PDA

View Full Version : BÊn Kia CỎi SÁng


DaoKy
26-05-2005, 05:25 PM
Cao Đài Giáo Lý Viện
Thiên Đạo Học Đường
Liên Hoa Cửu Cung
TLTT. Thiên Nhiên Kỷ .





BÊN KIA CỎI SÁNG

Trong thế giới này chúng ta được dạy dổ và huân tập tranh đấu để được sinh tồn, và chúng ta chuẩn bị cho một tương lai có được mọi sự ưu tiên về vật chất, xem đó là cứu cánh hạnh phúc con người, nhưng trong xã hội không hề dạy cho chúng ta hiểu biết thế nào để có được hạnh phúc chân thật của đời người.



Có một điều rất lạ lùng, con người ai cũng phải chết, thế mà chúng ta luôn không bao giờ chuẩn bị sẳn sàn cho mình một cái chết? Các bậc siêu nhân như Đức Lão Tử, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Khổng Phu Tử v.v. . . Các Ngài cũng chết ! Nhưng các Ngài đã giải thoát mọi sự buộc ràng của thề giới này, an hưởng hạnh phúc chân thật nơi cỏi Niết Bàn . Còn chúng ta vì luôn chạy theo hạnh phúc vật chất ảo tưởng và tư kỷ trong khoảng đời nhỏ hẹp, nên mải quanh quẩn trong tư tưởng thiển cận và hành động theo các thói quen huân tập lấy nghiệp lực, không nhận thấy điều gì xa hơn, không hề nghĩ đến rằng mình sẽ phải chết, và những gì đang chờ chúng ta ở cỏi bên kia !!! Việc Sinh Ký Tử quy của con người, là hai trạng thái khép kín trong vòng tuần hoàn của Tiểu vũ trụ.






CHUẨN BỊ CHO CÁI CHẾT.



Đây là con đường của tất cả mọi con người, dù là những con người quý tộc hay những con người xuất thân từ bần hèn, họ được bình đẳng cùng nhau trước cái chết.



Khi con người đã ý thức quá trình sinh, lảo, bệnh, tử thì họ sẽ thấu đáo sự sinh diệt của thế gian vô thường, cái chết không đáng sợ nếu họ biết cách để chết trong minh triết, sau khi trải qua quá trình thanh lọc thân tâm, đồng thời sống với thế giới chung quanh đầy ý nghĩa thật đáng sống, có nghĩa là sự sống của chính mình có ích cho mọi người chung quanh, đi đến một lý nghĩa Đạo Đức hoá xã hội.



Các loài trong Bát Hồn đẳng cấp thấp nhất là : Kim Thạch, Thảo Mộc, Thú Cầm , mổi loài ấy đều có cách riêng để phụng sự chung cho thế giới này, để chúng được thăng hoa. Còn chúng ta là những con người có một linh hồn hoàn toàn mầu diệu, chẳng lẻ chúng ta không thể nào hơn các loài ấy hay sao ? Cũng có nghĩa, khi chúng ta đến thế giới này để học hỏi, đúc kết kinh nghiệm, để biết cách phụng sự hoàn thiện mỹ cho chúng sanh trong thế giới này, đó là sự tu sửa cho mình đạt được hoàn chỉnh, trở thành con người của xã hội, con người của tất cả mọi người. Thì điều này sẽ làm chúng ta sống mãi cùng với thời gian và không gian. Đó là sự bất tử vậy!



Do đó người biết cách chết, thì người ấy sẽ trở nên bất tử ! nếu không biết cách để chết thì ta luôn bị tù hảm trong nghiệp huân tập, rồi phiền nảo đau khổ trong con đường lục đạo luân hồi.



Một nhân duyên nhỏ thúc đẩy tôi viết bài này với mục đích tìm hiểu phần nào nhỏ nhoi ẩn khuất phía sau cái hữu hạn của con người. Để tu sửa thân tâm và chuẩn bị cho mình một một cuộc sống tinh thần mai sau bên kia cỏi sáng huyền diệu.






SỰ TÁI SANH TRONG CỎI TRUNG ẤM.



Một con người vừa qua đời, sau khi vật vả hoặc im lìm hồn xuất khỏi xác, những hiện tượng ấy đều do duyên nghiệp tại tiền.



