PDA

View Full Version : Chen RƯỢu TÌnh YÊu


DaoKy
13-05-2005, 08:09 PM
Cái nhìn mới về tình yêu theo quan điểm khoa học



Sau lúc trái tim chỉ chực nhảy khỏi lồng ngực và lý trí biến mất, sau thời say mèm vì "chén rượu tình", sau cả dư âm của chén rượu nhạt, bạn mới có hạnh phúc gia đình. Tạp chí Y học Surfmed của Đức, số ra mới đây, vừa công bố các giai đoạn phát triển của tình yêu, theo cách nhìn của hóa sinh và sinh lý học.

Kiến thức lớn nhất về ái tình mà hai bộ môn này cung cấp là: Những cơ chế tạo nên sự hình thành và phát triển của tình yêu không hề đơn giản, mà đã đạt đến độ phức tạp khủng khiếp. Cơ chế đó chính là trung tâm não bộ. Đây là bộ phận sinh lý quan trọng nhất của cơ thể, chi phối mọi cảm xúc của con người. Não bộ điều khiển các hoóc môn và nơron, khiến chúng cất lên tiếng vĩ cầm đầu tiên của bản nhạc tình ái, đồng thời quyết định giai điệu, tần số và độ ngân dài ngắn (trường độ) của nó.

Sau đây là các giai đoạn phát triển của tình yêu:

1. Khởi thủy

Bụng thót lại, trái tim đập thình thình như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, lý trí biến mất. Thế là một lần nữa, mũi tên của thần ái tình Amor đã phóng trúng đích. Cảm giác nôn nao như bị " bùa ngải" này trước hết liên quan đến các nơron truyền tín hiệu. Chúng mang các phân tử hóa học, kích thích các tế bào ở trung tâm não bộ. Còn các hoóc môn cũng đóng vai trò quan trọng không kém khi khuếch đại những kích thích này.

2. Chén rượu tình

Dù thanh niên hay người già, khi đã đặt môi vào chén rượu tình, ai cũng có cảm giác choáng váng bồng bềnh. Tất nhiên, sự "sa ngã" này chẳng có gì là tồi tệ. Miêu tả cảm giác này, đại thi hào Goethe của Đức viết:

Hôm nay tất cả đều kỳ lạ với tôi, ước gì cứ mãi như thế
Bởi tôi đã thấy tình yêu trong đôi mắt thủy tinh của nàng...

Cái cảm giác khiến Goethe "nhìn đời qua cặp kính màu hồng" thực chất có liên quan mật thiết đến những "phân tử tình yêu" sau đây:

- Adrenalin:

Adrenalin là một hoóc môn gây cảm xúc mạnh nhất. Trong trường hợp người bị stress, hoóc môn này được giải phóng ra khỏi thận, thấm vào máu, đặt cơ thể vào tình trạng báo động tức thời. Huyết áp dâng cao, tim đập nhanh hơn và bàn tay thì ướt đẫm mồ hôi. Đối với những người đang yêu, adrenalin tạo ra trạng thái nôn nao, đôi khi khá căng thẳng. Chỉ cần một cái nhìn sâu của người yêu, hay sự hồi hộp trước buổi hẹn đã khiến cơ thể giải phóng một lượng adrenalin lớn, đưa người vào trạng thái nóng lạnh như sốt. Hệ quả là: Toàn bộ tâm trí chỉ hướng tới người mình yêu, và cả nhân loại trở nên vô nghĩa.

Cũng may là trạng thái này thường kéo dài không lâu, bởi nó ngốn nhiều năng lượng khủng khiếp và không một cơ thể sinh học nào có thể chịu đựng được nó trong một thời gian dài. Tuy nhiên, những đợt sóng adrenalin nhẹ nhàng và thường xuyên lại có tác dụng rất tốt. Chúng giúp cơ thể có khả năng đề kháng. Bởi vậy, xét về mặt sinh học, mỗi một lần yêu mới là một lần thử thách với cơ thể, khiến nó cứng cáp hơn.

- Dopamin:

Hoóc môn này tác động trực tiếp tới trung tâm nhận phần thưởng trong não bộ, đem lại niềm vui, cảm giác sung sướng và thỏa mãn. Khi tình yêu tiến triển, hoóc môn này càng gia tăng và gây tác động không nhỏ tới cơ thể khiến người ăn uống không thấy ngon hoặc ngủ ít đi. Đây chính là trạng thái "ốm dở chết dở" khá phổ biến mà các thi sĩ thường gọi là tương tư.

