ChiDat
20-05-2005, 08:59 PM
ĐỨC PHẬT THÍCH-CA ĐÃ ĐỂ LẠI
DI SẢN GÌ CHO THẾ HỆ HẬU SINH ?
Trong thực tế cho chúng ta thấy hầu hết mọi người, nhất là giới Phật tử, … và ngay cả các Nhà sư cũng đã hiểu biết, thậm chí hiểu biết một cách cao thâm, và thường hằng thuyết giảng về : Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhơn duyên, … hay đề cập : Luật nhơn quả luân hồi, Từ bi hỉ xả, Sự hiếu thảo, … Những Thánh ngôn, Phật huấn ấy chính là khuôn vàng, thước ngọc mà sau 25 thế kỷ đã trải qua không biết bao nhiêu thế hệ được học tập, suy gẫm, rèn luyện, … và đã chuyển biến lời châu báu quí giá ấy thành hành động cụ thể trong đời sống văn hóa xã hội ngày càng thu họach được những hệ quả vô cùng tốt đẹp để phụng sự cho tổ quốc, cho thế giới và cho cả vạn linh sanh chúng.
Sáng ngày 08-04 Ất-Dậu, nhân dịp được nghe giáo sỹ Huệ-Ý thuyết trình đề tài : "Tu theo lời dạy của Đức Thích-Ca Mâu-Ni” đã làm cho tôi được nâng tầm hiểu biết, mở mang kiến thức, nhất là có thêm tri thức về Phật học.
Qua những điều được học, được tai nghe mắt thấy, và một khi (dù là trong khoảnh khắc) dâng hiến tâm hồn và thể xác, chí hy sinh và lòng yếu đuối, sự hiểu biết và điều tăm tối, … của mình xin được trình lên Đức THẾ-TÔN nói riêng, hai Đấng SÁNG-LẬP VŨ-TRỤ cùng chư PHẬT, TIÊN, THÁNH, THẦN nói chung. Bổng nhiên, tôi trực ngộ một số điều … xin được đề cập ra đây, kính xin Chư cao nhân chỉ giáo tôi trên con đường tu học và hành đạo, như sau :
1) Chủ trương hay Học thuyết của Đức THÍCH-CA, Đức LÃO-TỬ và Đức KHỔNG-TỬ vẫn là Một :
Sau một thời gian dài tu hành theo phương pháp ép xác, nghĩa là không tạo thêm nghiệp mới nữa bằng cách không ăn uống thực phẩm do người đời làm nên, mà Ngài vẫn chưa đắc đạo, thì lúc bấy giờ Đức A-DI-ĐÀ PHẬT đã hóa thân thành cô mục nữ đến và dâng bát sữa cho Ngài. Sau khi dùng bát sữa ấy, Ngài cảm thấy mình mạnh khỏe hơn, trí óc lại sáng suốt thông minh hơn nhiều so với trước đây. Và từ đó, Ngài sinh họat, ăn uống trở lại bình thường, tự nhiên. Hễ có nhơn duyên thì đón nhận, có điều kiện thuận lợi thì ban phát từ hình thức bố thí hay pháp thí (bố thí Ba-la mật-đa), …
Và Đức LÃO-TỬ thì dạy : "Địa pháp Nhơn, Nhơn pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên".
Còn Đức KHỔNG-TỬ đã để lại cho đời : “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong", tức là làm bất cứ việc gì không nên nghịch lý vớI Trời Đất.
Vậy thì ba vị Đại Tổ sư : Đức THÍCH-CA, Đức LÃO-TỬ và Đức KHỔNG-TỬ đều có cùng chủ trương, hễ cái gì tự nhiên, thuận lý với Trời Đất thì tốt, là con đường đi đến sự đạt Đạo, trở về với Ngôi MỘT.
2) Tại sao Đức THÍCH-CA chưa tròn Nhơn đạo, mà lại đắc Phật Vị?
Xin thưa : “Đại chơn linh của Đức THÍCH-CA đã chiết từ Đại linh quang của Đức NGỌC-HÒANG THƯỢNG-ĐẾ”. Trong đời sống thực tế, Đức Phật Thích-Ca chưa tròn Nhơn đạo : “Đạo làm con, Đạo làm chồng, Đạo làm cha, Đạo làm dân (vì Ngài đã thối thác ngôi Thái tử, và trong tương lai sẽ là Hang đế)”. Có một điều đặc biệt là thế gian này hiếm có ai mà đủ đại hùng, đại lực, đại chí, đại bi… dám bỏ cả ngai vàng, điện ngọc, tam cung lục viện, vợ đẹp con ngoan, và về hữu hình sắc tướng (vàng ngọc châu báu, …) , và Ngài muốn bất cứ việc gì đều được là như ý nguyện. Vậy mà Ngài từ chối. Thật là cao cả và vỹ đại, chỉ có một không hai. Có phải Ngài ham thích làm Phật không ? Cũng là không, vì lúc ấy Ngài cũng có biết chư Phật là gì ?
