PDA

View Full Version : Thế nào là "Thương Quan thương tận" ?


DauQuan
07-06-2005, 08:14 PM
Lúc trước đọc "Dự đoán theo Tứ trụ" của Thiệu Vĩ Hoa, thấy thỉnh thoảng dịch giả Nguyễn Văn Mậu có câu : "Thương Quan thương tổn hết thì...", hoặc "Thương Quan khi hết thương tổn...", pó tay không hiểu gì hết!!
Sau này mới biết đó là cách "Thương Quan thương tận", một cách hay của Tứ Trụ.
Trong "Can chi thông luận", Nguyễn Ngọc Hải có giải rằng :
"Tháng giờ Thương Quan,không có Chính Quan, mệnh cục Thiên Quan. Tứ trụ có hợp khong có hình xung phá hoại gọi là Thương Quan thương tận.
Thương Quan thương tận mà can ngày vượng, Tài vượng, Ấn vưọng là mệnh đại phú đại quý.
Thương Quan thương tận mà không có sao Tài là mệnh bần cùng khó khăn."

Hết! Không có ví dụ, cũng chẳng nói thêm là nếu Thương Quan ở cột năm chứ không ở cột tháng giờ thì có "thương tận" không, tại sao?
Hợp ở đây là can hợp hay chi hợp, hay cả hai đều được, hay chỉ một thôi cũng được?
Mệnh cục không có Tài thì bần cùng? Vậy nếu đi hạn gặp Tài thì có hết bần trong thời gian đó không?
Tôi xin đưa bát tự của nam mệnh này lên để quý vị tham gia thảo luận làm sáng tỏ vấn đề, xem có phải là cách Thương Quan thương tận không, coi như case study :

Canh Ngọ/Đinh Hợi/Ngày Giáp Thân/Ất Hợi

Mong được sự hưởng ứng của anh chị em.

admin
07-06-2005, 08:23 PM
Trên căn bản :

Thương Quan ngộ Quan vi bá đoan nghĩ là nếu trong tứ trụ đã có quan tinh, nếu gặp thương quan nữa (không quá suy, không bị khắc chế) thì thương quan và quan tinh khắc nhau, không có quan chức mà còn bị nhiều tai hoạ.

Chỉ khi nào thương quan bị chế phục thì mới phát được (thương tân nghĩ là thương quan tận diệt). Thương Quan tận diệt không ám chỉ việc thương quan bị khắc mà chỉ nói khi thương quan hết lực, hết sức phá quan tinh. Đấy là các vận trình mà thương quan rơi vào các cung bệnh tử mộ tuyệt...

Trụ có quan tinh vượng, chẳng may gặp thương quan thì đến các vận trình đã kể trên sẽ phát quan, phát phúc.

Trong câu trích dẫn của anh Đẩu Quân đề cập đến tài vì tài là ấn tinh của quan, là trụ bảo hộ cho quan tinh khỏi bị sự xung khắc của thương quan theo lý tham sinh quên khắc.

Lại nữa, trong phần chú giải trên còn đề cập đến ấn thì là vì khi mà có cách tài quan vượng thì cần mệnh vượng, và nên cần có ấn tinh phò cho mệnh cục được vững thì mới hưởng được cái tốt của tài quan.

Và cũng cần giải thích rõ hơn chút nữa : Trong câu phú trên, tài tinh chỉ đóng vai trò dung hoà thương quan và quan, thuần hoá kẻ cướp thành người lương thiện thôi. Thương quan sinh tài, tài sinh quan. Cần tài khá mạnh mới đủ lực đứng ra dung hoà. Nếu mệnh cục có ấn tinh hộ mệnh, và nếu thương qua đã bị khắc chế hoặc trong trụ qúa yếu thì không cần tài tinh vẫn rất tốt đẹp.

Chính Ấn
07-06-2005, 10:34 PM
Bác Đẩu Quân còn thấy chổ nào chưa hợp lý. Em sẽ cố trả lời bác.

barca
08-06-2005, 02:09 PM
Đúng vậy, chứ thượng tận nghĩ là thương quan bị tận diệt. Chắc là do người dịch không hiểu ý nghĩa nên dịch loạn xạ cả lên.

