DaoKy
26-05-2005, 07:43 PM
VIỆT DỊCH NÒNG NỌC.
Thiên NHiên Kỷ
Từ thời Phục Hy đến các Vua Hùng có ba giai đoạn : Thái Sơn, Ngũ Lỉnh, Phong Châu . Thái Sơn thuộc về thời Tam Hoàng, ông tổ Viêm Việt là Thần Nông, ông có hiệu là Liệt Sơn hay là Thái Sơn ( Núi Thái Sơn khởi từ Tỉnh An Huy chạy dài đến Ngũ Lỉnh qua các tỉnh của TQ như : Chiết Giang. Giang Tây. Phúc Kiến. Hồ Nam . Quảng Đông. Quảng Tây. Quý Châu, sau cùng đến Phong Châu. Đó cũng là con đường Nam tiến của dân tộc Viêm Việt. Nên trải qua các thời đại văn hóa Kinh Dịch cũng có thay đổi tên gọi như : Liên Sơn Dịch. Quy Tàng Dịch. Chu Dịch v.v…
VIÊM TỘC
Theo Trung Hoa dân học sữ của Vương Đồng Lĩnh nguồn gốc dân tộc Đông Nam Á.
Khoảng 10.000 năm sau thời băng hà thứ 4 tan rả, lòai người mới rời khỏi hang động vùng Thiên Sơn cao nguyên Palmir toả xuống miền Đông Nam Á chia làm 2 nhánh :
-Nhánh miền Đông Bắc Á thứ 1 gồm : Mông, Mản, Hồi.
-Nhánh miền Đông Nam Á thứ 2 gồm: Hoa tộc, Viêm, Tộc, Tạng tộc.
Viêm tộc phát triển cả 7 tỉnh Hoa Trung, 5 tỉnh Hoa Nam có đời sống nông nghiệp. Hoa tộc thì cuộc sống chủ yếu săn bắn, thuần dưởng thú rừng chăn nuôi trên vùng thảo nguyên phương Bắc bạt ngàn.
Thời kỳ Thái Nho
Thủ lỉnh của Viêm Tộc là Toại Nhân bày dân biết cách làm ra lửa để nấu nướng được gọi là Thiên Hòang. Hửu Sào bày dân bày dân làm nhà trên cao tránh thú dử và tránh mưa nắng được gọi là Địa Hoàng. Đến đời Phục Hy bày kết thằng ( thắt gút ) cũng là chử Khoa Đẩu tính ngày tháng, ghi nhớ các sự kiện. Quan sát thiên địa đặt ra Hà Đồ, Bát Quái là căn bản của các hiện tượng sự biến dịch của vạn vật được gọi là Nhân Hòang đó là Tam Hồng của Viêm tộc . Sau đến đời Thần Nông Viêm Đế bày dân nuôi trồng cày cấy, nếm trăm loại cỏ làm thuốc chửa bệnh cho dân.
Cháu 3 đời Thần Nông Viêm Đế là Đế Minh (trước Đế Minh là Đế Khôi, rồi Đế Thừa ), nhân Hoa tộc càng phát triển xâm lấn nơi lảnh địa Viêm tộc, lại thấy phương nam khí hậu ôn hòa mát mẻ nên đưa Bộ lạc về phương nam dừng lại nơi bờ Bắc sông Hòang Hà cho con trưởng là Đế Nghi lên ngôi cai quản địa phương này, còn mình thì đi về núi Ngũ Lỉnh và kết duyên cùng bà Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục sau truyền ngôi cho Lộc Tục, Lộc Tục lấy hiệu là Kinh Dương Vương lập ra đất nước Xích Quỷ phương Nam.
Đến đây Viêm Tộc chia ra làm hai dòng :
-Dòng Viêm Việt phương Bắc của Đế Nghi.
-Dòng Viêm Việt phương Nam của Lộc Tục Kinh Dương Vương.
Dòng Viêm Việt phương Bắc Hồng Hà.
Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai, Đế lai truyền cho con là Đế Ai, Đế ai truyền cho Đế Dũ( có tên là Võng ) ham mê dục lạc nên tính tình phóng túng tàn ác nên các bộ lạc Hoa tộc tập hợp lại do Hửu Hùng Thị cầm đầu chống lại Đế Dũ, Hiên Viên đánh thắng 81 anh em của Si Vưu tướng của Đế Dũ trong các trận ở Kinh Trác Lộc và Bản Tuyền, Hửu Hùng Thị lên ngôi xưng hiệu là Hiên Viên Hoàng Đế. Viêm Việt Bắc Hòang Hà tan rả bị xem là dân tộc thiểu số mà Hoa Tộc gọi là Di, Địch, Khương, Nhung và bị đồng hoá với Hoa tộc.
Hiên Viên tiêu diệt Thần Nông Bắc, thừa hưởng nền văn minh nông nghiệp của Viêm tộc trong đó có ngành y dược. Hoa tộc tiếp thu nhanh nền văn minh Viêm tộc và rồi cải biến phù hợp theo tập quán sinh hoạt thành nền văn hoá riêng của mình nên Hoa tộc xem Hiên viên là vị Quốc Tổ. Sau Hiên Viên Hòang Đế truyền đến 4 đời, sử Trung Hoa gọi là Ngũ Đế : Hiên Viên, Thiếu Hạo, Xuyên Húc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn. Sau Ngũ Đế đến Tam Đại : Nhà Hạ, Nhà Thương, Nhà Chu. Cuối đời Chu bị suy yếu, nước Trung Hoa bị phân hố quyền bính nằm trong tay 7 nước chư hầu của Nhà Chu : Tần, Triệu, Tề, Yên, Hàn, Sở, Nguỵ. Sau đến cuối thế kỷ thứ 3 trCN Tần Thuỷ Hoàng đánh dẹp 6 nước mới thống nhất Trung Hoa.
Dòng Viêm Việt Phương Nam Hồng Hà.
Trong khi dòng Viêm tộc Bắc bị tiêu diệt, ở phương Nam Lộc Tục lên ngôi hiệu là Kinh Dương Vương nhằm năm Nhâm Tuất 2879 tr CN , đặt tên nước là Xích Quỷ ( Kẻ Đỏ ) địa giới từ Động Đình Hồ xuôi về phía Nam núi Ngũ Lỉnh, Kinh Dương Vương Vương lấy bà Long Nử con của Động Đình Quân cai quản vùng hồ Động Đình, sinh được Sùng Lãm. Sau nhường ngôi lại cho con. Sùng Lãm lên ngôi hiệu là Lạc Long Quân, đặt tên nước là Bách Việt ở các vùng : Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Triết Giang, Phúc Kiến, Quãng Đơng, Quãng Tây, Vĩnh Phú cho đến Thanh Hóa ngày nay.
Trước những cuộc xâm lấn của Hoa tộc, dân tộc Bách Việt lui dần về Lưỡng Lang (tức là Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay). Đến đời chi Hùng Vương thứ 3 lên ngôi hiệu là Hùng Quốc Vương đặt tên nước là “Dạ Lang”. Mãi đến đời chi thứ 6 Hùng Vương lên ngôi dời đô về Phong Châu đặt tên nước là Văn Lang truyền mãi đến chi thứ 18 Hùng Vương.
Như chúng ta đã biết cuộc Nam tiến của Việt Tộc kéo dài gần 1.000 năm từ vùng lưu vực sơng Hoàng Hà cho đến Phong Châu, di sản văn hóa của Việt tộc được truyền khẩu trong nhân gian từ đời này đến đời con cháu hậu duệ, hoặc in khắc hình ảnh biểu tượng trên các vật dụng như : Thố, Chậu, Thạp, Chum, Vị, được nghệ nhân tơ điểm hoa văn, vẻ hình trang trí (trong thời hậu kỳ đồ đá mới ). Đến thời đại hoàng kim, văn hoá người Việt cổ được các nghệ nhân ghi lại trên Trồng Đồng, Thạp Đồng, hoặc các vật dụng bằng đồng khác được trang trí cách điệu tinh vi, những hình ảnh được khắc ghi trên mặt trống, thạp đồng cho chúng ta biết về những sinh hoạt xã hội thời Hùng Vương. Trong đó có phần “Kinh Diệc” đầy Minh triết của Quốc Gia Xích Quỷ, Bách Việt, Văn Lang và Âu Lạc đó là Hà Đồ và Lạc Thư .
I-/ HÀ ĐỒ LẠC THƯ
Hà Đồ Lạc Thư là những thực thể sau thời phát minh ra” Kinh Dịêc “ ( nơi cư trú của người Viêm Việt được Tộc phương Băc gọi là Châu Kinh, nên nền văn hoá của người Việt được gọi Văn Hoá “Kinh Diệc”. Bởi đọc theo âm ngữ của người Việt sau này họ san định Kinh Diệc của Viêm Việt lại hiểu bằng nghĩa Hán “ Kinh Dịch “. Ngày nay còn một số dân tộc miền Tây Bắc nước ta vẫn còn đọc hai tiếng "Việt Nam" là: “ Diệc Nàm “) , sự thẩm thấu của Hà Đồ Lạc Thư được xem là một phần căn bản của “ Kinh Diệc”, nó biểu thị chiều kích tâm thức con người, những trạng thái khác nhau của một thực thể duy nhất, vì vậy ta có thể phân tích được Hà Lạc:
Hà Đồ theo truyền thuyết nơi sông Hòang Hà xuất hiện một con Long Mả trên mình có những chấm tròn phân bố thành 4 vòng. Phục Hy vẽ lại những hình dạng các dấu ấy gọi là Hà Đồ, đây là cái học của Tượng số chỉ các hiện tượng tương quan giửa Trời, Đất, Người .
Phân tích Hà Đồ bằng Trực Giác.