Điều đầu tiên khi Thần Thức tỉnh lại sau một cơn hôn mê dài, trạng thái trung chuyễn giửa cái chết của xác thân tứ đại và bắt đầu cho Thần thức tái sanh.



Khuynh hướng và tập quán lúc còn ở tiền trần trong tâm ta khơi dậy, tất cả những điều ấy tâm chúng ta chiêu cảm lấy nghiệp và bị nghiệp chuyễn mà đi tìm hướng tái sanh cho mình cho đến khi nhập vào thai bào để bắt đầu cho cuộc sống tương lai.



Pháp tánh của mọi vong linh đều có một THÂN BẰNG ÁNH SÁNG gồm : Aâm Quang và Dương Quang, như tại tiền trần do tư tưởng có những nghiệp ác, thì phần Dương Quang bị mất, nơi cảnh giới này vong hồn sống trong buồn rầu ánh sáng âm u, còn như có tư tưởng lẩn hành động huân tập nghiệp ác thì mất cả Aâm Dương Quang, vong hồn bị lọt vào cảnh giới không ánh sáng , vong hồn ấy bị đọa vào sự tâm tối của Địa Ngục.



Khi bước sang giai đọan trung chuyễn thì tạo thêm một thân nửa gọi là THÂN Ý SANH, của THÂN ÁNH SÁNG, mọi sự di động của thân này không bị giới hạn, nhưng có điều mọi sư dịch chuyễn của nó đều do sự định đoạt bởi khuynh hướng duyên nghiệp của tiền trần , vì thế hệ quả hoàn toàn thụ động theo nghiệp đời trước kéo lôi.



Những thành quả của duyên nghiệp đời trước bây giờ đã định hình, biểu hiện khi Pháp tánh chuyễn nên mới có một THÂN Ý sanh ra, trạng thái tư tưởng liên hệ đến Tham, Sân, Si, đó là những hồi ức về thân nghiệp trong quá khư,ù để kết tập cho một THÂN Ý sanh ra ( cá tính tinh chuyên) là một đặc tính lưu truyền cho một vong linh trong cỏi Trung Giới, nó có đầy đủ hạt NHÂN của từ kiếp quá khứ, bắt đầu cho mầm móng sự thọ QUẢ của vong linh trong đời sống tương lai.



THÂN Ý SANH.



Ơû trạng thái trung chuyễn của Thân Ý Sanh, nó có đầy đủ thức kinh nghiệm của năm giác quan, nhẹ nhàn sáng suốt, nhạy bén di động không ngừng nhanh gấp 7 lần của đời sống thực sự nơi cỏi trần, nó có thần thông lặt vặt, nhưng không có ý thức kiểm soát, nhưng đem lại cho Thân Ý Sanh một khả năng đọc được những tư tưởng và ý nghỉ của người còn sống. Lúc đầu Thân Ý Sanh có một hình dáng như thân xác tứ đại vừa qua đời, không có một hiếm khuyết nào như đang vào độ tuổi thanh xuân , mặc dù thể xác có bị què cụt hiếm khuyết. Do năng lực dẩn dắt ta gọi là” Nghiệp” cứ chuyễn biến không ngừng , nên Thân Ý Sanh kia không thể nào Ở YÊN DÙ CHỐC LÁT, NÓ KHÔNG NGỪNG DI ĐỘNG, bởi do hệ quả “ nghiệp lực tiền trần “ , SỰ DI CHUYỄN CỦA NÓ XUYÊN QUA TẤT CẢ VẬT CHẤT, kết cấu Thân Ý Sanh của nó bằng NGUYÊN HẠT ĐỒNG NHẤT TRƯỜNG TỒN, sau quá trình học hỏi thăng hoa thì đến giai đoạn NGUYÊN HẠT ĐỒNG NHẤT TRƯỜNG TỒN phải hoàn nguyên về bổ gốc của nó đó là quy luật, N.H.Đ.N.T.T là một loại vật chất bằng KHÍ ĐIỂN trên phương diện vật lý con người đã tiên nghiệm, nhưng chưa có cơ sở để chứng minh cụ thể loại vật chất này.



