View Full Version : LỜi DẠy CỦa TỪ TÔn Kim MẪu
DaoKy
15-05-2005, 02:44 PM
.- MỖI LỜI DẠY LÀ MỘT ĐỀ THI
Cơ-Quan Phổ-Thông Giáo-Lý, 14-8 Tân Dậu (11-9-1981)
____________
DIÊU-TRÌ KIM-MẪU VÔ-CỰC TỪ-TÔN, Mẹ mừng các con nam nữ.
Đêm nay Mẹ đến trần gian để dạy dỗ các con và đêm mai khi Trăng vừa tròn Mẹ sẽ cùng chư Phật Tiên đến dự Yến Bàn Đào và ban ân lành cho tất cả con cái của Mẹ trên khắp thế gian.
Hỡi các con!
Thi bài:
Gió Thu lay động mành Thiên,
Gợi lòng Từ Mẫu nhớ miền trần gian.
Nhớ con cái trên đàng tiến hóa,
Nhớ đến điều siêu đọa mà đau,
Biển trần muôn lượn sóng xao,
Thuyền tâm lạc lối khó vào khởi nguyên!
Mấy mươi năm lý huyền dạy dỗ,
Sống một đời bao độ an nguy,
Trái oan nghiệp lực trì trì,
Tu tâm học Đạo đoạn ly nghiệp trần.
Học Thiên-Đạo con lần tiến bước,
Pháp Đại-Thừa phương tiện tu công,
Tâm con chuyên nhất tinh ròng,
Đạo Trời trùm khắp cộng thông nhiệm mầu.
Biết được nỗi cơ cầu thế sự,
Hiểu thông rồi quá khứ tương lai,
Luyện tu tâm đức lẫn tài,
Trau giồi hiện tại ngày ngày cho tinh.
Việc quá khứ hằng in tâm thức,
Dầu dỡ hay hư thực mặc tình,
Mất còn thua được nhục vinh,
Tấn tuồng huyễn hóa trọng khinh âu đành.
Mấy mươi năm thân sanh cằn cỗi,
Chân đã chùn, đầu đội tuyết sương,
Đó là luật tắc vô thường,
Để cho con hiểu ấy đường quả nhân.
Con hiểu được: chọn chân, bỏ giả,
Diệt thất tình lòng dạ sạch trong,
Vị lai nếu có nơi lòng,
Ước mơ thành quả cũng vòng nghiệp thôi.
Nghiệp lành dữ rốt rồi là nghiệp,
Sắt hay vàng đều xích xiềng thân,
Sao bằng tâm chí lâng lâng,
Nhổ mầm tình thức đoạn nhân tục phàm.
Rồi hiện tại con làm công quả,
Học công phu tạo cả công trình,
Hành nan thuyết dị chớ khinh,
Trọng tâm phản tỉnh xét mình nghe con.
Xét tư tưởng đừng còn sái quấy,
Xét việc làm vô kỷ vô công,
Xét lời hòa duyệt dung thông,
Trong ba phạm một tam công hỏng rồi.
Đại-Thừa Pháp con ôi giản dị,
Do âm dương thần khí vận hành,
Trong cơ động tịnh khinh thanh,
Lắng lòng tư dục Đạo lành hoằng dương.
Tâm Đạo giữ lập trường Thiên Đạo,
Thiên Đạo là toàn hảo toàn chân,
Bao la trùm khắp vô ngần,
Háo sanh đức cả tình thương vạn loài.
Trời với con tuy hai mà một,
Một do con hiểu tột ý Trời,
Trời thì bao quát con ơi,
Dữ, lành, tốt, xấu, ta, người, đều không.
Không chấp có cho lòng rộng mở,
Không biệt phân ý tợ biển sâu,
Tình thương trải khắp đâu đâu,
Vị tha vong kỷ mới hầu thi công.
Biển nước hòa muôn sông muôn rạch,
Dầu ao hồ dơ sạch luân lưu,
Đời bao khôn dại trí ngu,
Đã là tận độ chớ câu dữ lành.
Mẹ dạy con chí thành ghi nhớ,
Trước và sau nhắc nhở học hành,
Bàn Đào Hội Yến đêm thanh,
Mẹ cùng Tiên Phật ân lành bố ban.
Cho các con hòa chan lý Đạo,
Cho lòng con hoàn hảo thiên lương,
Cùng nhau chung sống tình thương,
Xinh như hoa đẹp, ngọt dường Đào Tiên.
* * *
Đào Tiên kết tụ khí Tiên Thiên,
Trải chín ngàn năm mới đủ duyên,
Hương vị thấm vào thân bất lão,
Nhẹ nhàng thanh thoát Hội Quần Tiên.
Yến Bàn Đào năm nay các con hiến dâng với tất cả lòng thành của các con lớn nhỏ. Mẹ rất mừng thấy các con vẫn kiên trì trong hành Đạo.
Con ôi! Đời càng loạn ly, nhân tâm càng đảo điên thì các con càng phải rán tu. Có tu mới đủ thần lực, đủ sáng suốt dìu dắt thế nhân trên đường ngay nẻo thẳng sống đời đạo đức tu hành. Lời Mẹ đã từng dạy các con rất nhiều, đến ngày nay chỉ còn đem ra thực hành để thấy kết quả trong cuộc đời tu học hành Đạo của các con. Thế nên, mỗi một lời dạy là một đề thi. Đứa nào đã thuần thành vô ngã, vô nhơn mới thực hành đúng Thiên cơ Thánh-ý và sẽ được trúng tuyển trên bước Đại-Thừa. Các con cố gắng.
Lớp Tâm Hạnh Đại-Thừa sẽ giúp các con được nội tâm tu tiến để các con bớt khảo đảo lẫn nhau. Mẹ mừng cho các con. Nếu các con còn khảo đảo lẫn nhau là chưa giác ngộ.
Thăng…
DaoKy
15-05-2005, 04:37 PM
Đức Diêu Trì Kim Mẫu giáng cơ lúc Hội Bàn Đào 1937
"Đức Phật Mẫu giáng cơ
năm Đinh Sửu ( 1937 )
Thi Bài:
Nơi Diêu Điện, lưỡng ban chầu chực,
Nhớ đến con bứt rứt lòng già.
Gậy nang chẳng quảng đường xa,
Cậy chòm mây bạc đưa già đến đây.
Nơi đàn nội xum vầy đông đủ,
Nhìn các con ủ rũ tấm lòng.
Thương con khổ não chập chồng,
Đau lòng Mẹ xuống quyết bồng con lên.
Con ơi! khá tâm bền sức gắng,
Những lời vàng Mẹ dặn ngày xưa.
Khiêm cung, nhẫn nại, lọc lừa,
Giúp đời nào ngại sớm trưa tháng ngày.
Cõi trần tục trưng bày đủ cách,
Như các con xa vách tứ tường.
Thảm cho con dại lầm đường,
Nay Thầy mở Đạo,buồm trương rước về.
Đem con trẻ trở về Tiên cảnh,
Chơn Linh cần tánh hạh thuần lương.
Long Hoa sắp soạn khai trường,
Thi tài chơn đức,con bươn kịp giờ.
Nhìn kỹ lại con thơ Mẹ thảm,
Ruột chín chiều đôi đoạn thật đau.
Thấy con lòng Mẹ xót xao,
Con ôi,con hỡi! Con nào thấu chăng?
Nhắc đến đây khó dằn giọt lệ,
Thương con khờ chẳng kể thân già.
Nước non chớm chở bao la,
Quyết tìm một gậy mẹ già viếng con.
Đối với trẻ cho tròn phận Mẹ,
Mượn vần thơ thỏ thẻ đêm khuya.
Mẹ khuyên : “em, chị chớ lìa”,
Học gương Diệu Thiện danh bia lưu truyền.
Mẹ dành để đào tiên cho trẻ,
Rượu bồ đào tay lễ con nâng.
Mây vàng sẵn chực bên chân,
Đưa đường tiên cảnh,chín từng hồi nguyên.
Mẹ từ giả,
Từ giả các con ở lại trần,
Mẹ về tiên cảnh dạ bâng khuâng.
Khuyên con gắng chí lo tu niệm,
Dứt điển Mẹ mau tách dậm lần.
( Thăng )
Thi:
Lần lựa mùi thế bước càng gay,
Biển khổ trăm năm nhọc, ác đầy,
Kẻ trí cắn răng theo lũ dại,
Người ngoan nhắm mắt níu phường say.
Hỉ tràng nao nức nhiều lui tới,
Cõi tục mơ màng lớp đổi thay.
Sẵn giờ buồm giướng thuyền đợi khách,
Trễ chơn đòi đến: ắt thâu ngày.
Diêu Trì Kim Mẫu.
DaoKy
15-05-2005, 04:47 PM
CẨM NANG THƠ CỦA ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU
Để kỷ niệm ngày mùng 5 tháng 8 năm Mậu Thìn
Đây là cẩm nang thơ của cơ diễn sắc lịnh Diêu Trì Kim Mẫu ban truyền khai thông linh tánh gốc cội căn xưa, linh căn khái tiếp lệnh thức tỉnh tu hành, đắc thành Đạo quả dự hội Long Hoa kỳ III. Bần sĩ Thiện Duyên xin thành tâm tiếp cơ pháp điễn lành của Diêu Trì Phật Mẫu để hồi hướng công đức cho khắp cả nhân sanh, nguyện cầu cho tất cả chúng sanh được phát tâm bồ đề giác ngộ, rõ đường chánh lý tu hành trở lại kỳ III.
Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát Cứu Khổ Cứu Nạn Chúng Sanh Cảm Ứng Chứng Minh A Di Đà Phật
Cơ Thiên Lý Ngọc Hoàng định luật
Điễn huyền vi vô cực chuyễn xây
Sắc ban Phật Mẫu tỏ bày
Lịnh truyền Nam Nữ gái trai hãn tường
Diêu Cung Điện là nguồn gốc cội
Trì lục kinh thoát khỏi sông mê
Kim ngôn tình Mẹ châu phê
Mẫu chờ con dại tái tê lòng già
Ban ấn lệnh kỳ ba chuyến chót
Truyền Tâm Kinh cứu vớt tử linh
Khai đường Thiên lộ luật hình
Thông tri lý Đạo rỏ tình thâm ân
Linh Chơn xưa tiền căn Mẫu tạo
Tánh siêu phàm thông Đạo Thiên Tiên
Gốc căn chiếu rọi diệu huyền
Cội nguồn ân đức Mẹ hiền rải ban
Căn tánh Đạo hoàn toàn thanh khiết
Xưa cũng vi chăng biết mùi đi
Linh hồn sáng rọi vị ngôi
Căn tiền Bích Ngọc là nơi cữu trùng
Khá tỉnh ngộ đại hùng minh mẫn
Tri phụng hành bổn phận cho tròn
Tiếp lời Mẫu dạy sắc son
Lịnh trời tuân mạng bảo toàn nguyên nhân
Thức tâm nội mê trần mộng ảo
Tỉnh trí lo tầm Đạo Vô Vi
Tu thân dưỡng tánh kiên trì
Hành cơ Thiên Luật Mẫu thì ban ơn
Đắc ngộ pháp tiền căn linh tánh
Thành thật tu mới rãnh nghiệp duyên
Đạo Chơn chẳng mến bạc tiền
Quả lành gặt hái qui nguyên phản hồi
Dự Kim Khuyết Hội Tri Tam Giáo
Hội Tam Thanh điễm Đạo Linh căn
Long Đình Bửu Ngọc Tứ Ân
Hoa sen đua nở mừng căn thiện lành
Kỳ tuyễn lựa thực hành mới quý
Ba lần khai mở hội Tam Thiên
Con ơi! Nghe Mẹ chỉ truyền
Ráng lo tu niệm khỏi phiền về sau
Lòng tự đắc tự cao dẹp bỏ
Đường công danh hiệp đó rồi tan
Tồn chi mà vội mơ màng
Cơ Tri báo ứng hành tàn kiết hung
Con của Mẹ thủy chung Đạo lý
Thì sao này cao quý chi bằng
Ngọc ngà châu báu hưởng thân
Cũng không so sánh cho bằng Đạo tâm
Cơ bá Đạo dễ lầm tà mị
Nếu không tri Đạo lý chánh truyền
Trau giồi tánh mạng căn nguyên
Vội nghe chẳng xét đạo hiền lầm mê
Khó đạt Đạo trở về với Mẫu
Màn vô minh hủ lậu phủ đầy
Muôn màu sắc tướng nhiễm say
Dựng hình Tiên Phật đổi thay khó lưng
Cần thấu triệt con đường Thiên lý
Chữ KHÔNG KHÔNG ngự trị tâm hồn
Phép tài ảo thuật bàn môn
Thần thông biến hoá mê hồn đắm say
Nó cũng giỏi biện tài đạo lý
Nhưng sự hành ý chí khác xa
Con cần thấu triệt chánh tà
Trong thân ngũ tạng ngũ ma lâu đi
Muốn tu tỉnh chịu nhồi chịu khảo
Tư tưởng lành giữ Đạo nhứt Tâm
Rõ thông ma nghiệp khỏi lầm
Trong tâm Bữu Pháp kiếm tầm đâu xa
Lìa Sắc Tướng Thân ta đừng nhiễm
Dù mọi điều thúc lén muốn ăn
Tạm dùng chẳng nghĩ xác trần
Tùy duyên hóa độ nuôi thân tu hành
Nghĩ sự Đạo đạt thành trước nhất
Làm việc gì mẫu mực xét phân
Chớ nên tin bướng làm càng
Đọa thân uổng kiếp nghiệp mang linh hồn
Tình Mẫu tử thương con Mẹ dạy
Chớ mê hồn tiêu hoại mai sau
Xử phân luật định Thiên Tào
Mẹ mong Nam Nữ bước vào đường Tu
Chớ đễ cho mây mù nghiệp chướng
Làm mê hồn mang vướng trả vay
Luật hình thưởng phạt chẳng sai
Đau lòng tình Mẹ gái trai hãn tưng
Con nào biết lo đưng đạo đức
Mẹ vui mừng túc trực bên con
Siêng năng lập đức bảo tồn
Cứu nguy nhân loại mê hồn trầm luân
Biết phận sự con đừng than thở
Đạo muôn đi nhắc nhở danh thơm
Nhục vinh chẳng nghĩ mất còn
Chỉ cần sứ mạng lo tròn Mẹ ban
Dầu Đạo Pháp gian nan khổ cực
Hay đắng cay nghiệp lực khảo nhồi
Một lời thệ nguyện con ơi!
