PDA

View Full Version : Thông điệp Phật Đản


Tịnh Ngọc
15-05-2005, 07:10 AM
Phật Đản là ngày thiêng liêng của Đấng Toàn Giác thị hiện ra đời, ngày trần gian hân hoan chào đón Đấng Đại Giác Thế Tôn, ngày chư Thiên vui mừng đảnh lễ Đức Điều Ngự, ngày tứ sanh lục đạo được chiếu rọi Ánh Đạo Vàng, và là ngày rung động huy hoàng khắp mười phương ba cõi. Để thiết lễ cúng dường và kính mừng Đại Lễ Phật Đản năm thứ 2629, tôi kính gởi đến toàn thể Chư Tôn Đức Tăng Ni pháp thể khinh an, pháp lạc thường trụ, pháp nguyện viên thành, tôi kính gởi đến toàn thể Đồng bào, Phật tử trong và ngoài nước thân tâm an lạc, chuyển hóa trần lao, sống đời hướng thượng.

Kính thưa quí liệt vị,

80 năm nhập thế độ sanh, truyền khai tam tạng, đại trí từ quang, đại bi tế độ, đại duyên hoàn nguyện, và đại nhập niết bàn của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Đến nay, đã 26 thế kỷ và đến 16 triệu năm sau, là ngày của Đức Từ Thị Di Lặc ra đời, quả thật là “Thiên nhơn chi đạo sư, tứ sanh chi Từ Phụ”, không thể còn một ngôn từ nào để tán dương, không thể còn một biểu tượng nào để so sánh, mà khắp trần gian chỉ có một cách duy nhất là, đảnh lễ cúng dường, khắp nhân gian chỉ có một tâm nguyện duy nhất là, phụng hiến hành trì, để cho pháp âm của Ngài bất tuyệt, ánh từ quang của Ngài phổ chiếu muôn phương, và đạo lý giải thoát của Ngài “từ năng dữ nhứt thiết chúng sanh chi lạc, bi năng bạt nhứt thiết chúng sanh chi khổ”. Được như thế mới gọi là cúng dường Phật Đản, và được như thế mới gọi là người con của Đấng Giác Ngộ Từ Tôn.

Lời dạy đầu tiên của Đức Phật tại vườn Lâm Tỳ Ni : “Trong vũ trụ nầy, khắp mười phương thế giới nầy, cả trần gian nầy, chỉ có thường, lạc, ngã, tịnh và pháp thân thường trụ của Như Lai là cao quí nhất”. Một ngày huy hoàng tại Bồ Đề Đạo Tràng khi “nhứt đổ minh tinh đạo thành giáng pháp lâm”, Ngài đã dạy : “Tất cả chúng sanh đều có khả năng diệt trừ nghiệp chướng từ vô thỉ đến nay, dứt trừ mọi sai lầm vọng tưởng trong cuộc đời này, chuyển hóa thân tâm, thực hiện lục độ vạn hạnh, bỡi mỗi chúng sanh đều có tánh giác thường hằng”. Trước khi thị hiện đại bát Niết Bàn, Ngài đã dạy : “Tăng ly chúng Tăng tàn, giới luật là vị thầy cao cả nhứt, trí tuệ là kim cang đăng bất hoại vĩnh nhiên, và mỗi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi”.

Chính vì Đức Như Lai thường nhiên như lai, như lai, như thị ấy. Chính vì Tánh Pháp Thân thường trụ chơn như, chơn ngã, chơn thường ấy. Mà Đạo Phật an bình đã 2600 năm qua, xuyên qua mọi không gian trên khắp năm châu bốn biển, xuyên qua mọi cách ngăn dị biệt bỡi chủng tộc màu da, và xuyên qua mọi thời gian hệ lụy bỡi lịch sử, văn hóa, phong tục, tư tưởng. Và Đạo Phật đi đến đâu cũng đều bình đẳng vi tha, khổ trước cái khổ của nhân gian, vui sau cái vui của trần gian, lấy cứu khổ độ sanh làm hạnh nguyện, dùng phụng sự chúng sanh làm sự nghiệp. Cho nên đã 26 thế kỷ xưa nay, trải qua lịch đại Tổ Tổ truyền thừa, Tôn Tôn truyền bá, Tử Tử truyền tông, các dân tộc trên mọi quốc gia đều thừa hưởng, nhân loại trên toàn thế giới đều qui ngưỡng hành trì.

Đi vào vô thường mới đạt ngộ chơn thường. Đi vào phiền não mới chứng đắc bồ đề. Đi vào sự khổ của trần gian mới cứu cái khổ của nhân gian. Đó là hạnh nguyện, hành trạng của các bậc Bồ Tát. Đó là tâm nguyện, hành trình của những bậc trượng phu. Hàng xuất gia là những bậc Trưởng tử của Đức Như Lai. Hàng tại gia là những người con giác ngộ của Đức Như Lai.

Phật Giáo Việt Nam vốn đã huy hoàng 2000 năm lịch sử cùng dân tộc Việt Nam. 2000 năm ấy, Phật Giáo và Dân Tộc đã băng qua, đứng vững, tồn tại và phát huy trước mọi thời đại, ngoại thuộc, nội loạn, oan khiên, dù bất cứ thời kỳ nào và hoàn cảnh nào. 1000 năm với hệ lụy Phương Bắc, 100 năm với hệ lụy Phương Tây, Phật Giáo đã cùng với Dân Tộc đứng vững và tồn tại. Thì 21 năm oan nghiệt phủ trên nửa miền đất nước, 30 năm quốc nạn, pháp nạn trùm cả quê hương, tuy có dài so với thời gian hiện tại và có dài so với kiếp sống của con người, nhưng không có nghĩa gì so với 2000 năm chiều dài của Phật Giáo và 5000 năm chiều dài của Dân Tộc.

Duy có điều vô cùng hệ trọng và đáng nói nhất là, hạnh nguyện Bồ Tát, tâm nguyện trượng phu của hai hàng Phật Tử Việt Nam đã, đang và sẽ làm được những gì để chuyển hóa, khai phóng, hành hoạt cái chu kỳ nửa thế kỷ ấy để đưa đất nước theo kịp trào lưu nhân bản, tiến bộ với thế giới ??? Mọi thành phần người dân Việt Nam đã, đang, và sẽ làm được những gì để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, và đưa dân tộc theo kịp trào lưu dân chủ, tự do, văn minh cùng nhân loại trên khắp năm châu ???

Phong hóa của Đạo Phật là chuyển Phàm hóa Thánh, dứt trần lao đạt ngộ chơn thường. Phong hóa của Dân Tộc là, khi buông dao thì đồ tể không khác Bậc Hiền Nhân, không sợ lầm lỗi mà chỉ sợ người không dám đón nhận và sửa đổi lầm lỗi. Phong vị của nhân bản là không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, không có hận thù trong giòng máu cùng đỏ, và “Ở đời muôn sự của chung. Hơn nhau một tiếng “biết dùng” mà thôi !”

Ngày Phật Đản không những chỉ thành kính cúng dường kỷ niệm ngày Đản Sanh Thiêng Liêng của Đức Phật, mà mỗi chúng ta còn phải biết quay nhìn vào chính con người của mình, tánh giác hiện hữu của mình, để làm gì trên lộ trình tự độ, làm gì trên hạnh nguyện độ tha, đối với đồng bào, quê hương, đất nước khổ đau, trì trệ, đối với sự tha hóa, băng hoại của dân tộc, thế hệ hôm nay, thế hệ ngày mai, và đối với sự an bình, thăng tiến của nhân sinh, vạn loại.