Thân ý sanh có thể nhìn thấu suốt vật thể ba chiều không gian , vì thiếu tính chất vật lý của thân xác hửu vi, nên các cảnh giới của linh hồn không có ánh sáng mặt Trời và mặt Trăng, chỉ còn có Aâm Dương Quang, nếu như hồn không vì nghiệp thì ánh sáng sẽ rạng rở thăng hoá đến cỏi hằng sáng, nếu như bị nghiệp tư tưởng thì còn lại Ââm quang thì ánh sáng lờ mờ nơi cỏi Hạ Trung Giới, nặng nề hơn nửa bị nghiệp thức và hành động thì mất luôn Aâm Quang thì hoàn toàn vong linh ở trong tăm tối Địa Ngục, đến khi nào có sự thức tỉnh ăn năn do được những tha lực giúp đở, thì Hồn nương vào đó thăng hoá lên Hạ Trung Giới, sau đó được tập nghiệp dẫn dắt mà đi đầu thai trả quả .



Nếu còn có âm quang, thì vong linh nhìn thấy được lờ mờ phía trước mặt, thấy các chúng sinh khác trong cỏi trung giới, mà điều này người sống không thể nào nhìn thấy được, Thân ý sanh có thể giao tiếp bằng cách trao đổi tư tưởng cùng các vong linh khác đã chết trước đó. Do có mặt của ngũ uẩn (Kinh nghiệm năm thức nghiệp thọ tưởng) nên vong linh có sự cảm nhận chắc thực , sau đó lại có lòng tham dục thấy mình đói khát, nhưng đói mà ăn không đựoc, khát lại uống chẳng được. Theo cổ giáo lý nói rằng : . . “ Các hồn chỉ sống nhờ mùi hương và rút dưởng chất từ đồ cúng hiến hay đem các vật tế lể mà đốt cháy. . .”



Ở trạng thái này của Thân Ý Sanh thì tâm lý hoạt động rất nhanh, tư tưởng cứ liên tục sinh ra và trôi qua, cũng như hồn có thể làm nhiều công việc cùng một lúc, tuy nhiên trạng thái tâm thức vẫn duy trì các thói quen đã huân tập, hồn luôn bám víu vào những kinh nghiệm trải qua mà vẫn tin tưởng rằng: “ Mọi điều, mọi sự là thực có”.



KINH NGHIỆM TRONG CỎI TRUNG ẤM



Suốt thời gian đầu ở cỏi trung ấm . Hồn vẫn xem mình là đàn ông hay đàn bà do giới tính từ thưở tiền trần, họ sẽ sống rập khuông mẩu như đời sống qua , lúc đầu hồn không biết rằng mình đã chết. Khi hồn trở về nơi khi xưa từng sinh sống, gặp những người thân yêu, hồn cố gắn giao tiếp, nói chuyện, sờ mó vào thân thể của người thân như muốn nhắc nhở rằng : Họ vẫn hiện diện tại nơi đó, nhưng người thân hoàn toàn không biết có sự hiện diện của hồn, hồn muốn tiếp xúc cùng người thân bằng cách nói chuyện, kêu gọi, nhưng không được trả lời, sự im lặng của người thân không nhắc nhở đến hồn, họ hoàn toàn lảng quên người đã khuất, dù bao nhiêu sự cố gằng để làm cho người thân biết rằng Hồn vẫn còn hiện diện nơi đây, mọi sự gây cho người thân chú ý đến hồn, sau cũng đành bất lực, điều này làm hồn tủi thân buồn rầu biết mình đã chết rồi, đứng nhìn người thân than khóc , sự sinh ly tử biệt của hồn cứ mải bám víu vào những kinh nghiệm như sử dụng những đồ vật , nơi chổ ăn uống nghỉ ngơi của hồn ngày trước, nhưng vô hiệu quả, họ không thể cầm nắm lấy đồ vật của mình đã xử dụng ngày trước, trải qua một thời gian dài với ý chí tập trung của thân ý sanh, thì lúc bấy giờ hồn mới có thể điều khiển cầm nắm được đồ vật, ngay trước mắt kinh hoàng sợ hải của người thân. Sau đó hồn lại một phen khổ sở kiệt sức không còn được di động như trước, vì tận dụng hết năng lực Nguyên Khí của thân ý sanh, hồn càng đau lòng, khi thấy người thân chia nhau các vật chất, của cải của mình sử dụng ngày trước. Vì tức tối hằn hộc, nên hồn cảm thấy mình bị người thân làm tổn thương, đau đớn như con cá nằm trên bải cát nóng. Nếu vì cố quyến luyến của cải, vật chất hay thân xác củ, hồn lảng vảng quanh nó có khi một thời gian dài, mà không chịu tin rằng mình đã chết thật sự, đến khi đứng trước gương, hồn không thấy hình ảnh phản chiếu trong gương hoặc nhập vào thân xác tứ đại của hồn nhưng không thể nào điểu khiển nó được như ý muốn và nhận thấy thân xác ấy bắt đầu hủy hoại, không còn có vóc dáng như trước khi còn tại tiền trần, bấy giờ thì hồn mời tin rằng mình đã chết ! Lòng muốn cho người thân biết rằng mình vẫn còn quanh quẩn nơi cỏi trần, Hồn cố gắng nhập vào xác người thân, hay một người nào xa lạ khác, nhờ vào thân xác ấy thông tin cho người thân, thì hồn ấy phải trả một giá rất đắc là tiêu hoại dần Nguyên Khí “Aâm Quang” do bị thân thể người sống hút lấy! Khí Aâm Quang của Hồn dần bị tan loảng có khi mất khả năng hoạt động của thân ý sanh.