Thần minh chứng giám Đất Trời rõ thông
Chớ chán nản thay lòng đổi dạ
Muốn đắc thành Đạo quả phải hành
Truân chuyên thử thánh phù sanh
Là đường tiến hoá luật hành người TU
Chớ ỷ thế giận thù oán ghét
Chí đại hùng học phép từ bi
Đức ân vạn sự khó bì
Dầu cho lao khổ xá gì bản thân
Thương nhớ Mẹ phải cần lo Đạo
Mới xứng danh con thảo Rồng Tiên
Đáp đền Thất-Tổ Cữu-Huyền
Sanh thành Phụ Mẫu tại miền trần gian
Dù khanh tướng giàu sang khó sánh
Phật Thánh Tiên dụng tánh thảo hiền
Nghiệp đời dù lắm oan khiên
Thành lòng tu niệm Mẹ hiền giải oan
Cơ máy tạo sảy sàng cận gấp
Chớ chần chờ để lấp tánh linh
Trận đồ bát quái luật hình
Ngũ hành vận chuyển nhân sinh điêu tàn
Lòng Mẹ đã rãi ban chỉ dạy
Nếu con nào còn cãi luật Trời
Chẳng lo tu niệm chiều mơi
Thì đừng trách Mẹ vậy thời chẳng thương
Màn ma quỷ còn đương trà trộn
Phật Thánh Tiên lẫn lộn hồng trần
Để tùy duyên kiếp độ căn
Dễ gì gặp Đạo Chánh Chơn màn nầy
Luật Kinh Phật tỏ bày nói trước
Đi lộn kiếp mực thước khó dò
Tử sanh thập loại nhỏ to
Đầu thai báo quả khó đo được lòng
Bất kể sự Tổ Tông Đạo Đức
Mang lớp NGƯỜI ngũ trược tâm MA
Ham làm những sự gian tà
Đâu còn kể đến Ông Bà Tổ Tiên
Chỉ biết chổ bạc tiền danh lợi
Cứ tung hoành gây tội chẳng cần
Giết người cướp của muôn dân
Bạo tàn độc ác khó phân nhơn tà
Bởi sắc lệnh Thiên Hoàng ân xá
Cũng là kỳ trả quả nghiệp căn
Chuyễn xây định luật Phong Thần
Khảo nhồi thưởng phạt kiếp căn đi cùng
Sự chọn lựa hiếu trung kỳ chót
Con khá lo bòn mót đức ân
Chớ ham mê sự hồng trần
Buộc ràng nghiệp quả kiếp căn đọa đày
Rồi gặp cảnh họa tai khó cứu
Cần định tâm hấp thụ điễn quang
Nghiệm suy thấu triệt trần hoàn
Trong cơ sàng sảy lớp màn đau thương
Các con nghĩ cho tường cặn kẽ
Nếu không thì tình Mẹ xa con!
Đau lòng của Mẹ tạo hồn
Dưỡng nuôi hấp thụ bảo tồn linh quang
Từ con xuống trần gian lập mạnh
Bị ngũ Ma dụ tánh mê hồn
Đâu còn nhớ kiếp tiền căn
Của trên Mẹ tạo thượng tầng hư vô
Mãi gây tạo cuộc đi nghiệp quả
Chịu luân hồi vay trả không ngừng
Con ơi! Lòng Mẹ bâng khuâng
Nhớ con, trông đợi, tìm phương cứu nàn
Sợ đến ngày vén màn Đại Hội
Rồi các con chịu tội Bữu Toà
Công đồng Tam Giáo chẳng tha
Luật hình sửa trị khó mà an thân
Bị sa đọa trầm luân địa ngục
Bảy ức niên mới được đầu thai
Lâm đền nghiệp quả trả vay
Cũng như mạt kiếp đi nay tận cùng
Vì chổ đó nên lòng tình Mẹ
Chẳng nở đ con trẻ lạc lầm
Chuyn Cơ Đin Pháp Huyền Thâm
Chỉ nguồn gốc cội đ tầm căn xưa
Màn Tam Giáo lọc lừa Đạo quả
Trên Tam Thiên Lục Bá xuống trần
Bàn Môn tả đạo dụ căn
Hại con của Mẫu mê trần còn đâu
Nhắc đến đây Mẹ sầu Linh Tử
Mãi theo đi quên sự thâm ân
Linh quang gốc cội tiền căn
Ngôi xưa phế bỏ nghiệp trần đeo mang
Sự vay trả trần gian chồng vợ
Tình thâm ân con nở phụ vong
Chiếu theo luật Đạo công đồng
Thì con bất hiếu khó mong bảo tồn
Quên mất tánh chơn hồn giá trị
Chớ mê lầm ma quỷ lợi danh
Sanh già bệnh tử hiểu rành
Mà sao con mãi đua tranh theo đi
Phế bỏ Đạo quên lời Mẹ dạy
Còn dọc ngang tranh cãi bất tin
Ngheo theo tà mị phàm tình
Xúi con tiêu hoại hồn linh ngục tù
Để vào cảnh âm u đen tối
Biết bao giờ thoát khỏi sông mê
Sanh tâm ngu muội nặng nề
Biết đâu chánh pháp trở về thiên cung
Cơ ân xá tận cùng màn chót
Phật Thánh Tiên cứu vớt linh hồn
Ráng nghe lời Mẹ, bớ con!
Đức tin vững chắc bảo tồn hậu lai
Xét cho kỹ lời ngay lẻ thật
Dầu khảo nhồi tâm Phật đừng lơi
Yêu ma dù có lắm lời
Ngọt ngon dụ dỗ theo đi thì không
Thề nhất quyết một lòng vì Đạo
Hưởng muôn đi sáng tạo linh quang
Ngọc Châu Bữu Pháp Đạo Vàng
Trong thân sẳn có bảo toàn chơn linh
Dù tài phép yêu tinh có giỏi
Lòng đức tin cứng cõi con gìn
Đạo là Chơn Lý cao minh
Đạo không sắc tướng hữu hình ngoài thân
Đời mạt kiếp dương trần hỗn loạn
Chúng mưu mô đủ hạng lắm con
Tạo hình dựng cốt mê hồn
Vẽ tranh Tiên Phật để con lạc lầm
Khó biết chổ Đạo tâm quan trọng
Pháp Vô Vi mở rộng Thần Quang
Chiếu soi nhật nguyệt hành tàng
Đắc thông ngũ tạng bão toàn tánh linh
Chuyễn nội tâm thân mình định trí
Ngồi quán thông các lý chơn không
Hoặc là đi đứng nằm lòng
Cũng luôn chuyễn pháp mới thông diệu mầu
Ngoài sắc tướng có đâu là Đạo
Con cần nên kim thảo cho tường
Để lầm ma đạo phô trương
Mượn kinh bày lý gạt lưng nhân sinh
Chúng quỹ kế giả hình Tiên Phật
Xưng vị ngôi làm trật Đạo nhơn
Bùa linh thuốc lú mê hồn
Để chúng sai khiến các con theo tà
Nếu chẳng nghe những lời thêu dệt
Chúng đủ tài làm chết chẳng chơi
Không TU tin tưởng Phật Trời
Để hành thiện Đức khó thi vượt qua
Màn lừa lọc Sư tà ngoại Đạo
Ra tranh tài Tam Giáo Phật Tiên
Giả hình giả tướng tưởng hiền
Mà lòng thâm độc chẳng hiền nghe con!
Ví như Mẫu chúng còn bôi bác
Cho Mẫu đây vào hạng Đạo Tà
Con ơi! Lòng Mẹ thiết tha
Ai sanh ai tạo vậy mà vật chi
Đủ vật chất để thì nuôi dưỡng
Cho ấm thân có được tu hành
Sanh tâm lòng dạ bất lành
Chê bai Phật Mẫu phải đành đọa thân
Dù mang kiếp làm Tăng cũng thế
Vô lễ còn khi dễ kiêu căng
Phật nào dạy thói ngang tàng
Bất tri chơn lý đọa mang ngục hình
Cơ ân xá mặc tình thế sự
Muốn nói chi ngôn ngữ chẳng kiêng
Sau nầy đừng có trách phiền
Thần quan Tả Hữu ghi liền chẳng sai
Tâu Thượng Đế các Ngài Tam Giáo
Chiếu luật hình xử Đạo kỳ nầy
Long Hoa Đại Hội Hoằng Khai
Đạo nào Chánh Pháp Như Lai chơn truyền
Con của Mẹ ráng hiền nhẫn nhục
Rèn đức ân phủ phục bệ rồng
Tu là tu tánh tu lòng
Chớ đừng tu tướng mà hồng đắc chi
Cơ Đại Hội kỳ thi đã tới
Lập đức ân thân mới vững còn
Một lòng vì Mẹ sắc son
Ráng lo hành đạo bảo toàn kiếp căn
Đừng sa ngã bụi trần con nhĩ!
Để Ma Vương lũ quỷ dắt hồn
Sa vào trận địa bàn môn
Háo danh trục lợi chẳng còn mạng thân
Mẹ thương con vì căn Mẹ tạo
Nên khai truyền lý Đạo chơn minh
Đó là cốt nhục thâm tình
Để lầm mối đạo chơn linh mịt mờ
Dầu bá đạo tâm thời duy nhứt
Các con cần rõ luật hành trì
Mặc đi thế sự thị phi
Tu Hành chớ nệ những gì khó khăn
Mẹ nhìn thấy dương trần Nam Nữ
Mãi chứa lòng hung dữ ngang tàng
Quên căn Mẫu tạo Tiên ban
Xuống trần dục lợi nghiệp mang chất chồng
Nở phụ bạc quên lòng Từ Mẫu
Từ ngàn xưa Mẹ tạo chơn linh
Nắn con nên vóc nên hình
Linh quang bát bửu trong mình vạn năng
Đủ phép báu phi đằng huyền diệu
Để các con tự liệu xuống trần
Lập công bồi đức tiền căn
Giúp đi hậu thế lập thân đạo hiền
Đi ngang qua động tiền Giáo Chủ
Tây Bá Hầu chẳng hỏi bái chào
Ỷ mình con Mẹ Thiên cao
Chê ngài dạy thú chẳng giàu lễ nghi
Vội vô lễ Ngài thì oán giận
Trốn Mẹ hiền xuống tận cõi đi
Ngũ Ma hóa phép vậy thời
Nhập tâm con trẻ mê đi tạo gây
Cho linh tử đắm say mùi tục
Để thỏa lòng giận tức Bá Hầu
Cũng là phạm luật Thiên cao
Cho nên ở mãi trần lao hại đời
Chiếu ba kỳ luật Trời mở hội
Lập Đạo mầu cứu rổi linh căn
Thoát nơi nghiệp quả hồng trần
Được về bốn ức nguyên nhân phục chầu
Nay đến Hội hoàn cầu xoay chuyển
Đại phong thần lựa tuyễn linh căn
Chọn con hiền đức nghĩa nhân
Rõ tri ngũ dục trong thân diệt trừ
Mới thoát khỏi cuộc đi mê muội
Lo tu hành chuộc tội căn xưa
LONG HOA TAM GIÁÕ lọc lừa
Chuyễn cơ Thánh Đức Đại Thừa Thừa qui căn
Các con khá tinh thần giác ngộ
Luyện tâm hồn tự độ mê si
Vâng lời của Mẹ từ bi
Giữ tam trung hiếu lễ nghi cho tròn
Lập công quả mót bòn đức hạnh
Dụng công phu sửa tánh diệu hiền
Công trình gắng chí cần chuyên
TAM CÔNG trọn vẹn thành Tiên tại trần
Đạo chơn lý Quân Thần trọng đại
Khá phục hồi hoán cải tâm linh
Ơn Cha nghĩa Mẹ thâm tình
Ơn Thầy nghĩa Chúa hy sinh cho tròn
Có thực hiện bảo tồn chân lý
Thuyết không hành cũng chỉ hoài công
DaoKy
15-05-2005, 05:08 PM
Giang sơn gấm vóc non sông
Phải đâu riêng hưởng để mong lợi quyền
Phật đâu để người hiền mắc đọa
Kẻ ác hung vướng họa chẳng sai
Dù cho mưu kế sắp bày
Cũng không qua khỏi được ngay luật Trời
Nếu không sớm kịp giờ tỉnh ngộ
Để đến ngày Thiên số định kỳ
Xác trần bỏ lại còn chi
Hồn linh ngơ ngẩn sầu bi đọa đày
Mẹ nói trước con nay liệu lấy
Rồi sao nầy khỏi phải trách phiền
Cuộc trần lắm nổi đảo điên
Không nghe lời Mẹ chỉ truyền đọa sa
Cơ thưởng phạt kỳ ba đã rõ
Luật thiên điều chẳng có vị tư
Dù con lãnh sứ mạng Trời
Mà làm sái luật cũng thi trị răn
Hoặc các bậc ni tăng học Đạo
Hay uy quyền gây tạo tội trần
Cũng đều bị luật trị răn
Tùy theo nghiệp tội xử phân công bình
Luật tiến hóa vô hình đào thải
Chớ mê đi ngu dại hững hờ
Bây giờ chớ thấy làm ngơ
Chừng khi họa tới khó thời cứu nguy
Đi ngu muội biết gì còn mất
Sự trăm năm chưa chắc trường tồn
Biết tri thi vận mới khôn
Đừng như để chết chưa chôn chờ giờ
Mẹ tỏ hết bao lời châu ngọc
Các con cần Tu Học nghiệm suy
Dù bao cay đắng sá chi
Sợ lòng chẳng trọn những gì ân sâu
Khắp thế giới hoàn cầu vận chuyễn
Máy càn khôn linh hiển cơ quan
Thất Sơn bảo ngọc lầu vàng
Là cơ lập hội MINH HÕÀNG xử phân
Đến ngày đó linh căn tề tựu
Nghe phán truyền đầy đủ chẳng sai
Bao nhiêu văn sĩ nước ngoài
Cũng đều chầu phục trước Ngai Bệ Rồng
Có Tam Giáo công đồng phân xử
Công quả tròn được dự KIM GIAI
Bằng gây tội lỗi đọa đày
Vào nơi ngục thất khổ thay xác hồn
Con ơi! Sự mất còn thành bại
Cũng do lòng khôn dại mà ra
Căn Tiên đừng để làm Ma
Uổng công Mẹ tạo sanh ra chơn thần
Máy âm dương xoay dần chuyễn hóa
Lừa lọc căn nghiệp quả tinh vi
Ai thương bằng Mẹ Diêu Trì
Lo con mọi sự kể gì khổ lao
Từ Tạo hóa Thiên Cao Trời Đất
Sanh muôn loài vạn vật hữu tình
Có nay Phật Mẫu truyền kinh
Cho con cõi thế giữ gìn Đạo Nhân
Cao bát bữu kinh luân tám báu
Túi vạn năng chơn đạo linh hồn
Cho con giữ lấy bảo tồn
Từ đi Thượng Cổ vuông tròn đức ân
Nay đến lượt xoay dần mạt kiếp
Đi Hạ Ngươn tạo nghiệp dẫy đầy
Là kỳ tiến hóa đổi thay
Lập đi Thánh Đức Thượng lai thanh bình
Nên lắm cuộc chiến chinh khói lửa
Để sảy sàng gội rửa tẩy trần
Tam kỳ mở hội Long Vân
Chọn con trung hiếu nghĩa nhân phục hồi
Sự báo ứng cơ Tri đã lậu
Các con cần giác ngộ rõ thông
Để khi lập Hội CÔNG ĐỒNG
Tội tình gây tạo khó mong sống còn
Dầu sống thác cho tròn nhân nghĩa
Chớ đem lòng mai mỉa phụ vong
Tình thương Phật Mẫu đại đồng
Hóa sanh vạn ức trần hồng linh căn
Chuyễn khắp cả hồng trần thế giới
Ngày định kỳ sắp tới con ơi!
