View Full Version : Khoa Học Và Tiên Tri
Thiên Sứ
22-01-2008, 10:41 PM
Quí vị và anh chị em quan tâm thân mến.
Bài viết dưới đây của một học giả có thâm niên trong việc nghiên cứu khoa học. Đề tài của ông bàn về tính khoa học và khả năng tiên tri cũng là chủ đề mà chúng ta đang rất quan tâm. Bởi vậy, tôi đưa lên đây để quí vị và anh chị em quan tâm tham khảo và tham gia nhận xét.
KHOA HỌC VÀ TIÊN TRI
Xét cho cùng, khoa học ngày nay thoát thai từ những quan niệm siêu hình của loài người và hình thành hai dòng chảy lớn. Ngoài dòng chẩy nổi chiếm ưu thế trong xã hội là những ngành được gọi là khoa học chính thống còn có một dòng chẩy thứ hai có gốc rễ vững chắc hơn trong nhân loại nhưng luôn bị ngược đãi vùi dập bởi khoa học chính thống như vẫn thấy trong cạnh tranh sinh học đời thường. Ta tạm gọi dòng chẩy này là các học thuật phi chính thống. Sự hình thành hai dòng chẩy này xuất phát từ tính lưỡng diện của con người. Một mặt con người cổ sơ gắn bó và thông cảm với tự nhiên vẫn còn trong tiềm thức của chúng ta khiến chúng ta trong những hoàn cảnh nhất định dễ dàng công nhận những sức mạnh siêu nhiên, những khả năng huyền bí chi phối hành sử, số phận con người kèm theo những tín điều hay những định luật không thể suy diễn bằng lý trí. Việc vận dụng những tín điều, những quy luật siêu hình (siêu hình hiểu theo nghĩa rộng không bắt buộc phải thuộc về thần quyền) thành công trong một số trường hợp được xem là những thực chứng tăng cường lòng tin của con người đối với những quy luật kia. Vậy mà lòng tin của con người quyết định số phận mọi Sai/ Đúng: Chứng minh có Thượng đế làm gì khi ta không tin vào Thượng đế. (Quả thật vậy, dùng phương pháp gì đi nữa để chứng minh là không có Thượng đế cũng vô ích khi người ta vẫn tin có tồn tại một đấng tối cao.) Mặt khác, con người nhờ có óc thực tế nên dựa vào quan sát, suy diễn, xây dựng lý thuyết này nọ và cuối cùng dựng nên cả hệ thống khoa học nhằm tận dụng và cải tạo thế giới vật chất của tự nhiên nên đã bành trướng trên khắp trái đất đến ngày nay. Như sẽ trình bầy dưới đây, khoa học chính thống không công nhận sử dụng những thực chứng để kết luận tính Xác thực của một định luật, một lý thuyết. Khoa học chính thống có tên như vậy vì các ngành này dành được ưu thế trong các hệ thống chính trị, kinh tế có quyền quyết định đối với phát triển xã hội. Khoa học kỹ thuật, niềm tự hào của con người, chính là cái đem lại cho con người phương tiện, tiền của, quyền lực. Dễ hiểu là trong cuộc đời vật chất của xã hội loài người khoa học chính thống phải có vai trò chính thống. Mệt mỏi với cuộc sống vật chất con người có thể sẽ tìm về hòa mình ít nhiều trong dòng chẩy thứ hai vốn chìm sâu trong bản ngã của mình nhưng đó lại là câu chuyện khác.Một đặc điểm của con người trên bình diện cá nhân cũng như xã hội là bao giờ cũng muốn biết trước tương lai. Về mặt xã hội, thế giới có nhiều viện nghiên cứu lớn đang cố gắng phát hiện phát triển của nhân loại cho từng ngành chuyên môn, về dân số cũng như về chính trị xã hội cho nhiều năm sau này. Người ta căn cứ vào những kết quả nghiên cứu đó để hoạch định chiến lược tương lai. Vì thế nếu cá nhân từng người mong muốn biết trước số phận mình cũng không có gì là lạ. Một kẻ thành công liên tục có thể tỏ ra khinh mạn khi nói đến số phận, nhưng nếu cũng kẻ ấy khuynh gia bại sản nhiều năm hẳn sẽ mong mỏi được biết bao giờ mình thoát cảnh khốn cùng. Đó là chuyện thường tình. Khoa học chính thống tuyên bố dứt khoát là không (và không có khả năng) giúp cá nhân thấy trước tương lai riêng mình, do đó cứu cánh tinh thần của cá nhân không thể có gì khác hơn là các học thuật phi chính thống quen thuộc tự ngàn xưa. Người ta cho rằng các thuật này có thể được ứng dụng để tiên đoán hoặc tiên tri về số phận con người. Liệu khoa học chính thống có khả năng tiên tri hay không? Để trả lời câu hỏi này trước hết ta phải hiểu khoa học chính thống (hoặc khoa học nói chung) được quan niệm như thế nào trong thời hiện đại cũng như phương pháp tiếp cận thực tại và những hạn chế trong bản chất của khoa học.
Khoa học là gì?
Phật giáo nói đến Tam bảo: Có Phật có Pháp làm gì khi không có Tăng chúng. Tương tự như vậy ta có thể định nghĩa Khoa học chính là toàn thể cộng đồng khoa học gia cùng khối lượng tri thức khoa học đã tích lũy cũng như toàn thể các hệ thống phương pháp và phương tiện (cơ sở nghiên cứu, trang thiết bị, vật liệu...) nghiên cứu để nhận thức thực tại, nhận thức vũ trụ. Mục đích trực tiếp của khoa học là thu hoạch Tri thức để tổng hợp và hệ thống hóa, khái quát hóa các tri thức về thực tại. Những hệ thống tri thức này được xem là những bước tiếp cận đến thực tại và được xem là Đúng hoặc là Xác thực khi được đa số những người có chuyên môn khoa học (trong một lĩnh vực khoa học nhất định) tán thành. Einstein nhận định rằng Khoa học chỉ là những Hành xử hàng ngày tinh tế hơn. Hành xử hàng ngày thường không có cơ sở hệ thống hoặc thường dựa trên những nhận định chưa qua chứng minh. Hoạt động khoa học trái lại mang tính hệ thống và chương trình. Vậy hoạt động khoa học trước hết phải có phương pháp khoa học, thể hiện ra ở tính hệ thống tính chương trình trong tiến hành nghiên cứu khoa học. Khoa học cũng mang tính kế thừa. Tính kế thừa này có được nhờ tính hệ thống và sự thống nhất nhận định của cộng đồng khoa học. Vì thế khoa học chính thống bao giờ cũng là khoa học của số đông. Nhìn vào tương lai, con người tìm cách mở rộng và chỉnh lý nhãn quan của mình trước tự nhiên ngày càng tiệm cận gần hơn đến thực tại vũ trụ nên khoa học là một quá trình mở, ngược lại những lý thuyết siêu hình giáo điều. Từ những định nghĩa, những quan niệm trên đây của cộng đồng khoa học và triết học ta có thể phát biểu những yêu cầu sau đây đặt ra cho khoa học (chính thống):
Khoa học
1. Phải có phương pháp khoa học cụ thể có tính hệ thống, tính chương trình;
2. Những nhận thức thu được trong nghiên cứu khoa học phải đảm bảo hai yêu cầu là tính khả chấp (hợp với nhận thức chủ quan những người làm khoa học khác) và tính khả nghiệm (có thể chứng nghiệm bởi người làm khoa học khác);
3. Là một quá trình mở để cộng đồng khoa học tham gia,
4. Không chấp nhận chân lý tuyệt đối, do đó xây dựng những thuyết, học thuyết ... và dùng những thuyết này làm phương tiện để tiếp cận thực tại;
5. Tiến đến những nhận thức có mức khái quát cao hơn với một độ tin cậy nhất định.
Nếu xét riêng một ngành khoa học nào đó, ta thấy có những đặc trưng sau:
Mục đích: Phục vụ loài người nói chung bao gồm giải thích hiện tượng, đề xuất giải pháp cho một vấn đề và đưa ra dự báo cho một sự kiện.Muốn vậy ngành khoa học đó phải có một vùng đối tượng được định nghĩa, phân lập cụ thể, có một hệ thống xuất phát điểm hay một hệ tiên đề và có đường lối nghiên cứu, đưa ra được những nhận thức đã hệ thống hóa và có phương pháp nghiên cứu đặc trưng của ngành.