Đó là kinh nghiệm của hồn nơi cỏi trung ấm, tuy rằng hồn sống với kinh nghiệm ký ức cuộc đời vừa qua, cố ôn lại những kỷ niệm mờ nhạt, hay tìm về thăm chốn củ, cứ như thế 7 ngày một lần hồn bị bắt buộc sống lại với mớ kinh nghiệm và tình rạng xảy ra lúc chết, như một cuộc chiếu phim dài sống động liên tục đến 7 ngày, vì bị bắt buộc sống với ký ức với tất cả những nghiệp thức bất thiện, thì hồn đang bị đau khổ dày vò trong cảnh giới ấy có khác nào là địa ngục ?



Nếu hồn sống trong tâm thiện và các nghiệp thiện, thì dỉ nhiên sẽ được liên tục sống kinh nghiệm nơi cảnh giới bình yên ấy, còn trái lại vì nghiệp nặng, chết vật vả, thì sự kiện này cứ lập đi, lập lại, tái diển mãi, năng lực mạnh gấp 7 lần hơn khi còn tại tiền trần. Trong gia đoạn Trung ấm các nghiệp ác cô động lại một cách mảnh liệt, làm cho hồn bị rối bời khổ sở và phiền nảo , cứ như thế cuộc hành trình trong cỏi trung ấm cứ mãi lang thang, không ngừng kinh hoàng như những cơn ác mộng, vì bởi Hồn vẫn mê chưa ý thức tỉnh, và ngay lúc ấy hồn vẫn tin rằng mình vẫn còn thân xác bằng vật chất hữu vi, trên thực tế đó chỉ là tâm biến chuyễn ra. Bởi vì nghiệp lực tập quán củ thời sanh tiền quay trở về tái diển. Những ngọn gió thổi ào ạt, những tiếng nổ của hoả diệm sơn, ngọn lửa khổng lồ nóng bỏng, những mảnh đất trồi lên sụp đổ xuống kinh hoàng nghiêng ngửa, những con sông nước tràn bờ gào thét hung hản muốn nhận chìm tất cả vào trong nó. Tiếng gầm thét như điên cuồng của tứ đại, làm cho hồn hoảng loạn cố gắng chạy thoát né tránh khỏi những tai hoạ dử dội trong bóng tối kinh hoàng, trước mặt ba hố sâu thăm thẳm : Trắng, Đỏ, Đen, đang như muốn nuốt chửng hồn xuống đó, ba chiếc hố ấy là : tâm : Tham, Sân, Si của hồn, trong cơn hoản loạn hồn còn nghe âm thanh yêu quái, thú dử săn đuổi theo hồn, cứ như thế hồn bị gió nghiệp lực cuốn đẩy đi trong sự kinh hoàng khó chịu, lực đẩy từ phía sau cứ đẩy đến trước , hồn không thể bám víu vào đâu, cứ mãi lang thang bị đưa đẩy khắp cỏi trung ấm và cảm giác như bị cơn đói khát hành hạ vầy vò, ý thức đầu tiên là hồn muốn tìm một chổ nào đó trú thân ! Tâm thức của hồn lúc buồn chán nảo phiền, lúc đau khổ, ăn năn thay đổi liên tục, nên hồn đâm ra khao khát muốn tìm một thân thể mới bằng vật chất cho mình, nếu không có hồn sẽ rơi vào trạng thái khổ đau.