Ráng Tu cho kịp ngày giờ
Rèn lòng sửa tánh nhớ lời Mẫu khuyên
Đừng ngu dại mê tiền Ma quỷ
Rồi sao nầy loạn trí điên cuồng
Quỷ Ma nào biết xót thương
Mưu mô đủ kế gạt lường chúng sanh
Nơi Sơn Thất sẵn dành Châu Ngọc
Chờ các con tu học sửa lòng
Thanh bần đừng tủi gắng công
Ngày sau trọn Đạo phỉ lòng hưởng thân
Nếu chẳng nghĩ xét phân cùng tột
Làm tay sai cho bọn Quỷ Ma
Tạo gây ác nghiệp gian tà
Uổng cho một kiếp sanh ra làm người
Lòng dạ thú đổi dời tâm tánh
Bất tin khi Phật Thánh Thần Tiên
Tội mang kiếp đọa huỳnh tuyền
Muôn đi giam hãm xích xiềng trói thân
Con của Mẹ tiền căn giác ngộ
Thì phải cần hiểu rõ đọa siêu
Đừng nên loạn trí làm liều
Đời nầy Ma Quỷ rất nhiều lắm con!
Chúng ẩn hiện tâm hồn giục mãi
Xúi làm điều khờ dại ngu si
Chẳng cần tội lỗi vậy thì!
Con không định Tánh khó trì Ngũ Ma
Nó nhập phá hằng xa căn kiếp
Để linh hồn mang nghiệp muôn đi
Khó về gặp Mẹ con ơi!
Muôn đời sa đọa khó thời tĩnh tâm
Kỳ Mạt Kiếp Mẫu tầm Linh Tử
Trao Cẩm Nang con giữ Phụng Hành
Đừng vì quyền lợi đấu tranh
Để làm mất tánh hạnh lành cao thâm
Giữ đức độ Đạo Tâm vững chắc
Chớ để cho chúng dắt theo đi
Lạc lầm khổ lắm con ơi!
Chịu nhiều quả báo luật Trời hành thân
Lập ý chí tinh thần dũng mãnh
Đạo không phân chấp cảnh ngoại viên
Tùy thân hành sự trần miền
Nơi nào cũng có Phật Tiên hộ trì
Ơn Thầy Tổ con ghi tấc dạ
Sự mặn chay tùy quả kiếp căn
Cần hành chơn đạo tinh thần
Mới là báu quý muôn phần ngày sau
Phá chấp ngã muôn màu sắc tướng
Chọn tấm lòng định hướng chơn thanh
Hành trong tư tưởng thiện lành
Cạo đầu đ tóc chẳng thành sự chi
Khá thấu triệt Vô Vi nguồn cội
Phá chấp không chấp có nơi lòng
Một bầu vô cực hư không
Âm dương phối hợp thần thông diệu huyền
Đắc Bửu Pháp chơn truyền Phật Mẫu
Chiếu Linh Quang soi dấu kiếp căn
Đoạn trừ nghiệp chướng hồng trần
Siêu phàm nhập Thánh phi thăng chơn hồn
Các con khá bảo tồn căn vị
Màn kỳ thi Đạo Lý khảo nhồi
Phật Tiên đâu rảnh con ơi!
Còn lo độ thế khắp nơi khổ sầu
Con nào rõ nhiệm mầu tiến hóa
Cần chung lo Đạo Cả Mẫu hiền
Đắp xây phổ hóa khai truyền
Nên công quả vị Mẹ hiền thưởng ban
Dầu thử thách gian nan chớ nệ
Giữ một lòng chớ đ lợt phai
Đạo mầu phải gặp đắng cay
Mới là biết được lòng ai trung thành
Cố lập chí thực hành tâm Đạo
Thì rõ thông Tam Giáo diệu huyền
Đừng nên mượn Đạo Phật Tiên
Để tạo danh lợi tư riêng tội hình
Kỳ mạt kiếp thiên đình ân xá
Là nhiệm kỳ Đạo Quả sắc ban
Chuyễn cơ phổ độ trần hoàn
Cũng là luật trị sảy sàng hạ ngươn
Đời với Đạo Mẹ còn xoay chuyễn
Mong con trần thể hiện Đạo Nhơn
Cho tình Con Mẹ vuông tròn
Lập cơ Thánh Đức bảo tồn mạng căn
Ngày Đại Hội LONG VÂN có mặt
Mới Nhơn Hiền sự thật Căn Tiên
Tham chi vật chất bạc tiền
Của đời Ma Quỷ đảo điên tinh thần
Mất đức hạnh tiền căn ngọc quý
Chạy theo đời Ma Quỷ loạn cuồng
Ở ăn bất kể kỷ cương
Gian tà xảo quyệt lâm đường nạn tai
Mang một kiếp trần ai đâu dễ
Luật Thiên Đình đâu để lăng loàn
Trị phường hung bạo dọc ngang
Trước sau cũng rõ lớp màn nầy đây
Dù ẩn ý tâm rày thâm độc
Cậy lợi quyền đâm thọc hại nhau
Có trên Bắc Đẩu Nam Tào
Xét soi thấu triệt trước sau lòng người
Sẽ tùy nghiệp Luật Trời báo ứng
Kiến Nguyệt Đài xây dựng trần gian
Rõ thông mọi sự hành tàng
Trong Tâm tội phước hai đàng phân minh
Con sẽ thấy hữu hình tận mắt
Mới hãn tường Tiên Phật diệu huyền
Khó mong thoát khỏi luật Thiên
Con cần tin tưởng lời truyền Mẹ ban
Rèn trí huệ Đạo Vàng tiến bước
Đừng để đi đến nước tới trôn
Co giò hụt cẳng mất hồn
Xác thân như biễn sóng cồn ngoài khơi
Khó cứu mạng cuộc đời căn kiếp
Vì tạo gây tội nghiệp dẫy đầy
Mẹ nào có bỏ gái trai!
Tại con cãi luật làm sai chớ phiền
Cuộc biến thiên trần miền náo động
Máy huyền vi mở rộng năm châu
MINH VƯƠNG ngự chốn Nam lầu
Xử người bội nghĩa gieo sầu tóc tang
Cơ tuyễn lựa hành tàng Nam Nữ
Rõ Thiên Điều phận sự gắng lo
Qua sông nh có thuyền đò
Linh hồn nhờ Đạo thoát bờ sông mê
Chớ vội chấp khinh chê ngang bướng
Phải xét suy tội phước trong lòng
Đạo mầu Trí Huệ mở thông
Mới là hiểu được trong lòng Phật ma
Còn mê khó tầm ra chơn lý
Phật nơi tâm ngự trị chẳng xa
Quán thông thấu triệt Chánh Tà
Sáu căn mê muội gây ra nghiệp trần
Làm điên đảo tinh thần lý trí
Đâu rõ tưng thấu lý đọa siêu
Hoặc là hiểu thấu rất nhiều
Vẫn còn bị nghiệp đủ điều vây quanh
Khiến dục mãi lợi danh mộng tưởng
Cùng sắc màu mơ ước luôn luôn
Con ơi! Các sự tình trường
Đều là mộng ảo vô thường khổ đau
Nó khiến sai đi vào tội lỗi
Cho linh hồn quên cội quên nguồn
Khó về gặp Mẹ Toà Dương
Ngàn năm sa đọa vào đường si mê
Nay có Mẹ Đạo rày khai mở
Cũng là kỳ xá tội Tử Linh
Các con mau kiếp đăng trình
Kịp màn Đại Hội Thiên Đình thưởng ban
Một kỳ chót Mẫu Hoàng chấn chỉnh
Con bất tuân mạng lệnh chớ phiền
Đến ngày Tam Giáo Qui Nguyên
Công Đồng phân xử con hiền chớ than
Bao nhiêu sự lời vàng tiếng ngọc
Là tình thương bảo bọc Linh Hồn
Hai đường siêu đọa dại khôn
Con cần chọn lựa bảo tồn hậu lai
Khá trắc nghiệm đường ngay nẽo chánh
Kẻo mê lầm giả hạnh quỷ vương
Mượn màu sắc tướng phô trương
Mà lòng dạ chúng khôn lường hiễm sâu
Dụng đủ kế ngõ hầu tranh Đạo
Của Phật Tiên khai Đạo Vô Vi
Chẳng lòng Thiện niệm từ bi
Giã tâm đạo đức thực thi bạo tàn
Nhìn đất nước giang san con rõ
Để thức thi giác ngộ công phu
Ham mê danh lợi võng dù
Rồi thân phải chịu ngục tù đọa mang
Màn tuyễn lựa sảy sàng đâu dễ
Phật Tiên còn phổ tế đâu yên
Huống chi Linh tử trần miền
Mà rồi an phận bạc tiền hưởng thân
Khá thực hiện Tứ Ân trọng đại
Để sao nầy trở lại ngôi xưa
Chớ tham danh vọng mắc lừa
Của loài ma quỷ lắm thừa kế mưu
Thìn Tỵ Ngọ tới Mùi con rõ
Sự mất còn sáng tỏ Phật Tiên
Kim Ngôn lệnh Mẹ chỉ truyền
Khai thông Tam Giáo Cơ Huyền cho con
Rõ căn tội mót bòn công đức
Ráng thi hành đại lược trung kiên
Dù cho lắm sự não phiền
Quỷ ma gây rối Đạo hiền chẳng lơi
Sẽ có Mẹ Phật Trời tiếp độ
Gương hy sinh Phật Tổ đại hùng
Ma vương tài phép hành hung
Cũng không thắng đức đại hùng thanh cao
Ráng thức tỉnh giồi trau tâm tánh
Thì nghiệp trần mới rảnh con ơi!
