
Canh theo Chấn nên được phối số 3 của Chấn.
Tân theo Tốn nên được phối số 4 của Tốn.
Số 5 đứng giữa một mình.
Nhâm Giáp theo Kiền nên được phối số 6 của Kiền.
Đinh theo Đoài nên được phối số 7 của Đoài.
Bính theo Cấn nên được phối số 8 của Cấn.
Kỷ theo Ly nên được phối số 9 của Ly.
Để cho dễ nhớ, độc giả biết chữ Nho, nên học thuộc lòng mấy câu sau đây:
Bát tự Thiên Can phối quái lệ
N. G. tòng Kiền số, Â. Q. hướng Khôn cầu.
C lai chấn thượng lập, T. tại Tốn phương du.
B. Ư. Cấn môn lập: K. dĩ Ly vi đầu.
M. tu Khảm xứ xuất Đ. hướng Đoài gia lưu.
II. Tìm tổng số âm và tổng số dương:
Bát tự đã chuyển hình hết ra số Hà Lạc cả rồi. Bây giờ phải sắp xếp Âm với Âm, Dương với Dương, để làm 2 toán cộng, tìm 2 tổng số Âm và Dương.
1). Trước hết phải biết sắp xếp theo trật tự nào?
Theo trật tự
Tuổi Dương nam Âm nữ thì Dương trên Âm dưới.
Tuổi Âm nam Dương nữ thì Dương dưới Âm trên.
Thế nào là tuổi Dương – Nam Âm - Nữ?
Đàn ông mà Can Chi của năm là Dương như Giáp Dần, Bính Thìn v.v... là dương nam.
Đàn bà mà Can Chi của năm là Âm như Ất Mão, Đinh Tỵ v.v... là Âm nữ.
Trái lại:
Nếu đàn ông mà Can Chi năm là Âm như Ất Mão, Quý Tỵ v.v... là Âm nam.
Nếu đàn bà mà Can Chi năm là Dương như Giáp Dần, Bính Thìn v.v... là Dương nữ.
2). Thông qua điều lệ nội quy rồi, bây giờ áp dụng
Ví dụ 1:
Năm Kỷ 9. Sửu 5.10 tuổi Âm Nữ (Dương trên Âm dưới).
Tháng Mậu 1. Thìn 5.10
Ngày Quý 2. Mùi 5.10
Giờ Giáp 6. Dần 3.8
Sắp xếp (1)
Tổng số Dương (Số lẻ): 9 + 1 + 5 + 5 + 5 + 3 = 28
Tổng số Âm (Số chẵn): 2 + 6 + 10 + 10 + 10 + 8 = 46 (2)
Ví dụ 2:
Năm Đinh 7 Dậu 4.9 (tuổi Âm Nam, Âm trên Dương dưới).
Tháng Giáp 6 Thìn 5.10
Ngày Đinh 7 Mão 3.8
Giờ Canh 3 Tuất 5.10
Tổng số Âm : 6 + 4 + 10 + 8 + 10 = 38
Tổng số Dương : 7 + 7 + 3 + 9 + 5 + 3 + 5 = 39
Cước chú:
1). Sắp xếp dọc ngang, xuôi ngược tùy ý, miễn là số Âm phải vào hàng Âm, số Dương vào hàng Dương. Và nhớ đếm 2 hàng, tất cả có 12 con số, đừng bỏ sót con số nào (vì 4 Can là 4 số, 4 Chi là 8 số, cộng là ra số).
2). Tổng số Dương có thể là 1 số lẻ hay số chẵn. Còn tổng số âm bao giờ cũng là số chẳn (vì lẻ số cộng với số lẻ có thể thành chẳn như 1 + 3 thành 4, còn số chẵn cộng với số chẵn thì vẫn là chẵn như 2 + 4 là 6).
III. Tổng số chuyển hình ra quẻ:
Từ khi lọt lòng mẹ ra, ngày sanh tháng đẻ đã chuyển ra Bát tự là một lần. Bát tự nhờ có những bảng trị số của Hà đồ Lạc thư, nên cũng kinh tế hóa, chuyển ra Tổng số Âm Dương là lần thứ hai.
Tổng số ví như người đã giàu có. Phú rồi tự nhiên nghĩ đến quý là lẽ thường tình. Cũng phải có “Danh gì với núi sông”, chứ chỉ nhiều tiền lắm của không thôi thì cũng chẳng thú. Vì vậy Tổng số lại muốn chuyển hình ra Quẻ dịch để vui với chữ nghĩa của Thánh hiền. Như thế là chuyển hình lần thứ ba, khác nào “Vũ môn tam cấp lãng”, vượt cửa Vũ Môn, cá sẽ hóa Rồng. Biện pháp chuyển hình cũng đòi hỏi nhiều đợt kế toán, nhưng tin rằng, một khi đã thông cảm được mọi nguyên tắc thì rùa thủ túc cũng sẽ biết phi, nhanh như ngựa thần.
ĐỢT 1
Đem Tổng số trở về với 9 số hàng đơn của quẻ.
Lý do: 8 quẻ Lạc thư chỉ có số hàng đơn từ 1 đến 9, nên tổng số căn bản tối đa của trời (dương) chỉ có 25.
Vì: 1 + 3 + 5 + 7 + 9 là 25.
Tổng số căn bản tối đa của Đất (Âm) chỉ có 30.
Vì : 2 + 4 + 6 + 8 + 10 là 30.
Thế mà Tổng số Âm và Dương do Bát tự chuyển ra, nhờ sự ngẫu nhiên sinh thành, đã đi tới những con số kếch xù lớn hơn 10, nhiều khi lớn hơn cả Tổng số căn bản của trời đất là 25 và 30.
Không thể để lộng hành thế được. Phải có biện pháp gì để kéo mọi Tổng số hay số sai biệt lớn về với 9 số hàng đơn được coi như mức độ hợp lý không nên quá. Đó cũng là một cách giúp cho Tổng số được phản bản hoàn nguyên vậy. Thì đây biện pháp truy hồi Tổng số. Có nhiều trường hợp:
a). Tổng số Dương lớn hơn 25 thì bớt 25 đi, mà chỉ được phép bớt một lần 25 thôi, còn lại là số sai biệt (hiệu số).
Ví dụ: 29 – 25 còn lại 4.
51 – 25 còn lại 26
b). Tổng số Âm lớn hơn 30: thi bớt 30 đi, mà chỉ được phép bớt 1 lần 30 thôi, còn lại là số sai biệt (hiệu số).