Đó là sự cúng dường và thực hiện cao quí nhất vào Mùa Phật Đản 2629 và năm 2005 Ất Dậu trong thế kỷ hôm nay.



NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Nay Thông Bạch

Hội Chủ,
HÒA THƯỢNG THÍCH NHƯ HUỆ

Tịnh Ngọc
15-05-2005, 07:13 AM
Nhân Mùa Phật Đản - Bàn Về Tích Phật Đản Sanh


Hàng năm cứ vào mỗi độ tháng tư âm lịch là hoa sen bắt đầu nở. Hoa sen nở báo hiệu mùa Phật Đản trở về như để đón mừng Đức Thế Tôn ra đời. Lịch sử kể rằng bà Ma Da, công chúa của một nước láng giềng, là phu nhân của vua Tịnh Phạn nước Ca Tỳ La Vệ, khi có thai, theo phong tục của xứ mình phải trở về quê mẹ để sinh nở. Trên đường về, trong lúc dừng chân nghỉ ngơi tại vườn Lâm Tỳ Ni, hoàng hậu Ma Da đã hạ sinh Thái tử. Khi Thái Tử sinh ra thì được chư Thiên đến nâng đón và tắm rửa. Sau đó, lúc để xuống đất, Ngài đã bước bảy bước và dưới mỗi bước chân là một bông sen nở. Thái Tử đưa tay lên trời mà nói: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn".

Đó là bảy bước chân và lời nói đầu tiên của Ngài. Ai là người Phật tử cũng biết lịch sử Phật Đản Sanh cùng những lời giải thích khác nhau về ý nghĩa bảy bước đi và lời tuyên thuyết đầu tiên này. Có nhiều người, trong cũng như ngoài đạo Phật, thắc mắc không hiểu vì sao đạo Phật là đạo phá ngã chấp mà đức Phật lại nói chỉ có Ngài là tôn quý nhất, không những trong thiên hạ mà còn khắp các cõi trời và cõi người nữa. Có nhiều vị lại cho rằng tất cả hàng trời người đều tôn xưng Ngài là "Đấng Thế Tôn" thì như thế câu nói trên cũng không phải sai và cũng không trái với giáo lý giải thoát... vân, vân và vân vân. Thật ra trong kinh Phật, có giải thích sự kiện này. Hôm nay nhân mùa Phật Đản, người viết xin được trình bầy thêm, y cứ vào kinh điển và ý nghĩa lời kinh, để làm sáng tỏ.

Về câu "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn" dịch ra tiếng Việt là: "Trên trời dưới trời, chỉ có ta là tôn quý". Câu này chỉ là một phần câu, được ghi trong Kinh Sơ-Đại Bản-Duyên trong bộ Kinh Trường A hàm Quyển Một, một quyển kinh ngắn lược thuật nhân duyên giáng sanh, thành đạo và giáo hóa của bảy đức Phật trong thế giới Ta Bà. Nguyên văn câu đó được dịch như sau: "Trên trời dưới trời, duy ta là tôn quý, ta muốn cứu độ chúng sanh khỏi vòng sinh già bệnh chết". Đó là lời Đức Phật Thích Ca thuật lại khi Đức Phật Tỳ Bà Thi, vị Phật thứ nhất bổ?anh trong thế giới Ta Bà, ra đời đã nói lên lời như vậy, cũng giống như Ngài (Phật Thích Ca) đã nói lên lời như vậy, và "ấy cũng là thông lệ của chư Phật"

Xét về mặt ngôn ngữ, câu trên cho thấy rằng chỉ có Ngài là bậc tôn quý nhất trong loài người và trời, Ngài đã thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi và thị hiện cõi Ta Bà để cứu độ chúng sinh thoát khỏi vòng sinh tử như Ngài. Tuy nhiên, nếu xét về mặt ý nghĩa của câu nói, chúng ta nên hiểu chữ "Ta" trong câu "duy có ta là tôn quý" không phải là cái Ta của Thái Tử Tất Đạt Đa, một cái Ngã sinh diệt như cái Ngã của trăm ngàn chúng sinh khác. Chữ Ta ở đây chính là Phật Tánh, là Chân Tâm, chẳng hề sanh chẳng hề diệt, hoàn toàn thanh tịnh là cái xa lìa tất cả những cái gì gọi là đối đãi. Cái Ta đó hay cái Ngã đó chính là Chân Ngã, chính là Pháp Thân thường trụ, không bao giờ hoại, bao trùm khắp không gian và thời gian. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Như Lai Tánh, đức Phật dạy: "Ngã tức là nghĩa Như Lai tạng. Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh tức là nghĩa của ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ nào tới giờ thường bị vô lượng phiền não che đậy, vì thế nên chúng sinh chẳng nhận thấy được." Cũng trong kinh này (Phẩm Tứ Tướng), Phật nói rõ "thân của Như Lai tức là Pháp Thân, chẳng phải thân thịt máu mạch gân xương tủy hợp thành. Vì tùy thuận thế gian mà thị hiện vào thai mẹ, vì tùy thuận cách sanh của chúng sinh mà thị hiện làm đứa trẻ...".

Thật ra, Phật Tánh hay Chân Tâm hay Chân Ngã hay Pháp Thân là một cái gì khó hiểu, khó nhận biết và khó trình bày vì thực chất của nó nằm ngoài ngôn ngữ, ngoài thế giới tương đối hiện tượng. Chúng ta chỉ có thể biết qua nhận thức, qua kinh điển rằng: Phật Tánh là một cái gì đó chỉ có người chứng ngộ mới biết được, là một cái gì đó "không sanh không diệt, không đi không đến, chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng phải do nhân làm ra, cũng chẳng phải không nhân, chẳng phải tự tác, chẳng phải tác giả, chẳng phải tướng, chẳng phải không tướng, chẳng phải có danh, chẳng phải không danh, chẳng phải danh sắc, chẳng phải dài ngắn, chẳng phải nhiếp trì trong ấm, giới, nhập...".

Khi nói về Phật Tánh, Đức Phật thường dùng phương cách lìa tứ cú để dạy chúng ta, có nghĩa là lìa khỏi bốn kiến chấp hay bốn phạm trù thế gian tương đối: có, không, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không. Ngoài ra Ngài cũng dùng tỷ du hay phương thức ngụ ngôn, hàm chứa những ý nghĩa thâm thúy, ám thị lý tuyệt đối mà chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời trực tiếp mà giảng giải vì lời chỉ là khí cụ diễn đạt cái tư tưởng tương đối, cái có hình, có tướng trong thế giới nhị nguyên. Như khi nói về Chân Tâm Phật Tánh, ngài kể trong Kinh Đại Bát Niết Bàn về một cô gái nghèo, trong nhà có kho vàng ròng mà không biết, đến khi có người khách khéo biết phương tiện chỉ cho chỗ cất giữ kho báu, cô trở nên giầu có. Người khách khéo biết phương tiện dụ cho Phật, cô gái nghèo dụ cho vô lượng chúng sinh hiện bị các phiền não che đậy và kho vàng ròng chỉ cho Phật Tánh Chân Tâm. Câu chuyện gã cùng tử hay viên ngọc châu trong đáy túi áo trong Kinh Pháp Hoa cũng tương tự.

