PDA

View Full Version : Lịch sử Phật Giáo


Tịnh Ngọc
05-06-2005, 09:05 PM
VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ LƯỢC

Thích Mật Thể
---o0o---

TỰ LUẬN

Chương một

I. NGUỒN GỐC PHẬT GIÁO


Gần ba mươi lăm thế kỷ về trước, dân tộc A-ly-an (Aryen) thâu phục nước Ấn Độ và chia dân chúng ra làm bốn bực :

1. Chủng tộc Bà-la-môn (Brahmana), tức là các đạo sĩ học hành uyên bác, giới hạnh đoan nghiêm; văn hóa học thuật của dân tộc đều ở trong tay các bậc này cả.

2. Chủng tộc Sát đế lỵ (Ksatrya), tức là giòng giõi vua chúa.

3. Chủng tộc Phệ xá (Vaisya), tức là hạng buôn bán bình dân.

4. Chủng tộc Thủ đà la (Soudra), gồm những dân tộc tôi tớ lao động.

Ngoài ra lại còn một chủng tộc là Ba-ly-a (Pariahs), tức là những dân tộc mọi rợ.

Theo luật Bà-la-môn thì chỉ có ba chủng tộc trên là có quyền đọc kinh học đạo mà thôi, còn hai chủng tộc dưới không có quyền gì và phải làm nô lệ cho ba phái trên.

Bấy giờ toàn cõi ấn Độ chia làm rất nhiều nước nhỏ, thường khi hòa chiến với nhau như đời Chiến quốc bên Trung Quốc, tuy đại thế vẫn thu về nước Ma-kiệt-đà (Magadha) (như các nước chư hầu với đời Chu Mạc vậy).

Nước này lớn nhất ở phía Nam sông Hằng hà (Gange), làm trung tâm điểm cho toàn xứ Ấn Độ.

Trong những nước có danh tiếng nhất thời ấy, có nước Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu), vua tên là Tịnh Phạn (Sudhodana) Hoàng hậu là Ma-ha Ma-da (Maha-maya) convua A-nâu Thích-ca (Anu-sakya) nước Câu-ly (Koly). Khi ấy vua Tịnh Phạn đã 50 tuổi và Hoàng hậu 45 tuổi mới thọ thai lần đầu. Theo tục Ấn Độ, đàn bà phải về nhà cha mẹ mà sanh con, và con sanh ra đều lấy họ mẹ, nên Hoàng hậu đã về nước Câu-ly, đản sanh được Hoàng tử lấy tên là Tất-đạt-đa (Siddharta) và họ là Thích-ca (Sakya).

Hoàng tử Tất-đạt-đa sau này là Phật Thích-ca, hiệu là Mưu-ni (Mouni), nghĩa là vắng lặng, nhơn đức hoàn toàn.

Nơi sinh Ngài là vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini). Năm 1897 bác sĩ A Fuhrer có đào được ở nơi ấy một trụ đá của vua A Dục (Asoka) (sau khi Phật tịch diệt chừng 270 năm) đánh dấu chỗ của đức Phật giáng sinh.

Còn về niên đại giáng sinh của Ngài hiện có nhiều thuyết khác nhau. Theo thuyết phổ thông thì Ngài sanh ngày mồng 8 tháng tư âm lịch đời Chiêu Vương nhà Chu (trước Tây lịch 1027 năm). Nhưng theo pháp sư Pháp Châu, người Trung Quốc đã từng du học ở Tích Lan (Ceylan), dày công nghiên cứu về lịch sử Phật, có dẫn chứng bằng mấy chục bộ sách vừa văn Trung Quốc và văn Pali, thì Ngài sanh vào khoảng năm 563 trước Thiên chúa giáng sanh.

Ngài tư bẩm thông minh từ thuở nhỏ. Bảy tuổi Ngài theo học các đạo sĩ phái Bà-la-môn, như ông Tỳ-xa-mật-đa-la (Visvamitra) và ông tướng võ S ằn-đề-đề-bà (Ksautidiva). Dần dần Ngài thông hiểu các khoa, nhất là nghị luận, triết lý. Chính trong khi bắt đầu hiểu biết ấy, cũng là khi Ngài bắt đầu cảm thấy chán nản cuộc đời vinh hoa phú quý và buồn đau cho cuộc thế của nhân sinh.

Nhưng vì cớ gì một vị thiếu niên Hoàng tử sống một cuộc đời đẹp đẽ, không bao giờ trực tiếp với đời mà lại có tâm lý ấy ? Rồi sau đây tại sao Ngài biết đời khổ mà xót thương đến phải xả thân để tìm phương giải thoát ? Chúng ta cần nên tìm sâu vào nguyên lý ấy.

Cứ suy mấy bậc thánh triết Trung Hoa ai cũng biết, bởi sống giữa thời đại quá suy đồi, lớn hiếp bé, mạnh hiếp yếu, thì ngài Lý Đam mới tạo ra được triết lý vô vi của đạo Lão; đời Xuân thu phong hóa đồi bại (cha không ra cha, con không ra con, vua không ra vua, tôi không ra tôi), thì Ngài Khổng Khâu mới sáng ra phép tu thân của đạo Nho. Như vậy đủ rõ, hoàn cảnh giúp nên thánh triết, mà người trở nên thánh triết chỉ là người muốn cải thiện thời thế. Nếu đời chiến quốc không phải là thời phong kiến, và là đời sống thanh bình như thời Nghiêu, Thuấn thì đủ có Khổng tử hay Lão tử, nước Trung Quốc cũng không thêm được món triết lý nào.

Vậy nói đến Phật Thích-ca, tất cũng phải xét đến nguyên nhân chánh đáng. Nguyên nhân chánh đáng ấy chính là lòng từ bi của Ngài, nghĩa là suy đến hoàn cảnh Ngài.

Như trên đã nói, dân tộc ấn Độ bấy giờ chia ra làm năm phái rõ rệt Ngài là giòng quý tộc. Nhưng xét ra giòng quý tộc chỉ có quyền mà không có thế, vì bao nhiêu học thuật, luật pháp đều ở trong tay phái Bà-la-môn cả. Một Hoàng tử thiếu niên có đủ tài như đức Thích-ca, thấy vậy tất phải sinh lòng bất mãn cho cái chế độ ấy. Rồi Ngài lại thấy cái khổ của những kẻ nô lệ gần Ngài. Ngài sinh ra bất bình với cái tập quán bất công của dân tộc. Sự buồn rầu của Ngài khởi điểm từ đấy. Lại hằng ngày Ngài thường nghe và thấy bao nhiêu chuyện đau khổ của nhân loại, và, dù người được sanh vào nơi quyền quý, nơi mà người đời đã cho là sung sướng, cũng không tránh khỏi bốn cái ách “sanh, lão, bệnh, tử”. Thế là Ngài bắt đầu ngờ vực mới triết lý truớc sự sống đau khổ của loài người.

Ngài lại càng buồn rầu khi thấy chỉ có mình Ngài cảm biết nỗi đau khổ ấy, còn biết bao nhiêu người vẫn sống mê man.. ... tranh đua, áp chế, cướp giết lẫn nhau, gây thêm cho nhau bao nhiêu là cảnh khổ não thương tâm, mà người đời vẫn triền miên sống trong vòng tội lỗi tối tăm, trong cảnh khổ không bờ bến mà không hề tự biết ? Nhơn đó Ngài mới nhóm trong tâm một lý tưởng : “Phải tìm lấy chơn lý đủ cứu vớt chúng sinh ra ngoài bể khổ”. Từ đó Ngài cố tìm trong kinh điển, trong đạo lý để mong tìm thấy một chân lý mà giải luận cuộc nhân sanh.

Năm 16 tuổi, Ngài vâng lời vua cha cưới 3 vị phu nhân La-gia (Gapika), Gia-du-đà-la (Yasodhara), Lộc-giả (Urganika). Bà Gia-du-đà-la sanh được một con trai lấy tên là La-hầu-la. Nhưng càng ngày Ngài càng chán nản đời sống tầm thường dù vợ đẹp con yêu ấy.

Năm 19 tuổi, khi sự chán nản lên đến cực độ, Ngài quyết bỏ vợ con, bỏ cuộc đời vinh hoa phú quý, vào hang núi chịu đói rét, tu khổ hạnh để mong tìm nghĩ được một phương pháp gì cứu loài người ra khỏi vòng khổ ải, và bầy cảnh cực lạc trên thế gian. Trong mấy năm ấy, Ngài đi tìm hỏi mấy vị đạo sĩ có danh tiếng, nhưng Ngài thấy triết lý của vị nào cũng không được siêu thoát lắm. Ngài liền vào ẩn trong dãy Tuyết Sơn (tức là núi Già-xà-gaya trong sách Phật ngày sau gọi là Khổ hạnh lâm) để tu tập thiền định. Trong 6 năm trời tu khổ hạnh, nhưng Ngài không thấy chứng được đạo quả gì. Ngài mới đi đến núi Tượng Đầu (Gajasirsa) bên sông Ni-liên-thuyền (Nai-Rạdjjâna) tắm rửa xong, Ngài thọ bát sữa của mấy nàng mục nữ cúng, rồi Ngài ở đó một mình tỉnh tọa suy xét. Ngài thề : "Ta ngồi ở đây nếu không chứng được đạo quả, thì dù có tan nát thân này, ta quyết không bao giờ đứng dậy.”Dưới gốc cây Tất-bát-la (Pippala), Ngài ngồi định tâm, vừa định tâm 48 ngày thì, một hôm, khi sao mai vừa mọc, Ngài bỗng thấy trong tâm sáng suốt, rõ thấy chân lý của vũ trụ và nguồn gốc sanh tử của chúng sinh: Ngài đã thành Phật. Bấy giờ Ngài vừa 31 tuổi, ngày ấy nhằm ngày mồng 8 tháng chạp lịch Trung Hoa (Ngày nay ở Nam thành Patna chừng 110 cây số có thành Già gia (Gaya) và cách thành này 13 cây số có linh địa gọi là Phật-đà Già-gia (Bouddha Gaya), tức là chỗ Ngài thành Phật vậy. Còn cây Tất-bát-la là chỗ Ngài ngồi nhập định, sau gọi là cây Bồ-đề, dấu tích nay vẫn còn.

Khi ấy Ngài yên lặng, hoàn toàn sống trong sự sáng suốt nhiệm mầu của chân lý mà Ngài đã chứng ngộ, rồi Ngài trở lại với loài người đem đạo lý ra mà thuyết pháp giáo hóa.

Từ đó Ngài chu du khắp các lưu vực sông Hằng hà, giáo hóa được vô số chúng sinh đương mê muội, trở nên giác tĩnh, đều qui y Phật pháp để tu hành diệt khổ, chứng đạo Niết-bàn.

Ngài thọ 80 tuổi và tịch diệt vào ngày rằm tháng hai, trong một vườn cây gần thành Câu-thi-la (Kusinagara).

Tịnh Ngọc
05-06-2005, 09:07 PM
Sau khi Phật Niết-bàn, ngài Ma-ha Ca-diếp (Maha-kôsyapa) thay Phật thống suất Tăng chúng, họp cả thảy 500 vị đệ tử Phật, ở thành Vương-xá (Rajagrika) giảng tụng lại đạo lý của Phật đã dạy. Đồng thời ở chỗ khác cũng có ngài Ba-sư-ca (Câspa) chiêu tập hàng vạn Tăng chúng kiết tập Pháp tạng. Nhơn đó trong Phật giáo bắt đầu chia làm hai phái Thượng tọa và Đại chúng.

Rồi lần hồi đến kỳ kiết tập thứ hai (sau Phật Niết-bàn hơn 100 năm), kỳ kiết tập thứ ba (sau Phật Niết-bàn hơn 200 năm), và kỳ kiết tập thứ tư (sau Phật Niết-bàn chừng 600 năm); qua các kỳ kiết tập ấy lần lượt lại chia thành 20 bộ phái; tuy có chia ra nhiều bộ phái như vậy, mà vẫn tôn thờ một giáo chủ: Phật Thích-ca, và giáo lý đều nương vào lời Ngài dạy từ trước làm thánh điển.

Trong bốn kỳ kiết tập kể trên, hai kỳ đầu chỉ nhóm chúng lại rồi các vị Thượng tọa lên đàn giảng tụng lại những lời Phật dạy cho nhớ thôi, mãi đến hai kỳ kiết tập sau mới có biên chép thành kinh điển. Kết quả thành hai lối văn : văn Phạn và văn Pali. Phật giáo nhờ đó truyền bá hầu khắp toàn cõi Ấn Độ, cho đến ngày nay đã thành thế giới hóa.

Gần đây các học giả âu Châu nghiên cứu Phật giáo, lấy nước Ấn Độ làm trung tâm, đem Phật giáo chia làm Nam phương Phật giáo và Bắc phương Phật giáo. Như hiện nay Phật giáo truyền ớ Tích Lan (Ceylan), Miến Điện, Xiêm La, Lào, Cao Mên, v.v. . . gọi là Nam phương Phật giáo Phật giáo truyền ở Népal, Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bổn, v.v. . . và cả đến Việt Nam ta gọi là Bắc phương Phật giáo. Sở dĩ gọi Nam phương và Bắc phương chỉ là sự phân chia về địa lý, chớ không phải nói về Đại thừa, Tiểu thừa; chẳng qua có thể nói Bắc truyền Phật giáo phần nhiều thuộc về phát triển Phật giáo ; Nam truyền Phật giáo so lại gần với nguyên thỉ Phật giáo.

Nam phương Phật giáo theo kinh điển văn Pali ; Bắc phương Phật giáo theo kinh điển văn Phạn.

Tịnh Ngọc
05-06-2005, 09:08 PM
Kể từ khi Phật giáo chia thành bộ phái rồi thì mỗi bên chấp mỗi kiến giải khác nhau, tranh nhau nghị luận thật đã ráo riết, khiến trên lịch sử Phật giáo Ấn Độ, về khoảng trước thế kỷ thứ nhất, thứ hai Đại thừa Phật giáo cơ hồ không còn lưu hành nữa. Mãi đến đầu thế kỷ, ở Bắc ấn Độ có ngài Mã Minh ra đời, làm luận Đại thừa khởi tín, cùng nhờ sức ủng hộ của vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska), ngài hết sức tuyên bố phục hưng giáo lý Đại thừa, từ đó Đại thừa lần thạnh.

Sau đó 100 năm, lại có ngài Long Thọ nối tiếp ra đời, làm luận Trung quán, luận Thập nhị, luận Trí độ v.v… làm Khai tổ về Đại thừa Không tôn và cả Chơn ngôn tôn nữa. Đại thừa Phật giáo nhơn đó càng được phát dương lên mãi.

Nối nghiệp ngài Long Thọ, có hai vị đệ tử là Long Trí và Đề Bà, cả hai ngài cùng làm luận giảng đạo phá dẹp ngoại đạo, Tiểu thừa, hoằng dương Đại thừa (Phật giáo truyền vào ta lúc này).

Đương thời ở Bắc Ấn Độ, Tiểu thừa giáo vẫn còn thạnh hành; có ngài Ha-lê-bạt-ma (Hari-mamlan) chiết trung học lý của các bộ phái, làm ra luận Thành thật, phát huy đạo lý về Nhơn không, Pháp không, rất có ý tổng hợp cả Đại thừa và Tiểu thừa trong đó. Tiểu thừa Phật giáo ở Ấn Độ đến đây có thể bảo là chung kết.

Đến sau khi Phật Niết-bàn hơn 900 năm, có ngài Vô Trước sanh ở Bắc Ấn Độ, sau đến Trung Ấn, đề xướng giáo nghĩa Đại thừa Duy thức. Có em là ngài Thế Thân nguyên trước vốn người theo học Tiểu thừa, có làm luận Cu-xá, sau theo anh học Đại thừa, rồi cả hai ngài đều cực lực phát dương giáo nghĩa Đại thừa Duy thức.

Vào khoảng 1000 năm sau khi Phật Niết-bàn là thời kỳ Phật giáo Ấn Độ phát triển đến chỗ rực rỡ, có nhiều bậc Đại đức, nhiều vị luận sư ra đời, tuyên truyền giáo lý.

Nhưng đến sau khi Phật Niết-bàn khoảng 2000 năm, đạo Bà-la-môn được cơ phục hưng, họ hết sức bài xích Phật giáo. Lại có Hồi giáo ở Thổ-nhĩ-kỳ (Turquie) xâm nhập Ấn Độ, dùng thủ đoạn khốc liệt, gia hại Phật giáo, đập tháp phá chùa, hủy diệt chánh pháp. Vì thế Phật giáo phải bị suy diệt, hầu đến tuyệt tích! Các nhà viết sử Phật giáo Ấn Độ chấm dấu ngay từ đó.

Nhưng đến thế kỷ 19, nước Anh xâm lăng Ấn Độ đồng thời với văn hóa nước ấy, người Âu châu họ rất để tâm nghiên cứu, ngày thảy tiến tới. Nên với giá trị phổ biến của Phật giáo, họ đã nhận thức một cách đặc biệt và xôn xao khen ngợi. Khi đó, người Ấn Độ cũng bắt đầu kinh ngạc, nhìn cái văn hóa nước mình, mới lên tiếng kêu gào : Phục hưng Phật giáo.

Rayendrachilala tiên sanh là một học giả Phật giáo đầu tiên, xuất hiện giữa phong trào nghiên cứu văn hóa ấn Độ của người Âu Tây. Người căn cứ vào 144 loại kinh về Phạn bản ở Népal, làm ra quyển “Népal Phật giáo Phạn bổn” (Thelitasanskrit Buddhist Lilterature of Népal). Năm 1888 lại có cho xuất bản quyển “Tiểu phẩm Bát-nhã”. Đối với sự nghiên cứu Phật giáo người rất là có công.

Năm 1893 có Sarat Chandrodas tiên sanh lại đề xướng lên hội “Nghiên cứu thánh điển Phật giáo Ấn Độ và nhân loại học thuật”. Khi ấy lại càng kích thích người Ấn Độ đối với cơ vận nghiên cứu Phật giáo.

Đại Bồ-đề hội là một đoàn thể rất có thế lực trong công cuộc vận động phục hưng Phật giáo ở Ấn Độ hiện thời. Sáng lập vào năm 1891, chi bộ đều có đặt ở các chỗ như là Nữu-ước, Luân Đôn v.v. . . Sự bố giáo hầu khắp Âu Mỹ. Rồi đến toàn Tích Lan Phật giáo đại hội (1918), toàn Ấn Độ Phật giáo đại hội (1928), trước sau thành lập, đều xây dựng trên một mục đích “Chấn hưng Phật giáo”.

Đến như hiện nay nhân dân Ấn Độ tổng kê được là 301.894 vạn người, tựu trung Phật giáo đồ chiếm được số 1157 vạn.

Như vậy ta đủ thấy quang cảnh thạnh đạt đến dường nào!

Tịnh Ngọc
05-06-2005, 09:14 PM
Chương hai

II. PHẬT GIÁO Ở TRUNG QUỐC



Nước ta lúc đầu ảnh hưởng Phật giáo tuy có trực tiếp với Ấn Độ, song sự truyền bá không được phổ cập hết dân tộc, nên sau Phật giáo có thạnh là nhờ kinh điển của Trung Quốc đã dịch lại ở văn Phạn. Bởi thế, ta cần biết qua lịch sử Phật giáo ở Trung Quốc.

Trong sách Liệt Tử có dẫn lời đức Khổng Tử rằng : “Khâu này nghe phương Tây có bậc Thánh, không trị mà không loạn, không nói mà tự tin”.

Lại sách Ngụy thư thích Lão chi có chép : “Vua Võ Đế nhà Tây Hán sai tướng Hoạt Khử Định đánh nước Hung Nô, bắt được hình người bằng vàng dài hơn một trượng, đem về dâng vua, vua liền đem vào thờ ở trong cung Cam Tuyền, thường ngày thắp hương lễ bái”.

Cũng trong sách ấy chép : “Đời Tây Hán có tướng Trương Khiên phụng mệnh vua Võ Đế đi sứ Tây vức về tâu rằng : Bên nước Thân độc (một nước trong xứ Tây vức bấy giờ) có đạo Phù Đề (tức Phật giáo)”.