Sau khi quyết tâm tu hành, Ngài đã đắc pháp và đắc đạo giải thoát một kiếp làm người trong cõi trần phù du, giả tạm với đại nguyện là phổ độ chúng sanh. Và Ngài đã làm được, khi đắc chứng thành Phật, Đức THẾ-TÔN đã trở lại triều đình cứu rỗi cho phụ thân, hiền thê, hoàng tộc, … mà mọi người là vạn linh sanh chúng đều được ban trao đạo đức và hạnh phúc; còn đối với tổ quốc, dân tộc thì được hưởng thái bình, an lạc. Còn về mặt tâm linh, Đức Phật cũng đã cứu độ và giải tội các vị trong Cửu Huyền Thất Tổ của Ngài đã phạm luật Thiên điều được siêu thăng.
Có câu : “Nhất nhơn đắc đạo cứu Cửu Huyền thăng”.
Với thành quả vỹ đại ấy, nên loài người đã tôn vinh Ngài là THẾ-TÔN, nhưng đối với cõi Thiêng-liêng hằng sống (Cõi Đại Niết-Bàn) thì việc làm phi phàm ấy Ngài đã đắc Phật-vị là CHÁNH-ĐẲNG CHÁNH-GÍAC THIÊN-TÔN, mà từ cổ chí kim, duy nhất chỉ có Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA chứng quả ngôi vị cao cả ấy mà thôi.
Lời bàn thêm :
Từ Bài thuyết trình hôm nay, nhân dịp tôi được nghe, có :
1) “Một câu chuyện về nhóm Tăng sỹ đến nghe Đức Phật Thích-Ca giảng pháp. Sau hai lần nhóm Tăng sỹ này đều đến muộn không được thính pháp. Qua tìm hiểu từ vị Tăng lớn tuổi nhất thì Đức Phật được biết Cậu bé La-Hầu-La (hậu duệ của Đức Phật) nghịch phá làm cản trở việc không được nghe giảng đạo. Đức Phật bèn dạy La-Hầu-La : "Con hãy đi lấy chậu nước rữa sạch chân cha, …, sau đó hãy lấy nước đã dơ này mà uống, …, lấy chậu chứa nước dơ mà làm dụng cụ chứa thức ăn."
Sau đó, Đức Phật dạy tiếp : “Thân con chẳng khác nào cái chậu này, nước dơ làm cho chậu dơ. Nước dơ chẳng khác nào tâm dơ. Vậy La-Hầu-La, con hãy đừng để tâm dơ, thân dơ thêm lần nào nữa nha !
Từ cốt truyện này đã rút ra được bài học quí giá của Đức Phật dạy cho mọi người chúng ta ngày được thuần thành đạo đức qua hình ảnh cậu bé chỉ mới 8 tuổi. Đứng về phương diện Giáo dục, thì hoàn toàn đúng và tốt. Nhưng về phương diện Số mệnh học thì nhóm Tăng sỹ ấy chưa đủ phước duyên dể được nghe Đức Phật giảng pháp, mà đó cũng là bài học về sự chịu đựng, hay tính kiên nhẫn để không phải nãn chí ngã lòng. Một dẫn chứng mà người xưa để lại : "Châu-Văn-Vương, một vị vua mà phải lặn lội đến cả ba lần mới thỉnh mời được Khương-Tử-Nha ra giúp dân, giúp nước. Ngược lại, Khương-Tử-Nha phải đợi đến 81 tuổi thì thời cơ mới đến (vận hạn tốt), và phải để Văn-Vương mời chuộng đến lần thứ 3 thì mới đúng nhơn duyên, hợp ý Trời để phụng sự cho nhà Châu. Đó chẳng phải nhơn duyên đã đến, cơ hội đã gặp đó hay sao ?! Còn về Dịch-lý thì : "Thái-Cực sinh Lưỡng nghi, tức là Thái dương và Thái âm (Nghi dương và Nghi âm), Thái dương thì luôn động, còn Thái âm thì tịnh; ở con ngườI, con trai thì hiếu động, nghịch phá, nóng nảy, …, còn con gái thì thùy mị, nhẹ nhàng, êm dịu, … là lẽ tất nhiên, là rất đúng tánh tình của La-Hầu-La, cậu bé trai chỉ mới 8 tuổi..