Gian lao khổ cực nhã nhồi
Mà không nãn chí mới người con Tiên
Dẹp phàm tánh tư riêng bản ngã
Giữ tâm hồn cao cả mới ngoan
Đi nầy lắm sự dọc ngang
Là đi Ma quỷ khắp tràn hại căn
Các con ráng tinh thần định tỉnh
Sớm tảo trừ ma bịnh mê si
Chạy theo thế tục ích gì
Càng thêm gây tội khổ nguy linh hồn
Đi vay trả chẳng còn tánh mạng
Thường xảy ra tai nạn kinh hoàng
Cũng vì quyền lợi giàu sang
Mà khi dễ Đạo họa mang bên mình
Sự hóa nghiệp hồn linh tùy kiếp
Của mỗi căn duyên nghiệp khác nhau
Chưa thông suốt lý Thiên Tào
Thì đừng vội chấp lẫn nhau mỗi phần
Con nào cũng nghiệp trần tội lỗi
Từ lâu đời sao khỏi trái ngang
Đến nay cộng nghiệp một màn
Đặng mà trả quả trần gian cho xong
Cho nên mới vợ chồng thay đổi
Hoặc cha con chưởi bới gia đình
Hoặc vì danh lợi mưu sinh
Anh em bạn hữu mất tình nghĩa nhân
Chẳng còn biết tiền căn ruột thịt
Cùng một Mẹ lãnh lịnh Cửu Trùng
Xuống trần mê muội bất thông
Ngũ Ma nhập thể nên lòng đổi thay
Gây chia rẻ ỷ tài tranh chấp
Tạo hận thù khõa lấp tình thương
Đó là bị nghiệp Ma vương
Nhiều đi nhiều kiếp tạo đường trần duyên
Nay Mẫu chuyễn căn nguyên hội hiệp
Ban đạo lành giải nghiệt oan khiên
Các con nhớ lại căn tiền
Cùng nhau trở lại mối giềng căn xưa
Đừng để căn mắc lừa ma quỷ
Nhập tâm mê chẳng nghĩ cội nguồn
Con nào cãi lịnh bất tuân
Thì sau đừng trách Cửu Trùng xữ phân
Mẹ phân cạn tiền căn cội rễ
Cẩm Nang Thơ lưu đ sau nầy
Mong ngày Đại Hội Rồng Mây
Các con đầy đủ về ngay phục chầu
Thoát nghiệp chướng ưu sầu đày đọa
Lánh xa lìa tội quả trần duyên
Thưởng công Đạo quả trần miền
Công Đồng Tam Giáo ban truyền Đức Ân
Có Phật Vương cầm cân công lý
Đại Phong Thần Sắc Chỉ tứ ban
Lập Cơ Thánh Đức MINH HÕÀNG
Giang Sơn thạnh trị Đạo Vàng chánh hưng
Mẹ mong đợi con đừng bê trễ
Luật sảy sàng chẳng dễ đâu con
Ngày qua tháng lụn mỏi mòn
Năm dài cũng tới Thất Sơn Hội TRỜI
Con nào biết nhớ li Mẫu dặn
Thì sau nầy mới đặng bảo toàn
Con nào nghịch mạng dọc ngang
Mẫu thương luật trị ngỡ ngàng tình thâm
Tạm dứt điễn Đạo Tâm Chơn Lý
Mẹ chúc con xét kỹ sửa mình
Ơn dày Tạo Hóa Chơn Linh
Một kỳ trọng đại luật hình chuyễn xây
Đạo Trung Hiếu thảo ngay ghi nhớ
Làm cho tròn phận tớ Thầy ban
Đến cơn bát loạn lọc lừa
Con nhờ Đạo Đức Tam Thừa thoát nguy
CẨM NANG THƠ DIÊU TRÌ KIM MẪU
Ứng Linh Tâm lưu dấu Cơ Huyền
Mẹ hồi Thượng Cảnh Cung Tiên
Chúc con Nam Nữ Đạo hiền đắc thông.
Nam Mô Vô Thượng Hư Không
Diêu Trì Kim Mẫu
Dưỡng Sanh Bảo Mạng
Từ Tôn Đại Từ Tôn
Xá tội linh căn
Cứu khổ cứu nạn chúng sanh
Cảm ứng chứng minh
A Di Đà Phật
DaoKy
13-08-2005, 09:36 AM
http://www.thienlybuutoa.org/images/ThienNhan2.jpg
http://www.thienlybuutoa.org/Uni/TruyenDao/CauChuyenCatDa.gif
Đệ nhị tổ Huệ Khả sau khi được Đạt Ma Tổ Sư truyền tâm ấn, ngài bèn khuất thân đi làm kẻ thuê mướn cho thế gian, chịu sự sai bảo rầy mắng của chủ nhân.
Có người biết thân phận của ngài, bèn nói:
- Ngài là bậc tôn túc cao trọng, sao lại đi làm những việc tầm thường hạ cấp để phải chịu sự sai bảo, la mắng của người đời như thế?
Tổ bảo:
- Ta đang kiểm xem cái tâm thị phi nhân ngã của mình, đâu còn thì giờ để ý đến chuyện nhục vinh. Đây không phải là việc mà các ông có thể hiểu được.
http://www.thienlybuutoa.org/images/colormovingbar.gif
DaoKy
13-08-2005, 09:39 AM
Âm dương luận
Nguyễn Trung Hậu (thuviencaodai@yahoo.com)
ÂM DƯƠNG LUẬN
Tôn chỉ sách này là luận về châu thân mà thôi, muốn cho rõ nghĩa hai chữ Âm Dương là chữ tôi thường dùng trong sách, nên xin giải sơ lược ra đây.
Dương là sáng, Âm là tối. Theo Trời Ðất thì ngày là Dương, đêm là Âm, cho nên mặt trời gọi là Thái Dương, mặt trăng gọi là Thái Âm. Dương khí là khí nóng, trong sạch nhẹ nhàng, Âm khí là khí lạnh (nguội), ô trược, nặng nề. Thần Tiên thuộc về Dương thần, nhẹ nhàng mà siêu thăng, Tà Ma thuộc về Âm thần, ô trược, nặng nề, phải đọa giáng. Sách gọi là Dương thăng, Âm giáng.
Về nhơn loại thì đàn ông thuộc Dương, đờn bà thuộc Âm.
Phần tinh của đờn ông thuộc về Dương, của đờn bà thuộc Âm.
Về loài vật thì Dương là đực, Âm là cái; Dương là trống, Âm là mái. Thiên Tiên Âm Dương thuộc khí, Hậu Thiên Âm Dương thuộc chất.
Về Tiên Thiên, thì khí Dương khí Âm đụng nhau mới sanh Thái Cực: Thái Cực lại sanh Trời Ðất. Ấy là Âm Dương tương hiệp.
Về Hậu Thiên thì tinh cha (Dương) tinh mẹ (Âm) tương hiệp mới sanh sanh hóa hóa (chỉ về Phàm thai).
Ðèn điển ta thắp, cũng nhờ Âm Dương tương hiệp mà sanh ánh sáng, vì có hai dây điển: Một dây nóng thuộc Dương, một dây nguội thuộc Âm.
Theo phép Ðạo, luyện Khí (Âm) hiệp Thần (Dương) cũng gọi là Âm Dương tương hiệp (chỉ về Thánh thai). Khi luyện được Âm Dương tương hiệp rồi thì hiện xuất hào quang như đèn điển sanh ánh sáng vậy.
Thánh Hiền xưa cũng do Âm Dương tương hiệp mà đặt ra chữ MINH 明 là sáng. Bên tả (*1) (http://www.caodaism.org/70/7005/11-ctg.htm#11(*1)) là chữ NHỰT 日 bên hữu là chữ NGUYỆT 月, hai chữ ráp lại là Âm Dương tương hiệp thành ra chữ 明 là sáng.
Lạy Phật Trời, hai tay chấp lại cũng gọi là Âm Dương tương hiệp phát khởi Càn Khôn, sanh sanh hóa hóa.
(*1) Tả thuộc Dương, hữu thuộc Âm, nên thường gọi là Nam tả, Nữ hữu.
DaoKy
13-08-2005, 09:42 AM
Nguyễn Trung Hậu (thuviencaodai@yahoo.com)
CHIÊM BAO
Chiêm bao có hai thứ: Ảo mộng và Thần mộng. Ảo mộng là chiêm bao thấy điều huyển hoặc cho nên thường gọi là mộng mị hay là mộng huyển.
Thần mộng là chiêm bao linh, thấy sao có vậy.
Ảo mộng thường bởi nhiều cớ:
1.- Trong giấc ngủ, hoặc ăn uống không tiêu, hoặc nằm cấn mạch máu làm cho máu chạy không đều. Mà hễ máu chạy không đều thì loạn trí (thần): Loạn trí mới thấy bậy bạ, như kẻ điên bị loạn trí thấy bậy bạ mà nói xàm. Cái mớ trong giấc ngủ chẳng khác chi cái nói xàm của kẻ điên vậy. Ðờn bà đường kinh không điều hòa (hay trồi sụt) ngủ hay chiêm bao là bởi cớ ấy.
2.- Trong giấc ngủ, nếu phách (*1) (http://www.caodaism.org/70/7005/14-ctg.htm#14(*1)) chế hồn, não (óc) ta phải vắng chủ trương thì không chi kềm chế, nên sự suy nghĩ, lo lường của ta trọn ngày mà đã in vào não đó, thừa dịp tuôn ra lộn xộn (như bầy chiên không người giữ tuôn bậy vậy), hồn ta lúc đó bị phách chế, mơ màng nửa biết, nửa không cho nên khi tỉnh giấc rồi, ta nửa quên nửa nhớ.
Thần mộng do nơi duyên cớ sau này: Trong giấc ngủ ngũ tạng, lục phủ đều êm tịnh, như máy để êm không chạy, người coi máy (tức là hồn) được thong thả mới xuất ngoại thân, song xuất không trọn khỏi xác (nếu xuất trọn xác thì chết rồi) vì phải còn một phần ở lại (ấy là phần ít), khi ấy hồn mới vân du cảnh ngoại (nếu hồn được tinh khiết, thì có thể lên tận cõi trên), khi thấy vầy, khi thấy khác, có khi gặp hồn khác mà chuyện vãn với nhau.
Phần hồn xuất xem thấy bao nhiêu, thì phần hồn ở lại in vào não bấy nhiêu, nên khi ta tỉnh giấc, thì nhớ đủ đầu dây mối nhợ. Ấy là Thần mộng (ít khi có lắm).
Có người thuở nay chưa hề quen biết cái nhà kia mà chiêm bao thấy mình đến đó, nhà cửa thế nào, cách sắp đặt làm sao đều thấy rõ hết. Khi tỉnh giấc, đến đó xem thử, thì chẳng sai một mảy. Ấy là Thần truyền.
Ðời xưa có người trong giấc chiêm bao mà kết nghĩa kim bằng với nhau, gọi là nghĩa Thần giao.
(*1) Phách là phần trọng trược của Thần Hồn, thuộc Âm. Khi Hồn lìa khỏi xác (chết), phách phưởng phất theo mây gió, không bao lâu phải tan rã, chất sanh trong phách lộn theo không khí, rồi ta lại hít vào mình. Thế thì trong Trời Ðất không vật chi sanh thêm mà cũng không vật chi tuyệt bớt (Rien ne se crée, ni ne se perd). Cuộc tử sanh, cuộc tiêu hóa bất quá là đem đầu nọ đắp đầu kia vậy thôi. Lafin d'une chose est le commencement d'une autre (Cái cuối cùng của vật này là cái khởi đương của vật khác).
DaoKy
13-08-2005, 09:43 AM
Nguyễn Trung Hậu (thuviencaodai@yahoo.com)
KHUYÊN LÁNH XA TỬU SẮC TÀI KHÍ
Kể từ thuở mở mang trời đất,
Nguồn nhơn sanh tánh chất thật thà.
Vì chưng trần tục đắm sa,
Một ngày một nhiễm một xa cội nguồn.
Người thì mảng pha tuông biển sắc,
Kẻ tìm nơi đổ bác chen vào.
Ðã ham rừng thịt rượu ao,
Lại quen tánh khí bào hao lẫy lừng.
Thế mà phải tinh thần suy kém,
Uổng ngôi xưa một điểm linh quang.
Ăn năn ví chẳng sớm toan,
Mối dây oan nghiệt buộc ràng bên chân.
***
Rượu là giống trăm phần ác độc,
Làm cho người hình vóc héo hon.
Kể ra hại chất bằng non,
Ðốt tiêu phế phủ, soi mòn tâm can.
Khi quá chén tào khang chẳng kể,
Lúc lỡ say nào nể xóm giềng.
Mẹ cha thảm, vợ con phiền,
Nhuốc nhơ danh giá, đảo điên đạo nhà.
Ví biết trọng tề gia chi bửu,
Ðừng lân la quán rượu lầu cao.
Vui mê bầu ngọc chén đào,
Ðã suy khí lực, lại hao tinh thần.
***
Chừa mấy chốn lầu Tần, quán Sở,
Thói trăng huê dầu lỡ đắm sa.
Ăn năn sớm tháo chân ra,
Khỏi vòng lục dục mới là người khôn.
Con sóng sắc dập dồn biển ái,
Mảnh hồng nhan là cái gươm đao.
Xưa nay mấy mặt anh hào,
Giang san sự nghiệp chôn vào tình si.
Trai xấu tiếng cũng vì sắc hại,
Gái mất trinh cũng tại gian dâm.
Ðảo điên đức bốn, thường năm,
Phong thương tục bại, tội dâm muôn đời.
***
Trường đổ bác là nơi gieo nạn,
Hại nhiều tai bại sản khuynh gia.
Chung sòng nào kể trẻ già,
Xô bồ quí tiện cũng là đồng vai.
Khi vận đỏ hiếm tay niềm nở,
Thói a dua tiếng bợ lời tưng.
Rủi thua vương lấy nợ nần,
Người xa gièm siểm, kẻ gần khinh khi.
Cơn túng ngặt kể chi tội phước,
Lòng rắp ranh tìm chước gian tham.
Việc chi hễ lợi thì làm,
Thân danh là trọng cũng đam chôn vùi.
***
Biết nhẫn nhịn tính xuôi muôn sự,
Mặc tình ai làm dữ nấy lo.
Lửa lòng nóng quá lửa lò,
Biết khôn dằn xuống khỏi lo tụng đình.
Giận một lúc mà sinh hại cả,
Dầu ăn năn cũng đã muộn rồi.
Chi bằng giả điếc làm đui,
Thị phi ừ hử cho xuôi mọi bề.
Nôm na một bổn giác mê.
DaoKy
13-08-2005, 09:46 AM
Nguyễn Trung Hậu (thuviencaodai@yahoo.com)
NGUYÊN NHÂN VÀ HÓA NHÂN
Trong vạn loại, từ vật chất đến con người, thảy thảy có chất sanh (électron) (cái chất sanh ấy do nơi khối Linh quang của Tạo Hóa ban cho). Kiếp luân hồi lại bắt từ vật chất đến thảo mộc, từ thảo mộc lên thú cầm, từ thú cầm đến nhơn loại: Nhơn loại còn phải luân đi chuyển lại muôn vàn kiếp nữa mới đặng hoàn toàn. Ấy là cuộc luân chuyển theo luật tự nhiên của Càn Khôn, Thế Giái (évolution). Người mà do phép luân chuyển ấy sanh ra, nghĩa là bắt từ vật chất phát sanh, gọi là Hóa nhân (êtres évolués). Con người của Tạo Hóa sai xuống lúc ban sơ để lập nên nhân loại, sau buổi tạo Thiên lập Ðịa thì gọi là Nguyên nhân (êtres créés). Nguyên nhân cũng phải chuyển kiếp luân hồi như Hóa nhân vậy. Nguyên nhân thường gọi là kẻ có tiền căn, cựu vị.