Sách Liệt tiên truyện của Lưu Hướng đời Tây Hán Thành đế có chép : “Từ đời Hoàng đế đến nay, đắc đạo có hơn 700 người, nhưng trong số ấy tu theo đạo Tiên chỉ có 146 người, còn bao nhiêu đều theo đạo Phật”.

Xem đó đủ biết dân Trung Quốc biết có Phật giáo đã lâu lắm, trong dân gian rải rác đã có người theo và trong nước đã có dư luận về đạo Phật vậy.

Mãi đến đời nhà Đông Hán, niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10 (TL.67) vua Minh Đế sai các ông Thái Hâm, Vương Tuân, cả thảy 18 người, qua nước Đại Nhục Chi để rước Phật về thờ và có mời được hai vị sư là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan qua Trung Quốc. Vua Hán Minh Đế liền sắc dựng chùa Bạch Mã để thờ Phật và cho hai ngài ở đó dịch kinh, truyền đạo Hai ngài dịch được kinh Tứ thập nhị chương và 16 quyển khác. ở Trung Quốc, Phật giáo được triều đình thừa nhận, có làm chùa và dịch kinh là bắt đầu từ đó. Dần dần đạo Phật càng ngày càng bành trướng khiến đạo Lão gần mất hết thế lực. Bởi thế, những nhà truyền đạo từ Tây vức lục tục kéo sang Trung Quốc, như ngài An Thế Cao, Chi Lâu Ca Sấm, Chi Diệu, Trúc Phật Sóc là những bậc nổi tiếng nhất. Đến đây, kinh chữ Phạn dịch ra chữ Hán đã đến số 300 bộ.

Nhà Đông Hán mất; Ngụy, Thục, Ngô nổi lên, tức là đời Tam Quốc, có ngài Khương Tăng Hội từTây Vức qua truyền đạo, thuyết pháp, vua Ngô Tôn Quyền chịu qui y. Năm thứ hai niên hiệu Gia Bình vua Ngụy Minh Đế (TL. 250), ngài Đàm-ma-ca-la từ Trung Ấn Độ qua thi hành phép “Thập Nhơn Thọ” về Tứ Phần luật. Trung Quốc thi hành giới luật là bắt đầu từ lúc ấy. Mấy năm sau (TL. 258), Châu Tử Hàng ở Lạc Dương khai đàn giảng kinh Bát-nhã. Trung Quốc công khai giảng kinh Phật cho nhân dân nghe cũng bắt đầu từ lúc ấy. Nhưng thời bấy giờ kinh điển dịch ra chưa hoàn bị, nghĩa còn mờ quá, nên Châu Tử Hàng quyết chí qua Tây vức học chữ Phạn và tìm nguyên bản kinh chữ Phạn để dịch lại.

Tịnh Ngọc
05-06-2005, 10:25 PM
Năm thứ tư niên hiệu Vĩnh Gia nhà Tây Tấn (TL. 310), ngài Sa-môn xứ Tây Vức Phật Đồ Trừng sang thuyết pháp, nhân dân mộ theo rất đông, có hàng vạn người, trong ấy như Ngài Đạo An, Pháp Hòa, Trúc Pháp Hải v.v...là những môn đồ nổi tiếng nhất. Phật giáo cảm hóa nhân gian và hưng thạnh hơn từ đó. Ngài Đạo An, Huệ Viễn sau phát dương mối manh tôn chỉ của Phật giáo ra, đến ngài Cưu-ma-la-thập mới là thạnh đạt. Đó là thời kỳ Phật giáo Trung Quốc biến đổi lần thứ nhất. Đời này bắt đầu có Tam luận tôn, Thành thật tôn.

Đến đời Nam Bắc triều (TL. 420-588) Phật giáo càng có thế, có Tăng sĩ Huệ Lâm được tham dự triều chính. Đời ấy có ngài Bồ-đề Đạt-ma ở Thiên Trúc sang truyền pháp Thuyền Tôn, ngài Tam Tạng Nhơn Đế dịch luận Đại thừa Khởi tín. Lúc đó ở Trung Quốc mới đề xướng pháp môn “Chân như duyên khởi”. ấy là thời kỳ Phật giáo Trung Quốc biến đổi lần thứ hai. .Lại có Nam Nhạc đại sư lập Thiên thai tôn, ngài Đàm Vô Sấm dịch truyền Niết-bàn tôn.

Nhưng đến niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ 7 (TL. 446), vua Hậu Ngụy Thái Võ Đế lại chém giết hết các Tăng lữ và phá hủy hết Kinh, Tượng, Chùa, Tháp trong nước. Lịch sử Phật giáo có chỗ gọi rằng: “Tam Võ, nhất Tôn chi ách”,đây là Võ ách lần thứ nhất. Bốn năm sau Võ Đế thăng hà, Văn Thành vương nối ngôi, lại sắc phục hưng Phật giáo. Dần dần các đời vua sau cũng chấn hưng, nên đạo Phật được trùng quang. Có ngài Lặc-na-ma-đề dịch truyền Địa luận tôn. Đến đời vua Tuyên Võ (TL. 508), Phật giáo lại cực thạnh, các Sa-môn Tây Vức tìm đến có ba ngàn, chùa chiền trong nước dựng hơn một vạn, Tăng lữ gần hai triệu.

Song đến đời Võ Đế Bắc Chu (TL. 574), Phật giáo lại bị ách vận lần thứ hai : Vua bãi bỏ Phật giáo, dùng chùa chiền làm phủ độ cho các vương hầu; còn Tăng sĩ phải về làm dân hoặc tuyển làm quân lính.

Sau Võ Đế, Tuyên Đế nối ngôi, lại sắc chiếu phục hưng Phật giáo, chuyên dịch kinh luận. Tiếp đến đời Tùy, Phật giáo càng ngày càng thạnh, vua quan đều qui y Phật pháp, các Tăng đồ trước thuật nhiều kinh luận.

Nhà Tùy suy, đến nhà Đường nổi lên, vua Cao Tổ cũng sùng tín Phật giáo, nhưng có quan Thái Sử Lịnh là Phó Dịch bảy lần dâng sớ bài bác đạo Phật, vua Cao Tổ lại phải chất vấn lại các Tăng sĩ, nên có hai vị Tăng là Huệ Thừa làm Biện chính luận và Minh Khái làm Quyết đối luận. Nhưng vua Cao Tổ cũng hạn chế việc làm chùa và truyền đạo. Thời ấy Lão giáo cũng bị hạn chế.

Sau Cao Tổ có Lý Thế Dân là con nối ngôi, hiệulà Dường Thái Tôn. Đời này nhơn dân an cư lạc nghiệp, đường giao thông với ngoại quốc mở rộng, nên không những Phật giáo hưng thạnh mà các giáo khác của ngoại quốc cũng bắt đầu truyền vào, như Tiên giáo, Ma Ni giáo, Hồi giáo và Cảnh giáo. Chính ngài Huyền Trang sang Thiên Trúc cầu kinh cũng vào lúc này. Nguyên kinh điển Phật giáo bấy giờ phần thì các đời trước dịch sai lầm, phần thì mấy lần bị các vua chúa thiêu hủy, khi chép lại có sai nhiều; ngài Huyền Trang thấy thế liền quyết sang tận thành Vương-xá Trung Ấn Độ, thọ giáo với ngài Giới Hiền luận sư, rồi lại du lịch các nước trong cõi Ấn Độ để tìm nguyên bản kinh điển đem về dịch. Niên hiệu Trinh Quán thứ 19 (TL 645), ngài mới về nước. Đường Thái Tôn rất tôn kính, ban ngài ở chùa Đại từ ân và chùa Hoằng Phước để dịch kinh, truyền đạo. Ngài hết sức truyền bá, nên Phật giáo được lừng lẫy phổ cập khắp nhơn gian. Với kinh điển của ngài dịch ra, người sau gọi là “Tân dịch”, đối với những lần dịch trước có phần sai khác. Đó là thời kỳ biến đổi lần thứ ba Phật giáo ở Trung Quốc. Các đệ tử của ngài về sau cũng trước tác kinh luận rất nhiều quyển có giá trị.

Sau vua Cao Tổ, đến bà Võ Tắc Thiên Hoàng đế, cũng sai sứ qua nước Vu Điền (tức là Khotan và Kustana bây giờ) cầu kinh Hoa Nghiêm thêm các kinh điển chữ Phạn, và mời một học giả chữ Phạn là Thật-xoa-nan-đà về dịch kinh cùng ngài Bồ-đề Lưu Chi Tam tạng, dịch kinh Hoa Nghiêm được 80 quyển gọi là “Bát thập Hoa nghiêm”, bà Võ Tắc Thiên làm bài tựa. Lại có ngài Nghĩa Tịnh Tam tạng cùng qua Ấn Độ du lịch các nước và cầu kinh về dịch được 60 bộ, cộng 230 quyển, Phật giáo thật đến hồi cực thạnh vậy.

Tịnh Ngọc
05-06-2005, 10:26 PM
Từ đó hết đời vua này đến đời vua khác, vua nào cũng ủng hộ Phật giáo, Tăng sĩ có rất nhiều người hoặc Tây du, hoặc dịch Kinh, hoặc làm Luận, nên Phật giáo càng ngày càng rộng.

Nhưng đến đời vua Võ Tôn, Phật giáo lại đại ách, tức là Võ ách thứ ba : Niên hiệu Hội Xương thứ 5 (TL. 845), nguyên Võ Tôn sùng tín Lão giáo, nên nghe các đạo sĩ hạ sắc hủy 44.600 chùa Phật, bắt 265.000 Tăng sĩ hoàn tục, những chuông khánh bằng đồng tịch thu để đúc tiền. Thời ấy các giáo khác cũng bị giải tán.

Cách hai năm sau, vua Tuyên Tôn lên ngôi mới lại hạ sắc tu bổ chùa chiền, chấn hưng Phật giáo. Nhưng đời ấy quốc thế nhà Đường đã đến thời suy, nên Phật giáo dù hết sức chấn hưng cũng kém bề thạnh đạt.

Đời Đường có thêm các tôn : Tịnh độ, Pháp tướng, Cu-xá, Luật Hoa nghiêm, Chơn ngôn.

Xét ra, Trung Quốc đến đây và từ đây về sau, chỉ có đời Đường, từ Đường Cao Tôn (TL. 645) đến đầu đời Đường Võ Tôn (TL. 845) là Phật giáo hưng thạnh lừng lẫy nhất. Còn từ nay về sau, Phật giáo từ chỗ bảo thủ đến thời suy đồi, không đời nào được hưng thạnh hơn nữa; ấy cũng bởi thời thế rối ren, thay đổi luôn luôn. Như sau đời Đường đến đời Ngũ Đại (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu), chiến tranh thường nổi dậy. Không những thế, vua Thế Tôn nhà Hậu Chu lại không ưa Phật giáo, sắc chỉ phá hủy chùa chiền đến 30.336 cái, và đem tượng đồng, chuông, khánh đúc tiền (đó là nhất Tôn chi ách vậy), những kinh điển và chương luận của các bậc Cao Tăng tán lạc hết, Phật giáo tưởng đến tuyệt tích!

Hết đời Ngũ Đại, nhà Tống nổi lên chấn hưng Phật giáo, nhưng không thể rực rỡ ngay được nữa. Tuy vậy, những chùa chiền, tháp tượng đã bị phá hủy, dần dần cũng được dựng lại, kinh điển được tìm ra khắc lại. Và cũng có sứ sang Cao Ly tìm kinh điển, nên Phật giáo cũng đỡ điêu tàn. Lần lượt các đời vua sau hết sức chấn hưng, sai sứ đi cầu Kinh, cầu Pháp sư Tây Vức về, và sắc dịch kinh điển, nên Phật giáo lại được hồi phục, tuy có kém trước.

Rồi dần dần nhà Tống cũng suy yếu, nhà Kim (Mãn Châu) sang xâm lấn, Phật giáo vì vậy cũng suy. Sau Mông Cổ lại diệt Kim, Hốt Tất Liệt diệt Nam Tống thống nhất thiên hạ, lập ra nước Nguyên; tuy các đời vua cũng sùng tín Phật giáo, nhưng không có việc gì đặc sắc. Nhân lại có Lạt Ma giáo ở Tây Tạng truyền vào, được vua chúa triều đình sùng thượng hơn, nên đạo Phật cố hữu ở Trung Quốc càng suy kém.

Nhà Nguyên suy, Chu Nguyên Chương nổi lên thay thiên hạ, lập ra nhà Minh. Minh Thái Tổ lúc nhỏ đã từng làm Sa-di, nên hết sức ủng hộ Phật giáo. Ngài lại qui định phép tắc cho Tăng lữ, đặt những Ty Tăng Càng, Tăng chánh, Tăng hội để chưởng lý các Tăng lữ. Trong phái Tăng đồ có chức hiệu từ đó. Đồng thời cũng có nhiều Tăng sĩ phiên dịch và trước thuật kinh luận, nên Phật giáo lại được trùng hưng. Đến đây có thể nói là thời kỳ vẻ vang sau cùng vậy.

Nhà Minh tàn, nhà Thanh (Mãn Châu) nổi lên thống nhất thiên hạ. Thanh Thái Tổ, Thanh Cao Tôn tuy cũng ủng hộ Phật giáo, nhưng cũng chỉ là bảo thủ thôi Đến đời Thánh Tổ, Thế Tôn thì Phật giáo càng suy đốn, vẫn có chùa chiền, Tăng sĩ, nhưng thật ít người thấu hiểu đạo lý của Phật.

Cuối đời nhà Thanh, sóng văn minh âu Tây truyền vào, thuyết bài trừ mê tín sôi nổi toàn quốc, Phật giáo càng suy, các chùa chiền phần nhiều bị đổi ra làm trung học hoặc các việc công ích khác. Bởi vì sự thật, Phật giáo bấy giờ chỉ còn hư danh, nói đến Phật học là người ta chỉ nghĩ cúng cấp mê tín thôi, nên Phật giáo cũng bị người ta lầm cho là một món tà đạo đầy sự lợi dụng, mê tín. Sau các nhà văn sĩ, học giả mới nổi lên, đều nghiên cứu triết lý nhà Phật. Họ nghiên cứu theo khoa học và đồng tán dương trên sách báo nên Phật giáo nhờ đó lại được quốc dân tưởng niệm đến.

Đến thời Tôn Văn nổi lên cách mệnh, xướng thuyết Tam Dân chủ nghĩa rồi diệt nhà Thanh mà lập nên Dân quốc (1912), dân chúng càng ảnh hưởng văn minh, thì Phật học lại càng tăng và đi vào đường nghiên cứu. Nhờ vậy Phật giáo bỗng nẩy ra những tia sáng mới lạ.

Năm Dân quốc mới thành lập, ngài Kỉnh Sơn cùng các ngài đồng chí Sa-môn, cư sĩ, sáng lập Trung Quốc Phật giáo Tổng hội; các cư sĩ ở Thượng Hải cũng lập Phật giáo cư sĩ lâm, Phật giáo Tịnh nghiệp xã.

Về sau này, các Sa-môn cư sĩ dần dần sáng lập những chuyên môn học hiệu, như: Giảng đường chùa Quán Tôn ở Ninh Ba (Chiết Giang) do Đế Nhàn Pháp sư chủ giảng; ở Võ Xương (Hồ Bắc) có Phật học viện do Thái Hư Pháp sư là người tân học uyên bác chủ giảng; ở Giang Tô có Hoa Nghiêm học viện; Nam kinh có Hội học viện do Âu Dương Kỉnh Vô chủ giảng. Trong các đoàn thể nghiên cứu Phật giáo, phần nhiều có tạp chí làm cơ quan hoằng dương giáo nghĩa, như Phật học tùng báo, Hải triều âm, Cư sĩ lâm san. Tinh nghiêm nguyệt san. Chi Na nội học, Oai âm, Vi diệu thanh, Phật giáo tân văn v.v... đều lục tục xuất bản.

Đến nay xảy ra nạn Trung Nhật chiến tranh, nên Phật giáo cũng bị ảnh hưởng, các cơ quan phần bị tạc đạn, phần chạy loạn, nên công việc hoằng dương đều phải đình đốn cả. Nhưng các bậc Đại đức Tăng già, Hộ pháp cư sĩ vẫn quyết chí duy trì ở những nơi đã bị chiếm cứ hoặc chưa bị chiếm cứ, tưởng sau này thời thế được yên, thì Phật giáo chắc lại có cơ hồi tịnh vậy

Tịnh Ngọc
05-06-2005, 10:31 PM
http://img.photobucket.com/albums/v604/barbiemodel/Sodo.bmp

Tịnh Ngọc
06-06-2005, 08:45 PM
Chương ba

III. ĐỊA THẾ NƯỚC VIỆT NAM NGUỒN GỐC VÀ TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM

Muốn khảo sát lịch sử của một dân tộc nào, bất cứ về phương diện gì, đều phải căn cứ vào địa thế đất nước của dân tộc ấy để làm chỗ lập định. Vì hoàn cảnh sanh hoạt của dân tộc đều ảnh hưởng hình thế khí hậu và cương vực của đất nước. Nhất là về phương diện Phật giáo của dân tộc Việt Nam, người đọc sử lại cần biết rõ điều kiện địa lý. Vì Phật giáo vốn của nước ngoài truyền vào bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

Cứ theo hình thế cương vực hiện thời, thì nước Việt Nam ta chiếm hết bảy phần mười cõi Đông Dương (người ta thường gọi gồm cả là Ấn Độ Chi Na), vì địa thế ở giữa nước Ấn Độ và Trung Hoa. Ấn Độ Chi Na là một bán đảo ở giữa biển Trung Hoa và vịnh Băng-gan (Bengale), cấu thành bởi mấy dãy núi từ Tây Tạng chạy về miền Đông Nam đến biển, xòe ra như hình giải quạt. Ở giữa các dãy núi ấy là những thung lũng, đầu thì hẹp rồi dần dần tỏa ra thành cao nguyên và bình nguyên. Những sông lớn như sông Nam (Ménam), sông Khung hay sông Cửu Long và sông Nhị, đều phát nguyên từ Tây Tạng chạy theo các thung lũng ấy, rồi bồi thành một dãy trung châu ở dọc bờ biển từ Bắc đến Nam. Đó là đại khái vị trí của nước Việt Nam.

Còn nòi giống dân tộc Việt Nam, theo tục truyền thì là nòi giống Tiên Rồng, mà căn cứ vào sự nghiên cứu của những nhà Sử học gần đây, nhất là những giáo sư ở trường Viễn Đông Bác Cổ thì có mấy thuyết :

1. Có người cho tổ tiên ta phát tích từ Tây Tạng, sau theo lưu vực sông Nhị mà di cư xuống miền Trung châu Bắc kỳ.

2. Ông Aurousseau có dẫn chứng cổ điển rất rõ ràng, chỗ Tổ tiên ta là người nước Việt ở miền hạ lưu sông Dương Tử, sau bị nước Sở (đời Xuân Thu) đánh đuổi phải chạy xuống phía Nam ở miền Quảng Đông, Quảng Tây, rồi lần lần đến Bắc kỳ và phía Bắc Trung kỳ (đời thượng cổ địa thế nước ta là từ Quảng Đông, Quảng Tây đến phía Bắc Trung kỳ).

3. Theo nhiều nhà Nhân chủng học khác thì, ở đời tối thượng cổ có giống người Anh-đô-nê-diêng bị giống A-ri-ăng đuổi từ Ấn Độ tràn sang bán đảo Ấn Độ Chi Na. Giống người Anh-đô-nê-diêng này làm tiêu diệt giống thổ dân ở đây trước là giống Mê-la-nê-diêng, rồi một phần đi thẳng sang Nam Dương quần đảo, còn một phần ở lại Ấn Độ Chi Na. ở phía Nam họ thành giống người Chiêm Thành và Cao Miên theo văn hóa Ấn Độ; ở phía Bắc thì hỗn hợp với giống Mông Cổ mà thành người Việt Nam, sau ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa.