2) Còn về sự tích Đức Phật Thích-Ca từ trong rừng trở về đem một mớ lá simcapa, các đệ tử gặp Thầy mới nói : “Bạch Thầy lá simcapa trên tay Thầy nhiều quá ! Đức Phật bèn hỏi : "Lá simcapa trên tay ta nhiều hay lá này trong rừng nhiều ?". Một vị đại đệ tử trả lời : ”Bạch Thầy lá ấy trong rừng nhiều”. Đức Phật giảng tiếp : "Sự hiểu biết của các ngươi như mớ lá trên tay ta, còn sự hiểu biết của ta giống như lá ấy trong rừng. Ta muốn truyền dạy tất cả những điều hiểu biết của ta cho các ngươi, nhưng chỉ e các ngươi không dung nạp nỗi".
Thật vậy, có những câu nói, hay lời dạy của Đức THẾ-TÔN đã hơn 2.500 năm mà chúng sinh vẫn chưa thấu hiểu hết. Chẳng hạn như mới sinh ra, Thái tử SỸ-ĐẠT-TA đã nói : "Thiên thượng, Thiên hạ duy ngã độc tôn". Và sau khi tu hành đắc đạo trở về cõi Thiêng-liêng hằng sống, Đại chơn linh Đức Phật THÍCH-CA đã hòa nhập vào Đại linh quang của Đức NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ, tức là Ngôi THÁI-CỰC, mà Thánh giáo Đạo CAO-ĐÀI đã xác nhân :
"NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ viết CAO-ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI BỒ-TÀT MA-HA-TÁT giáo Đạo Nam phương. NHIÊN-ĐĂNG CỔ PHẬT thị Ngã, THÍCH-CA MÂU-NI thị Ngã, THÁI-THƯỢNG NGƯƠN-THỈ thị Ngã kim viết CAO-ĐÀI".
Mà hễ có Ta thì có chúng sinh, chúng sinh tu học đắc đạo thành Phật, thành Trời, được chứng minh qua lời dạy :
"Thầy là các con, các con là Thầy" và "Có các con mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật".
Và trong nền ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ có sự thờ phượng được sắp đặt như sau :
* Trục Hoành (Chính, nằm ngang) :
- Ngôi cao nhất ở chính giũa trung tâm là PHẬT vị : có Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA, đại diện cho toàn thể các vị Phật.
- Ngôi cao nhất ở phía trái (ngoài nhìn vào) là TIÊN vị : có Đức THÁI-THƯỢNG ĐẠO-TỔ (tiền kiếp của Đức LÃO-TỬ), đại diện cho Quần Tiên Hội.
- Ngôi cao nhất ở phía phải là THÁNH vị : có Đức VĂN-TUYÊN KHỔNG-THÁNH (Đức Khổng-Tử), đại diện cho tất cả chư Thánh. Đó là ba ngôi vị cao nhất gọi là TAM-GIÁO TỔ SƯ, mà Đức PHẬT quản quyền tất cả hệ thống tung hoành, trái phải, trên dư?i.
* Trục Hoành phụ (nằm ngang thấp hơn trục Hoành chính 1 bậc) có :
- Vị thế chính giữa TIÊN vị : có Đức THÁI-BẠCH KIM TINH, tức là ngay dưới vị trí Đức Phật THÍCH-CA.
- Vị thế phía trái (ngoài nhìn vào) : có Đức QUAN-ÂM BỒ-TÁT, tức ngay dưới vị trí của Đức LÃO-TỬ.
- Vị thế phía phải : có Đức QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN, tức ngay dưới vị trí Đức KHỔNG-PHU-TỬ. Ba Đấng ở Trục Hoành phụ gọi là TAM-TRẤN OAI-NGHIÊM, phụ tá cho ba Đấng TAM-GIÁO TỔ SƯ.
* Trục Tung (thẳng dọc, từ trên xuống dưới) :
- Vị trí cao nhất là : Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA ở phẩm vị Phật.
- Vị trí thứ hai là : Đức THÁI-BẠCH KIM TINH ở phẩm vị TIÊN.
- Vị trí thứ ba là : Đức GIA-TÔ GIÁO CHỦ (Đức Chúa JÉSUS) ở phẩm vị THÁNH.
- Vị trí thứ tư là : Đức KHƯƠNG-THƯỢNG TỬ-NHA, ở phẩm vị THẦN.
- Vị trí thứ năm là : Tinh hoa của con người, ở phẩm vị NHƠN, tức vị thế thấp nhất của trục Tung, và cả trục Hoành.
