thảo nguyên
17-05-2005, 08:43 PM
http://kim-son.com/mambo/images/stories/Literature/devilground.jpg
Tận Thế
James Ballard
___________________________
Ban ngày họ thường ngủ. Khi bình minh lên, họ đi về nhà lúc mặt trời nhô ra khỏi những con đê muối trải dài, cửa sổ được đóng kín để ngăn sự nóng bức và trong các căn nhà không một tiếng động. Phần lớn dân trong làng là người già, họ thiếp đi nhanh chóng trong những ngôi nhà của mình, nhưng Grainger với cái đầu không khi nào yên ổn và một lá phổi duy nhất thường thức dậy sau buổi trưa và không thể ngủ tiếp được. Trong tiếng rít của những bức tường kim loại thỉnh thoảng lại vặn vẹo, ông thường cố gắng đọc những cuốn nhật ký chuyến bay cũ kỹ mà không biết để làm gì (Holliday kiếm được cho ông trong số những thứ sót lại trên một khoang tàu vũ trụ bị rơi).
Đến sáu giờ chiều, cái nóng bức bắt đầu lùi xa sau những bình nguyên đầy cây dẹt và điều hoà trong các căn nhà lần lượt tự động tắt. Ngôi làng chậm chạp trở lại với cuộc sống, các cửa sổ mở ra để đón không khí mát mẻ buổi tối và Grainger lại tới ăn sáng tại quán bar “Neptune” như mọi khi, trên đường đi ông luôn ngiêng ngó khi thì sang phải, lúc lại sang trái và lịch sự tháo cặp kính sẫm để chào những người già đang ngồi từng cặp trong bóng tối trên các bậu cửa ngắm những cặp khác phía bên kia con phố.
Trong một khách sạn vắng khách, cách Bắc Cực 5 dặm, Holliday thường nằm nướng thêm một tiếng nữa trên giường để nghe tiếng kêu và rít của những tháp san hô đang nguội dần, lấp lánh đằng xa như những ngôi chùa trắng. Anh nhìn thấy ngọn núi cân đối cách mình khoảng 20 dặm: đó là ngọn Hamington, ngọn núi gần nhất trong quần đảo Bezmuda, từ đáy biển bị cạn vươn lên trời cái đỉnh nhọn sắc của mình và trong ánh hoàng hôn, anh thấy rõ đường viền của cát trắng, giống như những vết sóng mà biển để lại sau lưng khi rút ra xa.
Holliday nói chung không thích đi vào làng, còn hôm nay, hơn bao giờ hết, anh lại càng không muốn. Vấn đề không chỉ là Grainger sẽ luôn có mặt trong cái quán “Neptune” bất di bất dịch, sẽ đùa cợt với cái phong cách bất di bất dịch pha trộn sự hài hước và những lời răn dạy (đó gần như là người duy nhất Holliday có thể nói chuyện và việc bị phụ thuộc vào người hơn tuổi làm anh thấy khó chịu), mà lý do còn là khi đó anh sẽ phải nói chuyện dứt khoát với nhà chức trách của Ủy ban Di dân và phải có một quyết định sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ tương lai của anh.
Trên một phương diện nào đó thì anh đã lựa chọn - Nhà chức trách Bullen đã hiểu điều đó khi tới đây vào tháng trước. Holliday không hề có những khả năng đặc biệt, những phẩm chất hay khả năng lãnh đạo cần thiết cho thế giới mới, do vậy mà Bullen cũng không cố gắng thuyết phục anh. Tuy vậy nhà chức trách này cũng nhắc anh chú ý đến một chi tiết nhỏ nhưng quan trọng, khiến Holliday phải suy nghĩ nghiêm túc trong suốt một tháng sau đó.
“Holliday ạ, đừng quên rằng, - Bullen đã nhắc nhở anh cuối buổi nói chuyện diễn ra ở phòng sau trong ngôi nhà của viên cảnh sát, - độ tuổi trung bình của dân trong làng cậu đã quá sáu mươi. Rất có thể sau mười năm nữa sẽ không còn ai ngoài cậu và Grainger, và nếu như phổi của ông ta hỏng thì cậu sẽ còn lại một mình”.
Ông ta ngừng lại để Holliday có đủ thời gian nhận thức được tình thế rồi khẽ nói tiếp: “Đám thanh niên sẽ ra đi trong chuyến tàu tiếp theo - cả hai cậu nhà Merruezov và Tom Juranda (xéo đi đồ tồi, Holliday nghĩ thầm, tao sẽ không ganh tị với mày đâu, sao Hỏa ạ), cậu có biết rằng cậu sẽ là người duy nhất chưa đến năm mươi tuổi còn lại?”
“Katy Sammers cũng sẽ ở lại”, - Holliday chợt phản đối, anh bỗng nhớ đến chiếc áo phin trắng, mái tóc dài màu rơm và những hình ảnh đó khiến anh thấy vững lòng.
Nhà chức trách đưa mắt lướt nhìn danh sách đơn xin di dân và miễn cưỡng gật đầu.
“Đúng, nhưng bởi cô ấy phải chăm sóc bà đang ốm. Khi bà già chết, Katy sẽ mất hút. Khi đó thì có gì giữ cô ta lại?”
“Không gì cả”, Holliday máy móc gật đầu.
