PDA

View Full Version : NhỮng CÂu ChuyỆn Hay


thảo nguyên
17-05-2005, 08:43 PM
http://kim-son.com/mambo/images/stories/Literature/devilground.jpg



Tận Thế



James Ballard

___________________________



Ban ngày họ thường ngủ. Khi bình minh lên, họ đi về nhà lúc mặt trời nhô ra khỏi những con đê muối trải dài, cửa sổ được đóng kín để ngăn sự nóng bức và trong các căn nhà không một tiếng động. Phần lớn dân trong làng là người già, họ thiếp đi nhanh chóng trong những ngôi nhà của mình, nhưng Grainger với cái đầu không khi nào yên ổn và một lá phổi duy nhất thường thức dậy sau buổi trưa và không thể ngủ tiếp được. Trong tiếng rít của những bức tường kim loại thỉnh thoảng lại vặn vẹo, ông thường cố gắng đọc những cuốn nhật ký chuyến bay cũ kỹ mà không biết để làm gì (Holliday kiếm được cho ông trong số những thứ sót lại trên một khoang tàu vũ trụ bị rơi).



Đến sáu giờ chiều, cái nóng bức bắt đầu lùi xa sau những bình nguyên đầy cây dẹt và điều hoà trong các căn nhà lần lượt tự động tắt. Ngôi làng chậm chạp trở lại với cuộc sống, các cửa sổ mở ra để đón không khí mát mẻ buổi tối và Grainger lại tới ăn sáng tại quán bar “Neptune” như mọi khi, trên đường đi ông luôn ngiêng ngó khi thì sang phải, lúc lại sang trái và lịch sự tháo cặp kính sẫm để chào những người già đang ngồi từng cặp trong bóng tối trên các bậu cửa ngắm những cặp khác phía bên kia con phố.



Trong một khách sạn vắng khách, cách Bắc Cực 5 dặm, Holliday thường nằm nướng thêm một tiếng nữa trên giường để nghe tiếng kêu và rít của những tháp san hô đang nguội dần, lấp lánh đằng xa như những ngôi chùa trắng. Anh nhìn thấy ngọn núi cân đối cách mình khoảng 20 dặm: đó là ngọn Hamington, ngọn núi gần nhất trong quần đảo Bezmuda, từ đáy biển bị cạn vươn lên trời cái đỉnh nhọn sắc của mình và trong ánh hoàng hôn, anh thấy rõ đường viền của cát trắng, giống như những vết sóng mà biển để lại sau lưng khi rút ra xa.



Holliday nói chung không thích đi vào làng, còn hôm nay, hơn bao giờ hết, anh lại càng không muốn. Vấn đề không chỉ là Grainger sẽ luôn có mặt trong cái quán “Neptune” bất di bất dịch, sẽ đùa cợt với cái phong cách bất di bất dịch pha trộn sự hài hước và những lời răn dạy (đó gần như là người duy nhất Holliday có thể nói chuyện và việc bị phụ thuộc vào người hơn tuổi làm anh thấy khó chịu), mà lý do còn là khi đó anh sẽ phải nói chuyện dứt khoát với nhà chức trách của Ủy ban Di dân và phải có một quyết định sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ tương lai của anh.



Trên một phương diện nào đó thì anh đã lựa chọn - Nhà chức trách Bullen đã hiểu điều đó khi tới đây vào tháng trước. Holliday không hề có những khả năng đặc biệt, những phẩm chất hay khả năng lãnh đạo cần thiết cho thế giới mới, do vậy mà Bullen cũng không cố gắng thuyết phục anh. Tuy vậy nhà chức trách này cũng nhắc anh chú ý đến một chi tiết nhỏ nhưng quan trọng, khiến Holliday phải suy nghĩ nghiêm túc trong suốt một tháng sau đó.



“Holliday ạ, đừng quên rằng, - Bullen đã nhắc nhở anh cuối buổi nói chuyện diễn ra ở phòng sau trong ngôi nhà của viên cảnh sát, - độ tuổi trung bình của dân trong làng cậu đã quá sáu mươi. Rất có thể sau mười năm nữa sẽ không còn ai ngoài cậu và Grainger, và nếu như phổi của ông ta hỏng thì cậu sẽ còn lại một mình”.



Ông ta ngừng lại để Holliday có đủ thời gian nhận thức được tình thế rồi khẽ nói tiếp: “Đám thanh niên sẽ ra đi trong chuyến tàu tiếp theo - cả hai cậu nhà Merruezov và Tom Juranda (xéo đi đồ tồi, Holliday nghĩ thầm, tao sẽ không ganh tị với mày đâu, sao Hỏa ạ), cậu có biết rằng cậu sẽ là người duy nhất chưa đến năm mươi tuổi còn lại?”



“Katy Sammers cũng sẽ ở lại”, - Holliday chợt phản đối, anh bỗng nhớ đến chiếc áo phin trắng, mái tóc dài màu rơm và những hình ảnh đó khiến anh thấy vững lòng.



Nhà chức trách đưa mắt lướt nhìn danh sách đơn xin di dân và miễn cưỡng gật đầu.



“Đúng, nhưng bởi cô ấy phải chăm sóc bà đang ốm. Khi bà già chết, Katy sẽ mất hút. Khi đó thì có gì giữ cô ta lại?”



“Không gì cả”, Holliday máy móc gật đầu.



Đúng, bây giờ thì chẳng có gì hết. Anh đã băn khoăn về chuyện này trong một thời gian dài khi cho rằng anh có thể làm gì đó. Katy bằng anh, hai mươi hai tuổi, và nếu không kể Grainger thì có lẽ cô là người duy nhất hiểu sự dứt khoát của anh muốn trụ lại trên Trái đất bị bỏ quên và canh giữ nó. Nhưng bà già đã chết ba ngày sau khi nhà chức trách đi khỏi và ngay ngày hôm sau Katy bắt đầu gói ghém đồ đạc. Có lẽ đầu óc Holliday u tối hay sao mà trước đó anh lại nghĩ rằng cô sẽ ở lại, và bây giờ anh thấy bất ổn với ý nghĩ, có thể những gì anh nghĩ về bản thân cũng đều là sai lầm.



Rời chiếc võng, anh bước ra mái nhà bằng phẳng, ngắm nhìn những trận mưa cát lấp lánh lân quang trong các chất rơi xuống cùng với muối. Anh sống trong một căn phòng lịch sự trên mái của khách sạn mười tầng này, chỗ duy nhất còn tránh được cái nóng, nhưng khách sạn cũng đang bị lún xuống đáy đại dương và vì lẽ đó mà trên các bức tường xuất hiện những vết nứt rộng, chẳng mấy chốc chúng sẽ lan đến tận nóc. Tầng một đã lún hoàn toàn. Khi tầng tiếp theo bị lún hẳn (cùng lắm là sáu tháng nữa) anh sẽ phải rời bỏ khu nghỉ mát cũ ở Idle-End này, và có nghĩa là anh sẽ phải sống chung với Grainger trong cùng một căn nhà.



Có tiếng động cơ ì ì cách đó khoảng một dặm. Trong bóng tối chạng vạng Holliday nhìn thấy chiếc trực thăng của nhân viên Ủy ban Di dân đang nhằm hướng khách sạn bay tới, những chiếc cánh quạt không ngừng quay tít, sau đó Bullen chợt nhớ ra mình đang ở đâu và bay về phía làng, nơi có đường băng hạ cánh.