DauQuan
08-06-2005, 02:17 PM
:

Chỉ khi nào thương quan bị chế phục thì mới phát được (thương tân nghĩ là thương quan tận diệt). Thương Quan tận diệt không ám chỉ việc thương quan bị khắc mà chỉ nói khi thương quan hết lực, hết sức phá quan tinh. Đấy là các vận trình mà thương quan rơi vào các cung bệnh tử mộ tuyệt...

Trụ có quan tinh vượng, chẳng may gặp thương quan thì đến các vận trình đã kể trên sẽ phát quan, phát phúc.



Cảm ơn admin đã giảng giải chuyện Thương Quan gặp Quan và hỉ kỵ trong vận trình.
Tôi muón biết thêm "Thương Quan thương tận" như một cách cục của lá số Tử Bình. Theo tôi tiếp thụ được từ cách dạy của Can Chi Thông Luận đã trích dẫn trong phần nói về Thương Quan cách :


"Tháng giờ Thương Quan,không có Chính Quan, mệnh cục Thiên Quan. Tứ trụ có hợp khong có hình xung phá hoại gọi là Thương Quan thương tận.
Thương Quan thương tận mà can ngày vượng, Tài vượng, Ấn vưọng là mệnh đại phú đại quý.
Thương Quan thương tận mà không có sao Tài là mệnh bần cùng khó khăn."

Thì những điều kiện để hình thành cách này như sau :
- Thương Quan phải ở trụ tháng hoặc trụ giờ.
- Trong bát tự phải không có Quan tinh mà chỉ có Sát tinh.
- Nhật nguyên vượng, Tài vượng, Ấn vượng.

Cách cục được như thế là số đại phú đại quý.

- Nếu trong bát tự không có sao Tài thì đó là mệnh bần cùng.

Xin quý vị có sở học, kinh nghiệm về cách cục này vui lòng chỉ bảo. Tôi cso kèm theo một bát tự như trên để hỏi : như lá số đó thì có thể gọi là Thương Quan thương tận không?

To Chính Ấn : rất muốn nghe bạn giải thích thêm, và xin tò mò : Sách TBCT có nói đến cách cục này không, tra dùm mình. Cảm ơn.

barca
08-06-2005, 02:20 PM
Tôi có đọc bên tử bình chân thuyên, hình như ở trang 7 hoặc trang 8 gì đó có nói đến cách cách cục quan tinh ngộ quan đấy. Bạn tìm thử xem.

Vungockhanh
08-06-2005, 04:23 PM
Chào anh DauQuan,
Thương tận đúng như admin đã nêu : Đó là vận trình mà thương quan rơi vào tuyệt địa . Với lá số anh nêu trên thì vận trình đến Mậu Tý thì mới là thương tận . Trong lá số này thì chỉ gọi là Thương nhược và lưu ý rằng , Giáp rơi vào tuyệt địa ở chi ngày , và ngày Giáp Thân (trong tháng Hợi) nếu trước ngày Đông chí thì là thân nhược .

DauQuan
08-06-2005, 05:27 PM
Vâng, cảm ơn bác VungocKhanh. Xin được hỏi thêm bác : tháng Hợi (tháng 10 âm lịch) theo tôi biết chỉ có tiết Lập Đông, khí Tiểu tuyết. Mãi đến tháng 11 (Tý) mới có tiết Đại Tuyết, khí Đông chí.
Như vậy bất cứ ai sinh tháng Hợi, can ngày Giáp ở thế tương khắc với chi đều coi là thân nhược? Như vậy cái lý Giáp mộc Trường Sinh ở (nguyệt lệnh tháng) Hợi và bại địa ở Tý (tưc là tháng có tiết Đông chí) phải giải thích thế nào đây?
Biết bác đang rất bận nên nếu việc giải thích đơn giản thì hãy trả lời, còn nếu cần phân tích nhiều, bác cứ để thư thư cũng được, tôi cũng mong học hỏi thêm ở bác. Thân kính.