Trong ba thuyết ấy, thuyết nào cũng có lý và có chứng cả (chưa biết chừng giống người Việt Nam là cả ba giống người ấy hỗn hợp mà thành cũng nên).

Kể mấy giống người trong cõi Ấn Độ Chi Na, thì giống người Việt Nam ta là thuần chất nhất, thông minh nhưng không lỗi lạc phi thường, giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lý. Bởi thế, dân tộc Việt Nam dễ chịu ảnh hưởng văn hóa tinh thần của người nước ngoài. Tánh khí nông nổi, không bền chí, nhưng chịu đựng được sự cực khổ và hay nhẫn nhục; thường thì hay nhút nhát và chuộng hòa bình, song lại biết hy sinh vì nghĩa lớn, ít sáng tạo, nhưng bắt chước thích ứng và dung hợp thì rất tài. Vì những cớ ấy, nên những tôn giáo, đạo lý ở nước ngoài truyền vào dễ được dân tộc Việt Nam ta hoan nghênh và sức tin tưởng cũng rất mạnh.

Cứ xét cái tinh thần ấy và địa thế nước ta, thì thật là một điều rất lợi cho dân tộc ở một nơi gặp gỡ hai văn hóa của hai dân tộc Ấn Độ và Trung Hoa, hai nước đều có nền văn minh tinh thần tối cổ ở á châu. Vậy Phật giáo truyền vào xứ này là một lẽ đương nhiên và dân tộc Việt Nam ta đón lấy và thờ kính cũng là một điều hạnh phúc cho tinh thần nòi giống.

Tịnh Ngọc
06-06-2005, 08:46 PM
Chương tư

IV. TÔN PHÁI TRUYỀN VÀO VIỆT NAM

Như chương trước đã nói, sau khi Phật Niết-bàn, Phật giáo ở ấn Độ lần lượt chia thành 20 bộ phái, đến khi truyền qua Trung Hoa, vì chỗ xu hướng của lòng người và sự phát triển của dân trí về mỗi thời đại có khác, nên các ngài cũng tùy theo đó mà lập thành các tôn.

Xét Phật giáo ở Việt Nam ta sau thời đại du nhập, rất chịu ảnh hưởng Phật giáo của Trung Hoa, nên những kinh điển, tôn phái đều do ở Trung Hoa truyền sang. Nhưng trong các tôn Phật giáo ở Trung Hoa, Việt Nam ta chỉ đắc truyền có một Thiền tôn, tuy kinh điển vẫn truyền đủ. Nói vậy chừng có hơi nghiêm khắc quá. Nghĩa là tôi muốn nói thêm : ngoài ra trong các thời đại cũng có người tu về Tịnh độ tôn, Mật tôn chứ không phải không không, nhưng thiết tưởng đó chỉ là học thấy trong kinh điển rồi làm theo, đâu có truyền thống rõ rệt.

Nói về khởi điểm của Thiền tôn : Bắt đầu Phật ở trong hội Linh Sơn, cầm Hoa sen khai thị cho trong chúng, bấy giờ chỉ có ngài Ca Diếp ngộ được chân lý của Phật, mĩm cười, Phật liền bảo : “Ta có Chánh pháp, Nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, pháp môn vi diệu, thật tướng vô tướng, nay đem phú chúc cho Ma- ha Ca Diếp”

Ấy là nguồn gốc phát khởi của Thiền Tôn. Sau ngài Ca Diếp truyền cho ngài A-nan, rồi lần lượt truyền đến đời Tổ thứ 28 là Bồ-đề Đạt-ma tôn giả. Về đời vua Lương Võ Đế (TL. 528), ngài Đạt-ma từ Tây Trúc qua Trung Hoa truyền pháp. Ấy là vị Tổ đầu tiên về phái Thiền Tôn ở Trung Hoa. Ngài Huệ Khả kế thừa làm Tổ thứ hai, ngài Tăng Xáng là Tổ thứ ba, ngài Đạo Tín là Tổ thứ tư. Đồng thời với ngài Đạo Tín có ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi, sau qua truyền pháp làm Tổ thứ nhất về phái Thiền Tôn ở Việt Nam. Ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền cho ngài Pháp Hiền lập thành một phái Thiền Tôn.

Đến đời thuộc Đường (820) lại có ngài Vô Ngôn Thông người Trung Hoa qua truyền pháp, lập thành phái Thiền Tôn thứ hai. Rồi lần hồi đến phái Thảo Đường, Tào Động, Lâm Tế v.v . . . truớc sau nước ta chỉ thấy có một tôn phái Thiền Tôn.

Gần đây, nhơn phong trào Phật giáo chấn hưng, và dân trí Việt Nam ngày nay đã có chiều hướng muốn tham bác về các học thuật, nên đối với các tôn Phật giáo ở Trung Hoa, Tăng đồ Phật giáo Việt Nam ta đã có người lưu tâm nghiên cứu, chắc rằng tương lai tinh thần giáo nghĩa của Phật giáo sẽ được mở mang ở ta nhiều.

Tịnh Ngọc
06-06-2005, 08:50 PM
LỊCH SỬ

Chương một

THỜI ĐẠI PHẬT GIÁO DU NHẬP- PHẬT GIÁO ĐỜI BẮC THUỘC (43 - 544)


Phật giáo ở Ấn Độ truyền bá đi các nước lân cận do hai đường thủy và bộ. Về đường thủy thì qua miền Trung Á như Mông Cổ, Tây Tạng và Trung Hoa; rồi từ Trung Hoa qua Cao Ly và Nhật Bản. Về đường bộ thì qua đảo Tích Lan và Java truyền vào Indonésie, Đông Dương và Trung Hoa. Nước ta ở vào giữa hai con đường ấy. Vậy Phật giáo truyền đến đâu và từ đời nào, ta phải khảo lấy mấy thuyết sau này :

1. Những sách của các nhà sư Việt Nam viết từ thế kỷ thứ 13 và 14 có chép : “Chính đời nhà Hán (thế kỷ thứ 2 và thứ 3) đã có các đạo sĩ ở Bắc như ông Ma-ha-kỳ-vực (Mârijivaka), Khương Tăng Hội (K’ang-song-hoeuei) và Mâu Bác (Meou-pô), ngài thì do theo đường thủy, ngài thì đường bộ mà đến truyền giáo ở nước Việt Nam ta".

2. Sách Ngô Chí của Trung Hoa chép: “Sĩ Nhiếp là một vị Thứ sử có oai quyền ở Giao Châu, được dân bản xứ tôn kính, khi ra đi người ta thường nghe có tiếng kiểng lẫn tiếng trống kèn, bọn rợ Hồ đi theo thắp hương hai bên xe có từng đoàn mười người…”

Theo ông Sylvain-levi kê cứu, thì Hồ là một thứ tiếng riêng của người Trung Hoa về thế kỷ thứ 3 dùng để chỉ bọn người phương Tây. Vậy Hồ đây có lẽ là người Trung Á hay người Ấn Độ.

3. Truyện Đàm Thiên Pháp sư có chép: Vua Cao Tổ nhà Tùy bảo Pháp sư rằng : “Trẫm nghĩ đạo Từ bi của đức Điều Ngự, không biết báo ơn thế nào cho phải, Trẫm lạm giữ ngôi dân chủ, muốn rộng truyền đạo Tam bảo, đã thu khắp di hài Xá-lỵ, lập được 49 ngọn Bảo tháp trong nước để làm tiêu biểu cho Đạo và làm được hơn 150 ngôi chùa rồi. Bây giờ Trẫm lại muốn lập Chùa dựng Tháp khắp Giao Châu (danh hiệu nước Việt Nam từ đời Bắc thuộc) để cho đạo đức nhuần khắp thế giới. Cõi Giao Châu tuy nội thuộc nước ta mà xa xôi quá, vậy Pháp sư nên tuyển lấy các thầy Sa-môn đức hạnh, sang mà hoằng hóa cho dân ấy, để hết thảy chúng sinh đều biết đạo Bồ-đề”. Pháp sư liền tâu : “Cõi Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc gần hơn ta. Khi Phật giáo chưa du nhập vào đất Giang Đông ta mà ở cõi ấy đã xây dựng được hơn 20 ngọn Bảo tháp, độ được hơn 500 Tăng sĩ, dịch được 15 bộ kinh rồi. Vì ở bên ấy gần nước Phật hơn ta. Bấy giờ có các vị Ma-ha-kỳ-vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương và Mâu Bác đến ở truyền đạo . . . Ngài muốn bố thí một cách bình đẳng, phái Chư Tăng sang truyền đạo, nhưng ở đó họ đã có đủ rồi, ta không cần phải sang nữa.”

4. Sách Pháp vụ thực lục chép : “Vào hồi thế kỷ thứ ba có một ông tên là Kaudra gốc ở Đông ấn, gióng Brahmanes qua Giao Châu một lần với ông Ma-ha-kỳ- vực…”

Cứ theo mấy dẫn chứng trên đều thấy hợp nhau và cùng thấy mấy ngài Ma-ha-kỳ-vực, Khương Tăng Hội,Chi Cương Lương, Mâu Bác là bậc truyền đạo đầu tiên ở nước ta .

1. Ma-ha-kỳ-vực (Mârajivaka hay là Jivaka) :

Trong sách Cao Tăng truyện có chép : "ông Ma-ha- kỳ-vực gốc ở Ấn Độ, đi du lịch các nước bắt đầu từ Ấn Độ đến Founan theo đường Giao Châu và Quảng Châu (Bắc kỳ và Quảng Đông bây giờ); qua nơi nào ngài cũng làm phép lạ. Khi đến Tương Dương, muốn qua đò, nhưng người lái đò thấy ngài quần áo rách rưới không cho xuống, đến khi đò ngang cặp bến thì mọi người đều lấy làm lạ thấy ngài đã ở bên này sông rồi.”

Cuối đời Huệ Đế nhà Tấn (290- 306) nước Trung Hoa có loạn, ngài lại trở về Ấn Độ, Ngài tịch năm nào không rõ.

Trong sách Phật tổ lịch đại thống tải chép: “Ông Ma-ha-kỳ-vực đến Lạc Dương vào niên hiệu thứ tư đời Tấn Huệ Đế (294 sau Tây lịch).” Trước khi đến Lạc Dương, ngài có qua Giao Châu và Quảng Châu.

2. Khương Tăng Hội (K’ang-seng-houei) – Trong sách Lương Cao Tăng truyện của Huệ Hao chép : “Một người nước Khương tên là Tăng Hội, gốc ở Khương Cư (Soadiane), mấy đời tổ tiên ngụ ở Thiên Trúc. Phụ thân ngài có qua buôn bán ở Giao Châu. Ngài mồ côi cha mẹ từ thuở lên mười. Sau thời kỳ cư tang, ngài xuất gia, chăm lo học tập kinh điển đã trở nên một đạo sĩ khá cao thời ấy. Ngài tính tình chân thật, hòa nhã và rất thông minh; không những ngài thông hiểu Tam tạng lục kinh, mà ngài còn nghiên cứu cả toán số, thiên văn đến văn chương và chính trị.

Bấy giờ về đời Ngô Tôn Quyền (229 - 252) Phật giáo mới truyền vào Đông Ngô, nhưng chưa được phát triển mạnh, ngài tới đó liền hết sức tuyên dương Phật pháp khắp miền Giang Tả; ngài thường cầm gậy tầm xích đi hành hóa khắp phía Đông. Niên hiệu Xích Ô năm thứ hai đời nhà Ngô (247), ngài đến thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh bây giờ) làm một túp lều ở đó tu trì và thiết trường giảng dạy. Vua Ngô Tôn Quyền thấy ngài thi nhiều phép lạ lấy làm ngạc nhiên, đem lòng tín phục và xây tháp dựng chùa ngài ở gọi là chùa Kiến Sơ, chỗ ngài ở thì gọi là Phật-da-lý. Từ đó Phật giáo mới thạnh hành trong miền Giang Tả .

Ngài có dịch nhiều kinh chữ Phạn ra chữ Hán. Ngài tịch vào khoảng niên hiệu Thiên Kỷ thứ tư nhà Ngô (280 sau Thiên chúa).

3. Chi Cương Lương (Tche-kiang-leang) : Trong một bài khảo về bản dịch “Thập nhị du kinh” của ông Pelliot có dẫn lời ông Phí Trường Phòng trong sách Lịch đại tam bảo ký rằng: “Đời vua Võ Đế nhà Tấn (265 - 290) có ông Cương Lương Lâu Chí dịch kinh Chân Hỷ ở đất Quảng châu vào khoảng niên hiệu Thái Thụy (266).”

Lại trong một bản Kinh Tịch chí, ông Nanjio có dẫn đến một ông tên là Chi Cương Lương tiếp dịch kinh ở đất Giao Châu. Theo ông Pelliot kê cứu thì hai ông ấy chỉ là một người. Cương Lương Lâu Chí chữ Phạn viết Kalyana ruci, theo sự khảo cứu của Trần Văn Giáp tiên sanh trường Bác Cổ Viễn Đông

4. Mâu Bác (Méou-pô) : Theo ông Pelliot khảo cứu trong sách Mâu Tử lý hoặc thì Mâu Bác hay Mâu Tử cũng là một. Ngài người quận Thương Ngô tức Ngô Châu bây giờ. Sau khi vua Hán Linh Đế mất (189) ngài theo mẹ qua ở Giao Châu. Bấy giờ nước Trung Hoa rối loạn, các sĩ phu tránh qua đất Giao Châu rất đông, có nhiều người theo đạo Lão học phép tiên.

Ngài thường cùng đạo sĩ biện luận, nhiều khi họ không trả lời được những nghi vấn của ngài; ngài liền phát tâm theo Phật giáo. Theo ông Pelliot kê cứu thì ngài Mâu Bác sanh vào khoảng năm 165 - 170 Tây lịch.

Ta thấy bốn ngài truyền Phật đạo ấy, một ngài là người Trung Hoa (Mâu Bác) còn là người Ấn Độ cả. Và so niên đại thì ta thấy ngài Mâu Bác là người truyền Phật giáo ở đất Giao Châu sớm nhất : năm 189 sau Tây lịch kỷ nguyên. Vậy ta có thể kết luận : Phật giáo du nhập vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai.

(Ngoài ra lại có thuyết nói Phật giáo truyền vào Giao Châu từ thế kỷ đầu, ngang với khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc (67 Tây lịch); hoặc giả đó là do Giao Châu bấy giờ ở vào giữa con đường của các nhà truyền đạo, hoặc khách buôn bán của ấn Độ Chi Na qua lại với nhau, có ghé, nhưng không ở nhất định để truyền giáo, nên không còn di tích gì chăng ? Vì theo ông Sylvain và ông Pelliot kê cứu thì Trung Quốc và ấn Độ giao hảo với nhau từ năm 245 trước Thiên Chúa giáng sinh đến thế kỷ thứ bảy đều lấy đất Giao Chỉ, Giao Châu làm trung gian. Bọn du khách qua lại phải đi ngang qua Bắc Kỳ bấy giờ và bể Nam Hải. Như vậy ta có thể đoán đó chỉ là những nhà đạo sĩ và những người buôn bán sùng đạo Phật mới đem tín ngưỡng đến xứ này về thời ấy, chứ chưa hẳn là truyền bá giáo lý).

Ở bên Trung Hoa từ sau khi vua Hán Linh Đế mất, chính trị trong nước rối ren, những cuộc nội loạn bắt đầu sửa soạn cái loạn Tam quốc sau này, thì đất Giao Châu được yên ổn dưới quyền chính trị của Thái thú Sĩ Nhiếp (187-122).

Trong sách Mâu Tử ký chép: “Sau khi Hán Linh Đế mất, trong nước rối loạn, chỉ có đất Giao Châu là tạm yên, nên những sĩ phu đều sang tránh loạn ở đó. Nhiều nhà đạo sĩ mang truyền các ngoại đạo như Thần đạo, Tiên đạo, Trường sanh đạo. . .” mà Mâu Bác lại qui y Phật giáo sau khi đã khảo về Lão giáo (theo sách Mâu Tử Lý hoặc).

Vào khoảng năm 194 - 295 ông Mâu Tử sang Giao châu tự khảo Phật đạo và truyền đạo. Những người Trung Hoa khác cũng bắt chước

Xét theo mấy dẫn chứng trên và trở lại dẫn chứng thứ hai đầu mục này, ta có thể biết đại khái Phật giáo ở ta về cuối thế kỷ thứ hai và đầu thế kỷ thứ ba; hồi ấy đất Giao Châu đã có dư luận về đạo Phật ở trong đám nhân gian bởi những người Trung Hoa và người Ấn Độ. Nhưng chẳng qua đó chỉ là từng khu vực thôi, chớ sự thật vị tất dân nước đã biết hết.

Nhưng theo lời Đàm Thiên (dẫn chứng thứ ba chương này) thì nước ta cũng đã dựng chùa, xây tháp đến 20 ngọn, Tăng sĩ đến 500 người và kinh dịch đã lược 15 bộ. Dịch kinh thì có ngài Khương Tăng Hội dịch chữ Phạn ra chữ Hán - thời ấy ta đã có theo học chữ Hán rồi - vào đầu thế kỷ thứ ba; bấy giờ Giao Châu nội thuộc Đông Ngô.

Năm 225 - 226 cũng có một người nước Nhục Chi (Indoscythé) tên là Kalyânaruci tới Giao Châu, dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội.

Tuy nhiên ở Giao châu từ ấy đến hết thời Bắc thuộc lần thứ 2 (43 - 544) sang đến nhà Tiền Lý (544-548) rồi đến đầu đời Bắc thuộc lần thứ ba (603-939) Phật giáo vẫn còn ở thời kỳ phôi thai, tuy có Tăng sĩ, có chùa, nhưng đó mới chỉ là một điều kiện tôn giáo tín ngưỡng thôi. Vì bấy giờ ta ảnh hưởng trực tiếp với Ấn Độ hơn là với Trung Hoa; bởi vậy trong một thời gian khá dài ấy, ngoài mấy người Ấn Độ thông chữ Hán dịch kinh, còn không thấy ai dịch nữa và cũng chẳng có một ai sang Trung Hoa cầu kinh chữ Hán, nên Phật giáo trong thời ấy có lẽ chỉ là hình thức hơn là tinh thần. Cũng là bởi từ khi Phật giáo du nhập nước ta (khoảng năm 194 - 195) ta còn nội thuộc nước Trung Hoa đến năm 544, những nhà cầm quyền của chính phủ đô hộ, không chính thức nhận Phật giáo cho người bản xứ thờ làm một tôn giáo đặc biệt, nên không chính thức ủng hộ.

Tịnh Ngọc
06-06-2005, 08:54 PM
Chương hai

PHẬT GIÁO ĐỜI HẬU LÝ NAM ĐẾ (571 - 602) VÀ ĐỜI BẮC THUỘC THỨ BA (603 - 939)

Tiền Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục nối nghiệp xưa là Triệu Việt Vương (549-571), rồi lại bị Lý Phật Tử đánh thua và lên làm vua tức Hậu Lý Nam Đế.

Đến năm Nhâm Tuất (602), vua nhà Tùy là Văn Đế sai tướng Lưu Phương sang đánh Nam Việt, dụ Phật Tử ra hàng. Hậu Lý Nam Đế yếu thế bèn qui phục, nước ta lại bắt đầu nội thuộc nước Trung Hoa lần thứ ba, từ năm 603 đến năm 939.

Trong năm 580, nước ta có ngài Tì Ni Đa Lưu Chi qua truyền Phật giáo, rồi lần lần truyền thống thành ra một phái Thiền Tôn.

Phái Tì Ni Đa Lưu Chi

Sách Cổ Châu Pháp Vân Phật Bổn Hạnh ngữ lục có chép: «Vào khoảng đời Đông Tấn (317 - 419) niên hiệu Tả Kiến (569 - 582), có một Pháp sư tên là Tì Ni Da Lưu Chi người Ấn Độ, nhận biết có Phật giáo ở đây (Nam Việt) liền qua trú ở chùa Pháp Vân giảng dạy Phật pháp. Phật giáo ở đây thạnh hành từ đó»

Sách Đại Nam Thuyền Uyển Tập Anh cũng có dẫn lời ngài Thông Biện Thiền sư nói : Tì Ni Đa Lưu Chi là Sơ tổ của Thiền Tôn ở nước ta.

