PDA

View Full Version : Phật Giáo và Nữ Giới


Tịnh Ngọc
16-04-2005, 09:38 PM
Vai trò của nữ tu Phật giáo trong thời Bắc thuộc

HT Thích Trí Quảng

---o0o---


Ngày nay, người phụ nữ chiếm tỷ lệ khá cao trong dân số nước ta, cũng như trên thế giới. Chẳng những đông về số lượng, người phụ nữ còn giữ nhiều vai trò quan trọng trong cộng đồng quốc gia hoặc quốc tế. Có thể nói song song với nhịp tiến hóa của nhân loại, người phụ nữ ngày nay đã thăng hoa tri thức và tài năng trong nhiều lãnh vực khác nhau. Không riêng gì lãnh vực văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, từ thiện, mà ngay cả ở những lãnh vực vẫn thường được coi như chỉ thích hợp với nam giới, người phụ nữ khó chen chân vào như ngành khoa học về năng lượng, điện tử, vũ trụ, vật lý... cho đến ngành công an, võ sĩ bảo vệ các nhân vật quan trọng... cũng đã có sự đóng góp không ít của giới phụ nữ. Họ đã chứng tỏ cho mọi người thấy rằng trí tuệ và tài năng của người phụ nữ không thua kém gì nam giới. Khối óc và đôi tay của người phụ nữ đã làm nên những thành quả lợi ích thiết thực cho loài người nói chung và nâng cao giá trị của người phụ nữ nói riêng. Thậm chí ở vị trí cao nhất của hàng lãnh đạo một quốc gia cũng có hình bóng của người phụ nữ hiện hữu. Thật vậy, gần chúng ta như trong 10 nước thuộc khối Asean hiện nay có hai phụ nữ giữ vị trí nguyên thủ quốc gia, đó là bà Gloria Arroyo Tổng thống Philippines và bà Megawati Sukarnoputri, Tổng thống Indonesia.

Riêng về giới phụ nữ Việt Nam ở thời cận đại, công sức đóng góp cho nền độc lập nước nhà của những bà mẹ anh hùng, những người chị đảm đang việc nước quả là vô cùng lớn lao, lưu lại những dấu ấn son sắt trong lịch sử nước ta. Cũng không thể quên được sự hiện hữu của giới phụ nữ hiện nay đang đảm trách nhiều vai trò quan trọng trong guồng máy lãnh đạo của đất nước chúng ta.

Giới phụ nữ Việt Nam thời nay đang sánh vai cùng nam giới trong mọi lãnh vực phát triển sinh hoạt cộng đồng quốc gia như vậy, thì thử nghĩ ở vào thời xa xưa, người phụ nữ làm gì, vị trí của họ trong xã hội như thế nào, họ đã đóng góp gì cho xã hội? Ở đây, chúng ta giới hạn sự tìm hiểu về vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời Bắc thuộc.

Lật lại trang sử khi đất nước chúng ta bị nhà Hán đô hộ, tức thời Bắc thuộc. Dưới sự cai trị vô cùng hà khắc của chính quyền phương Bắc, người đầu tiên dám khởi nghĩa chống lại giặc Hán lại chính là người phụ nữ lừng danh mà nhân dân Việt Nam muôn đời còn ghi công đức; đó chính là Hai Bà Trưng.

Tại sao nam giới lưng dài vai rộng, khỏe mạnh lại không đánh đuổi giặc, mà để cho người phụ nữ chân yếu tay mềm gánh vác việc khó làm như vậy. Nhất là ở giai đoạn đầu kỷ nguyên Tây lịch, người phụ nữ không hề biết gì ngoài sinh hoạt gia đình, đừng nói chi đến việc thế sự hay việc lớn lao như việc nước, việc dân. Khi chưa có chồng, thì họ nấu cơm hầu cha mẹ, anh em, lấy chồng thì họ “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, hầu hạ chồng con và sinh đẻ để nối dõi tông đường nhà chồng.

Dưới chế độ cai trị của nhà Hán, các quan Thái thú đã hạn chế tối đa mọi hoạt động của nam giới. Điều này cũng dễ hiểu vì họ e sợ cánh đàn ông khỏe mạnh, mưu lược sẽ nổi dậy chống lại sự cai trị tàn bạo của họ. Vì vậy, quân Hán luôn theo dõi, bám sát thanh niên, tiêu diệt mọi ý tưởng chống đối từ trong trứng nước. Nhất là các quan Thái thú đã thực hiện chính sách ác độc, bắt thanh niên ta đi làm phu với mục đích cô lập nam giới khỏe mạnh, không cho họ có cơ hội chiêu mộ binh lính khởi nghĩa, cứu nước. Với sự đề phòng mọi hoạt động của nam giới một cách chặt chẽ như vậy, những thanh niên, phụ lão, nói chung là nam giới không còn cách nào hành động chống giặc được.

