PDA

View Full Version : Bửa Tiệc Của Từ Hy Thái Hậu


DaoKy
04-05-2005, 06:19 PM
BỮA TIỆC LỊCH SỬ

Trước sức mạnh quân sự hùng hậu của 8 nước phương Tây cùng liên minh đánh Trung Quốc, Từ Hy Tây Thái Hậu nhà Thanh (Trung Quốc) tự hiểu rằng con đường tốt nhất là dùng ngoại giao để giải quyết. Thái thú Lý Hồng Chương được giao sứ mạng gặp gỡ các sứ thần Tây phương. Mở đầu cho mối giao hảo này, một yến tiệc linh đình nhất đời nhà Thanh được tổ chức vào Tết Nguyên Đán năm 1874 có mời sứ thần nước ngoài tham dự tại Duy An Cung. Thực khách gồm 400 người, thực đơn có 140 món, khai tiệc đúng 12 giờ đêm giao thừa năm 1874, kéo dài đến giờ Tý đêm mồng 7 Tết, chi phí 98 triệu hoa viên Trung Quốc, tương đương 374 ngàn lượng vàng, được chuẩn bị trước 11 tháng 6 ngày, cần đến 1750 người phục dịch. Ngay từ rằm tháng 2 năm Quý Dậu (1873), mỗi tỉnh Trung Quốc được lệnh cử 10 đầu bếp xuất sắc nhất về kinh đô hội ý thảo thực đơn. Sau gần hai tháng hội ý, các đầu bếp đã thống nhất một thực đơn gồm 140 món, trong đó có 7 món cực kỳ đặc biệt . Trong 7 ngày đêm yến tiệc ấy, mỗi ngày chỉ dùng 1 món.

Quan khách nhận được thiệp mời ngay từ 23 tháng Chạp năm 1873, gồm 212 vị trong phái đoàn bát quốc liên minh nước ngoài cùng 188 công thần được tuyển chọn của triều Thanh. Đêm 30 Tết, tất cả tề tựu tại Duy An Cung, cùng lúc ấy, Thái Hậu Từ Hay dự lễ Trừ tịch ở Tôn Long Miếu. Sau 3 hồi chiêng trống long phụng vang lên, là hồi khánh ngọc báo tin Thái Hậu xuất cung. Quan khách đồng loạt đứng dậy hướng về long kiệu - nơi Tây Thái Hậu ngự - do 8 vệ sĩ lực lưỡng khiêng. Lý Hồng Chương khom mình tới vén rèm long kiệu. Thái Hậu Từ Hy khẽ lách mình ra, gật chào quan khách. Thái Hậu rực rỡ trong chiếc áo bào đỏ, có thêu rồng vàng uốn khúc, đầu đội mũ bình thiên, đến chỗ ngồi, phẩy nhẹ phất trần mời quan khách an toạ. 3 hồi chiêng trống vang lên, thay mặt triều đình nhà Thanh, thái thú Lý Hồng Chương phát biểu ý kiến về ý nghĩa buổi tiệc nhằm thắt chặt tình hữu nghị giữa nhà thành với các nước phương Tây. Thay mặt 8 nước, sứ thần nước Anh đáp từ. 3 tiếng ngọc khánh báo hiệu đại yến bắt đầu. Quan khách ngồi cách nhau khoảng thước tây. Sau lưng mỗi người có 2 nô tỳ nam và nữ phục dịch. Món ăn thứ nhất được dọn lên.

Cứ ăn hết một món, nhạc lại tấu lên một bản. Dùng đúng 5 món, thực khách được uống một chén rượu thuốc nước có tác dụng tiêu thực. Rượu đãi khách cũng là rượi đại bổ. Nhà bếp dọn lên mỗi ngày 20 món, trong đó có một món đặc biệt nhất như đã nói trên. Cứ mỗi lần dùng một món mới là Thái Hậu lại gõ ngọc khánh, một viên nội giám lại vòng tay xướng tên món ăn.

BẢY MÓN ĂN ĐẶC BIỆT TRONG BỮA TIỆC CỦA TỪ HY THÁI HẬU

1 :Cỏ Phương Chi

Cỏ Phương Chi mọc trên đá, mở ngọn núi Thái Hàng. Cỏ này chỉ vào những năm nhuận mới mọc, mọc một lần trong năm ấy, vào ngày Trung thu, sống rất ngắn ngày (khoảng từ 1 tháng đến tháng rưỡi), gặp phải ngọn gió bắc đầu mùa là khô héo liền. Muốn lấy cỏ, trước đó một ngày phải dắt lên núi một con ngựa đực trắng tuyền. Mặt trời vừa mọc, dẫn ngựa tới phiến đá có cỏ, đợi ngựa ăn xong, chém ngựa chết ngay, sau đó, mổ bụng lấy dạ dày đem về chế thuốc, phơi khô. Tương truyền, cỏ này mát, trừ bách bệnh. Trong bữa tiệc đãi khách, cỏ Phương Chi được nấu với Long Tu, người ăn vào sẽ sảng khoái tinh thần, suốt cả tháng không thấy mệt mỏi.

2: Chuột Bao Tử

Chuột đồng được bắt về nuôi cho ăn toàn gạo trộn trứng gà và các vị thuốc bổ, uống nước sâm và lê ép. Mỗi ngày chuột được tắm rửa 2 lần bằng nước trầm thơm và dầu hương liệu hảo hạng. Món chuột bao tử lấy từ lứa con, cháu của các con chuột trên. Đầu bếp rất khéo, bọc chuộc bên ngoài bằng lớp bột như bánh bao, khi người ăn đưa bánh lên miệng sẽ nghe được tiếng kêu của chuột còn sống bên trong. Món này bổ tì, vị, bổ mắt. Trong bữa ăn, sứ thần Bồ Đào Nha đành khiếm lễ từ chối món này khi thấy đuôi chuột ngọ nguậy trong miệng sứ thần các nước bạn.

3: Tinh Tượng

Nhà bếp lựa chọn những tai yến to, tốt tại bờ biển phía Nam, nấu với nước nhân sâm và đường Cao Ly. Sau đó nhồi bột phấn Kiết Châu với nước lê Vân Nam, nấu khô lại, nặn thành từng hình voi nhỏ, bỏ vào lò nung chín, cứng đặc lại. Người ta khoé trên lưng các con voi ấy một lỗ nhỏ cho vừa một bong bóng cá đã ngâm thuốc bắc phơi khô nhét vào được. Tượng tinh (khí voi) được bỏ vào bong bóng cá này, đem đi hấp. Trong bữa tiệc, quan khách lấy kim vàng chọc thủng rồi cho chất ấy chảy vào chén bạc mà uống. Món này bổ lục phủ ngũ tạng, trị dứt các chứng nhức mỏi.

4: Trứng Công

Công làm nem đã là món quý, món trứng chim công lại càng quý hơn vì khó lấy được trứng công (khó gần ổ trứng vì công sẽ chống cự dữ dội để bảo vệ trứng, nhiều khi công phá vỡ ổ trứng, không cho người lấy). Muốn đãi khách món này, cần 100 con khỉ được huấn luyện để trộm trứng công. Kết quả thu được 500 trứng đãi khách, nhưng khỉ chết mất một phần ba.

5: Óc Khỉ

Gần núi Thiên Hoa ở Sơn Đông có rừng lê được gọi là Lê Ngọc Căn, trị được các bệnh cam, thận, nhiệt uất, ho kinh niên. Rừng lê này bị một bầy khỉ ở đó chén sạch, vì vậy thịt khỉ ở đây thơm, ngon, đại bổ, ăn vào trị được bệnh bán thân bất toại. Tương truyền óc khỉ này lại bổ hơn cả. Số khỉ Thiên Hoa Sơn đem đãi khách là 80 con, toàn loại choai choai, chưa thay lông, cứ 5 người ăn một bộ óc khỉ. 80 con khỉ này được tẩm bổ hàng ngày. Trước giờ đãi khách, mỗi con khỉ trên được đặt vào một lồng nhỏ - trông giống như cái trống con - có thể mở, khép dễ dàng, một đầu khoét lỗ vừa đủ cho đầu khỉ ló lên được; lồng có gông đặc biệt để khỉ không nhúc nhích được. Khi ăn, người phục dịch cầm chiếc chày ngà giáng xuống đầu khỉ, cái đập này đã được luyện tập, đủ khiến con khỉ chết ngay, không kịp kêu lên một tiếng. Sau đó, rưới nước sâm nóng lên đầu khỉ để óc tái đi một chút. Quan khách sẽ dùng muỗng bạc múc óc khỉ ra ăn.

