PDA

View Full Version : Trao đổi xung quanh loạt bài "Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn đ


phapvan
13-03-2008, 08:56 PM
Trao đổi xung quanh loạt bài "Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động"
23:46:00, 11/03/2008

Trong và sau khi Thanh Niên đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động, đã có nhiều nhà nghiên cứu và bạn đọc gửi thư, viết bài hưởng ứng và tranh biện. Một số báo như Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Thể Thao & Văn hóa, Nhà báo & Công luận... cũng đã đăng bài trao đổi. Để rộng đường dư luận và trao đổi học thuật, chúng tôi sẽ lần lượt đăng một số bài viết thể hiện các ý kiến khác nhau.

Chúng tôi mong muốn những phát hiện mới về lịch sử cũng như những ý kiến tranh luận sẽ sớm được các cơ quan khoa học về lịch sử thẩm định, đánh giá, kết luận, nhằm góp phần làm sáng rõ những trang sử vẻ vang của dân tộc, nhất là vào các thời kỳ nước ta không có hoặc có rất ít sử liệu. Số báo này xin giới thiệu nguyên văn bài viết của ông Trương Thái Du và bài viết của nhà giáo Hà Văn Thịnh.

Đôi lời với những phát hiện lịch sử chấn động

Từ ngày 27.2.2008 đến 6.3.2008, Báo Thanh Niên liên tiếp đăng loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động của tác giả Hoàng Hải Vân. Vì yêu thích cổ sử và ít nhiều đã có những biên khảo nhỏ ở góc độ nghiệp dư, tôi đặc biệt chú ý và theo dõi rất kỹ vấn đề ông Thát theo đuổi. Từ gợi ý của Thanh Niên, tôi đã vừa đọc báo, vừa tìm hiểu quyển Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của tác giả Lê Mạnh Thát. XNB Tổng hợp TP.HCM - 2006 (LĐTK).

Một số điểm nổi bật

Xuyên suốt loạt bài báo và quyển LĐTK, có thể nhận ra ngay mấy vấn đề rất mới ông Thát đưa ra là:

1. Truyện mẹ Âu Cơ đẻ trăm trứng nở trăm con có nguồn gốc từ nước Phật.

2. Truyền thuyết An Dương Vương không có thật, nó là phiên bản của một câu chuyện Ấn Độ.

3. Triệu Đà chưa từng xâm lược nước Việt cổ.

4. Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam trước thời Hai Bà Trưng là những quận mà triều đình Hán "đoạt khống", tức đặt tên trên bản đồ nhưng không chiếm đóng trực tiếp.

Kết hợp với việc giải mã lịch sử ẩn trong kinh Phật, ông Thát chứng minh từ Vua Hùng đến Hai Bà Trưng nước ta hoàn toàn độc lập, có đầy đủ chữ viết, luật tục, thi thơ lễ nhạc.

Quan điểm của ông Lê Mạnh Thát thiên về tính bản địa của văn minh Việt Nam, nó tương đồng với các nghiên cứu của nhiều sử gia lớn như Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn... Đúng là không thể phủ nhận truyền thuyết An Dương Vương có cái vỏ Mahãbhãrata. Tuy vậy ông Thát đã bỏ qua vài chi tiết rất quan trọng góp phần tạo dựng truyền thuyết An Dương Vương: Tích Trương Nghi theo đường rùa bò xây thành tại nước Thục (TK 4 TCN). Theo sách "Đông Kinh hoa mộng lục", thời Hậu Chu (951-959) tại Trung Quốc có xây dựng Loa thành hình xoáy trôn ốc, có ba vòng là Thành ngoại, Thành nội và Hoàng thành. Thành này hiện vẫn còn di tích tại thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Đó là chưa kể truyện dân gian "Thần cung bảo kiếm" của người Choang ở Quảng Tây có motip rất "An Dương Vương".

Bằng việc rút mắt xích An Dương Vương và Triệu Đà khỏi chuỗi Vua Hùng - An Dương Vương - Triệu Đà - Hai Bà Trưng, ông Thát bắt buộc phải bẻ cong sử liệu để nối Vua Hùng trực tiếp với Hai Bà Trưng. Phương pháp luận này lập tức tạo ra một lỗ hổng lớn như sau:

Thời Hùng Vương qua truyền thuyết nước ta chỉ có thể đang ở chế độ Phụ hệ hoặc Mẫu hệ với lãnh tụ là nam giới. Trong khi đó thời Hai Bà Trưng thì chắc chắn nước ta ở chế độ Mẫu quyền. Nội hàm mẫu quyền bao gồm mẫu hệ và lãnh tụ là nữ giới.

Chuỗi Hùng Vương - Hai Bà Trưng của ông Thát sẽ phô ra sự thụt lùi phi thực tế của văn minh Việt cổ, đi ngược lại hình thái phát triển chung của nhân loại là Mẫu quyền đến Mẫu hệ rồi mới đến Phụ quyền. Hơn nữa, dù tham khảo thêm khái niệm "Mô hình xã hội lưỡng hệ" của GS sử học Hàn Quốc In Sun Yu trong quyển "Việt Nam học, kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ nhất, Hà Nội 15-17.7.1998 tập 4 (NXB Thế giới 2001)", ta vẫn thấy sự bất cập của chuỗi Hùng Vương - Hai Bà Trưng.

Nhằm cởi bỏ mâu thuẫn này, không ít học giả xưa nay nghi ngờ đã có những cuộc di cư lớn của người Lạc Việt từ miền nam Trung Hoa đến đồng bằng sông Hồng, dưới sức ép bành trướng lãnh thổ cũng như xâm lăng văn hóa của văn minh Hoa Hạ. Hệ lụy của cuộc di tản bất đắc dĩ đã khiến xã hội Lạc Việt đi giật lùi, trở ngược về hình thái xã hội Mẫu quyền. Tiếc là hướng nghiên cứu ấy sẽ phủ nhận thuyết bản địa của văn minh Việt Nam, điều mà toàn bộ quyển sách LĐTK nói riêng và nền sử học Việt Nam không đồng tình.

Vì cố gắng khỏa lấp lỗ hổng này, Lê Mạnh Thát đã mạnh dạn "Xác định Việt Thường là Cửu Chân" và "Nói thẳng ra, nước ta gồm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam cho đến năm 43 sdl vẫn là một nước độc lập, các vua Hùng vẫn cai trị và nước có tên là Việt thường hay Việt thường thị" (LĐTK trang 318, 319). Nghĩa là ông Lê Mạnh Thát chia cho vua Hùng quận Cửu Chân, Hai Bà Trưng quận Giao Chỉ (!?). Xin các bạn tự kết luận sau khi cùng tôi tham khảo Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, NXB VHTT 2005, trang 218, 219: "Sách Điền Hệ của Súy Phạm viết về các dân tộc thiểu số ở miền Vân Nam cho biết rằng một dân tộc thiểu số tên là Sản Lý hay Xa Ly, có truyền thuyết nói rằng đời Chu Thành vương họ sai xứ giả đến triều cống, khi về được Chu công cho xe chỉ nam, vì thế họ lấy tên là Xa Lý. Lại có một dân tộc khác là Lão Qua có truyền thuyết rằng ở thời nhà Chu, tổ tiên của họ là nước Việt Thường. Sách Điền nam tạp chí thì nói Diến Điện là nước Việt Thường xưa. Những dân tộc kể trên nhận Việt Thường là tổ tiên xa của mình đều có thể là di duệ của người Di Việt, tức của người Việt tộc xưa cả. Do đó chúng ta có thể đoán rằng nước Việt Thường xưa, một nước của Việt tộc ở miền nam Dương Tử, có thể tồn tại thực, cho nên một số dân tộc di duệ của Việt tộc ngày nay, trong ấy có Việt Nam, vẫn còn ghi nhớ mà xem như nước tổ của mình".