- Noradrenalin:

Nơron truyền tín hiệu này tụ hợp năng lượng ái tình, khiến cơ thể nóng lên. Đôi khi, noradrenalin làm người ta không thể kìm giữ được cảm xúc của mình. Hơn thế, nó còn tác động đến thùy hypothalamus, làm tiết ra các hoóc môn kích dục, khiến người ta có hứng làm tình.

3. Khi các hoóc môn "nguội" dần

Tất cả những kẻ đang yêu đều cầu mong rằng, cái cảm giác choáng váng bồng bềnh đừng bao giờ biến mất. Đáng tiếc, điều này lại trái với nền tảng của bộ môn hóa sinh. Nhiều nhất là một năm, mà thường là sớm hơn, não bộ sẽ tự động "giải thoát" ra khỏi trạng thái bồng bềnh do các "hoóc môn tình yêu" gây ra. Điều này xảy ra là do trung tâm nhận phần thưởng trong não bộ đã quen dần với dopamin, khiến nó chẳng còn có cảm xúc gì nữa. Lúc ấy, những gì là "cuồng nhiệt" ban đầu đều biến mất. Đây là điều không thể tránh khỏi, vì nó nằm ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của con người - một cấu trúc hữu cơ bị chi phối khắt khe bởi các quy luật hóa học và sinh học. Có lẽ chỉ có một tình yêu mới mới đem lại cảm giác ban đầu mà thôi!

4. Tình yêu lớn

Ai vượt qua được giai đoạn sóng gió của những cảm xúc mới yêu sẽ đạt được một điều quý giá khác (tuy không dữ dội), đó là hạnh phúc của cuộc sống vợ chồng. Một trong những hoóc môn giúp người ta duy trì hạnh phúc này là endorphine. Nó có tác dụng như một thứ ma túy nhè nhẹ, đưa đến cảm giác dễ chịu, giúp con người thoát khỏi nỗi sợ hãi về những điều bất ổn của cuộc sống, và trong một số trường hợp nhất định, thậm chí nó còn đem lại những khoái cảm kỳ lạ. Đó chính là khởi điểm của một tình yêu lớn.

Nhà nhân chủng học Mỹ Helen Fisher cho rằng những quan tâm dịu dàng và sự chia sẻ với bạn đời góp phần kích thích hoóc môn endorphine. Ai đã yêu, ắt hiểu thế nào là nhớ, và theo Fisher, cảm giác này có quan hệ trực tiếp tới endorphine. Những người từng cai nghiện thuốc lá hoặc ma túy hiểu cảm giác này hơn cả: Hoóc môn cứ tiết ra, khiến người ta có cảm giác thèm khát ghê gớm. Việc "nghiện" ái ân cũng có thể hiểu như vậy, và khi điều ấy không được thỏa mãn thì hậu quả tất yếu sẽ là sự trầm cảm và đau khổ.

Nhưng đến đây, các nhà khoa học đã chạm vào một câu hỏi thuộc phạm trù đạo đức: Vậy thì các cặp vợ chồng sống với nhau chẳng qua vì họ sợ chia tay sẽ không thể chịu nổi cái cảm giác thiếu thốn, y như một con nghiện khi phải tách rời khỏi ma túy hay sao? Tất nhiên, các nhà khoa học không dừng lại ở đây, bởi nếu như vậy, họ có thể nói gì về lòng chung thủy mà rõ ràng là có hiện hữu?

Nền tảng hóa sinh của lòng chung thủy ở con người

Khác với đa số loài động vật mà con đực và con cái chỉ cặp nhau để giao phối, hoặc cùng lắm là chung sống với nhau một thời gian nhất định sau khi con non ra đời, con người thường sống với nhau lâu dài trong mối quan hệ vợ chồng. Điều này không chỉ có nguồn gốc từ nỗi sợ hãi việc phải xa rời những khoái cảm của hoóc môn endorphine như một thứ ma túy, mà họ cảm thấy dễ chịu thực sự khi sống chung với nhau. Tất nhiên, ngay trong trường hợp ấy, con người cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của các hoóc môn. Hai nhà sinh học Mỹ Sue Carter và Thomas Insel đã nghiên cứu "hiện tượng" chung thủy trên nền tảng hóa sinh và đã rút ra một số kết luận như sau:

Ở chuột

Carter và Insel đã quan sát giống chuột núi và giống chuột sống trên đồng cỏ ở Mỹ. Bề ngoài chúng giống hệt nhau. Chuột núi thường xuyên thay đổi bạn tình, thậm chí con đực chỉ giao phối một lần với một con cái nào đó. Chuột đồng lại khác hẳn: Chúng sống cả đời bên nhau. Theo Thomas Insel, điều này có lẽ liên quan đến hoóc môn oxytocin và vasopressin. Nồng độ của hai hoóc môn này trong máu chuột đồng nhiều hơn hẳn chuột núi.

