PDA

View Full Version : Lửa Tam Muội ( Tumo )


ANH SANG
26-12-2007, 09:26 PM
LỬA TAM MUỘI (TUMO)<o:p></o:p>
Đây là một trong sáu pháp du già của Naropa. Hãy thử tưởng tượng giữa mùa đông giá rét, khoảng âm mười độ, ngồi trong một động đá cao vào ngàn thước so với mặt biển, chỉ mặc đơn sơ một cái áo mỏng, vì họ biết phương pháp luyện lửa tam muội. <o:p></o:p>
Lửa Tam muội nghĩa là một ngọn lửa huyền bí, hay một năng lực bên trong, có nhiều trình độ khác nhau. Người Tây Tạng nghiên cứu phương pháp này rất thấu đáo, biết rõ tính chất, công dụng và hiệu quả của nó. <o:p></o:p>
Đại khái, người ta dùng hô hấp kích động các bí huyệt trong cơ thể, để lúc nào cũng cảm thấy ấm áp như được khoác một bộ áo dày, mà người Tây Tạng gọi là “mặc áo tiên”. Ngoài ra, còn phải biết cách nhập định, để cảm thấy thân tâm thoải mái, an lạc, dễ chịu mà họ gọi là “sống trong tiên cảnh”. Cao hơn nữa, hành giả hướng dẫn lửa đó theo thần mạch lên đỉnh đầu, để phát huy các quyền năng đặc biệt, mà họ gọi là “Nhập Tam muội”. <o:p></o:p>
Cũng như khinh công, luyện lửa tam muội là một phương pháp bí truyền, phải có thầy chỉ dẫn, chứ không thể học theo sách được. Vị thầy phải đã luyện thành công lửa Tam muội, để biết rõ các nguy hiểm trên đường tập luyện, vì một sai lầm có thể đưa đến điên loạn hay tử vong. Hành giả phải có một thân thể cường tráng, mới có thể khắc phục được những khó khăn vật chất trong bước đầu. <o:p></o:p>
Cũng như mọi phương pháp bí truyền, người ta thường thêu dệt nhiều điều huyền hoặc, khó kiểm chứng. Tuy nhiên, đằng sau những điều khó tin này, vẫn ẩn tàng một cái gì đó cần gạn lọc để tìm ra tinh hoa ở bên trong.<o:p></o:p>
Nói đến lửa tam muội, người ta liên tưởng ngay đến môn phái Kargyutpa và Milarepa, một vị tổ đã luyện đến mức thành công tối thượng. Milarepa có rất nhiều đệ tử, trong đó có một người tên là Rechung. Rechung được thầy truyền dạy lửa tam muội ngay sau khi nhập môn. Tuy nhiên, vốn là một học giả, quen sống trong môi trường từ chương sách vở, nên ông vẫn còn chấp ngã, chấp pháp, chuộng hình tướng bên ngoài. Có lần ông hỏi Milarepa, đã nổi tiếng như thế sao không tìm một ngôi chùa thật to mà ở cho xứng đáng, sống chi trong hang động hẻo lánh. Milarepa trả lời đối với ông thì một cung điện hay một hang đá như nhau, nhưng Rechung không đồng ý. Một lần khác, ông đề nghị thầy ra chốn thành thị thuyết pháp độ sinh, nhưng Milarepa trả lời đó là việc của người khác chứ không phải việc của ông. Rechung cảm thấy buồn, vì vẫn nhớ tới thế giới bên ngoài với các buổi tranh luận về giáo lý, những buổi đăng đàn thuyết pháp, những tràng pháo tay tán thưởng, những y phục sang trọng của các Trưởng lão, những yến tiệc linh đình. Cuối cùng, Rechung rời bỏ núi rừng, bất chấp lời khuyên của Milarepa: “Chưa độ được mình thì không thể độ được người”. <o:p></o:p>
Rechung đến Lhassa thuyết pháp và được nhiệt liệt tán thưởng. Ông có tài hùng biện, sức hấp dẫn quần chúng, nên chẳng bao lâu được coi là tháng tăng. Ông đi khắp Tây Tạng thuyết pháp, tranh luận và đánh bại các học giả uyên bác nhất. Danh tiếng của ông nổi như cồn, nhiều bậc quý tộc mời ông đến thuyết pháp. <o:p></o:p>