Nghi ngờ trên phương diện văn bản học khái niệm "Đoạt khống"

Gút mắc lớn nhất và chấn động lớn nhất theo tôi, là việc ông Lê Mạnh Thát khẳng định ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam là "... "đoạt khống" đất đai nhằm thỏa mãn não trạng và ao ước bành trướng của nhà Hán mà thôi". Lập luận của bài báo là: Tượng Quận nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam hiện đại. Trích báo: "Một số tài liệu Trung Quốc có chép một cách lầm lạc rằng nó là Nhật Nam (nước ta) sau này, nhưng đối chiếu với những tài liệu tin cậy cũng của chính Trung Quốc, từ rất sớm người ta đã biết Tượng Quận nằm giữa hai quận Uất Lâm và Tường Kha của Trung Quốc chứ không phải nước ta". Quan điểm này đã có hàng trăm năm nay với những cái tên quen thuộc như Maspero, hoặc hoàn toàn xa lạ như Guime Saeki (Tạp chí Nam Phong, số 133, năm 1928). Thực ra Nguyễn Văn Tố (1) đã bác bỏ Maspero một cách thuyết phục như sau: Hán Thư chép năm 76 TCN bỏ Tượng Quận, lấy đất ấy nhập vào Uất Lâm và Tường Kha. Đây là Tượng Quận của đời Hán chứ không phải của đời Tần. Quyển Lĩnh Ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi có đoạn nói Hán Vũ Đế chiếm Nam Hải đã tách Tượng Quận của Tần làm ba Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, lại cắt một ít Nam Hải và Tượng Quận để thành Hợp Phố. Nguyễn Văn Tố đã đi xa hơn khi khẳng định "...người Tần bấy giờ mới đi đến Quế Lâm, còn từ Quế Lâm trở vào chẳng biết rộng hẹp thế nào, cứ đặt một quận để gọi là có tên..." (2).

Trước tháng 10 năm 2004, trước khi sách của ông Thát ra đời gần 2 năm, trong nhiều bài khảo cứu đăng trên mạng tôi đã chứng minh bằng thiên văn một cách có hệ thống tính khái niệm của ba từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Nó tương đồng hoàn toàn với định nghĩa "đoạt khống" của ông Thát. Về phần tôi, khó ai có thể quy kết tôi đã tham khảo ông Thát khi dùng thuật toán thiên văn rất riêng của một người đi biển yêu cổ sử. Trên giấy trắng mực đen của văn bản học, người nêu ra vấn đề trước (2004) có quyền nghi ngờ người in sách sau (2006). Nếu độc giả tin tưởng ông Thát, xin vui lòng giúp ông Thát chứng minh giữa sách in và bản thảo có khoảng cách "an toàn", giúp hai hướng nghiên cứu này cùng góp phần làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam.

Về sử liệu ông Lê Mạnh Thát sử dụng

Sử liệu về cổ sử Việt Nam thật ít ỏi, phần lớn là sách Trung Quốc và truyền thuyết dân gian. Đến thời đại văn minh mạng máy tính hôm nay, chúng ta không những có nhiều công trình biên khảo của người Việt xuất bản liên tục, mà còn có thể truy đến nguyên văn Hoa ngữ khá đầy đủ, hệ thống và khoa học trên các trang web Trung Quốc cũng như Đài Loan. Tiếc là phần lớn LĐTK của ông Thát viết cách đây đã 40 năm, sử liệu Trung Hoa ông dùng thiếu độ liền lạc, đầy đủ cũng như không được cập nhật. Hơn nữa ông chỉ dịch cắt khúc từ những nguồn rất cũ như Tiền Hán thơ 44 7al-11a13, hoặc Sử Ký 112 tờ 7b10-8a3.v.v... mà không hề có bản tiếng Hoa kèm theo. Phần dịch sử liệu chiếm hơn một phần ba của LĐTK dày 365 trang. Điều này gây khó khăn cho người khảo cứu và các sinh viên khoa sử muốn xem sách của ông như một tài liệu tham khảo hữu dụng, và lại càng đánh đố những ai muốn "tra tận gốc" sử liệu của ông Thát như gợi ý của Báo Thanh Niên.

Ngoài ra có thể nói ông Lê Mạnh Thát đã khai thác một chiều sử liệu Trung Hoa: Suốt LĐTK, ông sử dụng khá nhiều văn bản Trung Hoa, nhưng đáng tiếc phương pháp của ông rất cảm tính. Thứ gì có lợi cho thuyết của ông thì ông xem như chân lý và không thèm nhìn nhận nó dưới nhiều góc độ. Việc "phân đất" Cửu Chân cho vua Hùng ở trên là ví dụ thứ nhất. Ví dụ thứ hai: Trong mục "Về vấn đề chín quận" trang 319 đến 327, ông Thát dẫn từ Tiền Hán Thư các con số thống kê dân số năm thứ 2 sau công nguyên. Ông xem nó đúng một cách tuyệt đối và dông dài phân tích các con số. Ở đây tôi muốn trích lời Stephen O'Harrow, trong quyển Những vấn đề lịch sử Việt Nam, NXB Trẻ 2001, trang 30, bình luận trên cùng những con số này: "Vào đầu thế kỷ I sau công nguyên, người Trung Hoa nói chung cũng không thật giỏi giang và chính xác lắm, chưa kể họ còn sử dụng tri thức vì lợi ích của họ".

Một dẫn chứng nữa: Ngày nay, dưới nhãn quan thiên văn hiện đại, người ta phát hiện rất nhiều ghi chép thiên văn cổ Trung Hoa có những sai lệch khá ngờ nghệch. Chẳng hạn các sao hung cát đã không ít lần được các sử quan cho chiếu xuống Trung Quốc không theo chu kỳ mà đa số sử quan đã rất am tường. Giả thiết là, đây hẳn nhiên mang dấu ấn chính trị nhằm tác động đến nhóm người mê tín nào đó có quyền đưa ra các quyết sách quan trọng.

Nếu lật ngược con số nhân khẩu Giao Chỉ rất lớn ở Tiền Hán Thư, ta hoàn toàn có thể đưa ra giả thiết: Nhóm mang dã tâm bành trướng trong triều đình Hán muốn kê dân số Giao Chỉ lên cao để chứng minh nơi này đất rộng người đông, sản vật phong phú, nếu chiếm đóng sẽ mang nhiều lợi ích cho Hán tộc. Đọc truyện Giả Quyên Chi trong Hán thư ta sẽ thấy triều Hán lúc nào cũng có hai nhóm ủng hộ và phản bác việc mở rộng và trực trị cương giới phía nam.

Tạm kết luận

Trong khuôn khổ một bài báo ngắn mà tôi muốn viết, chỉ ra bất cập trong các nghiên cứu "chấn động" của ông Lê Mạnh Thát không thể quá dài dòng và truy đủ cước chú. Mặc dù còn khá nhiều lỗ hổng, nhưng tôi tin công trình của ông Thát cũng như tất cả công trình khảo sử của bất cứ ai đều đáng trân trọng và cần được đưa ra công luận một cách bình đẳng. Càng nhiều cày xới, càng nhiều suy biện thì người đọc càng có cơ hội tiếp cận gần nhất sự thật lịch sử.

Trương Thái Du
Thảo Điền
6.3.2008

----------------

1 Đại Nam dật sử - Sử ta so với sử Tàu. Hội KHLS VN 1997, lược nội dung trang 481, 482.
2 Sách đã dẫn, trang 488.

***

Hãy trân trọng những phát hiện mới về lịch sử dù nhỏ nhất!

Loạt bài về Những phát hiện lịch sử chấn động của thiền sư Lê Mạnh Thát đăng trên Báo Thanh Niên trong mấy ngày vừa qua được dư luận đặc biệt quan tâm.