Toàn cảnh giới trong cỏi Trung Aám đều do nghiệp lực từ lúc còn sanh tiền làm cái nguyên nhân phát khởi, tất cả lối sống và hành động và tư tưởng un đúc nên cảnh giới, mà hồn phải chịu đựng suốt thời gian ở cỏi trung giới, nó chưa đầy ác mộng.



Từ thói ăn nết ở của Hồn còn tại tiền, đã huân tập nghiệp, tạo thành nhân và kết quả, thể hiện ra trong cỏi trung ấm, đến sau này khi tái sanh lại cỏi trần, luôn ở trong cái quả bất hạnh của chính mình đã tạo dựng ra ! Nếu còn tại tiền, Hồn luôn có những hành động tích cực cao thượng và đầy đủ kinh nghiệm pháp trần, để đúc kết cho hồn một tâm thức trí huệ đầy thiện nghiệp, thì trong cỏi trung ấm kia, hồn đâu chịu đựng cảnh đau khổ, buồn phiền. Bởi thế trong Tử Thư của Tây Tạng có nói đến nghiệp của kẻ đánh cá, săn bẩy thú và các nghiệp sát sanh chúng sanh khác, tất cả họ đều bị những hình ảnh ghê sợ nhàm chán , hồn bị bắt buộc phải chứng kiến các nghiệp của mình làm ra khi tại tiền, thì như thế có khác nào hồn đang ở trong cảnh giới địa ngục, vì lương tâm bấy giờ nó đòi hỏi sự công bằng của quy luật nhân quả của vũ trụ vạn vật, chúng sanh. Nói cách khác, hồn phải xem mãi những khúc phim nghiệp lực tại trần, khúc phim ấy cứ mãi diển đi diển lại, làm cho hồn vừa ăn năn vừa đau khổ những hành vi, việc làm khi còn tại tiền, thì điều này cũng như là địa ngục thật sự.



Cuối cùng, do sự hoảng loạn, nên hồn cố gắng tìm một chổ an trú trong cỏi nào đó, khi thấy ánh sáng màu xanh lục dịu mắt liền chạy đến nên bị thu hút vào thai bào cỏi súc sinh, nếu tâm có khuynh hướng tìm cho mình một thân xác mới thì tâm liền cũng ứng theo tần số rung động, theo ánh sáng mà sanh vào các cỏi như :



ÁNH SÁNG SANH VÀO CÁC CỎI.



-Aùnh sáng màu trắng loá là vào cỏi Thượng Thiên.



-Aùnh sáng màu vàng ròng là vào cỏi Chư Phật.



Aùnh sáng màu đỏ là sanh vào cỏi Chư Thiên.



-Aùnh sáng màu xanh dịu là cỏi Người.



-Aùnh sáng màu xanh lục là cỏi Súc Sinh.



-Aùnh sáng màu xán đen là cỏi Địa Ngục.



SỰ PHÁN XÉT.



Khi hồn bị lương tâm tra xét, khúc phim tiền kiếp bắt đầu quay lại từ lúc hồn bắt đầu ý thức nghiệp trần ( sự Thiện Aùc ). Đó là một cuộc phán xét, phiên tòa này ở trong tâm của hồn , Hồn vừa là một Quan Toà, vừa là một luật sư bào chửa, và cũng là một bị cáo. Điều đáng chú ý sự phán xét này chỉ xảy ra đối với những kẻ tiêu cực ích kỷ hại nhân, mà toà án lương tâm sẽ vạch rỏ những lổi lầm theo mực thước công bằng theo tiêu chuẩn Đạo Đức , cảnh phán xét cũng chứng tỏ mọi dử kiện đã được phân tích rỏ ràng, từ hành động đến tư tưởng , điều này có nghĩa rằng : - Hồn hoàn toàn trách nhiệm trước hành động , tư tưởng , lời nói hay những thói quen đã huân tập khi còn tại tiền.