Ngài tên chữ Phạn là Vinitaruei, người ở Nam Thiên Trúc, sang Tây Thiên Trúc để khảo đạo Phật, nhưng vì cơ duyên chưa gặp, nên ngài qua cõi Đông Độ tiến vào Trung Hoa đến Trường An năm 574. Lúc này Phật giáo ở Trung Hoa đương bị bài xích.Ngài muốn qua đất Nghiệp (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) may gặp ngài Đệ Tam tổ Tăng Xàng ở núi Tư Không, ngài liền đem lòng kính mộ và xin làm đệ tử; Tam tổ truyền tâm ấn cho và khuyên ngài qua Nam phương mà tiếp độ chúng sinh chớ không nên ở đây làm gì Ngài liền bái từ ra đi. Đến Quảng Châu ngài Trú trì ở chùa Chế Chỉ, dịch kinh “Tượng Đầu báo nghiệp sai biệt” chữ Phạn ra chữ Hán. Đến năm Canh Tý niên hiệu Đại Tường thứ hai nhà Chu (580), ngài qua Nam Việt trú trì ở chùa Pháp Vân (làng Văn Giáp, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông bây giờ) lại dịch bộ kinh “Tổng trì”. Năm Quý Sửu niên hiệu Khai Hoàng thứ 14 nhà Tùy (594) ngài truyền tâm ấn cho ngài Pháp Hiền rồi tịch.

Đến đời nhà Lý, vua Thái Tôn (l028 - l054) có làm bài kệ truy tán ngài rằng :

Sáng tự Nam lai quốc

Văn quân cửu tập thiền.

Ứng khai chư Phật tín,

Viễn hợp nhất tâm nguyên.

Hạo hạo Lăng-già nguyệt,

Phân phân bát-nhã liên.

Hà thời hạnh tương kiến,

Tương dự thoại trùng huyền.

Dịch:

Mở lối qua Nam Việt,

Nghe ông chỉn học Thiền

Nguồn tâm thông một mạch,

Cõi Phật rộng quanh miền.

Lăng-già ngời bóng nguyệt,

Bát-nhã nức mùi sen.

Biết được bao giờ gặp,

Cùng nhau kể đạo huyền.

Ngài là Sơ tổ phái Thiền Tôn thứ nhất ở nước ta, sau ngài truyền pháp cho Pháp Hiền Thiền sư, rồi truyền thống mãi đến đời Y Sơn Thiền sư (1216) được 19 đời, biết được danh hiệu và sự tích cọng 31 ngài .Xét ngược lên về trước thì ngài là đệ tử đức Tam tổ Tăng Xáng. Ngài Tăng Xáng là đệ tử của đức Nhị tổ Huệ Khả và ngài Huệ Khả là đệ tử của đức Bồ-đề Đạt-ma (Bodhidharma), tức là Sơ tổ phái Thiền tôn ở Trung Hoa vậy (Xem phần Phật giáo ở Trung Quốc).

Pháp Hiền Thiền sư : Nhị tổ phái Thiền Tôn ở nước ta là Pháp Hiền Thiền sư. Ngài giòng họ Đỗ, quê ở quận Chu Diên (tỉnh Sơn Tây bây giờ), khi mới xuất gia, thọ giới với Quang Duyên đại sư ở chùa Pháp Vân. Đến khi ngài Tì Ni Đa Lưu Chi ở Quảng Châu qua nước ta tới chùa Pháp Vân thấy ngài Pháp Hiền nhìn kỹ vào mặt mà nói :

- Chú họ gì ?

Pháp Hiền đáp :

- Hòa thượng họ gì ?

Thiền sư lại hỏi lại :

- Chú không có họ à ?

- Sao lại không có ? Nhưng đố Hòa thượng biết ?

Thiền sư quát lên :

- Biết để làm gì ?

Ngài Pháp Hiền chợt hiểu ý ngài Tì Ni Đa Lưu Chi, liền sụp xuống lạy xin theo làm đệ tử và sau được truyền tâm ấn.

Sau ngài vào trong núi Từ Sơn tu Thiền định, những loài cầm thú thường quấn quít chung quanh, người đời thấy thế càng lấy làm lạ và kính mộ; đệ tử tìm đến học đạo càng ngày càng đông, ngài mới lập tịnh xá để giảng dạy. Phái Thiền tôn ở nước ta hồi ấy là thạnh nhất.

Ngài Pháp Hiền tịch vào năm Võ Đức thứ 9 đời Đường (626) và truyền đạo cho ngài Thanh Biện Thiền sư.

Tịnh Ngọc
06-06-2005, 08:54 PM
Xét ra nước ta Phật giáo truyền vào đã hơn bốn trăm năm nay, mà mãi đến thời kỳ này mới được phổ thông. Ấy cũng là nhờ ở ngài Tì Ni Đa Lưu Chi và ngài Pháp Hiền. Nhưng âu cũng là cơ duyên đặc biệt, nên ngài Tì Ni Đa Lưu Chi mới vâng lời ngài Tam tổ Tăng Xáng mà qua truyền pháp ở phương Nam này.

Phật giáo đã đến hồi thịnh, nên bấy giờ (vào khoảng năm 603 - 604) Thứ sử Giao Châu là Lưu Phương mới đưa sớ về tâu dâng vua Tùy rằng : “Nước Việt Nam ngày nay dân chúng rất tôn sùng Phật giáo, lại có nhiều vị Chân Tăng giáo hóa, nên bốn phương thảy đều qui y...”. Nhân đó, vua Cao Tổ nhà Tùy mới ban cho các vị Danh Tăng ở nước ta năm hòm lễ vật và sắc xây tháp ở chùa Pháp Vân, chùa Tràng Khánh cùng các danh địa khác. Đó là lần đầu tiên Phật giáo ở nước ta được Chánh phủ đô hộ để ý đến.

Bên Trung Hoa, năm Mậu Dần (618) nhà Tùy mất, nhà Đường kế nghiệp, nước ta lại thuộc nhà Đường và bị chia ra làm 12 châu, gọi gồm là An-nam đô hộ phủ. Trong mấy thời kỳ Bắc thuộc, nước ta bị nhà Đường cai trị nghiệt hơn cả. Nhưng về phương diện Phật giáo lại được để ý đến; như năm Võ Đức (626), Vua Đường Cao Tổ có ban cho An-nam năm hòm Xá-lỵ (?) và sắc dựng chùa, xây tháp.

Xem thế đủ biết Phật giáo ở ta bấy giờ đã thịnh. Vả lại Nhị tổ Thiền tôn là Pháp Hiền Thiền sư vừa mới tịch và đã độ cho bao nhiêu đệ tử rồi. Lại trong thời ấy Phật giáo bên Trung Hoa và người Thiên Trúc thường thường mượn đường nước ta mà qua lại, các người thường ghé lại ít lâu để thuyết pháp thì ta cũng chịu ảnh hưởng được nhiều vậy.

Lại theo Trần Văn Giáp tiên sanh khảo trong các sách thấy có nói : “Về đời Đường có ba đoàn truyền giáo ở An-nam. Đoàn thứ nhất có ba người Trung Hoa, đoàn thứ hai cũng có ba người Trung Hoa và là người Trung á; đoàn thứ ba đáng chú ý hơn : có 6 Pháp sư An-nam mà bốn người ở Giao Châu (Hà Nội và Nam Định bấy giờ) và hai người ở ái Châu (Thanh Hóa bây giờ)”.

Tịnh Ngọc
06-06-2005, 08:57 PM
I. Đoàn thứ nhất :

1. Minh Viễn Pháp sư : Người ở huyện Thanh Thành, Ích Châu (Tứ Xuyên bây giờ), tên hiệu chữ Phạn của ngài là Chấn-đà-đề-bà. Thuở nhỏ ngài đã học kinh Phật, càng lớn càng chăm chỉ nên ngài am hiểu tất cả những kinh điển, ngài lại khảo về Trang Chu. Ngài ẩn ở Lô Sơn (Hồ Bắc bây giờ) để tu thiền định.

Sau ngài thấy đạo Phật ở đó có ý đình trệ, ngài liền xuống phía Nam qua đất Giao Chỉ (Bắc kỳ) đến đảo Java rồi qua đảo Tích Lan đến Nam Thiên Trúc; sau ngài tịch ở dọc đường, không rõ ngài thọ bao nhiêu tuổi.

2. Huệ Mạnh Thiền sư : Ngài ở quận Giang Lăng, Kinh Châu (Hồ Bắc) rất tinh thông Phật pháp. Ngài muốn qua Chiêm Thành, nhưng khi đi đò gặp giông tố, nên phải ở lại Thượng kinh (biên giới cũ Trung kỳ) rồi trở về Trung Hoa.

3. Vô Hành Thiền sư : Ngài cũng ở quận Giang Lăng, tên hiệu chữ Phạn là Bát-nhã Đề-bà (Pajnâ-deva). Sau khi du lịch khắp Trung Quốc, ngài về ẩn tu trong núi, chuyên trì kinh Pháp Hoa tam muội. Sau ngài lại du lịch các miền Cửu Giang và Tam Việt (Ngô Việt, Nam Việt). Ngài có kết giao với Trí Hoằng Thiền sư rồi qua đất Thất Lợi Phật Thệ (cusijaya). Ngài thọ được 56 tuổi.

II. Đoàn thứ hai :

1. Đàm Nhuận Pháp sư : Ngài ở Lạc Dương, tinh thông luật điển. Ngài qua sông Dương Tử lần xuống phía Nam, đến đất Giao Chỉ có trú lại ít lâu, được các thiện nam tín nữ sùng mộ rất đông. Rồi ngài lại xuôi về phía Nam Định qua Thiên Trúc, nhưng vừa đến Đột Bồn (Java) thì thọ bịnh rồi tịch, thọ 30 tuổi.

2. Trí Hoằng Pháp sư : Ngài ở Lỗ Giang, cháu ông sứ giả Vương Huyền Sách, lúc nhỏ đã thông hiểu đạo Phật, lớn lên đi du lịch khắp Trung Quốc, sau lại muốn qua Đông Ấn, gặp Vô Hành Thiền sư cùng đến Hợp Phố (bán đảo Quảng Đông) rồi xuống thuyền dọc theo đường bể, không may gặp bão phải đậu lại Thượng Kinh, hai ngài bèn đi ngược lên Giao Châu ở lại một năm. Sau gặp một chiếc thuyền lớn, hai người bèn về xứ Thất Lợi Phật Thệ. Ngài ở Trung ấn Độ gần 8 năm, sau qua xứ Cachemira Bắc ấn Độ rồi không rõ ngài tịch ở đâu.

3. Tăng-già-bạt-ma (Samyhavamla) : Ngài ở nước Khương Cư, lúc nhỏ đi chân qua bãi sa mạc đến kinh đô. Khoảng năm Hiển Khánh (656 - 660) được sắc lệnh theo một sứ giả qua Tây phương đến Bồ-đề đạo tràng, được dự yến gần bên Kim Cang tòa (Vajrâsana). Sau trở về Trung Quốc được chỉ dụ qua Giao Chỉ tìm các bảo vật. Lúc này Giao Chỉ đương bị nạn mất mùa đói kém, ngài bèn hợp sức cùng quan địa phương ngày nào cũng phát chẩn cho dân, nhưng không thể chu cấp hết được; ngài động lòng từ bi thường rơi lệ chan chứa. Dân bản xứ bấy giờ gọi ngài là “vị Bồ-tát hay khóc”. Ngài thọ được 69 tuổi.

III. Đoàn thứ ba :

1. Vân Kỳ Thiền sư : Ngài ở Giao Châu, thường đi du lịch với ngài Đàm Nhuận, thông hiểu chữ Phạn, có trú ở Thất Lợi Phật-xá. Ngài thọ chừng 30 tuổi.

2. Mộc-xoa Đề-bà : Ngài cũng người Giao Châu, không rõ tên thật là gì, đã từng vượt Nam hải đi khắp các xứ Khi đến Bồ-đề đạo tràng ngài cúng dường Xá lợi Phật rồi tịch, thọ được 25 tuổi.

3. Khuy Xung Pháp sư : Ngài cũng ở Giao Châu, đệ tử của ngài Minh Viễn, tên chữ Phạn là Chất-đát- la-đề-bà (Citra-deva). Cùng ngài Minh Viễn đi đường biển tới đảo Tích Lan rồi qua Tây ấn gặp ngài Huyền Chiếu, lại qua Trung ấn. Ngài bẩm tính thông minh và bặt thiệp, hiểu hết các kinh điểm chữ Phạn. Khi đến thành Vương-xá (Kucâgârapuca), sau khi tham yết Bồ-đề-thọ, ngài lâm bịnh và tịch trong vườn Trúc Lâm, thọ 30 tuổi.

4. Huệ Diệm Pháp sư : Ngài cũng ở Giao Châu, đệ tử của ngài Vô Hành đi qua Tích Lan rồi trú luôn ở đó, ngài tịch vào năm nào không rõ.

5. Trí Hành Thiền sư : Ngài ở Ái Châu, tên chữ Phạn là Bát-nhã-đề-bà (Prajnâ-deva). Ngài qua Trung ấn và hành hóa khắp nơi. Khi đến Bắc-kinh-già (Ganga), ngài nghỉ luôn ở chùa Tín Già và tịch ở đó, thọ 50 tuổi.

6. Đại Thặng Đăng Thiền sư: Ngài cũng ở Ái Châu, tên chữ Phạn là Ma-ha-gia-na Bát-địa-dĩ-ba (Mahâyâna - Pradipa). Lúc nhỏ ngài đi theo cha mẹ qua xứ Đỗ-hòa la-bát-để (Dvâravati). Sau được đi theo sứ giả là Diện Tự về kinh đô Trung Quốc, thọ giới với ngài Đường Huyền Trang. Ngài thông hiểu nhiều kinh điển, quyết chí đến Bồ-đề đạo tràng tham lễ, nên muốn vượt bể qua Thiên Trúc. Ngài qua Tích Lan, qua Đông ấn, Nam ấn rồi nghỉ ở xứ Đam-ma- lập-để (Tamralipti) mười hai năm; nhơn thế mà ngài được thông hiểu tiếng Phạn. Ngài có thích nghĩa bộ Duyên sanh luận (Nidânacastra) và nhiều kinh khác. Rồi ngài cùng đi với ngài Nghĩa Tịnh đến Trung Ấn thăm chùa Na Lan Đà (Nalandâ) rồi đến viếng Kim Cang tọa và trở về Tỳ-xá-lỵ (Vaicâly), sau lại qua nước Cu-chi với ngài Vô Hành. Sau ngài tịch ở chùa Bát Niết-bàn (Parinirvâna), thọ 60 tuổi.

Tịnh Ngọc
06-06-2005, 08:59 PM
Xem như vậy ta thấy Phật giáo ở Việt Nam về đời Bắc thuộc này có thể gọi là thịnh. Trong xứ đã nhiều Pháp sư Trung Hoa và Ấn Độ qua lại giáo hóa, nên ta mới có nhiều ngài ngộ đạo và chịu khổ đến tìm tận nơi Phật địa để tầm đạo như vậy. Nước ta về thời ấy làm trung gian cho Trung Hoa và Ấn Độ lại có cái lợi này : Hồi ấy dân Chàm còn mạnh lại ở gần ta, họ lại dùng chữ Phạn làm văn tự và thông hiểu cả tiếng Da-va (Java), nên ta cũng có nhiều người giao thiệp với họ, cũng hiểu hai thứ chữ đó. Bởi thế, những người Trung Hoa qua Ấn Độ và người Ấn Độ qua Trung Hoa, khi tới Giao châu, thường tìm người nước ta làm thông ngôn hoặc cộng tác dịch kinh chữ Phạn. Như vậy ta không nên ngạc nhiên khi thấy nhiều kinh điển về bản cựu dịch hoặc tân dịch đều dịch lần đầu tại An-nam.

Tiếc thay hồi ấy ta chỉ có những nhà tầm đạo, ngộ đạo dịch kinh mà lại không có mấy ai có óc phát triển hoặc bổ luận trước tác để góp thêm sách vào kho kinh điển nhà Phật ở xứ mình.

Tuy nhiên, Phật giáo ở nước ta càng ngày càng được chính phủ đô hộ biệt đãi và chú ý. Dân tộc Trung Hoa từ ấy đã bớt cho người mình là một thứ mọi rợ man di nữa; đó cũng là nhờ ở mấy vị Cao Tăng. Xem trong sách Kiến văn lục của Quế Đường tiên sanh (Lê Quí Đôn) có trích được mấy bài thơ của mấy đại thi hào đời Đường, xướng họa với mấy vị Cao Tăng nước ta khi các ngài qua Trung Quốc thì đủ biết. Mấy bài này ở sách Loại hàm Anh ngữ của Trung Quốc cũng thấy chép.

1. Nhật Nam Tăng : chỉ biết ngài người quận Nhật Nam chớ không rõ tôn hiệu là chi. Khi ngài trú trì ở một ngôi chùa trong hang núi ở Trung Hoa, thi hào Trương Tịch đề tặng một bài thơ :

Sơn Trung tặng Nhật Nam Tăng

Độc hướng song phong lão,

Tùng môn bế lưỡng nhai.

Phiên kinh thượng tiêu diệp,

Quái nạp lạc đằng hoa

Thứu thạch tân khai tỉnh,

Xuyên lâm tự chủng ma.

Thời phùng Nam hải khách,

Man ngữ vấn thùy gia ?

Dịch:

Núi thẳm một mình ẩn,

Cửa tùng đôi cánh gài.

Lá chuối biên kinh cũ,

Bông mây rụng áo dài,

Lật đá khơi ngòi giếng,

Xoi rừng tỉa giống gai.

Khi gặp khách Nam Hải

Tiếng Mường biệt hỏi ai ?

2. Vô Ngại Thượng nhơn : Ngài tu ở chùa Sơn Tĩnh hạt Cửu Châu (Thanh hóa). Bấy giờ là thời vua Võ Hậu nhà Đường (685) có thi hào Trầm Thuyên Kỳ qua An-nam chơi, có đến yết kiến Thượng nhân, tự xưng làm đệ tử, sau có làm bài thơ lưu giản để tỏ lòng khen ngợi kính phục ngài :

Yết Cửu Châu Sơn Tỉnh Tự Vô Ngại Thượng Nhân

Đại sĩ sanh Thiên Trúc,

Phân thân hóa Nhật Nam

Nhơn trung xuất phiền não,

Sơn hạ tức Già-lam.

Tiểu giản hương vi sát,

Nguy phong thạch tác am.

Hầu thuyền thanh cốc nhũ,

Khuy giảng bạch viên tham.

Đằng ái vân gian bích

Hoa thê thạch hạ đàm.

Tuyền hành u cung hảo,

Lâm quài dục y kham.

Đệ tử ai vô thức,

Y vương tích vị đàm.

Siêu nhiên hỗ khê tịch,

Chích thọ hạ hư lam.

Dịch :

Phật xưa sinh ở Tây Thiên,

Mà nay xuất hiện ở miền Nhật Nam

Thoát vòng phiền não cõi phàm,

Thảnh thơi dưới núi Già-lam một toà.

Ngọn khe chóp núi lân la,

Hương là Cố sát, đá là thần am.

Chim xanh chực, vượn trắng dòm,

Sớm mai giảng kệ, chiều hôm tham thiền.

Mấy từng mây quấn đá chen,

Dây leo chân vách, hoa lên mặt đầm.

Thiên nhiên sẵn thú tuyền lâm,

Rừng phơi áo giặt suối dầm nước hương.

Phận hèn học kém đáng thương,

Tiếc vì chưa hiểu Y vương thế nào.

Hỗ khê một bữa may sao,

Dầu non đỗ xuống cây cao một cành.

3. Phụng Đình Pháp sư : Ngài sang Trung Quốc giảng kinh ở trong cung vua Đường, khi về có đại thi hào Dương Cự Nguyên tặng một bài thơ tiễn biệt :

Tống Phụng Đình Pháp sư qui An-nam

Cố hương Nam Việt ngoại,

Vạn lý bạch vân phong.