Một tiểu vương đãi ông như thượng khách, xây cho ông một ngôi chùa lớn, và gả con gái duy nhất cho ông (Sự kiện này xảy ra trước sự chấn hưng Phật giáo của Tsong Khapa, bấy giờ các Lạt Ma được lập gia đình). Bà vợ vừa hung dữ vừa thô tục, bà ỷ thế giàu sang mà đàn áp ông luôn, đốt sách vở của ông, đánh đuổi bạn bè của ông, cấm ông đi thuyết pháp, bắt ông mưu lợi vật chất. Tuy mặc y phục Trưởng Lão lộng lẫy, sống trong chùa to lớn, được mọi người ca tụng, nhưng ông không hạnh phúc. Đến một ngày kia, bà vợ cầm gươm chém ông sau một cuộc cãi vã. Rechung ôm vết thương bỏ chạy, nhưng thay vì máu, ông lại thấy một dòng nước trắng đục chảy ra ướt cả áo. Đó là nhờ ông luyện lửa Tam muội, máu trong người đã biến thành tinh chất. Ông lập tức từ bỏ tất cả, tìm về chốn cũ chăm chỉ tu hành, sau trở thành một đệ tử lớn của Milarepa.<o:p></o:p>
Theo Kinh điển Tây Tạng, có nhiều cách luyện lửa tam muội. Mỗi phương pháp lại có nhiều trình độ từ thấp đến cao, phần lớn bắt đầu từ luyện thở, rồi tới kiểm soát tư tưởng. <o:p></o:p>
Thông thường, môn sinh ngồi cho thật vững vàng, thoải mái. Cách ngồi phổ biến là kiết già hoặc bán già. Tuy nhiên, các thầy nhận thấy cách ngồi bán già không được quân bình, hơi ấm dễ bị thoát ra ngoài, cho nên chỉ cho môn sinh ngồi kiết già, vì nó duy trì được tư thế quân bình và ổn định nhất. <o:p></o:p>
Sau khi tập ngồi thuần thục, chân tay hết nhức mỏi thì bắt đầu tập thở cho thật đều, thật sâu trước khi hít thở theo nghi thức. Như vậy, môn sinh ngồi thế kiết già bắt chéo hai chân, bàn tay đặt lên đầu gối, ngón cái, ngón trỏ và ngón út thẳng ra, ngón giữa và ngón áp út thu vào lòng bàn tay. Thoạt đầu, họ thở cho thông hai lỗ mũi, sau đó tập trung tư tưởng vào hơi thở.Khi thở ra, họ quán đang xả bỏ các tính xấu như tham lam, ích kỷ, ngạo mạn, sân hận và si mê. Khi hít vào, họ quán đang thu vào những tính tốt như từ, bi, hỷ, xả, thanh tịnh, vô ngã, lợi tha… Tiếp theo, họ hít vào, dồn khí xuống bụng, nín thở trong một thời gian ngắn, trước khi từ từ thở ra. Cứ tập như thế, đến khi cơ thể hoàn toàn buông lỏng, tâm trí dứt hết các nỗi lo lắng, ưu phiền, hoàn toàn thoải mái tự tại. Giai đoạn này rất quan trọng, các thầy dựa trên công phu hành trì mà quyết định thu nhận học trò hay không. <o:p></o:p>
Sau đây là một trắc nghiệm. Lạt Ma Kyanga luyện thuần thục khí công. Ai cũng tin ông được điểm đạo truyền pháp, nhưng vị trưởng Lão chuyên về lửa tam muội lại từ chối. Đa số các thầy không nói rõ lý do từ chối, khiến học trò phải hoang mang. Lạt Ma Kyanga nhập thất thêm một thời gian, đến khi để một tờ giấy trước lỗ mũi, mà tờ giấy không lay động. Bấy giờ, ông đến xin truyền pháp. Vị Trưởng Lão cho ông ngồi thiền trọn ngày trong một căn phòng. Trước khi bắt đầu, Lạt Ma Kyanga yêu cầu nhắc lại điều kiện thử thách, và vị Trưởng Lão xác nhận chỉ cần ngồi trong phòng đủ một ngày là được. Khi ông sắp bước vào phòng, vị Trưởng Lão quăng ba con rắn hổ mang vào đó. Lạt Ma Kyanga thản nhiên bước vào, không hề sợ hãi, và toạ thiền suốt ngày. Hôm sau, ông lại bị từ chối, vị Trưởng lão giải thích: “Làm sao một người như ngươi có thể đi xa hơn nữa được! Có rắn độc trong phòng mà không đuổi ra, cứ ngu si đâm đầu vào đó nhập định, thì công phu dù có cao siêu đi nữa cũng không có lợi ích chi cả. Ngươi chỉ chú trọng điều khí chứ không để ý tới điều tâm, người luyện khí công giỏi, nhưng chẳng quan tâm tới việc trừ khử vọng niệm, dứt tuyệt tham sân si, tu hành như thế thì được lợi ích gì? Cho nên ngươi không xứng đáng học giáo pháp thượng thừa lửa Tam muội”. <o:p></o:p>