Trước hết là trực giác nhìn bao trùm hết tất cả mọi trạng thức , 4 vòng Hà Đồ biểu thị con đường xoắn ốc của Đạo Thể, nó chuyễn hóa biểu diển điều kiện liên tục đạt đến Minh Triết, với cái nhìn tổng quan phổ biến .
a-/ Vòng I gọi là vòng “ Thành “ của sự vật bởi các số : 6, 7, 8, 9. Nó biểu thị sự vật đã thành hiện thể làm đối tượng cho các giác quan như : Tai, mắt, mủi, lưởi, thân, ý, cùng cực của cái “thành” theo quy luật tất nhiên đã định của các môn khoa học : Triết Học, Tốn Học, Vật Lý, Hóa học và Sinh lý học v.v. . .
b-/ Vòng thứ II gọi là vòng “ Sinh “ gồm những số : 1, 2, 3, 4, tức là Linh Thể là hiện tượng nó không cụ thể với các giác quan , nên hành giả phải nhìn nó bằng con mắt trí huệ là con mắt thư` ba mới thấy nó trọn vẹn. Linh thể của Hà Đồ lúc này gồm Âm Dương, Tam Tài :Trời, Đất, Người và Ngũ Hành kết hợp lại mà trong Hà Đồ cho thấy biết đươc.
c-/ Vòng thứ III gồm những hai hàng 5 điểm đen tương đương với vịng sinh là nhất Aâm đối với Nhất Dương ( đối với số 5 điểm trắng của vòng thứ tư tại trung tâm ) đây là số hạn biểu diển của phần Tiềm thức hoặc vô thức của Tâm.
d-/ Vòng thứ IV là vòng chỉ siêu thức, việc thấy hiểu biết tất cả mọi cảnh giới. Thông thường cái nhìn phàm tục chỉ chấp nhận phần tích cực như : có, được, sướng, vui, hạnh phúc, sống, động . . . Nhưng ít ai chấp nhận sự tiêu cực : Khơng, mất, khổ , buồn, bất hạnh, chết, tỉnh . . .
Cái học của Hà Lạc là sách gối đầu của các bậc anh minh tổ tiên Lạc Việt, người xưa ứng dụng Hà Lạc trong mọi hồan cảnh để thấy rỏ hậu quả mọi sự việc không nhầm lẩn, nên chúng ta mới tự hào một nền văn hiến hơn bốn nghìn năm. Đó là những hiện tượng trải nghiệm của một đời ngưới, mà tất cả mọi người cho là Số Mệnh, vì không hiểu biết những thực thể hòan cảnh thị hiện bởi hai tích cách của Âm Dương, giửa Động và Tỉnh, Sống và Chết, Có và Không . . .
Chỉ khi nào nhận thức được mối tương thông quân bình của hai tánh chất Âm Dương thì đạt được của vòng 4, vì nơi đây đã bỏ ý thức, lý trí để đạt thể Đạo Tính, khi hội nhập vào tận đáy thẳm tâm hồn sẽ đến tiến trình vô thức, nó xóa tất cả mọi giới hạn đạt được của cái gọi là: “ý thức bản Ngã” và cái “tôi phàm phu’". Có vượt qua được vòng 3 và khi bước vào vòng 4 thì mới thấy sự uyên nguyên của Đạo tính hay là “Nhất âm Nhất dương chi vị Đạo". Cái được gọi là "Nhất Dương Chi Vị Đạo" là một hóa trình hoàn toàn hòa lẫn mà chỉ hổ tương sanh hóa không còn có âm lấn dương hay dương lấn âm.
Vòng số 4 là vòng Siêu thức là đi xuống tột cùng và đi lên đến cùng cực, qua lại không ngần mé nhờ đó mà Đạo thể viên dung mà tâm chúng ta đạt được, Việt Nho gọi hiện tượng này là “ Chí Thành” , vòng thứ 4 này biểu thị chử thập tự ( +) là trung tâm của Trời Đất hay còn gọi là Thiên Địa Chi Tâm, nét ngang chỉ Không Gian và Phi Không Gian, nét dọc chỉ Thời Gian và Phi Thời Gian. Ap dụng vào con người, có thể xem như sự hội nhập vào Chân tính của Đạo, làm cho cái vô hạn xuất hiện ngay trong cái hữu hạn, cái thường hằng trong cái Vô Thường và cái Vô Hình sẽ xuất hiện trong cái Hữu Hình. Tóm lại ở vòng thứ tư của Hà Đồ là chiều không gian, thời gian tứ tượng là nguồn sống uyên nguyên của Đạo thể Vũ Trụ. Con người sẽ được tiếp nhận nguồn sáng Minh triết linh động tràn ngập trong Linh Thể bất tận.
• Thiên nhất sinh thuỷ địa lục thành chi.
• Địa nhì sinh hoả thiên thất thành chi,
• Thiên tam sinh mộc địa bát thành chi,
• Địa tứ sinh kim thiên cửu thành chi,
• Thiên ngũ sinh thổ địa thập thành chi.
Riêng con số Nhân ngũ tại trung tâm là Nhân Đạo là Mồ kỷ thổ, bao quanh bốn phía là số sinh và số thành của Thiên Đạo và Địa Đạo. Tất cả số sinh và thành đều qua con đường Trung Tâm của Nhân Đạo, tuy trong thế giới nhị nguyên nhưng Đạo thể vẫn là nhất thể, nó đi lên tận cùng và xuống cùng cực theo vòng xoắn ốc, lối tán tụ là quân bình Âm Dương của Hà Đồ.
Am Dương, Ngũ hành theo quan niệm của các nhà Dịch Lý Trung Hoa trong giai đoạn thời “Phụ Hệ” là : Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Còn trong Việt Dịch giai đoạn thời “ Mẫu Hệ “ thì chỉ có phần Âm Dương và Tứ Hành : Thuỷ, Hoả, Gió, Đất . ( Việt Dịch của ta có trước, Người Trung Hoa sao chép lại và họ đã gia công mấy ngàn năm tìm hiểu những minh triết còn ẩn sâu kín trong nền văn hóa Viêm Việt cổ.)
Âm Dương theo quan niệm của Dịch lý Trung Hoa là Trời, Đất, Sáng, Tối. Còn trong Việt Dịch là Nước, Lửa, Lạnh, Nóng; Nắng nóng, Mưa lạnh. . .Trong các hành có sự sinh khắc, nhưng vẫn sanh hóa tương thông, đó là cái nhìn minh triết tòan phần khơng bị cắt khúc của Việt Dịch, có nghĩa là : Tâm là Vật, Vật là Tâm, nói theo Đạo thì : “ Sắc tất thị Không, Không tất thị sắc “ Giửa cái vô hình xuất hiện ngay trong cái hữu hình, cái vô hạn ngay trong cái hữu hạn “ đó là minh triết của Vũ Trụ tâm linh mà người Việt cổ đã truyền thừa cho con cháu của mình.
Phần lớn các nhà tu luyện Đơn Đạo tách rời xã hội lên núi tìm đến nơi u tịch để luyện thuốc trường sinh, hay tìm đến non bồng nước nhược tự an, câu nệ đủ thứ về hình thức bỏ quên phần tinh thần, họ mong cầu đạt thần thông : Hô phong quán vũ, đằng vân, giá võ, độn thổ .v .v ... Những hiện tượng Thần thông có được do công phu tu niệm, rồi họ tự mãn lại cho mình đắc đạo trường sinh bất tử, nhưng họ thật sự là bất tử hay không ? Trong khi đó ở nơi thâm sơn cùng cốc nào ai có biết ? Kim Thân để lại cho đời sau là những gì ? họ cho rằng sau khi Linh hồn thoát xác về cỏi hằng hữu, nhục thể của họ sẽ còn tồn tại để thách đố thời gian ? Theo tôi, mục đích của họ chỉ vì “ Độc thiện kỳ thân”, chứ chẳng phải Kim Thân ! Cái thiếu của họ là “Đạo Nhân” , là làm sao thị hiện ra được cái đức của Thiên địa, phần Trung Tâm quan trọng trong việc chuyễn hóa. Vì việc hành đạo đem nhiều điều thiện lành cải hóa biết bao nhân tố trong xã hội, có “công” với quần sanh, những việc làm ấy mới đúc kết nên một Kim Thân của Tiên Phật. Nếu quá trình tu trì để “ tự giác” nơi núi non u tịch tách rời xã hội, hành giả không còn đủ sức hay thời gian để làm công việc “ giác tha” vậy thì họ chỉ chuyễn hóa oo1 50% làm sao được trọn vẹn, họ còn ở trong bình diện của “ nhị nguyên chưa thoát, không được đi đến vòng Siêu thức, chưa hội nhập vào vòng thứ 4 của Hà Đồ.
Đa số người tu chỉ đi từ vòng 1,2 và xuất ở vòng 3 của Hà Đồ, chưa đạt được ở vòng thứ 4 đó là tình trạng phổ quát, vì chưa đủ năng lực, trí huệ, nên vì thế họ đi từ vòng 1,2, 3 rồi xuất ra, hoặc đi trở lại vòng lẩn quẩn ấy mất hết phương hướng mục đích ban đầu. Từ lý trí đi đến ý hệ, rồi hội nhập Tiềm thức để nhận được ánh sáng Minh triết soi rọi, tiến đến Siêu trí là sự Giác Ngộ. Nhưng vì không được ánh sáng minh triết soi rọi nên họ đi trở lại lẩn quẩn mà không chuyễn hóa nhảy vọt. Việc đưa một bổn tính trở về với uyên nguyên nhịp sống vũ trụ để đến gần Thượng Đế là một việc không dể dàng chút nào, nếu thiếu sót phần “Nhân Đạo” là phần “tích cực nhất” tại trung tâm Tam tài Thiên Địa Nhân.