Phương pháp nghiên cứu của một ngành khoa học phải thể hiện những khả năng:
- Phân tích mô tả đối tượng nhờ các kết quả quan sát, đo lường, thống kê
- Chẩn đoán, giải thích nhờ các bước hệ thống hoá nhận thức, phát hiện quy luật, phát biểu định luật
- Dự báo sự kiện trên cơ sở các hệ thống nhận thức, các quy luật, định luật đã phát hiện, các lý thuyết và mô hình đã xây dựng.
Các lý thuyết và mô hình đó phải thoả mãn các điều kiện:
- Có tính khái quát để bao trùm một lĩnh vực nhất định.
- Có tính lặp lại để xét mức tin cậy của kết quả nghiên cứu.
- Có tính công khai của một hệ thống mở; có khả năng được kiểm chứng lại bởi người khác.
- Lý thuyết phải được phát biểu sao cho có thể dùng chính nó để chứng minh rằng nó không đúng (falsification). - Một lý thuyết phải đủ và không tự mâu thuẫn (mâu thuẫn nội tại) và có thể chứng nghiệm bằng cách dựa vào nó để đưa ra một giả thuyết (hoặc một dự báo) về một hiện tượng chưa được quan sát. (Một lý thuyết hoàn chỉnh và thể hiện đúng trong thực nghiệm chưa chắc đã đúng, nhưng được xem là sai khi một phép chứng nghiệm cho thấy kết quả không đúng).- Lý thuyết không được mâu thuẫn với hệ thống tri thức khoa học hiện có (mâu thuẫn ngoài).- Dạng hoàn chỉnh nhất của một lý thuyết được xem là khi lý thuyết đó được đặt trên cơ sở một hệ tiên đề đầy đủ, không phụ thuộc lẫn nhau. Những tiên đề này được xem là những nguyên tắc, nguyên lý Xác Thực không cần chứng minh. Với những nguyên tắc nhất định có thể rút ra những quy luật, định lý từ hệ tiên đề này. Khi ứng dụng các quy luật này trong thực tế không mang lại thực chứng dẫn sẽ đến xét lại, bổ sung hệ tiên đề.- Ngay những khoa học được gọi là khoa học "thực nghiệm" cũng phải có tính hệ thống, tính khả chấp và tính khả nghiệm. Đó chính là cái khác biệt chủ yếu giữa „khoa học thực nghiệm“ và các "học thuật phi chính thống" khác như hiện tượng học, tâm linh học... vì trong các khoa này nhận thức mang tính chủ quan của cá nhân (nhờ cảm ứng, trực giác...) nên không thể hoặc rất khó được chứng nghiệm, kiểm tra bởi người khác, đó là chưa nói đến tính lặp lại. Vì thế có lẽ chúng ta không nên gọi những thuật này là khoa học để tránh lẫn lộn với trường phái khoa học chính thống hiện hành.Chính vì những tính năng nói trên, ta chứng kiến „khoa học“ chủ yếu dưới dạng các hoạt động khoa học của một cộng đồng khoa học với tính cách một hiện tượng văn hóa xã hội. Những cuộc bàn cãi, thảo luận của các nhà khoa học trong các thế kỷ qua dẫn đến sự phát triển thống nhất của khoa học với phân ngành chuyên môn phong phú ngày nay. Trong những cuộc hội thảo khoa học người ta truyền đạt những nhận thức, kinh nghiệm và kiểm tra đánh giá những nhận thức kinh nghiệm đó. Từ đó hình thành một nhãn quan khoa học nhất quán với một hệ thống thuật ngữ cần thiết. Cái gọi là Khoa học trên đây rõ ràng không thể tách khỏi cộng đồng khoa học và do đó Nó là khoa học của đám đông. Đó cũng là hệ quả rút ra từ hiện tượng xã hội của Khoa học chính thống.
Từ những yêu cầu đặt ra cho một lý thuyết khoa học đã nói trên, ta thấy một lý thuyết được công nhận là đúng phải có khả năng dự báo trong một chừng mực nhất định về một sự kiện, hiện tượng sẽ xẩy ra trong tương lai dựa trên cơ sở những kinh nghiệm, nhận thức trên các đối tượng cùng loại hoặc tương tự (được mô tả bởi cùng hệ phương trình vi phân chẳng hạn) và đã được khái quát hóa thành định luật, quy luật. Như vậy Dự báo tuy là một suy diễn từ lý thuyết nhưng thực ra xuất phát từ thực tế các sự kiện đã quan sát, quan trắc và phải được phát biểu trước khi sự kiện được suy diễn xẩy ra (sự kiện không được phép là một sự hiển nhiên tầm thường). Để đảm bảo một mức tin cậy nhất định cho dự báo, khoa học phải tiến hành các thí nghiệm để đánh giá tính lặp lại của một sự kiện (đã biết) được diễn giải từ lý thuyết, phải đánh giá được ảnh hưởng các yếu tố nhiễu và khả năng phân lập, hạn chế ảnh hưởng nhiễu. Vì tính lặp lại của các kết quả đo, quan sát (dưới các ảnh hưởng nhiễu không thể khống chế) có thể đánh giá theo thống kê toán nên các dự báo chỉ có một độ tin cậy hay một xác suất xẩy ra nhất định. Vì thế trong khoa học chỉ có thể nói đến dự báo mà không thể nói đến tính tiên tri. Nếu tiên tri là khả năng biết trước chắc chắn sự xuất hiện của một „hiện tượng không ngờ“ trong không thời gian nào đó thì vì lý do bản chất của khoa học - như đã trình bầy trên - không ngành khoa học nào có khả năng tiên tri.
LHK
quangnx
23-01-2008, 09:03 PM
Anh TS và các bạn thân mến!
Tôi không biết tác giả của bài viết trên là ai, nhưng nói thật lòng tôi không thích các bài viết loại này... Nó hầu như chỉ có tác dụng tiêu cực vì nó càng làm cho Lý học Đông phương trở nên huyền hoặc hơn, ở thái cực còn lại nó nhấn mạnh thêm tính tầm thường (mang tính tâm lý) của Khoa học. Trong khi tính lặp lại của khoa học nhằm khẳng định tính phổ biến và tính tất yếu của các qui luật khoa học đã và đang thực sự là mơ ước và là đỉnh cao của sự nhận thức và tri thức.
Tôi không hiểu tại sao, con người rất hay bị lối tư duy đối lập chi phối... Cụ thể là người ta rất hay tư duy theo kiểu so sánh "cái này, cái kia cái nào nhất..." trong khi ai cũng tự hiểu rằng thiếu cái này thì cái kia đâu có ý nghĩa gì.
Trong quá trình tồn tại của mình, nền văn minh phương đông làm nên nền Lý học Đông Phương (đến trước thời hiện đại), tương tự như vậy nền văn minh phương tây (và phương đông thời hiện đại) làm nên nền khoa học. Có bao giờ chúng được sinh ra để đấu nhau đâu... Chúng được sinh ra để phục vụ con người, giúp con người làm ra giá trị và tăng năng suất lao động - nhằm tăng chất lượng cuộc sống của nhân loại.
Không nên chút nào chỉ vì nền Lý học có dáng vẻ rất tương thích với sự tiên tri mà nghĩ rằng nó sinh ra là chỉ để tiên tri. Không nên làm méo nghĩa của khái niệm Tiên tri để rồi tùy tiện suy diễn rồi không cho phép Khoa học léo hánh đến địa hạt này...