Lạt Ma Kyanga mới vỡ lẽ rằng ba con rắn đó là tượng trưng cho tham, sân, si. Cuộc thử thách chấm dứt, ông không vượt qua được. <o:p></o:p>
Nếu vượt qua thử thách, được chấp nhận cho làm lễ điểm đạo truyền pháp, hành giả sẽ bỏ bộ áo dày, chỉ khoác một tấm vải mỏng (Repa). Từ đó, họ không ngồi gần lửa, tìm đến nơi hoang vu, thanh vắng, có độ cao trên bốn ngàn thước để hít thở không khí trong lành. Bí kíp ghi rõ “không được tập luyện trong nhà cửa, xóm làng, vì không khí ở đó bị ô nhiễm củi lửa, có những rung động không tốt, ngoại cảnh làm xáo trộn tâm trí của hành giả”. Hành giả sẽ sống cô đơn ở nơi hoang vu, tập luyện theo phương pháp chỉ dạy.<o:p></o:p>
Công phu tu luyện gồm có ba phần: <o:p></o:p>
- Sơ khởi
- Cơ bản
- Ứng dụng <o:p></o:p>
Phần sơ khởi có năm bài tập <o:p></o:p>
- Quán thân trống không
- Quán hệ thần kinh trống không
- Quán vòng bảo vệ
- Quán thần mạch
- Quán các luân xa <o:p></o:p>
Phần cơ bản có ba bài tập: <o:p></o:p>
- Sản sinh lửa Tam muội bằng Khí công và tham thiền
- Kinh nghiệm về lửa Tam muội
- Lửa Tam muội siêu việt <o:p></o:p>
Phần ứng dụng có hai bài tập <o:p></o:p>
- Hưởng lợi ích của lửa Tam muội bằng tư thế, hơi thở và quán tưởng
- Hưởng lợi ích của chân phúc <o:p></o:p>
Thỉnh thoảng thầy ghé qua thăm, hướng dẫn thêm. <o:p></o:p>
Việc luyện tập theo thời khoá nhất định. Hành giả khởi công vào lúc trời vừa sáng cho đến xế trưa. Khoác một áo vải mỏng, ngồi trên một tấm thảm hay ván gỗ, nhưng ít lâu sau, họ phải ngồi trên mặt đất hoặc trên băng giá. <o:p></o:p>
Phương pháp tập luyện khác nhau tùy môn phái. Điểm giống nhau là quán tưởng các chủng tự. Phần lớn quán giữa rốn có bông sen bằng vàng, chính giữa có mặt trời chói lọi, toả ra các tia sáng hình chữ <st1:stockticker w:st="on">RAM</st1:stockticker> ( ). Trên chữ <st1:stockticker w:st="on">RAM</st1:stockticker> có chữ MA, tượng trưng cho Bồ Tát Dorje Naldjorma. Sau đó quán mình hoà nhập vào các hình ảnh đó. <o:p></o:p>
Chung tự không phải là chữ viết, mà là rung động của âm thanh huyền bí có năng lực đặc biệt. Thí dụ chữ Ram là lửa, nếu phát âm đúng thì âm thanh này phát sinh ra lửa. <o:p></o:p>
Sau khi hợp nhất với Bồ Tát Naldjorma, hành giả quán tưởng chữ A ở rốn và chữ Ha trên đỉnh đầu. Bây giờ, một quả cầu lửa to bằng nắm tay sẽ sáng rực ở rốn, mỗi hơi thở sẽ như ống bễ quạt cho ngọn lửa này cháy to hơn, mỗi lần dồn khí xuống ngọn rốn sẽ kích thích quả cầu này toả nhiệt mạnh mẽ. <o:p></o:p>
Hít hơi vào, giữ hơi lại và thở hơi ra đều nương theo một câu chú để giữ ngọn lửa đó không tắt. Nhờ trước đây đã luyện thành thục cách quán tưởng xả bỏ tham sân si khi thở ra, và thu từ bi hỉ xả khi hít vào nên tâm được thanh tịnh. Nếu đốt cháy giai đoạn, cẩu thả luyện khí mà chưa điều ngự được tâm, thì vọng niệm nảy sinh, luồng hơi nóng sẽ chạy loạn xạ vào các kinh mạch, là hành giả có thể điên loạn và tử vong.<o:p></o:p>
Nếu tâm không còn vọng động, hành giả có thể dùng tư tưởng hướng dẫn luồng hơi nóng đi thẳng vào các thần mạch (uma). Người Tây Tạng có những đồ hình thần mạch, vận chuyển khí lực tâm linh, khác với các kinh mạch vận chuyển khí huyết thông thường. Hành giả quán tưởng như sau: <o:p></o:p>