Con Đường Hà Đồ là con đường hiệp nhất của Linh và Thể, qua quá trình tán tụ trên một tiêu điểm theo hình xoắn ốc để "đắc nhất", nó cần thiết để người học Đạo truy nguyên , khát vọng siêu hình thiêng liêng của con người là hội nhập Đại Ngã, nhưng họ vẫn xem lý trí là người dẫn đường trong mặt thế hiện hữu, đến khi va chạm vào thành trì cái “ Không” là phần tâm linh siêu hình, thì nó đâm ra chơi vơi không có đối tượng hữu thể để bám víu, rồi sau đó lại đi ngược lại con đường mòn củ . Tuy nhiên cũng có số người được phần trực giác dẫn dắt, nhưng chỉ là người mù cùng chiếc gậy dò đường! Một số thấy biết nhưng không chịu sửa sai. Phần đông người tu đang ở trong trạng thái này, hoặc chịu sửa sai nhưng chưa đúng mức, chưa chịu tin nhận những chân lý bất biến của vũ trụ Đạo mà các tôn giáo đã từng nêu ra.
Minh Đức của Đạo soi sáng vào lý trí thì mới biến lý trí trở thành Minh Triết, để giải khai sự ngộ nhận lấy bóng tối làm thực , chỉ vì việc thâu hóa Lý trí hay những định kiến sai lầm khi lục căn thấy biết có nhiều điều rất hiếm khuyết, nên chỉ nhìn thấy hiện hữu chứ không thể nào nhìn thấy được tương lai ( tiên nghiệm )
1-/ HÀ ĐỒ
Con người là cái Đức của Thiên Địa :
• Thiên Tánh trong mổi con người.
• Đồng hóa và phân lập.
• Học hỏi, tác nghiệp, sướng khổ và kinh nghiệm.
• Ý Thức và Tiềm thức.
• Đồng trong dị biệt, tiến đến đồng nhất.
• Nhập hóa siêu trí.
• Linh và Thể hiệp nhất.
Cái nhìn hiếm khuyết của con người là quá trình kinh nghiệm thấp kém của phần lý trí, nó dẩn dắt con người nhận định sự và lý luận bị sai lệch một nửa, cái nhìn tòan diện là cái nhìn xuyên suốt trong 4 chiều không gian và thời gian, đó là cái nhìn minh triết của phần linh thể, nó vượt qua phạm vi của giác quan, của lý trí, để bước vào chiều không gian thời gian thứ tư.
Những kiến chấp Nhị nguyên tương phản, tương hợp là phần đa tạp của nhất thể chưa được nhận định, nó chỉ một thân gồm thâu vạn vật trong một chiếc thân duy nhất đó là “Đại Ngã”. Cái vòng lẩn quẫn của con người vẫn xem Lý trí là tuyệt đích, nên vì thế họ tu hành, nói năng, vẫn không thể vươn cao hơn đạt đến siêu trí, họ sẽ thấy rằng Lý trí thật sự khơng thể nào giúp họ đạt cứu cánh giải thốat mà chỉ mê mù trong sự lầm lạc, phát triển phần siêu trí thì con người mới nhìn thấy chân thật của vạn hữu mới thăng hố giải thốat.
Đành rằng trong sự nghiệp giáo dục hiện nay đào tạo con người luơn phải đạt Lý trí là mục tiêu cơ bản, để có được Danh, Lợi, Quyền, trái lại với Trí huệ giác ngộ Đạo của Tâm linh. Lý trí nắm vai trị chủ động vận hành và ngự trị xã hội, muốn tiến hốa, con người cố rèn dủa làm sao thu nạp, nhồi nhét được thật nhiều kiến thức thuộc về Lý trí, họ sẽ được lập vị trong xã hội. Nhưng họ hiếm khuyết cái học về “ linh thể “để hiểu biết gìn giử Đạo đức và tiến hốa, nên khi đạt thành trong xã hội do phần lý trí, rồi sau đó họ vì tham Danh Lợi Quyền đi dần đến chổ tha hốa cục bộ tác nghiệp cho mình, tạo nhiều sự hổn loạn cho xã hội.
Bậc trí đạo có cái nhìn am tường tất cả các hiện tượng, cầu đạt đến cảnh giới năng sanh, năng biến của tâm, làm chủ được nó thì mới trở nên bất biến, những cái biết bằng trực giác là giác ngộ, được gội nhuần bằng minh triết chiều sâu trong tâm hồn, nó sẽ đào luyện con người trở nên chân thực trong cuộc sống, có lợi ích cho xã hội cộng đồng, một tia chớp loé lên qua sự cảm nhận của trực giác làm nên sức sống gấp trăm, gấp ngàn lần các bài học lý trí từ bên ngồai được nhồi nhét vào, nó trở thành ký ức, bắt buộc con người phải học thuộc lòng muôn ngàn chi tiết để ứng dụng trong đời sống, và nó sẽ chóng quên nếu những gì không nằm trong môi trường đời sống.
2-/ LẠC THƯ .
Theo truyền thuyết Lạc thư phát xuất từ sông Lạc ( là vùng đất của dân tộc Lạc Việt, ngày nay là đất của Trung Hoa ) .Đời vua Nghiêu Trung Hoa do không biết ý nghĩa của Lạc thư nên cho đó là Quy Lịch. Ngoài ra Chử Khoa Đẩu của dân Lạc Việt trên Lạc Thư hàm ngụ một triết lý an vi của những bậc quân tử biết sống ở đời.
Tất các số sinh và thành đều nằm ở ngồi các số 1,2,3,4, được chen kẻ với các số 6, 7, 8, 9, bên trong là số Ngũ cũng là cái trung tâm Thiên Địa Nhân bao hàm của hai cực “sinh” và “thành”, các hiện tượng cĩ tính thống nhất của “Linh” và “Thể” Lạc thư cho ta thấy rằng : Mọi hiện tượng được đều hồ trong “Nhất Thể Tâm Linh”. Cái vơ biên nằm trong cái hửu hạn, cái thường hằng thẩm thấu trong thời gian và khơng gian. Cái nhìn Đạo thể vơ biên ơm trịn lấy hiện tượng vũ trụ và cảnh giới nhân sinh với tính phổ quát, Lạc Thư hàm chứa minh triết của thiết an vi, nơi trung cung là tính chất thái hồ cũa vạn hữu, cịn “nhất thể” là Nhân Đạo tính hay “nhất thể tâm linh” nĩ bao hàm của hai cực sinh và thành, đĩ là một nền triết lý chấp nhận mọi hiện tượng sai biệt để hồ đồng thống nhất trong nhịp sống động uyển chuyễn. Nên Lạc thư khơng ly thế gian, khơng mang tính chất trừu tượng, nhập thế để trải nghiệm nhìn thấy Đạo tính, tuy ở trong Đời tục mà ý thức được Đạo khơng cần phải xuất thế ly gia, khơng cần tìm thấy Đạo ở nơi đâu xa xơi mà ngay trong thường nhật những việc căn bản của xã hội, nĩi theo Việt Nho là Tu, Tề, Trị, Bình, cũng cĩ nghĩa là : Tu Thân, Tề Tâm, Trị tham dục, Bình an Thân Tâm, sau cùng tiến lên nhập vào xã hội : Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc Độ và Bình Thiên Hạ . Là một thuyết an vi trong đời sống, nếu tâm an thì thể nhập vào thường hằng. Lạc thư chỉ cho thấy những con số biểu tượng mọi sự việc trong những hồn cảnh xã hội. Nền Minh triết Lạc thư được biểu hiện ngay trên các hình thái liên quan việc hành vi sinh hoạt như : Hình thức tổ chức chính quyền thời Hùng Vương như Cửu Trù Hồng Phạm ( tức là 9 Phạm trù trị nước của họ Hồng Bàng ),Ruộng Lạc thời Hùng Vương, trong lể nghi văn hố tín ngưỡng thờ cúng Thiên Địa Nhân. 9 ơ trong lạc thư là một Ma Trận cĩ tính cách huyền bí, minh triết, Tình và lý, ý thức và tiềm thức, cĩ và khơng. Tính chất của lạc thư qua những hiện tượng Tu,Tề, Trị, Bình được diển ra hằng ngày, khơng cĩ một hình thức nào riêng biệt, cĩ cũng như khơng, khơng cũng như cĩ, một trạng thái minh triết của con người giác ngộ Đạo ngay trong xã hội đời thường, họ sống trong thế gian nhưng khơng trụ nhiểm, họ giác ngộ tất cả mọi trí thế gian nhưng khơng trụ trong trí nào cả. Cĩ được như thế thì họ mới cĩ minh triết trong việc sáng tạo phi thường, mổi bước tiến lên của tâm thức đều mở mang thêm nhiều khả năng, nhiều phương thức để giải quyết mọi vấn đề liên quan, là mức chuyễn hố tồn bộ Thân, Tâm, Trí. Đây hiện tượng an vi của kẻ Đạt đạo mà tổ tiên người Việt đã để lại cho con cháu hiện nay bằng những phong tục tập quán gắng liền trong đời sống Văn Minh nơng nghiệp sản xuất vật chất hằng ngày. Trên cánh đồng ruộng Lạc chia ra 9 ô, hoặc chiếc bánh Dày ( Thầy ).Bánh Chưng ( Bánh U ) của Hồng tử Tiết Liêu được buộc 4 sợi dây lạc chia đều ra làm 9 ô. Con số 9 phổ biến trong những chuyện truyền thuyết, cổ tích của người Việt, ngầm nhắc nhở kẻ hậu sinh phải giải mả ứng dụng một nền khoa học, triết lý của Lạc Thư.