Ví dụ: 38 – 30 còn lại 8
42 – 30 còn lại 12.
c). Những số sai biệt Dương hay Âm từ 10 trở lên gọi là số Sai biệt lớn, đem bớt những hàng chục đi, còn lại là số sai biệt nhỏ.
Ví dụ trên: 26 – 20 còn lại 6
12 – 10 còn lại 2.
d). Những số sai biệt lớn bằng 10 hay bội số 10 (như 20, 30, 40.v.v...) (1) trên nguyên tắc đều bị bớt hết không còn gì. Nhưng để tránh cho số sai biệt nhỏ khỏi bị số không (0) nó sẽ tiêu hủy cả con toán, nên đặc biệt giữ lại con số có nghĩa (2) của hàng chục đã bị bớt.
Ví dụ: đáng lẽ 20 – 20 còn lại số 0 thì được đặc ân giữ lại. Con số 2 (là số có nghĩa của 2 chục).
Đáng lẽ 40 – 40 còn lại 0 thì được đặc ân giữ lại con số 4 (là số có nghĩa của 4 chục).
Vì vậy mà xảy ra sự tị nạnh với trường hợp đặc ân trên là 20 giữ lại 2 thì cũng như 22 trừ 20 còn lại 2.
40 giữ lại 4 thì cũng như 44 – 40 còn lại 4.
e). Tổng số Dương bằng 25 hay nhỏ hơn 25, thì theo trường hợp C ở trên (bớt những hàng chục đi).
Ví dụ: 25 – 20 còn lại 5
19 – 10 còn lại 9.
g). Tổng số Âm bằng 30 thì theo trường hợp d) ở trên.
Ví dụ: 30 giữ lại 3.
Tổng số Âm nhỏ hơn 30 thì cũng theo trường hợp c) ở trên.
Ví dụ: 28 – 20 còn lại 8.
h). Trường hợp phức tạp bao gồm nhiều trường hợp trên.
Ví dụ Dương: 51 trừ 25 còn lại 26 (theo a).
26 – 20 còn lại 6 (theo c).
Ví dụ Âm: 60 – 30 còn lại 30 (theo b).
30 giữ lại 3 (theo d).
Lưu ý 10: Những trường hợp trên này phải xem rất kỹ và thực tập nhiều thì mới nhớ được. Nếu tính sai những trường hợp trên, thì công thức Hà Lac của mỗi tuổi sẽ đều sai hết.
Đoạn này sách Hà Lạc chỉ dạy sơ qua. Nhờ kinh nghiệm của Thầy Truyền nên mới có sự phân tích ra nhiều trường hợp như trên. Tuy nhiên, soạn giả sẽ vô cùng cảm ơn nếu có sự phân tích nào hay hơn do học giả bốn phương chỉ bảo:
ÁP DỤNG
Ví dụ 1: Tuổi Âm Nữ Kỷ Sửu (trang 36 và 37)
Tổng số Dương: 28. 28 – 25 : sai biệt Dương là 3
Tổng số Âm: sai biệt Âm là 6.
Ví dụ 2: Tuổi Âm Nam Đinh Dậu (trang 36).
Tổng số Âm 38. 38 sai biệt Âm là 8
Tổng số Dương sai biệt Dương là 4.
Hai tổng số đã bị bớt lần để trở thành những số hàng Đơn gọi là số sai biệt Âm và sai biệt Dương sẵn sàng chuyển hình ra Quẻ.
Đợt 2: Số sai biệt chuyển hình ra quẻ.
- Chỉ cần nhớ bảng 10 Can phối Quẻ với những số của Quẻ thì chuyển được ngay.
Ví dụ trên
Sai biệt Dương 3 là Chấn
Sai biệt Âm 6 là Kiền
Sai biệt Âm 8 là Cấn
Sai biệt Dương 4 là Tốn.
Đến đây mới tạm biết tên Quẻ một cách đơn sơ thế thôi. Bao giờ xem qua mấy Chương sau thì sẽ biết được hơn như:
Quẻ Chấn trên, Kiền dưới, là quẻ Lôi Thiên Đại Tráng.
Quẻ Cấn trên, Tốn dưới, là quẻ Sơn Phong Cổ.
Lưu ý 10: (Rất quan trọng)
Trên Lạc Thư, số 5 đứng giữa một mình, không đi với quẻ nào.
Vậy khi tính Tổng số thấy 5 thì chuyển ra quẻ gì?
Lại phải thuộc luật Tam Nguyên như sau:
Sanh vào Thượn nguyên thì bất luận Âm Dương.
Cứ Nam là Cấn, nữ là Khôn.
Sanh vào Hạ nguyên thì bất luận Âm Dương.
Cứ Nam là Ly, Nữ là Đoài.
Sanh vào Trung Nguyên thì
Dương Nam Âm Nữ là Cấn.
Dương Nữ Âm Nam là Khôn.
Nhưng phải biết Tam Nguyên là gì đã? Đó là danh từ của nhà lý số.
Mỗi chu kỳ 60 năm Hoa Giáp (tức Lục Thập Hoa Giáp) gọi là một nguyên. Cứ 3 chu kỳ Hoa Giáp đi với nhau làm thành 1 chu kỳ lớn gọi la Tam Nguyên, gồm 60 x 3 là 180 năm.
Trong mỗi chu kỳ Tam nguyên, thì chu ky Hoa giáp đầu gọi là Thượng nguyên, chu kỳ hoa giáp thứ hai gọi là Trung nguyên, và chu kỳ Hoa Giáp thứ ba gọi là Hạ nguyên.
Theo sách Hà Lạc Lý số (1) của Trần Hy Di Tiên sinh thì:
- Từ đời Đồng Trị thứ 3 nhà Thanh tức là năm Giáp Tý 1864 đến năm Dân Quốc thứ 12 tức Quý Hợi 1923 thì kể là: Thượng nguyên.
- Từ năm Dân quốc thứ 13 tức Giáp Tý 1924 đến năm Dân quốc thứ 72 Quý Hợi 1983 kể là Trung nguyên.
- Từ năm Dân quốc thứ 73 tức Giáp Tý 1984 đến năm Dân Quốc thứ 132 Quý Hợi 2043 kể là Hạ Nguyên.
TÓM TẮT
Thượng Nguyên 1864 – 1923 là 60 năm (Giáp Tý – Quý Hợi).
Trung Nguyên 1924 đến 1983 là 60 năm (Giáp Tý – Quý Hợi).
Hạ Nguyên 1984 đến 2043 là 60 năm (Giáp Tý – Quý Hợi).
Tam Nguyên 180 năm.