Tuy nhiên, trái với điều mà quan quân Hán thường nghĩ là chỉ có thanh nhiên mới nuôi chí lớn và có khả năng dẹp giặc, họ đâu ngờ rằng nữ giới Việt Nam ta thâm nhập sâu sắc tinh thần “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Vì vậy, bọn giặc không đề phòng phụ nữ, nhất là đối với hàng nữ nhi xuất gia thì họ lại càng không để ý.

Với tư chất thông minh và tinh thần yêu nước cao độ, người phụ nữ Việt Nam đã lợi dụng việc bọn giặc lơ là, không theo dõi sinh hoạt của nữ giới, nên ban ngày ở chùa, họ làm việc bình thường, tự nhiên, đơn giản như trồng trọt hoa màu và màn đêm buông xuống thì vấn đề trọng đại là luyện tập võ nghệ mới diễn ra. Thật là đáng nể phục khi các Ni sư đã âm thầm tập hợp hàng trăm, hàng ngàn người để chuẩn bị đánh đuổi giặc mà quan quân Hán không hay biết.

Vì vậy, khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa thì khắp vùng đồng bằng ở đâu cũng có những đội binh nữ của Hai Bà xuất hiện; đặc biệt nhất trong số 8 nữ tướng đã có 4 Ni cô cầm đầu.

Thật vậy, theo sử sách còn ghi rằng đầu kỷ nguyên Tây lịch, ở Việt Nam đã có nhiều chùa ở nhiều địa phương. Vì vậy, đến thời Hai Bà Trưng, nhiều nữ tướng của Hai Bà đã xuất gia tu hành như : Công chúa Bát Nàn, Thiều Hoa, Vĩnh Huy, Phương Dung, v.v...

Chúng tôi xin đơn cử việc lãnh đạo anh dũng đánh thắng giặc Hán của 8 vị Tỳ kheo ni ở thời Hai Bà Trưng.

1/ CÔNG CHÚA BÁT NÀN

Trước nhất là Công chúa Bát Nàn. Bà họ Vũ, ở làng Phượng Lâu, huyện Kim Động, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Thân phụ của bà là thầy thuốc làm nhiều việc phước đức. Bà nổi tiếng là phụ nữ xinh đẹp và giỏi võ nghệ. Vì vậy, Thái thú Tô Định đã sai quan quân đến bắt Bà về làm hầu thiếp. Thân phụ và vị hôn phu của Bà đã bị chúng giết chết. Nhờ giỏi võ, Bà đã cầm song đao chống cự, nhưng vì thế cô, Bà đã bị thương. Nhưng Bà cũng đã phá được vòng vây và chạy đến chùa xã Tiên La, huyện Diên Hà (nay là xã Tiên La, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Vị sư trụ trì biết trước việc này qua điềm mộng, nên đã che giấu Bà và làm lễ quy y cho Bà tu ở chùa.

Khoảng năm 36-39, Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Hán. Cũng mang chí lớn là trả thù nhà và nợ nước như hai Nữ vương, Bà đã triệu tập được một đạo nữ binh đến 3.000 người, đánh giặc giỏi, Bà được cử làm tướng tiên phong. Sau đó, Bà lập được nhiều chiến công, nên được phong là Tướng quân Bát Nàn (nghĩa là tướng quân dẹp nạn). Năm Canh Tý (40), Hai Bà Trưng chiếm lại 65 thành của Lạc Việt, giành độc lập cho nước nhà và lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh. Bà đã được Trưng vương thương mến, ban thưởng công trạng, nên phong cho nữ tướng Bát Nàn làm Công chúa.

Mặc dù được sống trong cảnh giàu sang nhung lụa, nhưng nhờ căn lành sâu dày với Phật pháp, Công chúa Bát Nàn lại nhớ đến nghĩa lý sâu xa của Phật pháp mà Bà đã từng tu hành lúc còn ẩn thân nương náu ở chùa. Với thì giờ rảnh rang suy tư, quán tưởng, Bà đã trực nhận được lý đạo, nên quyết tâm xin từ quan để tiếp tục tu hành. Công chúa đã xuất gia trở lại ở chùa xã Tiên La.