Đã tám giờ, Holliday biết vậy. Cuộc nói chuyện được ấn định vào tám rưỡi sáng. Bullen sẽ ngủ qua đêm ở chỗ thanh tra, sẽ hoàn thành những trọng trách khác của mình với tư cách quan tòa quốc tế và người quản lý hộ tịch, và sau cuộc gặp với Holliday, ông ta sẽ lại tiếp tục cuộc hành trình. Holliday được tự do trong mười hai tiếng đồng hồ tới, anh vẫn còn cơ hội để có quyết định cuối cùng (hay chính xác hơn là không quyết định), nhưng khi hết hạn định, anh sẽ phải lựa chọn và sẽ không còn đường thoái lui nữa. Đây là chuyến viếng thăm cuối cùng của nhà chức trách, chuyến công du cuối cùng của ông ấy tới những ngôi làng đang thưa dần người ở, từ Mũi Thánh Elena đến quần đảo Azores, rồi từ đó tới Bermuda, rồi tới quần đảo Canary nơi có sân bay vũ trụ lớn nhất của Đại Tây Dương xưa kia. Chỉ còn hai trong số những con tàu vũ trụ dân sự lớn nhất vẫn duy trì được quỹ đạo và còn có thể điều khiển, các chiếc khác (chúng đã từng có hàng trăm) đều đã rơi khỏi bầu trời, và nếu hai con tàu vũ trụ dân sự kia cũng hỏng thì Trái đất có thể coi là đã bị con người bỏ rơi. Khi đó những người cuối cùng có thể sẽ được đón là một vài nhân viên bưu điện.



Trên đường tới làng, Holliday hai lần phải tháo tấm chắn muối được gắn ở cái đỡ va trước của chiếc xe Jeep để cạo khỏi mặt đường làm từ dây kim loại lớp muối đã kịp tích tụ trong mấy tiếng buổi chiều. Hai bên đường lô nhô những cây dẹt bị biến đổi, giống như những cây xương rồng khổng lồ (chất phóng xạ đồng vị với phốt pho đã đẩy nhanh quá trình biến đổi gen), trên những trảng muối trải dài tối sẫm như mọc lên một vườn trăng. Nhưng cảnh hoang mạc hóa này chỉ càng làm Holliday quyết tâm trụ lại Trái đất. Phần lớn các buổi tối khi không tranh luận với Grainger trong quán “Neptune”, Holliday thường đi trong đáy đại dương, leo lên những con tàu vũ trụ bị rơi hay lang thang cùng với Katy Sammers trong những rừng cây dẹt. Đôi khi anh thuyết phục được Grainger đi cùng, Holliday hy vọng rằng những hiểu biết của người hơn tuổi (Grainger từng là nhà sinh học biển) sẽ giúp anh phân biệt tốt hơn hệ thực vật của đáy đại dương. Nhưng đáy biển thực sự thì đã bị chôn vùi dưới những dải cát vô tận và đi tìm nó ở đây cũng vô vọng như đi tìm dưới lớp cát của sa mạc Sahara mà thôi.



Khi Holliday bước vào quán “Neptune” (quán bar trần thấp, nội thất với gam màu kem và ánh kim loại phủ crôm là chủ đạo, nằm ở phía đầu đường băng cất cánh và trước đây được dùng làm phòng chờ cho khách bay chuyển tiếp, thời có hàng nghìn người di dân từ Nam Bán cầu tới quần đảo Canary), Grainger vẫy anh và đập đập gậy vào cửa sổ, về phía cái bóng lờ mờ xa xôi của chiếc trực thăng đang đỗ trên sân băng bê tông trước nhà để máy bay, cách họ chừng năm mươi tấc Anh.



- Cháu biết rồi, - Holliday vừa nói như gắt vừa ngồi xuống bên cạnh, tay cầm cốc rượu. - Đừng có làm rộn lên, cháu đã thấy nó đang bay rồi.



Grainger ngoác miệng cười. Khuôn mặt đầy vẻ cương quyết của Holliday với những lọn tóc bất trị vàng sẫm rủ xuống trán, và việc anh ta luôn cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm cá nhân vì những chuyện xảy ra luôn làm Grainger khoái chí.



- Cậu cũng đừng có rộn lên, - vừa nói ông vừa sửa lại cái gối đeo vai bên trong áo sơ mi Hawaii, phía không có lá phổi (ông bị mất nó trong một lần lặn không đeo mặt nạ ba mươi năm về trước). - Có phải tôi bay lên Sao Hỏa tuần sau đâu.



Holliday nhìn chiếc cốc.



- Và cũng không phải cháu.



Anh rời mắt khỏi cái cốc, nhìn khuôn mặt cau có, nhăn cứng vì không hài lòng của Grainger, sau đó vừa cười vừa nói vẻ châm chọc:



- Chú làm như thể không biết!



Grainger bật cười và gõ chiếc gậy lên cửa sổ, bây giờ thì như thể ra hiệu cho máy bay cất cánh.



- Vậy là cháu nhất định không đi sao? Cháu đã quyết định dứt khoát?



- Không mà cũng có. Cháu vẫn chưa quyết định, nhưng đồng thời cháu sẽ không bay đi. Chú có thấy sự khác biệt?



- Rất rõ, thưa triết gia Schopenhauer, - Grainger lại ngoác miệng cười. Rồi chợt đẩy chiếc cốc ra.



- Holliday, cháu biết không, bất hạnh của cháu là ở chỗ cháu đã quá nghiêm túc với bản thân. Giá mà cháu biết được cháu nực cười đến mức nào.



- Nực cười ư? Tại sao? - Holliday chồm dậy.



- Việc cháu đã quyết định rồi hay chưa thì có ý nghĩa gì? Lúc này chỉ có một điều là quan trọng: phải lấy can đảm bay tới quần đảo Canary rồi sau đó bay vào khoảng không xanh thẳm! Hãy nói xem, cháu yêu quý, cháu ở lại đây làm gì? Trái đất đã chết và đã được mai táng. Nó không còn có quá khứ, chẳng có hiện tại mà cũng không có cả tương lai. Không lẽ cháu không thấy có trách nhiệm trước số phận sinh học của bản thân sao?



- Ôi, xin chú hãy tha cho cháu!



Holliday lôi từ trong túi áo tờ phiếu tiêu chuẩn hàng công nghiệp và chìa nó cho Grainger, người chịu trách nhiệm phát hàng.



- Cháu cần một chiếc bơm mới cho chiếc tủ lạnh gia đình, loại “Fregeder” ba mươi oát. Vẫn còn chứ chú?



Grainger rên lên đầy kịch tính, sau đó giận dữ khịt khịt nhận lấy tờ phiếu.



- Trời ơi, cháu chính là Robinson Crusoe ngược - vẫn còn sử dụng những thứ giẻ rách cũ kỹ, cố gắng tận dụng chúng. Người cuối cùng còn lại trên bờ: tất cả đã đi khỏi, còn anh ta ở lại! Cứ cho rằng cháu đúng là một nhà thơ và một con người mơ mộng, nhưng chẳng lẽ cháu không thấy rằng hai loài sinh vật đó đã bị tuyệt chủng rồi sao?



Holliday không rời mắt khỏi chiếc trực thăng đang đậu trên đường băng bê tông và những ngọn lửa phản chiếu từ các bụi cây muối đang bao vây ngôi làng khắp bốn phía. Mỗi ngày những bụi cây lại tiến lại gần hơn, giờ đây thật khó kêu gọi mọi người mỗi tuần tập trung một lần để đánh đuổi muối ra xa. Sau mười năm nữa có thể anh sẽ ở trong tình thế như Robinson Crusoe. May thay trong các thùng chứa to như những bình đựng khí ga, nước và dầu hỏa vẫn còn đủ cho năm mươi năm. Nếu như không có những thùng chứa này, hẳn nhiên anh đã không có sự lựa chọn.



- Mặc kệ cháu! - anh nói với Grainger. - Chú nhằm vào cháu bởi vì chính chú buộc phải ở lại. Có thể cháu đúng là loại sinh vật đã tuyệt chủng, nhưng thay vì biến khỏi đây vĩnh viễn, tốt hơn là cháu sẽ cố trụ lại đây. Có điều gì đó mách bảo cháu rằng, đến một ngày, con người sẽ quay trở lại đây. Có ai đó cần phải ở lại, phải có ai đó giữ lại những ký ức về “cuộc sống trên trái đất”. Trái đất không phải là một cái vỏ vô dụng, người ta ăn ruột còn vỏ thì quẳng đi. Chúng ta đã sinh ra trên Trái đất. Chỉ có chúng ta mới nhớ nó một cách thực sự.