NĂNG LỰC CỦA TÂM.



Ở cảnh giới trung gian, Tâm của Hồn nhẹ nhàn linh động nhại bén, nên bất cứ tư tưởng nào khởi lên dù tốt hay xấu, đều tác động đến năng lực của Tâm rất mảnh liệt vì Hồn không có xác thân, nên tư tưởng và ý thức nảy sanhm, thì hồn cứ nghĩ rằng đó là thực tại (vì còn lại Ngũ Uẩn).



Thí dụ : Hồn là người đàn bà khi đã vãng sanh thì người bạn đời của họ sẽ phải bước thêm một bước nửa, thì lúc bấy giờ hồn sẽ buồn tủi, sân hận khốc liệt.



Một tình huống rơi vào tham sân si, lúc ấy có phản ứng sự bạo hành của hồn, sẽ đưa hồn đến chổ tái sanh bất hạnh, cái năng lực của tâm khi ở Trung Giới là vấn đề then chốt, nó phơi bày những khuynh hướng cố hữu, để tăng trưởng nghiệp lực thống trị cuộc đời ở kiếp mai sau của Hồn. Nếu ngay khi còn tại tiền trần không kiểm soát khuynh hướng ấy , có nghĩa không biết cách thăng hoa tích cực năng lực Tham, Sân, Si, mà lại để cho nó thống trị, dẫn dắt, thì dỉ nhiên sau khi chết hồn sẽ phải đau khổ vì nghiệp lực kia do Tham, Sân, Si làm chủ, khuông đúc như thế nào thì vật được đúc sẽ như thế ấy, cái tâm như vật nóng chảy đổ vào khuông là tập nghiệp, thì ta sẽ có cái tâm tập nghiệp từ khuông đúc. Cho nên khi còn sống như thế nào, thì đến khi chết cảnh giới Tâm của Hồn trong cỏi trung chuyễn sẽ phải sống như thế đó!



Cho nên qua những kinh nghiệm trên, cho chúng ta thấy cần phải tu sửa tích cực từ tư tưởng đến hành động duy nhất hướng về Đạo Hạnh , phụng sự lợi tha, những hành động và tư tưởng cao thượng, thì khi sang thế giới bên kia ở cỏi trung chuyễn có thể dẩn dắt đến sự giải thoát, còn ngược lại phản ứng tiêu cực sẽ nhận chìm tâm linh chúng ta vào vô minh đen tối đau khổ lâu dài, bất cứ sự tu tập nào cũng hướng con ngưới đến cái quả Thiện tích cực, khuyến cáo mọi người từ bỏ những khát khao vọng tưởng bám theo vật chất, của cải, cái tâm tham dục đi dần đến tha hoá. Hảy thức tỉnh đừng buông trôi tâm mình theo sự vô minh mê mụi từ bao đời. Vì sự tu sửa cá tánh tham dục, sân si, hảy cố gắng đào luyện cho tâm hồn mình có được tình yêu cao thượng , hành động giúp đở cho tha nhân, còn hơn sự ích kỷ, thù hằn. Cũng đừng bao giờ khởi niệm tưởng đến việc Aùc, muốn được như thế thì chúng ta tích cực tu sửa tâm mình bằng cách Thiền, Quán để chuẩn bị cho mình một cái chết trong tư tưởng và việc làm minh triết phục vụ cho chúng sanh ! Chúng ta cũng nên biết rằng mọi sự trên đời này và trong cỏi trung chuyễn kia đều là Huyễn Aûo, là sự sinh diệt Vô Thường.