Sau nhiều năm tu hành miên mật và hoằng pháp độ sanh, Công chúa Bát Nàn đã viên tịch ở chùa Tiên La. Dân chúng ở xã này thương mến và nhớ ơn Bà, đã lập đền thờ; hàng năm đều mở lễ hội vào ngày 16-3 âm lịch, dân chúng về cúng rất đông. Tục truyền rằng Bà tu hành đắc đạo, nên dân chúng cầu nguyện bà đều được linh ứng. Ở tỉnh Thái Bình hiện nay vẫn còn hàng chục ngôi đền thờ Bà.

2 / BÀ THIỀU HOA

Bà sanh ngày 2-1-năm Quý Tỵ (năm 3, sau Tây lịch), quê ở vùng động Lăng Xương (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), một vùng đất nổi tiếng linh thiêng từ thời Hùng Vương. Cha của Bà là Hoàng Phụ và mẹ là Bà Đào Thị Côn. Bà cũng nổi tiếng đẹp, hiếu hạnh và giỏi võ thuật. Lúc 16 tuổi, nhiều gia đình muốn rước bà về làm dâu, nhưng Bà Thiều Hoa từ chối vì rất có hiếu, chỉ muốn ở kề cận săn sóc cha mẹ già. Mấy năm sau, cha mẹ Bà qua đời, Bà liền xin tu học ở chùa Phúc Khánh, làng Hiền Quang (thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay).

Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Bà Thiều Hoa đã dẫn 500 quân về dự lễ Hội thề Xuất quân. Cũng giống như Công chúa Bát Nàn, khi Hai Bà Trưng đánh thắng quân Hán, nữ tướng Thiều Hoa đã xin từ quan, trở lại chùa tu hành. Trưng Vương đã hỗ trợ Bà trong việc trùng tu chùa Phúc Khánh. Bà cũng rất tinh tấn hoằng truyền Phật pháp.

Năm sau, Bà mất tại chùa Phúc Khánh. Trưng vương truy phong Bà làm “Phù Vương Công chúa” (nghĩa là công chúa phò giúp vua) và cho lập đền thờ Bà. Từ đó, mỗi năm vào ngày mùng 2 Tết Âm lịch là ngày sinh của Bà, dân làng tổ chức lễ hội kỷ niệm công đức của Bà. Hàng năm, đến ngày 12,13 tháng Giêng âm lịch, dân chúng địa phương và chùa Phúc Khánh xưa, ở làng Hiền Quang, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ, đều tổ chức Hội Phết ở đền Hiền Quang để tưởng nhớ Công chúa Phù Vương. Đánh phết là đánh cầu gỗ bằng gậy cong ở đầu. Bà Thiều Hoa đã khai sáng ra Hội Phết Hiền Quang. Ở nhà tiền tế của đền Hiền Quang, còn treo tấm hoành ghi: “Diệt bạo tướng Phật” và nhiều câu đối nói về Bà từng phò Hai Bà Trưng dẹp giặc và tu hành, viên tịch ở chùa Phúc Khánh.

3 / BÀ VĨNH HUY

Quê của Bà ở huyện Đông Triều, trấn Hải Dương. Mới 16 tuổi, Bà Vĩnh Huy đã theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Hán. Sau khi Hai Bà Trưng thua trận, tuẫn tiết, Bà Vĩnh Huy đã ẩn tu ở chùa làng Cổ Châu (làng Dâu), huyện Tiên Du, trấn Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh).

4 / NỮ TƯỚNG PHƯƠNG DUNG

Bà Phương Dung và hai người con nuôi là Trung Vũ và Đài Liệu đã theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Hán. Năm 40, Hai Bà Trưng giành được độc lập cho dân tộc, lên ngôi vua, Trưng vương phong cho Bà Phương Dung làm Công chúa, Trung Vũ làm Tả Tướng quân, Đài Liệu làm Hữu Tướng quân.