Đúng, bây giờ thì chẳng có gì hết. Anh đã băn khoăn về chuyện này trong một thời gian dài khi cho rằng anh có thể làm gì đó. Katy bằng anh, hai mươi hai tuổi, và nếu không kể Grainger thì có lẽ cô là người duy nhất hiểu sự dứt khoát của anh muốn trụ lại trên Trái đất bị bỏ quên và canh giữ nó. Nhưng bà già đã chết ba ngày sau khi nhà chức trách đi khỏi và ngay ngày hôm sau Katy bắt đầu gói ghém đồ đạc. Có lẽ đầu óc Holliday u tối hay sao mà trước đó anh lại nghĩ rằng cô sẽ ở lại, và bây giờ anh thấy bất ổn với ý nghĩ, có thể những gì anh nghĩ về bản thân cũng đều là sai lầm.
Rời chiếc võng, anh bước ra mái nhà bằng phẳng, ngắm nhìn những trận mưa cát lấp lánh lân quang trong các chất rơi xuống cùng với muối. Anh sống trong một căn phòng lịch sự trên mái của khách sạn mười tầng này, chỗ duy nhất còn tránh được cái nóng, nhưng khách sạn cũng đang bị lún xuống đáy đại dương và vì lẽ đó mà trên các bức tường xuất hiện những vết nứt rộng, chẳng mấy chốc chúng sẽ lan đến tận nóc. Tầng một đã lún hoàn toàn. Khi tầng tiếp theo bị lún hẳn (cùng lắm là sáu tháng nữa) anh sẽ phải rời bỏ khu nghỉ mát cũ ở Idle-End này, và có nghĩa là anh sẽ phải sống chung với Grainger trong cùng một căn nhà.
Có tiếng động cơ ì ì cách đó khoảng một dặm. Trong bóng tối chạng vạng Holliday nhìn thấy chiếc trực thăng của nhân viên Ủy ban Di dân đang nhằm hướng khách sạn bay tới, những chiếc cánh quạt không ngừng quay tít, sau đó Bullen chợt nhớ ra mình đang ở đâu và bay về phía làng, nơi có đường băng hạ cánh.
Đã tám giờ, Holliday biết vậy. Cuộc nói chuyện được ấn định vào tám rưỡi sáng. Bullen sẽ ngủ qua đêm ở chỗ thanh tra, sẽ hoàn thành những trọng trách khác của mình với tư cách quan tòa quốc tế và người quản lý hộ tịch, và sau cuộc gặp với Holliday, ông ta sẽ lại tiếp tục cuộc hành trình. Holliday được tự do trong mười hai tiếng đồng hồ tới, anh vẫn còn cơ hội để có quyết định cuối cùng (hay chính xác hơn là không quyết định), nhưng khi hết hạn định, anh sẽ phải lựa chọn và sẽ không còn đường thoái lui nữa. Đây là chuyến viếng thăm cuối cùng của nhà chức trách, chuyến công du cuối cùng của ông ấy tới những ngôi làng đang thưa dần người ở, từ Mũi Thánh Elena đến quần đảo Azores, rồi từ đó tới Bermuda, rồi tới quần đảo Canary nơi có sân bay vũ trụ lớn nhất của Đại Tây Dương xưa kia. Chỉ còn hai trong số những con tàu vũ trụ dân sự lớn nhất vẫn duy trì được quỹ đạo và còn có thể điều khiển, các chiếc khác (chúng đã từng có hàng trăm) đều đã rơi khỏi bầu trời, và nếu hai con tàu vũ trụ dân sự kia cũng hỏng thì Trái đất có thể coi là đã bị con người bỏ rơi. Khi đó những người cuối cùng có thể sẽ được đón là một vài nhân viên bưu điện.
Trên đường tới làng, Holliday hai lần phải tháo tấm chắn muối được gắn ở cái đỡ va trước của chiếc xe Jeep để cạo khỏi mặt đường làm từ dây kim loại lớp muối đã kịp tích tụ trong mấy tiếng buổi chiều. Hai bên đường lô nhô những cây dẹt bị biến đổi, giống như những cây xương rồng khổng lồ (chất phóng xạ đồng vị với phốt pho đã đẩy nhanh quá trình biến đổi gen), trên những trảng muối trải dài tối sẫm như mọc lên một vườn trăng. Nhưng cảnh hoang mạc hóa này chỉ càng làm Holliday quyết tâm trụ lại Trái đất. Phần lớn các buổi tối khi không tranh luận với Grainger trong quán “Neptune”, Holliday thường đi trong đáy đại dương, leo lên những con tàu vũ trụ bị rơi hay lang thang cùng với Katy Sammers trong những rừng cây dẹt. Đôi khi anh thuyết phục được Grainger đi cùng, Holliday hy vọng rằng những hiểu biết của người hơn tuổi (Grainger từng là nhà sinh học biển) sẽ giúp anh phân biệt tốt hơn hệ thực vật của đáy đại dương. Nhưng đáy biển thực sự thì đã bị chôn vùi dưới những dải cát vô tận và đi tìm nó ở đây cũng vô vọng như đi tìm dưới lớp cát của sa mạc Sahara mà thôi.