Như vậy, khi nói câu "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn" Đức Phật, lúc ấy là Thái Tử Tất Đạt Đa, không nói về cá nhân ngài, về cái thân tứ đại ngũ uẩn sinh diệt, mà nói về cái Tâm Chân Thật, cái Ngã Chân Thật của chúng sinh. Chính cái Tâm đó mới là tôn quý, mới là tối thượng và cái Tâm Chân Thật đó chính là Tâm Phật mà ai ai cũng có, bất luận giầu nghèo sang hèn, bất luận mầu da ngôn ngữ, bất luận tôn giáo chính kiến.

Bây giờ nói về bảy bước chân trên bảy đóa sen nở của Phật. Tại sao không phải là ba bước, bốn hay năm bước. Có người giải thích Ngài bước bảy bước là vì "Ngài là vị Phật thứ bảy", tiếp nối sáu vị Phật đi trước, mà bắt đầu là Phật Tỳ Bà Thi. Có người khác giải thích bảy bước là tiêu biểu cho bảy đại: địa đại (đất), thủy đại (nước), phong đại (gió) , hỏa đại (lửa), hư không đại, kiến đại, và thức đại; còn bảy đóa sen nở tượng trưng cho sự thành Phật của bảy hàng để tử Phật gồm Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức Xoa ma na, Ưu bà tắc, và Ưu bà di,...vân vân và vân vân.
Thật ra, con số bảy trong Phật giáo có rất nhiều tiêu biểu. Ngoài thất đại còn có thất bồ đề phần tức bảy cấp bậc tiến đến giác ngộ, biểu tượng cho trình tự tu chứng. Thêm vào đó, còn có thất giác chi, tức bảy pháp của người Phật tử cần phải tu tập để tiến tới giải thoát (Niệm Giác chi, Trạch Pháp Giác chi, Tinh Tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh An Giác chi, Định Giác Chi, Xả Giác chi). Trong Kinh Thập Thượng thuộc bộ Kinh Trường Bo 䬠Đức Phật có nói tới mười thứ "bảy pháp" tổng cộng là bảy mươi pháp đã đưa Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác (bảy tài sản,bảy giác chi,bảy thức trí,bảy tùy miên, bảy phi diệu pháp, bảy diệu pháp, bảy thượng nhân pháp, bảy tưởng, bảy thù diệu sự, bảy lậu tận lực).

Con số bảy mang nhiều biểu tượng như trên và bảy bước chân đầu tiên của Phật cũng có thể mang hàm ý như thế, tuy nhiên, ai là người Phật tử thấm nhuần đạo Pháp cũng đều hiểu rằng, không phải Phật chỉ bước có bảy bước với bảy bông sen nở dưới chân mà là bước vô lượng bước trong khắp cõi Ta Bà, trong khắp không gian vô tận và thời gian vô cùng. Không một chỗ nào, không một sát na nào mà không có bước chân Phật, mà không có hoa sen nở.

Tâm Diệu

Tịnh Ngọc
15-05-2005, 07:14 AM
Đức Phật Đản Sanh - Suối Nguồn Hạnh Phúc

Thích Phước Đạt

---o0o---

Giữa cơn lốc biến động xã hội đầy kịch tính của cuối thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của con người đối với các vấn đề khủng hoảng sinh thái tâm linh và môi trường, mùa Phật lại trở về như nguồn suối hạnh phúc chảy vào tâm thức mọi người.
Thật ra, đấng Thế Tôn không phải Đản sanh trong vườn Lâm Tỳ Ni xứ Ấn Độ cách đây 2500 năm về trước, mà đức Phật thị hiện trong lòng chúng ta từng giờ, từng giây phút, mỗi ngày. Bởi vì chúng ta là những người sinh ra, lớn lên, trưởng thành theo lý tưởng sống với Ngài, cùng đi chung với Ngài về lộ trình giải thoát mọi sự khổ đau đang đè nặng lên thân phận kiếp người. Nếu văn hào Shakespeare khởi đầu bằng tiếng nói con tim: "Yêu và được yêu là điều hạnh phúc nhất đời", thì đức Phật tuyên bố sự hiện hữu của Ngài giữa cuộc đời với mục đích: "Ta ra đời vì an lạc, lợi ích cho chư Thiên và loài người, vì lòng thương tưởng đời". Do đó, nơi nào có sự Đản sanh của đức Phật, nơi đó có tiếng nói yêu thương, tiếng nói tình người thể hiện. Như con tim nắm giữ sinh mệnh của một đời người, thì tình người nắm giữ sinh mệnh sự sống, linh hồn văn hóa của dân tộc, quốc gia. Cho nên, sự kiện đức Phật đản sanh là dự kiện khởi đầu thông điệp tình thương và hạnh phúc:

"Khó gặp được Như Lai
Không phải đâu cũng có
Chỗ nào đức Phật đản sanh
Nơi đó tất an lạc" (Pháp Cú 193)

Thông điệp ấy đã đi vào tâm thức mỗi người, khi cánh cửa "giải thoát" bắt đầu mở sau khi 49 ngày đêm tư duy thiền định dưới cột Bồ đề, Ngài trở thành bậc Chánh đẳng giác. Từ đây, Ngài tuyên bố: "Cửa vô sinh bất diệt, đã mở cho tất cả chúng sanh. Hãy để cho ai có tai muốn nghe được hưởng trọn niềm tin tưởng". Như vậy, đạo Phật là đạo đến mà thấy, thấy sự thật khổ đau cuộc đời và con đường đoạn tận khổ đau được khởi đầu bằng những bước chân đầu tiên:

"Ai quy y đức Phật
Chánh pháp và chư Tăng
Ai dùng Chánh tri kiến
Thấy được bốn Thánh đế
Thấy khổ và khổ tập
Thấy sự khổ vượt qua
Thấy đường Thánh tám ngành
Đưa đến khổ não tận" (Pháp Cú 190-191)

Đây chính hiện thực của cuộc đời mà tự thân mỗi người phải vượt qua lộ trình đi về "Tự ngã" giữa sa mạc hoang vu từ trong tâm tưởng của cái "Tôi" tràn đầy. Nhũng danh tướng hão huyền hư vô phân biệt, nghĩa vô nghĩa, những danh sắc, vật chất, tiền tài trói buộc cần được phá vỡ bằng con đường khởi đầu bằng sự tu tập theo giáo lý của Ngài. Chúng ta nên biết rằng những sở hữu mà chúng ta nắm giữ là không phải của chính mình, phải nên biết rằng những cái mà chúng ta đang nắm giữ chỉ đến với chúng ta khi duyên đến và mất đi khi duyên tan. Chính đức Phật từng tuyên bố: "Cái này không phải là ta, của ta, và tự ngã của ta". Từ trong thực tánh duyên khởi đi ra, nhờ công phu tu tập cá nhân, Ngài đã trở thành bậc giác ngộ hoàn toàn. Chúng ta cũng là con người, nếu biết nương vào đức Phật, nương vào chánh pháp để tu tập thì cũng trở thành những con người giác ngộ như Ngài. Bởi vì con người là chủ nhân ông của mỗi người, tự thân giải quyết sự hạnh phúc an lạc cho chính mình, không ai có thể thay thế được. Chính đức Phật từng khuyến cáo các đệ tử của mình:

"Tự mình điều ác làm
Tự mình làm nhiễm ô
Tự mình ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh
Tịnh, không tịnh tự mình
Không ai thanh tịnh ai" (Pháp Cú 165)

Tại đây, đức Phật đã khẳng định vai trò và vị trí của con người là do tự thân cá nhân quyết định. Trong tất cả giá trị có mặt ở đời, con người là giá trị cao nhất. Mọi thứ giá trị đều là phương tiện cho con người và cuộc sống của con người. Vấn đề lý tưởng tối cao và ý nghĩa cuộc sống thực chất là vấn đề hạnh phúc. Hạnh phúc thực sự có mặt khi tự thân mỗi người phải vắng mặt cội nguồn tham sân si, xuất phát từ lòng tham dục, như đức Phật dạy:

"Từ tham dục nảy mầm đau khổ
Từ tham dục nảy mầm sợ hãi
Với ai thoát khỏi vòng tham dục
Thì không còn đau khổ, không còn sợ hãi" (Pháp Cú 215-216)

Kinh nghiệm tự than tu tập của đức Phật, chúng ta thấy rõ điều này. Từ một Thái tử Tất Đạt Đa sống trong cung vàng điện ngọc, Ngài xả bỏ tất cả để lên đường tu tập 6 năm khổ hạnh. Từ bỏ lối tu khổ hạnh, tu tập thiền định phát triển trí tuệ, Ngài đã trở thành bậc Chánh đẳng giác, giác ngộ hoàn toàn. Trong 45 năm thuyết pháp độ sanh, Ngài từng tuyên bố: "Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống hồ là phi pháp". Đây chính là thái độ xả ly hoàn toàn mà mỗi chúng ta cần phải đi qua trên con đường trở về tự tánh giác ngộ. Thực chất của khổ đau đều bắt nguồn từ sự khát ái, chấp thủ. Vô minh phiền não, quá khuú u buồn vang vọng từ cõi lòng sầu bi khổ ưu não được dập tắt, khi tự thân mỗi người hướng tới sự tu tập tâm thức và hành trì pháp như Ngài:

"Những ai hành trì pháp
Theo chánh pháp thực hành
Sẽ đến bờ bên kia
Vượt ma lực khó thoát" (Pháp Cú 86)

Cho nên, vấn đề hạnh phúc được thực thi bắt nguồn từ sự chuyển hóa tâm thức để đạt sự bình an nội tại. Tại đây, xu thế nội tại từ trong tâm tưởng đòi hỏi phải lớn lên, phát triển, mở rộng, vì mỗi tâm hồn đều có khả năng linh diệu để chuyển hóa, vận hành. Đức Phật từ một con người thực tại, nhờ công phu tu tập chuyển hóa nội tâm mà trở thành con người sống trong thế giới hạnh phúc thực sự, bởi vì Ngài đã tự chuyển hóa nội tâm của mình:

"Dù dẫn đầu các pháp
Dù làm chủ, ý tạo
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình" (Pháp Cú 2)

Rõ ràng, hạnh phúc mà con người hướng đến không phải là điều gì nằm ngoài tầm tay con người. Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tánh của con người, thông qua sự tu tập về thân khẩu ý:

"Không làm các điều ác
Thành tựu các việc lành
Giữ tâm ý trong sạch
Đó là lời Phật dạy" (Pháp Cú 186)

Đây cũng chính là con đường tu tập theo Giới-Định-Huệ, hướng tới những giá trị hạnh phúc đích thực giữa cuộc đời. Sự kiện đức Phật đản sanh là bức thông điệp hạnh phúc bước ra thế giới khổ đau, đánh thức sự hướng tâm vào thế giới an lạc của sự vận hành, xa rời sự chấp thủ và khát ái. Một chân trời tự do mở ra cho những ai còn khát vọng về hạnh phúc, giải thoát mọi khổ đau cuộc đời. Nơi đây, từ trái tim đến trái tim trong suối nguồn giáo lý đức Từ phụ thấm nhuần từng cõi lòng mọi người. Thật đúng là:

"Hạnh phúc thay, đức Phật giáng sinh
Hạnh phúc thay, giáo pháp cao minh
Hạnh phúc thay, chúng Tăng hòa hợp
Hạnh phúc thay, tứ chúng đồng tu". (Pháp Cú 194)

Thích Phước Đạt

Tịnh Ngọc
15-05-2005, 07:16 AM
THÔNG ĐIỆP SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT

Thích Thông Huệ

---o0o---

Vào ngày trăng tròn cách đây trên 25 thế kỷ , có một bậc vĩ nhân xuất hiện ở đời . Đó là Thái Tử Sĩ Đạt Ta, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni . Ngài sinh vào cung vua Tịnh Phạn, năm 563 trước Tây Lịch . Cuộc đời Ngài từ lúc sinh cho tới lúc nhập diệt là một cuộc đời hết sức đẹp đẽ và đầy ý nghĩa . Ngài đã đi vào quá khứ, nhưng đức tính và trí tuệ của Ngài vẫn còn mãi với con người và cuộc đời . Hôm nay là ngày Phật đản chúng ta cần ôn lại một đôi điều trong các kinh điển Phật giáo để hiểu được ý nghĩa sự ra đời của Đức Từ Phụ, nguyện noi gương Ngài luôn tinh tấn trên bước đường tự lợi tự tha . Theo truyền thuyết khi sinh ra đi được bảy bước, mỗi bước có hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất , Ngài đọc bài kệ như sau :

Thiên thượng thiên hạ .
Duy ngã độc tôn
Nhất thiết thế gian
Sinh lão bệnh tử

Tạm dịch :

Trên trời và dưới trời
Chỉ có Ta trên hết
Tất cả trong thế gian
Đều sinh lão bệnh tử

Những hình ảnh trên đây mang nhiều ý nghĩa rất thâm sâu. Vì sao Thái Tử Sĩ Đạt Ta đi bảy bước mà không nhiều hoặc ít hơn? Con số bảy nói lên điều gì? Về mặt thời gian , người ta thường cho là có ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai . Về không gian thì có bốn phương chính Đông, Tây, Nam, Bắc . Những quan niệm về thời gian và không gian, thật ra chỉ là con đẻ của vọng tưởng, không phải lẽ thật . Cho nên hình ảnh Thái tử đi bảy bước tượng trưng Ngài đã siêu vượt được thời gian và không gian, không còn bị ràng buộc trong những qui ước tương đối của con người .

Về hoa sen, tất cả Phật tử đều biết một đặc điểm rất tuyệt vời của nó, là mọc từ bùn nhơ mà vươn lên rồi tỏa hương thơm ngát . Hoa sen ở trong bùn mà không bị lấm bùn, không bị bùn nhơ làm ô nhiễm .