Vungockhanh
08-06-2005, 06:22 PM
Vâng, cảm ơn bác VungocKhanh. Xin được hỏi thêm bác : tháng Hợi (tháng 10 âm lịch) theo tôi biết chỉ có tiết Lập Đông, khí Tiểu tuyết. Mãi đến tháng 11 (Tý) mới có tiết Đại Tuyết, khí Đông chí.
.

Cảm ơn bác , cái này tôi bị lộn t.10 -hihi-

Chính Ấn
08-06-2005, 08:06 PM
Thì những điều kiện để hình thành cách này như sau :
- Thương Quan phải ở trụ tháng hoặc trụ giờ.
- Trong bát tự phải không có Quan tinh mà chỉ có Sát tinh.
- Nhật nguyên vượng, Tài vượng, Ấn vượng.



Thương quan không nên ở trụ tháng : Sẽ khắc phụ mẫu ông bà.
Không nên có quan tinh mà nên có sát tinh vì quan tinh tuy bị thương khắc nhưng ngược lại, quan cũng khắc thương nên cung con bị hỏng.

Câu phú này quả là cầu toàn. Được như vậy thì ai mà chả muốn.

DauQuan
08-06-2005, 08:55 PM
Bởi vậy mới gọi là mệnh đại phú đại quý chứ hehe. Biết đến thuở nào!

Chính Ấn
09-06-2005, 12:02 PM
Hi hi, cách này khó gặp lắm anh ạ, lại dễ bị vận trình phá vỡ nữa. Cách này nghiêng về phú quý, hơi kém phúc một tí.

DauQuan
09-06-2005, 07:58 PM
So sánh thì hơi khiên cưỡng, nhưng cách cục này (và một số khác) tương tự như mệnh cách Sát Phá Tham đi cùng sát tinh miếu vượng trong khoa Tử Vi vậy, cũng trở thành đại phú quý, nhưng khi lâm vận cũng dễ nguy. Tuy phương pháp giải luận khác nhau, song toán mệnh đồng nhất lý.

barca
09-06-2005, 09:24 PM
So sánh thì hơi khiên cưỡng, nhưng cách cục này (và một số khác) tương tự như mệnh cách Sát Phá Tham đi cùng sát tinh miếu vượng trong khoa Tử Vi vậy, cũng trở thành đại phú quý, nhưng khi lâm vận cũng dễ nguy. Tuy phương pháp giải luận khác nhau, song toán mệnh đồng nhất lý.

Bạn nhận xét wá hay. Khâm phục.

Thien Viet
16-06-2005, 05:16 PM
Cách thương quan thương tận này trong sách tử bình chân thuyên phần đã dịch không có nói đến, hy vọng nó nằm trong phần chưa được dịch

Nên lưu ý: Thương quan thương tận thuộc về Thương quan cách
Nghĩa là đừng nói đến thương quan vô lực, thương quan vô lực thuộc về cách cục khác rồi, không xét đến thương quan cách nữa

Thương quan thương tận nghĩa như sau: Thương quan khi đã thương sát hết quan tinh thì đại cát
Khi nào Thương quan thương sát hết quan tinh: là khi trong mệnh có thương quan mà không có quan tinh (đại cát) hoặc chí ít quan tinh đã bị vô lực (phú quý nhưng trầm luân)
Vậy tóm lại: cách thương quan thương tận yêu cầu các điều kiện sau:

1) Mệnh vượng
2) Có thương quan cả trên trụ tháng và trụ giờ hữu lực, thiếu một thì giảm cát lực
3) không có quan tinh, mệnh có Thiên quan thì càng tốt
4) Có tài vượng hoặc ấn vượng
5) Hành vận đừng nên gặp Quan tinh

Ví dụ: tứ trụ của Tưởng Giới Thạch
Đinh Hợi // Canh Tuất // Kỷ Tỵ // Canh Ngọ

Nhận xét: Thương quan lộ ra ở trụ tháng và trụ giờ, quan tinh tàng ẩn trong Hợi nhưng đã bị Tỵ xung phá, Ấn (Bính ẩn, Đinh lộ) vượng