Tóm lại, PHẬT vị là ngôi cao nhất (các vị Phật, từng là con người, sau đó tu hành đắc quả vị, là ngôi cận kề THIÊN vị, chính là ngôi TRỜI (Vô-Vi) không có âm thinh sắc tướng, mà hơn 2.549 năm qua chỉ có Đức Phật BỔN SƯ THÍCH-CA đã đến đích cuối cùng, và đã hòa nhập vào ĐẠI LINH-QUANG của Đấng CHÍ-TÔN THƯỢNG-ĐẾ tối cao chưởng quản 72 Thái dương hệ trong đó có 72 địa cầu, mà địa cầu chúng ta đang sinh sống mang số thứ tự là 68; ngoài ra còn có 36 cõi Trời, và ba ngàn thế giới khác nữa.
Qua lời dạy của Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA đã ban truyền cho các thế hệ chúng ta :
1) Tu học và hành đạo phải thuận tùng Thiên lý, tức là phải tự nhiên, bình thản, trung hòa, tức là không cượng cầu, áp đặt cũng như chẳng thái quá hay bất cập.
Muốn tu Phật đạo, trư?c hết phải cố gắng làm tròn Nhơn đạo, tức là phải lấy trung hiếu làm nền tảng, nam thì có thêm Ngũ thư?ng (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), còn Nữ lại có Tứ đức (công, ngôn, dung, hạnh) và luôn bổ trợ cho nhau trong đời sống thư?ng ngày của mình. Vì hầu hết mọi người chúng ta đều là Tiểu chơn linh, còn Đức THẾ-TÔN là Đại chơn linh, bổn phận Nhơn đạo (Hiếu để, liêm sỉ, thủy chung …) của chúng ta là vừa tầm, thậm chí đa số ngư?i cũng chưa làm tròn, có đâu đạt đư?c cảnh giới Siêu linh tịch diệu của cõi Đại Niết-Bàn, nơi Đức Phật ngự. Bởi thế, Đức THẾ-TÔN giáng trần, Ngài đi thẳng một con đư?ng giải thoát duy nhất, đó là Đại hiếu với Trời Đất, và khi đắc thành Phật vị Ngài mới quày lại cứu rỗi vạn linh sanh chúng trong đó có Hoàng tộc, Cửu huyền Thất tổ,… Quốc gia và Dân tộc,… Ở VN ta, có biết bao nhiêu ngư?i chưa hoàn thành Nhơn đạo, nhưng vẫn đắc Thần, Thánh, Tiên vi, ... như : Nữ Thần TRƯNG-TRẮC, Đại Thần TRẦN-BÌNH-TRỌNG, Thánh Gióng PHÙ-ĐỔNG THIÊN-VƯƠNG, Đức Thánh TRẦN-HƯNG-ĐẠO, … vì các Đấng này cùng theo con đư?ng tiến hóa của vũ trụ (về mặt tâm linh), tuy rằng các vị ấy chỉ trung quân, ái quốc mà thôi, nhưng trong chữ Trung ấy đã hàm chứa chữ Hiếu nghĩa liêm sỉ, … của đạo làm Người rồi.
2) Đức Phật giảng pháp cho các Tăng sỷ thời ấy, tuy chưa nghe đư?c lời dạy, mà cũng đã học được : tính nhẫn nại, sự chịu đựng. Đó là bài học thật quí giá cho mọi ngư?i chúng ta vậy.
3) Tất cả vạn vật trong cõi trần này đều có sự sắp đặt của Trời Đất, mà cổ nhân đã dạy : “Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định”, và cụ NGUYỄN-DU cũng đã đề cập đến :
"Gẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân,
Bắt phong trần, phải phong trần,
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao".
Đó chính là số phận (định mệnh), hay nhơn duyên (nguyên nhân, hậu quả) của mình tạo nên thì vòng luân hồi sinh tử quay trở lại (Thiên Địa tuần hư?n chu nhi phục thỉ), mình lại trút đổ cho Trời Đất, thì Trời Đất cũng chẳng nói, chẳng rằng, nhận mà cũng không nhận vậy.
4) Cuối cùng là bài học vô cùng quí giá. Đó là sự đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cái tốt với cái xấu, điều thiện với điều ác, việc chánh với việc tà, … và gay gắt nhất là giữa một khối khổng lồ "danh, lợi, tình, quyền" với "tinh thần đạo đức”, mà hậu duệ của Đức THẾ-TÔN : LA-HẦU-LA đã chiến thắng được chính mình, không bị cám dỗ bởi tột cùng của "vinh hoa phú quý ở trần gian, là nhờ câu nói bất hủ của Đức ĐẲNG-GIÁC MÂU-NI :
"Thắng cả vạn giặc, không bằng tự thắng chính mình"./.
Mùa Phật Đản Ất-Dậu 2549
Tệ sỹ CHÍ -ĐẠT (Nguyễn-Hữu-Nhơn)
DI SẢN GÌ CHO THẾ HỆ HẬU SINH ?