"Giữa đống rác nhơ bẩn
Nơi ấy hoa sen nở
Làm đẹp ý mọi người…"

Thái tử cũng thế , sinh vào chốn trần lao để làm lợi ích cho chúng sanh nhưng không bị vướng mắc, nhiễm nhơ bởi bùn lầy ngũ dục . Bài kệ bốn câu Ngài đọc đã làm một số người hiểu lầm . Đạo Phật là đạo vô ngã, tại sao vị giaó chủ lại đề cao cái "ta" của mình quá đáng như thế ? Nếu đọc kỹ hai câu sau, chúng ta mới thấy cái ý nghĩa uyên áo trong đó . Tất cả chúng sinh không ai thoát được bốn điều khổ não là sinh, già, bệnh, chết, dù ở cõi chư Thiên (trên trời) hay cõi người (dưới trời) . Chỉ riêng "ta" là trên hết, vì "ta" đã thoát được sự ràng buộc này . Thử hỏi tất cả những hình tướng của thế gian, cái gì không chịu sự chi phối của lý vô thường? Có sanh thì có diệt, có hình tướng thì phải có huỷ hoại, dù là thân hình có 38 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Thái Tử . Vì thế cái "ta" ở đây dứt khoát không phải là cái ngã hữu hình hữu hoại của Ngài, mà chính là cái "Chơn ngã" . Đó là chơn tâm, Phật tánh, là bản tâm thanh tịnh, là Phật tri kiến, là tâm viên giác, là bản lai diện mục …Nó còn vô số tên vì bản chất nó không có tên . Nó không có hình tướng nên không thể bị hủy diệt . Nó trùm khắp vạn hữu nên siêu việt cả không gian và thời gian . Tất cả mọi hàm linh đều có cái ngã này, không ai hơn không ai kém, Phật đã nhận ra và sống viên mãn với nó nên Ngài thành Phật, còn chúng ta vì quên nó nên cứ mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi .

Hiểu được những điều này, chúng ta thấy mình được đôi phần an ủi . Nếu chúng ta ngồi trong tư thế thiền toạ, tâm an định không bị vọng tưởng lôi dẫn thì rõ ràng ngay lúc ấy chúng ta cũng ngồi trên toà sen . Nếu chúng ta đi từng bước thiền hành, tâm an trú trong giờ phút hiện tại mà không duyên theo các pháp, thì mỗi bước đi của chúng ta cũng có hoa sen nâng chân . Và nếu chúng ta luôn luôn tinh tấn, gội rửa dần từng lớp bụi ngũ dục, ở trong cuộc đời mà không bị nhiễm ô theo trần cảnh, thì một lúc nào đó , ánh trực giác đột nhiên bừng lên, bóng tối vô minh từ bao đờikiếp sẽ bị xua tan không còn dấu tích .

Trong kinh A Hàm có câu :

"Mộ chúng sinh duy nhất , một con người phi thường đã xuất hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì lòng bi mẫn , vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho chư Thiên và loài Người ". Vì sao Đức Phật gọi là "một chúng sinh"? Ở đây ta phải hiểu chữ "chúng sinh" theo nghĩa, các hình tướng do nhiều pháp hợp lại mà thành . Như vậy, thân tướng của Đức Phật , dù vẻ đẹp và tướng tốt, cũng là do tứ đại giả hợp mà thành, cũng bất tịnh và vô thường như mọi người . Do đó Ngài cũng là con người. là chúng sinh; nhưng khác với chúng ta ở chỗ, Ngài là một con người phi thường, một chúng sinh duy nhất . Bởi vì Ngài là một chúng sinh duy nhất không còn tham sân si, không còn lậu hoặc phiền não . Bởi vì Ngài là một con người tuy sinh ra nơi chốn trần lao, nhưng tự tại với tất cả mọi cám dỗ của ngũ dục lục trần . Sự xuất hiện của Đức Phật nhằm mục đích cao cả, là vì lợi ích và hạnh phúc của chư Thiên và loài Ngươì . Cuộc đời Ngài là tấm gương sáng chói về sự quên mình, để đem lại an lạc và chỉ bày chân lý tối thượng cho chúng sinh .

Kinh Pháp Cú –193, Phật dạy :"Khó gắp được Như Lai, không phải đâu cũng có . Chỗ nào Phật đản sinh nơi đó tất an lạc". Nếu cho rằng Như Lai là Đức Phật có 32 tướng tốt, gọi là Như Lai xuất thế, thì quả thật rất khó gặp . Đức Phật Tích Ca ở A? Độ đã nhập diệt trên 2500 năm, đến nay chúng ta vẫn chưa thấy có một vị Phật nào khác ra đời . Nhưng nếu hiểu theo tinh thần kinh Kim Cang, Như Lai tức không từ đâu đến cũng không đi về đâu, nghĩa là phi sắc phi tướng, vô hình vô vật, thì khi chúng ta toạ thiền, tâm lặng lẽ mà hằng tri, thì ấy Như Lai đã hiện tiền . Một niệm tỉnh giác thì Đức Phật ra đời , vì Phật là Giác . Một niệm điên đảo chạy theo trần cảnh thì Đức Phật nhập diệt . Khi Như Lai tự tâm đản sinh , nghĩa là lúc tâm an định sáng suốt , thì rõ ràng nơi ấy tức khắ được an lạc .

Trong kinh Pháp Cú – 182 : " Được sinh ra làm người đã là khó . được sống lại càng khó hơn . Được nghe chánh pháp là khó . Được gặp Đức Phật ra đời là rất khó ." Quả thật ,được làm thân người là khó , vì thế giới loài người gồm 4 châu nhân gian , còn các cõi khác như địa ngục, ngạ quỷ , …Nhưng cái khó ở đây là khó phát tâm tu hành, vì thường thì ở những nơi quá sung sướng (như cõi trời ) hoặc quá khổ sở ( như địa ngục ) , chúng sinh ít có điều kiện được nhắc nhở để tiến tu . Còn cõi người thì không quá sung sướng mà cũng không quá khổ cực , nhiều khi gặp những thăng trầm trong cuộc sống hay đau khổ mất mát , đó là những cơ hội để con người thấy rõ lý vô thường hay lý nhân quả , từ đó nguyện đi theo con đường Đức Phật dạy .

Trong bốn cái khó ở trên , được gặp Phật ra đời là khó nhất . Trong một thế giới không bao giờ có hai vị Phật xuất hiện đồng thời . Chỉ khi nào giáo pháp của vị Phật trước đã hết lưu truyền , thì vị Phật sau mới ra đời . Hiện nay, dù trong thời mạt pháp , chúng ta không tận mắt thấy được ứng hóa thân của Phật , nhưng chúng ta vẫn còn nghe chánh pháp, vẫn còn chiêm ngưỡng được dung nhan của Ngài qua hình tượng . Cho nên, nếu có ai tự xưng là Phật , giảng pháp cho người người khác , hoặc phao tin sắp có hội Long Hoa , Phật Di Lặc ra đời … thì đó là những lời dối trá , mê hoặc người đời , nhằm phục vụ cho một ý đồ đen tối nào đó . Sự thị hiện của ứng hóa thân Phật trên cõi đời là một sự kiện hiếm gặp , là điều vị tằng hữu (chưa từng có) . Nhưng chúng ta có khi nào tự hỏi , Ngài xuất hiện trên đời để làm gì ? Trong kinh pháp hoa , Phật dạy : "Chư Phật xuất hiện ở đời chỉ vì một đai sự nhân duyên : Khai thị cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến " . Bản hoài của chư Phật mười phương là muốn chỉ cho chúng sinh thấy , ai cũng có tri kiến Phật , tức Phật tánh , như nhau , bình đẳng không khác . Từ đó sẽ nhận ra và hằng sống được với Phật tánh của chính mình một cách viên mãn .