Kinh luận từ thiên khứ,

Hương hoa nhập hải phùng.

Lộ đào thanh phạm triệt,

Thần các hóa thành trùng.

Tâm đáo Trường An mạch,

Giao Châu hậu dạ chung.

Dịch :

Quê nhà trông cõi Việt,

Mây bạc tít mù xa.

Cửa trời vắng kinh kệ,

Mặt bể nổi hương hoa.

Sóng gợn cò im bóng,

Thành xây hết mấy tòa.

Trường An lòng quấn quít,

Giao Châu chuông đêm tà...

4. Duy Giám Pháp sư : Ngài cũng sang Trung Quốc giảng kinh trong cung vua Đường, ngài ở lâu năm, già mới về cố hương. Thi hào Cổ Đảo có bài thơ tiễn biệt :

Tống An-nam Duy Giám Pháp sư :

Giảng kinh xuân điện lý,

Hoa nhiễu ngự sàng phi.

Nam hải kỷ hồi quá,

Cựu sơn lâm lão qui.

Xúc phong hương tổn ấn,

Lộ vũ khánh sanh y.

Không thủy ký như bỉ,

Vãng lai tiêu tức hy.

Dịch :

Điện xuân giảng kinh luận,

Giường ngự vướng mùi hoa.

Bể nam quen lối cũ,

Non Việt viếng tuần già.

Án mòn khi gió táp,

Áo lấm lúc mưa sa.

Kìa kìa trời lẫn nước,

Tin tức biết bao xa.

Tịnh Ngọc
06-06-2005, 09:01 PM
Xem đó, ta lại biết thêm đại khái Phật giáo ở nước ta về thời thuộc Đường Tăng già An-nam mà được sang giảng kinh trong cung vua cũng là một sự hiếm có, mà bấy giờ bên Trung Quốc đời Đường Phật giáo đương hồi thạnh, hẳn không thiếu gì Cao Tăng, mà Tăng-già ta dự vào việc giảng kinh, kể cũng là một điều chứng nhận vẻ vang cho lịch sử Phật giáo Việt Nam vậy.

Ấy là trong thời kỳ thuộc nhà Đường, nước ta bị sống dưới cái chính thể cay nghiệt quá, nên trong nước thường có những cuộc khởi nghĩa hoặc như nước ngoài quấy nhiễu, như năm Khai Nguyên thứ 10 (722) có Mai Hắc Đế khởi nghĩa ở Hoan Châu (Nghệ An), năm Đinh Vị niên hiệu Đại lịch thứ 2 đời Đường Đại Tôn (767), quân Côn Lôn và quân Đồ Bà ngoài đảo vào cướp phá; năm Tân Vị (791) có Bố Cái Đại vương khởi nghĩa ở quận Đường Lâm (Sơn Tây) rồi lại giặc Nam Chiếu quấy nhiễu hàng mười năm trời, dân tình rất là rối loạn khổ sở.

Trong khoảng mấy trăm năm trời, dân ta sống điêu đứng dưới chánh phủ đô hộ, chế độ hà khắc mà Phật giáo sử có những giai đoạn ấy, thật cũng vẻ vang! Vả đồng thời Nho giáo và Lão giáo cũng được mở mang nhiều.

Lại trong đời thuộc Đường ấy, ngài Vô Ngôn Thông đã qua truyền đạo ở ta mà lập thành phái Thiền tôn thứ hai.

Phái Vô Ngôn Thông

Đời vua Đức Tôn nhà Đường (780 - 836) quan Tể tướng là Quyền Đức Dư có để bài tựa trong cuốn Truyền pháp lục, có viết một đoạn : "Sau khi tổ Tào khê tịch rồi, Thiền tôn thạnh hành, ở đâu cũng có tôn phái truyền thống. ở Giao Châu thì có Vô Ngôn Thông đạo sĩ đem tôn chỉ của Bách Trượng Thiền sư mà khai ngộ cho dân chúng.

Nói đến Vô Ngôn Thông tức là nói đến Sơ tổ của phái Thiền tôn thứ hai ở ta. Ngài họ Trịnh, quê ở Quảng Châu, lúc nhỏ đã mộ đạo không thiết gì đến gia sản, rồi xuất gia tu học ở chùa Song Lâm đất Vũ Châu (Chiết Giang bây giờ). Tính ngài điềm đạm ít nói, nhưng sự lý gì cũng thông hiểu, nên người ta mới đặt danh hiệu cho ngài là Vô Ngôn Thông.

Một hôm ngài đang lễ Phật thì gặp một vị Thiền sư đến điểm hóa cho ngài, rồi đưa ngài đi tìm Mã Tổ mà tham học. Nhưng mới tới Giang Tây đã nghe tin Mã Tổ tịch rồi, hai ngài liền đưa nhau đến bái yết Bách Trượng Thiền sư (đệ tử của Mã Tổ) xin học.

Bấy giờ có một vị Tăng trong lớp học, hỏi Bách Trượng Thiền sư rằng :

Thế nào là pháp môn đốn ngộ của phái Đại thừa?

Bách Trượng Thiền sư dạy rằng :

Tâm địa nhược thông, huệ nhật tự chiếu

(Nếu tâm địa được thông thì mặt trời trí huệ tự nhiên chiếu sáng).

Nghe được câu ấy, ngài Vô Ngôn Thông tự nhiên ngộ đạo. Rồi ngài về Quảng Châu Trú trì ở chùa An Hòa. Năm Canh Tý niên hiệu Nguyên Hòa thứ 15 đời nhà Đường (829), ngài qua An-nam trú ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng (Bắc Ninh), trọn ngày ngồi xây mặt vào vách mà thiền định. Như thế đã mấy năm mà không ai biết; duy có một vị sư ở chùa đó là Cảm Thành Thiền sư, biết ngài là bậc Cao Tăng đắc đạo trong phái Thiền tôn thì đem lòng kính trọng và thờ làm thầy.

Tịnh Ngọc
06-06-2005, 09:02 PM
Một hôm không bệnh tật gì, ngài đòi tắm rửa rồi tịch. Bấy giờ là niên hiệu Bảo Lịch đời nhà Đường

Truớc khi tịch ngài gọi Cảm Thành Thiền sư đến bảo rằng : "Ngày xưa Tổ sư là ngài Nam Nhạc, khi sắp tịch có dặn lại mấy lời rằng :

“Nhất thiết chư pháp, giai tùng tâm sanh.

Tâm vô sở sanh, pháp vô sở trú.

Nhược đạt tâm địa, sở trú vô ngại.

Phi ngộ thượng căn, thận vật khinh hứa”.

(Nghĩa là : Hết thảy các pháp, đều tự tâm sanh; tâm nếu không sanh pháp không chỗ trú; nếu hiểu được tâm địa ấy, thì làm việc gì cũng không trở ngại. Cái tâm pháp ấy, nếu không gặp được bậc thượng căn, thì chớ nên truyền bậy). Nay ta cũng dặn lại người câu ấy.”

Nói xong, ngài chấp tay lại mà tịch. Cảm Thành Thiền sư rước ngài lên hỏa đàn, rồi thâu hài cốt ngài mà xây Tháp thờ ở núi Tiên Du.

Thế là từ đời Sơ Tổ Tì Ni Đa Lưu Chi sang truyền thống Thiền Tôn ở Giao Châu (580) đến thời này (820) cách hơn 200 năm, ta lại có một Sơ Tổ truyền phái Thiền Tôn thứ hai nữa.

Giòng Vô Ngôn Thông xuống được 15 đời, biết được danh hiệu và sự tích cọng là 40 người. Đến đời cư sĩ Ứng Thuận là cuối cùng (1221) .

Cảm Thành Thiền sư : Đệ tử của ngài Vô Ngôn Thông; được ngài truyền tâm ấn và cho pháp hiệu là Cảm Thành. Thiền sư quê ở huyện Tiên Du (Bắc Ninh), không rõ họ là gì, chỉ biết lúc xuất gia lấy đạo hiệu là Lập Đức. Nguyên trước ngài có Trú trì ở một ngôi chùa trên núi Tiên Du, sau có người hào phú họ Nguyễn ở làng Phù Đổng mến phục đạo đức ngài, tình nguyện đem gia trạch cúng làm ngôi chùa, rước ngài về ở, tức là chùa Kiến Sơ ở làng Phù Đổng bây giờ .

Ngài ở đó chưa được bao lâu thì Vô Ngôn Thông Thiền sư vân du qua đó, thấy ngài có tư cách đủ truyền đạo thống thì ở lại. Ngài biết Thiền sư là bậc đắc đạo, nên rất thành kính thờ làm thầy, mai hầu tối chực, không hề biếng trễ, nên Thiền sư Vô Ngôn Thông đặt đạo hiệu lại cho ngài là Cảm Thành. Một hôm Thiền sư gọi ngài đến bảo rằng :

“Xưa đức Thế Tôn vì một nhơn duyên lớn mà xuất hiện ở đời, khi pháp duyên đã viên mãn, sắp vào cõi Niết-bàn, ngài đem chính pháp nhãn tạng và y bát truyền lại cho đức Ma-ha Ca-diếp là đệ tử của ngài, thành ra đức Ca-diếp là Tổ thứ nhất của chánh thống Thiền Tôn. Từ Tổ Ca-diếp truyền đến ngài Đạt-ma là đời thứ 28 ở Tây Thiên; ngài Đạt-ma vượt bỏ qua Đông độ, trải qua nguy hiểm mới truyền tâm pháp cho ngài Tăng Xáng lần lần truyền xuống đến Lục tổ Huệ Năng. Từ Sơ tổ Đạt-ma đến Lục tổ Huệ Năng, trao truyền chánh pháp đều lấy y bát làm minh chứng. Vì lúc đầu phải có thế người ta mới biết mà tin. Về sau Phật pháp truyền bá đã rộng, mà y bát là một hiện tượng dễ sanh ra tranh đoan, nên ngài Lục Tổ không truyền y bát nữa mà chỉ truyền tâm pháp mà thôi.

Tịnh Ngọc
11-06-2005, 09:03 PM
Lãnh được tâm truyền của Lục Tổ là Nam Nhạc Thiền sư; Nam Nhạc Thiền sư truyền cho Mã Tổ Thiền sư; Mã Tổ Thiền sư truyền cho Bách Trượng Thiền sư. Bấy giờ ở Bắc phương Phật pháp thạnh hành đã lâu, nhiều người đã hiểu giáo pháp Đại thừa, nên ta mới qua Nam phương để tìm người mà truyền chánh pháp. May gặp ngươi ở đây cũng là bởi nhơn duyên định sẵn.”

Vậy ngươi hãy nghe lấy bài kệ này :

Chư phương hao hao,

Vọng tự huyên truyền;

Vị ngô thủy tổ,

Thân tự Tây Thiên

Truyền Pháp Nhãn tạng,

Mục vị chi thuyền.

Nhất hoa Ngũ diệp,

Chủng tử miên miên.

Tiềm phù mật ngữ,

Thiên vạn hữu duyên.

Hàm vị tâm tôn,

Thanh tịnh bản nhiên.

Tây Thiên thử độ,

Thử độ Tây Thiên.

Cổ kim nhật nguyệt,

Cổ kim sơn xuyên.

Xúc đồ thành trệ,

Phật tổ thành oan.

Sái chi hào ly,

Thất chí bách thiên.

Nhừ thiện quan sát,

Mạc khiêm nhi tôn.

Trục nhiêu vấn ngã,

Ngã bổn vô ngôn.

Dịch :

Các nơi đồn thổi,

Quấy phá huyên truyền;

Rằng Phật Tổ ta,

Gốc ở Tây Thiên

Truyền Pháp Nhãn tạng,

Gọi là đạo Thiền.

Một hoa Năm lá;

Hạt giống liên miên.

Một lời mầu nhiệm,

Duyên phước muôn nghìn,

Ấy là lâm tôn,

Yên lặng thản nhiên.

Tây Phương là đây,

Đây là Tây Phương.

Mặt trời mặt trăng,

Núi sông xưa nay,

Chậm đường là trệ,

Gặp Tổ thành oan.

Sai đi một mảy,

Lỗi đến trăm ngàn.

Người khéo xem xét,

Chớ để phàn nàn.

Ta không nói nữa,

Đừng còn hỏi han.

Cảm Thành Thiền sư nghe lời thầy dạy trong bài kệ thì hiểu thấu, cho là mầu nhiệm mà ngộ đạo ngay.

Sau có một vị Tăng hỏi ngài rằng:

- Thế nào là Phật ?

- Chỗ nào cũng là Phật cả.

- Thế nào là tâm của Phật ?

- Không hề che đậy chỗ nào.

Ấy - cái lối truyền thọ tâm pháp của phái Thiền tôn chỉ giản ước có thế mà bao hàm ý nghĩa vô cùng.

Đến năm Canh Thìn, niên hiệu Hàm Thông nguyên niên (860), Cảm Thành Thiền sư không bệnh mà tịch, truyền tâm pháp cho Thiện Hội Thiền sư.

Tịnh Ngọc
11-06-2005, 09:04 PM
Trong thời kỳ Cảm Thành Thiền sư truyền giáo, thì Phật giáo bên Trung Hoa bị “đệ tam võ ách”

Ta ở xa tuy không bị ách vận ấy nhưng nước ta vốn thuộc nước Trung Hoa, nên Phật giáo thời ấy cũng bị ảnh hưởng mà đình trệ lại, không dám truyền bá mạnh.

Tuy nhiên, bề trong sự truyền bá vẫn ngấm ngầm. Vả trong thời ấy hẳn phải có nhiều Cao Tăng Ấn Độ hoặc Trung Hoa trốn sang cõi đất tuy nhỏ mà thái bình này để nối tiếp việc truyền đạo.

Thiện Hội Thiền sư : Ngài quê ở huyện Siêu Loại (Bắc Ninh bây giờ). Lúc nhỏ ngài học ở chùa Định Thiền trong làng, lớn lên mới xuất gia, thọ giới, tự hiệu là Tổ Phong, rồi đi vân du khắp mọi nơi để tìm thầy tham học. Khi đến chùa Kiến sơ được gặp Cảm Thành Thiền sư bèn xin ở lại học.

Ngài thờ Thiền sư hơn 10 năm mà không chán. Một hôm vào phòng hỏi thầy rằng :

- Trong kinh Phật có nói : Đức Thích-ca Như Lai từng tu hành trải vô số kiếp mới thành Phật, thế mà nay thầy dạy rằng : “Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm” là nghĩa làm sao ? Thật đệ tử không hiểu, xin thầy dạy rõ cho.

Cảm Thành Thiền sư nói :

- Người bảo trong kinh Phật nói thế là ai nói đó ?

- Vậy lời ấy không phải là Phật thuyết ư ?

- Lời ấy đâu phải là Phật thuyết. Kinh Văn Thù Phật có dạy : “Ta trú ở thế gian dạy chúng sinh 49 năm, chưa từng đặt ra một câu bằng văn tự để nói với ai bao giờ.” Vì theo chánh đạo, nếu lấy văn tự làm bằng chứng để cầu đạo, ấy là mê; lấy sự khổ hạnh để cầu Phật, ấy là mê; lìa tâm ra mà cầu Phật, ấy là ngoại đạo, mà cố chấp cái tâm ấy là Phật cũng lại là ma vậy.

- Nếu bảo tâm ấy tức là Phật, thì trong tâm ấy cái gì là Phật, cái gì là không phải Phật ?

- Ngày xưa có người hỏi Mã Tổ rằng : “Nếu bảo tâm ấy là Phật, thì trong tâm ấy cái gì là Phật ?” Mã Tổ trả lời rằng: “Thế ông ngờ tâm ấy cái gì không phải là Phật, ông chỉ vào đấy cho tôi xem”. Người ấy không nói gì. Mã Tổ lại tiếp : “Đạt được thì khắp mọi nơi chỗ nào cũng là Phật, mà không đạt được thì cứ sai lầm đi mãi mãi”. Thế là chỉ vì một lời nói nó che đi mà thành ra sai lầm đó thôi. Người đã hiểu chưa ?

- Nếu vậy, đệ tử hiểu rồi.

Người hiểu thế nào ?

- Đệ tử hiểu rằng khắp hết mọi nơi chỗ nào cũng là tâm Phật cả.

Nói thế rồi ngài sụp xuống lạy. Cảm Thành Thiền sư nói :

- Thế là người hiểu tới nơi rồi đó.

Cảm Thành Thiền sư mới đặt tên cho ngài là Thiện Hội, nghĩa là khéo hiểu. Ngài ngộ đạo rồi lại về Trú trì ở chùa Định Thuyền. Sau ngài tịch ở chùa ấy vào năm Canh Thân, niên hiệu Quang Hóa nhà Đường (900), và truyền tâm pháp cho đệ tử là Vân Phong người huyện Từ Liêm, tức là đời thứ ba giòng Vô Ngôn Thông vậy.

Tịnh Ngọc
11-06-2005, 09:05 PM
Lúc này nội tình nước Trung Hoa thật là rối loạn. Nhà Đường từ vua Ý Tôn, Hy Tôn đến Chiêu Tôn, chính trị suy đồi, nên các triều quan hoành hành quá đỗi. Rồi Chu Toàn Trung giết vua mà tự lập. Trong khoảng hơn 50 năm triều đại thay đổi luôn luôn. Các thà nổi lên thay nhau làm vua là Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tần, Hậu Hán, Hậu Chu gọi là đời Ngũ Đại hay Ngũ Quý.

Nước ta vì vậy chính trị cũng có chiều thay đổi. Năm 906 có Khúc Thừa Dụ sang làm Tiết Độ sứ ở Giao Châu mà ở Quảng Châu (Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ) thì Lưu Ẩn được nhà Hậu Lương phong cử cho làm Nam Bình Vương ra trấn ở đó kiêm chức Tiết Độ sứ, có ý để lấy lại Giao Châu cho nhà Lương. Năm sau Thừa Dụ chết, giao quyền cho con là Khúc Hạo. Khúc Hạo lên làm Tiết Độ sứ Giao Châu, có con là Khúc Thừa Mỹ sang sứ Quảng Châu, tiếng là kết hiếu, nhưng cốt để do thám.

Lưu Ấn ở Quảng Châu, đóng phủ trị ở Phiên Nhung, được bốn năm thì mất, em là Lưu Cung lên thay. Nhân có việc bất bình với Hậu Lương, Lưu Cung tự xưng đế lấy Quốc hiệu Đại Việt, sau đổi là Nam Hán.

Năm 917 Khúc Thừa Mỹ lên thay cha, không chịu thần phục nhà Nam Hán. Lưu Ấn liền sai tướng sang đánh, bắt được Thừa Mỹ, rồi sai Lý Tiến sang làm Thứ Sử cùng Lý Khắc Chính cùng giữ Giao Châu. Năm Tân Mão (931) tướng cũ của Khúc Hạo là Dương Diên Nghệ nổi lên, mộ quân đánh đuổi bọn Lý Tiến, rồi tự xưng làm Tiết Độ sứ. Được sáu năm, Dương Diên Nghệ lại bị gia tướng là Kiều Công Tiễn giết đi mà cướp quyền.

Khi ấy có tướng của Dương Diên Nghệ là Ngô Quyền, người Phong Châu (Sơn Tây), nổi lên đánh Kiều Công Tiễn. Kiều thua về cầu cứu quân Nam Hán. Quân Nam Hán sang cũng bị thua và từ đó, quân Trung Hoa không dám sang Giao Châu quấy nhiễu nữa.

Ngô Quyền xưng vương, giải được cái ách vận hơn nghìn năm nước ta bị nô lệ và mở đường tự lập cho những nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê về sau này.

Về Phật giáo ở nước ta lúc ấy cố nhiên là phải đình trệ, tuy sự truyền thống của hai giòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông vẫn lưu hành.

Trong thời Tiền Ngô Vương (939 - 944) ở ta, bên Trung Hoa vào niên hiệu Hiển Đức nhà Hậu Chu (955), Phật giáo lại bị đại ách, đó là “Nhất tôn chi ách” vậy.