Có hiểu biết sử dụng được Hà Đồ, Lạc Thư thì dân tộc Việt sẽ tiến hóa một bước dài, trực giác siêu diệu của Tổ Tiên sẽ dẵn dắt định hướng cho dân tộc Việt vươn lên tầm cao của thời đại.
Những trạng thái con người hiện tại sống bấp bênh đầy sự lo âu sợ sệt cần có một nền minh triết sống an vi, mà Triết lý phát từ Lạc thư cho chúng ta thấy được ý nghĩa cái nền Đạo an vui thanh thốt trong những cơng việc rất “Đời thường”. Ma trận của Lạc Thư cộng ngang dọc chéo đều có tổng số 15. Con số 15 của Lạc thư cũng biểu hiện trong 15 bộ của Quốc Gia Văn Lang của Vua Hùng, là con số “ Biến “ qua để chuyễn hố sang một trạng thái mới của vũ trụ, 15 tượng số của Việt Dịch = (1)Thái Cực => (2) Lưỡng Nghi=> (4) Tứ Tượng => (8) Bát Quái.
Cũng vì thế các nhà Hiền triết Việt tộc xem Lạc thư và con số tổng 15 là một mẩu mực lớn lao trong việc chuyễn hóa Linh và Thể trong cuộc sống hằng ngày.
LẠC THƯ CỬU TRÙ HỒNG PHẠM
Là 9 Phạm Trù tổ chức sinh hoạt của đất nước thời họ Hồng Bàng
4
NGŨ KỶ
9
NGŨ PHÚC
LỤC CỰC
2
NGŨ SỰ
3
BAT CHÍNH
5
HÒANG CỰC
7
KÊ NGHI
8
THỨ TRƯNG
1
NGŨ HÀNH
6
TAM ĐỨC
Tóm lại Hà Lạc được xem là những thực thể sau thời phát minh “ Kinh Diệc” của người Việt cổ. Sự thẩm thấu của nó là một phần căn bản của “Kinh Diệc “ là một thứ ngôn ngữ của người Việt cổ tuy chỉ có 8 quái nhưng bao hàm các hiện tượng cái “Đạo Trời, Đất, Người", ở xung quanh chúng ta hầu hết tất cả những trải nghiệm của các bậc hiền triết uyên thâm, và kinh sách Đạo minh triết được viết ra từ thời cổ đến nay. Tuy không diển đạt bằng lời nói, nhưng bản thân của Hà Lạc đã nói lên tất cả cái Đạo tánh của nhịp sống uyên nguyên vũ trụ. Thật là vi diệu thay.
Người Việt cổ họ trao đổi nhau bằng văn phong thật là Việt Nho, mọi sự việc cũng nĩi lên được Minh triết của Linh và Thể. Một quái Đồ sau này được Hán Nho khai thác thêm bao hàm : Bát Tượng, Ngũ Hành, Ngũ Phương, Ngũ Đức. Tứ Tượng, Lưỡng nghi, Thái Cực, Vô Cực.
Vũ Trụ nhân sinh tuỳ theo quan niệm nhận định của từng địa phương, từng nếp sống tập tục văn hố, nên quan niệm về : Nhân Sinh Vũ Trụ quan của người Trung Hoa cũng cĩ khác chúng ta, nhưng khơng cĩ nghĩa là Kinh Diệc chúng ta đúng mà Kinh Dịch của họ sai, mà kết hợp bổ khuyết cho nhau để nói lên minh triết của Đạo tánh thường hằng.
Ngày 25 tháng 11 năm Tân Tỵ 2001.
Thiên Nhiên Kỷ.
Giải nghĩa cụm từ : Cửu Cung Liên Hoa
1. Liên Hoa là hoa sen biểu tượng tinh chất cái “ Thành Quả của Đạo “.
2. Liên Hoa là sự tiến hố do theo con đường tu tập “ tri hành hiệp nhất “. Trong Phật Giáo là sự tu chứng quả tịnh độ, là hố thân của Phật.
3. Liên Hoa là thệ nguyện chuyễn hố thân tướng của Hành giả, mang điều tốt lành đến cùng chung sanh trong Tam cỏi.
4. Liên Hoa Cửu Cung trong pháp giới nhân thể là : Huyền quang nhất khiếu trên bộ đầu. Khi hành giả cĩ quá trình tu chứng Cửu Cung Liên Hoa thì cĩ hiện tượng :
• Tam Hoa Tựu Đảnh, Ngũ Khí Triểu Ngươn : Tam hoa đĩ là Tinh, Khí, Thần ; Ngũ Khí là : Phế Khí ( Kim) ; Can Khí ( Mộc ) ; Tỳ Khí ( Thổ ) ; Tâm Khí ( Hoả ) ; Thận Khí ( Thuỷ ) .
• Khi Tam Hoa Tựu Đảnh, Ngũ Khí Triều Ngươn nơi Thiên Mơn ( bách Hội) thì Hảnh giả khai mở được ( Khiếu Huyền Quang ) hay còn gọi là Cửu Cung Liên Hoa là Thiên Nhãn mà thông cùng Trời Đất ( vạn vật đồng nhất thể ) để thành Đạo. . .
LIÊN HOA CỬU CUNG THEO VŨ TRỤ QUAN DỊCH LÝ.
Trong biện chứng lý pháp của Dịch lý chủ động của việc thăng hoa tư tưởng dựa trên “ Vạn Vật Đồng Nhất Thể “. Đây là một lối biện chứng liên quan giửa con người với con người, với vạn vật, với Trời Đất.
Như vậy sẽ đặt ra câu hỏi :
Con người từ đâu tới ?
Sẽ ra đi về đâu ?
Đĩ là câu hỏi muơn đời của con người khi tìm hiểu về vũ trụ, nhân sinh. Sau đây ta sẽ được phúc đáp theo học thuyết Dịch Lý là tiêu biểu của nền Văn Hố cổ của Đơng Phương mà giáo pháp của Đạo cao Đài cĩ nền tảng trên học thuyết Dịch Lý.
Ta là một thực thể trong tồn đồ vũ trụ Năng lượng .
Ta từ Vơ Cực đến, là chiết thể của Vô Cực.
Sứ mạng ta đến đây học hỏi trải nghiệm để chuyễn hố.
Sau khi chuyển hóa sẽ trở về nhập thể Vô Cực.
• Biểu diển tiến trình học hỏi trải nghiệm để chuyển hố theo Dịch Lý như sau : Vô Cực => Thái Cực => Lưỡng Nghi => Tam Tài => Tứ Tượng =>Ngũ Hành => Bát Quái => Cửu Cung Liên Hoa.
• Cửu Cung Liên Hoa chính là chiếc hộp đen cộng hưởng của một tiến trình chuyễn hố, là lổ hổng cĩ chức năng : Thành tựu quốc độ đẳng vị cho một tâm linh đã chuyễn hố do sự tu luyện.
• Là trục giao lưu tích hợp mọi dử kiện tính xuyên tâm của Bát Quái.
• Cĩ tính phản Bổn hồn nguyên của Tâm Linh khi được vận hành qua chu trình tiến hố từ Nhân Sinh đến Vũ trụ.
• Thị hiện phương pháp hành động và biện chứng lý pháp dựa trên nguyên lý quân bình Âm Dương qua cấu trúc tập hợp mời của Lý Pháp Tam Ngũ .
QUY TAM THỐNG NGŨ ( theo Dịch Lý Lạc Thư )
THỜI VỊ
I II III
( 5 ) (10 ) ( 15 )
SINH THÀNH BIẾN
Cảm Vận dụng Chuyễn Hố
CẤU TRÚC BÁT QUÁI LIÊN HOA CỦU CUNG. Các trục đều hướng tâm Bát Quái tức là Quy Luật Phản Bổn Hồn Nguyên , Trở về Thái Cực sau cùng là Vơ Cực cịn được gọi : Cửu Cung Liên Hoa.
CHÚ THÍCH
(• Xích Quỷ: Tên của Dân tộc Bắc Phương gọi dân tộc Việt thời cổ, hay là Nam Man Di, một trong tứ Man của dịng Người Việt cổ họ dùng ĐẤT MÀU THỔ CHU vẽ lên người là một phương thức tín ngưỡng Vũ Trụ Giáo, Phiên âm tiếng Việt cổ là “ Kẻ Đỏ” cĩ ý nghĩa : Người của đất nước Mặt Trời lửa Đỏ : xứ sở của người Đỏ . . Hiện nay một số làng quê ở miền bắc vẫn cịn từ “ Kẻ “ như : Kẻ Noi, Kẻ Sặc, Kẻ Đổng, Kẻ Gâu . . . Từ Kẻ là chỉ về “ Người trong một làng, một xứ sở”. .v.v. . . )
(• Aâu Lạc từ thời Vua An Dương Vương : Aâu là Đầm hồ cĩ ánh sáng mặt trời đỏ( cĩ thể là nơi Động Đình Hồ ). Lạc là màu Đỏ, Lạc là con Sấu, con Giao long Đỏ của mặt trời.
Qua những âm ngữ trên, ta biết An Dương Vương kết hợp thống nhất 2 tộc người Aâu và Lạc trở thành một đất nước duy nhất …)
(• Bách Việt từ này cĩ từ thời Hùng Hiền Vương năm Mậu Tý 2793 Tr CN, ( mở đầu cuộc di dân từ Hồng Hà về Động Đình Hồ, sau đĩ kết tập các bộ lạc anh em người Việt cổ lập ra Bách Việt.)
• Danh tính Lạc Việt cũng đồng thời xuất hiện cách thời gian của Hùng Hiền Vương khoảng vào năm 2230 Tr CN.( xem Huyền Sử Hồng Bàng ).