Ngược lại, không được võ đoán mà cho rằng Khoa học chỉ biết dự báo, vì Khoa học cũng do Con Người làm ra, nó là một thực thể đang sống... Còn sự tồn tại của con người thì nó còn phát triển. Tính tiên tri và qui luật nhân quả không lạ gì đối với các nhà khoa học dù Tây hay Ta.
Tóm lại, nền Lý học nếu được sụ góp sức xây dựng và phát triển của mọi người như anh Thiên Sứ chẳng hạn, thì nó sẽ rất khoa học tức là:
- Có tính khái quát .
- Có tính lặp lại.
Khi đó nó sẽ phản ánh qui luật tất yếu khách quan. Ngay cả sự "Cảm ứng hiện đại" cũng sẽ là khách quan.
Và Khoa học trong quá trình phát triển thì chắc chắn rằng:"Khi Khoa học đã đạt được trình độ nhất định" nó sẽ nghiên cứu "số phận con người" như là một lĩnh vực khoa học.
Thực vậy, không có môn nào từ trên trời rơi xuống, tất cả đều do con người làm ra và đều cần phải được sự tôn trọng đúng mực.
"Khoa học chưa tiên tri hay Lý học chưa khoa học" đều là bài toán đặt ra để thế hệ hôm nay và mai sau phải nhận lấy và giải quyết nó. Nếu có sự ám thị nào quá nặng đến mức trở thành định kiến thì phải thay đổi nó, vì thực sự nó vốn do con người làm ra cả...
Thân mến
Thiên Sứ
23-01-2008, 10:03 PM
Cảm ơn anh Quangnx cho ý kiến.
Bài viết này của một học giả uyên bác viết có luận cứ rõ ràng. Bởi vậy tôi đưa lên để tham khảo và anh chị em có ý kiến. Chính vì tính có luận cứ nên khi có luận điểm ngược lại cần có sự phân tích.
Tôi còn nợ mấy cái phong thủy và từ khi đi Hanoi về chưa được khỏe. Vài bữa nữa bớt công việc và sức khỏe ổn định tôi xin tham gia phân tích bài viết này.
Thiên Sứ
Thiên Sứ
24-01-2008, 07:07 AM
KHOA HỌC VÀ TIÊN TRI
Tiếp theo
II - CÁC THUẬT TIÊN TRI
N hững đặc điểm của „khoa học chính thống“ trình bầy trong Phần I bài viết này thực ra không có gì mới vì chúng chỉ là kết quả tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu về lịch sử khoa học hoặc triết học khoa học tự nhiên. Trọng tâm của phần I là dựa vào những đặc điểm quen thuộc đó để nêu rõ lý do tại sao khoa học chính thống với hệ thống phương pháp của nó không muốn và không thể là một phương tiện tiên tri với thuật ngữ „tiên tri “ theo đúng ý nghĩa của nó.
Tại sao lại đưa vấn đề "Khoa học và Tiên tri“ trình làng vào lúc này, tưởng như một việc của kẻ vô công rồi nghề! Sự thực là về mặt lịch sử các thuật tiên tri vốn được ghép chung vào siêu hình và bị phê phán đả kích trong lịch sử loài người. Người ta đã bị treo cổ, bị đưa lên giàn hỏa thiêu vì liên quan đến những học thuật này. Chẳng phải là có những tôn giáo nghiêm cấm thực hành tiên tri hay sao. Chẳng phải ở nhiều nước các học thuật này phải trang bị một cái vỏ bọc khác để xuất hiện hay sao và lúc nào cũng có nguy cơ bị tấn công, phê phán. Xã hội con người có những chuyện tức cười: Nếu ở nhiều nước châu Âu ngày nay anh có thể ngang nhiên tuyên bố tin ở Thượng đế, thậm chí còn thấy Thượng đế giáng trần nữa cũng không có ai làm gì anh, nhưng nếu anh nói tin và đã thấy ma người ta sẽ cho anh vào bệnh viện tâm thần ngay. Những người Việt đã ở các nước gọi là văn minh châu Âu chắc sẽ xác nhận sự thực đó. Một cô bạn tôi kể với bác sĩ đa khoa rằng cô tin có ma, ông ta khuyên cô nên đến khám tâm thần ngay. Tôi đã phải chặn đứng cô không được nói những chuyện như vậy một cách công khai. Tâm thần tập thể thì không sao vì một phần lớn dân số cũng tin như anh, nhưng tâm thần cá biệt thì dù nhẹ cũng dính đòn hội tề. Đến khám tâm thần mà khai là tin vào bói toán, tử vi thì dễ có xe bệnh viện đến chờ trước cửa phòng khám.
Tất nhiên cách đối sử như vậy là bất công, nhất là khi khoa học chính thống đã tiếp nhận những đứa con khá đáng ngờ như thuyết lượng tử, toán xác suất, thuyết string... (sẽ trình bầy sau). Để tránh sự ngược đãi dành cho các học thuật phi chính thống kia (rất xin lỗi vì tôi chưa nghĩ ra được danh từ thích hợp để phân biệt hai dòng khoa học đó) các học giả cũng như những người hành nghề trong các lĩnh vực này thường đưa ra những thực chứng rất đáng tin cậy và đã qua kiểm chứng để chứng minh tính khoa học của ngành mình. Họ đã làm một việc vô ích, vì nếu chỉ dựa vào các tiêu chuẩn đề ra cho khoa học để xét thì sẽ không bao giờ có sự chấp nhận của khoa học CT cho phép những học thuật kia đứng vào hàng ngũ của mình dù có xếp hàng rổ rá đến bao giờ đi nữa. Nếu sự loại bỏ không xẩy ra hôm nay thì một ngày đẹp trời nào đó nó sẽ xẩy ra và lúc ấy có thể sẽ khốc liệt. Điều đó thực ra không có gì đáng trách. Khoa học CT với nhãn quan tương đối khách quan và tỉnh táo cần thiết đóng vai trò đối trọng và để tận khai thác một nửa bán cầu não, khi các học thuật kia mang nhiều đặc điểm chủ quan khai thác phần não còn lại và cho con người sáng tạo khi bay bổng trong cả tiềm thức. Điều đáng tiếc là loài người đã để nửa não này bóp cổ nửa não kia quá lâu. Cái xương sườn của siêu hình khi được thổi hơi thành bà khoa học chính thống to béo đã cưỡi lên đè gần chết bẹp nguồn gốc của nó.
Trình bầy rõ những đặc điểm của các khoa học chính thống ta thấy rằng đã đến lúc những người nghiên cứu các học thuật KCT gạt bỏ ảo tưởng ghép mình vào KHCT mà phải đứng ra xác minh bản chất học thuật của ngành mình để khẳng định dòng khoa học thứ hai. Đây là một thách thức thú vị cần sự đóng góp của mọi người quan tâm, dù thuộc vào dòng chẩy nào. Có lẽ thời điểm đã đến. Những phần dưới sẽ cố gắng chứng minh vai trò cần thiết của các học thuật KCT trong văn hóa nhân loại.
LHK
Còn tiếp
Thiên Sứ giới thiệu.
Thiên Sứ
24-01-2008, 08:41 AM
Quí vị và anh chị em quan tâm thân mến.
Tác giả viết:
Để tránh sự ngược đãi dành cho các học thuật phi chính thống kia (rất xin lỗi vì tôi chưa nghĩ ra được danh từ thích hợp để phân biệt hai dòng khoa học đó)
Hiện nay có rất nhiều nhà nghiên cứu dùng cụm từ "khoa học huyền bí" để mô tả các phương pháp tiên tri, hoặc các phương pháp ứng dụng cổ xưa khác trong cuộc sống con người. Hoặc cũng có khái niệm tương đương nhưng bao hàm hơn là "khoa học tâm linh". Đây là một sai lầm trong sử dụng khái niệm ngôn ngữ khí bản chất của các vấn đề "tâm linh" và "huyền bí" là những cái mà chính khoa học không lý giải được. Hay nói chính xác hơn là chưa thể lý giải được. Do đó sự gán ghép trên mang tính khiên cưỡng. Nhưng chính điều này lại thể hiện xu hướng khoa học hóa những vấn đề và hiện tượng còn bí ẩn trong cuộc sống con người - Những vấn đề liên quan đến các phương pháp ứng dụng của các nền văn hóa cổ còn tồn tại trong xã hội loài người mà trước đầy vốn bị coi là "mê tín dị đoan" đã bắt đầu được coi là đối tượng nghiên cứu của khoa học, khi người ta đã đặt danh từ khoa học phía trước nó.