Bằng kỹ thuật chuyển gene, các nhà khoa học đã tạo ra giống chuột núi có nhiều hoóc môn oxytocin và vasopressin hơn. Kết quả, chúng tỏ ra chung thủy hơn hẳn và sẵn sàng "chiến đấu" khi có kẻ khác đến gạ gẫm bạn tình. Rõ ràng, chung thủy là một đặc tính được quyết định bởi gene.

... và ở người

Người cũng có hai loại "hoóc môn chung thủy" như ở chuột đồng. Tuy nhiên, liệu chúng có tác dụng như ở chuột hay không vẫn còn là một dấu hỏi. Đến nay người ta mới chỉ biết rất ít về chúng:

Sau mỗi lần đạt cực khoái, lượng hoóc môn oxytocin trong máu tăng mạnh. Trong một thực nghiệm, các nhà khoa học đã dùng cách hãm oxytocin của những người đàn ông. Kết quả, họ vẫn có khoái cảm như thường khi quan hệ tình dục, nhưng cảm giác dễ chịu và thư giãn thì mất hẳn. Rõ ràng, oxytocin giúp con người có những cảm giác dễ chịu lâu dài trong quan hệ vợ chồng, làm nền tảng cho lòng chung thủy, khiến người ta không chán nhau, dù cảm giác ngất ngây của tình yêu ban đầu đã nguội lạnh.

Nhưng nếu ai nuôi hy vọng dùng cách nào đấy (ví dụ như kích thích gene) để làm tăng nồng độ oxytocin trong máu, mong giữ được tình chung với bạn đời, người ấy đã mắc một sai lầm cơ bản. Bởi lẽ, khác với chuột đồng, con người không phải là những tên nô lệ ngoan ngoãn của các định luật hóa học và sinh học, mà ở những khoảnh khắc nhất định (mặc kệ hoóc môn!), họ còn biết rung lên sợi tơ lòng:

Hôm nay tất cả đều kỳ lạ với tôi, ước gì cứ mãi như thế
Bởi tôi đã thấy tình yêu trong đôi mắt thủy tinh của nàng
(J.W. Goethe)

Minh Hy (theo Surfmed)

DaoKy
13-05-2005, 08:17 PM
DẤU CHÂN NGƯỜI CỔ ĐẠI

Có lẽ bạn đã nghe về chủng người Australopithéque sống cách đây 4 triệu năm, chỉ có chiều cao trung bình từ 1 đến 1,5 mét, và nặng từ 20 đến 50 kg. Nhưng thật khó tin rằng, có những dấu chân người sống cách đây... vài trăm triệu năm.

Một trong những bí ẩn lớn nhất là những dấu chân không rõ lai lịch nằm rải rác trên khắp thế giới. Tại cao nguyên Laetoli (Tanzania), còn những dấu chân rất đặc biệt in rõ trên bùn hoá thạch cách đây 3,8 triệu năm. Đó là hai loại dấu chân, một của một em bé, và một của người lớn. Tro núi lửa và bùn khô đã để lại những dấu vết rất rõ. Các nhà khoa học hoàn toàn lúng túng khi phải làm rõ lai lịch của "giống người" này, cũng như từng lúng túng khi gặp phải những dấu chân kỳ lạ ở Glenn Rose (Texas, Mỹ). Theo các nhà khoa học Mỹ, đây phải là vết chân của một giống người cao đến 4 mét (theo tỷ lệ giữa chiều dài bàn chân và chiều cao cơ thể). Điều kỳ quặc nhất là chúng nằm cạnh những vết chân khủng long.