IV. Hóa công, Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí
Ba danh từ này có vẻ siêu hình, do tháng sanh và Can Chi năm sanh mà ra, nhưng đứng riêng như 3 vị Phúc Thần, và nếu ai may được thấy hiện lên trên quẻ số của mình thì thật là vinh dự.
a). Cách tìm Hóa công: Chỉ có 4 Hóa công theo 4 mùa.
- Sanh sau Đông Chí trước Xuân Phân, Hóa công là Khảm.
- Sanh sau Xuân Phân trước Hạ Chí, Hóa công là Chấn.
- Sanh sau Hạ Chí trước Thu Phân, Hóa công là Ly.
- Sanh sau Thu Phân trước Đông Chí, Hóa công là Đoài.
Hóa công chỉ liên hệ với tháng, chứ không liên hệ gì với năm với ngày, với giờ sanh cả. Như một người sanh sau Đông Chí, hành Thủy dương vượng, vậy Hóa công là Khảm quản trị đến trước Xuân Phân 1 ngày mới hết nhiệm kỳ. Nếu số người ấy, quẻ Tiên Thiên hay Hậu Thiên có Khảm, ấy là số có Hóa công.
Nếu không có Khảm là số không có Hóa công. Suy ra các tuổi khác cũng thế.
Hóa công chuyên chủ về đường danh dự. Gặp Hóa công thì hoặc đỗ đạt, hoặc được hưởng ân lộc. Nữ mệnh thì hiền lương đáng làm Mẫu nghi.
b). Cách tìm Thiên nguyên khí, Địa nguyên khí:
Xem Can Chi của năm sanh.
- Giáp, Nhâm, Tuất, Hợi thuộc Kiền là Thiên.
- Ất, Quý, Mùi, Thân thuộc Khôn là Địa.
- Bính, Sửu, Dần thuộc Cấn là Sơn.
- Đinh, Dậu thuộc Đoài là Trạch.
- Mậu, Tý thuộc Khảm là Thủy.
- Kỷ, Ngọ thuộc Ly là Hỏa.
- Canh, Mão thuộc Chấn là Lôi
- Tân, Tỵ thuộc Tốn là Phong.
Phàm Nguyên Khí chỉ liên hệ với Can Chi năm sanh thôi, chứ tháng, ngày, giờ sanh không ăn nhằm gì cả.
Ví dụ: Tuổi Giáp Tuất hoặc Nhâm Tuất mà được quẻ Thiên trách lý, thế là tuổi ấy có đủ cả Thiên nguyên khí và Địa nguyên khí vì rằng Giáp, Nhâm và Tuất đều thuộc Kiền là Thiên. Nếu là tuổi Ất Hợi thì chỉ có địa nguyên khí vì Hợi cũng thuộc Kiền là Thiên còn Ất thì không.
Thiên nguyên khí và Địa nguyên khí chủ về cách phú quý, danh dự nên còn gọi là Quan lộc tinh hay Cáo mệnh tinh, bất luận nam, nữ mà gặp được thì đều cát khánh, nếu tuổi được cả nạp âm nữa thì càng tốt thêm.
TÓM LƯỢC CHƯƠNG B
Từ Bát Tự đến số quẻ Hà Lạc
I). Bát tự chuyển hình ra số Hà Lạc: Cần nhớ 2 bảng trị số Can và trị số Chi, căn cứ trên Hà Đồ của Long Mã và Lạc Thư của Trần Quy.
Nhờ sự trung gian của Ngũ hành trong Hà đồ thì mới đổi Chi được ra số.
Nhờ sự trung gian của 8 quẻ (Bát quái) trong Lạc thư và Bảng 10 Can phối quẻ (nạp Giáp) thì mới đổi Can được ra số.
II). Tìm Tổng số Âm và Tổng số Dương: Can Chi có tất cả 12 con số, vậy phải sắp xếp ra số Âm số Dương để cộng và tìm ra 2 Tổng số.
III). Tổng số chuyển hình ra quẻ: đó là công việc hoán chuyển tuần hoàn.
Can Chi ra Quẻ ra Số
Tổng số ra Quẻ
Phải chuyển ra quẻ thì mới tìm thấy nghĩa lý, còn để nguyên những con Số, thì không biết được gì.
Thế là cái vòng chuyển hình từ Can Chi ra số Hà lạc, từ số Hà Lạc ra quẻ Dịch đã hoàn thành vậy.
IV). Tìm Hóa công, Thiên nguyên khí và Địa nguyên khí
- Hóa công theo tháng sanh, còn Thiên địa nguyên khí theo Can chi năm sanh.
THỰC TẬP
Chuyển hình những Bát tự của mỗi tuổi sau đây ra số Hà Lạc rồi lại chuyển số ra quẻ Dịch. Làm xong đâu đấy rồi hãy xem giải đáp để kiểm soát.
1. Năm Quý Sửu (Âm nam) Tháng Nhâm Tuất
Ngày 24 Đinh Sửu Giờ Ất Tỵ.
2. Năm Đinh Tỵ (Âm nữ) Tháng Nhâm Dần
Ngày 2 Bính Thân Giờ Mậu Tuất
3. Năm Canh Dần (Dương nữ) Tháng Mậu Tý
Ngày 5 Nhâm Ngọ Giờ Kỷ Dậu
4. Năm Bính Tý (Dương nam) Tháng Quý Tỵ
Ngày 4 Bính Ngọ Giờ Tân Mão
5. Năm Canh Thìn (Dương nam) Tháng Đinh Hợi
Ngày 20 Bính Thìn Giờ Kỷ Hợi.
Giải đáp:
1/. Quý 2 Sửu 5.10 Âm Nam
Nhâm 6 Tuất 5.10 Hóa công: Đoài
Đinh 7 Sửu 5.10 T-N-K: Khôn (Không)
Ất 2 Tỵ 2.7 Đ-N-K: Cấn (Không)
Tổng số Âm: 2 + 6 + 2 + 10 + 10 + 10 + 2 là 42
Tổng số Dương: 7 + 5 + 5 + 5 + 7 là 29
42 – 30 còn lại 12; 12 – 10 còn lại 2 là Khôn (Địa)
29 – 25 còn lại 4 là Tốn (Phong).