Chính Ấn
16-06-2005, 09:51 PM
Ví dụ: tứ trụ của Tưởng Giới Thạch
Đinh Hợi // Canh Tuất // Kỷ Tỵ // Canh Ngọ

Nhận xét: Thương quan lộ ra ở trụ tháng và trụ giờ, quan tinh tàng ẩn trong Hợi nhưng đã bị Tỵ xung phá, Ấn (Bính ẩn, Đinh lộ) vượng

Để em nghiên cứu cái trụ này xem. Cuối cùng thì anh Thiên Việt cũng đã vào được diễn đàn rồi... ~*~

Chính Ấn
17-06-2005, 10:49 AM
Đây là bài viết về thương quan trong tử bình chân thuyên. Trong đây có cả định nghĩ rõ ràng về thương quan :

http://www.chanthuyen.org/forums/showpost.php?p=14843&postcount=92

Trong bài này cũng có câu :

Đã gọi là thương quan thời điều cốt yếu là làm sao tương khắc cho hết quan tinh mới là tốt. Nếu tương khắc không hết để quan tinh khi được vượng (tất lẽ có cơ hội ngóc đầu lên) thì tai họa không thể nói hết được. Vì thế có câu: “Thương quan kiến quan, ải họa bách đoan”.

Còn đây là bài viết đơn cử cho trường hợp mệnh cục lấy thương quan làm chính :

http://www.chanthuyen.org/forums/showpost.php?p=14296&postcount=81

Trong bài này có câu :

Cách này rất kỵ tài tinh phá hoại ấn thụ, thương thực tổn thương quan tinh, đều bất lợi cho công danh.


Tứ trụ của Tưởng Giới Thạch thuộc về Thương Quan cách nên sợ gặp quan. Ngược lại, tứ trụ theo quan cách thì sợ gặp Thương Quan. Do đó, câu phú này hiểu theo nghĩa nào cũng cho ra một kết quả.

Bài sau sẽ hiểu được nên gọi theo kiểu nào cho sát nghĩa :

http://www.chanthuyen.org/forums/showpost.php?p=15054&postcount=97

Trong đó có đoạn sau :

2). Nhật can là Đinh, phải lấy chữ Nhâm làm quan tinh. Nhâm nằm trong Hợi, trong tứ trụ có chữ Tỵ ám xung phân thủy là quan tinh (hội với lộc).



Thơ tổng luận về đảo xung cách thuộc chữ Đinh:

- Đinh nhật đa phùng tỵ tự thông

(Nhật can là Đinh gặp nhiều chữ Tỵ là tốt).

- Cục trung vô thủy quý hóa đồng

(Trong nguyên cục kỵ có Nhâm lẫn lộn).

- Thương quan thử cách nghi thương tận

(Không nên có chữ Thìn, vì Thìn là Thương quan của Đinh)

barca
20-06-2005, 01:16 PM
Đọc một hồi cũng tóm lại được y câu đã nói thương quan thương tận tức là thương quan bị tận diệt.Thank u.

AVYE
20-06-2005, 05:23 PM
Ui trời! các bác giỏi quá, đọc một hồi rồi thì cũng chẳng hiểu đang đọc gì nữa.! tiểu đệ bái phục sát đất các bác luôn.

Thien Viet
21-06-2005, 03:55 PM
Đây là bài viết về thương quan trong tử bình chân thuyên. Trong đây có cả định nghĩ rõ ràng về thương quan :

http://www.chanthuyen.org/forums/showpost.php?p=14843&postcount=92

Trong bài này cũng có câu :
Đã gọi là thương quan thời điều cốt yếu là làm sao tương khắc cho hết quan tinh mới là tốt. Nếu tương khắc không hết để quan tinh khi được vượng (tất lẽ có cơ hội ngóc đầu lên) thì tai họa không thể nói hết được. Vì thế có câu: “Thương quan kiến quan, ải họa bách đoan”.
:

Ở trên đây đây đúng là ý nói về cách thương quan thương tận.