Luân hồi chuyển kiếp chẳng khác nào sự hô hấp huyết mạch trong châu thân. Huyết trong trái tim tua ra khắp châu thân, rồi trở lên phổi nhuận sắc lại cho trong sạch đặng trở về tim. Thái Cực chẳng khác nào trái tim, người đắc đạo hườn nguyên hiệp nhứt với Thái Cực (Ðấng Tạo Hóa) thì cũng như huyết nhuận sắc rồi trở về hiệp làm một với trái tim vậy. Cho nên châu thân con người gọi là Tiểu Thiên Ðịa thì phải lắm. Muốn rõ cách chuyển kiếp thể nào xin xem hình sau đây
http://www.caodaism.net/caodai/1CHAUTHANGIAI-3.jpg
DaoKy
13-08-2005, 09:49 AM
NGŨ QUAN - LỤC CĂN - LỤC TRẦN
Ngũ tạng trong mình gọi là ngũ nội, còn thân ngoài lại có ngũ quan. Ngũ quan nghĩa là năm chức hay biết về việc ngoại là: Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân.(*1) (http://www.caodaism.org/70/7005/04-ctg.htm#04(*1))
Nhãn (mắt) để thấy.
Nhĩ (tai) để nghe.
Tỉ (mũi) để hửi.
Thiệt (lưỡi) để nếm mùi.
Thân (mình) để rõ biết các vật cứng, mềm, nóng, lạnh,.
Nhờ thấy, nghe, hửi, nếm, rờ rẫm mới biết việc kia, vật nọ, mà hễ biết việc kia, vật nọ rồi mới sanh ý. Ý là gì? Là sự muốn tưởng, nghĩ ngợi do nơi ngũ quan mà sanh. Nếu mắt không thấy, tai không nghe, mũi không hửi, lưỡi không nếm, thân không biết cứng mềm, nóng lạnh, thì con người biết chi mà muốn tưởng, mà nghĩ ngợi?
Kinh Phật gọi Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân, Ý là lục căn (sáu cội rễ trong châu thân). Lục căn lại hiệp với lục trần (sáu bợn nhơ) là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.
SẮC là màu đẹp đẽ, hình dung tốt tươi.
THINH là lời ngon ngọt, giọng thâm trầm.
HƯƠNG là mùi mẽ thơm tho.
VỊ là mùi ngon ngọt (chỉ về vật ẩm thực).
XÚC là sự cảm động.
PHÁP là những sự vật xảy ra.
Mắt thấy sắc xinh vật đẹp bắt ham (Sắc).
Tai nghe tiếng ngọt ngon, giọng thâm trầm phải mến (Thinh).
Mũi hửi mùi thơm phải đẹp (Hương).
Lưỡi nếm vật ngon phải thích (Vị ).
Thân không tịnh phải cảm động (Xúc).
Ý thường hay muốn mà sanh ra sự vật (Pháp).
Lục trần là sáu bợn nhơ thường hay rù quyến con người say mê tục thế, quên đường đạo đức, xa mối luân thường. Nó lại bao phủ lương tâm mà làm cho phải nặng nề, nhơ bợn. Vì lục trần mà con người phải hao mòn thân thể, mờ mệt lương tâm, xa lần cội rễ, rồi kiếp luân hồi không phương thoát khỏi.
Nên chi muốn thoát tục mà tìm nguồn Tiên, cõi Phật, ta phải diệt hết lục trần đi. Mà muốn diệt lục trần, trước phải lo trừ nơi cội rễ là lục căn vậy.
Phải giữ cho được mắt chay, tai chay, mũi chay, lưỡi chay, thân chay, ý chay (ấy là lục trai đó). Sao gọi là mắt chay, tai chay, mũi chay, lưỡi chay, thân chay, ý chay?
1.- Mắt chay, nghĩa là không thèm xem sắc đẹp, dầu ai xinh lịch thế nào cũng chẳng qua là thây đi, thịt chạy, xem sắc tốt như tro bụi để làm nhơ danh giá, như gươm đao để đẻo xẻ thân hình, như thuốc độc hại tán tinh thần.
Ta nên tự nghĩ như vầy: Hòa gian với gái có chồng là phá gia cang người, rồi sau vợ con mình phải trả quả.
Hòa gian với gái góa bụa, là phá tiết người, với gái chưa chồng là phá trinh, làm cho người lỡ làng duyên phận về sau.
Mắt chẳng nên dòm lên trên thấy người cao sang hơn mình mà ganh ghét, chớ nên ngó xuống thấy kẻ thấp hèn hơn mình mà khi thị.
Tóm lại, vạn ác dâm vi thủ, nếu giữ được mắt chay, thì diệt được bợn nhơ thứ nhứt là SẮC vậy.
2.- Tai chay nghĩa là không thèm nghe đến lời ngon ngọt, giọng thâm trầm, giữ được vậy khỏi bị ai rù quyến vào đường tà, nẻo vạy, khỏi gây hơn thua, phải quấy (Vô lự do vô sự, vô sự tiểu Thần Tiên). Ở đời lắm người giả dối, miệng tuy ngọt dịu, mà lòng chứa gươm đao, giọng kèn tiếng quyển của họ có thế làm cho gái mất tiết trinh, trai hư danh giá. Vậy nên lời phi, tiếng thị mặc ai, chẳng nên đem vào tai mà bị cám dỗ, chẳng nên lắng nghe rồi đồ đi, nói lại cho ra việc "Ngồi lê đôi mách", ai cười chê nhiếc mắng ta, ta cứ ngơ tai giả điếc, thì khỏi lo cãi cọ tranh đua, họ nói mặc họ, mình không nghe, nói thét mỏi miệng tự nhiên phải nín.
Tóm lại tai có mà như điếc thì diệt được bợn nhơ thứ nhì là THINH vậy.
3.- Mũi chay nghĩa là mũi giữ đừng cho biết mùi, đi ngang chỗ hôi tanh, chẳng biết hôi tanh mà gớm, đứng gần kẻ xạ ướp, hương xông chẳng vì xạ ướp hương xông mà động. Giữ được vậy thì diệt đặng bợn nhơ thứ ba là HƯƠNG vậy.
4.- Lưỡi chay nghĩa là lưỡi chẳng cần nếm miếng ngon vật lạ, miếng ăn chỉ no dạ thì thôi. Ham miếng cao lương, mỹ vị chi cho khỏi sát sanh hại vật. Mình ăn ngon miệng mà con sanh vật phải hại mạng, thì ăn sao đành? Tuy là loài vật, chớ cũng thọ hưởng một điểm linh quang như mình. Kiếp này nó là con sanh vật, biết đâu kiếp trước nó chẳng phải là người? Kiếp này mình làm người, biết đâu kiếp trước mình chẳng phải là con sanh vật? Ôi! Luân hồi chuyển kiếp, người vật, vật người, luân chuyển lại qua cũng đồng một thể. Mình ăn thịt loài vật tức là mình ăn thịt lẫn nhau, mà người có lương tâm há nỡ ăn thịt lẫn nhau cho đành đoạn?
Ông Mạnh Tử nói rằng: "Thấy cầm thú bị đem giết thì Ngài bất nhẫn. Nghe nó kêu la thảm thiết khi bị thọc huyết, Ngài không đành ăn thịt". Lòng nhân này hiệp với đức háo sanh Tiên Phật đó.
Người có tiền của còn mua chim cá mà phóng sanh thay! Như mình nghèo không phóng sanh thì thôi, nỡ nào lại sát sanh cho đành đoạn?
Lưỡi chay cũng chẳng nên đắm say mùi rượu. Uống rượu vô loạn tâm, mà hễ loạn tâm thì sanh quấy. Người xưa dùng rượu để cúng tế Thánh Thần, dùng rượu làm lễ mà thôi. Chớ Thánh Thần đâu hưởng rượu của người phàm tục?
Người nay lấy nê câu "Vô tửu bất thành lễ" rồi trong việc quan, hôn, tang, tế, mỗi mỗi thảy dùng rượu, thậm chí đến lúc bi hoan, ly hiệp cũng dùng rượu, buồn gọi dụng tửu binh giải phá thành sầu, vui gọi dụng rượu Tô hứng chí.
Hại thay! Rượu là giống độc, ai cũng đều biết, mà nhiều kẻ lại ưa dùng, ấy cũng là lạ đó.
Có lời tục rằng: "Lưỡi không xương nhiều điều lắc léo". Muốn giữ cho lưỡi được trọn chay ta chẳng nên nhiều lời lắm tiếng. Nửa lời nói ra chẳng phải, còn tổn đức bình sanh thay. "Bán cú phi ngôn tổn bình sanh chi đức", phương chi uốn ba tấc lưỡi mà việc không nói có, việc có nói không, quấy làm ra phải, phải sửa thành quấy, thì tổn đức biết bao. Lời nói ra phải cho cẩn thận, đáng nói thì nói, không đáng thì thôi, đừng bạ đâu nói đó mà tổn đức hao hơi, lại còn nỗi sự sanh, sanh sự.
Tóm lại nếu giữ lưỡi đặng trọn chay, thì chẳng những diệt tận bợn nhơ thứ tư là Vị mà lại còn giữ đặng tư cách người tu hành đạo đức nữa.
5.- Thân chay nghĩa là thân mình không cần trau giồi xinh đẹp, ăn mặc tốt tươi, chẳng cần dùng quần là, áo lụa, chẳng ham nệm gấm, giường ngà. Người tu hành phải ép xác để cầu khổ hạnh (Xả thân cầu đạo, xả phú cầu bần). Áo vải, quần bô, miễn che thân, ấm cật là đủ, đã giữ hạnh kẻ tu hành, lại vẹn câu tiết kiệm, nằm chẳng lựa giường êm nệm ấm, nơi đâu sạch sẽ được yên giấc là xong.
Nếu thân trau giồi, chải chuốt cho đẹp dạ mình, cho vừa mắt chúng, chi cho khỏi sanh lòng cảm động mà ra điều tình tệ.
Giữ được thân tịnh như vậy, thì tâm không xao động, không cảm xúc, tức là diệt được bợn nhơ thứ năm là XÚC vậy.
6.- Ý chay là ý chẳng vọng tưởng việc ác, không mơ ước việc cầu cao, không tính lợi cho mình mà hại cho người, chẳng tính điều tham lam, trộm cướp.
Làm ác gặp ác chẳng sai (Tích ác phùng ác).
Tính việc cầu cao mà không đủ sức làm, đã không nên việc, lại hao tài, tổn sức, rồi ra người thất chí, mà hễ thất chí thì cả đời không làm chi nên đặng. Chi bằng an phận thủ thường, tố nào theo tố nấy.
Tính lợi cho mình mà hại cho người là mất lẽ công bình. Làm người không giữ luật công bình đâu trọn tư cách làm người đặng?
Tham lam, trộm cướp (*2) (http://www.caodaism.org/70/7005/04-ctg.htm#04(*2)) của người không thế hưởng lâu đặng (Hoạnh tài bất phú). Không gặp nạn này cũng vương lấy tai kia, khiến hao tài tốn của cho hết tiền phi nghĩa ấy đi. Dầu trốn khỏi luật hình dương pháp, chớ lương tâm cắn rứt hằng ngày, thêm nỗi luật Âm Cung rành rạnh, đợi buổi chung qui gia hình chẳng vị.
Tóm lại, giữ được ý chay như vậy thì diệt được bợn nhơ thứ sáu là PHÁP vậy.
Lục căn chay rồi, lục trần tự nhiên tiêu diệt. Ðó là giặc bề ngoài, còn cõi Tâm là giặc bề trong, phải chay mới được.
Tâm chay: - Nghĩa là tâm mình phủi sạch mọi việc trần duyên, không hay, không biết, không lo, không tưởng, muốn việc chi trên phàm tục này không trụ nơi tâm được, phải tan như giá, phải rã như sương, cõi tâm trống như không, trắng như giấy, tâm có mà như không. Ấy là sắc tức thị không. Hễ tâm trần chết, tâm đạo khởi ra. Ấy là không tức thị sắc.
Giữ được tâm chay như vậy, tức là gần Ðạo rồi.
Tu luyện cốt lo cho phần hồn ngày sau được tiêu diêu, tự toại nơi cõi Niết Bàn Cực Lạc, khỏi lao lự, khỏi khổ phiền, khỏi tiêu diệt. Ta nay còn lộn theo trần tục mà nếu giữ được tâm chay, tức là gặp Niết Bàn tại thế.
Vậy khuyên người đồng đạo rán kiên tâm trì chí sửa tánh, răn lòng, một ngày làm lấy một mảy lành, trau tria một nét hạnh, lần lần nhựt nhu nguyệt nhiễm cũng đặng trọn lành. Nếu thấy khó ngã lòng, sao cho là Ðạo?
Muốn lánh xa trần khổ, trước phải chịu khổ tâm, khổ hạnh bây giờ là ngôi Cực lạc về sau vậy.
(*1) Theo sách Tây thì quan thứ năm là da. Ðây tôi đề là Thân cũng vậy vì cả châu thân đều bọc da.
(*2) Tham lam trộm cướp có nhiều cách:
- Làm quan hà lạm của dân, làm chủ lường công cướp việc, ấy là cách cướp giựt của người thượng phẩm.
- Bán buôn lường thăng tráo đấu, xúi kiện thưa đặng hưởng huê hồng, gạt người lấy của, ấy là cách cướp giựt của hàng trí thức.
- Lấy xâu ăn đầu, cờ gian, bạc lận, làm tớ ăn lời chủ, đào hầm khoét vách, cướp giựt hành hung, ấy là thủ đoạn của phường hạ tiện.
DaoKy
13-08-2005, 09:50 AM
NGŨ TẠNG
Châu thân con người tỉ như một cái xưởng lớn, phân ra nhiều sở làm lụng, tuy phận sự khác nhau, chớ vẫn chung về một mối là tiếp dưỡng châu thân để bảo tồn sự sống. Mấy sở làm lụng ấy chia ra làm năm gọi ngũ tạng. Ngũ tạng là: Tâm, Can, Vị (*1) (http://www.caodaism.org/70/7005/03-ctg.htm#03(*1)), Phế, Thận.