Grainger chậm rãi gật đầu như thể còn đang suy nghĩ. Và hình như ông đang định nói thì màn đen ngoài cửa sổ chợt bị một vòng trắng chói lòa xuyên thủng. Không thấy nơi nó tiếp đất, thùng chứa đã che mất.



Holliday đứng dậy thò đầu qua cửa sổ.



- Chắc có lẽ đó là một con tàu vũ trụ. Và hình như thuộc loại lớn.



Trong đêm, những tiếng vọng dài của một vụ nổ lớn dội lại từ những tháp san hô. Rồi sau đó là một loạt những cột sáng, có thêm những tiếng nổ nữa nhưng yếu hơn, và toàn bộ phía tây bắc bị bao phủ bởi một màn hơi trắng.



- Hồ Đại Tây Dương, - Grainger nhận xét. - Chúng ta thử ra đó xem, có thể con tàu sẽ cho thấy điều gì đó thú vị?



Nửa tiếng sau, khi đã để đầy ghế sau chiếc xe Jeep bộ ống nghiệm cũ của Grainger dành cho những mẫu thực vật và động vật cũng như phim chiếu và dụng cụ để làm thú nhồi, họ đi tới mép phía nam của Hồ Đại Tây Dương, cách họ khoảng mười dặm.



Chính tại chỗ đó Holliday đã nhìn thấy một con cá.



Hồ Đại Tây Dương, một dải lụa mỏng chứa nước biển tù đọng, phía bắc giáp với quần đảo Bermuda, có chiều dài mười dặm và chiều rộng một dặm, là những gì còn sót lại của Đại Tây Dương - chính xác hơn là của tất cả các đại dương đã từng chiếm hai phần ba bề mặt trái đất. Việc khai thác ô xy từ nước biển một cách bừa bãi và vội vã (ô xy dùng để tạo bầu khí quyển nhân tạo xung quanh những hành tinh mới được khai thác) đã dẫn đến việc biển trên thế giới biến mất nhanh chóng và không gì cứu vãn nổi, và sự biến mất của biển, đến lượt nó lại dẫn đến những thay đổi về khí hậu và địa lý khác, những hiện tượng này đến lượt mình lại kéo theo sự hủy diệt không tránh khỏi của mọi sự sống trên trái đất. Ô xy được lấy từ nước biển bằng phương pháp điện phân, sau đó được nén lại và chuyển đi khỏi trái đất bằng tên lửa, còn khí hydro được giải phóng thẳng vào bầu khí quyển của trái đất. Và kết quả là chỉ còn lại một lớp mỏng không khí đặc có thể thở được, dày độ hơn một dặm, và những người còn ở lại trên trái đất buộc phải rời khỏi những châu lục nhiễm độc, bị hoang mạc hóa mà lùi xuống sống dưới đáy đại dương. Trong khách sạn tại Idle-End, Holliday thường ngồi hàng giờ liền giữa đống sách báo mà anh thu nhặt được, những cuốn sách kể về những thành phố của trái đất xưa. Ngay cả Grainger cũng thường kể cho anh nghe về tuổi trẻ của mình, khi các đại dương chỉ mới cạn một nửa và ông là nhà sinh vật học về biển tại trường tổng hợp của Miami, bờ biển Florida lúc đó trải dài vô tận, đã trở thành phòng thí nghiệm đối với ông, phòng thí nghiệm mà trước đó ông thậm chí không dám mơ tới.



- Biển cả, đó là ký ức chung của chúng ta, - ông thường nói với Holliday. - Khi làm khô cạn chúng, chúng ta đã xóa đi quá khứ của mỗi chúng ta và hơn thế nữa, xóa đi khái niệm chúng ta là ai. Đó lại là một lý lẽ nữa để cháu bay khỏi đây. Không có biển, cuộc sống trở nên không thể chịu đựng được. Chúng ta chỉ còn là những cái bóng đáng thương của hồi ức, những cái bóng mù lòa, không nhà cửa, lang thang trên cái vỏ sọ trái đất.



Sau nửa tiếng, sau khi vượt qua những bờ biển sình lầy, họ tới bên hồ. Khắp nơi là những trảng muối xám hiện lên trong bóng tối lờ mờ, những vết nứt ngoằn ngoèo trong những chỗ trũng giữa các trảng muối, chẻ những phiến muối và chia chúng thành những hình lục lăng. Mặt nước phủ một lớp hơi nước đặc như mây. Họ dừng chiếc xe Jeep trên một mũi thấp và thò đầu khỏi xe ngắm chiếc đĩa lớn, thân con tàu vũ trụ. Con tàu rất lớn, có đường kính gần ba trăm yard 1. Nó đang nằm chổng ngược trong vùng nước nông, vỏ cháy xém, nát bét, những cái lỗ to há hốc ở chỗ trước đó là các lò phản ứng đã bị bắn ra khỏi ổ trong lúc va xuống đất và nổ tung ở phía bên kia hồ. Grainger và Holliday khó khăn lắm mới nhìn thấy qua lớp khói hai bộ cánh quạt với cuống trục chổng lên trời cách chỗ họ đứng chừng phần tư dặm.

thảo nguyên
17-05-2005, 08:46 PM
Đi men theo bờ (hồ nằm ở phía bên phải họ), họ khó nhọc đọc từng chữ cái được gắn trên vành bao quanh thân tàu trong lúc tiến lại gần khoang tàu. Con tàu khổng lồ đã tạo ra một loạt những cái hố ở phía nam hồ với những rãnh xẻ khổng lồ và Grainger lội trong nước ấm vớt những sinh vật sống. Chỗ này, chỗ kia ông vớt được cỏ chân ngỗng còi cọc và những con sao biển dị dạng và co quắp bởi những khối u ác tính. Những sợi tảo mỏng như mạng nhện dính vào giầy cao su của ông, đôi chỗ phình ra lấp lánh trong ánh sáng đục như những viên đá quý. Holliday và Grainger dừng lại trước một hố nước to nhất, có dạng bể bơi hình tròn, đường kính ba trăm bộ 2, nó đang cạn dần, nước chảy qua cái rãnh sâu mới hình thành cắt ngang bờ. Grainger thận trọng đi xuống sườn dốc để lấy những mẫu vật và bỏ vào các ống nghiệm trên giá đỡ. Holliday đứng trên eo đất giữa hồ và hố nước, ngẩng đầu nhìn mép khoang tàu vũ trụ đang lơ lửng trên đầu anh trong bóng tối giống như mạn thuyền.



Anh nhìn cánh cửa nát bét của một khoang lái dành cho phi hành đoàn và bỗng nhận thấy bề mặt ngược phía dưới có gì đó lay động. Anh thoáng nghĩ có thể đó là một hành khách thoát chết, nhưng rồi hiểu rằng đó chỉ là sóng trên mặt hố nước sau lưng anh phản chiếu lên lớp kim loại tráng nhôm.



Anh quay lại và thấy Grainger đứng cách anh khoảng mười bộ, nước ngập đến đầu gối, đang nhìn anh chằm chằm.



- Cháu vừa ném gì à? - Grainger hỏi. Holliday lắc đầu.



- Không.



Rồi anh nói thêm mà không biết mình đang nói gì:



- Có thể đó là một con cá quẫy.



- Gì cơ? Cá ư? Chẳng còn con nào trên cả hành tinh này. Đó là loại động vật đã tuyệt chủng cách đây mười năm. Lạ thật.



Và con cá lại quẫy lần nữa.



Họ đứng bất động mấy giây trong bóng đêm nhập nhoạng, theo dõi thân hình ánh bạc của con cá nổi lên trên mặt nước hồ ấm và nông, bơi trong hố nước vẽ những vòng tròn ngắn lấp lóa.



- Chó biển, - Grainger thì thào. - Thuộc họ cá mập. Khả năng thích ứng cao, và điều này cũng đã quá rõ ràng. Khỉ thật, rất có thể đây là con cá cuối cùng trên trái đất.



Holliday lội xuống lún sâu trong đất sét.