1. Người viết bài này đã đọc và trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của Lê Mạnh Thát (LMT) khá nhiều, đặc biệt là qua hai bài đã công bố trên Kiến thức Ngày nay số 258, 10.4.2005: Trần Nhân Tông với chữ Nhân và Ngoại giao Trần Nhân Tông. Chính vì thế, về linh cảm và từ niềm tin đã có sẵn, chúng tôi tin những công bố của LMT là có cơ sở nhất định. Tuy nhiên, khoa học không thể bắt đầu bằng cách thức cảm nhận như thế nên chúng tôi mong muốn các nhà sử học hãy quan tâm đến vấn đề này. Dù không thể tránh khỏi sai sót, những ý kiến của thiền sư LMT là cực kỳ ấn tượng và nhất là, mang tính dự báo cho bước đột phá quan trọng đối với việc dựng lại những trang sử của dân tộc trong các thời kỳ không có hoặc thiếu sử liệu. Hội Sử học Việt Nam, các trường ĐH và các trung tâm nghiên cứu phải vào cuộc vì đó là trách nhiệm của các vị. Có như thế thì chúng ta mới có thể tập hợp được ý kiến để đề nghị Nhà nước thành lập một hội đồng thẩm định nhằm xem xét và đánh giá một cách khách quan, cẩn thận toàn bộ tư liệu mà LMT có - dù chưa hoặc đã công bố.

2. Không ít nhà sử học từ lâu đã nghi ngờ lịch sử giai đoạn Triệu Đà - An Dương Vương lâu nay được viết chủ yếu bằng truyền thuyết và những chứng cứ muộn màng, sai lệch. Thậm chí, trong toàn bộ Bộ Lịch sử Việt Nam - kể cả SGK cho học sinh lẫn chính sử đều có không ít những nhầm lẫn đáng tiếc. Nhưng, tất cả những lời phàn nàn hay than vãn từ báo chí đều trôi tuột theo độ nghiêng của nhận thức hay nói theo cách của Đức Phật (Budha): "Lặng im như một bếp lửa vừa tàn". Và cũng vì thế, hết năm này sang năm khác chúng ta cứ mãi hoài kêu ca về tình trạng con cháu không thích học sử dân tộc, thi môn sử phần nhiều là điểm kém. Vì vậy, tôi nghĩ đóng góp to lớn và nhiều ý nghĩa nhất của thiền sư LMT là ở chỗ ông đã bổ nhát cuốc đầu tiên để khai phá rồi ươm trồng những hạt giống nhận thức mới về lịch sử. Có thể ý kiến của LMT có rất nhiều chỗ đáng bàn, chẳng hạn như đoạn viết về Việt luật (mà thật ra là luật tục) hay kết luận hơi sớm khi cho rằng bài Việt ca do Lưu Hướng chép (thế kỷ I tr.CN) là Việt ca của Việt Nam trong khi nhiều nghiên cứu nói rằng Việt ca đó của người Bách Việt ở vùng Giang Tô - Hán Thủy... (Hai điểm cần bàn mà tôi vừa dẫn là ý kiến của TS Nguyễn Việt, GĐ Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á đăng trên Báo TT&VH ngày 11.3.2008). Các ý kiến khác như của nhà sử học Dương Trung Quốc và nhà biên khảo lịch sử Trương Thái Du (cũng đăng trên TT&VH trong mấy ngày gần đây), có một điểm chung là sự dè dặt, vừa phải trong đánh giá, công nhận hoặc phê phán. Sự cẩn trọng trong khoa học là tiêu chí cần phải có nhưng ngược lại, nếu cái gì cũng chung chung, từ từ thì làm sao chúng ta cùng nhau tiến hành tìm tòi, nghiên cứu một cách nghiêm túc những điều còn mơ hồ trong lịch sử? Cái đáng quý và cần được ghi nhận một cách trân trọng là ở chỗ, thiền sư LMT đã buộc tất cả những nhà nghiên cứu lịch sử nước ta và cả những ai quan tâm đến lịch sử phải có một thay đổi thật sự trong cách tiếp cận, cách hiểu và diễn giải lịch sử.

3. Thiền sư LMT đã "biết mình, biết người" nên mới công bố một cách gián tiếp quan điểm lịch sử mới của mình. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, các giáo sư như Đinh Xuân Lâm, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê đã dạy chúng tôi rằng chỉ cần một phát hiện nhỏ thôi nhưng mới, như thế cũng đáng để bỏ ra tâm nguyện cả đời. Thiền sư LMT và cuốn sách nghiên cứu về Lục độ tập kinh (và nhiều cuốn khác, chẳng hạn như Toàn tập Trần Nhân Tông, NXB TP.HCM, 2000) của ông có một vị trí đặc biệt. Đừng vội chê trách thiền sư LMT không phải là một nhà sử học chuyên nghiệp để ngụ ý phủ định đóng góp của thiền sư. Tôi từng biết rất nhiều nhà sử học không chuyên nghiệp nhưng lại cực giỏi như Nguyễn Đắc Xuân, Dương Phước Thu, Phan Thuận An ở Huế. Mặt khác, khoảng cách giữa lịch sử và tư liệu lịch sử là điều ai cũng biết nhưng dám và biết nhận ra điều đó mới là điều khó.

Đã tới lúc các nhà sử học phải đặt câu hỏi rằng tại sao dân tộc Việt Nam phi thường và vinh quang như thế, quật cường và giàu vị tha như thế, mà nhiều trang sử lại được viết sơ sài và khô khan đến thế?

Hà Văn Thịnh
(Giảng viên khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Huế)

http://www2.thanhnien.com.vn/Ykien/2008/3/12/229837.tno

phapvan
13-03-2008, 09:02 PM
Làm gì trước những phát hiện mới về lịch sử?
23:45:00, 12/03/2008
Một số trong nhiều tác phẩm đã xuất bản của Thiền sư Lê Mạnh Thát

* Hội Khoa học lịch sử sẽ tổ chức tranh luận khoa học những vấn đề mà thiền sư Lê Mạnh Thát đưa ra

Còn rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu và bạn đọc tham gia trao đổi loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động. Số báo này chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà báo Trần Đức Chính, ý kiến của tiến sĩ Hoàng Ngọc Kỷ và đăng lại bản tin của Báo SGGP "Sẽ tổ chức tranh luận khoa học những vấn đề mà Thiền sư Lê Mạnh Thát đưa ra". Chúng tôi xin tạm dừng cuộc trao đổi ở đây để dành cho sự đánh giá, thẩm định của các nhà khoa học.

Làm gì trước những phát hiện mới về lịch sử?

Những ai từng nghiên cứu lịch sử hẵn đã thấy việc khám phá được một sự kiện lịch sử mới nó khó khăn, quý giá biết chừng nào. Có bao nhiêu nhà sử học đã nghiên cứu, phát hiện được các sự kiện để hiệu đính những sai lầm, giải mã một bí ẩn hay bổ sung một thiếu sót trong lịch sử dân tộc? Ít người có câu trả lời chính xác.

Công việc khó và hiếm hoi như vậy theo tôi có nhiều lý do nhưng lý do quan trọng nhất là thiếu tư liệu. Sau chiến tranh, ít có sử gia Việt Nam có đủ điều kiện tiếp cận được các kho tư liệu của các nước đã có mối quan hệ lịch sử với Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan, Pháp, Mỹ, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha..v.v. (Ví dụ tư liệu mới về thời Tây Sơn chỉ có thể tìm được ở Trung Quốc, Tây Ban Nha, Vatican). Không có tư liệu mới để khảo chứng thì không khám phá được những sự kiện mới.