1 - Thần mạch Uma như sợi chỉ;
2 – Uma lớn dần bằng ngón tay;
3 – Uma to lên bằng cánh tay;
4 – Uma choán trọn thân mình, toàn thân trở thành cái ống lửa;
5 – Thân của hành giả hoàn toàn biến mất, hoà tan vào biển lửa vĩ đại bao phủ cả thế giới;
6 - Biển lửa mênh mông đó nhỏ lại dần;
7 – Toàn thân bao bọc bằng các ống lửa;
8 - Ống lửa bằng cánh tay;
9 - Ống lửa bằng ngón tay;
10 – Hơi nóng tan dần, không còn lửa, tất cả là hư vô vắng lặng, tất cả chỉ là không (Sunyata) <o:p></o:p>
Truyền thống môn phái của những người áo vải (Repa) có đặt ra một cuộc thi như sau: vào một đêm thật lạnh, các môn đồ tụ tập ở bờ sông. Họ ngồi xếp bằng, không mặc quần áo. Những người khác nhúng các tấm chắn nỉ xuống nước lạnh rồi đắp lên mình họ. Gió lạnh khiến nước đóng băng ngay, tấm chăn trở thành lạnh cóng. Người luyện lửa Tam muội phải làm sao cho tấm chăn đó khô ráo, ấm áp. Rồi lại nhúng chăn xuống nước, đắp lên mình, vận nhiệt cho khô đi, cho đến sáng. Người nào làm khô nhiều tấm chăn nhất được coi như thắng cuộc. Thực tế, có người làm khô trên 40 tấm chăn trong một đêm. Ít nhất phải làm khô 3 tấm mới được sử dụng từ “Repa” trong danh hiệu. <o:p></o:p>
Đối với môn sinh mới, lúc mới tập thì cơ thể ấm áp, sau đó lại lạnh. Khi đã thuần thục, nhiệt độ bên ngoài cơ thể càng lạnh thì cơ thể tự động gia tăng sức nóng lên. Có người luyện lửa Tam muội thành công, thì không mặc quần áo nữa, cứ để loã thể. Khi quân đội Anh xâm chiếm Tây Tạng, các tu sĩ loã thể đó bị đưa ra xét xử về tội công xúc tu sĩ và bị giam. <o:p></o:p>
Người Âu Mỹ cũng công nhận việc hô hấp làm điều hoà máu, khiến cơ thể ấm lên, và tập trung tư tưởng tự kỷ ám thị tạo một cảm giác ấm áp cho cơ thể. Nhưng họ khó tin vào năng lực gia trì thần chú. Đây là một sự kiện huyền bí, không thể giải thích, chỉ có người trong cuộc mới hiểu. <o:p></o:p>
Lửa Tam muội vốn xuất phát từ Hatha Yoga, nên người Ấn Độ cũng biết cách luyện. Cách đây không lâu, một nhà Yogi Ấn Độ đã đến phi trường Mạc Tư Khoa với chiếc áo mỏng vào một ngày mùa đông, làm những người tiếp đón hết sức ngạc nhiên. <o:p></o:p>
Ngoài sức chịu lạnh, người Ấn còn có khả năng chịu nóng nữa. Họ có thể ngồi cạnh bốn đống lửa vào lúc giữa trưa hè, hoặc giẫm chân lên than cháy đỏ trong những lễ hội.<o:p></o:p>
Lửa tam muội trong Khí công là tổng hợp 3 ngọn lửa: Âm hoả sinh từ Hội âm, Dương hoả sinh từ Trường cường (chân hoả) và Địa hoả thì lấy từ sâu dưới lòng đất. Còn lửa tam muội của hệ 12 kinh mạch Trung Quốc bắt nguồn từ nội tạng
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]--><o:p></o:p>
Hệ nadi Ấn Độ bắt nguồn từ luân xa
Trung Quốc dùng hệ 12 kinh mạch luyện công cơ bản, nên họ lấy nguồn khí âm dương ngũ hành từ nội tạng của con người.
Lửa tam muội là vấn đề của luân xa - là các cánh cửa mở ra các cõi giới khác. Chứ không phải là vấn đề của nội tạng nữa.<o:p></o:p>

Nguồn lửa tam muội yoga Tây Tạng từ luân xa Manipura, là cánh cửa liên hệ với hoả đại trong tự nhiên, mang bản chất dương hoả. Tam muội là đại định, hoặc tam là 3: tham , sân si, trong đại định thì không có 3. Đây là môn luyện tâm linh. Ngọn lửa này là linh hoả.