- Nước mặn lắm cơ mà! - Grainger cúi xuống vốc nước dè dặt nếm thử.



- Mặn, nhưng không đến mức quá mặn.



Ông ngoái liếc nhìn cái hồ qua vai.



- Thú vị thật đấy Holliday ạ.



Con chó biển cuống quýt nhảy về phía ông, uốn lượn thân hình dài hai bộ trong không khí. Những bãi bồi đất sét nổi lên mỗi lúc một nhiều, nước ở giữa lòng hố mới chỉ cao hơn một bộ.



Holliday chỉ vào chỗ bờ bị vỡ cách chỗ họ đứng năm mươi yard, vẫy Grainger và vùng chạy.



Năm phút sau chỗ vỡ đã bị chặn. Rồi Holliday chạy đi lấy chiếc Jeep và thận trọng lái nó qua những eo đất quanh co giữa những hố nước. Tới hố nước nơi có con cá, anh hạ tấm chắn gắn ở thanh đỡ va trước rồi lại ngồi vào xe và lái quanh hố nước gạt đất sét xuống nước. Khoảng hai ba tiếng sau đường kính hố nước giảm gần một nửa, nhưng bù lại mực nước dâng lên cao tới hơn hai bộ. Con chó biển không còn nhảy nữa, nó đã thoải mái bơi trên mặt nước, bằng những cử động như chớp của hàm đớp những cái cây nhỏ nhiều vô kể do chiếc Jeep gạt xuống cùng với đất sét. Trên thân hình ánh bạc dài ngoẵng của nó không hề có một vết trầy xước nào, còn những cái vây nhỏ rất khỏe và dẻo dai.



Grainger ngồi trên capô chiếc Jeep, ngả người vào kính chắn gió theo dõi những hành động của Holliday với vẻ ngưỡng mộ.



- Đúng là trong cháu có những nội lực tiềm ẩn, - ông ngạc nhiên nhận xét. - Chú không hề nghĩ rằng cháu có thể làm như vậy.



Holliday rửa tay trong nước rồi bước qua con đê đất sét bao quanh hố nước. Con chó biển quẫy nước sau lưng anh chỉ cách đó vài bộ.



- Cháu muốn nó sống được, - Holliday nói gọn lỏn. - Chỉ cần suy nghĩ, chú Grainger, chú sẽ thấy rằng hai triệu năm trước khi những sinh vật dưới nước đầu tiên bắt đầu lên cạn, những con cá ở lại dưới nước cũng giống hệt như chú cháu mình ở lại trên trái đất. ở một khía cạnh nào đó thì cá là chú và cháu, chỉ có điều là những con cá phản chiếu qua tấm gương biển cả.



Anh nặng nhọc ngồi xuống bậc lên xuống xe. Quần áo anh ướt rượt, chảy đầy muối và anh thở khó nhọc, không khí có độ ẩm cao. Phía đằng đông đường viền dài của Florida nổi lên trên đáy biển, đỉnh của nó đã được rọi sáng bằng những tia mặt trời mang đến sức nóng hủy diệt.



- Sẽ không sao nếu chúng ta bỏ nó lại đây đến sáng mai chứ? - Grainger ngồi vào sau vô lăng.



- Sẽ ổn thôi. Đi thôi, cháu cần nghỉ ngơi.



Ông hất đầu về phía con tàu vũ trụ lơ lửng bên bờ hố nước:



- Nó sẽ che được vài tiếng và như vậy thì chỗ này sẽ không quá nóng.



Họ đi vào làng, Grainger thỉnh thoảng lại giảm tốc độ để vẫy tay với những người già đang rời bậu cửa nhà mình, đang khép cửa sổ trong những ngôi nhà bằng kim loại.



- Thế còn Bullen? - Ông lo lắng hỏi Holliday. - Chắc ông ta đang đợi cháu.



- Để bay khỏi trái đất ư? Sau những gì vừa xảy ra đêm nay? Không. - Grainger đã dừng xe trước cửa “Neptune”. Ông lắc đầu.



- Cháu có quá quan trọng hóa con chó biển không đấy? Chúng đã từng có đến hàng triệu con, các đại dương gần như đông đặc chúng.



- Chú đã bỏ qua điều quan trọng nhất, - Holliday vừa trả lời vừa chọn thế ngồi thoải mái trên ghế và cố gắng lau muối trên mặt. - Con cá này còn sống, điều đó có nghĩa rằng vẫn còn có thể làm được gì đó trên trái đất. Trái đất, như chúng ta đã thấy, vẫn chưa cạn kiệt hoàn toàn, vẫn chưa chết. Chúng ta có thể phát triển những hình thái cuộc sống mới, tạo ta một môi sinh hoàn toàn mới.



Grainger bước vào quán bar để lấy một thùng bia còn Holliday vẫn ngồi sau vô lăng, mắt nhìn đăm đắm như thể có điều gì đó mà chỉ nội tâm anh nhận thấy. Grainger bước ra khỏi bar không chỉ một mình, Bullen đi cùng ông.



Nhà chức trách của Ủy ban Di dân đặt một chân lên bậc lên xuống xe và nhìn vào trong xe.



- Sao hả Holliday? Tôi không muốn nán lại thêm ở đây. Nếu như cháu không quan tâm, tôi sẽ tiếp tục lên đường. ở những hành tinh mới cuộc sống đang phát triển, và đó chỉ mới là bắt đầu, là bước đầu tiên trên con đường tới các vì sao. Tom Juranda và anh em nhà Merruezov sẽ bay vào tuần tới. Cháu có muốn nhập bọn với họ không?



- Xin lỗi, cháu không muốn, - Holliday trả lời cộc lốc, bê thùng bia vào xe, nhấn ga và chiếc Jeep lao trên con phố không người trong đám bụi gào rít.



Nửa tiếng sau, sảng khoái sau khi tắm và không còn khó chịu vì nóng, anh bước ra mái khách sạn ở Idle-End và đưa mắt tiễn chiếc trực thăng sau khi phành phạch trên đầu anh đã khuất dần trong bình nguyên mọc đầy đám cây mỏng bay về hướng con tàu vũ trụ bị rơi.



- Chúng ta đi ngay thôi! Còn chờ đợi gì nữa?



- Bĩnh tĩnh nào, - Grainger nói. - Cháu đã mất tự chủ rồi đó. Cháu có thể trở nên cực đoan và sẽ giết chết con vật đáng thương bằng lòng tốt của mình. Cháu có gì đấy?



Ông chỉ vào hộp đồ hộp mà Holliday để vào ngăn dưới bảng điều khiển.



- Mẩu vụn bánh mì.



Grainger thở dài rồi nhẹ đóng cửa chiếc xe Jeep.



- Chú phải nói rằng cháu đúng là đặc biệt! Nghiêm túc đấy. Già mà cháu cũng quan tâm tới chú như vậy! Chú cũng không đủ không khí để thở.



Cách hồ còn khoảng năm dặm thì Holliday chồm người về phía trước sau tay lái và chỉ vào những vết lốp xe còn mới in trên lớp muối mềm chạy ngang đường ở phía trước.



- Ai ở phía đó nhỉ? Chắc bọn họ muốn xem con tàu. - Grainger khẽ khụt khịt. - Có lẽ cháu muốn chia sẻ Vườn địa đàng mới phát hiện cho ai đó nữa chăng? Hay sẽ chỉ có cháu và nhà sinh vật học tư vấn cho cháu?



Holliday nhìn vào kính chắn gió.



- Những khoang tàu đó làm cháu bực bội, - anh nói. - Người ta vứt chúng xuống trái đất như thể đây là một bãi rác. Nhưng dù sao, nếu không có con tàu rơi xuống đây, cháu đã không bắt gặp con cá.



Họ đến hồ và đi tới gần hố nước nơi có con cá, phía trước, dấu vết của một chiếc xe khác biến mất trong những vũng nước rồi lại xuất hiện. Chiếc ô tô lạ đứng chình ình cách con tàu khoảng hai trăm tấc, chắn ngang đường họ.