Tác giả bài viết trên có lẽ cũng không muốn dùng các khái niệm trên, nên ông dùng khái niệm "Khoa học phi chính thống". Khái niệm này chính xác hơn, nhưng vẫn chưa ổn.
Theo tôi:
Không có vấn đề khoa học phi chính thống. Mà chỉ có những giá trị bị thất truyền của những tri thức vượt ngoài tri thức hiện đại nên huyền bí đến ngỡ ngàng với tri thức hiện đại. Khái niệm "tâm linh" chỉ là một cách giải thích tính huyền bí chưa giải thích được.
Theo tôi nên dùng một cụm từ khác như để so sánh giữa khoa học chính thống và khái niệm về những vấn đề thuộc về các phươntg pháp tiên tri cổ đang tồn tại trong các nền văn hóa của nhân loại là: "Khoa học chính thống và khả năng tiên tri đã tồn tại" .
Không dám tự cho là đúng. Xin quí vị và anh chị em minh xét.
Thiên Sứ
quangnx
24-01-2008, 02:45 PM
Không có vấn đề khoa học phi chính thống. Mà chỉ có những giá trị bị thất truyền của những tri thức vượt ngoài tri thức hiện đại nên huyền bí đến ngỡ ngàng với tri thức hiện đại. Khái niệm "tâm linh" chỉ là một cách giải thích tính huyền bí chưa giải thích được. Theo tôi nên dùng một cụm từ khác như để so sánh giữa khoa học chính thống và khái niệm về những vấn đề thuộc về các phươntg pháp tiên tri cổ đang tồn tại trong các nền văn hóa của nhân loại là: "Khoa học chính thống và khả năng tiên tri đã tồn tại" .
Hoàn toàn nhất trí và xin chia sẻ với anh Thiên Sứ nhận định trên.
Anh Thiên Sứ và các bạn thân mến!
Trong khoa học, chúng ta đã biết Nguyên lý quán tính. Với hiện tượng "Con Lắc Foucault" (là con lắc bình thường có sợi dây dài 68m và mang vật nặng 31kg) các nhà khoa học đã xác định được mặt phẳng chuyển động của con lắc được định vị chính xác theo các sao (hoặc chòm sao) có vị trí ổn định trên Hoàng đạo và người ta đã giải thích hiện tượng trên là một minh họa của Nguyên lý quán tính. Mở rộng ra, thì mọi con lắc hay mọi đội tượng vật chất vận động có tính quá trình (chu trình - sinh hủy) đều đã và đang chịu sự tác động của hiện tượng tương tự kể trên như là một xu hướng chịu sự tác động qui chiếu vĩ mô tất yếu. Bình thường thì chúng ta rất khó phát hiện ra hiệu ứng này, vì ngay cả với con lắc Foucault thì con lắc này phải đủ dài và đủ nặng thì ta mới có thể xem xét hiệu ứng này một cách trực quan được.
Như vậy, chúng ta có 2 yếu tố cơ bản cấu thành trong vấn đề đã đặt ra:
1. Các vật thể dao động - Yếu tố quá trình vận động có tính chu trình.
2. Sự qui chiếu vĩ mô - Yếu tố thiên văn.
Rõ ràng, ngoài những thế và lực tác động vi mô (cục bộ) thường thì rất lớn, thì sự tác động vĩ mô của vũ trụ lên vận động của các quá trình chu trình là có thật. Sự tác động vĩ mô sẽ thực sự đáng kể và trở nên hết sức quan trọng đối với các hệ thống cô lập vận động có tính chu trình một khi đã trung hòa tương đối tốt được các tác động cục bộ.
Tuy con lắc Foucault mới chỉ là 1 thực nghiệm đối với lực hấp dẫn là một lực tương tác có tầm vĩ mô, thì hiệu ứng này rất có thể cũng đã xảy ra đối với phức hợp của các lực có tầm vĩ mô khác ví dụ như lực điện từ, lực hấp dẫn v.v...
Như vậy, sự nhìn thấy nhau của vạn vật trong vũ trụ được thể hiện qua Nguyên lý quán tính, sự bảo toàn năng-khối lượng,.. và nguyên lý Entropy không giảm của hệ kín (Vũ trụ), đã cho chúng ta nhìn ra được tính có cơ sở khoa học của quan điểm thiên văn, chiêm tinh trong các hoạt động dự báo xu hướng của các quá trình có tính sống và sinh hủy. Một khi các hoạt động dự báo đã phát triển và hoàn thiện hơn thì sự tiên tri hay nói đúng hơn là học thuật tiên tri là hệ quả bình thường...
Từ những nhận thức đúng đắn đến một nền Học thuật chân chính là cả một bước dài, nhưng từ nhận thức đến sự trân trọng và quan tâm đúng mực đến thành quả trí tuệ của cổ nhân cũng như của Tổ tiên là viêc ai cũng làm được...
Hiện tại chỉ mong được như vậy...
Thân mến
Thiên Sứ
01-02-2008, 03:54 PM
THUẬT TIÊN TRI
Những đặc điểm của „khoa học chính thống“ trình bầy trong Phần I bài viết này thực ra không có gì mới vì chúng chỉ là kết quả tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu về lịch sử khoa học hoặc triết học khoa học tự nhiên. Trọng tâm của phần I là dựa vào những đặc điểm quen thuộc đó để nêu rõ lý do tại sao khoa học chính thống với hệ thống phương pháp của nó không muốn và không thể là một phương tiện tiên tri với thuật ngữ „tiên tri “ theo đúng ý nghĩa.
Tại sao lại đưa vấn đề „Khoa học và Tiên tri“ trình làng vào lúc này, tưởng như một việc của kẻ vô công rồi nghề! Sự thực là về mặt lịch sử các thuật tiên tri vốn được ghép chung vào siêu hình và bị phê phán đả kích trong lịch sử loài người. Người ta đã từng thân bại danh liệt, bị lên giàn hỏa theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen vì liên quan đến những học thuật này. Chẳng phải là có những tôn giáo nghiêm cấm thực hành tiên tri hay sao. Chẳng phải ở nhiều nước các học thuật này phải trang bị một cái vỏ bọc khác để xuất hiện hay sao và lúc nào cũng có nguy cơ bị tấn công, phê phán. Xã hội con người có những chuyện tức cười: Nếu ở nhiều nước châu Âu ngày nay anh có thể ngang nhiên tuyên bố tin ở Thượng đế, thậm chí còn thấy Thượng đế giáng trần nữa cũng không có ai làm gì anh, nhưng nếu anh nói tin và đã thấy ma người ta sẽ cho anh vào bệnh viện tâm thần ngay. Bệnh Tâm thần mê tín tập thể thì không sao vì một phần lớn người đời cũng mê tín vào một tôn giáo nào đó như anh nhưng nếu anh có chuyện tâm thần cá biệt thì dù nhẹ anh cũng dính đòn.