Còn nguồn lửa tam muội trong tĩnh công ý thức <st1:stockticker w:st="on">HVT</st1:stockticker> từ luân xa Muladhara (tam muội ở đây gồm : thái âm, thiếu âm, thiếu dương) là cửa liên hệ địa đại, mang bản chất âm hoả. Ngọn lửa này chỉ có khí công chứ không có thiền định. Đây là môn luyện dưỡng sinh. Ngọn lửa này dùng để điều hoà nhiệt dương hoặc thanh dương cho căn vượng dương. Ngọn lửa này là thanh hoả.<o:p></o:p>
<o:p> </o:p>
Luân xa có 10 cánh, ở tâm là hình tam giác màu đỏ hướng xuống dưới, tương ứng với HOẢ đại trong tự nhiên. LX này nằm ở trên rốn, ngang với vị trí tỳ (lá lách), ở hệ thống thần kinh sau dạ dày (Solar Plexus). <o:p></o:p>
LX này có tên khác là Nabhi Chakra. <o:p></o:p>
Như vậy, lại thêm một khám phá nữa: Kundalini đi qua LX 3 thì hành giả vượt qua được rào cản của Hoả đại. Và đây chính là nguồn gốc của lửa tam muội (Tummo) trong Yoga Tây tạng. Giải thích vì sao các Yogi Tây Tạng có thể chịu được cái lạnh giá khắc nghiệt của xứ sở này.<o:p></o:p>
Goswami đã chứng minh rằng: thực ra LX Sahasrara nằm ở trên cao, cách đỉnh đầu 1 khoảng cách; chứ ko phải ở đỉnh đầu. <o:p></o:p>
Ở ngay vị trí đỉnh đầu, phía trên 2 tai thì có 1 LX gọi là LX Nirvana (Niết Bàn), nó trông như chiếc vương miện đội trên đầu. Các quan điểm phổ biến cho rằng đây là LX Sahasrara nhưng thực ra vị trí vương miện này chưa phải là LX Sahasrara thực sự (LX Sahasrara có hình 1000 cánh hoa sen còn LX Nirvana chỉ có hình 100 cánh hoa sen) <o:p></o:p>
Nằm trên LX Nirvana là LX Guru (Minh sư, Chân sư). LX này cũng nằm cách đỉnh đầu một đoạn nhưng nó nằm dưới LX Sahasrara.




( Sưu tầm trên mạng từ nhiều nguồn khác nhau .) <o:p></o:p>

<o:p></o:p>

ANH SANG
26-12-2007, 09:28 PM
CÁCH KHAI MỞ CÁC LUÂN XA <o:p></o:p>
<o:p> </o:p>
Trước hết nên thống nhất với nhau khái niệm "mở" luân xa . " Mở" ở đây là Lazura ám chỉ sự tăng cường chu vi vòng quay của Luân Xa so với phạm vi hoạt động bình thường của nó (về mặt năng lượng), và đánh thức các tiềm năng của nó mà bình thường không(hoặc ít) triển khai.
Có 3 cách chính cho bạn khai mở các Luân Xa : vận động thể chất, xoáy tụ nén bắn...năng lượng -thể khí, quán tưởng - tập trung -quan sát(bằng tinh thần). Tùy căn cơ tố chất mỗi người phù hợp cách nào thì dùng cách đó. Hoặc tổng hợp cả 3 cách, tấn công trên 3 phương diện : thể xác, thể khí, thể trí, thì sự khai mở sẽ toàn diện hơn. Vì dùng cấp độ nào để khai mở, thì Luân Xa sẽ chủ yếu khai mở ở cấp độ đó. Ví dụ nếu bạn dùng các tư thế cơ thể đặc biệt để mở, thì nó sẽ tác dụng vào thể chất, sức khoẻ, tuyến nội tiết. Nếu dùng xung năng lượng bắn tỉa, xoáy,...thì nó sẽ mở rộng vòng quay hơn, và phát triển hơn khả năng về khí. Còn bạn dùng các phương tiện tinh thần, tâm linh để khai mở (như tập trung, quan sát, hình ảnh, âm thanh, chú,...) thì nó sẽ "mở" các năng lực thiên về trí hơn.
Bạn nên tìm một vị thầy, để dẫn bạn những bước đi đầu tiên<o:p></o:p> Ví dụ một số cách mở Luân Xa bằng thể chất :
- Nhịn đói : khi đói, các huyệt, Luân Xa mở to hơn, nhạy cảm hơn. Nhịn ăn định kỳ mang tính chất thanh lọc cũng làm kinh mạch thông hơn, Luân Xa sạch hơn, trao đổi năng lượng thoáng hơn.
- Tập Asana
- Đứng quay mòng mòng
- Tập ngưng thở (huyệt + Luân Xa mở toang hoác). Tất nhiên là mở về kích thước thôi, chứ không mở về khả năng này nọ đâu.