6: Heo Sữa Phúc Châu

Vùng Phúc Châu (Trung Quốc) có giống heo quý, thịt thơm, ngon, chuyên ăn một loại củ (giống như củ Hoành Tinh) mọc ở đồi Châu Tịch Xương. Bữa tiệc đãi khách gồm 100 con heo sữa, là giống heo 2 tháng của giống heo Phúc Châu này. Những con heo đó được đập chết (không chọc tiết, làm lông), thui qua một lượt cho chóng hết lớp lông. Xong, mổ bụng bỏ hết ruột gan rồi ướp các loại thuốc bổ quý trong 3 ngày, đem chưng cách thủy. Lúc ấy thịt heo vô cùng thơm ngon, xương rất mềm.

7 :Sơn Dương Trùng

Được lệnh của Tây Thái Hậu, các thợ săn Hồ Bắc - sau gần một tháng lặn lội rừng sâu núi thẳm - bắt được 6 con dê núi đang có chửa tại một cánh rừng vùng Thiên Tân. Đàn dê này được chăm sóc cẩn thận, hàng ngày ăn toàn cỏ Vân Nam và Quảng Tây tải về. Đây là cỏ "Đông trùng hạ thảo", loại cỏ quý, là vị thuốc bổ can thận (cỏ này mùa hạ mịn màng, đến mùa đông, từ ngọn cỏ xuất hiện một loại sâu như sâu dâu, ăn rất bổ). Ăn cỏ quý này, lại ăn thêm các lá cây thuốc bổ khác, 6 con dê núi ngày càng mập mạp, đẻ ra lứa con cũng mạnh khoẻ, to lớn hơn so với đồng loại. Dê con này vừa đúng 2 tháng tuổi, được chọn lấy 14 con giao cho nhà bếp làm lông, moi ruột. Sau đó, chúng được ngâm vào thùng gỗ to đựng nước gừng và rượu quý. Sau ngày thứ 2, dê được vớt ra bỏ vào bể bằng sứ chứa sữa dê tươi và nước sâm nhung. Tiếp 2 ngày ngâm nữa, người ta lấy hoa sen trắng (đã được tách nhánh hoa và ghim kim vàng xuyên từ hương sen đến cuống hoa) cắm đầy mình dê. Để vậy, ngâm đến ngày thứ 10 (đúng hôm mông 7 tiệc tàn), xuất hiện những con trùng trắng muốt đầy trong hoa sen. Nhà bếp nhặt lấy trùng sơn dương này chế biến thành món ăn, có tác dụng bổ, khoẻ, trị các bệnh lao phổi, tê bại, bán thân bất toại.

DaoKy
04-05-2005, 06:21 PM
NHỮNG ĐIỀU KỲ DỊ CHƯA ĐƯỢC TIẾT LỘ


Chuyện không thể ngờ là vào khoảng trên 33 thế kỷ trước, một đứa bé chỉ ngồi trên ngai vàng, cai trị được vài năm thì bệnh chết. Cậu bé con lên ngôi vua này, ngồi ngai vàng quá ngắn hạn, nên không tạo được lịch sử nào quan trọng cho Ai Cập được hết và cùng là lịch sử loài người luôn.

Mọi chuyện đó, chuyện vừa nói trên của ông vua con... tất cả thay đổi hết khi vào năm 1923. Năm 1923 Thế giới lấy làm kinh ngạc khi toán khảo cổ người Anh, đào xới từ ngôi mộ của Pharaoh (Vua) Tutankhamen, mà chúng ta gọi là King Tut.

Rồi nhiều chuyện kỳ dị xảy ra. Những người đào mồ lần lần chết trong vài tháng sau, với nhiều chứng bệnh không hiểu nổi. Thân thể nóng cao độ, lảm nhảm và chết vài giờ sau đó. Y khoa bó tay... nên người ta mới có lời nói như sau: "Đó là lời nguyền của Pharoah".

Như cô thư ký ghi chép những tư trang của King Tut, cô có đứa con trai dễ thương đang học mẫu giáo trong trường thình lình té xuống chết trong lớp học, giữa sự kinh hoàng của cô giáo và bạn học. Tại bảo tàng viện Cairo, một người lao công ráng dời cái hòm đựng King Tut cho ngay ngắn mà chùi những vết ố gần đó thì sau ngày làm ông bị chiết xe buýt Cairo chạy ngang đụng ông chết, lúc ông băng ngang đường.

Sau đó độ hai năm, khảo cổ người Anh cũng đào được trong ngôi mộ Luxor tại Aicập. Một cái hòm rất đẹp, trong đó đựng xác một công chúa mà người ta đọc được tên là Amen-Ra (Princess of Amen-Ra). Nhưng lúc đó người ta chỉ chú trọng đến Vua Tut mà thôi, còn hòm nhỏ công chúa Amen-Ra thì người ta không để ý lắm. Tại Ai Cập có một người Anh làm Trưởng phòng bảo hiểm cho công ty Bảo hiểm Llyod Ltm, một người Anh làm Giám đốc Ngân Hàng London Banks Ltm, một người kia thì con quận công tại York Shire Anh quốc, còn người chót thì con của vua trường đua ngựa tại London. Có nghĩa là bốn người Anh này rất giàu. Họ nghe bảo tàng viện Ai Cập có bán đấu giá một số cổ vật, mà chánh phủ Ai Cập xem không quan trọng cho công chúng. Lúc đó tại Ai cập, người Anh đang kiểm soát, cầm quyền nước Aicập, y như tại Việt Nam người Pháp đang cai trị chúng ta vậy. Bốn người Anh trẻ này bỏ một số tiền mua được cái quan tài có được xác công chúa Amen-ra. Thì trong vòng hai tuần lễ tai nạn xảy ra lập tức. Người làm tại bảo hiểm Llyod Ltm bị một con rắn hổ cắn vào tay khi anh vào thăm sở thú Ai Cập. Không hiểu tại sao trong bụi rậm kế nơi ghế anh ngồi, một con rắn hổ thật to bò đến cắn một phát vào bàn tay. Anh chết sau đó vài phút. Nhân viên sở thú Ai Cập rất ngạc nhiên tại sao con rắn hổ từ trong chuồng nuôi rắn nơi xa mà bò ra được? Nó vượt qua nhiều phòng kính rồi leo ra vách tường cao? Không ai giải thích được chuyện con rắn hổ bò ra khỏi chuồng nuôi rắn cho dân chúng xem? Nhưng anh này chết vì rắn hổ là chuyện có thực.

Còn một người Anh kia thì ngân hàng anh đang làm bị phá sản vào vài tháng sau, vì hãng anh cho mượn tiền rất nhiều cho một hãng tàu buôn bán từ London sang Aicập. Hãng tàu này bị phá sản kéo theo ngân hàng của anh. Anh này tự vận vì nợ quá nhiều. Còn chủ trường đua ngựa thì trận hỏa hoạn lớn nhất thời đó, tiêu hủy toản bộ gia sản, chuồng ngựa quý của gia đình này đều ra tro.

Nhưng người chót, họ biết câu chuyện nguyền rủa này bèn chở quan tài công chúa Pricess Amen-ra tặng bảo tàng viện Anh quốc (British Museum).

Và câu chuyện cũng theo sau đó. Chiếc xe chuyên chở quan tài công chúa từ nhà kho của người Anh, người mà cho bảo tàng viện Anh. Chiếc xe này có chở quan tài công chúa trên đó, thì một nhân viên trong hai nhân viên khiêng quan tài vấp bậc thềm, quan tài công chúa đập mạnh vào xương ống quyển nhân viên, làm gãy chân tên này tại chổ. Còn người khiêng kia, sau đó ba hôm người ta thấy chết tại góc đường thủ đô London, ngực bị đâm bởi một con dao. Cảnh sát London cho rằng anh bị ăn cướp chận đường và đâm chết khi anh không móc bóp đưa cho tên cướp. Còn nữa...