Người có ngũ tạng như Trời Ðất có ngũ hành (*2) (http://www.caodaism.org/70/7005/03-ctg.htm#03(*2)). Nếu không có ngũ hành thì không có Càn Khôn, Thế Giái, còn nếu không có ngũ tạng thì cũng không có nhơn loại.
Ðấng chủ trương cai quản ngũ tạng là thần hồn của ta. Khi thần hồn lìa xác, ngũ tạng vắng chủ trương phải ngưng, mà hễ ngũ tạng ngưng tức là ta chết vậy.
VỊ (bao tử)
Trong ngũ tạng, cần nhứt hơn hết là tạng này, vì nó chứa vật thực, rồi làm cho tiêu tán ra huyết để vận chuyển cùng mình mà nuôi lấy châu thân.
TẠNG CAN (lá gan)
Gần tạng Tì, lại có tạng Can nhỉ ra một thứ nước xanh xanh, vàng vàng mà đắng gọi là mật (đởm) để phụ với tạng Tì làm cho vật thực dễ tiêu hóa, nhứt về vật mỡ dầu.
TẠNG THẬN (trái cật)
Trước khi huyết vận chuyển khắp châu thân, thì có tạng Thận lọc đi lược lại cho trong sạch, còn cáu cặn thì xuống bàng quang (bong bóng) mà theo đường tiểu tiện. Tạng Thận có hai trái: trái bên hữu gọi là Thận hỏa, trái bên tả gọi là Thận thủy. Ba tạng: Tì, Can, Thận đều ở nhằm hạ tiêu.(*3) (http://www.caodaism.org/70/7005/03-ctg.htm#03(*3))
TẠNG TÂM (trái tim)
Khi hai tạng kể trên đó làm cho vật thực tiêu hóa ra huyết rồi, tạng tâm lại vận chuyển huyết khắp châu thân. Trái tim tỉ như một ống bơm vừa xịt ra, vừa hít vào được. Hễ trái tim tóp vô, huyết trong ấy túa ra theo mạch máu mà châu lưu khắp thân thể, rồi trái tim phùng ra huyết lại trở về. Trái tim cứ thoi thóp như vậy mãi đặng vận chuyển huyết vô, ra. Nếu ta đặt tay trên ngực, thì nghe trái tim động, gọi là "đánh trống ngực".
Khi huyết trở lại rồi nhiểm lấy vật dơ mà hóa bầm, vì đã chạy cùng thân thể, như nước mưa khi ở không trung rớt xuống thì trong sạch, mà hứng vô lu rồi lại đục đi, vì bị bụi bậm, côn trùng hoặc giữa không khí, hoặc trên mái nhà nhiễm vào.
TẠNG PHẾ (lá phổi)
Tạng phế có hai lá ở nhằm trung tiêu. Trái tim thì ở giữa, mà cái đuôi lại trịch qua bên tả.
Nhờ sự hô hấp (*4) (http://www.caodaism.org/70/7005/03-ctg.htm#03(*4)) không khí mới vô ra nơi phổi. Mỗi lần hít vô, không khí vào đến phổi, nhờ lấy khinh khí (oxygène) trong hơi thở ấy huyết bầm mới đặng tươi nhuận lại như trước mà luân chuyển nữa.
Mỗi lần thở ra, hơi thở lại hóa ra trược khí, vì nó đã dùng mà tươi nhuận huyết bầm, tỉ như nước sạch mà dùng rửa giặt rồi phải dơ vậy.
Muốn cho thân thể thường tráng kiện, ít sanh bịnh, ta cần phải biết điều dưỡng ngũ tạng theo cách sau đây:
VỊ: - Chớ lầm tưởng rằng hễ ăn uống đặng nhiều thì mập mạp và mạnh dạn. Ta thường thấy nhiều người mỗi buổi ăn sắp hai, sắp ba kẻ khác, mà ốm vẫn huờn ốm. Còn có kẻ ăn uống theo mực thường mà lại nở nang phì mỹ. Ấy có phải tại ăn nhiều mà mập đâu. Nên nói ăn nhiều thì bịnh hoạn, gầy ốm là phải hơn. Vì ăn quá độ, vật thực không tiêu, tạng tì phải mệt, mà mệt tất phải đau (gọi là phạt tì). Vậy, muốn bổ tì, nên ăn uống có độ lượng, nhứt là nên dùng rau cỏ hơn thịt cá, vì rau cỏ là vật thực nhẹ nhàng, mau tiêu, lại nhờ thọ khí nóng của thái dương (mặt trời) khử độc (*5) (http://www.caodaism.org/70/7005/03-ctg.htm#03(*5)) rồi nên ăn vô ít sanh bịnh hoạn.
CAN: - Ăn uống quá độ lượng phạt Tì, rồi Can là ăn chịu với Tì hơn hết, phải can thiệp mà sanh bịnh. Rượu là món phạt Can hơn hết, phần nhiều bợm rượu thường đau gan là bởi cớ ấy.
Sự can đởm chí khí của con người do nơi Can mà phát ra (cho nên thường gọi kẻ nầy dạn gan, người kia nhát gan là vậy). Sự sân si hân nộ là do nơi can đởm, chí khí mà phát lên. Cho nên bớt sân si, hân nộ thì điều Can vậy.
TÂM: - Ăn uống quá độ lượng cũng hại cho tạng Tâm. Kẻ đau tim hay mệt mỏi, bần thần, ăn rồi bắt buồn ngủ, nặng đầu, làm việc gì, dầu nhẹ nhàng cho mấy cũng mệt thở hào hển. Vì hễ trái tim bịnh, huyết mạch chạy không đều, huyết mạch không điều hòa thường sanh các chứng bịnh ấy.
Sự lo lường, tư tưởng do nơi tâm trí phát sanh. Nhiều lo tưởng thường lao tâm, tiêu tứ. Ðoạn tư tưởng là bổ tâm vậy.
THẬN: - Ăn uống quá độ lượng, vật thực không tiêu tán, mà hễ vật thực không tiêu tán, thì Thận là cái bàn lọc, phải nhọc công gạn lược nhiều lần, rồi phải hao mòn, mà hễ gạn lọc nhiều lần thì chỉ tồn nhiều cặn cáu, cho nên nước tiểu thường hôi đục.
Tạng Thận cũng là máy làm ra tinh (*6) (http://www.caodaism.org/70/7005/03-ctg.htm#03(*6)) (vật ăn uống bảy ngày mới hườn một điểm tinh). Dâm dục nhiều hao tinh, phạt thận, dứt dâm dục là bổ thận vậy.
PHẾ: - Hai lá phổi là vật mềm mại và có lỗ hang như tàng ong vậy. Nếu khí thở không đặng trong sạch (nghĩa là chứa nhiều côn trùng bụi bậm), lỗ phổi phải vì bụi bậm mà bít nghẹt, thêm nỗi côn trùng ấy vào phổi ăn khoét hư đi (vì phổi mềm), biểu sao không bịnh hoạn, nhứt là không tránh khỏi cái bịnh rất hiểm nghèo là ho lao vậy. Về vật thực chẳng nên ăn vật chi sanh lảnh (sống sít, lạnh lẽo) vì mấy vật ấy quến đàm. Hễ đàm nhiều thì chận phổi bít nghẹt mà sanh ra hen, suyễn. Nên ở chỗ cao ráo mát mẻ, nhà cửa cho thiệt khoảng khoát, cho có thanh khí, nên ở nơi vắng vẻ như ruộng, đồng, rẫy bái.
Tạng phế là máy hô hấp không khí (hơi thở). Nói nhiều mệt sức hao hơi, mà mệt sức hao hơi thì phạt phế. Muốn bổ phế, chớ nên nhiều lời lắm tiếng.
Tóm lại, sự thọ yểu của con người do nơi mình mà ra. Cho hay số mạng định trước, mà ta có thể cải đặng. Cho nên có câu "Nhân định thắng thiên" là vậy đó. Tỉ như đời người là trăm tuổi, nếu chúng ta biết bảo tồn thân thể, tịnh dưỡng tinh thần, có lẽ ta sống quá tuổi ấy được. Còn nếu ta ăn uống quá độ lượng cho hao mòn ngũ tạng, nhiều lo rộn tính cho tiêu tán tinh thần thì thế nào sống lâu đặng?
Kìa như một cái cầu đúc, quan bác vật định cho là bền bỉ trăm năm. Mà nếu xe cộ chở chuyên nặng nề qua lại thường ngày, tự nhiên cầu ấy phải mau hư, mau sụp.
Thân thể ta như một cái máy, sanh mạng như hơi mạnh (force motrice) để làm cho cái máy chạy vậy. Nếu vật dụng (tức là ngũ tạng) trong máy ấy hư, là tại người thợ coi máy (tức là ta) không kỹ càng, chớ hơi mạnh (sanh mạng ta) không can dự vào. Mà hễ máy hư không chạy, thì hơi mạnh phải dứt (tức là ta chết).
(*1) Tì là lá lách mà đến ngày nay, khoa học vẫn chưa xác định công dụng của tạng này ra sao, cho nên trong ngũ tạng, chúng tôi dùng vị (bao tử) thế cho tạng tì.
(*2) Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Sách thuốc gọi: Tâm thuộc hỏa, Can thuộc mộc, Tì thuộc thổ, Phế thuộc kim, Thận thuộc thủy.
Muốn nói trúng hơn thì vật thực tiêu hóa rồi thành ra một thứ nước trắng trắng, đồng chất với huyết rồi hiệp với huyết làm một mà vận chuyển khắp châu thân để nuôi lấy sự sống.
(*3) Châu thân chia làm ba tầng gọi là tam tiêu. Tầng trên (đầu) gọi là thượng tiêu, tầng giữa (ngực) gọi là trung tiêu, tầng dưới (bụng) gọi là hạ tiêu.
(*4) Hô là thở ra, hấp là hít vô.
(*5) Khử độc là làm cho hết độc, côn trùng trong rau cỏ bị hơi nóng mặt trời chết bớt.
(*6) Xin xem bài giải về Tinh, Khí, Thần.
DaoKy
13-08-2005, 09:51 AM
NHỊ XÁC THÂN
Nhị xác thân là gì? Là thân thứ hai của con người (thân thứ nhứt tức là thân phàm, xác thịt). Có kẻ gọi là tướng tinh. Khoa học Tây có chỗ gọi là Périsprit, có chỗ gọi là Double, hoặc là Corps astral. Nhị xác thân thuộc về lưu động chất (fluide) là vật thiêng liêng, cho nên mắt không thấy đặng, nhưng có khi nó cũng có thể hiện hình ra cho người ta thấy, nên gọi là bán hữu hình. Cái nhị xác thân của người nào thì lấy in theo hình ảnh của người nấy như rập vậy. Nhị xác thân chánh là xác thiệt của phần hồn. Khi hồn còn ở xác phàm, nhị xác thân cũng ở theo xác phàm, hễ hồn lìa khỏi xác phàm thì nhị xác thân cũng thoát ra theo bao bọc Linh hồn.
Kẻ thác rồi mà hiện ra cho người ta thấy (thường gọi là ma hiện hình) là hiện hình cái nhị xác thân ấy (Metérialisation du Périsprit).
Kẻ tu đắc đạo rồi có thể ngồi một chỗ mà xuất nhị xác thân ra khỏi xác phàm, rồi cũng đi đứng, nói năng như thường, con mắt phàm không thế nào phân biệt nó với xác thịt được.
Nhị xác thân của Thần, Thánh, Tiên, Phật lại huyền diệu vô cùng, trong nháy mắt dạo khắp ba ngàn thế giái, núi non, cây cối, sắt đá chi chi cũng qua được là vì nhị xác thân thuộc lưu động chất, mà lưu động chất của Tiên, Phật lại thuộc về Cao Thiên Khí, cho nên không vật chi cản ngăn được hết.
Trong một cái xác phàm tinh khiết mới có được nhị xác thân tinh khiết. Mà muốn cho xác phàm tinh khiết thì chẳng nên dùng vật thực huyết nhục là vật chất nặng nề, ô trược. Vì vậy nên muốn luyện đạo cần phải trường trai, vì đồ chay thuộc về thảo mộc, nhẹ nhàng tinh khiết.
DaoKy
13-08-2005, 09:52 AM
PHÀM THAI
Trước khi dựng nên Trời Ðất, khí Hư Vô chia ra Âm Dương. Ấy là Ðạo Âm Dương tương hiệp mới sanh Thái Cực, Thái Cực lại sanh Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi phân Tứ Tượng. Tứ Tượng sanh Bát Quái. Bát Quái lại biến hóa vô cùng mới có nhân loại. (Xin xem sách TIÊN THIÊN TIỂU HỌC thì rõ hơn). Ðó là cuộc dựng nên Trời Ðất. Cuộc gầy dựng nhơn loại cũng đồng một thể. Khi vợ chồng giao cấu nhau, phần tinh hai người hiệp lại gọi là Âm Dương tương hiệp. Phần tinh của đờn bà ngậm lấy phần tinh của đờn ông thành ra một khối nhỏ tròn như trứng (*1) (http://www.caodaism.org/70/7005/12-ctg.htm#12(*1)) vậy gọi là đậu thai, tức là Thái Cực. Thái Cực lần lần lớn dài, đoạn sanh ra đầu, đầu và mình đó là Lưỡng Nghi, kế mọc ra tứ chi (hai tay, hai chân) gọi là Tứ Tượng. Tứ chi của con trai gọi là Tứ Dương, của con gái gọi là Tứ Âm. Khi lớn lên, đàng trai đàng gái phối hiệp nhau thì Tứ Dương nằm trên Tứ Âm, thành ra Bát Quái, vì đó mà sanh con đẻ cháu gọi là biến hóa vô cùng.
Ngũ tạng trong thân thể con người phù (hợp?)(*) với ngũ hành của Trời Ðất, cửu khiếu lại ứng đối với cửu tiêu.