- Ăn , uống một số thảo dược hoá chất
- Mát xa, bấm huyệt, tắm chăm chỉ<o:p></o:p> Một số cách mở Luân Xa bằng năng lượng :
- Sống ở nơi có địa khí phun lên mạnh (thường những chỗ này là có mạch nước lớn, hoặc thuỷ phồn lớn, chảy ngầm bên dưới, mà ở nơi có dân cư, đa số những chỗ này người ta xây chùa, đền,...). Cho nên vào chùa lúc nào cũng thấy khác hẳn. Hoặc những gia đình bẩm sinh có khả năng gọi hồn, cũng là vì phong thủy nhà đó hơi đặc biệt (thường những người sống trong nhà này từ bé hay có tướng mạo cổ quái). Nếu không quen, bước vào những nhà này ngồi chơi, chỉ một lúc sẽ rất khó chịu, nhức đầu, khắp người râm ran...
- Nhờ thầy khí công phóng khí, hoặc thầy nhân điện bắn xung năng vào các Luân Xa.
- Ngồi vào trong trận đồ âm dương, ngũ hành, bát quái...
- Tự mình luyện khí, luyện nhân điện, mức năng lượng của mình càng lớn, thì mức trao đổi năng lượng với bên ngoài càng nhiều, nên Luân Xa sẽ càng mở rộng.
- Đeo đá quý, đeo bùa đặc biệt, đội tháp năng lượng.<o:p></o:p> Vài cách mở Luân Xa bằng tinh thần:
- Vô thức (có lẽ nếu tính trung bình từ cổ chí kim, ở mọi nền văn hoá khắp thế giới, thì đây là cách phổ biến nhất. Từ các bộ lạc đến các quốc gia văn minh, các giáo phái, các dòng triết học...)
- Phát triển tình thương (có tác dụng sâu rộng)
- Tập trung chú ý (nhất niệm) vào Luân Xa, hoặc quán tưởng hình ảnh nào đó ở LX
- Quan sát, theo dõi cảm giác ở LX
- Niệm chú, mỗi LX sẽ có những âm thanh riêng
- Nhờ thầy thôi miên, đưa vào định<o:p></o:p> Đó là "Mở", còn tác dụng thì có thể Lợi Ích, hoặc Thiệt Hại - trên cả 3 phương diện : thể chất, thể năng lượng, tâm trí. Tác dụng lợi hại đối với mỗi tầng bậc . Chỉ cần mọi người khi tập cẩn thận, điềm đạm, tuân thủ triệt để bài học của thầy, hạn chế sáng tác ngẫu hứng thì sẽ tránh được nhiều tai hại.<o:p></o:p> Đi vào trạng thái phát triển tình thương, từ vùng tim mình sẽ sinh ra dòng năng lượng tuôn trào, mà là thứ năng lượng khác hẳn ngoại khí thu qua huyệt, chân khí Đan Điền (khi nó sinh ra, tự mình biết nó có khả năng hàn gắn, chữa bệnh rất tốt). Loại năng lượng sinh ra trong trạng thái tinh thần này có tác dụng liên kết thống nhất rất cao. Ngay khi nó sinh ra thì Luân Xa Tim mở to, mà Luân Xa Tim là nhạc trưởng của tất cả Luân Xa, huyệt, nên LX Tim mở to thì đồng loạt các LX khác cũng mở lớn. (Ngược lại LX Tim mà lệch thì các LX khác loạn ngay).
Trong thực tế chữa bệnh bằng năng lượng, để đạt hiệu quả cao thì bao giờ người ta cũng dẫn năng lượng thu được qua Luân Xa Tim rồi mới phóng vào bệnh nhân.<o:p></o:p> Còn cách nữa mà ít người biết, đó là : bị sét đánh. Sau khi bị sét đánh, nếu không chết hoặc bốc hơi, hoặc dặt dẹo tàn phế, thì chắc chắn sẽ có công năng phi phàm. Nguyên nhân bị sét phóng trúng đầu mà không chết là vì điện trở người đó thấp, ai điện trở càng cao thì càng chóng bốc hơi. Ai bị sét đánh mà vẫn khoẻ mạnh, thì luân xa người đó mở rất lớn.
Còn nguyên nhân bị sét đánh là do hàm lượng hoocmon testoteron trong máu cao (tức là hocmon sinh dục nam - hocmon gây ra ham muốn tình dục cho cả nam và nữ). Trong 1 đám đông, bao giờ người bị sét đánh cũng là người có hàm lượng nội tiết tố nam cao nhất. Và đặc điểm chung của những người có trình độ phát triển tâm linh vượt bậc là họ có ham muốn này rất mạnh, nhưng chế ngự được, và chuyển hóa thăng hoa...<o:p></o:p>
( Sưu tầm trên mạng từ nhiều nguồn khác nhau .) <o:p></o:p>

ANH SANG
26-12-2007, 09:30 PM
NÓI VỀ HỎA XÀ<o:p></o:p>
Ở vị trí địa cung có rất nhiều loại hoả. Có loại điều khiển được, có loại không điều khiển được. Ngay trong môn Tĩnh công, phần Chân Hoả Pháp đã có 3 loại hoả cùng ở vị trí địa cung : thực hoả & thanh hoả có thể điều khiển được, đi trong cột sống thẳng lên. Linh hoả xoáy từ dưới lên theo cả cột sống lẫn 2 mạch âm dương bắt chéo và không điều khiển được. Ngoài ra môn này còn có Tam muội hoả cũng ở vị trí địa cung.