Người lính gác bảo tàng viện Anh quốc, đêm khuya nghe trên lầu có tiếng động khả nghi thì anh rọi đèn bước lên, anh vào căn phòng có chứa quan tài công chúa thì anh thấy cửa sổ mở ra, anh nghi kẻ gian mở cửa leo vào phòng. Anh thận trọng bước đến và rọi đèn ra ngoài khung cửa và anh té lọt ra ngoài khung cửa... té xuống đường nhựa từ trên lầu bảo tàng viện. Anh chết sau đó khi đến nhà thương. Anh lẩm bẩm: "người ta xô tôi, người ta xô tôi..." rồi anh chết trong nổi kinh hoàng đọng trên gương mặt.

Năm 1912 bảo tàng viện Anh quốc thấy quan tài nhỏ công chúa Amen-ra này không hấp dẫn du khách hay công chúng đến xem nên họ cất vào phòng sau. Rồi sau đó người ta rao bán quan tài này trên báo Telegraph-London hàng tháng trời. Không người nào mua quan tài này làm chi. Một quan tài, trong đó có xác ướp khô đét mà đầy lời nguyền. Trong khi đó báo chí Anh quốc đăng tải nhiều chuyện kinh sợ có liên quan đến quan tài King Tut nhiều hơn mọi chuyện khác. Nhiều nhà báo không việc gì làm, họ cố gắng nặn thêm nhiều tin ma quái... và không ăn nhập tình tiết liên quan đến King Tut.

Năm 1912 bảo tàng viện Anh bán quan tài Princess Amen-ra. Có người mua. Một người Mỹ, gia đình rất giàu chuyên về nghề đầu tư chứng khoán tại New York. Anh cho chở quan tài này xuyên Đại tây Dương (Alantic Ocean), dĩ nhiên bằng Tàu biển. Anh cùng đi chúng chuyến hàng đó với anh cùng 1500 người đó. Chuyến tàu đó mang tên là Titanic. Titanic không bao giờ tới New York mà giao quan tài Princess Amen-ra và người chủ qua tài cũng vậy. Tất cả chôn vùi dưới đáy đại dương sâu thẳm.

Lý lịch chiếc Tàu Định Mệnh – Titanic:

Gross Tonnage: - 46,239 tons

Dimensions: - 259.83 x 28.19 m (852.5 x 92.5 ft)

Ống khói: 4

Cấu tạo: Thép

Cánh quạ: 3 ánh quạt

Máy: 4 máy đẩy

Tốc độ: 25 knots

Hãng đóng tàu: Hartlands & Wolf, Belfast

Ngày hạ thủy: 31 May 1911

Phòng ngũ: Hạng nhất: 1034 , hạng nhì: 510 , hạng ba: 1022

Ngày 2 tháng 44 năm 1912, Tàu chạy thử tại Irish Sea. Thành công. Thuyền trưởng Smith là người đầy kinh nghiệm. Ông từng điều khiển tàu Olympic. Ông có bằng thuyền trưởng cao nhất: Extra Master’s Certificate. Mà lúc đó trên thế giới có 3 người đoạt được mà thôi. Do Hải quân Hoàng Gia chứng nhận.

Ngày 10 tháng 4 Titanic nhổ neo vào trưa.

Tàu hướng về Canada (Greenland). Khi Titanic hướng về gần vùng băng giá thi Tàu nhận nhiều điện tín của các tàu nhỏ chạy trên con đường hải hành đó: “Coi chừng có nhiều băng tảng trôi khá nhiều”. Nhưng điện tín này không nhận được vì Titanic vừa bị hư máy telegraph ngày hôm trước, Kỹ sư điện đang cố gắng sửa chữa gần xong.

Thuyền trưởng cảm hấy hơi bất an trong lòng, vì nước biển có phần đổi màu, nhiệt độ nước biển hơi cao nên có thế có băng trượt... Ông ra lệnh đổi hướng về Corner (hướng mà các Tàu thường đi về New York), ông hướng sâu về Nam mà ông hy vọng sẽ không gặp băng tuyết icebergs đang trôi nổi khắp nơi. Chiều thì nhiệt độ nước biển hạ xuống lạnh hơn 10 độ. Ông ra lệnh tất cả thủy thủ phải ráng canh chừng băng trôi. Ông cho tàu chạy 22 knots/ giờ. Lý do là ông hy vọng bắt kịp thời gian mất vì Tàu phải xuôi về miền Nam.

Phòng Truyền Tin các kỹ sư điện cho biết máy điện tín sửa xong. Các kỹ sư hân hoan lui về phòng nghỉ, có người xuống Câu lạc bộ mà uống một chút rượu cho ấm lòng và ăn một chút gì.

Lúc 9:40 Tối, một điện tin từ ø tàu Mesaba chạy nơi xa, đánh một điện tín cho Tàu Titanic là có một tảng băng rất lớn mà họ chưa từng thấy. Tảng băng này đang nằm trên con đường chờ tàu Titanic.

Bức điện tín được Titanic nhận. Philips người nhận điện tín, máy chạy từ máy điện tín sửa xong, nhưng người phụ tá công văn vừa xuống ca gác, mà người mới thay thì còn đang ăn cơm tối chưa lên kịp. Philips để bức điện tín trên khay sắt, xếp chung với một đống điện tín của khách hàng chờ gởi. Lý do máy điện tín bị hư cả một ngày, nên nhiều điện tín khẩn bị xếp đống. Philips hy vọng người phụ tá công văn ăn cơm tối xong thì sẽ trao điện tín riêng của Tàu Titanic cho thuyền trưởng trên phòng lái. Bức điện tín đó: “Tảng băng đang trên con đường Titanic đến, hãy đổi hướng gấp – Mesaba.”

Đến 11 giờ khuya, chiếc tàu mang tên Californian cách tàu Titanic trên con đường không xa lắm... Tàu Californian báo động cho Titanic đừng chạy vào hướng đó nữa vì có tảng băng vô cùng lớn cao hơn tàu California đang trôi về Titanic. Sa mù càng lúc càng nhiều trên mặt biển, lúc đó trên tàu Titanic, thuyền trưởng Smith đang cho máy vô tuyến hướng về mũi Cape Race... nên không bắt trúng tần số ngắn của Tàu Californian đang nói trên máy vô tuyến cho Titanic. Có nghĩa là lần báo động bằng lời nói của tàu Californian đang trên con đường hải hành chung với Titanic. Tàu Titanic hoàn toàn không để ý đến lời kêu gào của tàu nhỏ California.

Đến 11: 40 khuya thì toàn thể hành khách cùng thủy thủ đoàn Titanic kinh hoàng khi thấy một tảng băng vô cùng lớn mà đời họ chưa thấy, trôi lần lần đến Tàu. Thuyền trưởng Smith ra lệnh cho giảm tốc độ, tảng băng trôi chầm chầm ngang hông tàu, nếu có người cầm cần câu cá thì có thể vói đụng tảng băng. Thuyền trưởng Smith hy vọng hình dạng chiếc tàu Titanic thuôn thuôn luồn sẽ làm tảng băng lướt mà không đánh mạnh vào hông tàu. Tảng băng trôi rất chậm, mọi người lấy lại hơi thở vì tảng băng đang ở ngang hông không đâm thẳng vào hông tàu.

Bỗng một thủy thủ dưới hầm chạy lên: "Thuyền trưởng, một lổ thật lớn nước trào vào nơi để hàng hóa..." Thuyền trưởng Smith ra lệnh đóng mọi cửa thông đến kho để hàng hóa chận nước trào vào. Kho chứa hàng hóa này có chứa một quan tài của công chúa Amen-ra Aicập chờ đến New York. Nghĩa là từ nơi này một lổ hổng thật lớn thình lình tét ra đề nước bên ngoài trào vào.

Lỗ hổng thật lớn nơi kho chứa hàng hóa (kho hành lý) xé tét bằng 2 phòng ngủ không thể đóng cửa chận được. Thuyền trưởng Smith ra lệnh hạ thủy mọi tàu nhỏ gọi là: "life boat". Nhưng chỉ đủ chỗ cho phân nửa người trên Titanic mà thôi.