Quan niệm như thế cho nên tôi hết sức trân trọng, cảm phục những phát hiện lịch sử cực kỳ mới mẻ của Thầy Lê Mạnh Thát diễn giải trong bộ Tổng tập Văn học Phật giáoViệt Nam và bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam (NXB Tổng hợp TP.HCM) và nhiều tác phẩm khác của ông. Không cómột sức học uyên bác, không có một kho tư liệu phong phú mới lạ, không có một sức làm việc phi thường thì không thể có được những phát hiện ấy. Tuy nhiên vì không chuyên về cổ sử Việt Nam nên lâu nay tôi chờ ý kiến thẩm định của các chuyên gia cổ sử và các cơ quan chức năng về những tài liệu đã được công bố này. Rất tiếc là mấy năm nay điều tôi mong chờ vẫn im hơi lặng tiếng. May sao 7 số báo Thanh Niên vừa qua đã giúp những phát hiện lịch sử của Thầy Lê Mạnh Thát bật dậy và gâychấn động không ít trong giới sử học.

Sáng hôm 11.3, sau buổi giao lưu với độc giả về cuốn sách “Đi tìm dấu tích Cung điện Đan Dương-sơn lăng của Hoàng đế Quang Trung” của tôi trong Hội sách lần thứ V tại Công viên Lê Văn Tám, nhiều bạn thanh niên đã vây quanh hỏi ý kiến tôi về “Những phát hiện lịch sử chấn động” của Thầy Thát trên báo Thanh Niên. Tôi đã trả lời và xin ghi lại sau đây để bạn đọc Thanh Niên tham khảo:

1. Đây là những phát hiện lịch sử. Muốn biết những phát hiện của Thầy Lê Mạnh Thát giá trị như thế nào phải kiểm tra nguồn tư liệu mà Thầy đã dùng. Nếu tư liệu đúng, phương pháp nghiên cứu đúng thì phải công nhận kết quả nghiên cứu của Thầy. Một đời cầm bút mà chỉ cần đính chính được bài thơ Xuân nhật tức sự, được Lê Quý Đôn chép trong Kiến Văn Tiểu Lục nói là của thiền sư Huyền Quang thời Trần (1254-1334) mà sự thực là của thiền sư Ảo Đường Trung Nhân (?-1203) thời nhà Tống bên Trung Quốc là đã có công lớn rồi. Xưa nay ai dám động đến Lê Quý Đôn ? Việc kiểm tra đúng sai chuyện nầy bây giờ quá dễ. Chỉ cần đến 750 Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận TP.HCM, đề nghị Thầy Lê Mạnh Thát cho sao lại tài liệu Thầy đã dùng và đem đối chiếu với nguồn gốc của nó (cũng được Thầy chỉ rõ) là xong ngay. Nhiều phát hiện khác cũng có thể kiểm tra theo cách này. Tôi không hiểu đã có ai làm việc đó chưa ! Không phản bác được tư liệu đã khảo chứng của Thầy Lê Mạnh Thát thì phải chấp nhận thông tin lịch sử mà Thầy đưa ra. Đây là lịch sử, không thể có ý kiến khi chưa khảo về tư liệu. Mọi ý kiến về nghiên cứu lịch sử mà không căn cứ trên tư liệu thì chỉ nghe chơi thôi.

2. Những phát hiện mới mẻ mà chưa có tài liệu trực tiếp chứng minh như không có sự kiện “An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên đã viết”, “Cổ Loa chẳng qua chỉ là một tên gọi được Ngô Sỹ Liên lấy từ truyền thuyết của Lĩnh Nam Chích Quái để đưa vào Đại Việt sử ký toàn thư gắn vào An Dương Vương mà thôi” v.v... ta xem như những phát hiện còn phải tiếp tục chứng minh, chứ không loại bỏ. Không nên vì những cái chưa được rõ ràng mà làm ngơ trước những phát hiện đã rõ ràng.

3. Những phát hiện mới của Thầy Lê Mạnh Thát có đầy đủ tư liệu chứng minh rõ ràng thì các ngành chức năng phải tiếp nhận ngay, không những để tưởng thưởng cho tác giả, khuyến khích các nhà nghiên cứu khác đi tìm cái mới, mà còn liên quan đến việc sửa sách giáo khoa, sách sử dân tộc...

4. Qua tiếp xúc với một số nhà Việt Nam học ở nước ngoài, tôi thấy họ rất quan tâm đến các công trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Họ có nhận xét là sự đổi mới về nghiên cứu lịch sử ở Việt Nam quá chậm so với văn học, báo chí. Đặc biệt họ rất quan tâm đến trách nhiệm của các ngành chức năng đối với các phát hiện mới về lịch sử, đến tâm và trí của các nhà sử học qua các phản biện lịch sử. Giữa thời đại bùng nổ thông tin nầy mà Những phát hiện lịch sử gây chấn động của Thầy Lê Mạnh Thát vẫn rơi vào im lặng được sao ? Vẫn để cho sử gia các nước đối tác với chúng ta xem thường chúng ta được sao?

Nguyễn Đắc Xuân (Nhà nghiên cứu)



Sẽ tổ chức tranh luận khoa học những vấn đề mà thiền sư Lê Mạnh Thát đã đưa ra
Xung quanh những vấn đề lịch sử dân tộc được cho là của thiền sư Lê Mạnh Thát mà Báo Thanh Niên đưa ra trong thời gian gần đây, chiều qua 11.3, lãnh đạo Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã có cuộc họp để thảo luận về những vấn đề liên quan. Quan điểm của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam là tất cả những phát hiện mới về lịch sử dân tộc đều đáng trân trọng, tuy nhiên để khẳng định một vấn đề cần có những tranh luận công khai, minh bạch về mặt khoa học, cần có những cứ liệu khoa học xác đáng, đủ sức thuyết phục. Vì vậy, với trách nhiệm của mình, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam sẽ tiến hành tranh luận công khai về những vấn đề mà thiền sư Lê Mạnh Thát đưa ra theo 2 hướng: Tổ chức hội thảo bàn tròn với sự có mặt của thiền sư và những nhà khoa học đầu ngành lịch sử, qua đó thực hiện việc chất vấn khoa học cũng như phản biện một cách công bằng, minh bạch; tổ chức tranh luận trên Tạp chí Xưa và Nay (cơ quan của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam). Tại đây các học giả có thể tham dự bằng các bài viết xung quanh vấn đề này, sau đó Hội Khoa học lịch sử Việt Nam sẽ thực hiện tổng kết một cách công khai, theo đúng tinh thần tranh luận khoa học, cả đồng thuận lẫn phản biện; tôn trọng các ý kiến khác nhau, đồng thời qua đó tìm ra được những vấn đề có tính khoa học cao nhất, thuyết phục nhất. Nội dung tranh luận khoa học mà Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức là dựa vào những công trình, nghiên cứu của thiền sư Lê Mạnh Thát đã công bố, chứ không phải chỉ dựa vào những nội dung mà Báo Thanh Niên đã nêu ra.

Về vấn đề này, trong một cuộc trả lời báo chí gần đây, nhà sử học Dương Trung Quốc (với tư cách cá nhân) cho rằng, tất cả những cái đó phải được xem xét cụ thể trên nhiều phương diện như độ tin cậy của sử liệu, phương pháp phân tích của tác giả và phải đặt trong tổng thể với các nguồn tư liệu khác. Các bộ kinh Phật đương nhiên là hết sức quý, nhưng nó cần được giải thích sự khác biệt với các nguồn tư liệu khác cũng có giá trị riêng của nó, kể cả truyền thuyết và dã sử. Không phải cứ nói đến “chính sử” của triều Lê (Đại Việt Sử ký toàn thư) do những sử gia tên tuổi biên soạn đã là chân lý tuyệt đối. Bởi trước hết, nó là sản phẩm của những cá thể hay triều đại, dù uyên thâm đến mấy thì cũng vẫn có thể có sai sót và nhiều khi xuất phát từ những lợi ích không thể gọi là tuyệt đối vì dân tộc mà căn bản là của giới cầm quyền. Đương nhiên, cũng không chỉ dựa vào một bộ kinh dù vô cùng quý giá trong kho tàng Phật giáo mà phủ định, đơn giản những nguồn sử liệu khác. Càng ngày các khoa học càng cần một tư duy tổng hợp và tri thức liên ngành. Sử học cũng vậy. Theo ông Dương Trung Quốc, về khoa học, người ta cần tìm tính biện chứng của những luận điểm; còn về nghề nghiệp thì người ta cần đến sự tranh biện, cầu thị.