Như vậy, trong khi luyện nội hoả, có thể một dạng nào đó bốc lên mà mọi người dễ lầm tưởng là KunDaLiNi, nhưng thực ra không phải. Vì KunDaLiNi là năng lực tâm linh siêu cá thể, đi lên để hoà nhập với năng lực tâm linh Toàn Thể, chứ không phải là thứ năng lượng chỉ để mở huyệt thông mạch như bình thường. <o:p></o:p>
KunDaLiNi chỉ thực sự thức tỉnh trong trạng thái đại định và đã đi vào cảnh giới Siêu Thức (vì nó là năng lực tâm linh siêu cá thể). Những ai ở trong trạng thái ý thức bình thường mà thấy có luồng năng lương nóng bốc lên thì hãy nhớ đó chỉ là một dạng nội hoả sơ cấp.<o:p></o:p>
Thế nào là Siêu Thức? Để đi vào siêu thức thì cần qua những cấp thiền nào ?
Đây là những tầng bậc thền cần trải qua để đi vào Siêu Thức (Đại Định). <o:p></o:p>
Cấp 1 : Kiểm soát Ý Thức <o:p></o:p>
- Không bị ảnh hưởng của ngũ quan : Mọi thông tin từ ngũ quan đều không ảnh hưởng đến dòng tâm trí đang rót vào mục tiêu. Kể cả đang thiền có vật chạm vào người qua xúc giác hoặc tiếng động mạnh cũng không làm làm tạp niệm dấy lên. <o:p></o:p>
Cấp 2 : Kiểm soát Tiềm Thức <o:p></o:p>
Sau khi vượt qua và làm chủ Ý Thức, tiến vào Tiềm Thức, hành giả Yoga sẽ bị các lớp của Tiềm Thức chi phối (tạp niệm, kinh nghiệm trí nhớ, cảm xúc, mơ ), và phải vượt qua các vấn đề sau :
- Không bị ảnh hưởng của trí nhớ : Trong lúc thiền, không có thông tin kinh nghiệm trong quá khứ xuất hiện.
- Không bị ảnh hưởng cảm xúc : trong lúc thiền không bị cảm xúc chi phối.
- Không bị các giấc mơ chi phối.
- Không có 1 chút tạp niệm nào <o:p></o:p>
Cấp 3 : Kiểm soát Vô Thức <o:p></o:p>
Sau khi kiểm soát được Tiềm Thức, tiến vào Vô Thức, hành giả sẽ bị các lớp của Vô Thức ngăn chăn không cho tiến sâu thêm, cần phải vượt qua các lớp này thì mới kiểm soát được Vô Thức :
- Thông tin di truyền
- Ẩn ức (những ham muốn, khát vong không được thoả mãn trong thực tế, lâu ngày chìm lắng xuống Vô Thức, tuy mọi người không nhận biết được và đã quên đi, nhưng tất cả chúng vẫn chi phối mạnh mẽ đời sống của mỗi người, bộ môn Phân Tâm học chuyên moi móc các ẩn ức trong vô thức này ra để phân tích và giúp đỡ mọi người) <o:p></o:p>
Cấp 4 : Kiểm soát Siêu Thức <o:p></o:p>
Sau khi vượt qua được Vô Thức, tiến vào siêu thức, sẽ có 3 lớp của Siêu Thức :
- Lớp Sáng tạo : thiền định tới mức độ này thì Hoả Xà mới thực sự thức tỉnh, hành giả Yoga sẽ có khả năng sáng tạo bất tận.
Vào được đến lớp này rất khó, nếu lúc này chỉ một thoáng phân tâm thì sẽ quay trở lại tầng Vô Thức ngay.
- Lớp Trí Tuệ :Tách rời mọi ràng buộc :
Khi hoả xà thực sự thức tỉnh đi lên, mọi ràng buộc trong thế giới cơ bản đều bị xoá bỏ (Địa, Thuỷ, Hoả, Phong, Không), hành giả Yoga không sợ lửa đốt (kiểm soát hoả đại), đi xuyên tường đá, độn thổ (kiểm soát Địa đại), đi xuyên nước không ướt, sống dưới nước không chết (kiểm soát Thuỷ đại), bay lơ lửng trong không trung, phi thân (kiểm soát Không Đại). Lúc này hoả xà đi qua 5 luân xa dưới, kiểm soát được 5 yếu tố cơ bản cấu thành vũ trụ.