Quẻ Địa Phong Thăng
2). Đinh 7 Tỵ 2.7 Âm Nữ
Nhâm 6 Dần 3.8 Hóa Công Khảm
Bính 8 Thân 4.9 T.N.K: Đoài (có)
Mậu 1 Tuất 5.10 Đ.N.K: Tốn (không)
T-S-DƯƠNG: 7 + 1 + 7 + 3 + 9 + 5 là 32
T-S-Â : 6 + 8 + 2 + 8 + 4 + 10 là 38
32 – 25 còn lại 7 là Đoài (Trạch)
38 – 30 còn lại 8 là Cấn (Sơn)
Quẻ Trạch Sơn Hàm
3). Canh 3 Dần 3.8 Dương Nữ
Mậu 1 Tý 1.6 Hóa Công: Đoài
Nhâm 6 Ngọ 2.7 T-N-K: Chấn (không)
Kỷ 9 Dậu 4.9 Đ.N.K: Cấn (có)
T.S. : 6 + 8 + 6 + 2 + 4 là 26
T.S.DƯƠNG: 3 + 1 + 9 + 3 + 1 + 7 + 9 là 33
26 – 20 còn lại 6 là Kiền (Thiên)
33 – 25 còn lại là 8 Cấn (Sơn)
Quẻ Thiên Sơn Độn
4). Bính 8 Tý 1.6 Dương Nam
Quý 2 Tỵ 2.7 Hóa Công: Chấn
Bính 8 Ngọ 2.7 T.N.K: Cấn (Có)
Tân 4 Mão 3.8 Đ.N.K: Khảm (Có)
T.S.DƯƠNG: 1 + 7 + 7 + 3 là 18
T.S. : 8 + 2 + 8 + 4 + 6 + 2 + 2 + 8 là 40
18 – 10 còn lại 8 là Cấn (Sơn)
40 – 30 còn lại 10 giữ lại 1 là Khảm (Thủy).
Quẻ Sơn Thủy Mông
5). Canh 3 Thìn 5.10 Dương Nam
Đinh 7 Hợi 1.6 Hóa công: Đoài
Bính 8 Thìn 5.10 T.N.K: Chấn (Không)
Kỷ 9 Hợi 1.6 Đ.N.K: Tốn (Không)
T.S.DƯƠNG: 3 + 7 + 9 + 5 + 1 + 5 + 1 là 31
T.S. : 8 + 10 + 6 + 10 + 6 là 40.
31 – 25 còn lại 6 là Kiền (Thiên)
40 – 30 còn lại 10 giữ lại 1 là Khảm (Thủy)
Quẻ Thiên Thủy Tụng
barca
15-06-2005, 08:16 PM
Cảm ơn Lưu Bị. Tôi bận bịu nhưng ngày nào cũng dành thời gian để lưu bài của Lưu Bị. Người ta nói chia sẻ kiến thức thì kiếp sau được hưởng phước thông minh.Cầu mong Lưu Bị an vui trong cuộc sống.
Lưu Bị
16-06-2005, 12:16 AM
Cảm ơn bác Barca thưởng thức post của cháu,
cháu cũng chúc bác an khang vạn sự cát tường
Thân
Lưu Huyền Đức
Lưu Bị
16-06-2005, 12:37 AM
CHƯƠNG C
HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG QUẺ HÀ LẠC
Chương B trên mới đi tới gọi ra cái tên của quẻ thôi, chứ chưa tường mặt mũi của quẻ ra sao.
Quẻ Hà Lạc về hình thức tức là quẻ Dịch, Dịch hoàn toàn vì mỗi quẻ có 6 hào, và 64 quả là 384 hào, nhưng về nội dung tuy cũng căn cứ vào nghĩa Kinh dịch, nhưng diễn đạt theo lề lối riêng của phép tắc Hà Lạc để giải đoán mệnh vận con người.
Vì vậy trước khi đi vào phần nội dung quẻ Hà Lạc, cần phải thuộc hết tên và hình thức 64 quẻ dịch đã. 64 quẻ dịch lấy ở quyển Kinh dịch, hay Chu dịch, 1 bộ kinh vào hàng cổ nhất, quý nhất trong nên học vấn tư tưởng của Á Đông xưa.
I. Kinh Dịch cho biết hình thức quẻ Hà Lạc:
Trước hết nên biết sơ qua sự tích lai lịch của Kinh Dịch. Sau đây là bài dịch nguyên văn trang chữ Hán trích ở đầu quyển Hà Lạc Lý Số của Trần Hy Di Tiên sinh.
Bài tựa đại dịch Nguyên Lưu
Sách Bát quái bắt đầu từ Phục Hy, có sách mà không có chủ gì. Đó là Dịch Tiên Thiên.
64 quẻ do Văn Vương lấy 8 quẻ chồng lên nhau. Dưới mỗi quẻ có từ (lời). Đó là Dịch Hậu Thiên.
Mỗi hào là 1 biểu tượng mà không có chữ chữ gì, thì Đạo dịch không rõ ràng ra được, nên Chu Công đặt lời tượng vào dưới Hào.
Bên đến Khổng Phu Tử làm ra Hệ tứ thập truyên gồm cả Tiên Thiên, Hậu Thiên, mà tổng quát hết ý nghĩa. Đến đây gọi là Dịch Trung Thiên vậy.
Nói rõ về Quẻ, Hào, Soán Tượng trong Chu Dịch
Dịch bắt đầu từ Hy Hoàng (Phục Hy) tại sao chỉ gọi là Chu Dịch? Tại vì rằng Dịch trải qua 4 đời Thánh Nhân đến Chu Công mới thật đầy đủ nên gọi là Chu Dịch.
Dịch là sự biến đổi của Âm Dương, theo nghĩa hội ý của 2 chữ Nhật, Nguyệt mà thành vậy.
Dịch có 2 nghĩa: Giao dịch là Âm dương, đối đãi với nhau, và Biến dịch là Âm dương lưu hành.
Quẻ là treo lên, như treo cao một vật dùng làm biểu tượng cho người ta nhìn nhận thấy.
Quẻ có 6 vạch là theo khuôn phép Lục khí của Trời Đất.
Hào là do cái ý nghĩa cái nọ cái kia Tương giao mà thành. Hào lại là dấu hiệu của mọi sự dao động trong thiên hạ.
Lời (Từ) của Văn Vương đặt ở dưới quẻ, gọi tên là Soán, bởi nghĩa làm sao? Bởi vì có con Mao Tê binh 1 sừng mà lại tri cơ biết trước được điềm lành. Răng nó rắn lắm, cắn đứt được mọi vật, nên lấy đó, để tỏ rõ ý quyết định đoán được nghĩa quẻ.
Hệ Từ của Chu Công gọi là Đại Tượng, Tiểu Tượng, bởi nghĩa làm sao? Bởi rằng: Tượng (con Voi) là loài thú lớn nhất nơi hoang vu. Tượng có đủ 100 thứ thịt của loài vật, có thể chia đếm được giống như Hào có đủ nghĩa lý của 100 sự vật Tượng có 12 thứ thịt phối vào với 12 Chi.
Trên đây là truyện bày ra cho người mới học. Dịch dễ hiểu, bậc học giả về Kinh Sách ắt bỉu dài môi nhỉ?