Trần Lưu (Tin đăng trên Sài Gòn Giải Phóng, 12.3.2008)

phapvan
13-03-2008, 09:06 PM
Tôi sẽ cung cấp thêm tài liệu về cổ địa lý

Tôi đã đọc bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động đăng trên Báo Thanh Niên. Tôi rất tâm đắc với những vấn đề được nêu ra. Chỉ có báo chí mới có thể giới thiệu với bạn đọc về những phát hiện mới trong khoa học của những người say mê nghiên cứu.

Về thời kỳ Hùng Vương, tôi xin giới thiệu: Năm 1977, trong quá trình nghiên cứu địa chất đồng bằng Bắc bộ, tôi đã phát hiện biển tiến đột biến cách đây 4.100 năm. Sự biển tiến đột biến này có thể là nguồn gốc của truyền thuyết "Sơn Tinh - Thủy Tinh" và có liên quan đến quá trình dựng nước thời đại Hùng Vương và các thời kỳ sau này. Cổ địa lý thời Hùng Vương chúng ta chưa từng biết đến. Hồi còn công tác ở miền Bắc, chúng tôi đã cùng với Viện Khảo cổ học tổ chức hội thảo, khi đó Viện Khảo cổ học đang chủ trì chương trình nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương. Trong một chuyên khảo mới về địa chất đang chuẩn bị xuất bản có chương "Biển tiến đột biến Holoxen, xuất xứ truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh và điều kiện ra đời Nhà nước Hùng Vương phát triển cho đến nay".

Những vấn đề về cổ địa lý có thể góp vào nghiên cứu lịch sử mà thiền sư Lê Mạnh Thát đã nêu. Tôi sẽ tặng tài liệu cho Báo Thanh Niên và thiền sư để nghiên cứu.

Mong muốn của những người nghiên cứu khoa học là làm sao kết quả nghiên cứu đến được với người đọc để sử dụng nó vào trong thực tiễn phát triển kinh tế và xã hội.

Tiến sĩ Hoàng Ngọc Kỷ (660 Nguyễn Văn Quá, quận 12, TP.HCM)

phapvan
13-03-2008, 09:10 PM
Phản biện

Thông tin mới lạ, nhanh nhạy, chính xác làm nên sự hấp dẫn của báo chí. Thế nhưng những thông tin mang tính phản biện lại thể hiện sức mạnh của truyền thông, tỏ rõ bản lĩnh của nhà báo và là một trong những yếu tố cấu thành cái mà chúng ta vẫn (nói riêng với nhau), đẳng cấp của cơ quan báo chí.

Tuần này có hai phản biện tầm cỡ. Thứ nhất là loạt bài trên Báo Thanh Niên của Hoàng Hải Vân giới thiệu những phát hiện lịch sử chấn động của Thiền sư Lê Mạnh Thát. Đây là một vấn đề lớn ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, của cả những người viết sử đã từ bao đời nay về lịch sử 4.000 năm của dân tộc Việt Nam. Đã có lúc chúng ta cảm thấy con số 4.000 năm có vẻ mung lung, chập chờn, thậm chí gần đây nhiều người ngại nói đến. Thì nay, công trình nghiên cứu của Lê Mạnh Thát đã khơi dậy với những chứng minh đang hé mở một chân trời mới về thời đại Hùng Vương, về một nền văn hiến trước Bắc thuộc của người Việt, mà đến cỡ nhà sử học Ngô Sĩ Liên ngày xưa cũng nói không đúng.

Phản biện thứ hai là bài báo của TS Vũ Quang Việt gửi từ New York đăng trên Lao Động 3.3.2008. Bài báo lấy tít một bài của Tuổi Trẻ 29.2, dẫn lời Bộ trưởng Tài chính nước ta "Không sai lầm về chính sách, nhưng yếu kém trong dự báo". Có điều đằng sau câu nói này của TS Vũ Quang Việt đã đặt thêm một dấu hỏi (?). Đơn giản là tác giả đã chứng minh có những sai lầm trong chính sách năm 2007 vừa qua, có liên quan đến cơn "bão giá" và lạm phát hiện nay.

Chúng tôi không đi sâu vào hai phản biện này vì nó đang nóng trên báo chí những ngày vẫn còn rét đậm đầu tháng 3.2008. Điều muốn nói là công chúng ngày nay rất cần những thông tin phản biện trên cơ sở tin cậy như thế. Phản biện chỉ làm vấn đề sáng tỏ hơn, dù có phải phủ nhận một cái gì đó, một ai đó, âu cũng là chuyện thường tình. Những ngày này Đài TH Hà Tây đang phát lại bộ phim dài Bao Thanh Thiên. Bài hát của phim có câu "chỉ có thể biết nhiều, biết ít, chứ không bao giờ biết đủ". Nếu chúng ta càng có nhiều thông tin trên báo chí có tính phản biện thì sức mạnh nghề báo sẽ càng được tăng cường. Cũng cần nói thêm, trước các phản biện, nên nhớ lời người xưa: "Tri bất tri, bất tri vi tri" (biết điều mình chưa biết tức là chưa biết mà biết vậy).

Trần Chinh Đức *
(Bài đăng trên Nhà báo &Công luận, 7.3.2008)

--------------

* Tác giả là Trần Đức Chính (bút danh khác: Lý Sinh Sự), Tổng biên tập Báo Nhà báo & Công luận, nguyên Phó tổng biên tập Báo Lao Động.

phapvan
13-03-2008, 09:11 PM
Nguồn: http://www2.thanhnien.com.vn/Ykien/2008/3/13/229978.tno