Năm 43, quân Hán lại sang xâm lăng nước ta, Hai Bà Trưng thua trận và tuẫn tiết. Công chúa Phương Dung trở về ẩn tu ở chùa Thanh Vân, trang Yên Phú, huyện Thanh Đàn, trấn Sơn Nam (nay là thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội). Sau khi Bà mất, dân làng thờ Bà ở chùa Thanh Vân (Thanh Vân cổ tự). Trung Vũ và Đài Liệu cũng được dân chúng thờ làm thần Thành hoàng của làng (giỗ ngày mùng 7 tháng 11 âm lịch)

5/ HAI NỮ TƯỚNG NGUYỆT THAI VÀ NGUYỆT ĐỘ

Nguyệt Thai và Nguyệt Độ là hai chị em sinh đôi. Mẹ của hai Bà là Tống Nga tu ở chùa Thiên Thai trên núi Đông Cứu, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, trấn Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Khi hai Bà mới 16 tuổi thì mẹ qua đời, Nguyệt Thai và Nguyệt Độ vẫn tiếp tục sống ở chùa Thiên Thai.

Nguyệt Thai và Nguyệt Độ đã mộ tập được 1.000 nam nữ nghĩa binh theo Hai Bà Trưng kháng chiến. Hai Bà là nữ tướng nổi danh trong trận đánh ở làng Me.

Sau khi Hai Bà Trưng thua trận và tử tiết, hai Bà Nguyệt Thai và Nguyệt Độ đã về ẩn tu trên núi Yên Tử (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh). Dù hai nữ tướng đã viên tịch ở núi Yên Tử, dân làng Me vẫn lập miếu thờ hai Bà. Mỗi năm, vào ngày sinh của hai Bà (mùng 10 tháng giêng âm lịch) và ngày mất (mùng 8 tháng 5 âm lịch), dân làng đều mở lễ hội để tưởng niệm ở Miếu Cổ tại làng Me, nay là xã Mỹ Thử, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

6/ CÔNG CHÚA CHIÊU DUNG

Công chúa tên thật là Lý Thị Ngọc Ba, chồng của Bà là Đặng Thanh, quê ở quận Cửu Chân, sau về ở vùng Đất Cốc. Hai ông bà có 5 người con trai đều quyết tâm chống giặc Hán.

Sau khi chồng chết, Bà cùng 5 người con tiếp tục chống giặc ở vùng phía Tây sông Đáy. Bà cùng con trai trưởng đóng quân ở giữa làng Cốc, đồn tiền tiêu đóng ở Cốc Thượng do Đặng Nghiễm và Đặng Liễu chỉ huy, đồn Cốc Hạ do Đặng Diên và Đặng Tiên trấn thủ.

Bị quân Hán tấn công tiêu diệt căn cứ Đất Cốc, Bà Ngọc Ba và các con phải rút lui, về ẩn trú ở chùa Hương Lang. Được Thiền sư Đạo Uẩn che giấu, mẹ con Bà ban ngày tụng kinh niệm Phật, ban đêm vẫn luyện tập võ nghệ.

Sau đó, Bà và các con cùng thuộc hạ đã quy tụ về tham gia kháng chiến và phát triển căn cứ ở Đất Mới dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Sau khi giành lại độc lập cho nước nhà, Trưng vương đã phong cho Bà Ngọc Ba làm Công chúa Chiêu Dung cai quản đội nghĩa binh và căn cứ Đất Cốc. Đến khi Hai Bà Trưng thua trận, Công chúa Chiêu Dung đã về ẩn tu, học đạo với Thiền sư Đạo Uẩn ở chùa Hương Lan, vùng Đất Cốc, nay thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.

7 / NỮ TƯỚNG HƯƠNG THẢO

Bà xuất thân nhà nghèo, nhưng rất khỏe mạnh, tên thật là Thảo. Trong phong trào khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà đã theo nữ tướng Thánh Thiên đánh giặc, lập được nhiều chiến công, nên được ban cho tên hiệu là Hương Thảo.

Nữ tướng được giao cai quản đội nữ quân chuyên nuôi voi trận và ngựa chiến. Bà tổ chức những nông trại trồng cỏ ở vùng đồng bằng châu thổ ở Bích Tràng. Bà thường đến cúng dường và lo trùng tu chùa Cỏ ở vùng đó.

Khi Mã Viện đem quân sang thôn tính nước ta lần thứ hai, nữ tướng Hương Thảo đã tổ chức một trận hỏa công lớn ở Bích Tràng, tiêu diệt được nhiều tướng sĩ giặc; nhưng sau cùng, Bà cũng đã tử trận. Dân làng đã thờ cúng nữ tướng Hương Thảo ở chùa Cỏ.