Phật giáo ở Trung Hoa tưởng đến tuyệt đích, nhưng không có ảnh hưởng gì đến Phật giáo ở nước ta.

Khi Trung Hoa bước sang nhà Tống thì nước ta cũng dần dần bước sang nhà Đinh.

Tịnh Ngọc
11-06-2005, 09:07 PM
Chương ba

PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ ĐINH (968 - 980) VÀ ĐỜI TIỀN LÊ (980 - l09)

Ngô Vương làm vua được 6 năm thì mất vào năm Giáp Thìn (944), có ủy thác con là Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha, em của Dương Hậu, Tam Kha cướp quyền cháu, tự xưng làm Bình Vương. Sau em Xương Ngập là Xương Văn cướp ngôi lại và cùng làm vua, tức Hậu Ngô Vương. Được 4 năm Xương Ngập mất, Xương Văn làm vua được 15 năm cũng bị chết trận vì vua thường phải thân chinh đi dẹp loạn. Bấy giờ là năm Ất Sửu (965). Trong thời Hậu Ngô Vương, nước ta có cái loạn Thập nhị xứ quân, dân tình rất là khổ sở.

Sau có Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh nổi lên phục được tất cả các sứ quân và lên ngôi Hoàng Đế, tức là Tiên Hoàng Đế nhà Đinh, lấy niên hiệu là Thái Bình nguyên niên (970).

Vua sai sứ sang thông hiếu với Tống triều bên Trung Hoa và sửa sang việc nước, trừ diệt hết những sự tham nhũng, định lại việc triều chính.

Nước ta từ lâu đã có Nho giáo, Lão giáo ở Trung Hoa truyền sang, nhưng thật ra hai giáo ấy chưa được phổ cập hết dân chúng bằng Phật giáo, nên thời ấy có thể gọi là thời đại Phật giáo độc tôn. Văn hóa trong lược hình như hầu hết ở trong các Tăng sĩ cả. Nên

khi Tiên Hoàng Đế định giai cấp văn võ, thì ngài triệu tất cả Tăng sĩ lỗi lạc vào hàng Thái miếu và dính phẩm trật cho các Tăng-già. Ngài tặng chức Khuông Việt Thái sư cho Pháp sư Ngô Chân Lưu, Pháp sư Trương Ma Ni làm Tăng lục đạo sĩ và Pháp sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chân uy nghi.

Phật giáo ở nước ta được triều đình công nhận từ đó và Tăng sĩ có định giai phẩm khi ấy cũng là lần đầu tiên. Phật giáo sử lại thêm được giai đoạn vẽ vang. Và cứ xem một vị Tăng Thống được phong đến chức Thái sư thì đủ đoán được tình hình Phật giáo về đời nhà Đinh lại bắt đầu thạnh hơn trước vậy.

Nhà Đinh mất, nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành) lên thay để chống với quân nhà Tống (980). Triều này các Tăng sĩ cũng được biệt đãi. Đại Hành thường triệu các vị Tăng Thống vào triều để hỏi việc nước và Phật giáo.

Niên hiệu ứng Thiên thứ 14 (l008), sau khi nước ta đã hòa với Tống rồi, vua Đại Hành sắc ông Minh Xưởng và ông Hoàng Thành Nhã sang sứ nước Trung Hoa, cống hiến đồ thô sản và xin vua Tống ban cho bộ “Cửu kinh” và “Đại Tạng kinh”. Vua Tống trao cho những bộ ấy và cho sứ giả đưa về. Đó là lần đầu tiên nước ta cho người sang cầu kinh bên Trung Hoa vậy.

Tịnh Ngọc
11-06-2005, 09:08 PM
Khuông Việt Thái Sư : Ngài họ Ngô, pháp hiệu là Chân Lưu, quê ở làng Cát Lỵ (?), Trú trì ở chùa Phật Đà. Thuở nhỏ ngài theo Nho học; lớn lên thọ giới với Vân Phong Thiền sư ở chùa Khai Quốc. Từ đó ngài đọc khắp kinh điển nhà Phật, hiểu được mọi lẽ cốt yếu của Thiền Tôn, tiếng tăm lừng lẫy trong nước. Năm ngài 40 tuổi, vua Đinh Tiên Hoàng mời vào hỏi đạo, ngài ứng đối tinh tường. Vua rất lấy làm mến phục, bèn phong làm chức Tăng Thống. Năm sau, niên hiệu Thái Bình thứ 2 (971), vua lại phong là Khuông Việt Thái sư (Khuông Việt nghĩa là giúp đỡ sửa sang nước Việt).

Đến đời vua Lê Đại Hành, ngài lại càng được kính trọng lắm. Bao nhiêu việc quân việc nước vua thường triệu ngài đến hỏi.

Năm Thiên Phúc thứ 7 nhà Tiền Lê (986), nhà Tống sai sứ Trung Hoa là Lý Giác sang nước ta, vua Đại Hành liền sắc Khuông Việt Thái sư ra đón tiếp và ứng đối. Khi Lý Giác về Trung Hoa có để lại một bài thơ rằng :

Hạnh ngộ minh thời tán thạnh du,

Nhất thâu lưỡng độ sứ Giao Châu

Đông đô tái biệt tâm vưu luyến,

Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu,

Mã đạp yên vân xuyên lãng thạch,

Xa từ thanh chướng phiếm trường lưu

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu,

Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu.

Dịch :

May gặp minh quân giúp việc làm,

Một mình hai lượt sứ miền Nam.

Mấy phen qua lại lòng thêm nhớ,

Muôn dặm non sông mắt chữa nhàm.

Ngựa đạp mây bay qua suối đá,

xe vòng núi chạy tới giòng lam,

Ngoài trời lại có trời soi rạng,

Vừng nguyệt trong in ngọn sóng đầm.

Vua Đại Hành đưa bài thơ ấy cho ngài, hỏi xem có ý gì không ? Ngài tâu :

- Câu thứ bảy sứ Trung Hoa có ý tôn Bệ hạ cũng như Vua của họ vậy.

Vua Đại Hành bèn nhờ ngài làm một bài tiễn Lý Giác. Ngài vâng mệnh làm một bài từ theo điệu « Tống vương lang qui » :

Tịnh Ngọc
05-07-2005, 09:29 PM
Tường quang phong hảo cẩm phàm trương,

Thần tiên phục đế hương.

Thiên lý vạn lý thiệp thương lảng, (đọc : lương)

Cửu thiên qui lộ trường

Nhân tình thảm thiết đối ly trường.

Phan luyến sứ tinh lang.

Nguyện tương thâm ý vị nam cương,

Phân minh tấu ngã hoàng.

Dịch :

Gió hòa phấp phới chiếc buồm hoa,

Thần tiên trở lại nhà.

Đường muôn nghìn dặm trải phong ba,

Cửa trời nhắm đường xa.

Một chén quan hà dạ thiết tha,

Thương nhớ biệt bao là.

Nỗi niềm xin nhớ cõi Nam Hà,

Bày tỏ với vua ta.

Ngài ở triều được ít lâu thì lấy cớ già yếu xin cáo về, dựng một ngôi chùa ở núi Du hý. Ở đó ngài mở trường giảng học, học trò đến học rất đông; có Đa Bảo Thiền sư là đệ tử thân tín của ngài, sau được truyền tâm pháp.

Ngày 15 tháng 2, niên hiệu Thuận Thiên thứ hai đời nhà Lý, ngài gọi Đa Bảo Thiền sư đến đọc bài kệ rằng :

Mộc trung nguyên hữu hỏa,

Nguyên hỏa phục hoàn sanh.

Nhược vị mộc vô hỏa,

Toàn toại hà do manh ?

Dịch :

Trong cây vốn có lửa,

Tia lửa mới sáng lòa,

Nếu bảo cây không lửa,

Cọ xát sao lại ra ?

Đa Bảo Thiền sư hiểu thâm ý của Sư phụ, liền sụp xuống lạy. Khuông Việt Thái sư chấp tay lại mà tịch. Ngài thọ 81 tuổi . Ngài tức là đời pháp truyền thống thứ tư của phái Vô Ngôn Thông Thiền sư vậy:

Tịnh Ngọc
05-07-2005, 09:31 PM
Pháp Thuận Thiền sư : Ngài giòng họ Đỗ, không rõ quê quán ở đâu, ngài xuất gia thuở nhỏ, thọ giáo với Long Thọ Phù Trì Thiền sư. Khi nhà Tiền Lê mới thành nghiệp, ngài thường được mời vào triều để luận bàn việc chính trị và ngoại giao. Vua Đại Hành thường gọi là Đỗ Pháp Sư chứ không dám gọi chính tên. Năm Thiên Phúc thứ 7 (986), nhà Tống sai sứ là Lý Giác sang nước ta, vua sắc ngài cải trang làm phu chèo đò cho sứ giả. Tình cờ lúc ấy có hai con ngỗng đi ở mặt nước, Lý Giác liền ngâm rằng :

Nga nga lưỡng nga nga,

Ngưỡng diện hướng thiên nha.

Dịch :

Song song ngỗng một đôi,

Ngửa mặt ngó ven trời.

Pháp sư đang cầm chèo liền đọc tiếp :

Bạch mao phô lục thủy,

Hồng trạo bải thanh ba.

Dịch :

Lông trắng phơi gióng biếc,

Sóng xanh chân hồng bơi.

Lý Giác thán phục lắm.

Vua Đại Hành thường hỏi ngài về ngôi nước dài ngắn thế nào ? Ngài liền đọc bài kệ rằng:

Quốc tộ như đằng lạc,

Nam thiên lý thái bình,

Vô vi cư điện các,

Xứ xứ tức đao binh.

Dịch :

Ngôi nước như dây quấn,

Trời Nam mở thái bình,

Trên điện không sanh sự,

Đâu đó dứt đao binh.

Niên hiệu Hưng Thống nhà Tiền Lê năm thứ hai (990), ngài không bịnh mà tịch, thọ 76 tuổi. Ngài có làm quyển “Bồ-tát hiệu sám hối văn”, còn truyền lại.

Ngài là đời pháp truyền thống thứ mười của phái Tì Ni Đa Lưu Chi vậy.

Đọc hai ngài trên đây, ta đủ rõ về thời ấy, trong nước chỉ có những vị Tăng Thống mới là bậc bác học.

Ngày xưa mỗi khi tiếp sứ Trung Hoa, vua ta thường phải chọn những người lỗi lạc uyên bác ra tiếp, mà khi vị Thiền sư cũng được cử vào việc ấy, đủ biết văn hóa trong nước hầu hết do ở các Tăng sĩ cả. Những Pháp sư ấy lại mở trường giáo hóa Tăng chúng, nên ta có thể đoán thời ấy Phật giáo ở ta dân chúng hiểu biết lắm vậy. Vả thời ấy có thể gọi là thời đại luật giáo thịnh nhất. Vua tin theo, triều đình ủng hộ, lại có sứ đi cầu kinh, tất nhân dân ai ai cũng phải biết.

Nhưng đến cuối đời Tiền Lê, Phật giáo có lẽ mất thế lực vì ông vua bạc nhược và khôi hài : Lê Long Đĩnh (Ngọa Triều : 1005 – l009).

“Long Đĩnh là người bạo ngược, tính hay chém giết, ác bằng Kiệt, Trụ ngày xưa. Khi đã giết anh (Lê Trung Tôn con Lê Đại Hành) rồi lên làm vua và thường cứ lấy sự giết người làm trò chơi : Có khi những tù phạm phải tội hình thì bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người rồi đưa đốt sống; có khi bắt tù trèo lên cây rồi sai người chặt gốc cho cây đổ; có khi bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông; hoặc bắt các nhà sư rồi lấy mía để lên đầu mà róc vỏ, thỉnh thoảng giả vờ lấy tay bổ dao xuống đầu, trông thấy máu chảy ra thì lấy làm vui cười.

Còn khi ra buổi chầu, có ai tâu sớ điều gì thì cho những người hề nói khôi hài hay là nhái tiếng làm trò.”

Với một ông vua đồi bại như thế, dù có những ngài Tăng Thống dự vào triều chính cũng vị tất đã dám đem những chuyện Phật giáo để cho vua được dịp làm trò.

Cũng may, Ngọa Triều làm vua được có 4 năm thì mất, để Lý Công Uẩn là người của Phật giáo lên làm vua, gây nghiệp nhà Lý và gây cho Phật giáo một thời đại cực thạnh.

Tịnh Ngọc
05-07-2005, 09:34 PM
Chương tư

PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ LÝ (l010 - 1225)

1. Lý Thái Tổ (l010 - l088)

Ngài tên húy là Công Uẩn, con nuôi một vị sư chùa Cổ Pháp là Lý Khánh Văn, sau thọ giáo với ngài Vạn Hạnh. Lớn lên ngài theo ngài Vạn Hạnh vào Hoa Lư làm quan với nhà Lê đến chức Tả Thân Vệ Điện Tiền chỉ huy sứ. Khi Lê Ngọa Triều mất thì ngài đã 35 tuổi. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền - Lê lắm, nên ở trong triều có bọn ông Đào Cam Nuộc, cùng với Tăng Thống Vạn Hạnh mưu tôn ngài lên làm vua. Ngài lên ngôi Hoàng Đế tức là vua Thái Tổ , nhà Lý, đóng đô ở thành Thăng Long (Hà Nội), lấy niên hiệu Thuận Thiên.

Thái Tổ vốn ở trong phái Phật học mà ra nên khi ở ngôi vua, ngài hết sức sùng trọng Phật giáo. Ngay khi mới lên ngôi đã sắc ban phẩm phục cho các hàng Tăng sĩ.

Năm Thuận Thiên nguyên niên (l010), Thái Tổ sắc làm nhiều chùa ở phủ Thiên Đức, lấy tiền kho hai vạn quan để dựng 8 ngôi: trong thành Thăng Long dựng chùa Hưng Thiên Ngự, gần điện Thái Thanh dựng chùa Vạn Tuế, ngoài thành lại dựng những chùa Thắng Nghiêm, Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ, Thiên Quang và Thiên Đức. Triều đình lại sắc đi khắp các làng hễ chùa nào đổ nát thì phải tu bổ lại.

Sang năm thứ 9 (l019) Thái Tổ sai sứ là Phạm Hạo và Nguyễn Đạo Thanh sang Trung Hoa thỉnh kinh. Khi được vua Tống ban cho, ngài lại sắc một vị Thiền sư là Phi Trí đi sang tận Quảng Tây đón về và để vào kho sách Đại Hưng. Đó là lần thứ hai nước ta có sứ đi cầu kinh.

Năm sau (l020), ngài sắc lập Đạo đường và phái Tăng sĩ đi diễn giảng Phật đạo khắp trong nước. Lại sắc đúc mấy quả chuông để treo ở các chùa Hưng Thiên, Đại Giáo, Thắng Nghiêm.

Năm Thuận Thiên thứ 15 (l024) tháng chín, ngài lập chùa Chân Giáo ở trong thành và sắc các Tăng sĩ, Pháp sư đến đó tụng kinh và giảng đạo để ngài thường đến nghe.

Về đời Lý Thái Tổ, trong nước đã cường thịnh, các nước ngoài như Chiêm Thành, Chân Lạp đều chịu triều cống, bên Trung Hoa nhà Tống cũng giao hiếu không sanh sự, dân tình được an lạc, vua và triều đình lại hết tâm ủng hộ, nên Phật giáo ở nước ta hồi ấy có thể gọi là hồi thạnh nhất từ trước đến sau. Bấy giờ Hán học tuy đã phổ thông khắp dân chúng, nhưng Nho giáo hình như chỉ là phần phụ ít ai để ý đến, vì chưa có khoa cử, nên Phật giáo vẫn đứng địa vị độc tôn. Bởi thế, văn hóa và học thuật trong nước vẫn là ở trong phái Phật học cả.

Những vị Thiền sư có danh tiếng thời bấy giờ như Vạn Hạnh Thiền sư, Đa Bảo Thiền sư, Sùng Phạm Thiền sư đều ở hai phái Tì Ni và Vô Ngôn mà ra cả

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 09:54 PM
Vạn Hạnh Thiền sư : Người làng Cổ Pháp (nay là làng Đình Bản, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh) họ Nguyễn, không rõ tên tục là gì. Nhà ngài đời đời thờ Phật, từ thuở nhỏ ngài đã thông minh khác chúng, học khắp tam giáo và khảo cứu nhiều kinh luận nhà Phật. Năm 20 tuổi, ngài xuất gia cùng với Định Huệ Thiền sư, theo học với ngài Thiền ông Đạo-gia, tức là đời pháp thứ hai của phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Sau Thiền ông tịch rồi, ngài chuyên tập pháp “Tổng trì Tam-ma-địa”, mỗi khi nói câu gì lạ thường, người đời đều cho ông là câu sấm. Thời vua Lê Đại Hành còn tại thế, thường mời ngài đến hỏi về việc quân.

Niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất (980), nước Trung Hoa sai Hậu Nhân Bửu đem quân qua đánh nước ta, khi đã đóng núi Cương Giáp Lãng (?), vua Đại Hành mời Thiền sư đến hỏi quân ta thắng bại thế nào ? Ngài tâu: Chỉ trong ba, bảy ngày thì giặc tất lui. Sau quả nhiên như vậy. Ngài rất giỏi về sấm ngữ và độn số, vua Đại Hành rất đem lòng tôn kính thán phục.

Năm Thuận Thiên thứ 9 (l018), ngài không đau ốm gì mà tịch. Vua Lý Thái Tổ và các đệ tử rước ngài lên hỏa đàn rồi thâu hài cốt xây tháp để thờ.

Ngài có bài kệ trước khi tịch rằng :

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô,

Nhậm vận thạnh suy vô bố úy,

Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.

Dịch :

Thân như bóng chớp chiều tà,

Cỏ xuân tươi tốt, thu qua rụng rời.

Sá chi suy thạnh việc đời,

Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.

Sau vua Lý Nhân Tôn (l072 - 1 127) cũng có bài truy tán ngài rằng:

Vạn Hạnh dung tam tế,

Nhơn phù cổ sấm cơ (ky).

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ .

Dịch :

Thiền sư học rộng bao la,

Giữ mình hợp phép sấm ra ngoài lời.

Quê hương Cổ Pháp danh ngời,

Tháp bia đứng vững muôn đời Đế Đô.

Đa Bảo Thiền sư : Không rõ ngài quê quán ở đâu, Trú trì chùa Kiến Sơ ở làng Phù Đổng. Ngài là đệ tử của Khuông Việt Thái sư (phái Vô Ngôn Thông). Lý Thái Tổ nghe danh thường mời ngài vào triều hỏi đạo và bàn luận việc nước và việc ngoại giao Thái Tổ có sắc trùng tu chùa Kiến Sơ cho ngài ở sau không rõ ngài tịch ở đâu và bao giờ, vì ngài thường thường vân du đi khắp xứ để thuyết pháp truyền đạo.

Đệ tử được truyền tâm pháp của ngài là Định Hương Trưởng lão.

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 09:55 PM
2. Lý Thái Tôn (l028 - l054).

Thái tử Phật Mã nối ngôi Thái Tổ, tức là Lý Thái Tôn, lấy niên hiệu Thiên Thành. Ngài cũng là người sùng đạo Phật, thường thường họp các bô lão, Tăng sĩ ở các chùa để bàn luận về đạo Phật.

Năm Thiên Thành thứ tư (l031) tháng tám, sau khi dẹp giặc Chiêm ở Hoan Châu (Nghệ An bây giờ) về, Thái Tôn sắc lập 95 ngôi chùa. Khi chùa là in xong, triều đình mở quốc hội để khánh thành và miễn thuế cho nhân dân một năm.

Năm 1034, Thái Tôn đổi niên hiệu là Thông Thụy. Tháng 8 năm ấy nhà Tống ban Đại Tạng kinh và sai sứ rước sang cho ta, Thái Tôn sai triều quan đi đón rất long trọng.

Trong năm ấy có 2 vị Thiền sư là Nghiêm Bảo Tánh và Phạm Minh Tâm ngộ đạo tự thiêu mình, Thái Tôn cho rước tro ấy vào thờ ở chùa Trường Thánh.