Còn bên dưới là một cách cục khác, đừng nhầm lẫn


Còn đây là bài viết đơn cử cho trường hợp mệnh cục lấy thương quan làm chính :

http://www.chanthuyen.org/forums/showpost.php?p=14296&postcount=81

Trong bài này có câu :
Cách này rất kỵ tài tinh phá hoại ấn thụ, thương thực tổn thương quan tinh, đều bất lợi cho công danh.

....


:

Đây không phải là cách thương quan thương tận mà đây thuần túy là quan ấn cách.

Thien Viet
21-06-2005, 04:04 PM
Đừng nhầm lẫn Thương Quan cách với Quan cách

Thương quan cách thì dụng thương quan và sợ gặp quan (quan bị tận diệt). Cách Thương quan thương tận là một trong các thương quan cách đem lại sự thành công phi thường. Người có cách này uy danh hiển hách lừng lẫy khắp bốn phương (nhất là trường hợp Thương quan dụng Ấn). Cách này về mặt uy danh lừng lẫy có thể so với trường hợp Sát Ấn đắc cách

Còn Quan cách thì dụng quan và sợ gặp thương quan (thương quan bị tận diệt). Cách này đa phần thành công bình thường. Nghĩa là đa số người có cách này chỉ làm các vị quan bình thường. (tất nhiên ngoại trừ một số mệnh cục đặc biệt có đi kèm theo một số yếu tố khác)

Chớ có lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia

Thien Viet
21-06-2005, 04:07 PM
Đọc một hồi cũng tóm lại được y câu đã nói thương quan thương tận tức là thương quan bị tận diệt.Thank u.

Cách này là cách Hai bà Trưng đánh thắng quân "Mông Cổ", còn Trần hưng Đạo thì đánh thắng Mã Viện, hhihi, chán quá, mệt quá. Sắp chịu hết nổi rồi

Chính Ấn
21-06-2005, 04:36 PM
2). Nhật can là Đinh, phải lấy chữ Nhâm làm quan tinh. Nhâm nằm trong Hợi, trong tứ trụ có chữ Tỵ ám xung phân thủy là quan tinh (hội với lộc).



Thơ tổng luận về đảo xung cách thuộc chữ Đinh:

- Đinh nhật đa phùng tỵ tự thông

(Nhật can là Đinh gặp nhiều chữ Tỵ là tốt).

- Cục trung vô thủy quý hóa đồng

(Trong nguyên cục kỵ có Nhâm lẫn lộn).

- Thương quan thử cách nghi thương tận

(Không nên có chữ Thìn, vì Thìn là Thương quan của Đinh)


Trong bài trên có câu này, anh thiên việt giải thích câu này như thế nào?

Chính Ấn
21-06-2005, 04:48 PM
Còn nói về quan ấn cách. Tốt do quan, không do ấn. Tuy phải nói rằng : cả hai cái bổ trợ cho nhau, song trung tâm là quan. Người nào mệnh không có quan, toàn ấn, cho dù có đắc thế đi nữa thì cũng chẳng công danh gì, hoặc làm thầy dạy, hoặc làm thầy tu.

Thien Viet
21-06-2005, 05:44 PM
Cũng đơn giản thôi, dụng quan thì không dụng thương quan, dụng thương quan thì không dụng quan, ai nói gì thì nói nắm chắc cái căn bản này mới không bị tảo hỏa khi đọc sách...mới.

Ngày can Đinh, trong mệnh không có thủy (nhâm quý) theo câu 2, trong mệnh có nhiều Tỵ theo câu 1, thì Tỵ sẽ ám xung Hợi trong có tàng nhâm thành ám quan chủ hiển đạt, vậy thì trường hợp này dụng ám quan cách.