Năm 1908, các nhà khảo cổ Mỹ đã tìm ra hai loại dấu chân này và họ cho rằng chúng ra đời cách nay 120-130 triệu năm. Một cuộc tranh cãi bất tận đã nổ ra. Có người cho rằng, dấu chân trước của khủng long bị tro của núi lửa và sự xâm thực qua thời gian “gọt” bớt một phần, tình cờ tạo nên vết chân người. Nhiều ý kiến lại cho rằng đây chỉ là một trò đùa cợt của những kẻ rách việc, y như những vòng tròn bí ẩn trên các cánh đồng ở Anh. Nhưng những phương pháp tiên tiến của khảo cổ học dễ dàng lột mặt nạ trò lừa bịp trẻ con này, thành thử, không thể có chuyện giả mạo ở đây. Một số dấu chân ngoại cỡ cũng được tìm thấy ở Arizona và Tuba (Mỹ) vào năm 1986 và 1997. Những dấu chân này đều to như dấu chân khủng long.

Nếu cần truy nguyên, người ta có thể lục lại lịch sử để thấy rằng những vết chân như thế không phải là hiếm. Thế kỷ 19, một nhà văn Mỹ trong tác phẩm American Antiquites đã cho biết: Gần con sông Tennessee, cách Braystown, Bắc Caroline (Mỹ), vài kilomet về phía nam, có cả “một đoàn dấu chân kỳ lạ”. Nhiều người Mỹ thời bấy giờ chỉ cho rằng đó là cảm hứng của nhà văn. Nhưng năm 1965, các nhà khoa học đã tìm được dưới lớp bùn khô, tại đúng vị trí đó, những dấu chân ngựa, gấu, gà và dấu chân của "một giống người có 6 ngón". Phát hiện này gây chấn động ngành khảo cổ thời ấy. Việc xác định lai lịch của người 6 ngón là không thể. Tuy nhiên, theo thống kê chưa chính thức của Viện sử học và khoa học tiền sử Mỹ, đã có 122 tác phẩm khảo cứu về giống người kỳ lạ này.

Năm 1882, trong một buổi lao động khổ sai, những tù nhân ở Carson, Nevada (Mỹ), đã đào xới một lớp sa thạch và tìm được những dấu chân có vẻ như của voi mamút. Điều đáng nói là lẫn trong đó có những vết chân của người khổng lồ (theo tính toán, giống người này phải cao từ 3 đến 3,8 mét). Phải chăng đó là một cuộc săn voi thời tiền sử? Nhưng kích thước của con người thời ấy không thể quá cỡ đến vậy! Ngày 27/8/1882, một bản báo cáo chính thức được gửi lên Viện Hàn lâm Khoa học California. Một số nhà khoa học cho rằng đó không phải là dấu chân trần, mà là dấu “dép xăng đan thượng cổ”.

Năm 1885, tại đỉnh đồi Big ở Cumberland, Kentucky (Mỹ), một loạt dấu chân bí ẩn lại được công bố. Hiện trường là mỏ than Jackson. Các nhà khoa học thời ấy cho rằng đây là vết chân gấu, ngựa (một loài ngựa cực lớn) và của “người”. Điều phi lý là niên đại của chúng được xác định ở mức 300 triệu năm! Những vết chân có 5 ngón, và ngón cái choãi ra rất rõ.

Năm 1886, Viện hàn lâm khoa học Ohio trưng bày một tảng đá in rõ 2 dấu chân người gần như hoàn hảo, được tìm thấy ở Parkesbourg, Virgina (Mỹ), với niên đại 150 triệu năm. Đúng lúc, một phái đoàn nghiên cứu của châu Âu tình cờ sang Mỹ du lịch đã bị sự kiện nay cuốn hút. Nhưng cả 17 nhà khoa học cũng chẳng tìm ra lời giải nào hợp lý.

Năm 1930, dư luận tập trung vào phát hiện của giáo sư William Burrough, trưởng khoa địa chất của Đại học Borea. Ông đã tìm ra 10 dấu chân người rộng 15 cm, dài 24 cm trong một lớp sa thạch ở Rockcastle. Năm 1998, ngành khảo cổ Mỹ đã xới lại vấn đề này, vì e rằng có sự đùa cợt. Tia hồng ngoại và kỹ thuật chụp ảnh vi bản cho thấy đó là vết chân thật, có niên đại 250 triệu năm.