Tóm lại, cuộc gầy dựng nhơn loại chẳng khác nào cuộc gầy dựng Trời Ðất, cho nên con người gọi là Tiểu Thiên Ðịa.
(*1) Phần tinh đờn ông ở trong, phần tinh đờn bà bao ngoài, cho nên của đờn ông sanh xương, của đờn bà sanh thịt.
(*) Trong bản chánh không có chữ hợp, chúng tôi nghĩ có chữ hợp câu trên mới đầy đủ ý nghĩa hơn.
DaoKy
13-08-2005, 09:53 AM
THÁNH THAI
Luyện Khí (Âm) hiệp Thần (Dương) gọi là Âm Dương tương hiệp, khi ấy là đậu Thánh thai, gọi là Thái Cực (Ðạo gia gọi là Linh đơn, Thiền gia kêu là Xá Lợi Tử). Thái Cực sanh Lưỡng Nghi rồi phân Tứ Tượng theo phàm thai vậy.
Tứ chi của xác phàm thuộc về Hậu Thiên gọi là Tứ Âm, tứ chi của Thánh thai thuộc về Tiên Thiên gọi là Tứ Dương. Tứ Âm hiệp với Tứ Dương thành ra Bát Quái. Khi đắc đạo rồi, nhị xác thân huyền diệu vô cùng, thoát xác phàm chừng nào cũng đặng, vân du thiên ngoại dễ như chơi, gọi là biến hóa vô cùng.
Tóm lại Phàm thai, Thánh thai đều do theo luật Thiên Ðạo, một gốc mà ra. Langsa có câu: "Tout part de l'Unité", nghĩa là mỗi mỗi đều do Một mà ra. Một ấy tức là Trời vậy.
Phàm thai phải đủ mười tháng mới đủ hình, Thánh thai cũng phải mười tháng mới toàn thân mà xuất anh nhi (tức là nhị xác thân). Song anh nhi còn nhỏ, chưa được cứng cát, nên phải gia công luyện thêm ba năm nữa gọi là Tam niên nhũ bộ (ba năm bú mớm). Tam niên nhũ bộ rồi, Dương thần mới được thần thông, khi ấy như muốn ở nán lại phàm gian cứu dân độ thế, hay là thoát xác phi thăng tùy ý.
Muốn chứng quả cao hơn nữa (là bực Kim Tiên đồng vai với Phật), cần phải tìm chốn non cao thanh tịnh, bồi bổ dương thần cho cứng cát thêm nữa. Phải tịnh dưỡng như vậy cho đặng chín năm, gọi là "Cửu niên diện bích".
DaoKy
13-08-2005, 09:55 AM
THẦN KINH
Thần kinh là đàn lạc chạy theo xương thịt, có dây có sợi mà trắng, bắt từ óc và cốt chỉ trong xương sống tua ra khắp thân hình. Nhờ nó mà châu thân chuyển động và hay biết về việc nhức đau, nóng lạnh, vân vân.
Có ba thứ thần kinh:
Thứ làm cho giãn ra.
Thứ làm cho co vô (hay thứ này gọi là vận động thần kinh).
Thứ làm cho hay biết nóng lạnh, đau nhức. (thứ gân này gọi là tri giác thần kinh).
Ví dụ ta muốn giơ tay ra, linh hồn ta sai khiến loại thần kinh thứ nhứt, đoạn nó giãn ra rồi tay ta mới giơ ra hoặc giơ lên được. Khi ta muốn co tay vô, linh hồn ta sai khiến loại thứ nhì, đoạn nó rút lại rồi tay ta mới co vô được (hai thứ này chẳng khác nào dây trân để làm cho máy chạy vậy).
Khi ta đứt tay, loại thần kinh thứ ba tiếp lấy sự đau đớn rồi chạy cho giác hồn hay biết (xin xem bài giải về Tinh, Khí, Thần). Thứ này chẳng khác nào dây điển để truyền sự đau đớn, nhức nhối, nóng lạnh cho giác hồn vậy.
Ngoài ba thứ này lại có một bộ thần kinh khác không tùng lấy linh hồn mà cũng không ăn chịu với giác hồn nữa. Bộ thần kinh này làm cho trái tim thoi thóp, huyết vận chuyển, phổi hô hấp, tì vận động. Ta không thế nào muốn cho trái tim không thoi thóp, huyết mạch không vận chuyển, phổi không hô hấp được v.v., vì linh hồn không phải sai khiến nó được, thậm chí khi ta ngủ, tim, phổi, tì vị, huyết mạch cũng vận động luôn luôn, bộ thần kinh này gọi là giao cảm thần kinh (Grand sympathique). Giao cảm thần kinh lại do theo sanh hồn, sanh hồn còn nó còn hành sự, sanh hồn dứt (tức là thác) nó phải ngưng vậy. Tuy gọi là vô khiển mặc dầu, chớ nếu ta biết phép luyện sanh hồn (luyện thần) ta cũng có thể điều khiển nó được vậy.
Bên xứ Ả Rập (Arabic), các thầy tu gọi là Pha-kia (fakir) thường luyện đặng phép mầu ấy, họ muốn làm cho trái tim không động, mạch máu không chạy, hơi thở ngưng lại dễ như chơi vậy. Thậm chí có nhiều thầy cao đệ hay dùng phép trá tử (giả chết) trong đôi ba tháng rồi sống lại như thường.
Tóm lại sự thần thông quảng đại,phép tắc thiêng liêng của Tạo Hóa, ta đã sẵn trong mình (vì ta là Tiểu Thiên Ðịa) tại ta không tìm kiếm đó thôi, nếu ta biết phương phép luyện tự nhiên đoạt máy Càn Khôn.
DaoKy
13-08-2005, 09:56 AM
TINH KHÍ THẦN
Trời có Tam Bửu (ba vật báu) là: Nhật, Nguyệt, Tinh. Ðất có Tam Bửu là: Thủy, Hỏa, Phong. Người có Tam Bửu là: Tinh, Khí, Thần. Tinh, Khí, Thần là gì và bởi đâu mà ra?
Khi mở mang Trời Ðất, người mà Tạo Hóa sanh ra trước hết gọi là Nguyên nhân (êtres créés) (xin xem bài giải riêng), Nguyên nhân này do khối Linh quang của Tạo Hóa nảy ra (émanation divine). Trong khối Linh quang của Tạo Hóa có ba ngươn gọi là Tam Hồn:
Linh hồn (Âme intelligente)
Sanh hồn (Âme aérienne ou vitale)
Giác hồn (Âme spermatique ou sensitive)
Tuy là ba Ngươn hồn chớ cũng pha lẫn nhau làm một, cho nên một mà ba, ba mà một.
Nguyên nhơn bởi thọ điểm trong khối Linh quang của Tạo Hóa thì vẫn đủ ba hồn ấy:
Linh hồn tức là bổn nguyên của ngươn THẦN.
Sanh hồn tức là bổn nguyên của ngươn KHÍ.
Giác hồn tức là bổn nguyên của ngươn TINH.
Nhờ Linh hồn mới có tính khôn ngoan, biết nghĩ suy xem xét đủ điều.
Nhờ Sanh hồn mới có sự sống.
Nhờ Giác hồn mới biết đau đớn, nóng lạnh, mệt khỏe v.v.
Khi Nguyên nhân chưa mang lấy xác phàm (*1) (http://www.caodaism.org/70/7005/06-ctg.htm#06(*1)) thì Giác hồn chưa biết đau đớn, nóng lạnh, mệt khỏe là vì chưa có phần vật chất.
Lần lần Nguyên nhân lại dùng vật thực huyết nhục mà xác thanh khiết phải hóa ra trọng trược, thêm nỗi dâm tình vọng động mà biết trần lỗ. Vật ăn uống đều có chất sanh, những chất sanh ấy ăn vào cấu kết lại thành khối mà làm xác phàm (formation des cellules), có xác phàm rồi mới biết nóng lạnh, có trần lỗ mới biết hổ ngươi, vì vậy mới chầm lá cây để che thân thể, sau lần lần dùng đến da thú vật, v.v.
Nguyên bổn của Tinh, Khí, Thần là vậy đó. Ðây xin giải ra từ ngươn để cho mọi người dễ hiểu hơn:
1.- Cai quản về phần trí, trí lại tự óc (não) mà ra, nên thường gọi tiếng chung là trí não. THẦN là vật thiêng liêng (*2) (http://www.caodaism.org/70/7005/06-ctg.htm#06(*2)) thường thường ở tại mắt, tuy vậy chớ nội châu thân chỗ nào đến cũng được cả.
2.- KHÍ là hơi thở, trong hơi thở đều có chất sanh để bảo tồn sự sống. Con người mới sanh ra, khóc ré lên, châu thân vận chuyển, rồi tiếp lấy thanh khí vào mình. Ở ngoài, thanh khí thuộc về Tiên Thiên (*3) (http://www.caodaism.org/70/7005/06-ctg.htm#06(*3)) trong sạch, khí thở vào mình rồi bị nhiễm lấy vật chất xác phàm mà hóa ra Hậu Thiên ô trược (xin xem bài giải về tạng Phế).
3.- TINH thuộc về lưu chất (mình nước) sết sết mà trong. Nhờ TINH mà con người mới có sức lực, nối dòng giống và tạo Nhị xác thân. Trong phần TINH cũng có chất sanh, chia ra làm ba, một phần trong sạch hơn hết gọi là tinh ba xông lên thành hơi (TINH hóa KHÍ) hiệp với KHÍ, THẦN mà tạo Nhị xác thân (Périsprit) (xin xem bài giải riêng), một phần xông lên vào theo lỗ xương sống (canal rachidien) đến tận óc để làm khí lực (énergie) cho bộ thần kinh vận chuyển, một phần nữa là phần cặn cáu để nảy sanh dòng giống.
Ở đời, ai ai cũng cần phải làm lụng mới có mà ăn, phải lo lường, tính toán mới ra tiền bạc, phải giao cấu nhau mới sanh con nối hậu. Hễ lao động nhiều phải lao lực (KHÍ), lo lường, tính toán nhiều phải hao THẦN, dâm dục nhiều tổn TINH, thêm nỗi thất tình, lục dục làm cho thân phàm phải mau hao mòn tiều tụy. Cho nên người càng già càng suy nhược, vì ba báu ấy càng bữa càng hao mòn rồi rốt cuộc phải chết, tỉ như thắp đèn càng thắp càng hao dầu, khi hết dầu đèn phải tắt. Ấy là cuộc Dinh Hư Tiêu Trưởng vậy. Muốn sống lâu phải tránh mấy điều tổn mạng vừa kể trên đó đi.
Còn muốn siêu Phàm nhập Thánh, ta cần phải luyện TINH, KHÍ, THẦN mới được.
(*1) Khi Nguyên nhân chưa mang xác phàm thì còn thuộc về Thiên Tiên, vật chất ăn vào cấu kết thành xác phàm thuộc Hậu Thiên cho nên sách gọi "Thiên sanh, Ðịa thành".
(*2) Thiêng liêng là không thấy, nghe, rờ rẫm được.
(*3) Tiên Thiên là sanh trước Trời, không hình dạng, trong sạch như không khí, điển quang, v.v. Hậu Thiên là sanh sau Trời, thuộc về vật chất trọng trược.
---------------------------------------------
PHẢI HIỆP TINH, KHÍ, THẦN LÀM MỘT
Tinh, Khí, Thần là bổn mạng của con người. Muốn siêu Phàm nhập Thánh mà trở về với Tạo Hóa thì phải luyện Tinh hóa Khí, rồi luyện Khí hóa Thần cho ba vật báu ấy hiệp lại làm MỘT điểm linh quang, mới có thể hiệp MỘT với khối linh quang của Tạo Hóa mà đắc kiếp.
Luyện Tinh Hóa Khí
Tinh vẫn thuộc về lưu chất, muốn luyện cho thành hơi (khí), ta phải nấu nó ra hơi, như nấu nếp đặt rượu vậy, gọi là Hỏa Hầu (Tôn chỉ quyển sách này chỉ luận sơ lược về châu thân mà thôi), muốn biết cách luyện Tinh, Khí, Thần thể nào xin xem lấy Ðơn Kinh, song Ðơn Kinh có nhiều chỗ mắc mỏ, có xem thì hiểu chút đỉnh vậy thôi, chớ chỗ cao sâu, huyền bí không thể nào thấu đáo, chỗ huyền bí duy có nhờ Thầy ta chỉ bảo mà thôi. Nhiều ông do nơi Ðơn Kinh luyện đạo, bị nhiều chỗ hiểu lầm, luyện đạo không thấy ấn chứng lại còn hại cho tinh thần là khác.
Luyện Khí Hóa Thần
Tuy luyện Tinh hóa Khí rồi, chớ khí ấy còn thuộc về Hậu Thiên, ta còn phải lọc đi lược lại theo phép Vận Châu Thiên cho khí trở nên nhẹ nhàng trong sạch, cho Hậu Thiên Khí đổi lại Tiên Thiên Khí mới có thể hiệp làm một với Thần được, sách gọi là Âm Dương tương hiệp (xin xem bài giải về Âm Dương).
Luyện Thần Hườn Hư (*1) (http://www.caodaism.org/70/7005/07-ctg.htm#07(*1))
Chừng ấy Thần ta đã đầy đủ rồi, song chưa hiện xuất dương thần ra được. Ta cần phải luyện sao cho nó trở nên như khí Hư Vô, mới nhẹ nhàng hơn không khí, rồi mới có thể trở lại Hư Vô chi khí, hiệp làm một với Tạo Hóa gọi là đắc đạo.