Trong thực tế cho chúng ta thấy hầu hết mọi người, nhất là giới Phật tử, … và ngay cả các Nhà sư cũng đã hiểu biết, thậm chí hiểu biết một cách cao thâm, và thường hằng thuyết giảng về : Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhơn duyên, … hay đề cập : Luật nhơn quả luân hồi, Từ bi hỉ xả, Sự hiếu thảo, … Những Thánh ngôn, Phật huấn ấy chính là khuôn vàng, thước ngọc mà sau 25 thế kỷ đã trải qua không biết bao nhiêu thế hệ được học tập, suy gẫm, rèn luyện, … và đã chuyển biến lời châu báu quí giá ấy thành hành động cụ thể trong đời sống văn hóa xã hội ngày càng thu họach được những hệ quả vô cùng tốt đẹp để phụng sự cho tổ quốc, cho thế giới và cho cả vạn linh sanh chúng.
Sáng ngày 08-04 Ất-Dậu, nhân dịp được nghe giáo sỹ Huệ-Ý thuyết trình đề tài : "Tu theo lời dạy của Đức Thích-Ca Mâu-Ni” đã làm cho tôi được nâng tầm hiểu biết, mở mang kiến thức, nhất là có thêm tri thức về Phật học.
Qua những điều được học, được tai nghe mắt thấy, và một khi (dù là trong khoảnh khắc) dâng hiến tâm hồn và thể xác, chí hy sinh và lòng yếu đuối, sự hiểu biết và điều tăm tối, … của mình xin được trình lên Đức THẾ-TÔN nói riêng, hai Đấng SÁNG-LẬP VŨ-TRỤ cùng chư PHẬT, TIÊN, THÁNH, THẦN nói chung. Bổng nhiên, tôi trực ngộ một số điều … xin được đề cập ra đây, kính xin Chư cao nhân chỉ giáo tôi trên con đường tu học và hành đạo, như sau :
1) Chủ trương hay Học thuyết của Đức THÍCH-CA, Đức LÃO-TỬ và Đức KHỔNG-TỬ vẫn là Một :
Sau một thời gian dài tu hành theo phương pháp ép xác, nghĩa là không tạo thêm nghiệp mới nữa bằng cách không ăn uống thực phẩm do người đời làm nên, mà Ngài vẫn chưa đắc đạo, thì lúc bấy giờ Đức A-DI-ĐÀ PHẬT đã hóa thân thành cô mục nữ đến và dâng bát sữa cho Ngài. Sau khi dùng bát sữa ấy, Ngài cảm thấy mình mạnh khỏe hơn, trí óc lại sáng suốt thông minh hơn nhiều so với trước đây. Và từ đó, Ngài sinh họat, ăn uống trở lại bình thường, tự nhiên. Hễ có nhơn duyên thì đón nhận, có điều kiện thuận lợi thì ban phát từ hình thức bố thí hay pháp thí (bố thí Ba-la mật-đa), …
Và Đức LÃO-TỬ thì dạy : "Địa pháp Nhơn, Nhơn pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên".
Còn Đức KHỔNG-TỬ đã để lại cho đời : “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong", tức là làm bất cứ việc gì không nên nghịch lý vớI Trời Đất.
Vậy thì ba vị Đại Tổ sư : Đức THÍCH-CA, Đức LÃO-TỬ và Đức KHỔNG-TỬ đều có cùng chủ trương, hễ cái gì tự nhiên, thuận lý với Trời Đất thì tốt, là con đường đi đến sự đạt Đạo, trở về với Ngôi MỘT.
2) Tại sao Đức THÍCH-CA chưa tròn Nhơn đạo, mà lại đắc Phật Vị?
Xin thưa : “Đại chơn linh của Đức THÍCH-CA đã chiết từ Đại linh quang của Đức NGỌC-HÒANG THƯỢNG-ĐẾ”. Trong đời sống thực tế, Đức Phật Thích-Ca chưa tròn Nhơn đạo : “Đạo làm con, Đạo làm chồng, Đạo làm cha, Đạo làm dân (vì Ngài đã thối thác ngôi Thái tử, và trong tương lai sẽ là Hang đế)”. Có một điều đặc biệt là thế gian này hiếm có ai mà đủ đại hùng, đại lực, đại chí, đại bi… dám bỏ cả ngai vàng, điện ngọc, tam cung lục viện, vợ đẹp con ngoan, và về hữu hình sắc tướng (vàng ngọc châu báu, …) , và Ngài muốn bất cứ việc gì đều được là như ý nguyện. Vậy mà Ngài từ chối. Thật là cao cả và vỹ đại, chỉ có một không hai. Có phải Ngài ham thích làm Phật không ? Cũng là không, vì lúc ấy Ngài cũng có biết chư Phật là gì ?