1). Vạch và Hào: Theo Lạc Thư thì trên lưng Thần Quy có 2 vạch, 1 vạch dài và 2 vạch ngắn.
____ 1 Vạch dài (còn gọi là Vạch liền) tức là Dương
__ __ 2 Vạch ngắn (còn gọi là Vạch đứt) tức là Âm
Khi sắp xếp vào Quẻ thì 1 vạch dài gọi là hào dương, còn 2 vạch ngắn gọi là hào âm.
Lấy tính chất chung phối hợp với sự vật mà nói thì:
Âm Dương
- Ưa tĩnh, lạnh, mềm : - Ưa động, nóng, cứng.
Hợp với Nữ với đêm tối : Hợp với nam với sáng ngày.
Hợp với Can Chi Âm, với số chẳn : Với Can Chi Dương với số lẻ.
2). 8 quẻ đơn: Xem hình vẽ Lạc thư (trang 39) thì bắt đầu từ bên phải ở dưới, đếm theo chiều thuận, đi vòng có tất cả 8 quẻ.
Kiền, Khảm, Cấn, Chấn thuộc Dương.
Tốn, Ly, Khôn, Đoài thuộc Âm.
Mỗi quẻ chỉ có 3 hào nên gọi là quẻ đơn.
http://img197.echo.cx/img197/8393/pix8dw.jpg
Để dễ nhớ hình 8 quẻ đơn, nên nhẩm 8 câu ví sau đây, theo thứ tự thuận miệng:
KIỀN Tam (là càn) – Liên (3 vạch liền)
KHÔN Lục - đoạn (6 vạch đứt)
CHẤN Ngưỡng – vu (Hình cái bát để ngửa)
TỐN Phục - uyển (Hình cái chén để úp)
KHẢM Trung – mãn (Đầy trong)
LY Trung – hư (Rỗng giữa)
ĐOÀI Thượng khuyết (Hở trên)
TỐN Hạ - đoạn (Đứt dưới)
Tuy chỉ có vạch liền vạch đứt, mà quẻ nào cũng nói lên nghĩa lý của nó. Xem bảng nghĩa quẻ sau đây:
Lưu Bị
16-06-2005, 01:04 AM
http://img271.echo.cx/img271/4675/untitled17fk.jpg
3/ Quẻ trùng (Chồng lên nhau)
a). Trên đã nói Văn Vương đem 8 quẻ đơn chồng lên nhau bằng mọi cách thành ra được 8 x 8 là 64 Quẻ Kép gọi là Quẻ Trùng.
Quẻ đơn nào tự chồng lên (Mình) như Kiền chồng lên Kiền, Khảm chồng lên Khảm v.v... thì gọi là quẻ Thuần: Thuần Kiền, Thuần Khảm v.v...
Lưu Bị
18-06-2005, 12:13 AM
http://img89.echo.cx/img89/10/untitled3el.jpg
Lưu Bị
18-06-2005, 12:14 AM
Hào đếm từ dưới lên trên.
- Hào 1 và 2 là Địa, 3 và 4 là Nhân, 5 và 6 là Thiên.
- Hào 1 đối 4, 2 đối 5, 3 đối 6, Hào nọ làm thế thì Hào kia làm ứng.
Giải thích hình vẽ trên
(Đi từ trái sang phải)
- Trong 1 quẻ Trùng, quẻ Đơn trên gọi là quẻ Thượng hay quẻ Ngoại, quẻ Đơn dưới gọi là Quẻ hạ hay Quẻ Nội.
Quẻ Trùng có 6 Hào đi từ dưới lên trên từ Hào 1 còn gọi là Hào Sơ đến Hào 6 còn gọi là Hào Thượng
Hào Âm thì thêm tiếng Âm vào cho rõ.
Hào Dương thì thêm tiếng Dương vào cho rõ.
Ví dụ: Nói Hào 1 Âm, Hào 2 Dương, Hào 6 Âm.
6 Hào chia ra làm Tam tài: Thiên, Địa, Nhân.
Hào 1 và Hào 2 thuộc về Địa (đất) ở dưới.
Hào 3 và Hào 4 thuộc về Nhân (người) ở giữa.
Hào 5 và Hào 6 thuộc về Thiên (Trời) ở trên.
- Mỗi Hào tự coi mình là Thế (Ta) gọi là Hào đối diện với mình là Ứng (Hắn). Ứng ngồi cách Thế 2 Hào.
Ví dụ: Nếu Hào 1 là Thế thì Hào 4 là Ứng.
Nếu Hào 2 là Thế thì Hào 5 là Ứng.
Nếu Hào 3 là Thế thì Hào 6 là Ứng.
Nếu Hào 4 là Thế thì Hào 1 là Ứng.
Nếu Hào 5 là Thế thì Hào 2 là Ứng.
Nếu Hào 6 là Thế thì Hào 3 là Ứng.
Tất cả 64 quẻ đều như thế cả.
c). Danh sách 64 quẻ Trung
Muốn dựng lên 1 quẻ Hà Lạc, điều tối thiểu là cần phải biết mặt biết tên đủ 64 Quẻ Dịch đã.
Mới đọc tên 64 Quẻ Dịch, ngay người có chữ Nho mà chưa học Dịch, thì cũng còn thấy khó hiểu. Đại khái nghe đọc: Kiền, Vi Thiên, Thiên Phong Cấu, Thiên Sơn Độn v.v... thì có khác gì không đi chùa, mà nghe thấy bài chú Kinh Phật với những Danh từ: Yết Đế, Yết Đế, Ba La Yết Đế... Bồ Đề Tát Bà Ha v.v... Song (đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông - Nguyễn Bá Học). Nên không cái gì bằng kiên nhẫn: Đọc mãi phải hiểu, học mãi phải nhớ. Trên đã rõ, Dịch có tất cả 64 quẻ trùng, chia làm 8 nhóm, mỗi nhóm 8 Quẻ kể cả Quẻ Thuần cầm đầu. Nên trong mỗi Nhóm Quẻ Thuần được coi như nhà Cái mà 7 quẻ kia là nhà Con trong 1 Bát họ Việt Nam 8 người cùng ngồi với nhau. Lấy tên Quẻ cầm đầu đặt tên cho mỗi Nhóm. Theo thứ tự trong hình Lạc Thư.