Kinh Phạm Võng Trường Bộ tập 1 , Phật dạy rằng : " Này các Tỳ kheo ! Thân của Như Lai còn tồn tại , nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác thường đã bị chặt đứt . Khi thân của Như Lai còn tồn tại, thì chư Thiên và loài Người có thể thấy thân ấy . Khi thân hoại mạng chung, thì chư Thiên và loài người không thể thấy được". Khi Đức Phật còn tại thế, thân 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Ngài là một điều kiện tốt để dễ gần và dễ giaó hoá những chúng sinh căn cơ thấp kém . Vì chìu uốn theo tánh dục của chúng sinh nên Ngài phải thị hiện sắc thân như thế . Nhưng dù thân ấy còn tồn tại, mà cái nghiệp lực thúc đẩy thọ lãnh thân sau đã không còn . Chính lòng ái dục đã tạo dòng nghiệp lực khiến đưa đến một đời sống khác, với chánh báo và y báo tương ưng . Ứng hoá thân của Phật, vì có hình tướng nên chư Thiên và loài Người có thể thấy được . Khi thân ấy đã hoại, Đức Phật trở về với pháp thân vô tướng nên không ai có thể thấy được Ngài . Tất cả chúng ta đều có pháp thân vô tướng như thế, vấn đề ở chỗ chúng ta có nhận ra không và tu hành cách nào để có thể sống được với nó, niêm mật từng phút giây .

Chúng ta đã xét qua ý nghĩa về sự đản sinh của Đức Phật, để thấy rõ rằng sự xuất hiện của Thế Tôn, vị giaó chủ của chúng ta, là một việc hy hữu ở đời . Cứ mỗi lần mùa Khánh đản đến, người Phật tử về chùa, nghe quý thầy nhắc lại về cuộc đời và những đức tính cao đẹp của Ngài, chúng ta mới biết rằng Ngài đã trải qua vô lưọng kiếp tu hành , cuối cùng mới thị hiện là Thái tử Sĩ Đạt Ta ở A? Độ, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một bậc vĩ nhân, đã để lại một hình ảnh không bao giờ phai mờ trong lòng những người con Phật khắp năm châu bốn biển . Vì cuộc đời Ngài quá vĩ đại và đẹp đẽ, nên từ xưa đến nay, biết bao người đã dùng mọi hình thức văn hoá để ca tụng cái toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Ngài. Biết bao người đã nguyện noi gương Ngài, quên mình để phụng sự chúng sinh, hy sinh hạnh phúc riêng tư để lo cho hạnh phúc của nhiều người . Những sứ giả của Như Lai đã mang thông điệp của Đức Phật đi vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản chất của kiếp sống là vô thường, là đau khổ, từ đó thúc giục con người sớm theo lời dạy của Ngài tu hành để được giác ngộ và giải thoát .

Hôm nay, một lần nữa kỷ niệm ngày Phật Đản, chúng ta đem hết tâm thành quy ngưỡng và đảnh lễ Ngài . Chúng ta thấy mình rất có phước duyên nên mới được làm người, được thấm nhuần dòng sữa pháp, được chư Tăng Ni hướng dẫn tu hành, được làm bạn đạo cùng những người hiền thiện . Chúng ta nguyện nhớ mãi hình ảnh Ngài bước trên hoa sen khi mới ra đời, để noi gương Ngài cũng bước từng bước an lạc thảnh thơi trên những bất ổn của cuộc sống . Thân ngũ uẩn của chúng ta tuy ở trần thế, nhưng phải biết vươn lên không để bùn nhơ của ngũ dục làm ô nhiễm . Từ đó chúng ta sẽ góp phần thổi một luồng sinh khí mới vào cuộc đời, khiến mọi người cũng được an lạc và hạnh phúc . Đây là cách duy nhất để đền đáp ơn khó của Đức Bổn Sư vô cùng quý kính của chúng ta .

(Tuần báo Giác Ngộ số 16)

thongtindangky
15-05-2005, 12:00 PM
Chào Tịnh Ngọc, Phật Đản là ngày 12/4 Am phải không, hình như năm nào trời cũng mưa vào ngày đó thì phải. Năm ngoái Thongtindangky đến dự tụng kinh buổi tối ở Chùa Đình Quán, một ngôi chùa rất đẹp ở phía Tây Hà Nội, trời cũng mưa và sấm chớp :p

Tịnh Ngọc
16-05-2005, 02:46 AM
Dạ thưa bác, Phật Đản vào ngày rằm tháng tư cách đây 2629 năm.

***Kính mừng Phật Đản - TN thân chúc tất cả quý vị thân tâm luôn an lạc , mãi sống trong tinh thần hòa hợp, yêu thương nhằm mang lại hạnh phúc cao thượng cho chính mình và mọi người mà ánh sáng của đạo Phật đã soi đường cho chúng ta.

meomoon
16-05-2005, 10:39 AM
Ngày Phật Đản năm này được tổ chức trên chùa Non Nước ở Sóc Sơn chắc rất lớn.

Chính Ấn
16-05-2005, 01:17 PM
Cảm ơn chị Tịnh Ngọc, bài này rất hay.

thongtindangky
16-05-2005, 07:24 PM
meomoon, hôm qua là ngày 12/4 mà thôngtindangky không biết hic nên không đi đâu cả, hôm qua còn không có mưa nữa :p

Tịnh Ngọc
16-05-2005, 08:26 PM
Phiền não tức bồ đề

(trích trong Thiền tông đông độ–Lục Tổ Huệ Năng và Phái Lâm Tế)


Tất cả những sự lo nghĩ thuộc phạm vi lợi kỷ đều do trí huệ phát sanh ra việc nghĩ tưởng, những điều lợi ích riêng cho mình, cho thân tộc mình, cho cái ta bẩn thỉu, đó là PHIỀN NÃO. Vì thế nên những điều nghĩ tưởng của nhân loại, chúng sanh trên phạm vi tư lợi, tự giác, Đức Lục Tổ Huệ Năng cho đó là phiền não. Người và chúng sanh ở trong đó là ở trong tình trạng phiền não.

Trái lại, cũng với trí huệ đó con người nghĩ tưởng những điều lợi ích cho toàn thể chúng sanh, vì chúng sanh mà hành động chớ không phải riêng cho cá nhân, thì họ ở trong cảnh trạng BỒ ĐỀ. Thế nên Lục Tổ nói phiền não tức Bồ đề.

Trong lúc tâm tư Thiền gia hiểu biết điều này thì Thiền gia tự thấy mình đã nhập Bồ Đề Tri Kiến, cũng như trong kinh Pháp Hoa có câu: “Nhập Phật Tri Kiến vậy”.

Bây giờ Thiền gia lo hành động cho đúng theo sự Tri Kiến đó, thì Thiền gia sẽ “NHẬP BỒ ĐỀ TÂM”.

Nhập Bồ Đề Tâm tức là học làm Phật và có học Phật mới tiến được đến lãnh vực NHẬP PHẬT TRI KIẾN.