Sau khi quyết tâm tu hành, Ngài đã đắc pháp và đắc đạo giải thoát một kiếp làm người trong cõi trần phù du, giả tạm với đại nguyện là phổ độ chúng sanh. Và Ngài đã làm được, khi đắc chứng thành Phật, Đức THẾ-TÔN đã trở lại triều đình cứu rỗi cho phụ thân, hiền thê, hoàng tộc, … mà mọi người là vạn linh sanh chúng đều được ban trao đạo đức và hạnh phúc; còn đối với tổ quốc, dân tộc thì được hưởng thái bình, an lạc. Còn về mặt tâm linh, Đức Phật cũng đã cứu độ và giải tội các vị trong Cửu Huyền Thất Tổ của Ngài đã phạm luật Thiên điều được siêu thăng.
Có câu : “Nhất nhơn đắc đạo cứu Cửu Huyền thăng”.
Với thành quả vỹ đại ấy, nên loài người đã tôn vinh Ngài là THẾ-TÔN, nhưng đối với cõi Thiêng-liêng hằng sống (Cõi Đại Niết-Bàn) thì việc làm phi phàm ấy Ngài đã đắc Phật-vị là CHÁNH-ĐẲNG CHÁNH-GÍAC THIÊN-TÔN, mà từ cổ chí kim, duy nhất chỉ có Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA chứng quả ngôi vị cao cả ấy mà thôi.
Lời bàn thêm :
Từ Bài thuyết trình hôm nay, nhân dịp tôi được nghe, có :
1) “Một câu chuyện về nhóm Tăng sỹ đến nghe Đức Phật Thích-Ca giảng pháp. Sau hai lần nhóm Tăng sỹ này đều đến muộn không được thính pháp. Qua tìm hiểu từ vị Tăng lớn tuổi nhất thì Đức Phật được biết Cậu bé La-Hầu-La (hậu duệ của Đức Phật) nghịch phá làm cản trở việc không được nghe giảng đạo. Đức Phật bèn dạy La-Hầu-La : "Con hãy đi lấy chậu nước rữa sạch chân cha, …, sau đó hãy lấy nước đã dơ này mà uống, …, lấy chậu chứa nước dơ mà làm dụng cụ chứa thức ăn."
Sau đó, Đức Phật dạy tiếp : “Thân con chẳng khác nào cái chậu này, nước dơ làm cho chậu dơ. Nước dơ chẳng khác nào tâm dơ. Vậy La-Hầu-La, con hãy đừng để tâm dơ, thân dơ thêm lần nào nữa nha !
Từ cốt truyện này đã rút ra được bài học quí giá của Đức Phật dạy cho mọi người chúng ta ngày được thuần thành đạo đức qua hình ảnh cậu bé chỉ mới 8 tuổi. Đứng về phương diện Giáo dục, thì hoàn toàn đúng và tốt. Nhưng về phương diện Số mệnh học thì nhóm Tăng sỹ ấy chưa đủ phước duyên dể được nghe Đức Phật giảng pháp, mà đó cũng là bài học về sự chịu đựng, hay tính kiên nhẫn để không phải nãn chí ngã lòng. Một dẫn chứng mà người xưa để lại : "Châu-Văn-Vương, một vị vua mà phải lặn lội đến cả ba lần mới thỉnh mời được Khương-Tử-Nha ra giúp dân, giúp nước. Ngược lại, Khương-Tử-Nha phải đợi đến 81 tuổi thì thời cơ mới đến (vận hạn tốt), và phải để Văn-Vương mời chuộng đến lần thứ 3 thì mới đúng nhơn duyên, hợp ý Trời để phụng sự cho nhà Châu. Đó chẳng phải nhơn duyên đã đến, cơ hội đã gặp đó hay sao ?! Còn về Dịch-lý thì : "Thái-Cực sinh Lưỡng nghi, tức là Thái dương và Thái âm (Nghi dương và Nghi âm), Thái dương thì luôn động, còn Thái âm thì tịnh; ở con ngườI, con trai thì hiếu động, nghịch phá, nóng nảy, …, còn con gái thì thùy mị, nhẹ nhàng, êm dịu, … là lẽ tất nhiên, là rất đúng tánh tình của La-Hầu-La, cậu bé trai chỉ mới 8 tuổi..