thichmactien
19-04-2008, 12:20 PM
Trước hết phải thừa nhận rằng, tiến sĩ Lê Mạnh Thát là nhà khoa học lớn. Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam là tập đại thành của văn hóa dân tộc. Chẳng những là bản tổng kết đầy đủ, sâu nhất, xa nhất, trong đó còn có những phát hiện mới mẻ, quý giá về lịch sử văn hóa Việt. Việc xác định Lục độ tập kinh được dịch từ bản tiếng Việt; việc làm sáng tỏ vai trò Mâu tử cùng Lý hoặc luận trong lịch sử tư tưởng Việt Nam; việc tìm ra gốc Việt của Đạo Cao, Pháp Minh, Lý Miễu cùng giải mã sáu bức thư trao đổi giữa họ là những đóng góp mới. Ông cũng là người sớm phát hiện và đi tới tận cùng hiện tượng cấu trúc “trung + tâm” trong toàn bộ văn bản chữ Hán cổ để xác nhận vết tích ngữ pháp tiếng Việt trong thư tịch Trung Hoa, một bằng chứng vững chắc khẳng định “Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán” (1). <?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" /><o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Tuy nhiên, trong những đề xuất của ông, việc phủ nhận An Dương Vương và Triệu Đà trong lịch sử dân tộc cần phải được bàn lại.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Để trục xuất hai vị khỏi sử Việt, tiền sĩ Lê Mạnh Thát chỉ cần nói: “Khoảng năm 400 sau Công nguyên, truyện An Dương Vương được mượn từ Mahabharata Ấn Độ.” Rồi để làm chứng cứ cho luận điểm của mình, ông dẫn ra hai cuốn sách nước ngoài và luận lý: Sử ký không nói tới An Dương Vương đích thị chẳng có ông ta trên đời. Tiền Hán thư không nói Triệu Đà chiếm Giao Chỉ nên nước ta không hề thuộc về <?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" /><st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> Việt! <o:p></o:p>
Cách làm như vậy không ổn về phương pháp luận.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
1. Ai vay mượn ai?<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Tiến sĩ Lê Mạnh Thát căn cứ vào Truyện thứ 23 trong Lục độ tập kinh có nói tới “người mẹ đẻ ra 100 cái trứng” rồi cho rằng truyện này vào nước ta thời Hùng Vương. Không mới mà cũng chẳng lạ. Ông đang đi trên con đường mòn xưa cũ của giới ngôn ngữ học lịch sử. Các vị này từng cho rằng: bất cứ từ nào người Việt dùng mà cũng có trong từ điển tiếng Hoa, đích thị là Việt mượn Hán! Kinh Phật có trước Lĩnh <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> chích quái, càng có trước Toàn thư nên cố nhiên, một bọc trăm trứng mượn của nhà Phật!<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Đấy là tư duy xưa như thế kỷ XX! Nay con người hiểu biết hơn và nghĩ khác.<o:p></o:p>
Từ những phát hiện mới nhất về Hành trình chiếm lĩnh Trái đất của con người (Out of Eden Peopling of the World)(2) ta biết rằng, muộn nhất là khoảng 50.000 năm trước, do môi trường sống thuận lợi, người Việt cổ thuộc loại hình Australoid tăng nhanh số lượng và từ Đông Dương di cư sang Miến Điện, Ấn Độ, thành người bản địa Dravidiens. Khoảng 7500 năm trước, người Việt mang giống lúa, kê, khoai sọ, giống gà, giống chó tới miền Trung Ấn Độ, góp phần tạo dựng văn minh nông nghiệp ở đây. Vẫn theo dòng chảy truyền thống, văn hóa đồng thau cũng từ Hòa Bình chuyển tới Ấn Độ. Trong cuốn sách quan trọng Địa đàng ở phương Đông (3), tác giả S. Oppenheimer tìm ra hàng loạt bằng chứng về cuộc chuyển dịch văn hóa từ Viễn Đông tới Ấn Độ, Mesopotamia: “Khi so sánh gene di truyền và hệ ngôn ngữ (của người Mundaic ở miền Trung Ấn Độ, nơi xuất hiện lúa nước đầu tiên cách nay hơn 7.000 năm) với người Mon-khmer ở khu vực Đông Dương, chúng ta thấy những cư dân của bộ tộc này, dù tách biệt thời gian hàng ngàn năm và không gian hàng ngàn dặm, vẫn có cùng những thuật ngữ về trồng lúa và cả đồng thau, đồng đỏ. Đây là một minh chứng rõ ràng cho việc họ đã mang theo mình một nền văn hóa được hình thành đi về phương Tây. Các nhà ngôn ngữ học cũng đồng tình rằng sự tách biệt giữa các nhánh của ngữ hệ Nam Á diễn ra trong tầng sâu của thời tiền sử.” (tr.719) “Có một sự giải thích khác là một vài nhân tố của tục thờ Siwa đã bắt nguồn từ Đông Nam Á.”(tr.504). và “Ảnh hưởng duy nhất của Ấn Độ-Aryan đối với Đông Nam Á là trong 2000 năm qua dưới dạng các đế chế Hindu như Sri Vijaya.” (tr.534) <o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Theo thuyền thuyết, Kinh Dương Vương làm vua năm 2.879 TCN, vậy Lạc Long Quân xuất hiện trước Đức Phật khoảng 2.300 năm. Do vậy, nói như ông Lê Mạnh Thát, “Truyện trăm trứng từ kinh Phật sang Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> vào thời vua Hùng” là chuyện ngược đời. Thưc tế phải là truyền thuyết con rồng cháu tiên với một bọc trăm trứng đã từ Việt Nam theo người Việt đi sang Ấn Độ rồi vào nằm trong kinh Phật. Nhưng vì chúng ta mất đất, mất chữ nên không ghi chép được. Phát hiện ra nó trong kinh Phật, ông Lê Mạnh Thát không thể ngờ rằng đã gặp báu vật của nhà lưu lạc phương xa!<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Từ khung cảnh lịch sử văn hóa như vậy, xin được bàn cụ thể về ý kiến của học giả Lê Mạnh Thát.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Việc vay mượn huyền thoại giữa các văn hóa khác nhau là chuyện bình thường. Trong cuốn sách đã dẫn, S. Oppenheimer phát hiện truyện Kulabốp, huyền thoại gốc của dân hải đảo Đông Nam Á, khi theo người chạy nạn đại hồng thủy sang vùng Cận Đông đã thành truyện Cain giết em rồi ngự trong kinh Thánh đạo Thiên Chúa. Câu chuyện về cây kê cuối cùng sau nạn hồng thủy của người Tsuwo và người Bunun bản địa Đài Loan và người Bana Tây Nguyên Việt Nam đã trở nên thành ngữ “last millet” phương Tây.