Khi Holliday bước vào quán “Neptune” (quán bar trần thấp, nội thất với gam màu kem và ánh kim loại phủ crôm là chủ đạo, nằm ở phía đầu đường băng cất cánh và trước đây được dùng làm phòng chờ cho khách bay chuyển tiếp, thời có hàng nghìn người di dân từ Nam Bán cầu tới quần đảo Canary), Grainger vẫy anh và đập đập gậy vào cửa sổ, về phía cái bóng lờ mờ xa xôi của chiếc trực thăng đang đỗ trên sân băng bê tông trước nhà để máy bay, cách họ chừng năm mươi tấc Anh.
- Cháu biết rồi, - Holliday vừa nói như gắt vừa ngồi xuống bên cạnh, tay cầm cốc rượu. - Đừng có làm rộn lên, cháu đã thấy nó đang bay rồi.
Grainger ngoác miệng cười. Khuôn mặt đầy vẻ cương quyết của Holliday với những lọn tóc bất trị vàng sẫm rủ xuống trán, và việc anh ta luôn cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm cá nhân vì những chuyện xảy ra luôn làm Grainger khoái chí.
- Cậu cũng đừng có rộn lên, - vừa nói ông vừa sửa lại cái gối đeo vai bên trong áo sơ mi Hawaii, phía không có lá phổi (ông bị mất nó trong một lần lặn không đeo mặt nạ ba mươi năm về trước). - Có phải tôi bay lên Sao Hỏa tuần sau đâu.
Holliday nhìn chiếc cốc.
- Và cũng không phải cháu.
Anh rời mắt khỏi cái cốc, nhìn khuôn mặt cau có, nhăn cứng vì không hài lòng của Grainger, sau đó vừa cười vừa nói vẻ châm chọc:
- Chú làm như thể không biết!
Grainger bật cười và gõ chiếc gậy lên cửa sổ, bây giờ thì như thể ra hiệu cho máy bay cất cánh.
- Vậy là cháu nhất định không đi sao? Cháu đã quyết định dứt khoát?
- Không mà cũng có. Cháu vẫn chưa quyết định, nhưng đồng thời cháu sẽ không bay đi. Chú có thấy sự khác biệt?
- Rất rõ, thưa triết gia Schopenhauer, - Grainger lại ngoác miệng cười. Rồi chợt đẩy chiếc cốc ra.
- Holliday, cháu biết không, bất hạnh của cháu là ở chỗ cháu đã quá nghiêm túc với bản thân. Giá mà cháu biết được cháu nực cười đến mức nào.
- Nực cười ư? Tại sao? - Holliday chồm dậy.
- Việc cháu đã quyết định rồi hay chưa thì có ý nghĩa gì? Lúc này chỉ có một điều là quan trọng: phải lấy can đảm bay tới quần đảo Canary rồi sau đó bay vào khoảng không xanh thẳm! Hãy nói xem, cháu yêu quý, cháu ở lại đây làm gì? Trái đất đã chết và đã được mai táng. Nó không còn có quá khứ, chẳng có hiện tại mà cũng không có cả tương lai. Không lẽ cháu không thấy có trách nhiệm trước số phận sinh học của bản thân sao?
- Ôi, xin chú hãy tha cho cháu!
Holliday lôi từ trong túi áo tờ phiếu tiêu chuẩn hàng công nghiệp và chìa nó cho Grainger, người chịu trách nhiệm phát hàng.
- Cháu cần một chiếc bơm mới cho chiếc tủ lạnh gia đình, loại “Fregeder” ba mươi oát. Vẫn còn chứ chú?
Grainger rên lên đầy kịch tính, sau đó giận dữ khịt khịt nhận lấy tờ phiếu.
- Trời ơi, cháu chính là Robinson Crusoe ngược - vẫn còn sử dụng những thứ giẻ rách cũ kỹ, cố gắng tận dụng chúng. Người cuối cùng còn lại trên bờ: tất cả đã đi khỏi, còn anh ta ở lại! Cứ cho rằng cháu đúng là một nhà thơ và một con người mơ mộng, nhưng chẳng lẽ cháu không thấy rằng hai loài sinh vật đó đã bị tuyệt chủng rồi sao?
Holliday không rời mắt khỏi chiếc trực thăng đang đậu trên đường băng bê tông và những ngọn lửa phản chiếu từ các bụi cây muối đang bao vây ngôi làng khắp bốn phía. Mỗi ngày những bụi cây lại tiến lại gần hơn, giờ đây thật khó kêu gọi mọi người mỗi tuần tập trung một lần để đánh đuổi muối ra xa. Sau mười năm nữa có thể anh sẽ ở trong tình thế như Robinson Crusoe. May thay trong các thùng chứa to như những bình đựng khí ga, nước và dầu hỏa vẫn còn đủ cho năm mươi năm. Nếu như không có những thùng chứa này, hẳn nhiên anh đã không có sự lựa chọn.
- Mặc kệ cháu! - anh nói với Grainger. - Chú nhằm vào cháu bởi vì chính chú buộc phải ở lại. Có thể cháu đúng là loại sinh vật đã tuyệt chủng, nhưng thay vì biến khỏi đây vĩnh viễn, tốt hơn là cháu sẽ cố trụ lại đây. Có điều gì đó mách bảo cháu rằng, đến một ngày, con người sẽ quay trở lại đây. Có ai đó cần phải ở lại, phải có ai đó giữ lại những ký ức về “cuộc sống trên trái đất”. Trái đất không phải là một cái vỏ vô dụng, người ta ăn ruột còn vỏ thì quẳng đi. Chúng ta đã sinh ra trên Trái đất. Chỉ có chúng ta mới nhớ nó một cách thực sự.