Tóm lại, qua những nhân vật lịch sử kể trên, chúng ta thấy rõ hình ảnh của người phụ nữ thuộc giới xuất gia cũng như tại gia đã có công rất lớn trong sự nghiệp đánh đuổi giặc Hán, giành lại độc lập cho dân tộc nước nhà. Họ đã thật sự đóng góp trí tuệ, tài đức, kể cả mạng sống trong việc chiêu binh mãi mã, tập trung quần chúng, tập luyện võ nghệ... để cùng tham gia phong trào khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Giới nữ lưu Việt Nam, đặc biệt là Ni giới ở thời Bắc thuộc đã nhập thế tích cực theo tinh thần Đại thừa. Họ đã thể hiện thật đặc sắc tinh thần người phụ nữ Việt Nam là giặc đến nhà, đàn bà phải đánh. Dứt khoát là vậy, không thể khác và không thể chần chừ.

Trước cảnh cai trị bạo tàn của quân Hán, gây ra sự lầm than, đau khổ, chết chóc, tủi nhục cho dân tộc Lạc Việt, người phụ nữ chân yếu tay mềm đã chuyển đổi được sự yếu mềm của họ thành ý chí dũng cảm đáng nể, thành những chiến thắng hào hùng vô cùng đáng kính.

Những trang sử vàng son còn ghi dấu ấn về những kỳ tích vẻ vang của Ni giới hay cư sĩ tại gia đã nói lên vai trò vô cùng quan trọng của Phật giáo trong việc hun đúc trí tuệ, tài năng cho những người đi theo hướng Phật dạy. Các vị sư tu hành đắc đạo, cũng như tinh ba của giáo pháp Phật Đà từ thời sơ khai lập quốc đã là những tác nhân tích cực trong việc đào tạo con người mang chí lớn, làm việc lợi ích cho nước nhà. Những trang nữ lưu thông minh, gan dạ, tài giỏi, khỏe mạnh, với tài điều binh khiển tướng có khác gì những trang nam tử. Điều này cũng thể hiện tinh thần Phật dạy rằng nam nữ bình đẳng bất nhị, nếu biết khai thác những ưu thế của mỗi giới.

Và tinh thần cao cả đáng kính quý hơn nữa mà chúng ta bắt gặp ở các nữ tướng Việt Nam xuất thân từ Ni giới hay hàng Phật tử tại gia như đã nói trên; đó là việc đánh đuổi giặc không tiếc thân mạng và sau khi giành được chiến thắng vẻ vang, nước nhà được độc lập, được Trưng vương phong chức, họ đã nhẹ nhàng treo ấn từ quan. Trở về chùa tiếp tục nếp sống tu hành cao quý, không màng bổng lộc, lợi danh, quả là hình ảnh tuyệt đẹp của hàng nữ lưu Ni giới và nữ cư sĩ Phật tử Việt Nam ở thời Bắc thuộc. Đó cũng chính là hình ảnh của các vị Bồ tát hiện hữu trong cuộc đời như hoa sen xinh đẹp, tỏa hương thơm ngát cho đời, chẳng hề bị mùi tanh của danh lợi làm nhơ bẩn.

Ôn lại phần nào trang sử hào hùng của hàng nữ lưu Ni giới Việt Nam ở thời Bắc thuộc cũng chính là sự nhắc nhở của chúng tôi đối với Ni giới và nữ cư sĩ Phật tử trong thời hiện đại. Nhất là ở thế kỷ XXI, một thế kỷ mà hàng nữ lưu được trọng vọng, được tham gia vào hàng lãnh đạo đất nước, hoặc giữ những vị trí quan trọng ở nhiều lãnh vực của xã hội, làm thế nào quý vị đóng góp đôi tay và khối óc cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, cho đạo pháp hưng thạnh. Có như vậy, hàng nữ lưu Ni giới và nữ cư sĩ tại gia Việt Nam mới xứng đáng kế thừa sự nghiệp của các bậc nữ lưu tiền bối và làm gương sáng cho đàn hậu tấn nương theo trên bước đường phục vụ đẹp đạo, tốt đời.