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Tuy nhiên, trong những sự vay mượn đó, truyền thuyết cũng chỉ là truyền thuyết, nhiều lắm thì được tô điểm bằng một vài nhân danh, địa danh cho mang màu sắc bản địa. Không thể có chuyện một truyền thuyết vay mượn lại để dấu ấn sâu đậm đến vậy trong văn hóa bản xứ. Truyện An Dương Vương không chỉ là truyền thuyết mà còn là thành Cổ Loa với hơn vạn mũi tên đống. Việt Kiệu thư chép: “Âu Lạc thời Tần rất mạnh, có phép dùng nỏ rất giỏi, một phát tên đồng có thể bắn chết hơn chục người. Triệu Đà sợ lắm.” (4) nghiên cứu số lớn thần phả, ngọc phả, tác giả Nguyễn Linh (5) cho thấy nhiều ký ức dân gian về cuộc chiến giữa vua Hùng và “giặc” Thục tập trung trong vùng Vĩnh Yên, Phúc Yên, địa bàn của bộ Văn Lang xưa. Dân gian còn kể chuyện Hùng Lộc đại vương bị chặt đứt đầu, đã lấy vải buộc cổ lại để tiếp tục chiến đấu. Khi giặc rút thì ngã xuống chết, mối đùn lên thành đống, dân lập đền thờ. Truyện Đinh Công Tuấn đánh nhau với quân An Dương Vương, tới thế cùng, nhảy xuống sông tự vẫn. Nhắc tới thời vua Thục còn là cái giếng nơi Trọng Thủy trầm mình, là địa điểm An Dương Vương tự tận, là nơi thờ Triệu Đà cùng Trình thị ở Đồng Xâm… Thờ phúc thần là tín ngưỡng quan trọng của người Việt. Người Việt có thể thờ một người ăn mày, một ông ăn trộm làm phúc thần nhưng tuyệt nhiên không bao giờ thờ một nhân vật cha vơ chú váo vay mượn từ câu chuyện nước ngoài. Nếu Triệu Đà không liên quan gì tới người Việt thì vì sao người Đồng Xâm thờ ông, nghìn năm hương khói?<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Sự vay mượn truyền thuyết, huyền thoại phổ biến nhất là qua tôn giáo. Mahabharata là huyền thoại Ấn Độ giáo của người Aryan, tộc du mục từ phương Tây tràn sang, một tôn giáo và sắc tộc xa lạ. Trong khi đó, vốn là cái nôi của văn minh nhân loại, miền Trung và Bắc Việt Nam có độ bền vững và bảo thủ văn hóa rất cao, ít chịu tiếp thu văn hóa ngoại lai. Do nguyên nhân lịch sử, văn hóa như vậy, người Việt (Kinh) rất ít chịu ảnh hưởng Ấn Độ giáo. Đạo Phật du nhập nước ta thế kỷ II TCN nhưng được biến cải nhiều theo bản sắc Việt mà Quán Thế Âm Nam Hải cứu khổ cứu nạn cùng Thiền tông của Lục tổ Huệ Năng là thí dụ điển hình.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Chính dấu ấn quá sâu đậm của An Dương Vương, Triệu Đà trên thực địa cũng như tâm linh Việt đã phủ nhận khả năng vay mượn mà khẳng định đó là yếu tố nội sinh, một sự kiện có thực trong lịch sử dân tộc.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
2. Trở lại những chứng cứ lịch sử.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Việc tiến sĩ Lê Mạnh Thát cho những cuốn Giao châu ngoại vực ký, Quảng Châu ký, Nam Việt chí và Nhật Nam truyện “không đáng tin cậy” rõ ràng là sự võ đoán. Dù có “không rõ nguồn gốc và niên đại, tất cả đều mơ hồ, mâu thuẫn” thì cũng không thể vứt bỏ! Biết đâu cái sự “không rõ nguồn gốc và niên đại” ấy lại có giá trị riêng vì chúng không sao chép của người đi trước? Biết đâu trong cái “mơ hồ, mâu thuẫn” lại có những sự thật nguyên chất được cất giấu? Công việc của sử gia là phải bằng mọi phương cách tìm ra sự thật trong đó chứ không phải quay lưng chối bỏ. Hơn nữa, đó lại là những cuốn sách hiếm hoi nói tới An Dương Vương, đối tượng của cuộc nghiên cứu. Không chỉ vậy, ông còn chối bỏ Lĩnh <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> chích quái, cuốn sách đầu tiên ghi chép cổ tích, huyền thoại của tộc Việt. Nhiều truyện trong cuốn sách này cũng không rõ xuất xứ vì nó được ghi chép từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, một hình thức bảo lưu của tâm linh Việt. Bằng phương thức giải mã huyền thoại, tiến sĩ Kim Định đã phát hiện ra nhiều sự thật vô giá của văn hóa Việt, giúp ông xây dựng thuyết Việt Nho. <o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Một tài liệu nữa bị loại là Hoa Dương Quốc chí. Xin dẫn ý kiến giáo sư Nguyễn Đăng Thục trong bài Bốn nghìn năm văn hiến (6):<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
“Từ Chu Thuận Tĩnh làm vua 5 năm (316 tr. Tây nguyên) nước Thục mất về nước Tần, cho đến Chu Báo làm vua 58 năm (257 tr. Tây nguyên) An Dương Vương là Thục Phán xưng vua ở Việt nam, thời gian cách nhau là 59 năm. Trong khoảng thời gian ấy, người dân nước Thục chịu sự áp bách của thế lực quân sự nhà Tần, tập đoàn chống đối quân Tần dần dần đi xuống phương Nam đi vào bắc bộ Việt nam, cùng với vua Hùng Vương nuớc Văn lang đánh nhau tranh dành. Lúc đầu vì thế lực còn yếu, luôn luôn bị thua, mãi sau mới chinh phục được Văn lang. Và việc An Dương Vương từ nước Thục đi vào nước Việt, thì sách sử xưa của Tầu và Việt đều không ghi chép lịch trình tiến triển, nhưng cuộc chiến tranh giữa nước Tần và nước Thục có thể tìm thấy dấu vết ở cuộc thiên di về phương Nam của tập đoàn vương thất nước Thục chống đối với nhà Tần.”
“Sự hiện diện của Bách bộc do Thục An Dương Vương với tập đoàn nhà Thục từ Tứ xuyên đi xuống qua Qúy Châu và Vân nam phía Tây Bắc việt ngày nay mà di tích là kiểu thành Cổ loa vốn của nước Ba thục.” <o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Lã Sĩ Bằng trong “Bắc thuộc thời kỳ đích Việt nam” suy diễn sự kiện trên đây như sau:“…Chúng ta có thể suy định rằng vua Thục bị hại ở Vũ dương, Quan Tuớng, phó, Thái tử đều chết ở núi Bạch Lộc, sau đấy đảng vua Thục còn lại mới suy tôn con hay cháu nhà vua lên tiếp tục chạy về phương Nam, theo hạ lưu sông Manh tiến vào khu đất tiếp giáp giữa Qúy châu và Vân nam thuộc phạm vi thế lực người Sở... Nhưng khu đất giao tiếp giữa Qúy châu (Kiềm) và Vân nam (Điền) thời Hán là Trường kha là đất thủy lão nghèo nàn. Thục vốn là nước Thiên phủ, người Thục khó ở lâu tại đất ấy được, vả thế lực quân Tần đang rất mạnh, dòng dõi vua Thục hết hy vọng khôi phục lại đất cũ mới tìm phát triển vế phương Nam tiến vào đất bình Hùng Vương tranh chiến, nhiều phen thất bại đến đời Chu Bảo vương năm 518 (tr. Tây nguyên 257) mới chinh phục được Văn lang.”<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Cuốn sách nữa bị tíến sĩ Lê Mạnh Thát loại bỏ là Việt sử lược, cuốn sử đầu tiên của người Việt. Sách này viết:<o:p></o:p>