Thiên NHiên Kỷ
Từ thời Phục Hy đến các Vua Hùng có ba giai đoạn : Thái Sơn, Ngũ Lỉnh, Phong Châu . Thái Sơn thuộc về thời Tam Hoàng, ông tổ Viêm Việt là Thần Nông, ông có hiệu là Liệt Sơn hay là Thái Sơn ( Núi Thái Sơn khởi từ Tỉnh An Huy chạy dài đến Ngũ Lỉnh qua các tỉnh của TQ như : Chiết Giang. Giang Tây. Phúc Kiến. Hồ Nam . Quảng Đông. Quảng Tây. Quý Châu, sau cùng đến Phong Châu. Đó cũng là con đường Nam tiến của dân tộc Viêm Việt. Nên trải qua các thời đại văn hóa Kinh Dịch cũng có thay đổi tên gọi như : Liên Sơn Dịch. Quy Tàng Dịch. Chu Dịch v.v…
VIÊM TỘC
Theo Trung Hoa dân học sữ của Vương Đồng Lĩnh nguồn gốc dân tộc Đông Nam Á.
Khoảng 10.000 năm sau thời băng hà thứ 4 tan rả, lòai người mới rời khỏi hang động vùng Thiên Sơn cao nguyên Palmir toả xuống miền Đông Nam Á chia làm 2 nhánh :
-Nhánh miền Đông Bắc Á thứ 1 gồm : Mông, Mản, Hồi.
-Nhánh miền Đông Nam Á thứ 2 gồm: Hoa tộc, Viêm, Tộc, Tạng tộc.
Viêm tộc phát triển cả 7 tỉnh Hoa Trung, 5 tỉnh Hoa Nam có đời sống nông nghiệp. Hoa tộc thì cuộc sống chủ yếu săn bắn, thuần dưởng thú rừng chăn nuôi trên vùng thảo nguyên phương Bắc bạt ngàn.
Thời kỳ Thái Nho
Thủ lỉnh của Viêm Tộc là Toại Nhân bày dân biết cách làm ra lửa để nấu nướng được gọi là Thiên Hòang. Hửu Sào bày dân bày dân làm nhà trên cao tránh thú dử và tránh mưa nắng được gọi là Địa Hoàng. Đến đời Phục Hy bày kết thằng ( thắt gút ) cũng là chử Khoa Đẩu tính ngày tháng, ghi nhớ các sự kiện. Quan sát thiên địa đặt ra Hà Đồ, Bát Quái là căn bản của các hiện tượng sự biến dịch của vạn vật được gọi là Nhân Hòang đó là Tam Hồng của Viêm tộc . Sau đến đời Thần Nông Viêm Đế bày dân nuôi trồng cày cấy, nếm trăm loại cỏ làm thuốc chửa bệnh cho dân.
Cháu 3 đời Thần Nông Viêm Đế là Đế Minh (trước Đế Minh là Đế Khôi, rồi Đế Thừa ), nhân Hoa tộc càng phát triển xâm lấn nơi lảnh địa Viêm tộc, lại thấy phương nam khí hậu ôn hòa mát mẻ nên đưa Bộ lạc về phương nam dừng lại nơi bờ Bắc sông Hòang Hà cho con trưởng là Đế Nghi lên ngôi cai quản địa phương này, còn mình thì đi về núi Ngũ Lỉnh và kết duyên cùng bà Vụ Tiên sinh ra Lộc Tục sau truyền ngôi cho Lộc Tục, Lộc Tục lấy hiệu là Kinh Dương Vương lập ra đất nước Xích Quỷ phương Nam.
Đến đây Viêm Tộc chia ra làm hai dòng :
-Dòng Viêm Việt phương Bắc của Đế Nghi.
-Dòng Viêm Việt phương Nam của Lộc Tục Kinh Dương Vương.
Dòng Viêm Việt phương Bắc Hồng Hà.
Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai, Đế lai truyền cho con là Đế Ai, Đế ai truyền cho Đế Dũ( có tên là Võng ) ham mê dục lạc nên tính tình phóng túng tàn ác nên các bộ lạc Hoa tộc tập hợp lại do Hửu Hùng Thị cầm đầu chống lại Đế Dũ, Hiên Viên đánh thắng 81 anh em của Si Vưu tướng của Đế Dũ trong các trận ở Kinh Trác Lộc và Bản Tuyền, Hửu Hùng Thị lên ngôi xưng hiệu là Hiên Viên Hoàng Đế. Viêm Việt Bắc Hòang Hà tan rả bị xem là dân tộc thiểu số mà Hoa Tộc gọi là Di, Địch, Khương, Nhung và bị đồng hoá với Hoa tộc.
Hiên Viên tiêu diệt Thần Nông Bắc, thừa hưởng nền văn minh nông nghiệp của Viêm tộc trong đó có ngành y dược. Hoa tộc tiếp thu nhanh nền văn minh Viêm tộc và rồi cải biến phù hợp theo tập quán sinh hoạt thành nền văn hoá riêng của mình nên Hoa tộc xem Hiên viên là vị Quốc Tổ. Sau Hiên Viên Hòang Đế truyền đến 4 đời, sử Trung Hoa gọi là Ngũ Đế : Hiên Viên, Thiếu Hạo, Xuyên Húc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn. Sau Ngũ Đế đến Tam Đại : Nhà Hạ, Nhà Thương, Nhà Chu. Cuối đời Chu bị suy yếu, nước Trung Hoa bị phân hố quyền bính nằm trong tay 7 nước chư hầu của Nhà Chu : Tần, Triệu, Tề, Yên, Hàn, Sở, Nguỵ. Sau đến cuối thế kỷ thứ 3 trCN Tần Thuỷ Hoàng đánh dẹp 6 nước mới thống nhất Trung Hoa.
Dòng Viêm Việt Phương Nam Hồng Hà.
Trong khi dòng Viêm tộc Bắc bị tiêu diệt, ở phương Nam Lộc Tục lên ngôi hiệu là Kinh Dương Vương nhằm năm Nhâm Tuất 2879 tr CN , đặt tên nước là Xích Quỷ ( Kẻ Đỏ ) địa giới từ Động Đình Hồ xuôi về phía Nam núi Ngũ Lỉnh, Kinh Dương Vương Vương lấy bà Long Nử con của Động Đình Quân cai quản vùng hồ Động Đình, sinh được Sùng Lãm. Sau nhường ngôi lại cho con. Sùng Lãm lên ngôi hiệu là Lạc Long Quân, đặt tên nước là Bách Việt ở các vùng : Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Triết Giang, Phúc Kiến, Quãng Đơng, Quãng Tây, Vĩnh Phú cho đến Thanh Hóa ngày nay.
Trước những cuộc xâm lấn của Hoa tộc, dân tộc Bách Việt lui dần về Lưỡng Lang (tức là Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay). Đến đời chi Hùng Vương thứ 3 lên ngôi hiệu là Hùng Quốc Vương đặt tên nước là “Dạ Lang”. Mãi đến đời chi thứ 6 Hùng Vương lên ngôi dời đô về Phong Châu đặt tên nước là Văn Lang truyền mãi đến chi thứ 18 Hùng Vương.
Như chúng ta đã biết cuộc Nam tiến của Việt Tộc kéo dài gần 1.000 năm từ vùng lưu vực sơng Hoàng Hà cho đến Phong Châu, di sản văn hóa của Việt tộc được truyền khẩu trong nhân gian từ đời này đến đời con cháu hậu duệ, hoặc in khắc hình ảnh biểu tượng trên các vật dụng như : Thố, Chậu, Thạp, Chum, Vị, được nghệ nhân tơ điểm hoa văn, vẻ hình trang trí (trong thời hậu kỳ đồ đá mới ). Đến thời đại hoàng kim, văn hoá người Việt cổ được các nghệ nhân ghi lại trên Trồng Đồng, Thạp Đồng, hoặc các vật dụng bằng đồng khác được trang trí cách điệu tinh vi, những hình ảnh được khắc ghi trên mặt trống, thạp đồng cho chúng ta biết về những sinh hoạt xã hội thời Hùng Vương. Trong đó có phần “Kinh Diệc” đầy Minh triết của Quốc Gia Xích Quỷ, Bách Việt, Văn Lang và Âu Lạc đó là Hà Đồ và Lạc Thư .
I-/ HÀ ĐỒ LẠC THƯ
Hà Đồ Lạc Thư là những thực thể sau thời phát minh ra” Kinh Dịêc “ ( nơi cư trú của người Viêm Việt được Tộc phương Băc gọi là Châu Kinh, nên nền văn hoá của người Việt được gọi Văn Hoá “Kinh Diệc”. Bởi đọc theo âm ngữ của người Việt sau này họ san định Kinh Diệc của Viêm Việt lại hiểu bằng nghĩa Hán “ Kinh Dịch “. Ngày nay còn một số dân tộc miền Tây Bắc nước ta vẫn còn đọc hai tiếng "Việt Nam" là: “ Diệc Nàm “) , sự thẩm thấu của Hà Đồ Lạc Thư được xem là một phần căn bản của “ Kinh Diệc”, nó biểu thị chiều kích tâm thức con người, những trạng thái khác nhau của một thực thể duy nhất, vì vậy ta có thể phân tích được Hà Lạc:
Hà Đồ theo truyền thuyết nơi sông Hòang Hà xuất hiện một con Long Mả trên mình có những chấm tròn phân bố thành 4 vòng. Phục Hy vẽ lại những hình dạng các dấu ấy gọi là Hà Đồ, đây là cái học của Tượng số chỉ các hiện tượng tương quan giửa Trời, Đất, Người .
Phân tích Hà Đồ bằng Trực Giác.