Khi thể hiện Phật tánh liên tục tức là đã thành Phật như Phật. Đó là trạng thái Như Như. Người và chúng sanh đều có thể hiện Phật tánh, nhưng chỉ ở trong tình trạng vô ý thức, trong tình trạng bất ngờ, trong tình trạng vô tri, vô giác. Trạng thái ấy chỉ phát hiện trong lúc tâm tư con người được thanh tịnh và thư thái nhứt trong đời sống.... không bị quay cuồng theo giòng tư kỷ.

Con người thể hiện được Phật tánh là khi nào đã thoát ra ngoài vòng tư kỷ, tư lợi, xa lìa được cái ta bẩn thỉu, xa lìa tư dục.

Nếu con người chưa an trụ được trong cảnh giới Đại Định thì khó có thể hiểu được câu: “Phiền não tức Bồ Đề”.

Nếu chưa rõ tột lý câu Phiền não tức Bồ Đề thì chưa “NHẬP BỒ ĐỀ TRI KIẾN”.

Từ chỗ Tri kiến Bồ Đề Tâm đến chỗ “thể hiện Phật tánh” nó chỉ một liên quan mật thiết, mà Thiền gia an trụ trong ĐẠI ĐỊNH mới có thể đọc đuợc sự liên quan đó trong quyển kinh VÔ TỰ của Đạt Ma Sư Tổ mới có thể thấy được điều ấy nơi “Chánh pháp nhãn tạng” mà Phật đã phó chúc cho ông Đại Ca Diếp.

Khi một niệm phát sanh duyên theo đời thì đó là phiền não và niệm niệm nhứ thế liên tục mãi, thì con người cứ luân chuyển mãi theo bánh xe luân hồi. Khi bánh xe luân hồi cứ mãi quay thì con người không sao thoát ly ra được. Con người vì thế bị trói buộc vào bánh xe luân hồi, bằng những sợi dây vô hình. Những sợi dây đó tức là phiền não, là những tư tưởng, những niệm duyên theo ĐỜI.

Muốn dứt sự luân hồi thì phải dứt niệm duyên theo ĐỜI, và đồng thời xoay niệm đó theo ĐẠO.

Có nhiều sách viết vắn tắt “muốn dứt phiền não, muốn dứt luân hồi thì phải dứt niệm”. Đó là sai lầm! Nếu dứt niệm tức là xác thân đâu còn hoạt động lúc bấy giờ hành giả đã chết rồi.

Nhiều Thiền gia sơ cơ tưởng dứt niệm là an trụ vào ĐẠI ĐỊNH. Thật ra cái nghĩa đó là chấm dứt tất cả mọi điều nghĩ tưởng tức là tập trung tư tưởng đến chỗ rốt ráo. Khi tất cả tư tưởng đều vắng lặng chỉ còn một tư tưởng duy nhất thánh thiện, gom nó về một mối gọi là “Nhứt tâm”. Đó là Đại Định. Thiền gia đến giai đoạn này thì sẽ nhận những hậu quả như thế này:

· Nếu Thiền gia nhứt tâm theo các điều hung dữ, độc ác thì sẽ lọt vào vòng sa đọa muôn kiếp ngàn đời, không còn phương tiện thoát ly cái MÊ của chúng sanh...

· Nếu hành giả nhứt tâm theo tư dục, ba nghiệp “Thân, Khẩu, Ý” không được thanh tịnh tức là nhứt tâm theo Đời thì hành giả sẽ luân chuyển mãi trong vòng luân hồi, trải qua muôn kiếp ngàn đời không làm sao tìm ra lối thoát và cứ thế luân hồi mãi trong biển Phiền Não.

· Nếu Thiền gia nhứt tâm theo Đạo... Nhứt tâm theo pháp lành như trong câu “Nhứt niệm A Di Đà” thì Thiền gia sẽ tự giải thoát khỏi mọi điều phiền não nơi cõi Ta Bà. Chớ không phải nhứt niệm theo lối hữu vi như nhứt niệm A Di Đà.

· Nếu Thiền gia nhứt tâm với Bồ Đề, với Niết Bàn thì Thiền gia sẽ được tự do tự tại ra vào nơi cảnh giới ấy (mặc dầu đang sống trong trần gian).

Khi ra đi muốn đến cõi Ta Bà, hay đến cõi Diêm Phù để thể hiện Tâm Đại Bi, để cứu độ chúng sanh ra khỏi mọi sự khổ đau và tội lỗi (chớ không phải tội nghiệp vì luân hồi mà sanh ra nơi cõi tạm Ta Bà).

Khi vào tức là trở về nơi Niết Bàn (lúc tịch diệt lìa bỏ thân xác) mà an hưởng “Thường, Lạc, Ngã, Tịnh”. Hay là nhập cảnh giới Bồ đề để thọ sự giáo hóa của chư Phật mười phương.

Thế nên, Lục Tổ Huệ Năng nói một câu vắn tắt trong Pháp Bảo Đàn kinh là “Phiền não tức Bồ đề” đều do nơi Trí Bát Nhã mà ra vậy. Và nếu không phải là Thiền gia thì khó mà thể hiện cái Trí Bát Nhã này.

Tịnh Ngọc
16-05-2005, 08:28 PM
MÙA PHẬT ĐẢN TRONG TRUYỀN THỐNG NAM TÔNG
(Ý NGHĨA NGÀY RẰM THÁNG TƯ VESAKHA)

Thích Thiện Minh
---o0o---

Theo Tam Tạng giáo điển của Phật giáo Nam tông (Nam truyền Thượng tọa bộ), ngày trăng tròn tháng Tư Âm lịch là ngày lịch sử, kỷ niệm một lúc 3 thời kỳ: Bồ Tát Đản sanh, Thành đạo và Phật nhập Niết bàn, Phật giáo thế giới gọi ngày ấy là lễ "Tam Hợp" (The Triple Festival).

Ngược dòng lịch sử cách đây hơn 25 thế kỷ, đức Từ Tôn, cứu thế đã xuất hiện giữa Trung Ấn Độ để sau này trở thành một bậc Đại Vĩ Nhân mở đầu cho một kỷ nguyên an lạc và giải thoát. Ngài ra đời nhằm ngày thứ sáu, Rằm tháng Tư.
Lời nói đầu tiên của con người hi hữu phi phàm này ngay sau khi xuất hiện giữa trần gian ở vườn Lumbinì tại thành Kapilavatthu như sau:

"Aggohamasmi Settho
Aggohamasmi Jettho
Aggohamasmi Anuttaro
Ayamanti mà Jàti natthi dàmi punabbhavote"

Ta là bậc cao nhất trên đời
Ta là người quý nhất trên đời
Ta là bậc chí tôn trên đời
Sự sinh ra của ta kiếp này là kiếp cuối cùng
Nay ta chẳng còn tái sinh nữa.

Ngài lớn lên trở thành người tài ba lỗi lạc, tướng mạo cực kỳ khôi ngô, sống trong cung vàng điện ngọc, vợ đẹp, hầu xinh, giường ngà, chiếu ngọc, nhưng với chí nguyện "độ đời", lúc nào Ngài cũng băn khoăn, suy tư, khắc khoải, lo âu tìm kiếm một con đường giải thoát để cứu khổ cho chúng sanh đang u mê trong đêm tối của cuộc đời.