Đến 12:15 khuya. Điện tín từ Titanic đánh vang khắp trời: “CDQ” (Come Quickly, Distress – Tới gấp, tuyệt vọng). Đến 12:45 Tàu Titanic đánh một công điện chót S.O.S (Save our Soul – Hãy cứu lấy linh hồn).

( Theo Đại Chúng Corp. News )

DaoKy
04-05-2005, 06:28 PM
Trực giác đến từ đâu?


Tại một bệnh viện ở Zimbabwe, một phụ nữ 30 tuổi đang nằm trên băng ca chờ được đưa vào phòng mổ, tình cờ nữ bác sĩ Rebecca Bingham đi ngang qua. Mặc dù chưa từng gặp cũng như đọc bệnh án của bệnh nhân này, Bingham bỗng có một cảm giác bất an, một sự thôi thúc bí ẩn buộc chị phải kiểm tra tim người bệnh.

Áp ống nghe vào ngực bệnh nhân, chị nhận thấy dấu hiệu của chứng hẹp van hai lá, một tình trạng có thể gây ra biến chứng trong quá trình gây mê để phẫu thuật. Chị lập tức báo động với các bác sĩ đang chuẩn bị ca phẫu thuật và họ quyết định hoãn lại. Các cuộc xét nghiệm kỹ lưỡng sau đó xác định những điều Bingham nói là đúng. Tuy nhiên khi được hỏi do đâu mà chị nhận định được điều đó, Bingham trả lời đơn giản đó là một linh cảm.

Bên dưới vùng ý thức
Trong cuộc sống của chúng ta, những linh cảm như của bác sĩ Bingham xuất hiện khá nhiều, đôi khi vượt ngoài tầm chú ý của mọi người. Nhiều nhà tâm lý học, trong đó có tiến sĩ Timothy D. Wilson, giáo sư Đại học Virginia và là tác giả cuốn Strangers to Ourselves (Những kẻ xa lạ với chính mình), tin rằng linh cảm là sự gợi nhớ từ một miền vô thức. Đây không phải là lĩnh vực của những ký ức bị dồn nén hay những cảm xúc nguyên thuỷ như trong lý thuyết của Freud, mà là một cơ chế trong não có tác dụng điều hành các thông tin về cảm giác, phân loại chúng, tìm ra các nguyên cớ, phán đoán về con người và tác động lên cảm xúc cùng những cách ứng xử vượt ra ngoài tầm ý thức của chúng ta.

Theo tiến sĩ Gary Klein, tác giả cuốn Intuition at work (Trực giác hoạt động), chính những năng lực tiềm tàng của tri giác là điều mà người ta thường gọi là khả năng “nhìn thấy cái vô hình”. Trong trường hợp của Bingham, sự bí ẩn nằm bên dưới bề mặt ý thức. Kinh nghiệm công tác tại châu Phi mách bảo cho chị biết rằng chứng hẹp van hai lá ở châu lục này có tính phổ biến hơn ở Mỹ. Cũng như Bingham, hầu hết trong chúng ta đều có một trực giác chính xác xuất phát từ một nơi nào đó. Chúng thường được gọi là “những loé sáng đầy bí ẩn của linh cảm”, “tri giác ngoại cảm”, “bản năng loài vật” hay “giác quan thứ sáu”…

Tiến sĩ Klein luôn chú tâm đến năng lực tiềm tàng của trực giác. Ông dành thời gian nghiên cứu hành vi của những người mà nghề nghiệp buộc họ phải đưa ra quyết định tức thì và có tính sinh tử như lính cứu hoả, y tá cấp cứu hay lính trận. Trong một cuộc phỏng vấn, một trung uý cứu hoả miêu tả chính giác quan thứ sáu đã cứu sống anh cùng đồng đội. Khi vào một ngôi nhà để dập tắt lửa phát ra từ một căn bếp, họ luôn bị ngọn lửa đẩy ngược trở lại. Đây chỉ là một vụ cháy nhỏ nhưng căn bếp lại nóng khủng khiếp. Viên trung uý có cảm giác mối nguy hiểm nghiêm trọng đang gần kề, vội ra lệnh cho thuộc cấp rời khỏi ngôi nhà. Khi họ vừa ra đến đường thì nền căn nhà sụp xuống; nếu còn ở lại, họ sẽ rơi vào chính tâm điểm của ngọn lửa đang sôi sục bên dưới.

Phân tích trường hợp trên, Klein cho rằng linh cảm của viên trung uý cứu hoả thực ra chỉ là một sự hồi ức của tiềm thức. Ngọn lửa không bị dập tắt, căn phòng quá nóng chính là những hồi chuông báo động trong tiềm thức của viên sĩ quan. Chính tiềm thức này gợi nhắc đến một trường hợp có những điều kiện tương tự cũng gây ra sự sụp đổ của khối kiến trúc mà anh từng trải qua (nhưng không nhớ) và lệnh rút khỏi ngôi nhà của anh xuất phát từ một mệnh lệnh của tiềm thức. Trong quá trình nghiên cứu, Klein đã nghe nói đến nhiều trường hợp tương tự. Các phi công, y tá cấp cứu và nhiều thành phần nghề nghiệp khác kể rằng trong tình huống khẩn cấp, họ không có điều kiện chọn lựa hay đưa ra một quyết định có ý thức. Họ buộc phải hành động theo một tri giác ngoại cảm nào đó. Trong một tiến trình như vậy, dù là khẩn cấp để đối phó với tình thế, trực giác con người thường có hai bước hoạt động: Trước tiên, nó nhanh chóng phân biệt các ký ức, tìm một mẫu ký ức quen thuộc để dẫn dắt chúng ta và sau đó, khi chúng ta đi theo một phương án đã xảy ra trong một tình huống tương tự trước đây, tiềm thức sẽ chú trọng đến những điều kỳ quặc và bất ngờ nhất.

Những tín hiệu của cơ thể
Ngay cả khi không ở vào tình thế khẩn cấp, hệ thống “radar” trong cơ thể của chúng ta cũng luôn phát tín hiệu báo động khi có những dấu hiệu đe dọa sự an toàn cho bản thân hay người thân. Chẳng hạn trường hợp cô bé Annie, con của chị Leah Ingram. Tuy mới 5 tuổi nhưng Annie rất hiếu động. Vì vậy, chuyện cô bé trở về nhà sau một buổi học với những vết trầy xước trên người do chơi đùa cùng chúng bạn là chuyện thường tình. Một buổi sáng nọ, Annie báo cho mẹ biết là đang bị đau bụng nên không thể đi học được, trực giác báo cho Igram biết là có điều gì bất thường đã xảy ra với cô bé. Chị dỗ dành Annie và phát hiện cô đã bị một bạn học đấm mạnh vào bụng trong buổi học trước.

Một cuộc nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc trường Y của Đại học Iowa (Mỹ) cho thấy cơ thể chúng ta thông minh hơn chúng ta tưởng. Trường hợp của George Soros, nhà tỷ phú được tạp chí Forbes xếp hạng 38 trong số những người giàu nhất thế giới năm 2003, là một. Theo tiết lộ của chính Soros, ông dựa phần nhiều vào bản năng để quyết định đầu tư bạc tỷ. Mỗi khi lưng của Soros bắt đầu nhói đau là tín hiệu cho biết có một điều gì đó không thuận lợi trong quyết định đầu tư chuẩn bị được đưa ra, nhờ vậy mà nhiều lúc ông tránh được nhiều trường hợp thua lỗ.

Đọc tín hiệu trên gương mặt người khác
Nhiều lúc chính trực giác hay linh tính giúp chúng ta nhận định một tình thế không nguy hiểm như ta tưởng. Một bữa nọ, anh John Yarbough thuộc sở cảnh sát Los Angeles đi tuần tra và dừng một chiếc xe lại để kiểm soát như thường lệ. Khi anh đến gần, tài xế là một thiếu niên vụt bước ra với một khẩu súng lăm lăm trong tay. Họ đang ở cách nhau không đầy 2 mét và Yarbough chỉ có một nháy mắt để phán đoán ý đồ của gã tài xế. Trên nguyên tắc, trong tình huống này, anh có quyền bắn hạ y, nhưng vì một lý do nào đó, anh đã không làm thế. Kết cục cho thấy trực giác của anh là đúng. Chỉ sau một thoáng chạm mặt, gã tài xế đã buông súng đầu hàng.