Tất nhiên cách đối sử như vậy là bất công, nhất là khi khoa học chính thống đã tiếp nhận những đứa con khá đáng ngờ như thuyết lượng tử, toán xác suất, thuyết string... vào hàng ngũ của mình. Và nếu không có những thuyết giáp ranh đó thì khoa học chỉ còn là khoa học cổ điển. Để tránh sự ngược đãi dành cho các học thuật siêu hình (xin được gọi tạm như vậy để phân biệt hai dòng khoa học) các học giả cũng như những người hành nghề trong các lĩnh vực này thường đưa ra những thực chứng rất đáng tin cậy và đã qua kiểm chứng để chứng minh tính khoa học của ngành mình. Họ đã làm một việc vô ích, vì nếu chỉ dựa vào các tiêu chuẩn đề ra cho khoa học để xét thì sẽ không bao giờ có sự chấp nhận của khoa học chính thống cho phép những học thuật kia đứng vào hàng ngũ của mình dù có xếp hàng rổ rá đến bao giờ đi nữa. Khoa học chính thống không muốn chia sẻ ngai vàng của mình nên nếu sự loại bỏ không xẩy ra hôm nay thì một ngày đẹp trời nào đó nó sẽ xẩy ra và lúc ấy có thể sẽ khốc liệt. Vì thế làm minh bạch càng sớm càng tốt. Thực ra Khoa học chính thống với nhãn quan tương đối khách quan và tỉnh táo và dễ kiểm tra hơn cần thiết đóng vai trò đối trọng và để tận khai thác một nửa bán cầu não vào nhận thức vũ trụ, khi các học thuật kia mang nhiều đặc điểm chủ quan khai thác phần não còn lại và cho phép con người nhận thức sáng tạo hơn khi bay bổng trong cả tiềm thức và siêu thức. Điều đáng tiếc là loài người đã để nửa não này bóp cổ nửa não kia quá lâu. Cái xương sườn của siêu hình khi được thổi hơi thành bà khoa học chính thống to béo đã đè gần chết bẹp nguồn gốc của nó.
Trình bầy rõ những đặc điểm của các khoa học chính thống ta thấy rằng đã đến lúc những người nghiên cứu các học thuật tạm gọi là siêu hình gạt bỏ ảo tưởng ghép mình vào khoa học chính thống mà phải đứng ra xác minh bản chất học thuật của ngành mình để khẳng định dòng khoa học thứ hai. Đây là một thách thức thú vị cần sự đóng góp của mọi người quan tâm, dù thuộc vào dòng chẩy nào. Có lẽ thời điểm đã đến. Những phần dưới sẽ cố gắng chứng minh vai trò cần thiết của các học thuật siêu hình trong văn hóa nhân loại mà điển hình nhất là các học thuật tiên tri.
Đặc điểm của các thuật tiên tri
Mọi hoạt động của con người cũng như của xã hội loài người đều hướng về tương lai. Ít nhất người ta cũng có hy vọng rằng những cố gắng ngày hôm nay sẽ mang lại một kết quả tốt đẹp sau này. Viễn cảnh tốt đẹp trong tương lai có thể được suy diễn từ những dữ kiện hiện tại, nhưng cuộc đời biến đổi vô thường, ai dám khẳng định điều mình suy diễn sẽ thực sự xẩy ra. Nhu cầu biết trước về tương lai để đưa ra quyết định hành động ứng xử cho phù hợp là mong muốn cố hữu của con người. Đó cũng là lý do phát sinh và tồn tại của các thuật tiên tri đã được kiểm chứng trong hàng ngàn năm qua.
Tiên tri là sự biết trước (và phát ngôn) một sự kiện sẽ xẩy ra trong tương lai. Một số lời tiên tri mang tính khẳng định, nhưng cũng có những tiên tri đặt ra điều kiện như nếu có sự kiện này thì sự kiện kia sẽ xẩy ra. Các tôn giáo thường lưu truyền lại nhiều tiên tri nhưng Con người quan tâm nhiều hơn đến các tiên tri về hậu vận của chính cá nhân mình. Các triều đại, các thể chế xã hội và luật pháp sẽ qua đi nhưng con người luôn lo lắng về ngày mai của mình vẫn mãi tồn tại. Đó cũng là lý do tại sao các thuật tiên tri tồn tại dai dẳng bất chấp mọi cản trở, cấm đoán.
Một điều đáng quan tâm và cần tìm hiểu là có tôn giáo không khuyến khích hoặc cấm ngặt vận dụng các thuật tiên tri. Một tôn giáo tin vào thượng đế vốn đã có những nhà tiên tri do thượng đế chỉ định để „khải huyền“ tức là nói ra những điều huyền diệu và tín đồ một khi đã gia nhập đàn chiên do chúa chăn dắt thì số phận đã do thượng đế an bài, khi chết cũng trở về trong lòng đấng tối cao nên sự tò mò về tương lai chỉ là hệ quả của một niềm tin yếu ớt. Có lẽ đó là lý do cấm đoán của một số tôn giáo đối với tiên tri. Trái lại, nhiều truyền kỳ về các cao tăng, đạo sĩ Đông Á nói đến khả năng tiên tri của các vị về xã hội cũng như tương lai của cá nhân cũng như những đóng góp của các vị vào huyền thuật, chiêm bốc, tử vi... không phải không có căn cứ lịch sử. Như vậy việc cấm đoán thuật tiên tri nhìn từ góc cạnh nào, khoa học hay tôn giáo, cũng vô lý, nhất là khi ta từ tiềm thức nhận ra rằng con người cần biết cái đáng biết.
Khác với những dự báo trong khoa học vốn dựa trên những hệ thống tri thức đã có xây dựng trên nền tảng các dữ liệu thu thập được có liên quan trực tiếp đến đối tượng dự báo, thuật tiên tri đưa ra nhận định xuất phát từ những phương pháp thông tin đặc biệt hay những hệ thống vật lý không có mối liên hệ nào với đối tượng được tiên tri. Vì thế Khoa học vốn suy diễn theo quan hệ nhân quả không thể giải thích những con đường siêu hình dẫn đến tiên tri của các thuật này. Tuy nhiều tiên tri tỏ ra đã ứng nghiệm trong phạm vi xã hội cũng như trong phạm vi cá nhân, và lẽ ra các thuật siêu hình là một nguồn gốc văn hóa của nhân loại phải được công nhận song song tồn tại cùng các khoa học cụ thể khác, nhưng do nắm được vị trí chính thống và để bảo vệ vị trí chính thống của mình khoa học đã đem tất cả cố gắng để phủ nhận các thuật tiên tri. Nếu không có sức sống nội tại các thuật này không thể tồn tại đến ngày nay. Sức sống nội tại của các thuật tiên tri chính là độ tin cậy nhất định của chúng trong vận dụng.
Nhiều năm qua những người có chút tăm tiếng không ai có gan công nhận các hiện tượng siêu nhiên. Chỉ công nhận những hiện tượng không thể giải thích bằng khoa học là những hiện tượng khách quan đã đủ để thân bại danh liệt, mất hết địa vị xã hội và những quyền lợi kèm theo. Đối với những người làm khoa học đứng đắn việc bị loại bỏ ra khỏi các hoạt động khoa học là một hy sinh quá lớn khiến họ phải tránh né. Những người khác lại lấy việc chống đối triệt để những người công nhận tính khách quan của các hiện tượng siêu nhiên làm con đường tiến thân. Dựa vào các thế lực che chở họ công kích bất kể sai đúng. Những trường hợp tương tự cũng được quan sát trong sự phát triển của y học thế giới. Biết bao lương y không xuất xuất thân từ các trường đại học y khoa đã bị cấm hành nghề bị giam cầm. Gần đây, những người đề suất các phương pháp chữa ung thư được dư luận xem là hữu hiệu và chứng minh sai lầm của phương pháp quang tuyến trị liệu hay hoá dược trị liệu đã bị cấm phát biểu, bị vu là có bệnh tâm thần, thậm chí bị ám sát. Vì nếu những người bị ung thư thôi không chịu điều trị theo phương pháp y học chính thống mà theo các phương pháp của Beck, Clark thì sẽ có nhiều công ty dược phẩm giải thể! Việc giành dật thị trường chỉ là chuyện rất bình thường kể cả trong ngành tiên tri.