Đến năm Thông Thụy thứ ba (l036), Thái Tôn sắc sơn thếp lại các tượng Phật ở các chùa. Khi hoàn thành triều đình mở quốc hội khánh thành và miễn thuế cho dân một năm.

Lại vào khoảng niên hiệu Thông Thụy (l034-1038), vua thường đến hỏi đạo nơi ngài Thuyền Lão Thiền sư và xưng làm đệ tử. Sau vua được ngài truyền tâm pháp, tức là người thứ bảy trong đời, truyền thống thứ bảy của phái Vô Ngôn Thông vậy

Triều đời Lý, ngài thật là một ông vua sùng đạo bậc nhất. Ngoài những lúc lo việc chính trị, ngài lại lo học pháp Thiền định của phái Thiền Tôn. Ngài tu tại gia, thọ giáo với ngài Thuyền Lão; ngài lại thường đàm đạo với các Thiền sư nổi tiếng bấy giờ như Cứu Chỉ Thiền sư, Bảo Tánh Thiền sư, Minh Tâm Thiền sư, v.v... Các Thiền sư này cũng là những bậc Đại đức của phái Vô Ngôn, mỗi ngài đều có đệ tử rất đông.

Qua niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo năm đầu (1049), Thái Tôn sắc dựng chùa Diên Hựu. Nguyên năm trước ngài nằm mơ thấy đức Phật Quan Âm dẫn ngài vào Liên Hoa điện. Tỉnh dậy, ngài ban hỏi đình thần thì một vị Tăng Thống xin lập chùa. Vua nghe lời, sắc dựng một cục đá, ở trên xây điện Liên Hoa (hình hoa sen nổi trên mặt nước) thờ Phật Quan Âm và hội các Tăng sĩ lại tụng kinh cầu trường thọ (chùa ấy hiện còn ở gần Hà Nội, người ta thường gọi là “Chùa Một Cột”).

Những Thiền sư có danh hồi ấy như Huệ Sinh Thiền sư, Định Hương Trưởng lão Thiền sư (phái Tì Ni), Cứu Chỉ Thiền sư v.v . . .

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 09:55 PM
Huệ Sinh Thiền sư : Họ Lâm, tên tục là Khu, quê ở Đông Phù Liệt nguyên là con cháu Lâm Phú ở Trà Sơn (huyện Thanh Trì, Hà Đông bây giờ). Thuở nhỏ tướng mạo khôi ngô, nói năng rất lưu loát, nổi tiếng văn hay chữ tốt. Những khi học Nho còn thừa thì giờ ngài lại nghiên cứu kinh Phật. Mỗi khi nói đến chỗ cốt yếu của Phật pháp, ngài thường than thở và rơi nước mắt. Gần 70 tuổi, ngài theo Định Huệ Thiền sư, từ đó đạo học càng ngày càng tiến. Khi được sư phụ truyền tâm pháp cho, ngài mới đi hành hóa khắp chốn tòng lâm, rồi lên ở núi Bồ-đề. Mỗi lần ngài ngồi nhập định tu pháp ít nhất cũng phải năm bảy ngày. Người đời bây giờ thường gọi ngài là ông ‘Phật xác thịt”.

Vua Lý Thái Tôn nghe tiếng ngài có sai sứ đến mời. Ngài bảo sứ giả rằng: ông không thấy con sanh trong lễ tế ư ? Khi chưa tế thì người ta cho nó ăn cỏ thơm, mặc áo gấm, đến khi giắt vào Thái miếu thì nó chỉ muốn cầu chút sống sót, còn nói đến việc gì ? Nói rồi ngài từ chối không chịu đi. Sau vì nhà vua cố ép, bất đắc dĩ ngài phải tới cửa khuyết.

Sau khi đàm đạo về Phật pháp, vua rất lấy làm kính phục, mới phong cho ngài làm chức Nội Cung Phụng Tăng và sắc truyền ở chùa Vạn Tuế gần thành

Thăng Long. Một hôm trong Đại hội có thiết tiệc chay đãi các Tăng sĩ, vua ban :

“Đối với tâm nguyện của Phật, các học giả thường cãi lộn nhau, Trẫm muốn các bậc thượng đức ở đây, bày tỏ chỗ sở đắc, để Trẫm xem học vấn của các ngài đến bậc nào”.

Ngài liền ứng khẩu đọc bài kệ rằng :

Pháp bổn như vô pháp,

Phi hữu duyệt phi không.

Nhược nhân tri thử pháp,

Chúng sinh dự Phật đồng.

Tịch tịch Lăng già nguyệt,

Không không độ hải châu.

Tri không không giác hữu,

Tam-muội nhậm thông châu.

Dịch :

Pháp vốn như không pháp,

Chẳng có cũng chẳng không.

Nếu hiểu được pháp ấy,

Chúng sinh, Phật vẫn đồng.

Trăng Lăng-già phẳng lặng,

Thuyền Bát-nhã chơn không.

Biết không rồi biết có,

Tam-muội mặc dung thông.

Vua rất lấy làm mến phục.

Thời ấy các Vương công trong triều và các sĩ thứ nhiều người đến hỏi đạo lý và đều kính ngài là bậc thầy. Sang đời Thánh Tôn, ngài lại được phong làm Tả Nhai Tăng Đô Thống. Đến năm Gia Khánh thứ 5 (l063) ngài mất. Ngài có soạn ra mấy cuốn Pháp sư trai nghi, Đạo tràng khánh tản văn, nhưng đều thất truyền.

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 09:56 PM
Định Hương Trưởng Lão : Họ Lữ quê ở Chu Minh, đệ tử của ngài Đa Bảo Thiền sư (phái Vô Ngôn), thọ giới với sư phụ đã hơn 24 năm.

Môn đệ của Đa Bảo Thiền sư có hơn vài trăm người, ngài cùng Bảo Hòa Thiền sư đứng vào bậc nhất.

Một hôm ngài hỏi Đa Bảo Thiền sư rằng :

- Thế nào là tìm thấy chân tâm của mình ?

- Thì người cứ tìm đi.

Ngài nghe thầy nói thế, trong lòng bâng khuâng, một hồi lâu nói :

- Hết thảy mọi người cũng đều thế cả, phải gì một đệ tử này.

- Thế người đã hiểu chưa ?

- Khi đệ tử hiểu rồi thì lại cũng như khi chưa hiểu.

- Ngươi nên giữ gìn lấy cái tâm ấy.

Nghe thầy dạy thế, ngài liền chấp tay và xây mình lại Đa Bảo liền quát to lên rằng :

- Đi đi !

Ngài vội sụp xuống lạy. Đa Bảo Thiền sư dạy :

- Từ nay người tiếp người nên coi mình như người mắt mờ tai điếc vậy.

Thời ấy ở Kinh đô có quan Thành Hoàng sứ là Nguyễn Tuân, rất kính mến đạo đức của ngài mời ngài về trú ở chùa Cảm ứng, học trò đến học rất đông, ngài giáo hóa được nhiều người đắc đạo. Niên hiệu Sùng Hưng Dại Bảo thứ ba (l051) ngài tịch.

Thuyền Lão Thiền sư : Trú trì ở chùa Trùng Minh huyện Tiên Du, đệ tử của Đa Bảo Thiền sư. Khi học đã đắc đạo rồi mới về ở ngôi chùa vùng Từ Sơn, danh tiếng lẫy lừng, học trò kể hơn nghìn người. Chỗ ở của Thiền sư thành ra một nơi tùng lâm đô hội.

Trong khoảng niên hiệu Thông Thụy (l034 - l038), vua Lý Thái Tôn nhơn một hôm đến thăm và hỏi rằng :

- Hòa thượng trú ở chùa này bao lâu ?

Thiền sư liền đọc hai câu thơ rằng :

Đản tri kim nhật nguyệt,

Thùy thức cựu xuân thu.

Dịch :

Sống ngày nay biết ngày nay,

Còn xuân thu trước ai hay làm gì.

- Ngày thường Hòa thượng làm việc gì ?

Ngài lại đọc :

Túy trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh,

Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.

Dịch :

Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác

Trăng trong mây bạc hiện toàn chân.

Sau khi về cung, vua định cho sứ đến rước ngài lo triều để cố vấn. Đoạn sứ giả đến nơi thì ngài đã tịch rồi.

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 09:56 PM
3. Lý Thánh Tôn (l054 - l072)

Thái tử Nhật Tôn nối ngôi Thái Tôn hiệu là Thánh Tôn, đổi quốc hiệu là Đại Việt niên hiệu là Long Thụy Thái Bình (l054). Ngài là một ông vua sùng đạo Phật và nhân từ nhất. Những mùa lạnh ở trong cung, ngài thường nghĩ thương đến tù phạm và những kẻ nghèo. Một năm, trời rét lắm, Thánh Tôn bảo những quan hầu cận rằng :

"Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế này mà còn rét, nghĩ những tù phạm phải giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc, vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, lỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm ".

Nói rồi ngài truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm và mỗi ngày cho ăn hai bữa đầy đủ. Lại một hôm, Thánh Tôn ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên Công chúa đứng hầu bên cạnh, ngài chỉ Công chúa mà bảo các quan rằng :

“Lòng Trẫm yêu dân như yêu con Trẫm vậy; Trẫm vì trăm họ ngu dại làm càn phải tội, Trẫm lấy làm thương lắm; vậy từ rày về sau, tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi”

Ngài có lòng từ bi bác ái như vậy; cũng là do ngài sùng mộ Phật giáo và trong triều lại có nhiều vị Thiền sư hầu cận làm ngự sử cho ngài.

Năm Long Thụy Thái Bình thứ 5 (l056), Thánh Tôn sắc dựng Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, có xây một ngọn tháp 12 tầng, cao 20 thượng và đúc một quả chuông hết 12 ngàn cân đồng (phường ấy ở xã Tiên Thị, huyện Thọ Xương, tức Hà Nội bây giờ hiện còn di tích).

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 09:57 PM
PHÁI THẢO ĐƯỜNG

Năm Kỷ Dậu (l069), vua Lý Thánh Tôn đi đánh Chiêm Thành về, có bắt được vua nước ấy là Chế Cũ và nhiều dân lính làm tù binh. Các tù binh ấy vua Thánh Tôn ban cho các quan triều làm quân hầu Trong số các quan triều ấy có một vị Tăng Lục.

Một hôm vị Tăng Lục ấy đi vắng về, bỗng thấy bản “Ngữ lục” của mình bị một tù binh sửa chữa lại cả. Ngài thất kinh đem việc ấy tâu vua, vua liền cho đòi tên tù binh ấy hỏi, thì y ứng đối rất thông, luận về những kinh điển nhà Phật rất là xác đáng. Hỏi ra thì đó một vị Thiền sư người Trung Hoa theo thầy qua Chiêm Thành, chẳng may bị bắt làm tù binh. Vị Thiền sư ấy chính tự hiệu là Thảo Đường, đệ tử của ngài Tuyết Đậu Minh Giáo bên Trung Hoa.

(Theo sách Tục Truyền Đăng Lục thì Tuyết Đậu là đạo hiệu của một vị Thiền sư tu ở núi Tuyết Đậu thuộc hạt Minh Châu nước Trung Hoa, chính hiệu là Trùng Hiển, tự là Ẩn Chi; vì tu ở núi Tuyết Đậu nên người ta kêu là Tuyết Đậu Thiền sư).

Khi biết rõ tung tích của Thảo Đường Thiền sư, vua Thánh Tôn liền sắc phong ngài chức Quốc sư, cho khai giảng ở chùa Khai Quốc trong thành Thăng Long. Đệ tử đến theo học rất đông. Ngài biệt lập ra một phái, sau người ta gọi là phái Thảo Đường, tức là phái Thiền tôn thứ 3 ở ta vậy.

Lý Thánh Tôn cũng thọ giáo với ngài. Sau Thánh Tôn đắc đạo được ngài truyền tâm pháp và là đệ tử đầu tiên của phái Thảo Đường. Sau phái Thảo Đường truyền xuống được 5 đời, đắc đạo cộng được 19 người

Thế là trong đời vua Lý Thánh Tôn, Phật giáo ở nước ta lại thêm một phái.

Năm Thiên Huấn Bảo Tượng thứ 2 (l069), Thánh Tôn có sắc dựng Văn miếu, đúc tượng Chu Công, Khổng Tử cùng tượng Tứ Phối và Võ tượng 72 vị Tiền hiền để thờ, nhưng sự chuộng Nho giáo ấy cũng không có ảnh hường gì đến sự truyền bá và thế lực của Phật giáo. Sự thật là tuy Thánh Tôn có bắt Hoàng tử Văn miếu mà học và có ý khai hóa việc văn mà ngài vẫn đắc đạo thành một đạo sĩ của phái Thiền tôn.

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 09:59 PM
4. Lý Nhân Tôn (1072 - 1127)

Thái tử Càng Đức con bà Ỷ Lan Thái Phi, nối ngôi Thánh Tôn lấy đế hiệu là Lý Nhân Tôn. Nhân Tôn lên ngôi vua thì hãy còn nhỏ tuổi, nhưng được Thái sư Lý Đạo Thành và các quan triều hết lòng lo việc nước, nên sau ngài cũng thành một vị vua thông minh và anh dũng. Trong đời này vua Nhân Tôn có mở khoa thi tam trường, lập trường Quốc tử giám và lập tòa Hàn Lâm, khuyến khích việc Nho học, nhưng ngài vẫn không xao nhãng về vấn đề Phật giáo.

Năm Quảng Hựu thứ ba (l087), Nhân Tôn ngự giá đi lễ Phật nghe kinh ở chùa Lãm Sơn (ở huyện Quế Dương, Bắc Ninh bây giờ) rồi thiết triều yến ở chùa, và ngài có ngự bút bài thơ nhan đề là “Lâm sơn dạ yến”. Ngài có đặt một vị quan triều cao cấp trông nom hết thảy các chùa trong nước.

Năm Quảng Hựu thứ tư (l088), Nhân Tôn phong Khê Đầu Thiền sư là chức Đại sư để cố vấn việc quốc chính như Khuông Việt Thái sư đời Đinh Tiên Hoàng đế và Lê Đại Hành Hoàng đế vậy.

Năm Long Phù thứ năm (ll05), vua sắc sửa chùa Diên Hựu, trước mặt chùa xây một ngọn tháp cao và đào một cái hồ thả sen. Thường những ngày rằm, mồng một vua ngự giá đến chùa, Hoàng hậu cũng xuất của riêng ra lập hơn một trăm ngôi chùa.

Năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (I 1 18), nước Chân Lạp và nước Chiêm Thành sai sứ đến cống hiến phương vật. Vua mở một kỳ hội lễ Phật rất lớn, gọi là “Thiên Phật hội” (Hội nghìn đức Phật).

Đời Lý Nhân Tôn lại có nhiều bậc Thiền sư lỗi lạc trước thuật những sách vở làm vẻ vang cho lịch sử Phật giáo nước nhà; hiện nay vẫn còn mà hồi ấy người Trung Hoa cũng phải bái phục, như :

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 10:00 PM
Viên Chiếu Thiền sư : Ngài họ Mai, húy là Trực, quê ở huyện Long Đàm, con anh bà Linh Cảm Thái Hậu (vợ vua Thái Tôn).

Ngài thông minh từ thuở nhỏ. Có vị Trưởng lão ở chùa Mật Nghiêm có tài xem tướng, đoán cho ngài : Nếu đi tu thì có thể trở nên một vị “Thiện Bồ-tát”.

Cảm lời nói ấy, ngài liền từ giã cha mẹ, vào chùa Tiêu Sơn xin làm đệ tử ngài Định Hương Thiền sư, để nghiên cứu Thiền học. Ngài rất am hiểu pháp “Tam Quán” trong kinh Viên Giác, tu đến đắc đạo và được sư phụ truyền tâm ấn.

Sau ngài về Thăng Long, dựng một ngôi chùa ở mé tả kinh thành mà Trú trì ở đó . Người bốn phương nghe tiếng tìm đến theo học rất đông.

Ngài có soạn quyển “Dược sư thập nhị nguyện văn”, trong ấy bàn giải về 12 điều đại nguyện trong kinh Dược Sư. Vua Lý Nhân Tôn có đưa bản sách ấy cho, sứ thần sang Trung Hoa dâng vua Triết Tôn nhà Tống. Vua Tống giao sách ấy cho các vị sư Thượng tọa chùa Tướng Quốc xem và có chỗ nào đáng sửa thì sửa lại. Các Đại sư Trung Hoa xem rồi đều tâu vua Tống rằng: “Đây là đấng hóa thân Đại sĩ ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi, bọn phàm Tăng chúng tôi đâu dám thêm bớt một chữ nào nữa”.

Vua Tống liền sắc cho sao lại một bản, còn bản chính thì trả lại cho vua ta và có lời khen tặng.

Ngoài ra ngài còn soạn những sách :

1. Tán Viên Giác kinh

2. Thập Nhị Bồ-tát hạnh tu chứng đạo tràng.

3. Tham đồ biểu quyết.

Đó là những sách giá trị đầu tiên trong những sách luận giải về kinh điển nhà Phật của nước ta.

Ngài tịch vào năm Quảng Hựu thứ 6 (l090), thọ 92 tuổi

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 10:01 PM
Ngộ Ấn Thiền sư : Ngài họ Đàm, húy là Khí Qui,ở làng Kim Bài (thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông), Trú trì ở chùa Long Ân.

Lúc nhỏ ngài thọ giáo với một vị sư già Chiêm Thành. Năm 19 tuổi thì ngài phát chí xuất gia và thọ Cụ túc giới. Ngài thông hiểu cả hai thứ chữ : Hán và Phạn; thường vân du khắp mọi nơi để hành hóa, học trò theo rất đông.

Trong những khi giảng dạy, ngài thường chủ trương thuyết “Tam ban”. Tức là lấy thân làm Phật, lấy miệng làm pháp, lấy tâm làm thuyền. Ngài lại giải rằng : "Tuy chia làm ba mà kỳ thực chỉ có một. Ví dụ như nước ở ba ngọn sông, mỗi xứ gọi mỗi tên, tên tuy khác mà chất nước không khác."

Ngài tịch vào năm thứ tư niên hiệu Quảng Hựu (l088), thọ 69 tuổi.

*

Xét ra thời này hình như Phật giáo có pha lẫn Đạo giáo vào nên các Thiền sư danh tiếng nào cũng giỏi về nghề phù chú độn số. Như tiểu truyện của Vạn Hạnh Thiền sư nói trên, ngoài ra sách lại còn chép mấy chuyện về độn số và lời sấm của ngài.

Cũng trong thời này có một vị Thiền sư tên là Đạo Hạnh, họ Từ, tên húy là Lộ. Cha là Từ Vinh, làm đến chức Tăng quan đô án, mẹ là Đặng thị. Ông Vinh có dùng tà thuật làm mích lòng Duyên Thành Hầu. Hầu giận, liền nhờ Đại Điên Pháp sư dùng phép thuật đánh chết ông Vinh vất thây xuống sông Tô Lịch, trôi đến Quyết Kiều bên nhà Duyên Thành Hầu. Đến đây thây ông Vinh bỗng đứng dậy như người sống và chỉ tay vào nhà Hầu suốt một ngày.

Hầu sợ hãi liền đi tìm Đại Điên Pháp sư. Pháp sư liền đọc câu kệ rằng :

“Tăng hận bất cách túc” (Thầy tu có giận gì cũng không để qua đêm khác), tự nhiên cái thây ngã xuống mà trôi đi.