Grainger chậm rãi gật đầu như thể còn đang suy nghĩ. Và hình như ông đang định nói thì màn đen ngoài cửa sổ chợt bị một vòng trắng chói lòa xuyên thủng. Không thấy nơi nó tiếp đất, thùng chứa đã che mất.
Holliday đứng dậy thò đầu qua cửa sổ.
- Chắc có lẽ đó là một con tàu vũ trụ. Và hình như thuộc loại lớn.
Trong đêm, những tiếng vọng dài của một vụ nổ lớn dội lại từ những tháp san hô. Rồi sau đó là một loạt những cột sáng, có thêm những tiếng nổ nữa nhưng yếu hơn, và toàn bộ phía tây bắc bị bao phủ bởi một màn hơi trắng.
- Hồ Đại Tây Dương, - Grainger nhận xét. - Chúng ta thử ra đó xem, có thể con tàu sẽ cho thấy điều gì đó thú vị?
Nửa tiếng sau, khi đã để đầy ghế sau chiếc xe Jeep bộ ống nghiệm cũ của Grainger dành cho những mẫu thực vật và động vật cũng như phim chiếu và dụng cụ để làm thú nhồi, họ đi tới mép phía nam của Hồ Đại Tây Dương, cách họ khoảng mười dặm.
Chính tại chỗ đó Holliday đã nhìn thấy một con cá.
Hồ Đại Tây Dương, một dải lụa mỏng chứa nước biển tù đọng, phía bắc giáp với quần đảo Bermuda, có chiều dài mười dặm và chiều rộng một dặm, là những gì còn sót lại của Đại Tây Dương - chính xác hơn là của tất cả các đại dương đã từng chiếm hai phần ba bề mặt trái đất. Việc khai thác ô xy từ nước biển một cách bừa bãi và vội vã (ô xy dùng để tạo bầu khí quyển nhân tạo xung quanh những hành tinh mới được khai thác) đã dẫn đến việc biển trên thế giới biến mất nhanh chóng và không gì cứu vãn nổi, và sự biến mất của biển, đến lượt nó lại dẫn đến những thay đổi về khí hậu và địa lý khác, những hiện tượng này đến lượt mình lại kéo theo sự hủy diệt không tránh khỏi của mọi sự sống trên trái đất. Ô xy được lấy từ nước biển bằng phương pháp điện phân, sau đó được nén lại và chuyển đi khỏi trái đất bằng tên lửa, còn khí hydro được giải phóng thẳng vào bầu khí quyển của trái đất. Và kết quả là chỉ còn lại một lớp mỏng không khí đặc có thể thở được, dày độ hơn một dặm, và những người còn ở lại trên trái đất buộc phải rời khỏi những châu lục nhiễm độc, bị hoang mạc hóa mà lùi xuống sống dưới đáy đại dương. Trong khách sạn tại Idle-End, Holliday thường ngồi hàng giờ liền giữa đống sách báo mà anh thu nhặt được, những cuốn sách kể về những thành phố của trái đất xưa. Ngay cả Grainger cũng thường kể cho anh nghe về tuổi trẻ của mình, khi các đại dương chỉ mới cạn một nửa và ông là nhà sinh vật học về biển tại trường tổng hợp của Miami, bờ biển Florida lúc đó trải dài vô tận, đã trở thành phòng thí nghiệm đối với ông, phòng thí nghiệm mà trước đó ông thậm chí không dám mơ tới.
- Biển cả, đó là ký ức chung của chúng ta, - ông thường nói với Holliday. - Khi làm khô cạn chúng, chúng ta đã xóa đi quá khứ của mỗi chúng ta và hơn thế nữa, xóa đi khái niệm chúng ta là ai. Đó lại là một lý lẽ nữa để cháu bay khỏi đây. Không có biển, cuộc sống trở nên không thể chịu đựng được. Chúng ta chỉ còn là những cái bóng đáng thương của hồi ức, những cái bóng mù lòa, không nhà cửa, lang thang trên cái vỏ sọ trái đất.
Sau nửa tiếng, sau khi vượt qua những bờ biển sình lầy, họ tới bên hồ. Khắp nơi là những trảng muối xám hiện lên trong bóng tối lờ mờ, những vết nứt ngoằn ngoèo trong những chỗ trũng giữa các trảng muối, chẻ những phiến muối và chia chúng thành những hình lục lăng. Mặt nước phủ một lớp hơi nước đặc như mây. Họ dừng chiếc xe Jeep trên một mũi thấp và thò đầu khỏi xe ngắm chiếc đĩa lớn, thân con tàu vũ trụ. Con tàu rất lớn, có đường kính gần ba trăm yard 1. Nó đang nằm chổng ngược trong vùng nước nông, vỏ cháy xém, nát bét, những cái lỗ to há hốc ở chỗ trước đó là các lò phản ứng đã bị bắn ra khỏi ổ trong lúc va xuống đất và nổ tung ở phía bên kia hồ. Grainger và Holliday khó khăn lắm mới nhìn thấy qua lớp khói hai bộ cánh quạt với cuống trục chổng lên trời cách chỗ họ đứng chừng phần tư dặm.