- Đó là xe của anh em nhà Merruezov, - Holliday nói khi họ đi vòng qua chiếc “Buick” bẩn thỉu kềnh càng với những vạch sơn vàng, có còi điện nổi và vẽ đầy quốc kỳ. Có lẽ cả hai anh em đều ở đây.



Grainger chỉ tay về một phía:



- Bọn chúng đã ở trên khoang tàu kìa.



Thằng em đứng trên cao, tận mép ngoài của khoang tàu, uốn éo còn thằng anh và Tom Juranda, một thanh niên cao, vai rộng trong chiếc áo sĩ quan vũ trụ, đang như phát rồ cạnh hố nước nơi Holliday để con cá lại. Chúng cầm trong tay những hòn đá và cục muối lớn, ném xuống hố nước.



Holliday bỏ mặc Grainger, lao khỏi ghế ngồi, hét lạc giọng chạy tới hố nước. Hai đứa kia quá mải mê với trò của mình vẫn tiếp tục uốn éo và ném xuống hố nước những quả lựu đạn ngẫu hứng, còn thằng Merruezov em thể hiện sự ủng hộ của mình bằng những tiếng la khoái trá. Rồi Tom Juranda chạy lên bờ độ vài tấc và bắt đầu dùng chân phá con đê thấp bằng đất sét mà Holliday tạo ra xung quanh hố nước rồi lại ném đá xuống hố nước.



- Cút khỏi đây! Juranda! - Holliday gào lên. - Không được ném đá!



Tên này đã vung tay lên chuẩn bị ném xuống hố nước một cục muối to bằng viên gạch thì Holliday túm được vai nó và quay nó lại mạnh đến mức muối vung ra thành một đám bụi tinh thể ẩm, rồi Holliday chạy tới chỗ thằng Merruezov anh và đá nó.



Hố đã cạn nước. Con đê đất sét bị một cái rãnh sâu cắt ngang và nước chảy theo đó sang những hố nước bên cạnh. Phía dưới hố, ở chính giữa, giữa những viên đá và muối, vẫn còn sủi bọt trong vũng nước còn sót lại là cái xác biến dạng của con chó biển. Máu chảy từ những vết thương bị muối biến thành màu đỏ thẫm. Holliday lao tới Juranda giận giữ lắc vai nó.



- Juranda! Mày có biết mày đã làm gì không? Mày... - Cảm thấy kiệt sức, Holliday thả tay loạng chọang lội xuống hố nước. Anh dùng chân gạt mấy viên đá còn trên xác con cá, nó giật giật dưới chân anh.



- Xin lỗi nhé Holliday, - thằng Merruezov anh ngập ngừng lí nhí sau lưng anh. - chúng tao không biết đó là con cá của mày.



Holliday phẩy tay, và đôi tay anh bất lực buông thõng. Thất vọng, bối rối, anh không biết làm cách nào để xả cơn giận dữ và phẫn nộ.



Tom Juranda cười hô hố và nói điều gì đó chế nhạo. Mấy thanh niên đã không còn thấy căng thẳng nữa, chúng quay người và đua nhau chạy qua trảng muối về phía xe mình, la hét hết cỡ và nhại lại giọng tức giận của Holliday.



Grainger đợi chúng chạy qua rồi tiến lại chỗ trũng giữa hố nước, khi ông nhìn thấy nước không còn trong đó nữa, khuôn mặt ông biến dạng vì đau đớn.



- Holliday! - ông gọi. - Đi thôi.



Holliday lắc đầu, mắt không rời cái xác con chó biển.



Grainger xuống chỗ anh và đứng bên cạnh. Có tiếng rít, rồi tiếng ồn yếu ớt của động cơ, chiếc “Buick” đã đi khỏi.



- Bọn nhóc đáng ghét. - Và Grainger khẽ nắm khuỷu tay Holliday. - Chú xin lỗi, nhưng đó chưa phải là ngày tận thế.



Holliday cúi người giơ tay vuốt con chó biển lúc này đã bất động, đất quanh chỗ nó nằm thẫm máu. Đôi bàn tay thoáng dừng trong không khí rồi lại hạ xuống.



- Không thể làm được gì sao? - anh nói như thể với chính mình.



Grainger nhìn con cá. Nếu không kể vết thương lớn bên sườn và cái đầu nát bét thì bộ da không hề bị xây xước.



- Hay chúng ta nhồi rơm nó? - Grainger trầm ngâm nói.



Holliday nhìn ông chằm chằm như thể không tin đôi tai mình, khuôn mặt anh giật giật. Sự im lặng bao trùm mấy giây. Sau đó, mất bình tĩnh vì giận, Holliday hét lên:



- Thú nhồi à? Chú điên rồi hả? Hay chú nhồi luôn cháu đi, nhét rơm vào đầu ấy!



Anh quay người, va vai vào Grainger như thể không nhìn thấy ông, lao lên bờ.



Phương Hoài dịch





Chú thích



1 Thước Anh, bằng 0,9144 mét.



2 Tức foot, đơn vị đo lường Anh-Mỹ, tương đương khoảng 30 cm.

thảo nguyên
17-05-2005, 08:49 PM
http://kim-son.com/mambo/images/stories/moonlamp.jpg

Gào Trăng Trong Núi



Nakajima, Atsushi

____________________________________



Lý Trưng 1 người Lũng Tây 2 học rộng tài cao, cuối năm Thiên Bảo 3, tuy hãy trẻ mà đã tên đề bảng hổ, được bổ ngay chức Úy ở Giang Nam. Tính tình ngang bướng, chẳng coi ai hơn mình, không chịu nổi phận hèn kém nên chỉ ít lâu đã treo ấn về vườn.



Nằm khểnh ở núi cũ, đóng cửa tuyệt giao người đời, mê mải làm thơ quên hết ngày giờ. Lý nghĩ thay vì ôm chức lại quèn suốt ngày quỳ gối trước bọn thượng quan nhơ bẩn, chi bằng theo đuổi nghiệp thơ để trăm năm sau danh thơm vẫn lưu truyền hậu thế. Tuy nhiên, tên tuổi nào có thấy đâu mà cái nghèo cứ bám miết làm Lý không khỏi bực bội. Từ đấy, mặt mày tiều tụy, gầy guộc xác ve. Ngoài cặp mắt với cái nhìn sắc cạnh riểu cợt, chẳng còn tìm đâu ra dấu vết phong thái trẻ trung, đôi má tròn căng của ông tân tiến sĩ ngày đăng khoa. Chỉ được vài năm, không kham nỗi cảnh túng quẫn, vì miếng cơm manh áo vợ con, đành khuất tiết, khăn gói về Đông nhận một chức quan nhỏ địa phương. Làm như thế một phần cũng vì đã tuyệt vọng về đường thi phú. Bè bạn đồng lứa ngày xưa ai nấy đều đã đường mây nhẹ cánh nhưng không nói cũng thừa biết, việc phải nhận mệnh lệnh từ lũ xưa kia Lý vẫn cho là lục tục tầm thường và không thèm để mắt tới là cực hình cho lòng tự ái của kẻ một thuở tài danh. Lý đâm ra tức tối nóng nảy, bắt đầu cảm thấy không kìm được triệu chứng cuồng khí đang bốc trong người. Cách đó một năm, khi có việc quan phải đi xa, đến chỗ trọ bên bờ sông Nhữ Thủy thì bệnh bỗng phát ra. Nửa đêm, mặt mày chợt biến dạng, Lý đứng trên giường gào hú những âm thanh lạ lùng không ai hiểu nổi rồi cứ nguyên như thế nhảy xổ xuống, chạy như ma đuổi vào trong đêm tối. Lý không bao giờ trở về nữa. Cho người kiếm khắp núi non rừng rú quanh vùng cũng chẳng đâu ra vết tích. Từ dạo ấy, không còn ai rõ hành tung.