Tuy nhiên, con số này vẫn chưa đáng sửng sốt bằng phát hiện của nhà khoáng vật học nghiệp dư William J.Meister. Năm 1968, ông đã tìm được ở Antelope Spring, Utah (Mỹ), những dấu chân người có niên đại 500 triệu năm…

Nếu bạn cho rằng tất cả những điều trên chỉ là những câu chuyện quá khứ thì bạn đã lầm: Tháng 2 năm nay, anh James Snyder (Mỹ) đã tìm được một dấu chân to tướng tại rừng quốc gia Cleveland. James đang đi tìm vàng thì vô tình giẫm lên một dấu chân khổng lồ khắc trên một tảng đá hoa cương. Thoạt tiên, James nghĩ rằng đây là dấu vết của người chân to mà khoa học từng xem là bí ẩn cực lớn. 6 tháng đã qua và các nhà khoa học Mỹ vẫn chưa có câu trả lời…

Thế Giới Mới (Theo Marcogee và Lycos)

DaoKy
13-05-2005, 08:20 PM
KHÔNG GIAN CHIỀU THỨ TƯ

Đột nhiên mặt đất rung chuyển, nhà cửa, cây cối nghiêng ngả như động đất. Những sinh vật thật lạ sử dụng các loại máy bay quay tròn trên những nóc nhà trong làng. Ở ngay khoảng đất trước nhà, “họ” đáp xuống và mở cửa khoang máy ra ngoài. Lúc đó, nỗi sợ hãi và khiếp đảm khiến em hoảng loạn. Nhưng khi bình tâm, em nhớ lại tất cả...

Đó là lời kể của em gái 13 tuổi Theodona về cuộc gặp gỡ với người ngoài trái đất trong hai trận cuồng phong xảy ra năm 1998 ở một làng nhỏ thuộc ngoại ô thành phố Shoumen (Bulgaria). Theo lời các cụ già trong làng, đó là hai trận cuồng phong kỳ lạ chưa từng có. Đất đá rung chuyển, nhưng không phải động đất, bởi động đất phải xảy ra trên một vùng rộng lớn chứ không phải chỉ trong phạm vi làng. Tuy nhiên, không ai trong làng nhìn thấy gì khác lạ cả. Ngoại trừ Theodona...

Theo sự mô tả của bé gái này, các nhà khoa học phỏng đoán, đó phải là cuộc viếng thăm của những cư dân ngoài trái đất, khi họ sử dụng phi thuyền dạng đĩa bay, có tốc độ rất lớn tương đương tốc độ ánh sáng (300.000 km/s) đáp xuống làng. Theodona kể rằng, "đám người lạ có nhiều hình thù khác nhau, có người giống như người Bulgaria với vóc dáng rất đẹp như thiên thần trong các truyện cổ tích, nhưng không ít người diện mạo dữ dằn như quỷ...".

Nhà khoa học vũ trụ Nga Valentin Phomenko đã sang Bulgaria tìm hiểu về "chuyện của cô học trò nhỏ vùng Shoumen". Sau một thời gian nghiên cứu, ông kết luận: "Bé gái Theodona thật sự có năng lực giao tiếp và nhìn rõ những các sinh vật lạ từ bên ngoài vũ trụ, trong khi những người khác ở Shoumen đã không có khả năng này". Theo Phomanko, điều đó có liên quan đến một năng lực đặc biệt, giúp Theodona đi vào thế giới thế giới 4 chiều đầy bí ẩn, vì vậy em đã nhìn thấy những hình ảnh mà người khác không thấy được".

Theo các nhà khoa học, não bộ của con người không thể tưởng tượng được không gian bốn chiều. Điều đó được giải thích như sau: Bạn hãy tưởng tượng các sinh vật ở không gian hai chiều. Chúng sống trên một mặt phẳng và không biết gì về sự hiện hữu của không gian ba chiều. Vì vậy, mọi di chuyển của chúng sẽ bị giới hạn trên mặt phẳng ấy và không thể tiến vào chiều thứ ba như chúng ta. Nếu một quả cầu lọt vào thế giới đó, các sinh vật hai chiều mới đầu sẽ nhìn một điểm sáng, rồi đến các hình tròn to dần lên, đến mức cực đại, rồi các hình tròn nhỏ dần, thu lại thành một điểm rồi biến mất. Kết quả là, chúng chỉ nhìn thấy những đường tròn mà không hiểu “toàn bộ câu chuyện về qủa cầu” ra sao cả!

Nhưng đôi khi, sinh vật hai chiều cũng có thể đạt tới điều kỳ bí. Ví dụ chúng muốn vượt qua khoảng cách từ A tới B trên mặt phẳng. Theo lẽ thường, thời gian cần thiết lên tới cả chục năm. Nhưng vì một biến cố nào đó, mặt phẳng kia bị cong lại trong không gian ba chiều, khiến điểm A và B trở nên gần nhau, thậm chí trùng lên nhau. Khi đó, điều kỳ diệu đã đến với chúng: khoảng cách chục năm sẽ đạt được chỉ trong phút chốc!