Lưu Bị
18-06-2005, 12:24 AM
http://img169.echo.cx/img169/2721/untitled8sc.jpg
Hãy ngừng lại nơi đây để nhận xét kỹ
Ta đọc tên các Quẻ theo hàng ngang từ 1 đến 8 thì nhận thấy rằng: Chỉ có hàng Chữ cuối (Cấu, Độn, Bỉ, Quan, Bác, Tấn, Đại, Hữu) là chữ mới thêm vào,còn những chữ Thiên Phong, Thiên Sơn, Thiên Địa v.v... đều là Chữ đã có sẵn ở trong cột Tượng, Bảng Nghĩa Quẻ trên (trang 59).
- Mỗi quẻ có 2 Chữ T và Ư tức là Thế và Ứng viết tắt (mục giải thích trên) T và Ư sắp đặt theo thứ tự nào, xem sau đây. Dịch là biến đổi. Từ Quẻ 1 Kiền đến Quẻ 8 Hỏa Thiên Đại Hữu sở dĩ mỗi Quẻ lấy 1 tên riêng là nhờ sự biến đổi của mỗi Hào. Từ dưới lên trên, (từ Hào 1 đến Hào 5) rồi lại biến trở xuống Hào 4 Hào 3 là vừa đúng 8 Quẻ. Biến ở Hào nào thì T ngồi ngay Hào đó. T kéo Ư theo, như quy tắc đã định ở mục giải thích trên.
Ví dụ: Quẻ 1 thuần Kiền chưa biến thì T ở Hào 6 Ư ở Hào 3.
Quẻ 2 Thiên Phong Cấu biến Hào 1 thì T ở Hào 1, Ư ở Hào 4.
Quẻ 3 Thiên Sơn Độn biến Hào 2 thì T ở Hào 2, Ư ở Hào 5.
Chỉ cần nhìn 2 Quẻ: Đơn Thượng và Đôn Hạ trong quẻ Trùng, hễ nhận diện ra nó tức khắc gọi tên nó ra được dễ lắm. Ví dụ: Quẻ Thiên Phong Cấu thì Đơn Thượng là Kiền (Thiên) Đơn Hạ là Tốn (Phong) chắp nghĩa lại mà đọc thì là Thiên Phong chỉ cần thêm chữ Cấu vào thôi Thế là Quẻ Thiên Phong Cấu.
Ví dụ: Quẻ Thiên Sơn Độn cũng vậy Thượng là Thiên Hạ là Sơn chắp lại thành Thiên Sơn chỉ thêm chữ Độn vào mà thôi.
- Xem tiến trình của chữ T và Ư thì ta thấy T đi lên từ Hào 1 (Quẻ 2), đến Hào 5 (Quẻ 6), rồi lại đi xuống Hào 4 (Quẻ 7), Hào 3 (Quẻ 8) là vừa hết 8 Quẻ của 1 Nhóm.
Kết luận: Biết rõ tiến trình của Nhóm 1 Trùng Kiền rồi, thì hết thảy 7 Nhóm kia đều lập theo lề lối như thế cả, không sai 1 ly. (Độc giả thử lấy 1 tờ giấy mà tự vạch Quẻ để tìm xem, rồi xong hãy nhìn vào bảng kiểm soát ở trang sau).
NHÓM II TRÙNG KHẢM
QUẺ 1 Khảm vi Thủy
QUẺ 2 Thủy Trạch Tiết
QUẺ 3 Thủy – Lôi – Truân
QUẺ 4 Thủy - Hỏa – Ký - Tế
QUẺ 5 Trạch - Hỏa – Cách
QUẺ 6 Lôi - Hỏa – Phong
QUẺ 7 Địa - Hỏa – Minh – Di
QUẺ 8 Địa - Thủy – Sư.
NHÓM III TRÙNG CẤN
QUẺ 1 Cấn vi Sơn
QUẺ 2 Sơn Hỏa Bí
QUẺ 3 Sơn – Thiên Đại – Súc
QUẺ 4 Sơn - Trạch - Tốn
QUẺ 5 Hỏa - Trạch – Khuê
QUẺ 6 Thiên - Trạch – Lý
QUẺ 7 Phong - Trạch Trung – Phu
QUẺ 8 Phong – Sơn - Tiệm.
NHÓM IV TRÙNG CHẤN
QUẺ 1 Chấn vi Lôi
QUẺ 2 Lôi - Địa - Dự
QUẺ 3 Lôi - Thủy - Giải
QUẺ 4 Lôi – Phong - Hằng
QUẺ 5 Địa – Phong – Thăng
QUẺ 6 Thủy – Phong - Tỉnh
QUẺ 7 Trạch – Phong Đại – Quá
QUẺ 8 Trạch – Lôi – Tùy
NHÓM V TRÙNG TỐN
QUẺ 1 Tốn vi Phong
QUẺ 2 Phong Thiên Tiểu Súc
QUẺ 3 Phong Hỏa Gia Nhân
QUẺ 4 Phong Lôi Ích
QUẺ 5 Thiên Lôi Vô Vọng
QUẺ 6 Hỏa Lôi Phệ Hạp.
QUẺ 7 Sơn Lôi Di
QUẺ 8 Sơn Phong Cổ
NHÓM VI TRÙNG LY
QUẺ 1 Ly vi Hỏa
QUẺ 2 Hỏa Sơn Lữ
QUẺ 3 Hỏa Phong Đỉnh
QUẺ 4 Hỏa Thủy Vi Tế
QUẺ 5 Sơn Thủy Mông
QUẺ 6 Phong Thủy Hoán
QUẺ 7 Thiên Thủy Tụng
QUẺ 8 Thiên Hỏa Đồng Nhân
NHÓM VII TRÙNG KHÔN
QUẺ 1 Khôn vi Địa
QUẺ 2 Địa Lôi Phục
QUẺ 3 Địa Trạch Lâm
QUẺ 4 Địa Thiên Thái
QUẺ 5 Lôi Thiên Đại Tráng
QUẺ 6 Trạch Thiên Quải
QUẺ 7 Thủy Thiên Nhu
QUẺ 8 Thủy Địa Tỷ
NHÓM VIII TRÙNG ĐOÀI
QUẺ 1 Đoài vi Trạch
QUẺ 2 Trạch Thủy Khốn
QUẺ 3 Trạch Địa Tuy
QUẺ 4 Trạch Sơn Hàm
QUẺ 5 Thủy Sơn Kiển
QUẺ 6 Địa Sơn Khiêm
QUẺ 7 Lôi sơn Tiểu quá
QUẺ 8 Lôi trạch Quy Muội.
barca
20-06-2005, 01:40 PM
Í trời,phải bắt lưu bị scan sách nữa.Thật cảm kích.Cảm ơn lưu bị đã giành nhiều thời gian giúp đỡ anh em.
híc híc....Quả là Lưu bị đã khổ công!