Ngài Từ Lộ giận lắm, muốn báo thù cho cha mà không biết làm thế nào, vì pháp thuật của ngài còn kém; ngài liền vào ẩn trong Từ Sơn, lấy Đạo hiệu là Đạo Hạnh; ngày thường chuyên trì thần chú Đại bi và các pháp thuật khác. Một ngày kia thấy pháp thuật mình đã tinh thông, ngài liền trở về báo thù cho cha; ngài ném cái gậy xuống sông Tô Lịch, gậy bơi ngược giòng sông lên qua nhà Duyên Thành Hầu thì đứng lại chỉ vào nhà. Hầu lại báo tin cho Đại Điên Pháp sư ra xem thì bị gậy ấy đánh chết ngay. Duyên Thành Hầu sợ hãi liền mời Tổ Giác Hoàng Đại Pháp sư, hai bên thường đấu phép nhiều lần. Sau Đạo Hạnh Thiền sư phải thua về ẩn ở Sài Sơn (Sơn Tây). Nhân khi đánh nhau với tổ Giác Hoàng, ngài Đạo Hạnh suýt bị chết, may có Sùng Hiền Hầu xin cứu cho. Về sau nhớ

ơn ấy, ngài Đạo Hạnh nguyện sẽ vào đầu thai làm con của Hầu. Nhân bây giờ Sùng Hiền Hầu phu nhân có thai, ngài liền hẹn bao giờ phu nhân trở dạ thì phải báo cho ngài biết. Khi được tin ấy, ngài liền đập đầu vào núi đá chết.Khi ấy ngài còn bị Giác Hoàng đại sư yểm bùa ngăn cản mãi sau mới đầu thai vào được. Con của Sùng Hiền Hầu sau này tức là vua Lý Thần Tôn. (Đến nay Làng Láng mấy năm lại mở đại hội một lần, vì trong mấy làng đó có thờ ngài Đạo Hạnh, tục gọi là Từ Đại Thánh và Pháp sư Đại Điên. Khi có hội (hội Lãng vẫn có tiếng, ở gần Hà Nội) dân làng lại diễn lại tích ngài Đạo Hạnh và Pháp sư Đại Điên đánh nhau. Ở Sài Sơn cũng còn thờ ngài Đạo Hạnh. Sài Sơn ở phủ Quốc Oai, Sơn Tây bây giờ).

(Có sách cho chuyện này là huyễn hoặc và bác đi, nhưng tưởng ta cũng không nên tin hẳn. Ta chỉ nên nhớ rằng những chuyện ấy đối với những tà thuật của Đạo giáo là một sự thường và nhân đó ta có thể biết rõ rằng Phật giáo pha lẫn với Đạo giáo bắt đầu từ lúc ấy

Nguyên pháp của Thiền Tôn là phép Thiền định, tập trung tư tưởng, luyện nhân thần nhân diện như thôi miên học của Thái Tây bây giờ. Khi tâm đã chuyên nhất, trí đã mở thì ở người ta có thể phát hiện nhiều thần thông mới lạ. Nhưng nếu người tu hành nhận lầm thần thông ấy là cứu cánh trong sự tu hành của mình, như vậy là sai lạc chân lý và không khéo thần thông ấy lại trở thành tà thuật, những pháp thuật ấy có thể gần với pháp thuật của Đạo giáo, nên hai phái ấy có thể hỗn hợp được. Xét thế, sau này ta khỏi lấy làm lạ khi thấy các Sư tu chùa cũng cúng cấp yểm bùa, thần chú. Ấy là vì càng về sau Phật giáo càng bị những tà đạo hạ cấp xen vào, nên Phật giáo mới lạc mật tôn chỉ và luật pháp của Phật Thích Ca vậy).

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 10:02 PM
5. Lý Thần Tôn (1128 - 1138)

Lý Nhân Tôn không có con, lập con của Hoàng đệ là Sùng Hiền Hầu lên làm Thái tử, Thái tử sau lên ngôi tức là Thần Tôn.

Năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư (I 136), vua mắc bịnh nặng có nhờ Minh Không Thiền sư chữa khỏi, liền phong cho Thiền sư làm Quốc sư và sắc lập chùa Linh Cảm.

Minh Không Thiền sư : Họ Nguyễn, húy là Chí Thành, quê ở làng Đàm Xá, thọ giáo với ngài Từ Đạo Hạnh, ở chùa Thiên Phúc. Ngài tu hành rất có chí, nên được Đạo Hạnh truyền hết bí pháp cho. Đến khi ngài Đạo Hạnh sắp tịch có bảo ngài Minh Không rằng:

“Xưa đức Thế Tôn đạo quả đã viên mãn rồi mà còn quả báo, huống chi đời mạt kiếp này. Ta đây kiếp sau làm nhân chủ, nhưng tất bị quái bịnh, người đã có duyên với ta thì nên đợi mà cứu ta”. Nói rồi Đạo Hạnh liền hóa và đầu thai làm con của Sùng Hiền Hầu tức là vua Lý Thần Tôn sau này.

Ngài Minh Không ghi lời thầy dạy, sau khi Sư phụ hóa kiếp, liền trở về quê ẩn dật đến 20 năm, không cầu danh tiếng gì. Đến năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư (1136), vua Thần Tôn tự nhiên bị mắc một quái tật, tâm thần rối loạn, gầm thét như hùm mà người thì mọc lông ra như lông hổ. Các lương y trong nước đều phải bó tay. Một hôm chợt có tiếng của trẻ con vỗ tay hát :

Tập tầm vông ! Tập tầm vông !

Có ông Nguyễn Minh Không

Chữa được Thần Tông Hoàng Đế.

Triều đình liền đi dò hỏi rước ngài về kinh. Khi ngài đến nơi, thấy trong điện có nhiều Tăng sĩ, Pháp sư , lương y xúm nhau lại bàn bạc để chữa bệnh cho Hoàng đế. Thấy ngài quần nâu, áo vải quê mùa, các người kia đều tỏ vẻ khinh bỉ và nghi ngờ. Ngài chào hỏi căn vặn, liền lấy một cái đinh dài 5 tấc đóng vào cột mà bảo :

- Ai nhổ được cái đinh này mới chữa được bịnh cho Thiên tử

Nhưng không ai làm được, ngài mới nhón ngón tay khẽ rút lên, thì cái đinh ra rất nhẹ nhàng.

Bấy giờ mọi người mới kinh sợ và để ngài tự ý chữa bệnh cho vua.

Khi vào thăm bệnh vua thì ngài thét to lên rằng :

- Đại trượng phu đứng đầu muôn dân, trị vì bốn bể, sao lại làm cách cuồng loạn thế?

Vua Thần Tôn trong lúc cơn mê, nghe nói thì giật mình kinh hãi và không lồng lộn ghê gớm nữa. Ngài Minh Không liền truyền đun sôi một vạc nước và bỏ cái đinh ban nãy vào làm phép, sau đem ra tắm cho vua, thì bao nhiêu lông rụng hết và bệnh cũng khỏi dần.

Sau Thần Tôn phong cho ngài làm Quốc sư ăn lương vạn hộ. Ngài mở trường dạy rất đông đệ tử. Đến năm Đại Định thứ hai vua Anh Tôn (1141), ngài hóa. Hiện nay ở làng Võng Thị (vùng Bưởi trên bờ hồ Tây Hà Nội) có thờ ngài làm Thành Hoàng.

Ngoài ra, thời ấy lại có nhiều Thiền sư khác, giòng giỏi của ba phái Thiền Tôn Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường mở đạo trường dạy đệ tử hoặc đi hành hóa, dùng pháp thuật cứu giúp kẻ bệnh tật trong thiên hạ.

Đời này có một vị sư là Diệu Nhân, húy là Ngọc Kiều, con gái của một vị Hoàng thân: Lý Phụng Quì. Vua Lý Thánh Tôn nhận làm con nuôi sau gả cho người họ Lê làm Tổng đốc châu Đăng Châu. Khi quan Tổng đốc mất, bà thọ giới với Chân Không Thiền sư và Trú trì ở chùa Hương Hải làng Phù Đổng. Đó là một vị Ni đầu tiên nhập đạo của phái Tì Ni Đa Lưu Chi.

Trong đời vua Thần Tôn cũng có nhiều vị Thiền sư danh tiếng như Thông Biện Thiền sư, Bảo Giám Thiền sư

Uông Biện Thiền sư : Họ Ngô, quê ở Đan Phượng (Hà Đông), Trú trì ở chùa Phổ Minh (huyện Từ Liêm Lúc nhỏ ngài đã thông tuệ, kiến thông cả ba món Nho, Thích, Đạo; sau thọ giới với Viên Chiếu Thiền sư. Khi đắc đạo rồi, ngài ra ở chùa Quốc Tự (Thăng Long), tự hiệu là Trí Không. Một hôm bà Nhân Hoàng Thái Hậu hội yến chư Tăng, giữa tiệc bà hỏi gốc tích đạo Phật cùng các tôn phái và lịch sử Phật giáo khi mới du nhập vào nước ta, ngài tâu lại rất rõ ràng. Thái hậu bằng lòng, phong ngài làm chức Tăng lục, sau lại triệu vào phong chức Quốc sư để Thái hậu tham hỏi lý nghĩa kinh điển đạo Phật. Đến khi già, ngài mới trở về mở đạo trường dạy nhiều đệ tử. Ngài tịch năm Giáp Thìn (I 134).

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 10:04 PM
6. Lý Anh Tôn (1138 -1175)

Thần Tôn mất, triều đình tôn Thái tử Thiên Tệ lên làm vua, đế hiệu là Anh Tôn. Anh Tôn là đệ tử của Không Lộ Thiền sư (phái Thảo Đường) được truyền tâm pháp, tức là đời thứ tư của phái Thảo Đường. Ngài sắc nhân dân phải gọi ngài là Phật.

Những Thiền sư có tiếng hồi ấy như Trí Thuyền, Am Trí, Bảo Giám, Viên Thông v.v. . .

Bảo Giám Thiền sư : Ngài họ Kiều, húy là Phù, xuất thân là một nhà Nho đã từng làm quan ở triều, sau thọ giáo với ngài Trưởng Lão Thiền sư.

Viên Thông Thiền sư : Ngài họ Nguyễn, húy là Ức quê ở Nam Định, Trú trì ở chùa Quốc An. Ngài xuất gia từ thuở nhỏ, theo học với Viên Học Thiền sư, đã từng dự hai khoa thi Tăng đạo đều đậu đầu cả.

Năm thứ tư niên hiệu Đại Định (l143), ngài được phong làm Quốc sư. Ngài tịch vào năm Đại Định thứ12 (1151), thọ 72 tuổi .

Ngài có trước tác những bộ sách hiện nay còn lưu hành :

1 Chư Phật tích duyên sự (30 chương).

2. Hồng chung văn bi ký.

3. Tăng-già tạp lục (50 chương).

4. Một ngàn bài thơ.

7. Lý Cao Tôn (1176 - 1210)

Anh Tôn mất, Thái lử Long Cán nối ngôi, hiệu là Cao Tôn. Cao Tôn mới có ba tuổi, ông Tô Hiến Thành làm phụ chính. Sau Cao Tôn thọ giáo với ngài Trương Tam Tạng Thiền sư về phái Thảo Đường

Cùng học với Cao Tôn, có một người Quảng Giáp Ca Nhi (Quảng Ca) tên là Nguyễn Thức, sau cùng cũng được Trương Tam Tạng truyền tâm pháp

Kế đời vua Anh Tôn và Cao Tôn, tuy vua cùng các bà phi, các quan triều (như Thái úy Tô Hiến Thành, Thái Bảo Ngô Hòa Nghĩa) đều sùng mộ đạo Phật, nhưng về sự phát triển không có gì đặc sắc đáng kể, tuy triều vua Anh Tôn (1169) có sắc mở khoa thi tam giáo để kén người vào làm việc quan.

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 10:05 PM
8. Lý Huệ Tôn (1211 - 1225)

Thái tử Sam nối ngôi Cao Tôn tức là Huệ Tôn. Lúc này nhà Lý đã suy lắm, trong triều thì nội loạn, ngoài nhân dân cũng không được yên ổn, vua cũng long đong. Bởi thế, Phật giáo cũng chỉ là bảo thủ .

Năm Kiến Gia thứ 14 (1224), vua Huệ Tôn chán đời ông Hoàng đế, liền truyền ngôi cho con gái là công chúa Phật Kim tức Lý Chiêu Hoàng, rồi xuất gia ở chùa Chân Giáo, tự xưng là Huệ Quang Đại sư.

Sau Lý Chiêu Hoàng truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Thế là hết đời nhà Lý. Xét ra Phật giáo nước ta thì đời nhà Lý là thạnh nhất. Trong 215 năm trời, trải 8 đời vua, vua nào cũng sùng tín đạo Phật. Xưa nay, một đạo một tôn giáo hay một học thuật nào, bao giờ cùng phải dựa theo khuynh hướng của chính trị, nên Phật giáo thạnh về đời này là phải.

Trong hơn 200 năm, Phật giáo giữ địa vị độc tôn, trong nước đã có bao nhiêu sự mới lạ. Trong sách “Danh triết lục” của Trần Ký Đằng có chép: “Trước đời Lý Nhân Tôn chưa có khoa cử, những kẻ thông “lệnh nhanh nhẹn đều phải đo phái Thích đạo lựa chọn và cất nhắc cho...” Như vậy đủ biết văn hóa, học thuật và chính trị thời ấy hầu hết đều ở trong tay các nhà tu hành. Bởi vì những nhà mô phạm bấy giờ toàn là các vị Tăng sĩ, Thiền sư. Ngay như các vị Hoàng đế, phần nhiều cũng là thọ giới ở nơi các bậc Cao Tăng cả.

Lại thấy đời ấy có bao nhiêu vị Thiền sư, khi đắc đạo rồi là về mở đạo tràng để dạy có hàng nghìn đệ tử đủ biết nhân dân sĩ thứ đời này đều qui hướng về một Phật đạo.

Nhưng cuối đời nhà Lý thì Phật giáo như phải bị lệnh đốn, các nhân tài trong các phái hầu đã kém sút nhiều.

Tịnh Ngọc
09-07-2005, 10:12 PM
Chương 5

PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ TRẦN (1225 - 1400)

1. Trần Thái Tôn (1225 - 1258).

Lý Chiêu Thánh Hoàng đế truyền ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức là Trần Thái Tôn, Trần Thái Tôn lên ngôi vua mới có 8 tuổi, việc hành chính trong nước đều do tay Thái sư Trần Thủ Độ thu xếp.

Trong sách “Đại Nam thực lục chính biên”có chép: “Năm Kiến Trung thứ 7 (1231), vua Thái Tôn sắc cho nhân gian phải vẽ hình Phật ở khắp các nơi công quán và các nơi công chúng hội họp”. Sách lại chép thêm : “Vua Thái Tôn lúc nhỏ đi xem đám rước thần, có gặp vị Tăng nói sau ngài sẽ làm vua, rồi vị Tăng ấy biến mất, nên ngài mới có lời sắc ấy”.

(Lời cước chú ấy có vẻ huyền hồ lắm. Vả Thái Tôn bấy giờ mới có 14 tuổi, việc triều chính đều ở tay Thủ Độ định đoạt cả, vậy có thể nói đó là sự hành động của Trần Thủ Độ. Nhưng làrn thế để làm gì ? Hoặc giả là một “cách” làm chính trị chi đó mà ta chưa rõ chăng ? Vì Thủ Độ là một tay xảo quyệt trong nghề chính trị; có lẽ nào triều chánh thật tâm truyền bá đạo phật hoặc vua nhớ ơn Phật (?) Hoặc giả vì Thái sư Trần Thủ Độ thường làm những việc trái đạo lý, như bức tử vua Lý Huệ Tôn ở chùa Chân Giáo và kết duyên với người chị họ, nguyên là vợ vua Lý Huệ Tôn. Mà trong triều bấy giờ vẫn còn các vị Tăng Thống Pháp sư, bên ngoài thiên hạ còn sùng tín đạo Phật nên Thủ Độ làm ra thế để che mắt thiên hạ chăng?

Nếu đúng như lời ấy, thì do đó ta có thể tin rằng cuối đời Lý, đạo Phật tuy không phát triển mạnh, nhưng đến đầu đời nhà Trần vẫn còn quyền thế, dân gian còn theo đuổi mạnh mẽ).

Năm Đinh Dậu (1237), nhân bị Trần Thủ Độ ép làm việc thương luân, vua Thái Tôn chán nản cảnh đời liền bỏ vào chùa Phù Vân núi Yên Tử yết kiến Phù Vân Quốc sư, xin ở lại tu hành. Biết tin ấy, Trần Thủ Độ liền đem quần thần đến rước Thái Tôn về. Thái Tôn không chịu về, nói rằng :

«Trẫm còn nhỏ dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc. »

Thủ Độ khuyên mãi không được, liền bảo các quan rằng :

- Hoàng thượng ở đâu thì triều chính ở đó.

Nói đoạn truyền sắp sửa xây dựng cung điện ở chùa Phù Vân. Thấy thế, Quốc sư liền đến mời xin Thái Tôn về và tâu :

“Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm, nếu Thánh Thượng hiểu được tâm thì đứng đâu là Phật ở đấy”.

Thái Tôn bất đắc dĩ phải truyền xa giá về kinh. Nhưng cũng vì câu nói của Phù Vân Quốc sư mà Thái Tôn hiểu rõ đạo Phật. Ngài khuyến khích trăm quan theo gương ngài; nên ngài có lập Viện Tả Nhai cho các vị Vương hầu ra đó học tập đạo truyền.

Bởi thế, Thái Tôn hiểu đạo Phật rất sâu xa. Ngài có làm hai bộ sách trong thời kỳ này. Cuốn “Thiền tôn chỉ nam” và cuốn “Khóa hư”. Đó là hai cuốn sách bàn giải về đạo Phật rất có giá trị, có thể gọi là hai bảo vật trong rừng Thiền về nền Phật giáo nước ta. Sách “Thiền tôn chỉ nam” giải bày đạo lý tu Thiền; sách “Khóa Hư” nói rõ cái khổ sanh, lão, bệnh, tử của đời và phá tan các tánh cố chấp, thành kiến của thế gian viết bằng lời khuyến lệ. Hai sách đều còn lưu truyền ngày nay.

Ngài là người hiểu rõ đạo Phật một cách thấu đáo nên ngài luận đúng được nguyên lý của đạo Phật.

Dưới đây là bài thơ của ngài tặng cho vị sư ở chùa Thanh Phong :

Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình,

Tâm đầu cảnh sắc cọng thê thanh.

Cá trung tư vị vô nhân thức,

Đương dự sơn Tăng lạc cọng minh.

Dịch :

Gió đập hiên tùng nguyệt dọi sân,

Tình này cảnh ấy luống bâng khuâng.

Mùi Thiền trong đó nào ai biết,

Thức suốt đêm trường vui với Tăng.

Ngài thường mời các Cao Tăng vào cung để bàn luận về Phật pháp.

Năm Thiên ứng Chánh Bình thứ 16 (1247), triều đình mở khoa thi tam giáo. Hai năm sau sắc trùng tu chùa Chân Giáo. Năm Nguyên Phong thứ 6 (1256) sắc đúc 330 quả chuông treo ở các chùa.

Đến năm Đinh Tỵ (1257), Thái Tôn tạm dẹp việc kinh điển để ngự giá đi đánh quân Mông Cổ. Nguyên bấy giờ nhà Tống bên Trung Hoa bị quân Mông Cổ lấy, lập ra nhà Nguyên. Vì sự xích mích giữa nhà Trần và nhà Nguyên, quân Mông Cổ liền kéo sang nước ta. Thái Tôn đi đánh bị thua, bỏ kinh đô chạy về Thiên Mục (Hưng Yên). Được ít lâu, Thái Tôn trở lại đuổi được quân địch, lấy lại kinh đô.

Năm sau, Thái Tôn nhường ngôi cho con là Thái tử Trần Quán, tức Thánh Tôn, để dạy cách trị dân. Triều đình tôn ngài lên làm Thái Thượng Hoàng để cùng coi việc nước. Thượng Hoàng ngự ở cung Thiên Trường.

Năm Thiệu Long thứ 5 (1262), Thượng Hoàng sắc dựng chùa Phổ Ninh ở phía Tây điện Thiên Trường.

Năm thứ 12 niên hiệu ấy (1269), hoàng thân Quốc Thương (anh ruột vua Thánh Tôn) lập một sở tịnh xá rất lớn ở Diễn Châu (Nghệ An), để công chúng đến lễ Phật và nghe thuyết pháp.

Năm Bảo Phù thứ 5 (1277), Thái Thượng Hoàng băng, thọ 60 tuổi.