Phomeko giải thích, không gian ba chiều nằm trong cái nôi của không gian bốn chiều. Nếu ai có khả năng xâm nhập vào chiều không gian thứ tư, thì đối với anh ta, khoảng cách hàng vạn dặm, thậm chí hàng vạn năm ánh sáng không có ý nghĩa gì. Anh ta vượt qua trong phút chốc bằng cách đi qua khe hở của chiều thứ 4 này. "Khe hở" đó là biên giới ngăn cách hai thế giới, thế giới của không gian ba chiều và không gian bốn chiều. Đó chính là cơ hội để những sinh vật cấp thấp xâm nhập vào chiều thứ tư, như bé gái Theodona.

Thế Giới Mới (theo Vakrus Sovetta)

DaoKy
13-05-2005, 08:24 PM
BÍ MẬT ẢO GIÁC !

Một lần, bạn đang trả lời một người hỏi đường, thì đột nhiên, hai người lạ mặt khênh một cánh cửa đặt giữa bạn và vị khách. Bạn hơi ngạc nhiên một chút, nhưng sau đó hai kẻ bất lịch sự kia đã vội vã khênh cửa đi. Sau đó, bạn vẫn tiếp tục nói mà không nhận thấy một điều kỳ lạ đã xảy ra…

Người khách hỏi: “Chị thấy gì lạ không?”. Bạn nhăn trán... Hình như bạn cảm thấy có gì đó khác lạ nhưng lại không hiểu là gì. Người khách lại hỏi: “Chị thử nhìn tôi kỹ hơn xem nào!” Bạn nhìn rất sâu vào mắt người khách, rồi bạn để ý tới giọng anh ta nói, tới áo quần anh ta mặc… Hồi lâu… A! Bạn bỗng hét lên. Đứng trước mặt bạn là một người đàn ông hoàn toàn khác chứ không phải người đã hỏi đường bạn… Một lúc sau, người lạ này giải thích cho bạn biết rằng, anh ta là một trong hai người đàn ông khênh cánh cửa và đã tráo đổi vị trí với người khách hỏi đường trong thời gian ngắn ngủi khi họ dừng lại giữa hai người…

Trên đây là một ví dụ tiêu biểu về hiện tượng ảo giác, một hiện tượng kỳ lạ và khó hiểu nhất thường gặp trong thực tế. Người làm thí nghiệm này là Giáo sư Daniel Simons, Đại học Havard, Mỹ. Ông đã tiến hành thí nghiệm này trên hàng trăm trường hợp khác nhau và kết quả thật kỳ lạ: Trên 50% các trường hợp, người chỉ đường vẫn tiếp tục nói chuyện với vị khách hỏi đường đã bị đánh tráo mà không nhận ra điều gì lạ, mặc dù hai nhân vật này hoàn toàn khác nhau, từ hình dáng, giọng nói tới quần áo.

Nhận biết có lựa chọn

Hiện tượng trên còn có tên khoa học là “mù thoáng qua”(change-blindness). Cùng với các kết quả thí nghiệm khác, đầu những năm 90, hiện tượng này dẫn tới một giả thuyết gây ra nhiều cuộc tranh luận dữ dội: Cái chúng ta thực sự nhìn thấy ít hơn rất nhiều so với cái chúng ta tưởng rằng đã nhìn thấy. Điều đó có nghĩa là, chúng ta luôn sống trong ảo giác do niềm tin gây ra. Trong thí nghiệm trên, người chỉ đường luôn tin rằng mình đang nói chuyện với cùng một người hỏi đường, nên hoàn toàn không nhận thấy anh ta có sự thay đổi gì sau khi đã bị đánh tráo.

Ông Simons giải thích: "Nếu bạn quan sát một khung cảnh với những hiện tượng xảy ra trong đó, thường bạn chỉ có thể nhận biết một số chi tiết nhất định. Những chi tiết này sẽ được bổ sung thêm nhờ khả năng nhớ lại hoặc trí tưởng tượng của bạn, để cho ra một hình ảnh tổng quát về cái mà bạn đã nhìn được trong não bộ".