Tận Thế
James Ballard
___________________________
Ban ngày họ thường ngủ. Khi bình minh lên, họ đi về nhà lúc mặt trời nhô ra khỏi những con đê muối trải dài, cửa sổ được đóng kín để ngăn sự nóng bức và trong các căn nhà không một tiếng động. Phần lớn dân trong làng là người già, họ thiếp đi nhanh chóng trong những ngôi nhà của mình, nhưng Grainger với cái đầu không khi nào yên ổn và một lá phổi duy nhất thường thức dậy sau buổi trưa và không thể ngủ tiếp được. Trong tiếng rít của những bức tường kim loại thỉnh thoảng lại vặn vẹo, ông thường cố gắng đọc những cuốn nhật ký chuyến bay cũ kỹ mà không biết để làm gì (Holliday kiếm được cho ông trong số những thứ sót lại trên một khoang tàu vũ trụ bị rơi).
Đến sáu giờ chiều, cái nóng bức bắt đầu lùi xa sau những bình nguyên đầy cây dẹt và điều hoà trong các căn nhà lần lượt tự động tắt. Ngôi làng chậm chạp trở lại với cuộc sống, các cửa sổ mở ra để đón không khí mát mẻ buổi tối và Grainger lại tới ăn sáng tại quán bar “Neptune” như mọi khi, trên đường đi ông luôn ngiêng ngó khi thì sang phải, lúc lại sang trái và lịch sự tháo cặp kính sẫm để chào những người già đang ngồi từng cặp trong bóng tối trên các bậu cửa ngắm những cặp khác phía bên kia con phố.
Trong một khách sạn vắng khách, cách Bắc Cực 5 dặm, Holliday thường nằm nướng thêm một tiếng nữa trên giường để nghe tiếng kêu và rít của những tháp san hô đang nguội dần, lấp lánh đằng xa như những ngôi chùa trắng. Anh nhìn thấy ngọn núi cân đối cách mình khoảng 20 dặm: đó là ngọn Hamington, ngọn núi gần nhất trong quần đảo Bezmuda, từ đáy biển bị cạn vươn lên trời cái đỉnh nhọn sắc của mình và trong ánh hoàng hôn, anh thấy rõ đường viền của cát trắng, giống như những vết sóng mà biển để lại sau lưng khi rút ra xa.
Holliday nói chung không thích đi vào làng, còn hôm nay, hơn bao giờ hết, anh lại càng không muốn. Vấn đề không chỉ là Grainger sẽ luôn có mặt trong cái quán “Neptune” bất di bất dịch, sẽ đùa cợt với cái phong cách bất di bất dịch pha trộn sự hài hước và những lời răn dạy (đó gần như là người duy nhất Holliday có thể nói chuyện và việc bị phụ thuộc vào người hơn tuổi làm anh thấy khó chịu), mà lý do còn là khi đó anh sẽ phải nói chuyện dứt khoát với nhà chức trách của Ủy ban Di dân và phải có một quyết định sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ tương lai của anh.
Trên một phương diện nào đó thì anh đã lựa chọn - Nhà chức trách Bullen đã hiểu điều đó khi tới đây vào tháng trước. Holliday không hề có những khả năng đặc biệt, những phẩm chất hay khả năng lãnh đạo cần thiết cho thế giới mới, do vậy mà Bullen cũng không cố gắng thuyết phục anh. Tuy vậy nhà chức trách này cũng nhắc anh chú ý đến một chi tiết nhỏ nhưng quan trọng, khiến Holliday phải suy nghĩ nghiêm túc trong suốt một tháng sau đó.
“Holliday ạ, đừng quên rằng, - Bullen đã nhắc nhở anh cuối buổi nói chuyện diễn ra ở phòng sau trong ngôi nhà của viên cảnh sát, - độ tuổi trung bình của dân trong làng cậu đã quá sáu mươi. Rất có thể sau mười năm nữa sẽ không còn ai ngoài cậu và Grainger, và nếu như phổi của ông ta hỏng thì cậu sẽ còn lại một mình”.
Ông ta ngừng lại để Holliday có đủ thời gian nhận thức được tình thế rồi khẽ nói tiếp: “Đám thanh niên sẽ ra đi trong chuyến tàu tiếp theo - cả hai cậu nhà Merruezov và Tom Juranda (xéo đi đồ tồi, Holliday nghĩ thầm, tao sẽ không ganh tị với mày đâu, sao Hỏa ạ), cậu có biết rằng cậu sẽ là người duy nhất chưa đến năm mươi tuổi còn lại?”
“Katy Sammers cũng sẽ ở lại”, - Holliday chợt phản đối, anh bỗng nhớ đến chiếc áo phin trắng, mái tóc dài màu rơm và những hình ảnh đó khiến anh thấy vững lòng.
Nhà chức trách đưa mắt lướt nhìn danh sách đơn xin di dân và miễn cưỡng gật đầu.
“Đúng, nhưng bởi cô ấy phải chăm sóc bà đang ốm. Khi bà già chết, Katy sẽ mất hút. Khi đó thì có gì giữ cô ta lại?”
“Không gì cả”, Holliday máy móc gật đầu.