Một đặc điểm của các thuật tiên tri là tính siêu hình khiến người ta có thể tiếp cận nó với những quan điểm rất khác nhau. Như khi xem số tử vi người ta thường theo các cách cục như những công thức toán nhưng diễn giải các cách cục đó theo màu sắc quan điểm cá nhân Có những quan điểm tỏ ra dị đoan và bị phê phán khép vào loại mê tín. Mà bị phê phán là mê tín thường cũng đồng nghĩa với việc đặt ra ngoài vòng pháp luật! Các cơ quan nhà nước không có chuyên môn sâu cũng khó phân biệt ai là người có quan điểm mê tín, ai là người diễn giải lô gich theo học thuật. Đó là chưa kể khả năng, độ sâu kiến giải cũng phụ thuộc vào trạng thái tinh thần và thể chất có thể biến đổi của người kiến giải. Những biến đổi chủ quan này ảnh hưởng đến khả năng suy diễn hoặc xa hơn nữa là khả năng cảm ứng sự kiện.
Mặt khác phải thấy rằng các thuật tiên tri với phương pháp tiếp cận siêu hình như từ tổ hợp những con bài Lenormand, bài Tarot, từ vị trí các biểu tượng sao trong lá số tử vi hay từ bố cục của các vỏ sò, mẩu xương của người man thuật (shamanisms) không thể luôn luôn đưa ra được những tiên tri chính xác có tính lặp lại cao, đó là chưa kể những phương pháp tiên tri có xuất sứ cổ xưa như lên đồng, cầu hồn. Nếu như một phương thuốc đông y có thể chữa được sáu bẩy trong số mười bệnh nhân đã đáng được trân trọng là một phương thuốc hay, thì một lời tiên tri không chứng nghiệm lại có ảnh hưởng phủ nhận đáng kể với thuật tiên tri hay cá nhân người thực hành tiên tri. Đó cũng là một bất công? Sự thực là một người tìm cứu cánh ở tiên tri thường đặt quá nhiều niềm tin vào phương pháp này (và ra quyết định theo hướng của tiên tri) nên sự thất vọng của họ khi gặp một tiên tri không linh nghiệm thường quá lớn. Hơn nữa, khoa học chính thống không dám nhận mình có khả năng tiên tri, những dự báo khoa học bao giờ cũng tự hiểu là nằm trong một vùng dung sai nào đó. Trong các thuật tiên tri hoặc không có vùng dung sai hoặc vùng đó không thể xác lập. Vì thế Khoa học chính thống dựa vào tiêu chuẩn đặc trưng của riêng mình dễ dàng bác bỏ thuật tiên tri. Người ta có thể dựa vào các tiêu chuẩn của khoa học đề ra cho các lý thuyết khoa học, phương pháp khoa học để nhận xét xem một thuyết mới nào đó đã đủ tiêu chuẩn để được gọi là khoa học hay chưa nhưng không thể đem những tiêu chuẩn này áp đặt lên những học thuật khác loại như siêu hình, như thế chẳng khác gì ép buộc „tất cả các loại hoa cúc đều phải là cúc vạn thọ“, một cách bóp cổ phát triển của văn hóa nhân loại. Đến đây ta có thể đưa ra một nhận định cơ bản là không thể đem các tiêu chuẩn của khoa học đặt ra cho mình để phán xét các thuật tiên tri hoặc những thuật siêu hình khác là học thuật có phương pháp riêng biệt.
Trên đây có nhắc đến khả năng cảm ứng của một người thực hiện thuật tiên tri. Vậy cảm ứng là gì, cảm ứng có phải là đặc điểm riêng của các thuật siêu hình không. Cảm ứng là một khả năng thuộc về tiềm năng của con người ghép nối ta với một sự việc có ý nghĩa nhất định khiến ta nhận được thông tin về sự việc ấy không cần qua các phương tiện trung gian khác. Trong các công bố gần đây hiện tượng cảm ứng được xếp vào loại các hiện tượng cộng hưởng sinh học (Bioresonance). Có rất nhiều thực chứng cho thấy những người chuyên nghiên cứu các thuật tiên tri có khả năng nhập trạng thái cảm ứng cao hơn người không luyện tập. Cảm ứng mang lại thông tin ngoại vòng cách cục. Người ta tin rằng người có khả năng cảm ứng cao có thể tiên tri trong những lĩnh vực như phong thủy, tướng mệnh mà không cần được đào tạo về những chuyên môn này. Tuy vậy cảm ứng không nhất thiết chỉ là đặc điểm của người làm việc trong các lĩnh vực tiên tri. Sự tập trung tư tưởng cao độ của những người hoạt động trong các ngành khoa học tự nhiên có thể khiến cho trực giác trở thành một công cụ quan trọng. Nhiều nhà khoa học tự nhiên công bố rằng đã tìm ra giải đáp cho vấn đề quan tâm của mình trong giấc mơ. Ngày nay ở nhiều nước trên thế giới có những khóa huấn luyện khả năng cảm ứng để vận dụng vào những lĩnh vực khác nhau, do đó không thể cho rằng cảm ứng hoàn toàn mang tính chủ quan không thể kiểm tra.
Vấn đề còn lại là liệu các thuật tiên tri có xứng đáng được một vị trí bên cạnh khoa học chính thống hay không.
Sự thực là các thuật tiên tri vẫn tồn tại bất chấp mọi ngăn cản cấm đoán như một dòng nước ngầm trong mỗi dân tộc, mỗi địa phương của trái đất và là một thành phần quan trọng của văn hoá một dân tộc ảnh hưởng lớn đến xã hội, truyền thống, phong tục và trong tiềm thức chi phối ứng xử hàng ngày của cá nhân. Phủ nhận sự thực đó xem là nó không tồn tại là một cách đối sử phi khoa học, nói theo cách nói cũ là duy tâm vì nó xuất phát từ ý muốn phủ nhận các hiện tượng khách quan này. Cách đối sử thông minh nhất là tiếp nhận vốn học thuật cũ một cách hệ thống và tìm hiểu khai thác, lý giải và đánh giá khả năng vận dụng của các học thuật này và tận dụng chúng. Ta cũng cần thiết phải xây dựng và đưa ra những tiêu chuẩn để một học thuật có thể xếp vào hàng các học thuật siêu hình khi đáp ứng được các tiêu chuẩn đó. Ít nhất một ngành tiên tri cũng phải có những xuất phát điểm rõ ràng không mâu thuẫn nhau như một hệ tiên đề, có hệ thống những nguyên tắc khai thác thông tin và có những tiêu chuẩn đánh giá kết quả... Những thuật tiên tri không đảm bảo những yêu cầu hệ thống chỉ có thể xem là hiện tượng và được sắp xếp vào một chuyên đề bao gồm hơn. Việc hệ thống hóa sắp xếp các thuật tiên tri sẽ giúp tập trung nghiên cứu, lý giải thấu đáo hơn về bản chất của các hiện tượng.
Một điều may mắn cho khả năng chấp nhận các thuật tiên tri trong thời đại này là chính những phát triển của khoa học chính thống đã đang xóa nhoà vùng giáp ranh. Ta biết rằng không có ai thực sự „hiểu“ những thuyết mới nhất trong vật lý hiện đại như thuyết lượng tử. Không phải chỉ những nhà vật lý nặng về triết lý như Fridjoff Capra mà cả những nhà vật lý đang hoạt động tích cực trong những thuyết mũi nhọn của vật lý cũng nhận ra sự chuyển biến quan trọng này. Trình bầy sâu về vấn đề này là một gánh nặng quá lớn về sức lực và thời gian đối với người viết, xin các quý vị bạn đọc hãy tìm đọc chẳng hạn cuốn The Self-Aware Universe của tác giả Amit Goswami, đã phát hành từ năm 1993 do Penguin Group (USA). Trong cuốn này, tác giả là một giáo sư về vật lý lý thuyết tại trường đại học Oregon đã thuyết minh rất sáng tỏ về khả năng giải quyết những nghịch lý của khoa học hiện tại nếu ta xuất phát từ quan điểm là vũ trụ có nguồn gốc tinh thần. Những thí nghiệm gần đây nhất của vật lý lượng tử đã góp phần củng cố quan điểm của Goswami. Nhiều nhà khoa học có tên tuổi cũng đã tỏ ra có can đảm công nhận các hiện tượng siêu nhiên ngay trong các chương trình thông tin quần chúng mà không sợ búa rìu dư luận, chứng tỏ thời đại đã chuyển biến.