“Cuối đời <st1:place w:st="on">Chu</st1:place>, Hùng vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt thường, xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà <st1:place w:st="on">Chu</st1:place>.”<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Thực sự có một nước Thục ở gần Văn Lang. Việc Thục bị Tần diệt và con cháu vua Thục chạy loạn là thực. Vậy thì chạy đi đâu khi quân Tần đuổi sau lưng, phía Đông nước Sở đang bành trướng? Chỉ còn hướng Văn Lang, vốn là con đường thương mại lâu đời ra phía biển và cũng là con đường xa xưa tổ tiên từ đất Việt đi lên. Vả lại, lúc này Văn Lang quá bình yên và hiền hòa.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
- Tiến sĩ Lê Mạnh Thát viết: “Dĩ nhiên triều đại Hùng Vương của chúng ta không thể nào không có thành quách, nên chắc chắn chúng ta có một cái thành như vậy, nhưng 4 tài liệu đã dẫn nói về An Dương Vương cũng không nói gì về tên thành Cổ loa, do đó Cổ loa chẳng qua là một tên gọi được Ngô Sỹ Liên lấy từ truyền thuyết của Lĩnh Nam chích quái để đưa vào Đại Việt sử ký toàn thư gắn vào An Dương Vương mà thôi.”<o:p></o:p>
Hoàn toàn không đúng như vậy.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Văn Lang của các vua Hùng hơn 2.000 năm yên ổn. Vua tôi đang say sưa chế tác trống đồng làm đồ thờ, làm biểu trưng của uy quyền. Đất nước không có chiến tranh, kinh đô không cần thành quách mà chỉ là cái làng lớn – chạ Cả… Hàng ngàn năm trôi qua như vậy êm xuôi. Vì sao có sự dời đô, vì sao có chuyện xây thành? Sự việc không thể xảy ra với tư duy mòn cũ về thời cuộc của Hùng Duệ Vương. Việc dời đô, đắp thành là tư duy mới, là sự thay đổi về chất trong điều hành nhà nước. Điều này chỉ có thể xảy ra khi triều đại thay đổi, lãnh tụ mới xuất hiện. Đó là việc An Dương Vương thay thế vua Hùng. Chính là Thục Phán, con cháu của dòng họ Khai Minh bị Tần tiêu diệt, mang nỗi đau cùng bài học của quá khứ, đã áp dụng những phương sách của phương Bắc, xây thành, đắp lũy đối phó với kẻ thù. Mũi tên đồng được chế tạo trong thành nói lên khả năng một cuộc vây hãm của Triệu Đà.<o:p></o:p>
Không phải như tiến sĩ Lê Mạnh Thát nói: “4 tài liệu đã dẫn nói về An Dương Vương cũng không nói gì về tên thành Cổ loa.” <o:p></o:p>
<st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> Việt chí của Thẩm Hoài Viễn có nói đến thành của An Dương vương. Nhưng sách đã mất, người tra cứu chỉ gặp từng đoạn trong những sách khác. Cựu Ðường thư ghi được: "An Dương vương cai trị Giao Chỉ... Thành có 9 vòng, chu vi 9 dặm." <o:p></o:p>
Tùy thư ghi: "Lý Phật Tử đóng đô ở Việt vương cổ thành."<o:p></o:p>
An <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> chí lược của Lê Tắc thế kỷ XIV viết: "Thành Việt vương tục gọi là thành Khả Lũ." <o:p></o:p>
Tới thế kỷ XV, An <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> chí nguyên của Cao Hùng Trưng người đời Minh viết: "Việt vương thành ở huyện Ðông Ngạn, còn gọi là Loa Thành." "Có tên Loa Thành vì thành ấy quanh co như hình con ốc."<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Người ta lấy làm lạ là, học giả Lê Mạnh Thát loại bỏ tất cả những tài liệu có nói tới An Dương Vương, Triệu Đà mà chỉ dùng tư liệu mình “tin cậy”. Cách làm việc như vậy khác nào tiến hành cuộc bầu cử độc diễn?<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Những câu hỏi xin đặt ra với tiến sĩ Lê Mạnh Thát:<o:p></o:p>
- Nếu tới năm 43 còn thời Hùng Vương thì cuộc xâm lăng Văn Lang xảy ra vào lúc nào, do ai cầm đầu?<o:p></o:p>
- Vì sao khi Bà Trưng khởi nghĩa thì nhiều thành trì ở Lưỡng Quảng nổi lên hưởng ứng, để hôm nay ông Trần Đại Sĩ còn kiểm kê được hơn 200 nơi thờ Hai Bà? <o:p></o:p>
Giải thích ra sao nếu không phải vì Lưỡng Quảng là đất của Văn Lang và gần 100 năm gắn bó trong Nam Việt đã tạo nơi dân Việt một tinh thần quốc gia bền vững! Điều này không xảy ra ở Vân <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region>, là đất vốn không thuộc vào Văn Lang cũng như Nam Việt.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Một câu hỏi khác: Nếu Việt Nam không thuộc về Nam Việt thì vua Quang Trung lấy cơ sở gì để đòi lại Lưỡng Quảng, khiến cho vua Càn Long nhà Thanh phải chấp nhận? Và vì sao, khi vua Gia Long đặt tên nước ta là Nam Việt, nhà Thanh không cho mà đổi thành Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region>? Chính là do họ sợ Gia Long lại như Quang Trung lợi dụng tên nước để đòi lại đất cũ!<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
- Tíên sĩ Lê Mạnh Thát viết: “Không Lộ là vị thiền sư mất năm 1119, thế mà lại có một kết nối việc hình thành Hồ tây trong truyền thuyết dân gian như Lĩnh <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> chích quái và Việt điện u linh đã ghi lại. Vậy, việc kết nối An Dương Vương với thành Cổ loa trong truyền thuyết không nhất thiết là một sự thật lịch sử.” <o:p></o:p>
Lập luận như thế không ổn! Hai sự kiện là riêng biệt. Sự kiện này sai không bắt buộc sự kiện kia sai theo. Kết nối của truyện đầu là gán ghép ngẫu nhiên, mang tính huyền hoặc. Truyện sau có lớp lang, gắn bó với nhiều di tích, truyện tích, không ai bịa ra được!<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
- Tiến sĩ Lê Mạnh Thát cho rằng: “Tích Quang, Nhâm Diên chưa bao giờ làm thái thú ở nước ta cả, đó chỉ là sự "hư cấu lố bịch khôi hài". Lấy thí dụ như Nhâm Diên, Hậu Hán thơ viết ông này được cử làm thái thú Cửu Chân (nước ta) vào năm Kiến vũ thứ nhất (năm 25 sau dương lịch), nhưng thời điểm đó cũng theo Hậu Hán thơ, tình hình chính trị Trung Quốc từ sông Dương Tử về phía nam cực kỳ phức tạp, các tướng mỗi nơi chiếm một phương, thiên hạ loạn lạc đến nỗi "vua tự đem quân thân chinh mà còn bị cản đường, xe ngựa không tiến lên được", thì làm sao Nhâm Diên đến được Cửu Chân để làm thái thú ?”<o:p></o:p>
Không thể không nói rằng, một lần nữa, tiến sĩ của chúng ta lại suy diễn rời xa thực tế. Vua có thể bị giặc cướp ngăn đường nhưng ai cản được một vị quan đi nhậm chức? Ai ngăn cản được những thuyền buôn Trung Hoa, khi đã bén hơi đồng? Thời Tam quốc quá loạn lạc sao lại có hàng trăm nhân sĩ Bắc quốc tới Giao Châu nương nhờ Sĩ Nhiếp?<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
- “Chứng cứ đanh thép nhất mà sử gia Lê Mạnh Thát tiếp tục dẫn ra là, sau khi Mã Viện "chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, đưa đầu về Lạc Dương", Hậu Hán thơ viết: "Viện (Mã Viện) điều tấu Việt luật cùng Hán luật, sai hơn 10 việc, bèn cùng người Việt nói rõ để ước thúc". Như vậy rõ ràng nước ta đã có luật pháp. Bộ luật đó một chính quyền ngắn ngủi không làm nổi, nó phải là sản phẩm của một nhà nước độc lập tồn tại từ lâu đời. Nếu nói nước ta lúc đó chỉ là quận, huyện của Trung Quốc, do các thái thú của Trung Quốc sang cai trị, thì chỗ đâu để có bộ Việt luật cho Mã Viện điều tấu? Mà nếu có Việt luật, nghĩa là có một nhà nước độc lập, thì Tích Quang, Nhâm Diên "cai trị" ở đâu?”<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Sao lại có thể suy diễn đơn giản vậy? Phải chăng ông cố tình không hiểu hoàn cảnh Giao Châu lúc đó? Trước thời Mã Viện, sự cai trị của Trung Hoa ở nước ta còn lỏng lẻo, theo kiểu ki-mi, một hình thức cai trị có phần gần giống với thời Triệu Đà. Các thái thú trị dân qua lạc hầu, lạc tướng, theo luật bản xứ. Vì vậy, sau cuộc xâm lăng của Lộ Bác Đức, luật pháp thời Hùng Vương vẫn được duy trì - luật thành văn chứ không phải luật tục như ai đó ngộ nhận. Chính sự loạn lạc liên miên ở chính quốc tạo điều kiện cho Giao Châu giữ được mức độ tự trị mà Sĩ Nhiếp là trường hợp tiêu biểu. Chỉ từ Mã Viện, với quân số đông đảo, đóng lại lâu dài mới có điều kiện thực hiện mưu đồ đồng hóa, rà xét luật pháp, bãi bỏ Việt luật, ban bố luật nhà Hán… Luật pháp có vai trò độc lập tương đối với chính trị. Kẻ xâm lăng chỉ có thể thay đổi luật pháp bản địa khi đủ sức mạnh để áp đặt. Vì vậy, luật pháp bản địa thường tồn tại khá lâu sau cuộc xâm lăng. Cho rằng: “nếu có Việt luật, nghĩa là có một nhà nước độc lập…” là cách nhìn không thực tế!<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
3. Kết luận<o:p></o:p>
Tiến sĩ Lê Mạnh Thát là học giả lớn, có đóng góp quan trọng cho lich sử, văn hóa Việt. Tuy nhiên, việc phủ định An Dương Vương và Triệu Đà là trái với thực tế, không thể chấp nhận. <o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Hà Văn Thùy
Tân Phú 12.3.2008<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
Tham khảo<o:p></o:p>
1. Hà Văn Thùy. Tiếng Việt chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán. havanthuy.ourprofile.net<o:p></o:p>
2.http://www.bradshawfoundation.com/journey/introduction.html<o:p></o:p>
3. NXB Lao động Hà Nội 2004<o:p></o:p>
4. Nghiên cứu lịch sử số 124. Hà Nội, tháng 7 năm 1969. Dẫn theo Lê Mạnh Hùng, Nhìn lại sử Việt. USA 2007.<o:p></o:p>
5. Lê Mạnh Hùng. Nhìn lại sử Việt<o:p></o:p>
6. Trích nguyệt san Tư Tưởng số 2, Năm thứ VI, tháng 4 năm 1973, Sài Gòn. Dẫn theo hoadam.net