Vượt kinh thành, xuất gia tìm đạo và trải qua sáu năm khổ hạnh, màn trời chiếu đất cơ cực trăm bề, rốt cuộc Ngài tự phát hiện ra con đường Trung đạo (Majjhimapatipadà) có năng lực đưa đến thoát ly sinh tử, và cuối cùng Ngài đã đắc đạo quả trong ngày thứ ba, Rằm tháng Tư.

Lời nói đầu tiên của đức Thế Tôn sau khi đắc thành quả Phật:

"Aneka Jàti smasaram sandhàvissam ambbisam Gaha karam gavesanto duffha Jàti punappunam Gahakaraka ditthosi puna geham nakahasi sabbate phàsukà bhaggàgahakùtam visamkhatam vihamkhàragatam cittam tanhànam khayamajjhàmà".

Nghĩa là:

Trong vô số lượng kiếp, Như Lai còn lặn lội tìm kiếm người thợ cất nhà thì sự sanh đã khiến Như Lai đau khổ không ngừng. Này người thợ nhà kia, ngươi đã bị Như Lai khám phá ra rồi, đừng hòng cất nhà cho Như Lai được nữa, sườn nhà, nóc nhà đã bị Như Lai phá vỡ và triệt hạ, tâm Như Lai hoàn toàn vô hành, vô nhiễm.

Sau khi chứng quả Chánh Biến Tri (Sammàsam Buddho) thay vì an hưởng quả vị siêu thoát một mình, nhưng với lòng từ bi vô lượng thúc đẩy Ngài không nỡ để cho chúng sanh chìm ngập khổ sầu mãi trong biển lệ trầm luân, nên Ngài nỗ lực suốt 45 năm trường đem đạo vàng truyền bá khắp nơi, nhằm một mục đích duy nhất là đem lại hạnh phúc và giải thoát cho chư Thiền và nhân loại.

Cuộc đời hoằng hóa lợi sinh của đức Phật trong suốt 45 năm, mỗi ngày được chia ra làm 5 công việc như sau:


1. Pubbanne pindanàtam: Sáng, đi khất thực và gieo duyên lành cho chúng sanh.
2. Sàyanne Dhammadesanam: Chiều, thuyết pháp cho chúng sanh.
3. Padose bhikkhu ovàdam: Tối, giáo giới chư Tăng. .
4. Addharatte devapannànam: Khuya, giảng pháp và trả lời thắc mắc cho chư Thiền.
5. Paccuseva gate kàle bhabbàbhabbe vilokanam: Rạng đông, dùng Phật nhãn xem xét trong Tam giới có chúng sanh nào hữu duyên để tế độ hôm ấy.

Do đó đời Ngài hoàn toàn hy sinh để thực hiện hạnh độ đời cho đến hơi tàn sức kiệt, Ngài thở về Kusinàra và Ngài tịch diệt. Thân Ngài nằm giữa hai cây Long Thọ (Sàlà), hôm ấy nhằm ngày thứ tư, Rằm tháng Tư.

Lời nói sau cùng của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là:

Amantiyàmi Vo bhikhave vaya dhamma sankhàra appamà dena sampadethati ayama tahagatassa paccha mavàcà.

Nầy chư Tỳ kheo, từ lâu nay các con nương nhờ nơi Như Lai, nay Như Lai sắp từ giả các con, kiếp sống thật là ngắn ngủi, vạn vật có sự tan rã là lẽ thường. Các con không nên có sự buồn khổ, các con hãy cố gắng chuyên cần hành đạo và đừng nên dễ duôi. Sau khi Như Lai nhập Niết bàn, Kinh, Luật, Luận là thầy của các con vậy.

Như vậy ngày Rằm tháng Tư không những là kỷ niệm ngày Bồ Tát Đản sanh, mà còn là ngày Thành đạo và Phật nhập Niết bàn.

Ngày nay, cứ mỗi khi đến ngày Rằm tháng Tư, ngày đại lễ Tam Hợp, Phật tử Việt Nam cũng như Phật tử trên thế giới đều hướng tâm về đức Phật. Đời Ngài đã thuộc về quá khứ nhưng uy danh Ngài vẫn sống mãi với trào lưu lịch sử. Do đó, để tưởng nhớ đến ngày kỷ niệm lịch sử của Ngài, giới Phật giáo Nam tông, các chùa có tổ chức thọ hạnh Đầu đà thức trọn đêm không nằm không dựa để tham thiền, tụng kinh, chiêm bái Xá lợi đức Phật Tổ, hái hoa Phật pháp, gieo duyên học Phật, luận đạo, kinh hành v.v... hầu cúng dường đức Phật một đêm không ngủ để gieo duyên lành giải thoát và giác ngộ.

Cầu chúc quý vị hưởng mùa Phật Đản vui vẻ hạnh phúc trong ánh hào quang từ bi, trí huệ của đức Phật Tổ Như Lai.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

thongtindangky
16-05-2005, 08:43 PM
A di đà phật

meomoon
17-05-2005, 09:53 AM
meomoon, hôm qua là ngày 12/4 mà thôngtindangky không biết hic nên không đi đâu cả, hôm qua còn không có mưa nữa :p

Vào chủ nhật tới, ngày rằm tháng tư mà. Bạn xem lại lịch, hôm qua cũng không phải ngày 12.

thongtindangky
17-05-2005, 11:05 AM
ca'm o+n meo , dde thongtindangky gio li.ch ra xem hic

bachlienhue
18-05-2005, 08:30 AM
Những bài viết về Phật Đản thật là có ý nghĩa. Rằm tháng tư là một đại lễ rất quan trọng của Phật giáo.Chúc mọi người luôn phát tâm Bồ Đề và an lạc

Tịnh Ngọc
21-05-2005, 09:10 PM
MỪNG NGÀY PHẬT ĐẢN

---o0o---

Ngày Phật Ðản tin về mùa kỷ niệm

Rộn ràng lên người con Phật năm châu

Nghe niềm vui mang sắc thái nhiệm màu

Niềm tin vững in sâu lòng thệ nguyện

Bậc Ðại Giác Ta Bà đà xuất hiện

Cứu quần sanh thoát khỏi bể trầm luân

Phá si mê người ngọn đuốc dẫn đường

Thuyền Bát Nhã vươm cao buồm trí tuệ

Người nhận thấy trần gian bao thế hệ

Phũ phàng lên kiếp nô lệ lầm than

Tạo cho nhau giai cấp trói buộc ràng

Bị khống chế bởi quyền năng không tưởng

Cứ hy sinh suốt cuộc đời vất vưởng

Trong khổ đau đầy ác trược triền miên

Trôi xuống lên vòng sanh tử não phiền

Lôi cuốn mãi theo vô minh nghiệp báo

Người thương xót liền mở bày chánh đạo

Hướng nẻo chân lời dạy bảo rõ rành:

"Các con đây chính là Phật sẽ thành.

Ðều bình đẳng,hảy mau lên Chánh Giác".

Thật chân lý và tình thương bàng bạc

Lời ngọc vàng vẫn ghi tạc lòng son

Tiếng Pháp-Ấm vẫn vang dội chuông ngân

Chúng con nguyện bước theo chân Phật Tổ

Ðể nhớ ơn bậc thầy giác ngộ

Gương hy sinh người tế độ trần gian

Ngày đản sanh thị hiện thật huy hoàng

Chúng con nguyện kết hoa đăng tưởng niệm.

(Trích-Thắng Hoan Thi Tập của Hòa Thượng Thích Thắng Hoan)