Nhiều năm sau, khi tham gia truy lùng tội phạm, Yarbough mới có điều kiện tìm hiểu tại sao anh đã không nổ súng trước, trong khi bản năng sinh tồn thôi thúc anh làm điều đó. Qua kết quả nghiên cứu của tiến sĩ Paul Ekman, tác giả cuốn Emotions revealed (Những cảm xúc được phát hiện), Yarbough mới biết rằng trong cuộc đối đầu chớp nhoáng kể trên, anh đã vận dụng kỹ thuật “đọc gương mặt” đối thủ mà không biết. Chính trực giác căn cứ vào nét mặt của gã tài xế đã bảo với anh rằng gã sẽ không bắn anh trước. Khả năng này, mỗi chúng ta đều có với những mức độ khác nhau. Chúng giúp ta đánh giá chính xác những biểu hiện nhỏ nhất trên gương mặt người đối diện. Đó có thể là những cảm xúc mạnh mẽ có khi chỉ xuất hiện trong 1/4 giây, nhưng cũng đủ thể hiện cảm nghĩ thực của chủ nhân ngay cả trong trường hợp đương sự cố tình che giấu chúng.

Trở lại trường hợp của bác sĩ Bingham, chị cho rằng linh cảm của chị thường xuất hiện trong một số lần chẩn đoán kỳ lạ. Có lần chị phát hiện bệnh ung thư phổi ở một bệnh nhân đến khám bệnh thông thường. Ở bệnh nhân này không có triệu chứng nào rõ rệt, nhưng linh tính mách bảo Bingham rằng cần chụp X quang lồng ngực của bệnh nhân. Nhờ vậy mà chị phát hiện ra khối u mới khởi phát của người bệnh, giúp cho việc điều trị trở nên dễ dàng hơn.

(Theo Reader’s Digest)

DaoKy
04-05-2005, 06:33 PM
Tàng hình có phải là chuyện hoang đường?


Trong cuốn tiểu thuyết “Người tàng hình” của nhà văn Anh Oenxo, nhân vật chính - một nhà vật lý học thiên tài - đã khám phá ra một phương pháp có thể biến thân thể người ta thành vô hình. Dưới đây là những điều mà ông ta trình bày với một bác sĩ về phát minh mới của mình...

“Sở dĩ chúng ta nhìn thấy một vật là do vật đó có thể tác dụng được với ánh sáng. Chắc bác biết rằng vật thể hoặc hấp thụ ánh sáng, hoặc phản xạ hay khúc xạ ánh sáng. Nếu như vật thể không hấp thụ mà cũng không phản xạ hoặc khúc xạ ánh sáng, thì nó không thể tự làm cho ta nhìn thấy được. Thí dụ, bác sở dĩ nhìn thấy cái hòm màu đỏ không trong suốt kia là do lớp sơn màu đỏ hấp thụ một phần ánh sáng và phản xạ (khuếch tán) những tia sáng còn lại. Nếu như chiếc hòm không hấp thụ một phần ánh sáng nào cả, mà phản xạ toàn bộ, thì qua con mắt của chúng ta, nó sẽ là một cái hòm trắng chói loà, tựa như làm bằng bạc vậy. Hòm thủy tinh ít sáng hơn, qua con mắt của chúng ta, nó không rõ ràng như cái hòm sáng bóng, bởi vì sự phản xạ và khúc xạ ở thuỷ tinh tương đối ít. Nếu đặt tấm thuỷ tinh trắng thông thường vào trong nước, hơn nữa, nếu đặt nó vào trong một chất lỏng nào đó có khối lượng riêng lớn hơn khối lượng riêng của nước thì nó hầu như hoàn toàn mất hẳn, bởi vì ánh sáng xuyên qua nước rọi vào thuỷ tinh bị khúc xạ và phản xạ rất yếu. Thủy tinh đã trở thành không nhìn thấy được, giống như một dòng khí carbonic hoặc hydro trong không khí vậy.

- Đúng - Kemper, người thầy thuốc, nói - Những điều đó đều đơn giản. Ngày nay, các học sinh đều hiểu rất rõ.

- Đây còn một sự thực nữa mà mỗi học sinh cũng đều biết. Nếu nghiền nát một miếng thủy tinh thành bột, trong không khí, nó trở thành rất dễ nhìn thấy - nó trở thành những bột trắng không trong suốt. Sở dĩ như thế là vì, nghiền nhỏ thủy tinh tức là làm tăng những mặt gây ra phản xạ và khúc xạ của thủy tinh. Tấm thủy tinh chỉ có hai mặt, nhưng mỗi hạt thủy tinh thì đều có thể phản xạ tia sáng đi qua nó, cho nên tia sáng có thể xuyên qua nó rất ít. Nhưng nếu thả thủy tinh trắng đã nghiền nhỏ vào trong nước, thì nó lập tức biến mất. Thủy tinh đã nghiền nhỏ vào nước gần giống như có cùng chiết suất, do đó làm cho ánh sáng phản xạ và khúc xạ rất ít lúc đi từ nước vào thủy tinh hoặc ngược lại.

Đặt thủy tinh vào trong bất kỳ một chất lỏng nào đó có cùng chiết suất với nó, anh sẽ không nhìn thấy được nó: tất cả những vật trong suốt đều trở nên không nhìn thấy được, nếu ta đặt nó vào trong một môi trường có cùng chiết suất với nó. Hiểu được điểm đó, anh chỉ cần suy nghĩ một chút là có thể tin chắc rằng chúng ta cũng có thể làm cho thủy tinh trở thành không nhìn thấy ở ngay trong không khí: nghĩ cách làm cho chiết suất của thủy tinh bằng chiết suất của không khí. Bởi vì, lúc ấy, ánh sáng đi từ thủy tinh vào không khí sẽ không bị phản xạ và càng không bị khúc xạ.

- Đúng, đúng - Kemper nói - nhưng nên nhớ rằng con người không phải là thủy tinh.

- Không phải, con người còn trong suốt hơn thủy tinh

- Nói tầm bậy!

- Các nhà khoa học tự nhiên cũng nói thế đấy! Lẽ nào mới chỉ có mươi năm mà bác đã quên hết vật lý học rồi ư? Như giấy chẳng hạn là do những sợi trong suốt tạo nên, nguyên nhân làm cho nó trắng và không để ánh sáng lọt qua cũng giống như ở trong trường hợp bột thủy tinh trắng và không cho ánh sáng lọt qua vậy. Nhưng nếu bôi dầu lên trên giấy trắng, để cho dầu tràn đầy vào các khoảng trống giữa các sợi, làm cho tờ giấy chỉ có thể phản xạ và khúc xạ ánh sáng bằng các mặt ngoài của nó thì tờ giấy đó sẽ trở thành trong suốt như thủy tinh. Không riêng gì giấy, mà ngay sợi vải, sợi len, sợi gỗ, xương thịt, tóc, móng tay và thần kinh của chúng ta đều như thế cả! Nói tóm lại, trừ huyết tố đỏ trong máu và sắc tố đen trong tóc ra, hết thảy những thành phần của con người đều do những tổ chức trong suốt, không màu, tạo nên. Do đó, muốn làm cho chúng ta không nhìn thấy nhau cũng không phải là khó lắm!”.

Có thể lấy sự kiện sau đây làm căn cứ cho ý kiến đó: những động vật trên mình không có lông, mắc bệnh bạch tạng (trong các tổ chức của nó thiếu sắc tố) thì khá trong suốt. Mùa hè năm 1934, một nhà động vật học đã tìm được ở thôn Nhi đồng (Trung Quốc) một con ếch bạch tạng và đã mô tả nó như sau: “Da rất mỏng, các cơ trong suốt, có thể nhìn thấy rất rõ các cơ quan bên trong và xương… Qua thành bụng có thể nhìn thấy rất rõ tim và ruột của con ếch thiếu sắc tố đó đập và co bóp như thế nào”.

Nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết của Oenxo đã phát minh được một phương pháp có thể làm cho tất cả các tổ chức trong cơ thể người đều trở nên trong suốt. Và anh ta đã ứng dụng phát minh đó vào ngay chính bản thân mình. Thí nghiệm đã thu được thành tích huy hoàng - bản thân nhà phát minh biến thành một người vô hình.

Mười năm sau khi cuốn “Người tàng hình” ra đời, giáo sư giải phẫu học người Đức Spantegonxo đã biến ý tưởng đó thành sự thật. Ông không những chế được các tiêu bản trong suốt của các cơ quan sống mà còn chế được các tiêu bản trong suốt của động vật chết nữa. Ngày nay, ta có thể nhìn thấy những tiêu bản này trong nhiều viện bảo tàng.

Spantegonxo đã sử dụng chính những suy luận vật lý làm căn cứ cho cuốn tiểu thuyết hoang đường trên: Bất kỳ một vật trong suốt nào đặt trong môi trường trong suốt, chỉ cần chiết suất của chúng sai kém nhau dưới 0,05 là vật trong suốt ấy có thể trở thành vô hình.

Nói vắn tắt thì phương pháp chế tiêu bản trong suốt do giáo sư Spantegonxo nghĩ ra (năm 1911) là: Đầu tiên phải cho những tiêu bản đó qua các phép chế biến quen thuộc - chuội trắng và rửa sạch, rồi ngâm tiêu bản vào trong ete metylic của axit xalyxilic (một chất lỏng không màu, có tác dụng khúc xạ rất mạnh). Cuối cùng, đem ngâm các tiêu bản chuột, cá, các bộ phận của cơ thể người... được chế theo phương pháp ấy vào trong những bình cũng đựng ete metylic.

Ở đây, đương nhiên người ta không định làm cho các tiêu bản hoàn toàn trong suốt, bởi vì như thế thì những tiêu bản ấy sẽ trở thành không nhìn thấy được và do đó đối với giải phẫu sẽ không giúp ích gì cả. Nhưng nếu muốn thì ta cũng có thể làm cho chúng trở thành hoàn toàn trong suốt.

Tuy nhiên, từ đây tới việc thực hiện lý tưởng của Oenxo - làm người sống hoàn toàn trong suốt đến mức độ không nhìn thấy được - còn khoảng cách rất xa. Vì thứ nhất là, cần phải tìm được phương pháp ngâm thân thể người sống vào trong một chất lỏng có tác dụng làm trong suốt mà không tổn thương đến các cơ năng tổ chức của người ấy. Thứ hai, tiêu bản của giáo sư Spantegonxo mới chỉ trong suốt thôi chứ chưa phải là không nhìn thấy được. Các tổ chức của những tiêu bản này chỉ không nhìn thấy được khi nhúng chúng vào trong chất nước có cùng chiết suất mà thôi. Còn nếu như để chúng ở ngoài không khí thì chỉ khi nào chiết suất của chúng bằng chiết suất của không khí thì mới trở thành không nhìn thấy được. Và khó khăn là ở chỗ này - làm thế nào để thực hiện được điểm đó thì đến nay chúng ta vẫn chưa biết.

Nhưng giả sử rằng có một ngày nào đó, ta thực hiện được cả hai điểm trên, nghĩa là ảo tưởng của nhà tiểu thuyết Anh biến thành sự thật, thì số phận của người vô hình này ra sao?

DaoKy
04-05-2005, 06:40 PM
Tàng hình có phải là chuyện hoang đường?


Trong cuốn tiểu thuyết “Người tàng hình” của nhà văn Anh Oenxo, nhân vật chính - một nhà vật lý học thiên tài - đã khám phá ra một phương pháp có thể biến thân thể người ta thành vô hình. Dưới đây là những điều mà ông ta trình bày với một bác sĩ về phát minh mới của mình...

“Sở dĩ chúng ta nhìn thấy một vật là do vật đó có thể tác dụng được với ánh sáng. Chắc bác biết rằng vật thể hoặc hấp thụ ánh sáng, hoặc phản xạ hay khúc xạ ánh sáng. Nếu như vật thể không hấp thụ mà cũng không phản xạ hoặc khúc xạ ánh sáng, thì nó không thể tự làm cho ta nhìn thấy được. Thí dụ, bác sở dĩ nhìn thấy cái hòm màu đỏ không trong suốt kia là do lớp sơn màu đỏ hấp thụ một phần ánh sáng và phản xạ (khuếch tán) những tia sáng còn lại. Nếu như chiếc hòm không hấp thụ một phần ánh sáng nào cả, mà phản xạ toàn bộ, thì qua con mắt của chúng ta, nó sẽ là một cái hòm trắng chói loà, tựa như làm bằng bạc vậy. Hòm thủy tinh ít sáng hơn, qua con mắt của chúng ta, nó không rõ ràng như cái hòm sáng bóng, bởi vì sự phản xạ và khúc xạ ở thuỷ tinh tương đối ít. Nếu đặt tấm thuỷ tinh trắng thông thường vào trong nước, hơn nữa, nếu đặt nó vào trong một chất lỏng nào đó có khối lượng riêng lớn hơn khối lượng riêng của nước thì nó hầu như hoàn toàn mất hẳn, bởi vì ánh sáng xuyên qua nước rọi vào thuỷ tinh bị khúc xạ và phản xạ rất yếu. Thủy tinh đã trở thành không nhìn thấy được, giống như một dòng khí carbonic hoặc hydro trong không khí vậy.

- Đúng - Kemper, người thầy thuốc, nói - Những điều đó đều đơn giản. Ngày nay, các học sinh đều hiểu rất rõ.

- Đây còn một sự thực nữa mà mỗi học sinh cũng đều biết. Nếu nghiền nát một miếng thủy tinh thành bột, trong không khí, nó trở thành rất dễ nhìn thấy - nó trở thành những bột trắng không trong suốt. Sở dĩ như thế là vì, nghiền nhỏ thủy tinh tức là làm tăng những mặt gây ra phản xạ và khúc xạ của thủy tinh. Tấm thủy tinh chỉ có hai mặt, nhưng mỗi hạt thủy tinh thì đều có thể phản xạ tia sáng đi qua nó, cho nên tia sáng có thể xuyên qua nó rất ít. Nhưng nếu thả thủy tinh trắng đã nghiền nhỏ vào trong nước, thì nó lập tức biến mất. Thủy tinh đã nghiền nhỏ vào nước gần giống như có cùng chiết suất, do đó làm cho ánh sáng phản xạ và khúc xạ rất ít lúc đi từ nước vào thủy tinh hoặc ngược lại.

Đặt thủy tinh vào trong bất kỳ một chất lỏng nào đó có cùng chiết suất với nó, anh sẽ không nhìn thấy được nó: tất cả những vật trong suốt đều trở nên không nhìn thấy được, nếu ta đặt nó vào trong một môi trường có cùng chiết suất với nó. Hiểu được điểm đó, anh chỉ cần suy nghĩ một chút là có thể tin chắc rằng chúng ta cũng có thể làm cho thủy tinh trở thành không nhìn thấy ở ngay trong không khí: nghĩ cách làm cho chiết suất của thủy tinh bằng chiết suất của không khí. Bởi vì, lúc ấy, ánh sáng đi từ thủy tinh vào không khí sẽ không bị phản xạ và càng không bị khúc xạ.

- Đúng, đúng - Kemper nói - nhưng nên nhớ rằng con người không phải là thủy tinh.

- Không phải, con người còn trong suốt hơn thủy tinh

- Nói tầm bậy!