Tịnh Ngọc
16-04-2005, 09:41 PM
TRUYỆN NI GIỚI CỦA NƯỚC TA

TỐ AM NGUYỄN TOẠI

---o0o---



Ở nước ta, khi còn là đất Giao Chỉ thuộc nhà Hán, nhà Ngô, thế kỷ thứ 2 Tây lịch, đã có các Tăng người Ấn Độ sang ở thành Luy Lâu (huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), các Sa-môn này lập am thờ Phật ở chung, đấy là các Tăng đầu tiên của Phật Giáo nước ta. Số Tăng chắc đã khá đông khi Mâu Tử viết sách Tri hoặc Luận tại Luy Lâi vào cuối thế kỷ thứ 2. Còn đến bao giờ mới có nữ giới tu đạo Phật, thành Sa-di-ni, Tỷ-khưu-ni, ta không biết được vì không có sách chép.

Phải đợi đến đời nhà Trần, khi sách Thiền Uyển Tập Anh được viết ra (khoảng thế kỷ 13) mới thấy truyện một Ni sư, ta không biết được vì không có sách chép.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép vào năm Quý T? niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ tư đời vua Lý Nhân Tôn (Tây lịch 1113), mùa hạ tháng sáu : Phu nhân chức Châu Mục Châu Chân Đăng là công chúa họ Lý mất. Phu nhân tên Ngọc Kiều, em gái lớn Phụng Càn Vương, vua Thánh Tôn nuôi ở trong cung, lúc lớn, phong là công chúa, lấy Châu Mục Châu Chân Đăng họ Lê, ông này chết, tự thề ở góa, xuất gia làm Ni (sư nữ), đến nay mất, tuổi 72; vua Thần Tôn tôn làm "Ni sư". Thế là Ni sư sinh năm Tân T? đời vua Thái Tôn, niên hiệu Càn Phù Hữu Đạo năm thứ ba (Tây lịch 1041). Vua Thánh Tôn làm vua từ năm 1054 đến năm 1072. Vua Thánh Tôn làm vua từ năm 1054 đến năm 1072, nuôi Ni sư, phong làm công chúa, gả cho Châu Mục họ Lê, Ni sư mất trong đời vua Nhân Tôn và đến đời vua Thần Tôn (1128-1138), được truy phong là Ni sư. Công chúa xuất gia, thụ giới Bồ Tát với Thiền sư Chân Không. Cứ sách Thiền Uyển Tập Anh chép thì Thiền sư Chân Không, quê ở hương Phù Đổng, huyện Tiên Du (hương Phù Đổng sau là xã Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), tu ở chùa Chúc Thánh, núi Phả Lại, núi này thuộc huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh, chùa ở trên núi trông xuống sông Lục Đầu. Chân Không cho công chía về trụ trì ở Ni viện Hương Hải, thuộc hương Phù Đổng. Nay chùa Hương Hải vẫn còn ở xã Phù Đổng, vậy chùa này đã có từ ngót một nghìn năm nay. Cũng nên biết rằng ở xã này, hiện còn chùa Kiến Sơ, chùa này được lập vào khoảng năm 800, triều nhà Đường.

Lý công chúa được pháp danh là Diệu Nhân, là đệ tử của Thiền sư Chân Không nên thuộc Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, Thiền phái nàu do Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi, người miền Nam Thiên Trúc (Ấn Độ). lập ra tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu), chùa này ở xã Khương Tự, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, theo giáo chỉ của Thiền phái đệ tam tổ Tăng Sán bên Trung Quốc. Ni sư Diệu Nhân được chép truyện vào sách Thiền Uyển Tập Anh, trong truyện có bài kệ lúc thị tịch : "Sinh, lão, bệnh, tử cổ thường nhiên, dục cầu xuất ly, giải phọc thiêm triền, mê chi cầu Phật, hoặc chi cầu Thiền, Thiền Phật bất cầu, uổng khẩu vô ngôn" nghĩa là : Sinh lão bệnh tử, lẽ thường tự nhiên, muốn cầu thoát ly, càng thêm trói buộc, mê mới cầu cầu thoát lu, càng thêm trói buộc, mê mới cầu Phật, hoặc mới cầu Thiền, chẳng cầu Thiền Phật, mỉm miệng ngồi yên (bản dịch Ngô Đức Thọ). Chùa Hương Hải cho đến nay vẫn do sư nữ trị trì. Nếu Ni viện Hương Hải xuất hiện ít lâu sau chùa Kiến Sơ, ở cùng làng, thì Ni viện là nơi danh lam cổ nhất trong các Ni viện là nơi danh lam cổ nhất trong các Ni viện ở nước ta.