Đúng, bây giờ thì chẳng có gì hết. Anh đã băn khoăn về chuyện này trong một thời gian dài khi cho rằng anh có thể làm gì đó. Katy bằng anh, hai mươi hai tuổi, và nếu không kể Grainger thì có lẽ cô là người duy nhất hiểu sự dứt khoát của anh muốn trụ lại trên Trái đất bị bỏ quên và canh giữ nó. Nhưng bà già đã chết ba ngày sau khi nhà chức trách đi khỏi và ngay ngày hôm sau Katy bắt đầu gói ghém đồ đạc. Có lẽ đầu óc Holliday u tối hay sao mà trước đó anh lại nghĩ rằng cô sẽ ở lại, và bây giờ anh thấy bất ổn với ý nghĩ, có thể những gì anh nghĩ về bản thân cũng đều là sai lầm.
Rời chiếc võng, anh bước ra mái nhà bằng phẳng, ngắm nhìn những trận mưa cát lấp lánh lân quang trong các chất rơi xuống cùng với muối. Anh sống trong một căn phòng lịch sự trên mái của khách sạn mười tầng này, chỗ duy nhất còn tránh được cái nóng, nhưng khách sạn cũng đang bị lún xuống đáy đại dương và vì lẽ đó mà trên các bức tường xuất hiện những vết nứt rộng, chẳng mấy chốc chúng sẽ lan đến tận nóc. Tầng một đã lún hoàn toàn. Khi tầng tiếp theo bị lún hẳn (cùng lắm là sáu tháng nữa) anh sẽ phải rời bỏ khu nghỉ mát cũ ở Idle-End này, và có nghĩa là anh sẽ phải sống chung với Grainger trong cùng một căn nhà.
Có tiếng động cơ ì ì cách đó khoảng một dặm. Trong bóng tối chạng vạng Holliday nhìn thấy chiếc trực thăng của nhân viên Ủy ban Di dân đang nhằm hướng khách sạn bay tới, những chiếc cánh quạt không ngừng quay tít, sau đó Bullen chợt nhớ ra mình đang ở đâu và bay về phía làng, nơi có đường băng hạ cánh.
Đã tám giờ, Holliday biết vậy. Cuộc nói chuyện được ấn định vào tám rưỡi sáng. Bullen sẽ ngủ qua đêm ở chỗ thanh tra, sẽ hoàn thành những trọng trách khác của mình với tư cách quan tòa quốc tế và người quản lý hộ tịch, và sau cuộc gặp với Holliday, ông ta sẽ lại tiếp tục cuộc hành trình. Holliday được tự do trong mười hai tiếng đồng hồ tới, anh vẫn còn cơ hội để có quyết định cuối cùng (hay chính xác hơn là không quyết định), nhưng khi hết hạn định, anh sẽ phải lựa chọn và sẽ không còn đường thoái lui nữa. Đây là chuyến viếng thăm cuối cùng của nhà chức trách, chuyến công du cuối cùng của ông ấy tới những ngôi làng đang thưa dần người ở, từ Mũi Thánh Elena đến quần đảo Azores, rồi từ đó tới Bermuda, rồi tới quần đảo Canary nơi có sân bay vũ trụ lớn nhất của Đại Tây Dương xưa kia. Chỉ còn hai trong số những con tàu vũ trụ dân sự lớn nhất vẫn duy trì được quỹ đạo và còn có thể điều khiển, các chiếc khác (chúng đã từng có hàng trăm) đều đã rơi khỏi bầu trời, và nếu hai con tàu vũ trụ dân sự kia cũng hỏng thì Trái đất có thể coi là đã bị con người bỏ rơi. Khi đó những người cuối cùng có thể sẽ được đón là một vài nhân viên bưu điện.
Trên đường tới làng, Holliday hai lần phải tháo tấm chắn muối được gắn ở cái đỡ va trước của chiếc xe Jeep để cạo khỏi mặt đường làm từ dây kim loại lớp muối đã kịp tích tụ trong mấy tiếng buổi chiều. Hai bên đường lô nhô những cây dẹt bị biến đổi, giống như những cây xương rồng khổng lồ (chất phóng xạ đồng vị với phốt pho đã đẩy nhanh quá trình biến đổi gen), trên những trảng muối trải dài tối sẫm như mọc lên một vườn trăng. Nhưng cảnh hoang mạc hóa này chỉ càng làm Holliday quyết tâm trụ lại Trái đất. Phần lớn các buổi tối khi không tranh luận với Grainger trong quán “Neptune”, Holliday thường đi trong đáy đại dương, leo lên những con tàu vũ trụ bị rơi hay lang thang cùng với Katy Sammers trong những rừng cây dẹt. Đôi khi anh thuyết phục được Grainger đi cùng, Holliday hy vọng rằng những hiểu biết của người hơn tuổi (Grainger từng là nhà sinh học biển) sẽ giúp anh phân biệt tốt hơn hệ thực vật của đáy đại dương. Nhưng đáy biển thực sự thì đã bị chôn vùi dưới những dải cát vô tận và đi tìm nó ở đây cũng vô vọng như đi tìm dưới lớp cát của sa mạc Sahara mà thôi.