Trong cỏi trung ấm, khi đó tánh chiếu soi của Tâm càng mảnh liệt, làm ra những cảnh ghê sợ ấy, chỉ cần chúng ta tỉnh giác niệm danh Thầy, Mẹ hay Chư Phật, Bồ Tát thì tất cả cảnh ấy đều mất hết, cho nên chúng ta cần tỉnh giác bất cứ lúc nào, điểm quan trọng hơn là khi sắp sửa tắt hơi, sự tỉnh thức niệm danh Thầy, Mẹ là cách tập cho chúng ta được vãng sanh đến một cảnh giới cao hơn, không còn bị rơi vào cỏi nhân gian hay lục đạo luân hồi. Phương tiện Thiền Quán có công năng giúp cho chúng ta kinh nghiệm trí huệ. Hồn sẽ đến bất cứ cảnh giới nào ta muốn, nhưng phải hiểu rằng lúc ấy ta đã làm chủ hoàn toàn cái tâm thức của mình.



SỰ TÁI SANH VÀO NHÂN GIAN



Hồn trong cỏi Trung giới đã lâu, khi hội đủ nhân duyên của nghiệp nên tái sanh do những dử kiện sau :



-Niềm khát khao muốn tìm một thân thể mới.



-Muốn an trú khi bị nghiệp lực đeo đuổi.



-Vì nghiệp lực đã đầy đủ nhân duyên để biến chuyễn trả nghiệp.



Những cảnh giới được thị hiện biểu tượng màu sắc cho sáu nẻo luân hồi, tuỳ theo cảm xúc tiêu cực nào mạnh nhất, sẽ tạo những chấn động thu hút Hồn vào nẻo ấy, một khi Hồn bị thu hút theo duyên nghiệp khó bề cải biến hay trở lui. Nếu sanh vào cỏi Người và Trời thì hồn nhìn lên,nếu sanh vào cỏi súc sinh thì nhìn thẳng tới, nếu vào cỏi Địa Ngục thì nhìn xuống. Đó là những kinh nghiệm cần biết để tránh rơi vào tình trạng bất hạnh.( Cái nhìn của Tâm Hướng Thượng hay thoái hóa )



Cùng vào thời điểm ấy Hồn luôn bị cuốn hút vào cảnh giới tâm theo bản năng chẳng hạn : - Sự nôn nóng giận dử kết thúc bằng Tham, Sân, Si nên nó trở thành động lực đẩy hồn đi tới cỏi dử, bằng chính cảm xúc tiêu cực của chính mình. Như vậy sự tái sinh vào bất kỳ cỏi nào cũng đều do tâm lực của HỒn , Chúng ta tưởng tượng sự hoảng loạn của Hồn khi bị nghiệp lực đeo đuổi, điều cải biến của hồn lúc đó là tìm một chổ đào thoát và an trú , tránh những kinh nghiệm khổ đau trong cỏi trung chuyễn, vì sợ mà trốn tránh, rồi đâm ra bị ràng buộc với sự tái sanh mới, bất kể nơi đâu, ở cỏi nào, nẻo nào trong lục đạo luân hồi, miển là được tái sanh, hoặc có thể bị dẫn dụ rơi vào cỏi thấp kém, do động lực duy nhất là nghiệp, đẩy hồn đi tới trước vào những cỏi tương ứng với tâm và nghiệp tiền trần , đó là sự chuyễn kiếp đầu thai.



Một kiếp người là cơ hội tu tập tiến hoá, Nếu như không được mang thân người thì không có cơ hội thăng hoá lên các đẳng hồn Tinh Linh, vì thế chúng ta hảy trân trọng một kiếp người có thời gian hữu hạn là trăm năm, dù là bậc Vua Chúa hay người bình dân cũng bình đẳng trước cái chết và bên kia cỏi sáng, không hề có sự phân chia nào, tất cả đều phải hoàn thành trách nhiệm làm chủ lấy tâm hồn; những tư tưởng và hành động của mình trong mổi kiếp, Thiêng Đàng hay Địa Ngục cũng do chính chúng sáng tạo ra, không ai có quyền can thiệp nhân quả, dù cho kẻ ấy có uy quyền tuyệt đối, hảy vì sự tiến hóa cho chính mình bắt đầu cho sự tỉnh giác, dừng lại tất cả mọi nghiệp đang huân tập , thì cỏi sáng kia chính là Thiêng Đàng và chúng ta sẽ được bình an trong hạnh phúc vĩnh hằng ./.






Nam mô Cao Đài Tiên Oâng Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.



Năm kỷ mảo tháng 7 ngày mùng 9. (1999)



Thiên Nhiên Kỷ.