Trước hết là trực giác nhìn bao trùm hết tất cả mọi trạng thức , 4 vòng Hà Đồ biểu thị con đường xoắn ốc của Đạo Thể, nó chuyễn hóa biểu diển điều kiện liên tục đạt đến Minh Triết, với cái nhìn tổng quan phổ biến .
a-/ Vòng I gọi là vòng “ Thành “ của sự vật bởi các số : 6, 7, 8, 9. Nó biểu thị sự vật đã thành hiện thể làm đối tượng cho các giác quan như : Tai, mắt, mủi, lưởi, thân, ý, cùng cực của cái “thành” theo quy luật tất nhiên đã định của các môn khoa học : Triết Học, Tốn Học, Vật Lý, Hóa học và Sinh lý học v.v. . .
b-/ Vòng thứ II gọi là vòng “ Sinh “ gồm những số : 1, 2, 3, 4, tức là Linh Thể là hiện tượng nó không cụ thể với các giác quan , nên hành giả phải nhìn nó bằng con mắt trí huệ là con mắt thư` ba mới thấy nó trọn vẹn. Linh thể của Hà Đồ lúc này gồm Âm Dương, Tam Tài :Trời, Đất, Người và Ngũ Hành kết hợp lại mà trong Hà Đồ cho thấy biết đươc.
c-/ Vòng thứ III gồm những hai hàng 5 điểm đen tương đương với vịng sinh là nhất Aâm đối với Nhất Dương ( đối với số 5 điểm trắng của vòng thứ tư tại trung tâm ) đây là số hạn biểu diển của phần Tiềm thức hoặc vô thức của Tâm.
d-/ Vòng thứ IV là vòng chỉ siêu thức, việc thấy hiểu biết tất cả mọi cảnh giới. Thông thường cái nhìn phàm tục chỉ chấp nhận phần tích cực như : có, được, sướng, vui, hạnh phúc, sống, động . . . Nhưng ít ai chấp nhận sự tiêu cực : Khơng, mất, khổ , buồn, bất hạnh, chết, tỉnh . . .
Cái học của Hà Lạc là sách gối đầu của các bậc anh minh tổ tiên Lạc Việt, người xưa ứng dụng Hà Lạc trong mọi hồan cảnh để thấy rỏ hậu quả mọi sự việc không nhầm lẩn, nên chúng ta mới tự hào một nền văn hiến hơn bốn nghìn năm. Đó là những hiện tượng trải nghiệm của một đời ngưới, mà tất cả mọi người cho là Số Mệnh, vì không hiểu biết những thực thể hòan cảnh thị hiện bởi hai tích cách của Âm Dương, giửa Động và Tỉnh, Sống và Chết, Có và Không . . .
Chỉ khi nào nhận thức được mối tương thông quân bình của hai tánh chất Âm Dương thì đạt được của vòng 4, vì nơi đây đã bỏ ý thức, lý trí để đạt thể Đạo Tính, khi hội nhập vào tận đáy thẳm tâm hồn sẽ đến tiến trình vô thức, nó xóa tất cả mọi giới hạn đạt được của cái gọi là: “ý thức bản Ngã” và cái “tôi phàm phu’". Có vượt qua được vòng 3 và khi bước vào vòng 4 thì mới thấy sự uyên nguyên của Đạo tính hay là “Nhất âm Nhất dương chi vị Đạo". Cái được gọi là "Nhất Dương Chi Vị Đạo" là một hóa trình hoàn toàn hòa lẫn mà chỉ hổ tương sanh hóa không còn có âm lấn dương hay dương lấn âm.
Vòng số 4 là vòng Siêu thức là đi xuống tột cùng và đi lên đến cùng cực, qua lại không ngần mé nhờ đó mà Đạo thể viên dung mà tâm chúng ta đạt được, Việt Nho gọi hiện tượng này là “ Chí Thành” , vòng thứ 4 này biểu thị chử thập tự ( +) là trung tâm của Trời Đất hay còn gọi là Thiên Địa Chi Tâm, nét ngang chỉ Không Gian và Phi Không Gian, nét dọc chỉ Thời Gian và Phi Thời Gian. Ap dụng vào con người, có thể xem như sự hội nhập vào Chân tính của Đạo, làm cho cái vô hạn xuất hiện ngay trong cái hữu hạn, cái thường hằng trong cái Vô Thường và cái Vô Hình sẽ xuất hiện trong cái Hữu Hình. Tóm lại ở vòng thứ tư của Hà Đồ là chiều không gian, thời gian tứ tượng là nguồn sống uyên nguyên của Đạo thể Vũ Trụ. Con người sẽ được tiếp nhận nguồn sáng Minh triết linh động tràn ngập trong Linh Thể bất tận.
• Thiên nhất sinh thuỷ địa lục thành chi.
• Địa nhì sinh hoả thiên thất thành chi,
• Thiên tam sinh mộc địa bát thành chi,
• Địa tứ sinh kim thiên cửu thành chi,
• Thiên ngũ sinh thổ địa thập thành chi.
Riêng con số Nhân ngũ tại trung tâm là Nhân Đạo là Mồ kỷ thổ, bao quanh bốn phía là số sinh và số thành của Thiên Đạo và Địa Đạo. Tất cả số sinh và thành đều qua con đường Trung Tâm của Nhân Đạo, tuy trong thế giới nhị nguyên nhưng Đạo thể vẫn là nhất thể, nó đi lên tận cùng và xuống cùng cực theo vòng xoắn ốc, lối tán tụ là quân bình Âm Dương của Hà Đồ.
Am Dương, Ngũ hành theo quan niệm của các nhà Dịch Lý Trung Hoa trong giai đoạn thời “Phụ Hệ” là : Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Còn trong Việt Dịch giai đoạn thời “ Mẫu Hệ “ thì chỉ có phần Âm Dương và Tứ Hành : Thuỷ, Hoả, Gió, Đất . ( Việt Dịch của ta có trước, Người Trung Hoa sao chép lại và họ đã gia công mấy ngàn năm tìm hiểu những minh triết còn ẩn sâu kín trong nền văn hóa Viêm Việt cổ.)
Âm Dương theo quan niệm của Dịch lý Trung Hoa là Trời, Đất, Sáng, Tối. Còn trong Việt Dịch là Nước, Lửa, Lạnh, Nóng; Nắng nóng, Mưa lạnh. . .Trong các hành có sự sinh khắc, nhưng vẫn sanh hóa tương thông, đó là cái nhìn minh triết tòan phần khơng bị cắt khúc của Việt Dịch, có nghĩa là : Tâm là Vật, Vật là Tâm, nói theo Đạo thì : “ Sắc tất thị Không, Không tất thị sắc “ Giửa cái vô hình xuất hiện ngay trong cái hữu hình, cái vô hạn ngay trong cái hữu hạn “ đó là minh triết của Vũ Trụ tâm linh mà người Việt cổ đã truyền thừa cho con cháu của mình.
Phần lớn các nhà tu luyện Đơn Đạo tách rời xã hội lên núi tìm đến nơi u tịch để luyện thuốc trường sinh, hay tìm đến non bồng nước nhược tự an, câu nệ đủ thứ về hình thức bỏ quên phần tinh thần, họ mong cầu đạt thần thông : Hô phong quán vũ, đằng vân, giá võ, độn thổ .v .v ... Những hiện tượng Thần thông có được do công phu tu niệm, rồi họ tự mãn lại cho mình đắc đạo trường sinh bất tử, nhưng họ thật sự là bất tử hay không ? Trong khi đó ở nơi thâm sơn cùng cốc nào ai có biết ? Kim Thân để lại cho đời sau là những gì ? họ cho rằng sau khi Linh hồn thoát xác về cỏi hằng hữu, nhục thể của họ sẽ còn tồn tại để thách đố thời gian ? Theo tôi, mục đích của họ chỉ vì “ Độc thiện kỳ thân”, chứ chẳng phải Kim Thân ! Cái thiếu của họ là “Đạo Nhân” , là làm sao thị hiện ra được cái đức của Thiên địa, phần Trung Tâm quan trọng trong việc chuyễn hóa. Vì việc hành đạo đem nhiều điều thiện lành cải hóa biết bao nhân tố trong xã hội, có “công” với quần sanh, những việc làm ấy mới đúc kết nên một Kim Thân của Tiên Phật. Nếu quá trình tu trì để “ tự giác” nơi núi non u tịch tách rời xã hội, hành giả không còn đủ sức hay thời gian để làm công việc “ giác tha” vậy thì họ chỉ chuyễn hóa oo1 50% làm sao được trọn vẹn, họ còn ở trong bình diện của “ nhị nguyên chưa thoát, không được đi đến vòng Siêu thức, chưa hội nhập vào vòng thứ 4 của Hà Đồ.
Đa số người tu chỉ đi từ vòng 1,2 và xuất ở vòng 3 của Hà Đồ, chưa đạt được ở vòng thứ 4 đó là tình trạng phổ quát, vì chưa đủ năng lực, trí huệ, nên vì thế họ đi từ vòng 1,2, 3 rồi xuất ra, hoặc đi trở lại vòng lẩn quẩn ấy mất hết phương hướng mục đích ban đầu. Từ lý trí đi đến ý hệ, rồi hội nhập Tiềm thức để nhận được ánh sáng Minh triết soi rọi, tiến đến Siêu trí là sự Giác Ngộ. Nhưng vì không được ánh sáng minh triết soi rọi nên họ đi trở lại lẩn quẩn mà không chuyễn hóa nhảy vọt. Việc đưa một bổn tính trở về với uyên nguyên nhịp sống vũ trụ để đến gần Thượng Đế là một việc không dể dàng chút nào, nếu thiếu sót phần “Nhân Đạo” là phần “tích cực nhất” tại trung tâm Tam tài Thiên Địa Nhân.