2) Còn về sự tích Đức Phật Thích-Ca từ trong rừng trở về đem một mớ lá simcapa, các đệ tử gặp Thầy mới nói : “Bạch Thầy lá simcapa trên tay Thầy nhiều quá ! Đức Phật bèn hỏi : "Lá simcapa trên tay ta nhiều hay lá này trong rừng nhiều ?". Một vị đại đệ tử trả lời : ”Bạch Thầy lá ấy trong rừng nhiều”. Đức Phật giảng tiếp : "Sự hiểu biết của các ngươi như mớ lá trên tay ta, còn sự hiểu biết của ta giống như lá ấy trong rừng. Ta muốn truyền dạy tất cả những điều hiểu biết của ta cho các ngươi, nhưng chỉ e các ngươi không dung nạp nỗi".
Thật vậy, có những câu nói, hay lời dạy của Đức THẾ-TÔN đã hơn 2.500 năm mà chúng sinh vẫn chưa thấu hiểu hết. Chẳng hạn như mới sinh ra, Thái tử SỸ-ĐẠT-TA đã nói : "Thiên thượng, Thiên hạ duy ngã độc tôn". Và sau khi tu hành đắc đạo trở về cõi Thiêng-liêng hằng sống, Đại chơn linh Đức Phật THÍCH-CA đã hòa nhập vào Đại linh quang của Đức NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ, tức là Ngôi THÁI-CỰC, mà Thánh giáo Đạo CAO-ĐÀI đã xác nhân :
"NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ viết CAO-ĐÀI TIÊN-ÔNG ĐẠI BỒ-TÀT MA-HA-TÁT giáo Đạo Nam phương. NHIÊN-ĐĂNG CỔ PHẬT thị Ngã, THÍCH-CA MÂU-NI thị Ngã, THÁI-THƯỢNG NGƯƠN-THỈ thị Ngã kim viết CAO-ĐÀI".
Mà hễ có Ta thì có chúng sinh, chúng sinh tu học đắc đạo thành Phật, thành Trời, được chứng minh qua lời dạy :
"Thầy là các con, các con là Thầy" và "Có các con mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật".
Và trong nền ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ có sự thờ phượng được sắp đặt như sau :
* Trục Hoành (Chính, nằm ngang) :
- Ngôi cao nhất ở chính giũa trung tâm là PHẬT vị : có Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA, đại diện cho toàn thể các vị Phật.
- Ngôi cao nhất ở phía trái (ngoài nhìn vào) là TIÊN vị : có Đức THÁI-THƯỢNG ĐẠO-TỔ (tiền kiếp của Đức LÃO-TỬ), đại diện cho Quần Tiên Hội.
- Ngôi cao nhất ở phía phải là THÁNH vị : có Đức VĂN-TUYÊN KHỔNG-THÁNH (Đức Khổng-Tử), đại diện cho tất cả chư Thánh. Đó là ba ngôi vị cao nhất gọi là TAM-GIÁO TỔ SƯ, mà Đức PHẬT quản quyền tất cả hệ thống tung hoành, trái phải, trên dư?i.
* Trục Hoành phụ (nằm ngang thấp hơn trục Hoành chính 1 bậc) có :
- Vị thế chính giữa TIÊN vị : có Đức THÁI-BẠCH KIM TINH, tức là ngay dưới vị trí Đức Phật THÍCH-CA.
- Vị thế phía trái (ngoài nhìn vào) : có Đức QUAN-ÂM BỒ-TÁT, tức ngay dưới vị trí của Đức LÃO-TỬ.
- Vị thế phía phải : có Đức QUAN-THÁNH ĐẾ-QUÂN, tức ngay dưới vị trí Đức KHỔNG-PHU-TỬ. Ba Đấng ở Trục Hoành phụ gọi là TAM-TRẤN OAI-NGHIÊM, phụ tá cho ba Đấng TAM-GIÁO TỔ SƯ.
* Trục Tung (thẳng dọc, từ trên xuống dưới) :
- Vị trí cao nhất là : Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA ở phẩm vị Phật.
- Vị trí thứ hai là : Đức THÁI-BẠCH KIM TINH ở phẩm vị TIÊN.
- Vị trí thứ ba là : Đức GIA-TÔ GIÁO CHỦ (Đức Chúa JÉSUS) ở phẩm vị THÁNH.
- Vị trí thứ tư là : Đức KHƯƠNG-THƯỢNG TỬ-NHA, ở phẩm vị THẦN.
- Vị trí thứ năm là : Tinh hoa của con người, ở phẩm vị NHƠN, tức vị thế thấp nhất của trục Tung, và cả trục Hoành.