Khi Holliday bước vào quán “Neptune” (quán bar trần thấp, nội thất với gam màu kem và ánh kim loại phủ crôm là chủ đạo, nằm ở phía đầu đường băng cất cánh và trước đây được dùng làm phòng chờ cho khách bay chuyển tiếp, thời có hàng nghìn người di dân từ Nam Bán cầu tới quần đảo Canary), Grainger vẫy anh và đập đập gậy vào cửa sổ, về phía cái bóng lờ mờ xa xôi của chiếc trực thăng đang đỗ trên sân băng bê tông trước nhà để máy bay, cách họ chừng năm mươi tấc Anh.
- Cháu biết rồi, - Holliday vừa nói như gắt vừa ngồi xuống bên cạnh, tay cầm cốc rượu. - Đừng có làm rộn lên, cháu đã thấy nó đang bay rồi.
Grainger ngoác miệng cười. Khuôn mặt đầy vẻ cương quyết của Holliday với những lọn tóc bất trị vàng sẫm rủ xuống trán, và việc anh ta luôn cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm cá nhân vì những chuyện xảy ra luôn làm Grainger khoái chí.
- Cậu cũng đừng có rộn lên, - vừa nói ông vừa sửa lại cái gối đeo vai bên trong áo sơ mi Hawaii, phía không có lá phổi (ông bị mất nó trong một lần lặn không đeo mặt nạ ba mươi năm về trước). - Có phải tôi bay lên Sao Hỏa tuần sau đâu.
Holliday nhìn chiếc cốc.
- Và cũng không phải cháu.
Anh rời mắt khỏi cái cốc, nhìn khuôn mặt cau có, nhăn cứng vì không hài lòng của Grainger, sau đó vừa cười vừa nói vẻ châm chọc:
- Chú làm như thể không biết!
Grainger bật cười và gõ chiếc gậy lên cửa sổ, bây giờ thì như thể ra hiệu cho máy bay cất cánh.
- Vậy là cháu nhất định không đi sao? Cháu đã quyết định dứt khoát?
- Không mà cũng có. Cháu vẫn chưa quyết định, nhưng đồng thời cháu sẽ không bay đi. Chú có thấy sự khác biệt?
- Rất rõ, thưa triết gia Schopenhauer, - Grainger lại ngoác miệng cười. Rồi chợt đẩy chiếc cốc ra.
- Holliday, cháu biết không, bất hạnh của cháu là ở chỗ cháu đã quá nghiêm túc với bản thân. Giá mà cháu biết được cháu nực cười đến mức nào.
- Nực cười ư? Tại sao? - Holliday chồm dậy.
- Việc cháu đã quyết định rồi hay chưa thì có ý nghĩa gì? Lúc này chỉ có một điều là quan trọng: phải lấy can đảm bay tới quần đảo Canary rồi sau đó bay vào khoảng không xanh thẳm! Hãy nói xem, cháu yêu quý, cháu ở lại đây làm gì? Trái đất đã chết và đã được mai táng. Nó không còn có quá khứ, chẳng có hiện tại mà cũng không có cả tương lai. Không lẽ cháu không thấy có trách nhiệm trước số phận sinh học của bản thân sao?
- Ôi, xin chú hãy tha cho cháu!
Holliday lôi từ trong túi áo tờ phiếu tiêu chuẩn hàng công nghiệp và chìa nó cho Grainger, người chịu trách nhiệm phát hàng.
- Cháu cần một chiếc bơm mới cho chiếc tủ lạnh gia đình, loại “Fregeder” ba mươi oát. Vẫn còn chứ chú?
Grainger rên lên đầy kịch tính, sau đó giận dữ khịt khịt nhận lấy tờ phiếu.
- Trời ơi, cháu chính là Robinson Crusoe ngược - vẫn còn sử dụng những thứ giẻ rách cũ kỹ, cố gắng tận dụng chúng. Người cuối cùng còn lại trên bờ: tất cả đã đi khỏi, còn anh ta ở lại! Cứ cho rằng cháu đúng là một nhà thơ và một con người mơ mộng, nhưng chẳng lẽ cháu không thấy rằng hai loài sinh vật đó đã bị tuyệt chủng rồi sao?
Holliday không rời mắt khỏi chiếc trực thăng đang đậu trên đường băng bê tông và những ngọn lửa phản chiếu từ các bụi cây muối đang bao vây ngôi làng khắp bốn phía. Mỗi ngày những bụi cây lại tiến lại gần hơn, giờ đây thật khó kêu gọi mọi người mỗi tuần tập trung một lần để đánh đuổi muối ra xa. Sau mười năm nữa có thể anh sẽ ở trong tình thế như Robinson Crusoe. May thay trong các thùng chứa to như những bình đựng khí ga, nước và dầu hỏa vẫn còn đủ cho năm mươi năm. Nếu như không có những thùng chứa này, hẳn nhiên anh đã không có sự lựa chọn.
- Mặc kệ cháu! - anh nói với Grainger. - Chú nhằm vào cháu bởi vì chính chú buộc phải ở lại. Có thể cháu đúng là loại sinh vật đã tuyệt chủng, nhưng thay vì biến khỏi đây vĩnh viễn, tốt hơn là cháu sẽ cố trụ lại đây. Có điều gì đó mách bảo cháu rằng, đến một ngày, con người sẽ quay trở lại đây. Có ai đó cần phải ở lại, phải có ai đó giữ lại những ký ức về “cuộc sống trên trái đất”. Trái đất không phải là một cái vỏ vô dụng, người ta ăn ruột còn vỏ thì quẳng đi. Chúng ta đã sinh ra trên Trái đất. Chỉ có chúng ta mới nhớ nó một cách thực sự.