Năm sau, có quan Giám Sát Ngự Sử người quận Trần tên gọi Viên Tham phụng mệnh xuống miền Lĩnh Nam, dọc đường ngủ đỗ đất Thương Ô. Sáng hôm sau, mới tờ mờ đất, quan đang sửa soạn lên đường thì kẻ lại coi nhà trạm cho biết đoạn đường sắp tới thường có hổ ra vồ người nên bộ hành phải đợi trời sáng rõ mới dám đi. Bây giờ hãy còn quá sớm, quan nên đợi thêm chốc nữa. Thế nhưng Viên Tham có lẽ cậy tùy tùng đông đảo, gạt phắt lời khuyên của dịch lại. Khi đoàn người đang nương theo bóng trăng tà đi ngang truông cỏ giửa rừng thì đúng như dự đoán, một con mãnh hổ chợt từ lùm cây phóng vọt ra. Hổ mới dợm chồm về phía Viên Tham thì thoắt cái đã quay ngoắt vào bụi rậm. Giữa lùm cây bỗng nghe có tiếng người thì thào lập đi lập lại: “Suýt chút nữa xúc phạm đến cố nhân!”. Giọng nói ấy Viên Tham có dịp nghe ở đâu rồi. Tuy đang kinh hãi nhưng trong đầu Viên Tham bỗng như có ánh chớp loé ra, sực nhớ mới kêu lên: “Tiếng nói kia có phải của bạn ta là chàng Lý Trưng không?”. Viên Tham vốn đỗ Tiến Sĩ đồng khoa, là một người bạn thân trong số người hiếm hoi Lý xem là bạn. Có lẽ chỉ vì Viên tính khí ôn hoà, không xung khắc với cái kiêu căng ngạo mạn của Lý.

Bẵng một lúc, trong lùm cây không thấy ai đáp. Thế rồi nghe tiếng khóc thút thít nghẹn ngào vọng ra từng hồi. Một đỗi sau, mới có giọng trầm trầm trả lời: “Vẫn còn gọi tôi là Lý Trưng đất Lũng Tây được đấy!”.

Viên Tham quên cả sợ, xuống ngựa tiến lại gần lùm cây, bồi hồi kể lể nổi nhớ nhung lâu ngày vắng bạn. Lại hỏi tại sao không chịu ra khỏi lùm để gặp nhau. Lúc ấy mới nghe giọng Lý Trưng trả lời cho biết ngày nay mình đã mang hình quái vật gớm ghiếc thì đâu dám bước ra chào cố nhân mà không khỏi thẹn. Hơn nữa, có chường mặt chỉ làm bạn cũ sinh lòng khiếp sợ và ghét bỏ thôi. Tuy nhiên hôm nay không hẹn mà gặp cố nhân giữa đường thì lòng mình vô cùng cảm khái quên mất tị hiềm. Thế thì cho dù một khoảnh khắc, chỉ xin đừng ghê tởm cái vỏ ngoài xấu xí kinh khiếp mà cho gã Lý Trưng ngày xưa được trò chuyện đôi lời .

Về sau Viên Tham nghĩ lại mới thấy lạ lùng nhưng thực tình lúc đó quan đã đối phó với tình huống dị thường này hết sức tự nhiên, không hề kinh động. Quan bèn truyền lệnh cho đội ngũ tùy tùng dừng chân lại và một mình đứng trước bụi rậm trò chuyện với cái tiếng người kia. Họ hết trao đổi về những lời đồn đãi ở kinh đô, tin tức bạn bè cũ, địa vị của Viên bây giờ rồi đến lượt Lý Trưng chúc mừng Viên Tham. Sau bao câu chuyện ân cần với giọng thân mật như thuở còn trai trẻ, Viên Tham mới hỏi Lý Trưng vì cớ gì để thân phải đến nước nầy. Trong bụi cỏ, tiếng người mới thuật hết ngọn ngành:

Cách đây độ một năm, trên đường đi xa, ban đêm lúc tôi ngủ ở quán trọ bên bờ Nhữ Thủy thì chợt thức giấc và nghe như ngoài cửa có ai gọi tên mình. Tôi mới nghe theo bước ra ngoài thì tiếng kêu từ trong bóng tối đôi lúc cứ tiếp tục vẫy gọi. Bất giác, tôi đuổi theo tiếng gọi ấy và sau một hồi chạy bất kể trời đất như trong cơn mơ, tôi đến tận bìa rừng. Thế rồi không biết tự lúc nào, hai bàn tay tôi đã cào lấy mặt đất và nương theo đó phóng đi. Tôi cảm thấy trong người dào dạt một nguồn sinh lực sung mãn giúp tôi trèo vượt đá ghềnh thoăn thoắt. Nhìn lại mới thấy chỗ từ ngón đến khuỷu tay, hình như lông lá đã bắt đầu mọc. Lúc trời sáng thêm một chút, đến chỗ dòng sông dưới thung lũng nhìn hình thù in trên mặt nước thì thấy mình đã hóa hổ rồi. Lúc đầu còn tưởng vì hoa mắt, sau lại ngỡ đang ở trong giấc chiêm bao. Bởi tôi từng có kinh nghiệm lúc đang ở trong giấc mộng lại thấy mình nằm mộng nữa kia. Đến khi cần phải hiểu đây không là mộng mị gì cả, tôi mới đâm ra thẩn thờ. Rồi khiếp sợ. Một sự sợ hãi sâu xa vì biết rằng bất cứ chuyện quái lạ đến đâu cũng có thể xãy ra. Thế nhưng cớ gì tai nạn lại nhằm đầu tôi đổ xuống. Không hiểu được. Hoàn toàn không hiểu nổi. Chắc số trời bắt tôi sống cái kiếp nầy mà không cần cho biết lý do, chỉ nên lẳng lặng chấp nhận định mệnh đã an bài. Tôi đã định hủy mình. Có điều lúc tôi chực chết đi cho yên bỗng có con thỏ chạy qua trước mặt. Nhân tính liền biến đâu mất. Khi cái thằng người trong tôi bừng mắt dậy thì mồm tôi đã dây đầy máu thỏ, bên cạnh lông thỏ rơi rụng vương vãi rồi. Đấy là kinh nghiệm làm hổ đầu tiên trong đời tôi. Còn nói chi biết bao điều tôi tiếp tục làm kể từ ngày ấy.

Duy có một đôi giờ trong ngày, tình cảm con người trở lại trong tôi. Khi ấy, tôi vẫn còn sử dụng được tiếng người và có khả năng suy nghĩ những điều khá phức tạp như xưa. Hãy còn nhớ làu làu nội dung sách vở kinh sử. Lúc đó tôi có dịp đem cái lòng con người để đánh giá hậu quả những hành vi tàn ngược tôi đã làm trong lốt hổ, rồi lúc nhìn lại số phận mình, tôi thấy không có gì đáng thẹn, đáng sợ và đáng tức hơn. Tuy nhiên theo thời gian, những giây phút trở về với bản tính con người càng ngày càng ngắn lại.

Tôi hãy còn lấy làm quái lạ tìm hiểu sao mình lại hóa hổ nhưng mấy lúc gần đây, có khi bất đồ tự hỏi cớ gì trước kia mình là người cơ nhỉ. Đó mới là điều đáng sợ. Mai mốt, cái phần tình cảm con người chắc sẽ bị tập quán thú vật chôn biến đi chăng? Khác nào nền móng cung điện cổ xưa bị vùi trong đất cát. Cứ như thế, một ngày khi quên hết cái quá khứ làm người rồi thì chỉ còn là một con hổ hung hăng, gặp cố nhân ở giữa đường nhận không ra, có vồ ăn thịt cũng chả cảm thấy hối hận. Thế thì người lẫn thú, cả hai trước kia là loài gì thế? Trước đó hãy còn nhớ gốc gác sau dần dần quên bẵng đi và cứ ngỡ hình thù hiện tại mang trên thân xác mới là cái ta xưa nay? Nhưng thôi, chuyện đó ra sao cũng được! Để mặc tình cảm con người sót lại trong lòng biến mất đi có khi giúp miønh sống hạnh phúc hơn. Dầu vậy cái phần con người trong ta nó lại không sợ gì hơn là rơi vào cảnh đó. Ôi, buồn làm sao, lo làm sao mà cũng xót xa làm sao mỗi lần cứ nghĩ đến khi mình sẽ quên đi có lúc đã làm người. Tình cảm này ai thấu cho ta. Chắc ai mà biết được! Nếu có, phải là người sống cùng hoàn cảnh. À nầy, phải rồi! Trước khi tôi hoàn toàn hết còn là người, chỉ xin cố nhân giúp cho một chuyện.