Mắt có vai trò như một ống kính

Trong hệ thống ghi chép và lưu giữ hình ảnh, mắt đóng vai trò như một ống kính video. Nó liên tục quét các hình ảnh để đưa và trung tâm xử lý của não bộ. Tại đây, hình ảnh sẽ được phân tích rất nhanh. Thông tin không quan trọng sẽ bị loại bỏ và chỉ có những chi tiết quan trọng nhất giúp con người ứng xử trong hoàn cảnh nhất định mới đọng lại trong não bộ.

"Nhờ có thể lựa chọn giữa những chi tiết quan trọng và không quan trọng nên con người mới tồn tại được", Triết gia Daniel Dennett đã khẳng định như vậy trong một cuốn sách có tiêu đề "Kiến giải về Ý thức". Theo đó, hình ảnh lưu trữ trong não bộ lâu ngày sẽ chiếm quá nhiều bộ nhớ nên nó chỉ ghi lại những gì đã thay đổi và giả định rằng, tất cả những thứ khác vẫn giữ nguyên như vậy.

Chuyện về một con vượn chạy qua...

Daniel Simons lại tiếp tục làm một thí nghiệm sau để chứng minh rằng, thực tế chúng ta luôn bỏ sót những chi tiết nhất định. Ông cho mời 40 người đàn ông tới xem một trận bóng rổ và yêu cầu họ đếm tất cả các đường chuyền của hai đội. Những người đàn ông đều tập trung hết sức vào các pha chuyền bóng. Đột nhiên xuất hiện một con vượn chạy đi chạy lại qua sân bóng đến 5 giây đồng hồ. Sau đó, Simons đã hỏi tất cả 40 người đàn ông này về con vượn và họ đều trả lời là không nhìn thấy gì cả.

“Thường thì người ta không bao giờ nhìn thấy rừng xanh giữa đám cây cối rậm rạp”, Simons nói. Điều đó đôi khi rất nguy hiểm. Các chuyên gia nghiên cứu giao thông cho biết, phần lớn các tai nạn ôtô đều có liên quan tới hiên tượng "mù thoáng qua". Trong thí nghiệm trên, những người đàn ông chúi mắt vào các quả bóng có thể so với người tài xế đang lái xe chạy trên đường và mải mê nghĩ về một chuyện gì đó, còn con vượn đóng vai người qua đường. Thế là xảy ra tai nạn!

DaoKy
13-05-2005, 08:26 PM
TẢNG ĐÁ BIẾT ĐI

Trên trái đất có những tảng đá bỗng nhiên tự di chuyển khỏi chỗ chúng đã nằm từ lâu. Ví dụ ở bang California (Mỹ), những tảng đá nặng hàng nửa tấn đã thực hiện được những cuộc “dạo chơi” tại đáy hồ cạn Restrake mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào.

Hồ Restrake nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên ở thung lũng Chết, California. Đây là một trong những nơi nóng nhất trên trái đất. Vào năm 1917, nhiệt độ lên tới 50 độ C trong suốt 43 ngày. Các tảng đá di chuyển chậm chạp, đôi khi theo đường zic-zắc, vượt qua hàng chục mét, để lại dấu vết rõ rệt trên nền cát. Chúng không lăn, không quay, mà “trườn” trên bề mặt như có lực vô hình kéo đi. Các nhà khoa học đã nhiều lần tìm cách ghi nhận sự di chuyển của chúng, nhưng không thành công: Người ta không sao chộp được thời điểm mà các tảng đá “du ngoạn”. Song chỉ cần những người theo dõi tránh xa một chút, là chúng lại bắt đầu dịch chuyển - đôi khi đến nửa mét mỗi giờ. Các nhà khoa học đã theo dõi suốt ngày đêm quanh khu vực, nhưng không nhận ra bất cứ ai hoặc cái gì đã trợ giúp chúng.

Điều kỳ lạ với các tảng đá không chỉ xảy ra ở Mỹ. Cách làng Gorodishe (gần Pereslavl-Zalessk, Nga) không xa có tảng đá Sin. Theo truyền thuyết, trong tảng đá này có vị thần ước mơ và mong muốn. Vào đầu thế kỷ 17, nhà thờ địa phương tuyên chiến với đạo đa thần. Cha Anufri, phó tế của nhà thờ, đã cho đào một hố lớn để ném tảng đá Sin xuống đó. Nhưng vài năm sau, tảng đá lại bí hiểm nổi lên. 150 năm sau, chính quyền và nhà thờ ở Pereslavl quyết định đặt tảng đá thần bí dưới đáy móng của tháp chuông địa phương. Người ta đặt tảng đá lên xe trượt và kéo nó trên mặt băng của hồ Plesheev. Băng bị vỡ và tảng đá chìm xuống độ sâu 5 mét. Nhưng chẳng bao lâu, những người đánh cá bắt đầu nhận thấy tảng đá đã thay đổi vị trí. Nó từ từ di chuyển ở đáy hồ. Và 40 năm sau, nó đã bò lên đến bờ ở chân núi Iarilin rồi nằm ở đó cho đến tận bây giờ.