Grainger chậm rãi gật đầu như thể còn đang suy nghĩ. Và hình như ông đang định nói thì màn đen ngoài cửa sổ chợt bị một vòng trắng chói lòa xuyên thủng. Không thấy nơi nó tiếp đất, thùng chứa đã che mất.
Holliday đứng dậy thò đầu qua cửa sổ.
- Chắc có lẽ đó là một con tàu vũ trụ. Và hình như thuộc loại lớn.
Trong đêm, những tiếng vọng dài của một vụ nổ lớn dội lại từ những tháp san hô. Rồi sau đó là một loạt những cột sáng, có thêm những tiếng nổ nữa nhưng yếu hơn, và toàn bộ phía tây bắc bị bao phủ bởi một màn hơi trắng.
- Hồ Đại Tây Dương, - Grainger nhận xét. - Chúng ta thử ra đó xem, có thể con tàu sẽ cho thấy điều gì đó thú vị?
Nửa tiếng sau, khi đã để đầy ghế sau chiếc xe Jeep bộ ống nghiệm cũ của Grainger dành cho những mẫu thực vật và động vật cũng như phim chiếu và dụng cụ để làm thú nhồi, họ đi tới mép phía nam của Hồ Đại Tây Dương, cách họ khoảng mười dặm.
Chính tại chỗ đó Holliday đã nhìn thấy một con cá.
Hồ Đại Tây Dương, một dải lụa mỏng chứa nước biển tù đọng, phía bắc giáp với quần đảo Bermuda, có chiều dài mười dặm và chiều rộng một dặm, là những gì còn sót lại của Đại Tây Dương - chính xác hơn là của tất cả các đại dương đã từng chiếm hai phần ba bề mặt trái đất. Việc khai thác ô xy từ nước biển một cách bừa bãi và vội vã (ô xy dùng để tạo bầu khí quyển nhân tạo xung quanh những hành tinh mới được khai thác) đã dẫn đến việc biển trên thế giới biến mất nhanh chóng và không gì cứu vãn nổi, và sự biến mất của biển, đến lượt nó lại dẫn đến những thay đổi về khí hậu và địa lý khác, những hiện tượng này đến lượt mình lại kéo theo sự hủy diệt không tránh khỏi của mọi sự sống trên trái đất. Ô xy được lấy từ nước biển bằng phương pháp điện phân, sau đó được nén lại và chuyển đi khỏi trái đất bằng tên lửa, còn khí hydro được giải phóng thẳng vào bầu khí quyển của trái đất. Và kết quả là chỉ còn lại một lớp mỏng không khí đặc có thể thở được, dày độ hơn một dặm, và những người còn ở lại trên trái đất buộc phải rời khỏi những châu lục nhiễm độc, bị hoang mạc hóa mà lùi xuống sống dưới đáy đại dương. Trong khách sạn tại Idle-End, Holliday thường ngồi hàng giờ liền giữa đống sách báo mà anh thu nhặt được, những cuốn sách kể về những thành phố của trái đất xưa. Ngay cả Grainger cũng thường kể cho anh nghe về tuổi trẻ của mình, khi các đại dương chỉ mới cạn một nửa và ông là nhà sinh vật học về biển tại trường tổng hợp của Miami, bờ biển Florida lúc đó trải dài vô tận, đã trở thành phòng thí nghiệm đối với ông, phòng thí nghiệm mà trước đó ông thậm chí không dám mơ tới.
- Biển cả, đó là ký ức chung của chúng ta, - ông thường nói với Holliday. - Khi làm khô cạn chúng, chúng ta đã xóa đi quá khứ của mỗi chúng ta và hơn thế nữa, xóa đi khái niệm chúng ta là ai. Đó lại là một lý lẽ nữa để cháu bay khỏi đây. Không có biển, cuộc sống trở nên không thể chịu đựng được. Chúng ta chỉ còn là những cái bóng đáng thương của hồi ức, những cái bóng mù lòa, không nhà cửa, lang thang trên cái vỏ sọ trái đất.
Sau nửa tiếng, sau khi vượt qua những bờ biển sình lầy, họ tới bên hồ. Khắp nơi là những trảng muối xám hiện lên trong bóng tối lờ mờ, những vết nứt ngoằn ngoèo trong những chỗ trũng giữa các trảng muối, chẻ những phiến muối và chia chúng thành những hình lục lăng. Mặt nước phủ một lớp hơi nước đặc như mây. Họ dừng chiếc xe Jeep trên một mũi thấp và thò đầu khỏi xe ngắm chiếc đĩa lớn, thân con tàu vũ trụ. Con tàu rất lớn, có đường kính gần ba trăm yard 1. Nó đang nằm chổng ngược trong vùng nước nông, vỏ cháy xém, nát bét, những cái lỗ to há hốc ở chỗ trước đó là các lò phản ứng đã bị bắn ra khỏi ổ trong lúc va xuống đất và nổ tung ở phía bên kia hồ. Grainger và Holliday khó khăn lắm mới nhìn thấy qua lớp khói hai bộ cánh quạt với cuống trục chổng lên trời cách chỗ họ đứng chừng phần tư dặm.