Nếu trong trụ có Thìn (hoặc Mậu lộ ra) thì phải bỏ ám quan cách đi thôi mà dùng cách thương quan. Khi chuyển sang cách này thì cũng giống như cách trên, tức là không được có nhâm (tuy nhiên cách này có Quý thì OK, còn cách ám quan ở trên không được có cả nhâm lẫn quý), cũng không được có Hợi (hoặc Hợi xuất hiện nhưng đã bị xung phá).

Có lẽ đơn giản vậy thôi.

Chữ tàu nhiều câu khó hiểu lắm, không dễ gì dịch đúng ý đâu
Cũng như trong tử vi sáng nay mới đọc được câu:
Khốc Kình Hình Hổ hạn phùng, quý tân lâm hạn tử nghiệp mệnh chung, khoa lương vị giải

Thái Vân Trình dịch Tân Quý là tuổi tân, tuổi quý, khoa lương vị giải là khoa lương giải được

Tuy nhiên còn một ý khác cũng hợp lý: Tân Quý là hạn năm Tân năm Quý, Khoa Lương vị giải: nghĩa là hạn này chắc chết, khoa lương còn chưa giải được (vì vị còn có nghĩa là chưa, cũng như vị tế là chưa qua)

Vậy thì ý nào đúng, làm sao biết được

Thien Viet
21-06-2005, 05:50 PM
- Đinh nhật đa phùng tỵ tự thông

Nhật can là Đinh gặp nhiều chữ Tỵ thì sẽ tự hanh thông.

- Cục trung vô thủy quý hóa đồng

(trường hợp trên) trong mệnh cục không được có thủy bất kể thứ nào trong 4 thứ thủy: nhâm, quý, hợi, tý thì cả cuộc đời đồng được quý hóa. Vì ngay cả khi xuất hiện quý hoặc tý thì đã thành hỗn tạp cách rồi (ám quan, thực sát).

- Thương quan thử cách nghi thương tận

(trường hợp trên) nếu rơi vào trường hợp Thương quan cách thì trở thành cách thương quan thương tận (tức là có Mậu xuất hiện), do nhờ vào mệnh cục không có nhâm quý hợi tý

Chính Ấn
21-06-2005, 06:00 PM
Đúng là chữ tàu có nhiều chổ khó hiểu. Hiểu theo cách nào thì tùy mọi người ví như cửu âm chân kinh thì Trương Quân Bảo hiểu theo cách riêng, tổ sư phái Nga Mi hiểu theo một cách riêng.

Giờ này anh chưa về nhà à? Đến giờ phải về rồi, hẹn anh hôm khác bàn tiếp.

Chính Ấn
21-06-2005, 06:05 PM
Thực ra, nếu trụ này có mậu lộ ra mà có thìn cũng không dùng được thương quan cách vì thìn cung là nơi mộ địa của nhâm thủy. Trong tử vi có câu phú :

"Cự Môn thìn tuất, tân nhân hóa các lộc tranh vinh"

Cự Môn xấu ở thìn là do thủy có gốc rễ ở đấy. Cần có Hóa Lộc (tuổi Tân) để khắc chế mới thành tốt đẹp. Cự Môn còn là cái cửa lớn, Hóa Lộc thể hiện tính rộng rãi, nhân hậu, tính sáng nên Cự Lộc thành cách đẹp. Người nào đắc cách cự lộc ăn nói có duyên, miệng cười cũng đủ thu hút người đối diện.

KHIEM VAN
08-05-2006, 01:20 AM
Chào các ban,

Tôi xin có một số ý kiến sau:

Thương quan thương tận (tận diệt quan tinh- sạch sẽ ) thì Thân cần phải vượng. Vượng ngay ở gốc, không kể vào vận.

Còn Thương quan bị "thương" hết để mở đường cho Quan phát triển thì không cần Thân vượng. Thân nhược cũng được..., dùng... hoặc vào vận Vượng thì gánh được...

Mong trở lại!

diennien
04-09-2006, 04:19 PM
Thương quan mà không tận diệt được quan tinh thì sẽ bị vào tù, nếu thân nhược mà không có ấn hóa giải cho thì có khi lãnh án tử hình .