- Các nhà khoa học tự nhiên cũng nói thế đấy! Lẽ nào mới chỉ có mươi năm mà bác đã quên hết vật lý học rồi ư? Như giấy chẳng hạn là do những sợi trong suốt tạo nên, nguyên nhân làm cho nó trắng và không để ánh sáng lọt qua cũng giống như ở trong trường hợp bột thủy tinh trắng và không cho ánh sáng lọt qua vậy. Nhưng nếu bôi dầu lên trên giấy trắng, để cho dầu tràn đầy vào các khoảng trống giữa các sợi, làm cho tờ giấy chỉ có thể phản xạ và khúc xạ ánh sáng bằng các mặt ngoài của nó thì tờ giấy đó sẽ trở thành trong suốt như thủy tinh. Không riêng gì giấy, mà ngay sợi vải, sợi len, sợi gỗ, xương thịt, tóc, móng tay và thần kinh của chúng ta đều như thế cả! Nói tóm lại, trừ huyết tố đỏ trong máu và sắc tố đen trong tóc ra, hết thảy những thành phần của con người đều do những tổ chức trong suốt, không màu, tạo nên. Do đó, muốn làm cho chúng ta không nhìn thấy nhau cũng không phải là khó lắm!”.

Có thể lấy sự kiện sau đây làm căn cứ cho ý kiến đó: những động vật trên mình không có lông, mắc bệnh bạch tạng (trong các tổ chức của nó thiếu sắc tố) thì khá trong suốt. Mùa hè năm 1934, một nhà động vật học đã tìm được ở thôn Nhi đồng (Trung Quốc) một con ếch bạch tạng và đã mô tả nó như sau: “Da rất mỏng, các cơ trong suốt, có thể nhìn thấy rất rõ các cơ quan bên trong và xương… Qua thành bụng có thể nhìn thấy rất rõ tim và ruột của con ếch thiếu sắc tố đó đập và co bóp như thế nào”.

Nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết của Oenxo đã phát minh được một phương pháp có thể làm cho tất cả các tổ chức trong cơ thể người đều trở nên trong suốt. Và anh ta đã ứng dụng phát minh đó vào ngay chính bản thân mình. Thí nghiệm đã thu được thành tích huy hoàng - bản thân nhà phát minh biến thành một người vô hình.

Mười năm sau khi cuốn “Người tàng hình” ra đời, giáo sư giải phẫu học người Đức Spantegonxo đã biến ý tưởng đó thành sự thật. Ông không những chế được các tiêu bản trong suốt của các cơ quan sống mà còn chế được các tiêu bản trong suốt của động vật chết nữa. Ngày nay, ta có thể nhìn thấy những tiêu bản này trong nhiều viện bảo tàng.

Spantegonxo đã sử dụng chính những suy luận vật lý làm căn cứ cho cuốn tiểu thuyết hoang đường trên: Bất kỳ một vật trong suốt nào đặt trong môi trường trong suốt, chỉ cần chiết suất của chúng sai kém nhau dưới 0,05 là vật trong suốt ấy có thể trở thành vô hình.

Nói vắn tắt thì phương pháp chế tiêu bản trong suốt do giáo sư Spantegonxo nghĩ ra (năm 1911) là: Đầu tiên phải cho những tiêu bản đó qua các phép chế biến quen thuộc - chuội trắng và rửa sạch, rồi ngâm tiêu bản vào trong ete metylic của axit xalyxilic (một chất lỏng không màu, có tác dụng khúc xạ rất mạnh). Cuối cùng, đem ngâm các tiêu bản chuột, cá, các bộ phận của cơ thể người... được chế theo phương pháp ấy vào trong những bình cũng đựng ete metylic.

Ở đây, đương nhiên người ta không định làm cho các tiêu bản hoàn toàn trong suốt, bởi vì như thế thì những tiêu bản ấy sẽ trở thành không nhìn thấy được và do đó đối với giải phẫu sẽ không giúp ích gì cả. Nhưng nếu muốn thì ta cũng có thể làm cho chúng trở thành hoàn toàn trong suốt.

Tuy nhiên, từ đây tới việc thực hiện lý tưởng của Oenxo - làm người sống hoàn toàn trong suốt đến mức độ không nhìn thấy được - còn khoảng cách rất xa. Vì thứ nhất là, cần phải tìm được phương pháp ngâm thân thể người sống vào trong một chất lỏng có tác dụng làm trong suốt mà không tổn thương đến các cơ năng tổ chức của người ấy. Thứ hai, tiêu bản của giáo sư Spantegonxo mới chỉ trong suốt thôi chứ chưa phải là không nhìn thấy được. Các tổ chức của những tiêu bản này chỉ không nhìn thấy được khi nhúng chúng vào trong chất nước có cùng chiết suất mà thôi. Còn nếu như để chúng ở ngoài không khí thì chỉ khi nào chiết suất của chúng bằng chiết suất của không khí thì mới trở thành không nhìn thấy được. Và khó khăn là ở chỗ này - làm thế nào để thực hiện được điểm đó thì đến nay chúng ta vẫn chưa biết.

Nhưng giả sử rằng có một ngày nào đó, ta thực hiện được cả hai điểm trên, nghĩa là ảo tưởng của nhà tiểu thuyết Anh biến thành sự thật, thì số phận của người vô hình này ra sao?

DaoKy
04-05-2005, 06:42 PM
Sọ pha lê - phát hiện bí ẩn nhất thế kỷ 20

Hàng chục sọ người bằng pha lê được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới trong thế kỷ 20, khiến giới khoa học và nghiên cứu lịch sử hết sức đau đầu trong việc lý giải những bí ẩn liên quan đến chúng. Những chiếc sọ này không thể tạo ra theo kỹ thuật thông thường.

Chiếc sọ đầu tiên thuộc loại này được tìm thấy vào năm 1927 tại Trung Mỹ, trong chuyến khảo sát của nhà khảo cổ học nổi tiếng người Anh F. Albert Mitchell-Hedges về một thành phố cổ của người Maya. Những công trình bí ẩn cổ xưa này bị che phủ hoàn toàn trong một diện tích 33 ha rừng rậm. Ở đó có những kim tự tháp đổ nát bằng đá, những bức tường nhà ở sát nhau và cuối cùng là một hý trường rộng lớn có thể chứa hàng nghìn khán giả. Mitchell-Hedges đã đặt tên cho thành phố của những công trình đá sụp đổ này là Lubaantun.

Ba năm sau, Mitchell-Hedges cho con gái mình là Anna cùng đi trong chuyến khảo sát tiếp theo tại đây. Vào một ngày tháng 4/1927, cô gái 17 tuổi này tình cờ phát hiện thấy một vật kỳ lạ nằm dưới đống đổ nát của một bàn thờ cổ xưa. Đó là một chiếc sọ người làm bằng thạch anh (một dạng pha lê trong suốt), được đánh bóng hoàn hảo và có kích thước y như thật. Khi được phát hiện, chiếc sọ bị thiếu mất xương hàm dưới. Nhưng chỉ 3 tháng sau, người ta đã tìm ra được phần xương này chỉ cách đó vài chục mét. Phần xương gắn rất khít với hộp sọ qua những bản lề hoàn hảo và có thể cử động mỗi khi có người chạm nhẹ vào.

Từ thời điểm này, những câu chuyện lạ lùng bắt đầu xảy ra với những người tiếp xúc với chiếc sọ, mà đầu tiên là Anna. Cứ mỗi lần đặt chiếc sọ bên cạnh giường ngủ, Anna lại gặp những giấc mơ khá kỳ lạ. Thức dậy, cô có thể kể lại chi tiết mọi điều đã nhìn thấy trong mộng, chủ yếu liên quan đến cuộc sống của người da đỏ từ nghìn năm trước.

Ban đầu, Anna chưa chú ý đến sự liên quan giữa hộp sọ và những giấc mơ. Nhưng chúng vẫn liên tục đến với cô khi cô đặt chiếc sọ pha lê ngay cạnh giường ngủ - mỗi lần đều có những chi tiết mới về cuộc sống xa xưa của người da đỏ, trong đó có những điều mà các nhà khoa học chưa từng biết trước đây. Đêm nào chiếc sọ được đem đi nơi khác, Anna lại không hề bắt gặp những giấc mơ kiểu này…

Sau cái chết của người cha vào đầu thập niên 60, Anna quyết định trao chiếc sọ cho nhà nghiên cứu nghệ thuật Frank Dordland. Khi xem xét tỉ mỉ từng chi tiết, ông này phát hiện thấy trong chiếc sọ có một hệ thống hoàn chỉnh các thấu kính, lăng kính và rãnh tạo nên những hiệu ứng quang học kỳ lạ. Dordland còn ngạc nhiên hơn khi nhận thấy, khối pha lê này được đánh bóng lý tưởng đến nỗi, kính hiển vi cũng không thể nhìn thấy những dấu vết của quá trình gia công. Cuối cùng ông quyết định tham vấn hãng Hewlett-Packard, nơi chuyên sản xuất các máy phát thạch anh và được đánh giá là có uy tín nhất trong lĩnh vực thẩm định thạch anh.