- Lớp hiểu biết : Hiểu trực tiếp thực tướng mọi sự vật hiện tượng mà không cần thông qua khái niệm tư duy. Đây là lớp xuất hiện khi Hoả xà đi lên luân xa Ajna.
- Lớp Đại Ngã : lớp tinh tuý nhất của Siêu Thức, lúc này hoả xà đi lên đến luân xa Shahasrara : hoà nhập bản thể tuyệt đối.<o:p></o:p>
Vũ trụ và con người vốn không khác biệt, cấu tạo con người vốn mô phỏng cấu tạo vũ trụ, mối liện hệ con người & vũ trụ là không tách biệt. Nếu giai đoạn đầu , không chấp vào vũ trụ và thân người thì tu luyện nghìn năm cũng ko thể đắc khí được. Mọi huyền cơ đều khởi đầu trong thân, thân này và vũ trụ vốn không khác lục đại.
Mối liên quan giữa hoả xà và Lục Đại? Vì Hoả Xà là hiện thân cho năng lực của Yoga, đưa hành giả Yoga tiến tới giải thoát khỏi Bản Ngã luân hồi. <o:p></o:p>
Muốn tiến tới hoà nhập vào Đại Ngã, thì phải thoát được sự ràng buộc của Lục Đại. Hoả xà chính là sức mạnh giải phóng các rào cản của Lục Đại, đưa năng lực tâm linh của Tiểu Ngã lên hoà nhập với Đại Ngã. Yoga cổ đại gọi là đưa Sakti lên giao phối với Siwa, như giọt nước hoà vào đại dương. <o:p></o:p>
5 rào cản ban đầu chính là Ngũ Đại (địa, thuỷ , hoả, phong, không) tương ứng với sự kiểm soát của 5 luân xa bên dưới. Rào cản cuối cùng là Thức Đại, tương ứng với sự kiểm soát của luân xa Ajna.
Vì vậy, nếu ai đó nói là đã đánh thức hoả xà, đưa nó lên hết các luân xa, thì người đó phải không bị các rào cản của Ngũ Đại giới hạn vận động. <o:p></o:p>
Còn điều này quan trọng hơn: nếu không nhập Samadhi (đại định) thì đừng hòng hoả xà thức tỉnh. Như đã phân tích ở trên : đó là tầng bậc của Siêu Thức.<o:p></o:p>
Có những người cũng hơi kỳ lạ một chút, những người nầy có khả năng cảm nhận tốt hầu hết các dạng năng lượng. <o:p></o:p>
Chẳng hạn khi người thường niệm chú Chuẩn đề thì chẳng thấy gì nhưng khi người ấy Tập trung niệm chú chuẩn đề và quán chú thì nhận thấy rõ 1 luồng năng lực từ Mantra đi vào người. <o:p></o:p>
Người nầy khi vào các vùng đất địa linh hoặc chỉ cần vào 1 ngôi nhà bình thường có thể cảm nhận được ngôi nhà này có dòng khí như thế nào, từ đâu đến, tốt hay xấu , người này cũng là người từng học địa lý. <o:p></o:p>
Đặc biệt , nên đọc sách trên thư viện, đọc những quyển sách cũ vì trong những quyển sách đó vẫn còn tiềm ẩn các trường năng lượng của người đọc cũ nên đọc dễ vào và dễ hiểu hơn. Tụng kinh cũng vậy, khi tụng kinh cảm thấy rõ rệt âm điệu của kinh tạo thành 1 trường năng lượng ôn hòa, nhẹ nhàng thanh thoát bao quanh, có lẽ năng lượng này ứng từ tâm của người tụng ra. <o:p></o:p>
Nhưng có người mở thông được một số huyệt đạo hay luân xa gì đó , trong đó có huyệt bách hội, nhưng người đó không biết cách đóng huyệt , nên giống như 1 ngôi nhà luôn mở cửa thông thống, gặp trường năng lượng tốt thì cảm nhận tốt, gặp xấu thì chịu. những người nầy khi bị đau bị ốm , nhưng khi đi vào vùng núi có khí tốt thì tự nhiên khỏi ốm. Nói chung mọi cảm nhận về thời tiết, khí hậu, mạch khí đều khác so với mọi người. <o:p></o:p>
( Sưu tầm trên mạng từ nhiều nguồn khác nhau .) <o:p></o:p>

tridungvietnam
28-12-2007, 04:07 PM
hi bạn anh sang

Bài viết khá thú vị. Nhưng kg biết là ở VN hiện nay có ai thành tựu những môn này không nhỉ?
Nếu được ấn chứng 1 lần sức mạnh linh diệu của Lửa tam muội thì thật là vạn hạnh.