Chơn linh của Tạo Hóa do nơi khí Hư Vô sanh ra. Khí Hư Vô là gì? Là khí không không, tự nhiên mà có, không sanh, không tuyệt, không trước, không sau, xem không thấy, lóng chẳng nghe, rờ không đụng. Mình không thế nào tìm ra cỗi rễ, mà dầu muốn tìm ra cũng không có. Cho hay vật chi cũng có căn bổn. Chúng ta lấy căn bổn Càn Khôn Thế Giái là khí Hư Vô thì đủ, nếu hỏi dần lân hoài như vầy: "Vật chi sanh ra khí Hư Vô, rồi vật chi lại sanh ra vật mà sanh ra khí Hư Vô đó?". Nếu hỏi như vầy thì ngồi mà hỏi cho đến chết cũng chưa dứt câu hỏi được.
Chơn linh của con người cũng do nơi khí Hư Vô, luyện Thần mình trở lại Hư Vô chi khí, thì là trở về căn bổn đó.
Như chúng ta bền tâm tu luyện cho nhằm cách thức Thầy ta chỉ vẽ, thì chúng ta có thể hiện xuất dương thần trong khi còn tại thế mà vân du thiên ngoại. Theo luật nặng nhẹ tự nhiên (loi de la Pesanteur), thì vật chi nhẹ hơn không khí đều được bay lên, vật chi nặng hơn phải rơi xuống. Ví dụ: Hút một điếu thuốc, khói thì bay lên vì nhẹ hơn không khí, còn tàn thuốc thì nặng hơn nên phải rớt xuống. Khi hồn ta lìa xác, nếu nhẹ hơn không khí, thì theo Nê Hườn Cung mà bay lên, nếu nó nặng hơn không khí, thì nó phải theo cửu khiếu mà đọa xuống. Có người thác rồi, lỗ tai, con mắt, mũi, miệng đều ra máu, là tại hồn xuất mạnh quá.
(*1) Trước khi tạo Thiên lập Ðịa là lúc Hỗn độn sơ khai (chaos) nghĩa là lúc sơ khởi khí Vô Cực, thì chưa có Trời Ðất, nhơn vật chi hết. Cái không không, mờ mờ đó là Hư Vô, là bổn căn tánh thể ta vậy. Ta do gốc đó mà sanh ra, trở về Hư Vô chi khí gọi là Hườn Hư.
DaoKy
13-08-2005, 09:57 AM
XÁC HỒN
Con người vẫn có hai phần, phần hồn và phần xác.
Phần xác:
Tuy mắt phàm coi thân hình như một, chớ kỳ trung bổn thân là một khối chất chứa vàn vàn, muôn muôn sanh vật. Những con sanh vật ấy lại câu kết nhau mà thành khối. Chúng nó nhờ vật thực của ta ăn vào mà lớn lần lần, mà sanh sanh hóa hóa thêm nữa. Vì vậy mà thân thể một đứa hài nhi càng bữa càng lớn lần cho tới tuổi trưởng thành mới thôi (Ấy là giới hạn thước tấc của hình vóc con người).
Con người càng già, thì ngũ tạng lục phủ càng suy, tinh thần hao kém, sự ăn uống một ngày một giảm. Những con sanh vật trong châu thân cũng nhơn đó mà gầy mòn, mà hễ chúng nó gầy mòn, thì thân thể con người tất phải xóp ve, gầy guộc. Có khi những con sanh vật của một phần trong châu thân, vì một duyên cớ chi mà chết đi, thì chỗ ấy phải trở nên tê bại, hay là chai, vì đã mất sự sống rồi.
Khi chết, xác phải tiêu diệt, rục rã ra, chơn linh của mấy con sanh vật ấy lìa khỏi xác mà trở về nơi không khí. Ấy là: Của đất trả về cho đất, của Trời trở lại nơi Trời.
Phần hồn:
Hồn là vật thiêng liêng (*1) (http://www.caodaism.org/70/7005/02-ctg.htm#02(*1)) do nơi khối linh quang của Tạo Hóa ban cho.
Có kẻ cừ khôi không chịu tin có phần hồn, cứ nói rằng con người biết nghĩ suy, tính toán là tự nơi cái óc mà ra, mà hễ thác rồi, thì vạn sự giai hưu, một kiếp thác là một kiếp mất, cái linh hồn và cảnh Thiên đàng Ðịa ngục là điều vô bằng cớ.
Kẻ ấy chẳng hiểu rằng cái óc chẳng khác nào một cái máy đánh chữ của linh hồn lợi dụng mà tỏ ra những điều tư tưởng, những nét buồn vui, thương ghét vậy thôi. Hồn tức thị là người đánh máy ấy. Có máy mà chẳng có người đánh thì làm sao ra chữ được? Có xác thịt (có óc) mà không hồn, thì làm sao biết nghĩ suy tính toán? Kìa một cái chuông treo giữa gió: Như gió thổi làm cho chuông vận động mà kêu, thì bất quá là kêu bòn bon inh ỏi vậy thôi, có đâu ngân giọng u minh, khoan nhặt? Muốn cho tiếng chuông u minh khoan nhặt, cần có tay người dộng vào mới được. Cái óc con người chẳng khác nào cái chuông ấy. Nếu không có linh hồn là người dộng chuông, thì đâu lộ ra được nhiều tư tưởng ly kỳ cao thượng.
Con người nhờ có linh hồn mới biết nghĩ suy, tính toán, thương ghét, buồn vui. Vậy hỏi chớ khi chung cuộc rồi (khi thác) cái điểm linh ấy đi đâu? Không lẽ mà mất đi được? Vậy chẳng là uổng công trình của Tạo Hóa nắn đúc cho mình lắm ư? Ấy vậy, cái linh hồn ấy phải sống đời đời kiếp kiếp (*2) (http://www.caodaism.org/70/7005/02-ctg.htm#02(*2)) rồi ra mới có Luân Hồi, Quả Báo là lẽ công bình thiên nhiên của Tạo Hóa.
Trong châu thân, hồn xác pha lẫn nhau. Tỉ như muốn làm xi măng ạt mê (ciment armé) phải trộn sạn và ciment lộn nhau, đoạn phải trộn nước vào mới đánh thành khối được. Châu thân chẳng khác chi khối xi măng ạt mê đó. Sạn ấy là xương, xi măng là thịt, nước là hồn.
Ví dụ một cái ly không, tuy vân mắt thường ta thấy trống không, chớ hẳn thật trong lòng ly chứa đầy không khí. Châu thân ta ví như cái ly: Linh hồn ta như không khí. Ta không thấy không khí trong ly như ta không thấy đặng phần hồn trong châu thân vậy.
Muốn cho nước trong đặng tinh khiết, cái ly cần phải tinh khiết, còn muốn cho linh hồn trong sạch châu thân cần phải trong sạch. Ðó là về phần tinh khiết mà thôi. Chớ không cần phải có một châu thân tráng kiện mới có linh hồn tráng kiện, vì ta thường thấy nhiều người hình thù tráng kiện mà trí thức tối tăm, còn kẻ thì hình vóc ốm o mà thông minh trí tuệ. Cái châu thân tráng kiện bất quá là cần ích cho cơ thể mà thôi, chớ chẳng ích chi cho phần hồn. Châu thân tráng kiện tỉ như một cái máy tốt và chắc chắn, máy chắc chắn thì lâu hư, thân thể tráng kiện thì lâu tiêu diệt, mà có tiêu diệt thì tiêu diệt phần xác vậy thôi, chớ phần hồn chẳng hề tiêu diệt.
Phần bổ dưỡng linh hồn chẳng do nơi vật thực hữu hình. Hồn vẫn không hình chất, nên phải dùng vật thực không hình chất mà bổ dưỡng. Vật thực không hình chất ấy tức là sự học hỏi và cách tịnh luyện tinh thần trong mấy cơn nhàn, khoảng vắng.
Phải hiểu rằng xác thịt tỉ như một cái nhà cho linh hồn ở tạm trong mỗi kiếp ngắn ngủn trên cõi trần này vậy thôi. Xác thịt nhờ khí huyết mẹ cha tạo thành, còn linh hồn thì do nơi Thiên tứ (Trời cho). Nếu linh hồn với xác thịt tự một gốc mà ra, thì tánh chất thông minh hay là u ám của con cháu phải do nơi cha mẹ, ông bà, nghĩa là hễ ông bà cha mẹ thông minh thì sanh ra con cháu thông minh, còn u ám thì sanh ra con cháu cũng đồng một thể.
Sự thật lại không phải vậy, vì có nhiều người u ám mà sanh ra con cháu thông minh trí tuệ. Cũng có người thông minh trí tuệ lại sanh ra con cháu ngu ngây, dại dột, thậm chí anh em vẫn một huyết mạch với nhau mà cũng còn có kẻ khôn người dại (*3) (http://www.caodaism.org/70/7005/02-ctg.htm#02(*3)). Cái xác thịt do nơi khí huyết cha mẹ tạo thành, thì vẫn do nơi xác thịt cha mẹ, nghĩa là cha mẹ yếu ớt bịnh hoạn sanh con yếu ớt bịnh hoạn (*4) (http://www.caodaism.org/70/7005/02-ctg.htm#02(*4)), cha mẹ mạnh khỏe thì sanh con mạnh khỏe.
(*1) Thiêng liêng là không thấy, không nghe, không rờ được.
(*2) Nhiều Ðạo Thần Linh đã dùng đồng tiền và cơ bút chứng chắc rằng linh hồn vẫn có và vẫn sống đời đời kiếp kiếp.
(*3) Con cái dầu có giống cha mẹ thì giống nơi vật chất mà thôi, vì vật chất do nơi khí huyết lưu truyền.
(*4) Tuy vậy chớ khi lớn lên, hình vóc con cái cũng có khi biến đổi khác hẳn với hình vóc sơ sanh là vì nhờ biết giữ vệ sanh và tập tành thể tháo.
Chào Huynh Daoky,
Hôm nay đọc thông báo thấy Huynh trở lại và phụ trách mục Ton giao tin nguong, tha^.t la` vui .
Chu'c Huynh va` gia ddi`nh luo^n ma.nh kho?e
DaoKy
07-06-2006, 06:54 PM
Chào muội !
Cám ơn muội, gia đình huynh vẫn khỏe cả ! Lâu quá không gặp, muội lúc này thế nào rồi? Chúc muội luôn an lạc.
Huynh DaoKy
dienbatn
15-08-2006, 10:23 AM
VĨNH BIỆT DAOKY- HUYNH ĐỆ TỈ MUỘI TRONG TIÊN THIÊN HUỲNH ĐẠO CHÚC ANH SỚM ĐƯỢC SIÊU THĂNG TỊNH ĐỘ VỀ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC QUỐC . NHỚ MÃI VỀ MỘT NGƯỜI ANH .
dienbatn- THIÊN HÙNG.
dienbatn
15-08-2006, 10:34 AM
MỘT CHÚT KỶ NIỆM VỚI DAOKY .
http://www.vietlyso.com/forums/uploaded/93_1155609195.jpg
sjimmy
15-08-2006, 05:35 PM
vĩnh biệt cố nhân
Không ngoảnh lại những phương cầu lận đận.
Không thao thức bạc vàng quyến niệm
Không cau mặt đau, những sự tình cờ
Có suối ngọc mười phương trăng tụ lại.
Chuyện thế gian dù ai mời ai hỏi
Nụ cười bỉ nhân đá lạnh rêu mờ
Một chung trà uống cạn cổ sơ
Một tách rượu mời hư không bằng hữu
Anh em ta cánh buồm rong dũi mãi
Hướng vô cùng mà chẳng hướng về đâu
Từ vô đích liên hoa cửu phẩm
Từ thiên thu nhất thiết hiện tiền
dienbatn
15-08-2006, 07:44 PM
THIÊN NHIÊN KỶ .
Trong Huynh đệ anh là Thiên Nhiên Kỷ .
Ở ngoài đời , anh là chú Ba Nê .
Giảng Đạo , viết bài , anh làm rất say mê .
Việc Đời , việc Đạo , anh luôn tròn bổn phận .
Nhớ ngày nào cùng anh đi phá trận .
BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ ... Anh còn nhớ không anh ?
Trời Vũng tàu nay mãi mãi tươi xanh ,
Vì có chút gì công của anh trong đó .
Làm việc Đạo Tiên Thiên trong nghèo khó ,
Chẳng sờn lòng , chẳng vương bụi nhỏ nhen .
Gặp lúc cơ Trời ,vận lúc đảo điên
Rời Liên hoa , anh chẳng dời chánh Đạo .
Dồn hết sức chăm lo cho Quốc Tự .
Đâu nghĩ rằng , có lúc phải lên đường .
Với Huynh Đệ anh dồn hết tình thương ,
Hướng dẫn , dắt dìu anh em trong Giáo lý .
Nay anh đi , chẳng một lời ly biệt ,
Được , mất , bại , thành còn có nghĩa đâu anh .
Sống làm trai , chẳng thẹn với Trời xanh
Chết nay anh đang đi làm việc khác .
---------------------------------
Khắp năm châu cuộc thế ví bàn cờ ,
Tới nước chiếu , rõ Binh thơ , Đồ trận .
Đạo là Diệu pháp , giải nguy cơ Thế tận .
Tin nghe lời , oán hận giải tiêu ma
Lập chí tu nhẫn , nhẫn với hòa , hòa
Tu để tránh gian tà làm Thế tận
.....
Cuộc Thế sự sau này rồi sẽ rõ
Cảnh lọc lừa , sàng xảy cứ bền tu
Đinh tâm thần vững chí luyện công phu .
Ngày bình trị , hiền ngu nền Thánh đức .
Cơ hỗn loạn trì tu độ Đời cầu thoát vực ,
Hết hai ngàn còn mất mới rõ thông
Cõ dương gian hết cá chậu chim lồng
Đời vui toại công tu bồi quả Phật
Thế giới rõ thông Đạo màu là sự thật
Chịu hòa đồng , quy nhất mạch , hồi chơn .
NAM MÔ LONG HOA HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT .
( BẢO PHÁP CHƠN KINH ) .
dienbatn .
theanh
16-08-2006, 11:31 AM
Nam Mô A Di Đà Phật !!!
Xin Nghiêng Mình Trước Một Nhân Cách Sáng Trong !!!
Kính !
Thế Anh.
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.