Nãy giờ, cả Viên Tham lẫn đám tùy tùng đều nín thở, lắng tai nghe tiếng nói lạ lùng từ trong lùm cây vọng ra. Giọng ấy lại tiếp tục:

Không dám yêu cầu gì quá quắt. Lý tôi bình sinh làm thơ và những mong nhờ đó để chút danh lại trên đời. Nay sự nghiệp chưa thành mà số phận đã ra nông nỗi nầy. Xưa kia sáng tác được vài trăm bài vẫn chưa có dịp cho lưu hành ở đời. Bản thảo bây giờ cũng không nhớ để đâu. May là trong số đó vẫn còn thuộc lòng vài chục. Chỉ mong bác giúp ghi chép gìn giử hộ. Không phải muốn dựa vào đó để dương danh thi sĩ. Thơ tôi hay dở mặc lòng nhưng nó tượng trưng cho những gì một đời đeo đẵng đến nổi cửa nhà khánh tận, tính khí cuồng điên. Nếu không gửi gắm một chút lại đời sau thì chết đi khó lòng nhắm mắt.

Viên Tham bảo bộ hạ đem giấy bút rồi theo tiếng nói trong bụi mà ghi chép. Giọng Lý Trưng từ lùm cây vang ra sang sảng. Dài ngắn cả thảy trên ba mươi bài, văn thể cao nhã, ý nghĩa phiêu dật, chỉ đọc qua một lượt đã thấy bài nào cũng bộc lộ tài năng phi phàm của tác giả. Trong bụng không khỏi khen thầm nhưng Viên Tham mơ hồ cảm thấy tuy không có gì để nghi ngờ năng khiếu trời cho của Lý mà quái lạ, các tác phẩm coi như vượt hẳn người đời thế nầy xem ra hãy thiêu thiếu cái gì.

Sau khi đã để tuôn trào những vần thơ cũ, giọng của Lý Trưng đột nhiên đổi khác, như thể tự trào:

Đáng thẹn cho tôi, ngày nay đã mang cái lốt gớm ghiếc nầy rồi mà vẫn cứ muốn nhìn thi tập của mình bày trên án thư của khách phong lưu tài tử đất Trường An. Nằm dài trong hang đá mà còn mơ mộng chuyện đâu đâu. Cứ chế giễu tôi đi! Thằng đàn ông đáng thương, nhà thơ thì không thành mà lại thành hổ (Viên Tham nghe và chợt nhớ cái tật thích tự trào của Lý Trưng ngày còn trẻ mà đau lòng cho bạn). Được rồi, để bác có thêm dịp cười cợt, tôi xin ứng khẩu đọc mấy vần thơ nói lên cái tâm sự bây giờ của tôi. Nó là bằng cớ cho thấy trong xác hổ nầy vẫn còn có chút Lý Trưng:

Ngẫu nhân cuồng tật thành thù loại,
Tai hoạn tương nhưng bất khả đào.
Kim nhật trảo nha thùy cảm địch,
Đương thì danh tích cộng tương cao.
Ngã vi dị vật bồng mao hạ,
Quân dĩ thừa diêu khí thế hào.
Thử tịch khê sơn đối minh nguyệt,
Bất thành trường khiếu đãn thành hao.

(Nhỡ mắc bệnh cuồng mang xác lạ.
Tai họa bao vây, trốn thế nào?
Nanh vuốt ngày nay ai chẳng sợ,
Nhớ xưa danh tiếng một thời cao.
Tôi thân quái vật vùi truông cỏ,
Bác ngựa xe quan thế mạnh sao!
Đêm nay khe núi nhìn trăng sáng,
Muốn rống thê lương, thoắt nghẹn ngào)

thảo nguyên
17-05-2005, 08:58 PM
Lúc đó, trăng tàn, ánh sáng tỏa bàng bạc, móc trắng thấm ướt mặt đất, gió lạnh len qua hàng cây báo hiệu ngày sắp rạng. Mọi người hầu như đã quen với không khí quái dị, chỉ than thầm cho cái thái độ khinh bạc của nhà thơ. Lý Trưng lại tiếp lời:

Tôi vừa thưa không biết cớ gì mình ra nông nỗi nầy nhưng suy đi nghĩ lại thì sự thể xãy ra không phải hoàn toàn vô cớ. Khi tôi còn là người, tôi lại cố kiếm cách lánh đời. Họ bảo tôi ngạo mạn, tự cao tự đại. Nhưng ai nào biết cho thái độ đó chỉ bắt nguồn từ tính nhút nhát của tôi. Dĩ nhiên, ngày xưa trong xóm ngoài làng, được xem như kẻ tài năng xuất chúng, tôi làm gì không khỏi tự kiêu. Nhưng phải nói cái tự kiêu đó xuất phát từ tính nhát nhúa mà thôi. Một đằng tôi muốn mượn văn chương để lưu danh với đời, một đằng lại ngại tìm thầy, kết bạn hòng trao đổi dùi mài thêm. Nói cách khác đi, cứ như là cao ngạo không muốn chung đụng với những kẻ lục tục thường tài. Nhưng điều đó cũng là do lòng tự tôn phát xuất từ nhát nhúa và e thẹn. Sợ làm hao phẩm chất châu ngọc của mình đi nên không gắng công khắc khổ rèn cập. Tin rằng mình đã có được phân nửa chất ngọc, không chịu xuống ngang hàng với hàng ngói vỡ gạch vụn. Rồi dần dần lìa bỏ cuộc đời, xa lánh loài người. Uất ức tủi hờn đã nuôi dưỡng cái lòng ngạo mạn và tính nhát nhúa ngày thêm to lớn.

Người ta ai cũng phải dạy cho thuần một con mãnh thú trong người. Bản sắc con thú như rập khuôn với tính tình của ta. Trong trường hợp tôi, con thú đó là lòng ngạo mạn do e thẹn sinh ra. Nó là tính hổ. Con hổ đó đã làm tôi đánh mất thân danh, làm khổ vợ con, làm tổn thương bè bạn. Tóm lại, bên ngoài thân xác biến dạng thế nào thì lòng tôi cũng biến chất theo thế ấy. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy chính mình đã làm uổng phí cả chút tài mọn mình có. Cái câu răn đời thường thấy ở cửa miệng người ta là "cuộc đời nếu không làm gì cả thì thấy nó dài nhưng có chuyện làm lại rất ngắn "thường được đem ra mà đùa nhưng sự thực, cái mối lo lắng hèn nhát ngại mình "phô cho người ta thấy cái tài hãy còn non nớt "để rồi đâm ra bê trễ không chịu khắt khe với bản thân mới là tất cả cái dở của tôi. Có biết bao nhiêu người tài nghệ thua sút tôi xa nhưng họ một lòng một dạ trau giồi nên đã đường đường thành những nhà thơ. Giờ mang xác hổ rồi, tôi mới thấm thía điều đó. Mỗi lần nghĩ đến, tôi cảm thấy tâm can dày vò vì hối hận. Nhưng tôi hết còn sinh hoạt như người thường nữa rồi. Giả dụ giờ đây trong đầu tôi có nghĩ ra một bài thơ hay. Liệu có cách nào truyền đạt cho người khác biết không?