Kết quả thử nghiệm đã gây bất ngờ: chiếc sọ này xuất hiện từ rất lâu, trước thời kỳ xuất hiện của những nền văn minh đầu tiên tại khu vực này của châu Mỹ. Ngoài ra, loại thạch anh có chất lượng cao đến vậy cũng chưa hề thấy ở đây. Một phát hiện kỳ lạ khác là chiếc sọ được chế tạo từ một khối tinh thể hoàn chỉnh.

Một kỹ sư hàng đầu của công ty thử nghiệm cho biết, loại thạch anh tạo nên chiếc sọ pha lê có độ cứng tới 7 theo thang độ Moos - chỉ thua 3 loại đá là hoàng ngọc (topaz), cương ngọc (coridon) và kim cương. Ngoài kim cương ra, không vật liệu nào cắt được nó. Trong khi với cấu trúc tinh thể kiểu như trên, bất cứ một nỗ lực nào nhằm đẽo gọt loại vật liệu này cũng chỉ làm nó vỡ ra. Để có thể tạo ra chiếc sọ hoàn hảo nhường ấy, cần phải có những phương pháp phân tích chính xác nhất: việc cắt cần phải khớp hoàn toàn với trục của tinh thể.

Các chuyên gia từ Hewlett-Parkard cuối cùng phải bối rối thốt lên: “Cái vật đáng nguyền rủa này đơn giản là không thể tồn tại. Người đã làm ra nó không có bất cứ một khái niệm nhỏ nhất nào về tinh thể học và quang học. Họ hoàn toàn phớt lờ các trục đối xứng và vật này chắc chắn phải vỡ ra ngay từ những bước chế tác đầu tiên. Vì sao điều này không xảy ra thì thật không thể tưởng tượng nổi”. Các chuyên gia công nghệ tại đây còn khẳng định, trên chiếc sọ không hề có bất cứ một dấu vết nhỏ nhất nào của thao tác cơ khí - thậm chí cả những vết trầy xước nhỏ do đánh bóng. Để đánh bóng vật liệu cứng như vậy theo độ hoàn hảo của chiếc sọ, cần phải mất hàng trăm năm…

Các hộp sọ được làm từ “pha lê dẻo”?
Nhận định này được gián tiếp khẳng định từ một trong những phát hiện gần đây được tạp chí FATE công bố tháng 8/1996. Mùa đông năm 1994, một chủ trang trại gần Kreston (bang Colorado - Mỹ) trong khi cưỡi ngựa trong khu đất của mình, tình cờ nhận thấy một vật lấp lánh nằm dưới đất. Đó chính là một chiếc sọ người bằng kính hay pha lê trong suốt. Có điều là chiếc sọ này lại méo mó và vặn vẹo giống như thể trước khi đông cứng nó là một loại chất dẻo nào đó. Chiếc sọ này từ đâu ra và vì sao lại méo mó như vậy hiện vẫn còn là một bí ẩn.

Bị thu hút trước những phát hiện kỳ lạ này, các nhà sử học và dân tộc học bắt đầu lao vào một chiến dịch tìm kiếm, với hy vọng lần ra chút ánh sáng về những sọ người kỳ bí.

Chẳng bao lâu, những dấu vết đầu tiên đã được tìm thấy trong các truyền thuyết của người da đỏ cổ xưa. Theo đó, có tới 30 chiếc sọ pha lê của “Thần chết” và chúng được lưu giữ riêng biệt dưới sự canh gác chặt chẽ của các nhà tư tế và những chiến binh đặc biệt.

Nỗ lực tìm kiếm cũng cho ra những kết quả đầu tiên. Những chiếc sọ tương tự cũng được phát hiện tại kho của một số bảo tàng và trong các bộ sưu tập cá nhân. Chúng không chỉ được tìm thấy tại châu Mỹ (Mexico, Brazil, Mỹ) mà còn tại châu Âu (Pháp) và châu Á (Mông Cổ, Tây Tạng - Trung Quốc). Những hộp sọ kiểu này còn nhiều hơn cả con số 30 trong truyền thuyết, cho dù không phải tất cả đều hoàn thiện như hộp sọ Michell-Hedges. Phần lớn chúng đều có vẻ thô hơn nhiều. Dường như chúng đã được làm sau đó để “nhái” những chiếc sọ lý tưởng, vốn được coi là quà tặng của các vị thần cho loài người.

Một trong những nhà nghiên cứu về hộp sọ pha lê có uy tín nhất, Frank Joseph, bỗng nảy sinh một ý tưởng: liệu con người “nguyên mẫu” của hộp sọ “Michell-Hedges” có khuôn mặt như thế nào. Để trả lời câu hỏi này, người ta giao nhiệm vụ cho hai nhóm riêng biệt nhằm đảm bảo tính khách quan: phòng thí nghiệm của cảnh sát New York (nơi chuyên trách dựng lại khuôn mặt người theo các xương sọ) và một nhóm các chuyên gia ngoại cảm tiếp xúc với chiếc sọ trong trạng thái thôi miên. Kết quả là cả hai nhóm trên đều cho biết: “nguyên mẫu” của xương sọ Michell-Hedges là sọ của một cô gái trẻ. Bức chân dung của cả hai bên đưa ra rất giống nhau.

Tuy nhiên, không phải tất cả những xương sọ kiểu trên đều có liên quan đến con người. Người ta còn bắt gặp những kiểu như “xương sọ Maya” và “xương sọ người ngoài hành tinh”, những loại ít có các đường nét của con người.

theo Thế Giới Mới

DaoKy
04-05-2005, 06:49 PM
Chuyên tâm có lợi cho sức khoẻ


Trong Tạp chí Tâm lý học xã hội & tính cách, số tháng 4, các nhà nghiên cứu của trường Đại học Rochester (Mỹ) cho rằng người ý thức về việc mình làm và tập trung cao độ vào những gì đang diễn ra thường có tâm trạng ổn định, cảm giác thoả mãn, tính lạc quan và lòng tự trọng cao.

Kirk Warren Brown và Richard M. Ryan đã nghiên cứu hiện tượng chuyên tâm và theo dõi các dấu hiệu sức khoẻ tâm lý của một nhóm người thí nghiệm trong một thời gian dài. Họ lập một thang điểm riêng để đo chất lượng ý thức. Trí óc càng tập trung vào hiện tại (những gì đang diễn ra) thì điểm số càng cao.

Đem áp dụng thang điểm này với sinh viên và những người đã đi làm, 2 nhà tâm lý học nhận thấy ai có điểm số cao thì tâm trạng trong ngày của họ sẽ tốt hơn. Họ có mức độ lo lắng, căng thẳng thần kinh và trầm cảm thấp hơn người khác.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những sinh viên tích cực luyện thiền có điểm số cao hơn đối tượng cùng tuổi, cùng giới và đã đi làm. Điều này chứng tỏ rằng người ta có thể tăng độ chuyên tâm của bản thân bằng cách thường xuyên rèn luyện.

Trong một khảo sát thực hiện với những bệnh nhân ung thư giai đoạn đầu, 2 nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng tăng cường chuyên tâm giúp họ giảm căng thẳng thần kinh và xua dần tâm trạng phiền muộn. Những bệnh nhân này đã tuân theo chương trình giảm stress kéo dài 2 tháng với trọng tâm là rèn luyện khả năng tập trung vào những gì đang diễn ra.

Từ xa xưa, chuyên tâm đã được đề cập trong các phép thiền định, đặc biệt của Phật giáo. Đây cũng là chủ đề của vô số cuộc hội thảo và sách nghiên cứu nhằm cải thiện trạng thái đặc biệt này của ý thức, giúp con người có đời sống phong phú và vui vẻ hơn. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu xem xét vai trò trực tiếp của nó đối với sức khoẻ thể xác và tâm lý.

(theo AScribe Newswire)