Tóm lại, PHẬT vị là ngôi cao nhất (các vị Phật, từng là con người, sau đó tu hành đắc quả vị, là ngôi cận kề THIÊN vị, chính là ngôi TRỜI (Vô-Vi) không có âm thinh sắc tướng, mà hơn 2.549 năm qua chỉ có Đức Phật BỔN SƯ THÍCH-CA đã đến đích cuối cùng, và đã hòa nhập vào ĐẠI LINH-QUANG của Đấng CHÍ-TÔN THƯỢNG-ĐẾ tối cao chưởng quản 72 Thái dương hệ trong đó có 72 địa cầu, mà địa cầu chúng ta đang sinh sống mang số thứ tự là 68; ngoài ra còn có 36 cõi Trời, và ba ngàn thế giới khác nữa.
Qua lời dạy của Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA đã ban truyền cho các thế hệ chúng ta :
1) Tu học và hành đạo phải thuận tùng Thiên lý, tức là phải tự nhiên, bình thản, trung hòa, tức là không cượng cầu, áp đặt cũng như chẳng thái quá hay bất cập.
Muốn tu Phật đạo, trư?c hết phải cố gắng làm tròn Nhơn đạo, tức là phải lấy trung hiếu làm nền tảng, nam thì có thêm Ngũ thư?ng (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), còn Nữ lại có Tứ đức (công, ngôn, dung, hạnh) và luôn bổ trợ cho nhau trong đời sống thư?ng ngày của mình. Vì hầu hết mọi người chúng ta đều là Tiểu chơn linh, còn Đức THẾ-TÔN là Đại chơn linh, bổn phận Nhơn đạo (Hiếu để, liêm sỉ, thủy chung …) của chúng ta là vừa tầm, thậm chí đa số ngư?i cũng chưa làm tròn, có đâu đạt đư?c cảnh giới Siêu linh tịch diệu của cõi Đại Niết-Bàn, nơi Đức Phật ngự. Bởi thế, Đức THẾ-TÔN giáng trần, Ngài đi thẳng một con đư?ng giải thoát duy nhất, đó là Đại hiếu với Trời Đất, và khi đắc thành Phật vị Ngài mới quày lại cứu rỗi vạn linh sanh chúng trong đó có Hoàng tộc, Cửu huyền Thất tổ,… Quốc gia và Dân tộc,… Ở VN ta, có biết bao nhiêu ngư?i chưa hoàn thành Nhơn đạo, nhưng vẫn đắc Thần, Thánh, Tiên vi, ... như : Nữ Thần TRƯNG-TRẮC, Đại Thần TRẦN-BÌNH-TRỌNG, Thánh Gióng PHÙ-ĐỔNG THIÊN-VƯƠNG, Đức Thánh TRẦN-HƯNG-ĐẠO, … vì các Đấng này cùng theo con đư?ng tiến hóa của vũ trụ (về mặt tâm linh), tuy rằng các vị ấy chỉ trung quân, ái quốc mà thôi, nhưng trong chữ Trung ấy đã hàm chứa chữ Hiếu nghĩa liêm sỉ, … của đạo làm Người rồi.
2) Đức Phật giảng pháp cho các Tăng sỷ thời ấy, tuy chưa nghe đư?c lời dạy, mà cũng đã học được : tính nhẫn nại, sự chịu đựng. Đó là bài học thật quí giá cho mọi ngư?i chúng ta vậy.
3) Tất cả vạn vật trong cõi trần này đều có sự sắp đặt của Trời Đất, mà cổ nhân đã dạy : “Nhất ẩm, nhất trác giai do tiền định”, và cụ NGUYỄN-DU cũng đã đề cập đến :
"Gẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắt làm người có thân,
Bắt phong trần, phải phong trần,
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao".
Đó chính là số phận (định mệnh), hay nhơn duyên (nguyên nhân, hậu quả) của mình tạo nên thì vòng luân hồi sinh tử quay trở lại (Thiên Địa tuần hư?n chu nhi phục thỉ), mình lại trút đổ cho Trời Đất, thì Trời Đất cũng chẳng nói, chẳng rằng, nhận mà cũng không nhận vậy.
4) Cuối cùng là bài học vô cùng quí giá. Đó là sự đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cái tốt với cái xấu, điều thiện với điều ác, việc chánh với việc tà, … và gay gắt nhất là giữa một khối khổng lồ "danh, lợi, tình, quyền" với "tinh thần đạo đức”, mà hậu duệ của Đức THẾ-TÔN : LA-HẦU-LA đã chiến thắng được chính mình, không bị cám dỗ bởi tột cùng của "vinh hoa phú quý ở trần gian, là nhờ câu nói bất hủ của Đức ĐẲNG-GIÁC MÂU-NI :
"Thắng cả vạn giặc, không bằng tự thắng chính mình"./.
Mùa Phật Đản Ất-Dậu 2549
Tệ sỹ CHÍ -ĐẠT (Nguyễn-Hữu-Nhơn)