Con Đường Hà Đồ là con đường hiệp nhất của Linh và Thể, qua quá trình tán tụ trên một tiêu điểm theo hình xoắn ốc để "đắc nhất", nó cần thiết để người học Đạo truy nguyên , khát vọng siêu hình thiêng liêng của con người là hội nhập Đại Ngã, nhưng họ vẫn xem lý trí là người dẫn đường trong mặt thế hiện hữu, đến khi va chạm vào thành trì cái “ Không” là phần tâm linh siêu hình, thì nó đâm ra chơi vơi không có đối tượng hữu thể để bám víu, rồi sau đó lại đi ngược lại con đường mòn củ . Tuy nhiên cũng có số người được phần trực giác dẫn dắt, nhưng chỉ là người mù cùng chiếc gậy dò đường! Một số thấy biết nhưng không chịu sửa sai. Phần đông người tu đang ở trong trạng thái này, hoặc chịu sửa sai nhưng chưa đúng mức, chưa chịu tin nhận những chân lý bất biến của vũ trụ Đạo mà các tôn giáo đã từng nêu ra.
Minh Đức của Đạo soi sáng vào lý trí thì mới biến lý trí trở thành Minh Triết, để giải khai sự ngộ nhận lấy bóng tối làm thực , chỉ vì việc thâu hóa Lý trí hay những định kiến sai lầm khi lục căn thấy biết có nhiều điều rất hiếm khuyết, nên chỉ nhìn thấy hiện hữu chứ không thể nào nhìn thấy được tương lai ( tiên nghiệm )
1-/ HÀ ĐỒ
Con người là cái Đức của Thiên Địa :
• Thiên Tánh trong mổi con người.
• Đồng hóa và phân lập.
• Học hỏi, tác nghiệp, sướng khổ và kinh nghiệm.
• Ý Thức và Tiềm thức.
• Đồng trong dị biệt, tiến đến đồng nhất.
• Nhập hóa siêu trí.
• Linh và Thể hiệp nhất.
Cái nhìn hiếm khuyết của con người là quá trình kinh nghiệm thấp kém của phần lý trí, nó dẩn dắt con người nhận định sự và lý luận bị sai lệch một nửa, cái nhìn tòan diện là cái nhìn xuyên suốt trong 4 chiều không gian và thời gian, đó là cái nhìn minh triết của phần linh thể, nó vượt qua phạm vi của giác quan, của lý trí, để bước vào chiều không gian thời gian thứ tư.
Những kiến chấp Nhị nguyên tương phản, tương hợp là phần đa tạp của nhất thể chưa được nhận định, nó chỉ một thân gồm thâu vạn vật trong một chiếc thân duy nhất đó là “Đại Ngã”. Cái vòng lẩn quẫn của con người vẫn xem Lý trí là tuyệt đích, nên vì thế họ tu hành, nói năng, vẫn không thể vươn cao hơn đạt đến siêu trí, họ sẽ thấy rằng Lý trí thật sự khơng thể nào giúp họ đạt cứu cánh giải thốat mà chỉ mê mù trong sự lầm lạc, phát triển phần siêu trí thì con người mới nhìn thấy chân thật của vạn hữu mới thăng hố giải thốat.
Đành rằng trong sự nghiệp giáo dục hiện nay đào tạo con người luơn phải đạt Lý trí là mục tiêu cơ bản, để có được Danh, Lợi, Quyền, trái lại với Trí huệ giác ngộ Đạo của Tâm linh. Lý trí nắm vai trị chủ động vận hành và ngự trị xã hội, muốn tiến hốa, con người cố rèn dủa làm sao thu nạp, nhồi nhét được thật nhiều kiến thức thuộc về Lý trí, họ sẽ được lập vị trong xã hội. Nhưng họ hiếm khuyết cái học về “ linh thể “để hiểu biết gìn giử Đạo đức và tiến hốa, nên khi đạt thành trong xã hội do phần lý trí, rồi sau đó họ vì tham Danh Lợi Quyền đi dần đến chổ tha hốa cục bộ tác nghiệp cho mình, tạo nhiều sự hổn loạn cho xã hội.
Bậc trí đạo có cái nhìn am tường tất cả các hiện tượng, cầu đạt đến cảnh giới năng sanh, năng biến của tâm, làm chủ được nó thì mới trở nên bất biến, những cái biết bằng trực giác là giác ngộ, được gội nhuần bằng minh triết chiều sâu trong tâm hồn, nó sẽ đào luyện con người trở nên chân thực trong cuộc sống, có lợi ích cho xã hội cộng đồng, một tia chớp loé lên qua sự cảm nhận của trực giác làm nên sức sống gấp trăm, gấp ngàn lần các bài học lý trí từ bên ngồai được nhồi nhét vào, nó trở thành ký ức, bắt buộc con người phải học thuộc lòng muôn ngàn chi tiết để ứng dụng trong đời sống, và nó sẽ chóng quên nếu những gì không nằm trong môi trường đời sống.
2-/ LẠC THƯ .
Theo truyền thuyết Lạc thư phát xuất từ sông Lạc ( là vùng đất của dân tộc Lạc Việt, ngày nay là đất của Trung Hoa ) .Đời vua Nghiêu Trung Hoa do không biết ý nghĩa của Lạc thư nên cho đó là Quy Lịch. Ngoài ra Chử Khoa Đẩu của dân Lạc Việt trên Lạc Thư hàm ngụ một triết lý an vi của những bậc quân tử biết sống ở đời.
Tất các số sinh và thành đều nằm ở ngồi các số 1,2,3,4, được chen kẻ với các số 6, 7, 8, 9, bên trong là số Ngũ cũng là cái trung tâm Thiên Địa Nhân bao hàm của hai cực “sinh” và “thành”, các hiện tượng cĩ tính thống nhất của “Linh” và “Thể” Lạc thư cho ta thấy rằng : Mọi hiện tượng được đều hồ trong “Nhất Thể Tâm Linh”. Cái vơ biên nằm trong cái hửu hạn, cái thường hằng thẩm thấu trong thời gian và khơng gian. Cái nhìn Đạo thể vơ biên ơm trịn lấy hiện tượng vũ trụ và cảnh giới nhân sinh với tính phổ quát, Lạc Thư hàm chứa minh triết của thiết an vi, nơi trung cung là tính chất thái hồ cũa vạn hữu, cịn “nhất thể” là Nhân Đạo tính hay “nhất thể tâm linh” nĩ bao hàm của hai cực sinh và thành, đĩ là một nền triết lý chấp nhận mọi hiện tượng sai biệt để hồ đồng thống nhất trong nhịp sống động uyển chuyễn. Nên Lạc thư khơng ly thế gian, khơng mang tính chất trừu tượng, nhập thế để trải nghiệm nhìn thấy Đạo tính, tuy ở trong Đời tục mà ý thức được Đạo khơng cần phải xuất thế ly gia, khơng cần tìm thấy Đạo ở nơi đâu xa xơi mà ngay trong thường nhật những việc căn bản của xã hội, nĩi theo Việt Nho là Tu, Tề, Trị, Bình, cũng cĩ nghĩa là : Tu Thân, Tề Tâm, Trị tham dục, Bình an Thân Tâm, sau cùng tiến lên nhập vào xã hội : Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc Độ và Bình Thiên Hạ . Là một thuyết an vi trong đời sống, nếu tâm an thì thể nhập vào thường hằng. Lạc thư chỉ cho thấy những con số biểu tượng mọi sự việc trong những hồn cảnh xã hội. Nền Minh triết Lạc thư được biểu hiện ngay trên các hình thái liên quan việc hành vi sinh hoạt như : Hình thức tổ chức chính quyền thời Hùng Vương như Cửu Trù Hồng Phạm ( tức là 9 Phạm trù trị nước của họ Hồng Bàng ),Ruộng Lạc thời Hùng Vương, trong lể nghi văn hố tín ngưỡng thờ cúng Thiên Địa Nhân. 9 ơ trong lạc thư là một Ma Trận cĩ tính cách huyền bí, minh triết, Tình và lý, ý thức và tiềm thức, cĩ và khơng. Tính chất của lạc thư qua những hiện tượng Tu,Tề, Trị, Bình được diển ra hằng ngày, khơng cĩ một hình thức nào riêng biệt, cĩ cũng như khơng, khơng cũng như cĩ, một trạng thái minh triết của con người giác ngộ Đạo ngay trong xã hội đời thường, họ sống trong thế gian nhưng khơng trụ nhiểm, họ giác ngộ tất cả mọi trí thế gian nhưng khơng trụ trong trí nào cả. Cĩ được như thế thì họ mới cĩ minh triết trong việc sáng tạo phi thường, mổi bước tiến lên của tâm thức đều mở mang thêm nhiều khả năng, nhiều phương thức để giải quyết mọi vấn đề liên quan, là mức chuyễn hố tồn bộ Thân, Tâm, Trí. Đây hiện tượng an vi của kẻ Đạt đạo mà tổ tiên người Việt đã để lại cho con cháu hiện nay bằng những phong tục tập quán gắng liền trong đời sống Văn Minh nơng nghiệp sản xuất vật chất hằng ngày. Trên cánh đồng ruộng Lạc chia ra 9 ô, hoặc chiếc bánh Dày ( Thầy ).Bánh Chưng ( Bánh U ) của Hồng tử Tiết Liêu được buộc 4 sợi dây lạc chia đều ra làm 9 ô. Con số 9 phổ biến trong những chuyện truyền thuyết, cổ tích của người Việt, ngầm nhắc nhở kẻ hậu sinh phải giải mả ứng dụng một nền khoa học, triết lý của Lạc Thư.