Khi nào tiểu đệ post xong sách nhớ làm một mục để luận đoán lá số nhé! tiểu ca xung phong đưa lá số của bản thân cho tiểu đệ đoán.
Lưu Bị
21-06-2005, 02:45 AM
Bác barca cốt ý cháu post lên là được học hõi những kinh nghiệm cũa các bác ở trên ấy sau khi post xong hết cháu sẽ làm thữ giãi đoán sau đó các bác có thễ tham gia sữa đỗi và bàn luận học hõi lẫn nhau. Vì cháu hiễu học 1 mình nhiều khi không thễ hiễu thấu được tất cả. Mọi người có cái nhìn và sức thu nhận khác nhau nên những điều cháu không hiễu có người trong đây sẽ hiễu và thu nhận được, chia sẽ lẫn nhau.
Chúc bác barca vui
AVYE là ai vậy?
sau này post xong huynh giãi đi rồi đệ và các bác trong đây giúp đỡ sữa lỗi, học liền rồi thực hành mới giõi..Không cần thầy giáo chỉ cần người dạy kèm
Híc híc...Lưu Bị cho AVYE xin lỗi! đến lập lá số bát tự hà lạc, AVYE còn chưa lập được nữa là!
Hột_zit_lo^n. ko hiểu Lưu Bị có quen ko?!
Lưu Bị
21-06-2005, 06:53 PM
Hóa ra là ngổ ngáo nhà ta đây à-hihi-
de^~ la('m dda.i ca du`ng mu.c la^'y la' so^' tu*? bi`nh be^n thuong viet, tu*` nga`y sinh DL ddo^~i ra ba't tu*. sau ddo' thi` ddo.c theo ba`i cua~ dde^. ddo^~i ra que~ ro^`i thi` ddo.c the^m pha^`n gia?i cua? dde^. sau na`y--g--
ha ha noi' thế thì tiểu ca cũng làm được.! nhưng chỉ về tiểu ca ko có cần cuốn lịch vạn niên nên ko lập nổi lá số bát tự.!
kieugiang
29-06-2006, 10:54 AM
Bác Luu Bị
Xin Bác xem dùm quẻ Lạc Hà cho cháu
sanh ngày 8 tháng 2 năm 1990 vào lúc 19:47pm tạitie63u bang California. Xin cảm ơn Bác
Tuyết Lĩnh Tầm Mai
22-04-2007, 11:37 AM
Tên Lưu Bị Này đúng Là... Cái Bị Thật! Sao Ko Thấy Post Bài Lên Nữa Vậy? Thật Ra Quyển Sách Bt-hl Này đã Nằm Trong Thư Viện Từ Lâu Rồi. Chỉ Tại Mọi Người Ko Chịu Khó Tìm Tòi Nên Mới Bị Hắn Lừa Cho 01 Vố!
Lê Viết Hùng
15-05-2007, 08:03 PM
Mình chưa được đọc chính gốc và nghiên cứu Bát Tự Hà Lạc của Học Năng. Tuy nhiên mình đọc các sách viết về Hà Lạc của Xuân Cang, Bùi Biên Hòa, Nguyễn Hoàng Phương... theo trường phái của Học Năng. Tuy nhiên mình cũng đọc sách viết về Hà Lạc của Giáo sư Hoàng Tuấn. Có sự khác nhau cơ bản về phương pháp lấy quẻ. Mình không biết mọi người như thế nào, còn mình thì mình tin vào lập luận cua Giáo sư Hoàn Tuấn và lập quẻ Hà Lạc theo phương pháp mà giáo sư đưa ra. Mọi người thử đọc lại cuốn " Kinh Dịch và hệ nhị phân" của Giáo sư Hoàng Tuấn và cùng trao đổi xem nhé!
kientt
11-03-2010, 03:20 PM
Bảng Lục Thập Hoa Giáp (Nạp Âm)
Giáp Tí Ất Sửu Hải Trung Kim (Hải)
Bính Dần Đinh Mão Lô Trung Hỏa (Lô)
Mậu Thìn Kỷ Tỵ Đại Lâm Mộc (Đại)
Canh Ngọ Tân Mùi Lộ Bàng Thổ (Lộ)
Nhâm Thân Quý Dậu Kiếm Phong Kim (Kiếm)
Giáp Tuất Ất Hợi Sơn Đầu Hỏa (Sơn)
Bính Tí Đinh Sửu Giản Hạ Thuỷ (Giản)
Mậu Dần Kỷ Mão Thành Đầu Thổ (Thành)
Canh Thìn Tân Tỵ Bạch Lạp Kim (Bạch)
Nhâm Ngọ Quý Mùi Dương Liễu Mộc (Dương)
Giáp Thân Ất Sửu Tuyền Trung Thuỷ (Tuyền)
Bính Tuất Đinh Hợi Ốc Thượng Thổ (Ốc)
Mậu Tí Kỷ Sửu Tích Lịch Hỏa (Tích)
Canh Dần Tân Mão Tùng Bách Mộc (Tùng)
Nhâm Thìn Quý Tỵ Trường Lưu Thuỷ (Trường)
Giáp Ngọ Ất Mùi Sa Trung Kim (Sa)
Bính Thân Đinh Dậu Sơn Hạ Hỏa (Sơn)
Mậu Tuất Kỷ Hợi Bình Địa Mộc (Bình)
Canh Tí Tân Sửu Bích Thượng Thổ (Bích)
Nhâm Dần Quý Mão Kim Bạch Kim (Kim)
Giáp Thìn Ất Tỵ Phú Đăng Hỏa (Phú)
Bính Ngọ Đinh Mùi Thiên Hà Thuỷ
Mậu Thân Kỷ Dậu Đại Dịch Thổ
Canh Tuất Tân Hợi Thoa Xuyến Kim (Thoa)
Nhâm Tí Quý Sửu Tang Chá Mộc (Tang)
Giáp Dần Ất Mão Đại Khê Thuỷ
Bính Thìn Đinh Tỵ Sa Trung Thổ (Sa)
Mậu Ngọ Kỷ Mùi Thiên Thượng Hỏa (Thiên)
Canh Thân Tân Dậu Bạch Lựu Mộc (Bạch)
Nhâm Tuất Quý Hợi Đại Hải Thuỷ (Đại)
a). Cách sử dụng bảng L.T.H.G
- Phải biết hệ thống tổ chức của Bảng thì rồi mới biết cách dùng.