Ngày nay khi kết quả thực nghiệm của vật lý lượng tử khiến ta phải kết luận rằng việc phân biệt duy tâm và duy vật chẳng qua chỉ là chuyện tào lao ở bình diện thấp, việc công nhận nguồn gốc tinh thần của vũ trụ thực ra chỉ là vấn đề kinh viện. Trong các lĩnh vực sinh học, y học người ta đã vượt qua những lý thuyết sơ khai về trường sinh học để đi xa hơn vào thực nghiệm và ứng dụng thuyết lượng tử kết hợp với quan điểm trường hình dạng (morphogenetic field) do Sheldrake đề xuất. Những người theo triết thuyết cổ có thể xem như đó là một cách tiếp cận đến cái gọi là tri thức vĩnh hằng Akasha được nói đến trong kinh Veda. Khoa học ứng dụng không còn quan tâm đến tranh biện kinh viện. Trong khi những người quan tâm đến khía cạnh triết lý còn băn khoăn suy xét, các ngành ứng dụng đã từ hàng chục năm nay đưa ra những thành quả kỹ thuật không thể giải thích bằng vật lý cổ điển.
Hôm mới đây vợ chồng tôi được chứng kiến một cuộc trình diễn chẩn đoán trên một thiết bị chẩn đoán làm việc theo nguyên lý trường sinh học và vật lý lượng tử do một viện nghiên cứu tại liên bang Nga chế tạo. Thiết bị này mang tên Oberon và gần đây cũng được lắp ráp tại nước ngoài theo giấy phép của Nga. Sau khi máy tự động chẩn đoán toàn bộ hoạt động cơ thể của một người căn cứ vào các tần số đặc trưng của các vùng tương ứng trên cơ thể, có thể xác định loại dược liệu cần sử dụng dựa trên phát hiện tần số đặc trưng của dược liệu và sự cộng hưởng của dược liệu đó với phần thân thể cần chữa trị. Chúng tôi phải công nhận là những kết quả chẩn đoán của máy Oberon hoàn toàn trùng khớp với các chẩn đoán trước đây của nhiều chuyên gia và phòng thí nghiệm y học, trừ một vài hiện tượng Spondylosis ở khớp xương cổ không thấy máy cho nhận xét. Những thiết bị khác dựa vào sự tồn tại một trường morphogenetic như máy Quantec có giá khoảng 15.000,- USD còn được giới thiệu là có khả năng chẩn đoán (kể cả chẩn đoán các biểu tượng, hình ảnh) và điều trị từ xa. Nếu các thiết bị này làm việc được đúng như hứa hẹn, chúng đã bắt đầu thay thế những người mà ta đang gọi là nhà ngoại cảm. Có lẽ một ngày nào đó với những thông tin hình ảnh ban đầu, một thiết bị lượng tử-trường hình dạng (hoặc trường gì đi nữa) sẽ cho ta một bản nhận xét phong thủy hoàn chỉnh kèm các đề nghị sửa đổi hợp lý. Điều kỳ diệu đó được thực hiện khi chính những phương tiện kỹ thuật có khả năng cảm ứng – tưởng như chỉ có ở sinh vật - để tiếp cận những trường mang thông tin. Nhiều chuyện lạ ngày hôm qua rất có thể ngày mai không còn là chuyện lạ nữa, và ở những phòng nghiên cứu tuyệt mật trên thế giới này chắc chắn ta sẽ tìm thấy hoặc đợi lâu sẽ thấy phần dưới của núi băng. Các phương pháp tiên tri được nghiên cứu phát triển có hệ thống có thể chính là những con đường giúp con người thông qua những hệ thống vật lý – thông tin với những phương pháp diễn giải khách quan tiếp cận đến bí mật của tương lai, thì dù đó là Akasha theo cách gọi của người Ấn hay trường morphogenetic hay trường gì đi nữa cũng chỉ là để phục vụ cho con người tìm quyết định đúng chỗ, đúng lúc. Rất có thể một ngày nào đó các thiết bị lượng tử - trường sẽ tự động thực hiện các phép tiên tri giống như tìm số ngẫu nhiên trong các trò chơi ngày nay.
Viết về vấn đề này là việc của các học giả và khối lượng bài viết có thể là nhiều cuốn sách. Tôi không có khả năng và kỳ vọng làm việc đó. Thời giờ có hạn, không thể đưa ra nhiều tư liệu tham khảo, nhưng tôi nghĩ rằng phần lớn bạn đọc đã có tri thức về các dữ liệu nêu ra trong bài viết ngắn này và chắc Quý vị là người sẽ chính danh cho các học thuật loại này là vốn quý trong gia tài văn hóa của chúng ta. Sơ suất, nông cạn là không thể tránh khỏi. Rất mong sự rộng lượng của bạn đọc.
LHK
Thiên Sứ
01-02-2008, 10:25 PM
THUẬT TIÊN TRI
(Tiếp theo)
Tự nhiên đặt ra trước con người vô số hiện tượng không thể (hoặc chưa thể) giải thích bởi các ngành khoa học. Về nguyên tắc, cho đến nay chưa có cách nào tiếp cận một cách chủ động và có kiểm tra vùng trải nghiệm chủ quan của con người. Các khoa học như Tâm lý học, Tâm lý bệnh học, Tâm lý trị liệu... và những môn học nào liên quan đến tâm lý đều ít nhiều có một chân đứng trong vùng tranh tối tranh sáng này. Người ta không thể chối bỏ kinh nghiệm, từng trải về nội tâm của cá nhân (với những người này những từng trải, kinh nghiệm đó THẬT như trong cuộc sống thường ngày), nhưng nghiên cứu thế giới chủ quan bằng phương pháp khoa học là điều không thực hiện được. Những trải nghiệm chủ quan thường không thể diễn tả truyền đạt bằngcác cách thông thường mà phải dùng đến những phương tiện thể hiện đặc biệt như hình ảnh, âm thanh, mô phỏng bằng lời bằng động tác...
Những người xây dựng các thuyết nói trên thường xuất phát từ trải nghiệm, kinh nghiệm bản thân là những bằng chứng chủ quan khiến họ tin chắc chắn vào tính xác thực của các thuyết đó. Những thuyết được xây dựng trên những khởi điểm là trải nghiệm cá nhân đều xa lạ với khoa học chính thống, vì trải nghiệm không thể truyền đạt hay học tập. Những thuyết này nhờ sự ủng hộ của những người có trải nghiệm tương tự ủng hộ nên tồn tại qua thời gian. Người không có trải nghiệm cá nhân chỉ có thể đến với những thuyết này do đã đặt niềm tin của mình vào thuyết đó hoặc vào những người đại diện của thuyết đó hoặc do bị thuyết phục .