Có hiểu biết sử dụng được Hà Đồ, Lạc Thư thì dân tộc Việt sẽ tiến hóa một bước dài, trực giác siêu diệu của Tổ Tiên sẽ dẵn dắt định hướng cho dân tộc Việt vươn lên tầm cao của thời đại.
Những trạng thái con người hiện tại sống bấp bênh đầy sự lo âu sợ sệt cần có một nền minh triết sống an vi, mà Triết lý phát từ Lạc thư cho chúng ta thấy được ý nghĩa cái nền Đạo an vui thanh thốt trong những cơng việc rất “Đời thường”. Ma trận của Lạc Thư cộng ngang dọc chéo đều có tổng số 15. Con số 15 của Lạc thư cũng biểu hiện trong 15 bộ của Quốc Gia Văn Lang của Vua Hùng, là con số “ Biến “ qua để chuyễn hố sang một trạng thái mới của vũ trụ, 15 tượng số của Việt Dịch = (1)Thái Cực => (2) Lưỡng Nghi=> (4) Tứ Tượng => (8) Bát Quái.
Cũng vì thế các nhà Hiền triết Việt tộc xem Lạc thư và con số tổng 15 là một mẩu mực lớn lao trong việc chuyễn hóa Linh và Thể trong cuộc sống hằng ngày.
LẠC THƯ CỬU TRÙ HỒNG PHẠM
Là 9 Phạm Trù tổ chức sinh hoạt của đất nước thời họ Hồng Bàng
4
NGŨ KỶ
9
NGŨ PHÚC
LỤC CỰC
2
NGŨ SỰ
3
BAT CHÍNH
5
HÒANG CỰC
7
KÊ NGHI
8
THỨ TRƯNG
1
NGŨ HÀNH
6
TAM ĐỨC
Tóm lại Hà Lạc được xem là những thực thể sau thời phát minh “ Kinh Diệc” của người Việt cổ. Sự thẩm thấu của nó là một phần căn bản của “Kinh Diệc “ là một thứ ngôn ngữ của người Việt cổ tuy chỉ có 8 quái nhưng bao hàm các hiện tượng cái “Đạo Trời, Đất, Người", ở xung quanh chúng ta hầu hết tất cả những trải nghiệm của các bậc hiền triết uyên thâm, và kinh sách Đạo minh triết được viết ra từ thời cổ đến nay. Tuy không diển đạt bằng lời nói, nhưng bản thân của Hà Lạc đã nói lên tất cả cái Đạo tánh của nhịp sống uyên nguyên vũ trụ. Thật là vi diệu thay.
Người Việt cổ họ trao đổi nhau bằng văn phong thật là Việt Nho, mọi sự việc cũng nĩi lên được Minh triết của Linh và Thể. Một quái Đồ sau này được Hán Nho khai thác thêm bao hàm : Bát Tượng, Ngũ Hành, Ngũ Phương, Ngũ Đức. Tứ Tượng, Lưỡng nghi, Thái Cực, Vô Cực.
Vũ Trụ nhân sinh tuỳ theo quan niệm nhận định của từng địa phương, từng nếp sống tập tục văn hố, nên quan niệm về : Nhân Sinh Vũ Trụ quan của người Trung Hoa cũng cĩ khác chúng ta, nhưng khơng cĩ nghĩa là Kinh Diệc chúng ta đúng mà Kinh Dịch của họ sai, mà kết hợp bổ khuyết cho nhau để nói lên minh triết của Đạo tánh thường hằng.
Ngày 25 tháng 11 năm Tân Tỵ 2001.
Thiên Nhiên Kỷ.
Giải nghĩa cụm từ : Cửu Cung Liên Hoa
1. Liên Hoa là hoa sen biểu tượng tinh chất cái “ Thành Quả của Đạo “.
2. Liên Hoa là sự tiến hố do theo con đường tu tập “ tri hành hiệp nhất “. Trong Phật Giáo là sự tu chứng quả tịnh độ, là hố thân của Phật.
3. Liên Hoa là thệ nguyện chuyễn hố thân tướng của Hành giả, mang điều tốt lành đến cùng chung sanh trong Tam cỏi.
4. Liên Hoa Cửu Cung trong pháp giới nhân thể là : Huyền quang nhất khiếu trên bộ đầu. Khi hành giả cĩ quá trình tu chứng Cửu Cung Liên Hoa thì cĩ hiện tượng :
• Tam Hoa Tựu Đảnh, Ngũ Khí Triểu Ngươn : Tam hoa đĩ là Tinh, Khí, Thần ; Ngũ Khí là : Phế Khí ( Kim) ; Can Khí ( Mộc ) ; Tỳ Khí ( Thổ ) ; Tâm Khí ( Hoả ) ; Thận Khí ( Thuỷ ) .
• Khi Tam Hoa Tựu Đảnh, Ngũ Khí Triều Ngươn nơi Thiên Mơn ( bách Hội) thì Hảnh giả khai mở được ( Khiếu Huyền Quang ) hay còn gọi là Cửu Cung Liên Hoa là Thiên Nhãn mà thông cùng Trời Đất ( vạn vật đồng nhất thể ) để thành Đạo. . .
LIÊN HOA CỬU CUNG THEO VŨ TRỤ QUAN DỊCH LÝ.
Trong biện chứng lý pháp của Dịch lý chủ động của việc thăng hoa tư tưởng dựa trên “ Vạn Vật Đồng Nhất Thể “. Đây là một lối biện chứng liên quan giửa con người với con người, với vạn vật, với Trời Đất.
Như vậy sẽ đặt ra câu hỏi :
Con người từ đâu tới ?
Sẽ ra đi về đâu ?
Đĩ là câu hỏi muơn đời của con người khi tìm hiểu về vũ trụ, nhân sinh. Sau đây ta sẽ được phúc đáp theo học thuyết Dịch Lý là tiêu biểu của nền Văn Hố cổ của Đơng Phương mà giáo pháp của Đạo cao Đài cĩ nền tảng trên học thuyết Dịch Lý.
Ta là một thực thể trong tồn đồ vũ trụ Năng lượng .
Ta từ Vơ Cực đến, là chiết thể của Vô Cực.
Sứ mạng ta đến đây học hỏi trải nghiệm để chuyễn hố.
Sau khi chuyển hóa sẽ trở về nhập thể Vô Cực.
• Biểu diển tiến trình học hỏi trải nghiệm để chuyển hố theo Dịch Lý như sau : Vô Cực => Thái Cực => Lưỡng Nghi => Tam Tài => Tứ Tượng =>Ngũ Hành => Bát Quái => Cửu Cung Liên Hoa.
• Cửu Cung Liên Hoa chính là chiếc hộp đen cộng hưởng của một tiến trình chuyễn hố, là lổ hổng cĩ chức năng : Thành tựu quốc độ đẳng vị cho một tâm linh đã chuyễn hố do sự tu luyện.
• Là trục giao lưu tích hợp mọi dử kiện tính xuyên tâm của Bát Quái.
• Cĩ tính phản Bổn hồn nguyên của Tâm Linh khi được vận hành qua chu trình tiến hố từ Nhân Sinh đến Vũ trụ.
• Thị hiện phương pháp hành động và biện chứng lý pháp dựa trên nguyên lý quân bình Âm Dương qua cấu trúc tập hợp mời của Lý Pháp Tam Ngũ .
QUY TAM THỐNG NGŨ ( theo Dịch Lý Lạc Thư )
THỜI VỊ
I II III
( 5 ) (10 ) ( 15 )
SINH THÀNH BIẾN
Cảm Vận dụng Chuyễn Hố
CẤU TRÚC BÁT QUÁI LIÊN HOA CỦU CUNG. Các trục đều hướng tâm Bát Quái tức là Quy Luật Phản Bổn Hồn Nguyên , Trở về Thái Cực sau cùng là Vơ Cực cịn được gọi : Cửu Cung Liên Hoa.
CHÚ THÍCH
(• Xích Quỷ: Tên của Dân tộc Bắc Phương gọi dân tộc Việt thời cổ, hay là Nam Man Di, một trong tứ Man của dịng Người Việt cổ họ dùng ĐẤT MÀU THỔ CHU vẽ lên người là một phương thức tín ngưỡng Vũ Trụ Giáo, Phiên âm tiếng Việt cổ là “ Kẻ Đỏ” cĩ ý nghĩa : Người của đất nước Mặt Trời lửa Đỏ : xứ sở của người Đỏ . . Hiện nay một số làng quê ở miền bắc vẫn cịn từ “ Kẻ “ như : Kẻ Noi, Kẻ Sặc, Kẻ Đổng, Kẻ Gâu . . . Từ Kẻ là chỉ về “ Người trong một làng, một xứ sở”. .v.v. . . )
(• Aâu Lạc từ thời Vua An Dương Vương : Aâu là Đầm hồ cĩ ánh sáng mặt trời đỏ( cĩ thể là nơi Động Đình Hồ ). Lạc là màu Đỏ, Lạc là con Sấu, con Giao long Đỏ của mặt trời.
Qua những âm ngữ trên, ta biết An Dương Vương kết hợp thống nhất 2 tộc người Aâu và Lạc trở thành một đất nước duy nhất …)
(• Bách Việt từ này cĩ từ thời Hùng Hiền Vương năm Mậu Tý 2793 Tr CN, ( mở đầu cuộc di dân từ Hồng Hà về Động Đình Hồ, sau đĩ kết tập các bộ lạc anh em người Việt cổ lập ra Bách Việt.)
• Danh tính Lạc Việt cũng đồng thời xuất hiện cách thời gian của Hùng Hiền Vương khoảng vào năm 2230 Tr CN.( xem Huyền Sử Hồng Bàng ).