Bảng gồm 6 gia đình, mỗi gia đình 10 người vị chi là 60 người. Mỗi gia đình Can – Chi ấy do một Gia trưởng đứng chữ Giáp cầm đầu. Nên 6 gia đình Can – Chi thì có 6 gia trưởng là : G-Tý. G-Tuất, G-Thân, G-Ngọ, G-Thìn, G-Dần (Xem 6 Giáp trên Bảng ở ngay đầu mỗi gia đình sắp xếp theo hàng ngang và đánh số từ 1 đến 6).
Phải tìm gốc. Tuổi nào muốn biết mạng mình là gì phải tìm đến gốc là Gia trưởng thì mới biết.
Ví dụ: Muốn biết tuổi Canh Thìn mạng gì. Xòe bàn tay trái ra, hay mở tờ địa bàn 12 Cung ra. Đi từ cung Thìn đếm ngược lại. Nói: C-Thìn đến K-Mão, M-Dần, Đ-Sửu, B-Tý, Â-Hợi, sau cùng đến G-Tuất. Đây rồi, cụ Giáp Tuất ơi, cụ là Gia trưởng của C-Thìn, tóm được Cụ, phải theo miết Cụ đến tận nhà số 2 trong khóm Bảng L.T.H.G mà Cụ ở. Rồi điểm từ Cụ, theo hàng ngang đến tuổi C-Thìn thì nhìn thấy chữ Kim. Thế là biết C-Thìn mạng Kim.
Lưu ý 4: Cần biết tuổi nào mạng gì để rồi sau đây xem có hợp với quẻ Hà Lạc hay không.
2. An Can Chi tháng sanh:
Tính tháng về Bát tự cũng khác hẳn lối tính tháng của Tử Vi.
Tháng về Bát tự lệ thuộc vào Can – Chi của năm sanh và vào tiết hậu của mỗi tháng.
a). Can Chi năm sanh chi phối tháng sanh theo nguyên tắc Ngũ Dần sau đây:
Cặp năm Giáp Kỷ khởi tháng 01 ở Bính Dần.
Cặp năm Ất Canh khởi tháng 01 ở Mậu Dần.
Cặp năm Bính Tân khởi tháng 01 ở Canh Dần.
Căn năm Đinh Nhâm khởi tháng 01 ở Nhâm Dần.
Cặp năm Mậu Quý khởi tháng 01 ở Giáp Dần.
Muốn áp dụng Nguyên tắc Ngũ Dần thì trước hết phải biết tên Chi của 12 tháng đã. Dùng bàn tay 12 Chi để đếm.
Tháng 01 (hay Giêng) gọi là tháng Dần
Tháng 02 gọi là tháng Mão
Tháng 03 gọi là tháng Thìn
Tháng 04 gọi là tháng Tỵ
Tháng 05 gọi là tháng Ngọ
Tháng 06 gọi là tháng Mùi
Tháng 07 gọi là tháng Thân
Tháng 08 gọi là tháng Dậu
Tháng 09 gọi là tháng Tuất
Tháng 10 gọi là tháng Hợi
Tháng 11 gọi là tháng Tý
Tháng 12 (Chạp) gọi là tháng Sửu
Biết tên Chi rồi, đi tìm Can của mỗi tháng.
Ví dụ 1: Tuổi Giáp Dần sanh tháng năm. Xem Can Chi tháng là gì? Xòe bàn tay ra để đếm xuôi. Nói: Theo Ngũ Dần, tuổi Giáp khởi tháng 01 ở Bính Dần, vậy tháng 2 ở Đ.Mão, tháng 3 ở M.Thìn, tháng 4 ở K.Tỵ, tháng 5 ở C.Ngọ (C.Ngọ là đáp số của câu hỏi trên).
Ví dụ 2: Tuổi Kỷ Mùi, sanh tháng 3. Xem Can Chi tháng 3. Nói Kỷ ở trong cặp Giáp Kỷ vậy cũng tính như Giáp ở trên tính thấy tháng 3 là M-Thìn.
Bất luận tuổi Giáp là Kỷ gì (G-Thân, G-Tuất, K-Mão, K-Mùi v.v... đều theo luật của cặp G-K mà tính).
Ví dụ 3: Tuổi Quý Tỵ sanh tháng 5, xem Can – Chi tháng 6. Nói: Quý ở trong cặp Mậu Quý, vậy khởi tháng 01 ở Giáp Dần. Đếm xuôi G-Dần, Â-Mão, B-Thìn, Đ-Tỵ, M-Ngọ, K-Mùi.
Theo Ngũ Dần, chỉ cần Can của năm để tính tháng còn Chi của năm đứng ngõ ngoài không nói tới.
Hôm trước tình cờ đọc trên mạng thấy có cách tính Can Chi của năm khá hay và dễ nhớ đưa ra để mọi người cùng tham khảo:
10 Thiên Can: (1)Giáp (2)Ất (3)Bính (4)Đinh (5)Kỷ (6)Mão (7)Canh (8)Tân (9)Nhâm (10)Quý
12 Địa Chi: (1)Tý (2)Sửu (3)Dần (4)Mão (5)Thìn (6)Tỵ (7)Ngọ (8)Mùi (9)Thân (10)Dậu (11)Tuất (12)Hợi
Lấy 2 số hàng chục và đơn vị năm cần đổi ra Can Chi - 3 được bao nhiêu lấy hàng đơn vị tra Thiên Can: Ví dụ 1981, lấy 81 - 3 = 78, 8 tương ứng với Tân.
Lấy năm cần đổi ra Can Chi - 3 chia 12 phần dư bao nhiêu là Chi, Ví dụ: (1981 - 3)/12 có phần dư là 10 tương ứng với Dậu.
Vậy lịch Can Chi của năm 1982 là Tân Dậu.
Do mới tham gia tìm hiểu nên ngôn từ có khi chưa phù hợp nên mong các bậc tiền bối chỉ bảo. Có cách tính Can Chi tháng, ngày, giờ cũng tương đối dễ nhớ nhưng xin hẹn được trình bày sau.
LanCongTu
11-06-2010, 01:01 AM
Sách BTHL của cụ Học Năng đang trong thư viện chương D, phần 1 , Căn bản để giải đoán 1 quẻ Hà Lạc, 10 thể cách tốt còn thấy thiếu phần 1 tên quẻ tốt, phần 3 Lời hào Nguyên Đường tốt và phần 4 Được mùa sanh (đắc cách). Nếu như bác Lưu Bị có được 3 phần này, xin scan hay đăng dùm thì hay biết mấy. Thành thật cám ơn công đức vô lượng của bác Lưu Bị .
Trân trọng,
lct
minhlac
04-03-2011, 01:14 AM
Quý vị ở đây có ai biết cách tính Tiểu hạn từng năm theo quẽ bát tự Hà Lạc hay không ?? xin chỉ giúp ,
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.