Vậy niềm tin là gì? Tin là khi ta quan niệm một cái gì đó là sự thật không cần đến các chứng nghiệm. Mặt khác niềm tin là một khả năng tâm lý đặc biệt của con người khiến ta có thể hành động (ra quyết định) bất chấp thiếu sót thông tin về đối tượng. Nếu xét kỹ ta sẽ thấy suốt ngày vẫn hành động chủ yếu dựa vào niềm tin. Nếu chỉ hành động khi biết đầy đủ về đối tượng ta sẽ không làm được gì hết. Người ta cho rằng khi không bị thuyết phục mà vẫn có niềm tin thì niềm tin ấy có thể xuất phát từ tiềm thức. Nói đến tiềm thức hoặc vô thức là nói đến những cái không thể nắm bắt nên tranh luận là vô ích. Tiềm thức, vô thức là những khái niệm được xây dựng nên do các khoa học Tâm lý học, Tâm thần học và được vận dụng để giải thích các hoạt động tinh thần của con người. Nhưng cũng chính vì thế các khoa học này nằm trên vùng giáp ranh với siêu hình. Khi sử dụng thuyết Âm Dương Ngũ Hành xem hệ thống các khái niệm này là cơ sở để xây dựng những học thuyết khác như Y học, Phong Thủy, Bốc phệ... ta chỉ có thể dựa vào niềm tin về sự xác thực của chúng và lý giải rằng niềm tin đó xuất phát từ những trải nghiệm sâu xa còn lưu lại trong tiềm thức của chúng ta. Những trường hợp nghiệm đúng khi vận dụng các nguyên lý này củng cố niềm tin của ta, -nhưng như đã nói - với nguyên tắc của khoa học chính thống thì một số trường hợp đúng chưa bảo đảm tính khả nghiệm của lý thuyết. Người ta nói rằng muốn hủy diệt một đối tượng nào chỉ cần lấy lại niềm tin đã đặt vào nó. Một khi anh đã không tin vào những điểm xuất phát dựa vào niềm tin của một học thuyết thì với anh học thuyết ấy đã sụp đổ bất chấp những chứng nghiệm là nó có khi đúng. Tại sao vậy? Tại vì cho cùng một đối tượng trên cõi đời có nhiều con đường của niềm tin xuất phát từ những vũ trụ quan khác nhau đưa đến những học thuyết tương đương. Với những nền văn minh phát triển song song nhau, mỗi học thuật tiên tri là một hiện tượng văn hóa khu vực mang phong cách tư duy truyền thống và vũ trụ quan đặc thù, được một khu vực địa cầu chấp nhận áp dụng và có một mức độ chứng nghiệm nhất định. Gia nhập vào vũ trụ quan và dòng tư duy truyền thống đó ta sẽ tiếp thu được tinh thần học thuật và vận dụng được học thuật của khu vực đó.
Hãy lấy thí dụ Phong Thủy. Người Ấn độ cũng có môn Vaastu hoàn toàn tương đương trong vận dụng nhưng có xuất sứ lịch sử từ kinh Veda trước đây ba ngàn năm. Cơ sở ứng dụng của Vaastu là một Mandala (đồ thức năng lượng) cho phép người Ấn căn cứ vào đó kiến thiết nhà cửa, đền đài, đô thị cho hợp với những nguyên tắc vũ trụ. Khác với Phong Thủy được bổ sung thêm thắt chủ yếu trong thập kỷ cuối, những nguyên tắc chủ yếu của Vaastu đã có từ thuở ban đầu. Điều thú vị là người Ấn ngày nay không tin lắm vào Vaastu và thuật Phong thủy Trung Hoa cũng bắt đầu thịnh hành ở Ấn. Ta có thể xem hiện tượng này là do theo mốt nhiều hơn là do nhu cầu thực sự. Ở một số nước Âu Mỹ người ta cũng rải rác nghiên cứu ứng dụng Vaastu và có những người tỏ ra vô cùng lạc quan say mê với thuật này. Người châu Âu thoát thân từ cái nôi của khoa học tự nhiên khi làm quen với Phong Thủy không gặp khó khăn trong việc chấp nhận tính môi sinh của thuyết Loan Đầu cũng như hệ phương vị Bát Quái cùng các thuộc tính Ngũ hành Âm Dương như một hệ tiên đề không thể chứng minh. Nhưng những cách suy diễn duy lý dựa hoàn toàn vào các tổ hợp số được sắp xếp bằng một thủ tục máy móc thí dụ trường hợp „hợp thập“ trong Huyền Không làm người ta khó chịu vì trộn lẫn duy lý với siêu hình. Cái chính xác số học có gì đó không hợp với những quan niệm siêu hình như chính thần, linh thần... Mặt khác, các tài liệu kinh điển về Phong Thủy chưa bao giờ nói đến thuật trấn yểm và các vật phẩm phong thủy như thiềm thừ, chó đá, sáo trúc... xa hơn nữa là bùa chú. Các nhà phương thuật hay thuật sĩ thực hành phong thủy đã gia nhập những phương tiện này – vốn xuất sứ từ man thuật, vu thuật cổ xưa - vào phong thủy. Khó thể nói đây là việc phong phú hóa hay huyền bí hóa phong thủy. Chúng ta có căn cứ để tin cùng Trương Huệ Dân rằng người xưa đã do rèn luyện công phu kiến được Khí và nhận ra được những thuộc tính của Khí phụ thuộc vào đặc điểm phương vị , môi trường và đã căn cứ vào những kinh nghiệm này để tổng hợp nên môn Phong Thủy. Những kết quả tổng hợp này có thật sự bao gồm hết được những hiện tượng phong thủy liên quan đến Khí hay không, câu hỏi này cũng chỉ có những người kiến được KHÍ mới trả lời nổi. Có cơ sở để tin rằng vẫn có những người có ít nhiều khả năng như vậy. Dù không phải ai cũng có thể kiến Khí để nắm bắt được quy luật khách quan trong phong thủy, người ta tin rằng những quy luật đó tồn tại và có thể chứng nghiệm chúng trong vận dụng các quy tắc chính của phong thuỷ. Khó khăn chủ yếu trong nhận dạng quy luật phong thủy là tính xếp chồng tác dụng quy luật mang tính khách quan với tác dụng lòng tin của con người mang lại. Và như vậy, môn phong thủy trong những khu vực văn hóa khác nhau rất có thể được chứng nghiệm ít nhiều khác nhau.
Tác dụng của lòng tin? Trong phong thủy (cũng như vận dụng các thuật tử vi, tử bình...) Người ta giải thích hiện tượng đã, đang xẩy ra gắn liền với môi trường sống đồng thời cũng thực hiện các phép tiên tri cho tương lai, hậu vận một ngôi nhà trong quan hệ với chủ nhà. Bản thân hiện tượng Tiên tri đã là một chủ đề nghiên cứu của triết học, tâm lý học. Một tiên tri có thể xem là một định hướng khiến con người vận động thụ động theo hướng đó và tiên tri được chứng nghiệm. Một tiên tri cũng có thể là một chỉ dẫn để con người trong cuộc chủ động thay đổi những điều kiện tiên quyết khiến không thể chứng nghiệm được tiên tri. Vậy niềm tin vào tiên tri có thể làm cho tiên tri được chứng nghiệm hoặc không được chứng nghiệm. Muốn thực chứng khả năng chứng nghiệm của tiên tri phải loại bỏ ảnh hưởng cái Tin của con người, trong Phong Thủy đó là điều không đơn giản. Nghiên cứu phong thủy cũng không thể ra ngoài nguyên tắc này. Mặt khác Tiên tri bằng các thuật Tử vi, Tứ trụ, phong thủy căn cứ vào những quy ước cách cục rút ra từ suy diễn và thực chứng chỉ là những tiên tri „mờ“: Không ai có thể trực tiếp từ những thuật này nhận ra được một sự việc dứt khoát sẽ xẩy ra vào thời điểm, địa điểm xác định. Các tư liệu lịch sử cho thấy rằng những tiên tri mang tính định mệnh, khẳng định bao giờ cũng thu nhận được bằng con đường khác.
LHK
----------------------------
Tư liệu tham khảo:
Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Tìm về cội nguồn kinh Dịch, Nhà xuất bản Văn Hóa Thông tin Hà Nội
Gereon Hach: Vaastu, nhà xuất bản Goldmann 2000
AstroAnalysis, nhà xuất bản Random House 2005
Richard Tarnas: Das Wissen des Abendlandes, nhà xuất bản Albatros 2006
Alexander Wulfig: Lexikon der philosophischen Begriffe, Nhà xuất bản fourier 1999
Amit Goswami, Richard Reed, Maggie Goswami: The Self-Aware Universe, Penguin Group 1993
vBulletin® v3.6.11, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.