Hơn nữa đầu óc tôi mỗi ngày càng giống hổ thêm. Biết sao đây, hở trời! Bao tháng ngày bỏ phí hỏi tìm đâu? Lần hồi tôi không chịu nổi nữa. Mỗi lúc như thế, tôi trèo lên mỏm đá trên đỉnh núi đằng kia, hướng về thung lũng hoang vu mà gầm. Tôi muốn đem nỗi buồn đang đốt cháy ruột gan thổ lộ cho ai kia được biết. Tối hôm qua, tôi lại lên chổ ấy ngước nhìn vầng trăng gào thét. Để một ai đó hiểu dùm nỗi thống khổ trong tôi. Tuy nhiên, muông thú nghe tiếng tôi gầm thì sợ hết vía, chỉ biết nằm bẹp dí. Cả núi rừng sương móc chung quanh chắc chỉ xem đó là tiếng rống của con hổ trong cơn giận dữ cuồng điên. Chồm lên không, phục xuống đất mà gào đi nữa, chẳng có lấy một người thấu được lòng. Cái thuở làm người cũng thế, có ma nào hiểu cho con tim nhạy cảm, dễ bị tổn thương của tôi đâu! Cái bộ lông đẫm ướt nầy, đâu chỉ vì thấm mỗi sương khuya.

Dần dà, màn đêm bốn bề rồi cũng vén lên. Giữa mấy hàng cây vọng từ đâu đến âm hưởng tù và báo hiệu bình minh rúc nghe buồn bã.

Phải từ biệt mà thôi. Giọng Lý Trưng cho biết cái giờ bước vào vòng mê muội (giờ phải trở về kiếp hổ) sắp điểm rồi. Thế nhưng trước khi chia tay xin nhờ cậy thêm điều nữa. Đó là chuyện vợ con. Gia đình tôi còn ngụ ở quê cũ đất Khách Lược, đến nay họ vẫn không rõ những gì đã xãy đến cho tôi. Khi cố nhân từ miền Nam trở về, có thể nào nhắn hộ với họ là tôi đã chết rồi không ? Chuyện xãy ra hôm nay xin kín tiếng cho. Nói ra thì quá trơ trẽn nhưng xin thương xót lũ cô nhi mà lo toan để mai sau chúng nó không phải chết đói chết rét vệ đường thì ơn ấy không gì sâu dày hơn.

Nói vừa dứt lời, trong bụi rậm lại vang ra tiếng khóc thãm thiết. Viên Tham cũng mắt lệ lưng tròng xin nhận lời bạn phú thác. Nhưng giọng của Lý Trưng thoắt trở lại cái khẩu điệu tự trào khi nãy:

Đáng lẽ ra phải nói chuyện nhờ vả nầy trước tiên nhưng thuở làm người tôi chỉ nghĩ đến cái thi nghiệp chẳng ra gì của tôi thôi chứ có lo vợ con phải đói lạnh đâu. Viø chừng đó mà bị đọa xuống hàng cầm thú cũng nên!

Ngoài ra Lý còn nhắn thêm với Viên Tham khi từ phương Nam trở về xin chớ mượn con đường nầy nữa. Bởi vì lúc đó mình đã mê muội, không nhìn ra người cũ mà nhảy ra vồ cũng nên. Rồi sau khi giã biệt, đi đến chỗ gò cao cách đó chừng một trăm bước, nhớ quay mặt nhìn lại một lần cho. Để biết rõ hình dạng của tôi bây giờ. Không phải muốn khoe tư thế hùng dũng mà chỉ cho bác thấy hình thù xấu xa gớm ghiếc để mai sau qua chốn nầy, bạn dù có thương cũng ghê tởm không muốn tìm gặp nữa.

Họ Viên hướng về bụi rậm nói mấy câu thân ái để từ biệt rồi lên yên. Bên trong bụi lại văng vẳng tiếng khóc thê thiết không gì cầm lại được. Viên Tham bao lần ngoái về hướng bụi rậm rồi ra roi đi trong nước mắt.

Như lời Lý dặn, đoàn người ngựa lên tới gò cao mới quay lại, đảo mắt nhìn cái truông giữa rừng cây ban nãy. Tức thì một con hổ từ trong cỏ rậm phóng ra, leo lên đường cái và nhòm về hướng họ. Hổ ngẫng đầu lên nhìn vầng trăng giờ đây đã nhạt nhòa, gầm lên độ hai ba lần, xong quay mình lao vào bụi rậm rồi không thấy hình dáng đâu nữa.

Nguyễn Nam Trân dịch từ nguyên tác tiếng Nhật

---------------------

Chú thích của dịch giả:



1 Trong truyền kỳ của Lý Cảnh Lượng, Lý Trưng vốn dòng dõi hoàng tộc.

2 Thuộc tỉnh Cam Túc bây giờ.

3 Niên hiệu thời Đường Huyền Tông (742-756)



Lời dịch giả: Nakajima Atsushi sinh năm 1909 ở Tokyo và qua đời năm 1943 cũng tại đây do suy tim, hậu quả của chứng hen suyễn kinh niên. Vỏn vẹn trên ba mươi năm làm người, ông đã chứng kiến toàn chuyện bất hạnh trong đó có cảnh tổ quốc Nhật Bản nhảy vào chiến tranh Thái Bình Dương một năm trước khi ông tạ thế. Lúc nhỏ đau yếu mãi, rốt cục tốt nghiệp đại học, ông lao đao vì sinh kế. Sau khi dạy văn ở trường nữ trung Học Yokohama một thời gian, ông để vợ con ở lại Tokyo và đi nhận chân thư ký ngoài đảo Saipan, nhân dịp đổi gió chữa bệnh. Được ít lâu, ông lại từ chức trở về Tokyo, lao đầu vào viết, nhưng chẳng bao lâu sau ông lên cơn suyễn nặng rồi mất.

http://evan.com.vn/pictures/atsushi-nakajima.jpg
Nakajima Atsushi (1909-1943)

Văn chương ông phần lớn bắt nguồn từ cổ điển Trung Quốc, có lẽ vì xuất thân từ một gia điønh cựu nho. Thời trẻ, theo cha qua Triều Tiên, Mãn Châu, sau có dịp đó sinh sống và du lịch Trung Quốc, quần đảo Ogasawara, Saipan nên hơi văn phảng phất hương vị trời xa xứ lạ. Ông thường lồng khung tác phẩm trong bối cảnh cổ xưa như thời Xuân Thu (với các nhân vật như Khổng Khâu, Tử Lộ, Vệ Trang Công, Thúc Tôn Báo), Hán (Lý Lăng, Tô Vũ, Tư Mã Thiên), Đường (Sa Ngộ Tịnh)... Ngoài Hàn Phi Tử, Vương Duy, Cao Thanh Khâu, Sử Ký, Tả Truyện..., ông còn ham đọc các tác giả Âu Mỹ như Anatole France, Aldous Huxley, Robert Stevenson, O"Henry và Goethe, nên lối hành văn của ông chính ra chịu nhiều ảnh hưởng Tây phương.

Từ những đề tài cũ, ông chỉ giử lại những chi tiết làm mình xúc cảm rồi dàn dựng tài tình một thế giới hư cấu huyền ảo và qua đó, bày tỏ quan điểm về con người và cuộc sống.

Gào trăng trong núi (Nguyên tác Sangetsuki, Sơn Nguyệt Ký) mượn tích Nhân Hổ Truyện, một thiên truyền kỳ đời Đường do Lý Cảnh Lượng soạn, trích từ tác phẩm Cựu Tiểu Thuyết Ngô Tăng Kỳ Biên. Tuy nhiên, chắc chắn là thể nghiệm thân xác bị suyễn hành hạ của Nakajima Atsushi cũng góp phần không nhỏ vào việc xây dựng tác phẩm. Qua nó, chúng ta thấy bóng dáng Hóa thân (người biến thành sâu) của văn hào Tiệp gốc Do Thái Frank Kafka và những truyền thuyết về người hóa sói ở châu Âu nhưng diễn ra trên một bình diện khác và mang một ý nghĩa khác.

Nguyên tác ra mắt độc giả năm 1941 trên tờ Bungakkai (Văn Học Giới) đã được nhà xuất bản Kadogawa in khổ bỏ túi từ 1968 và tái bản đến lần thứ 55 năm 2003. Văn ông thường được dùng làm tài liệu giáo khoa cho thanh thiếu niên Nhật.