Ở vùng viễn đông của Nga, cách hồ Bolon không xa, có một tảng đá nặng nửa tấn, dạng gần như tròn. Nó được dân địa phương gọi là tảng đá chết. Tuy vậy nó cũng thích “đi du lịch”. Bình thường nó nằm yên một chỗ trong vài tháng, nhưng có khi nó lại đột ngột di chuyển.

Nhưng tảng đá bí hiểm nhất có lẽ là ở vùng Tây Tạng, gần một Phật viện lâu đời. Nó không chỉ đơn giản “đi” được, mà còn nhẹ nhàng “leo” được lên núi. Vì tảng đá này nặng 1.100 kg, nên khả năng “leo núi” của nó là kỳ diệu. Hành trình lên đỉnh núi của tảng đá đã kéo dài hơn 1.000 năm nay. Nó di chuyển theo một tuyến xác định: Ban đầu, nó “leo” lên độ cao nhất định, rồi bò xuống. Cuối cùng, nó di chuyển theo vòng tròn. Thời gian lên và xuống núi của nó kéo dài chừng 15 năm. Thời gian đi theo vòng tròn, 60 km, mất 50 năm. Tảng đá này có tuổi khoảng 50 triệu năm.

Các nhà khoa học trong hàng chục năm đã tìm cách giải thích điều bí ẩn xung quanh những tảng đá. Người ta đưa ra nhiều giả thuyết, trong đó có không ít thứ huyền bí. Một số nhà nghiên cứu cho rằng các tảng đá chuyển động là đại diện của một dạng sống khác. Họ quan niệm cuộc sống hoàn toàn có thể được hình thành từ silic (phần chính của đá). Thêm vào đó, truyền thuyết về các “tảng đá sống” xuất hiện không phải ngẫu nhiên: Những người trồng lúa mì ở Bắc Âu và vùng Baltic cho đến nay vẫn tin một cách nghiêm túc là các tảng đá không chỉ có khả năng di chuyển, mà còn mọc lên được, vì chúng thường xuyên xuất hiện trên các cánh đồng đã dọn sạch.

Cũng có những cách giải thích khoa học hơn về hiện tượng đá lang thang. Một số nhà khoa học cho rằng đó là do ảnh hưởng của địa từ, vì đa số các tảng đá lang thang thường "cư ngụ" ở những nơi có sự bất ổn địa từ mạnh nhất. Tuy nhiên, người ta không hiểu được trường địa từ đã phải lớn thế nào mới chống lại được trường hấp dẫn để bê nguyên được những tảng đá đồ sộ từ chỗ này sang chỗ khác.

Một giả thuyết khác cho rằng, sự di chuyển của các tảng đá là do ảnh hưởng của mưa và gió. Các nhà nghiên cứu khẳng định rằng sở dĩ các tảng đá di chuyển được là do chúng trượt trên nền đất sét khi bị những cơn gió đẩy. Tuy nhiên trong trường hợp các viên đá ở Thung lũng Chết, giả thuyết này tỏ ra bất lực. Thứ nhất, ở đó rất hiếm có mưa. Thứ hai, những vết mà các tảng đá để lại thường ngược với hướng gió thổi.

Năm 1995, một nhóm các nhà địa chất ở bang Massachussets (Mỹ) sau những cuộc nghiên cứu kéo dài ở thung lũng Chết đã đã đưa ra một giả thuyết khác. Theo đó, điều kiện chính để tảng đá di chuyển được là lực ma sát giảm đột ngột. Ở thung lũng Chết thường có sự chênh lệch nhiệt độ ngày - đêm rất cao, dẫn đến sự hình thành, tích tụ nước: Các giọt nước ban đêm đọng lên bề mặt đá và biến thành băng. Bề mặt băng rất trơn, vì thế các cơn gió giật mạnh có thể làm các tảng đá bứt ra khỏi chỗ nằm và di chuyển.

Thế Giới Mới (theo Utro)