Kể đến các Ni viện cổ, nên biết đến chùa Long Cảm, ở trên đỉnh núi Ốc (Ốc Sơn) trong trang Chương Các, huyện Tống Sơ phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, gần ga Đò lèn ngày nay. Vua Lý Thái Tổ, năm Thiên Thuận thứ 11 (Canh Thân 1020) đi đánh Chiêm Thành (đất Quang Binh Ngày nay), đóng quân trên núi này. Thần núi báo mộng cho vua rằng sẽ phù hộ trong trận chiến. Thắng trận, vua lập chùa Long Cảm (Long là rồng, là vua, Cảm là cảm động, biết ơn), chùa này để Ni cô trụ trì. Vua Trần Thái Tôn từng đóng quân tại núi này và cũng được thần núi báo mộng. Triều Nguyễn, vua Thiệu Trị khi ngự giá ra Bắc thụ phong, có vào thăm chùa (năm Quý Mão - 1843), cho khắc bia ghi việc và cấp cho chùa một cái chuông. Chùa này không rõ có còn không vì sau năm 1946, các chùa ở tỉnh Thanh Hóa bị hủy nhiều.

Ngay ở tỉnh Hà Nội, cũng có mấy Ni viện cổ, mà viện cổ nhất thì không thua gì viện Hương Hải.

Ở huyện Thanh Trì, tổng Nam Phù Liệt, thuộc các xã Đông Phù Liệt, Đông Trạch, có chùa Long Hưng (Long nghĩa là lớn). Tục truyền triềyu Lý có hai công chúa, đi tu ở chùa này, vua sai đốt chùa để gọi các ông chúa về, các công chúa lại trốn sang chùa khác. Vua sửa chùa đã bị đốt để hai công chúa đến ở tu hành, vì vua thấy có thật tâm mộ đạo, cấp cho chùa 200 mẫu ruộng. Hai công chúa lấy một mẫu đất thuộc xã Ninh Xá cùng huyện, đặt làm huyệt mộ. Đời vua Lý Nhân Tôn, niên hiệu Hội Phong thứ tư (Ất Hợi 1095), hai công chúa cùng hai thị tỳ xuống thuyệt rồi "hỏa" cả, đó là rằm tháng ba. Hàng năm, cứ độ tháng hai, có đám mây từ phía Đông kéo đến, mưa to, sấm nổ, khi tạnh thì thấy cỏ ở mộ rạp cả xuống, vết tích như có rồng mới bay xuống, dân vẽ tượng hai vị để thờ ở chùa, biết rằng các vị anh linh.

Ở ngay thành Thăng Long, có một Ni viện, tồn tại đến nay, đó là chùa Ngọc Hồ, thường gọi là chùa Bà Ngô, ở phố Nguyễn Khuyến ngày nay, trước là phố Sinh Từ. Cứ sách "La Thành Cổ Tích Vịnh" thì chùa này xây từ năm Mậu Dần (1218) niên hiệu Kiến Gia đời vua Lý Huệ Tôn. Chùa xây trên gò, dưới gò có giếng nước, trước tam quan có mô đất, hình hồ đựng rượu, nên đặt tên là chùa Ngọc Hồ. Đời Trần, có tên là chùa Tiên Phúc. Cứ sách "Bích Câu Kỳ Ngộ Ký" thì vua Lê Thánh Tôn có gặp tiên ở chùa, rồi chùa có xây lầu Vọng Tiên ở cửa Nam thành Thăng Longt, gần chùa này. Từ nhà Mạc về sau, có tên là chùa Bà Ngô. Gọi thế là vì lúc ấy, có bà người Việt, chồng là người Trung Quốc (khi ấy ta gọi là nước Ngô), nên gọi là bà Ngô, có công đức lớn với chùa, tên bà Ngô còn đến nay. Có thuyết cho rằng mãi triều Lê Thánh Tôn mới xây chùa này, nhưng nếu thuyết này đúng thì khó hợp với việc Lê Thánh Tôn gặp tiên ở chùa. Chùa thờ Phật ở chính giữa, thờ vua Lê Thánh Tôn cùng các hoàng hậu, các hoàng tử, hoàng tử, ở đền ngoài, xây bên chùa và thờ Thủy cung Đại đế, Thiên Tiên Thánh Mẫu (công chúa Liễu Hạnh) ở đền trong. Thế là ở chùa sư nữ này, thờ cả Phật, cả Tiên, cả Hoàng đế, hiện tượng này đáng để ý trong nền tín ngưỡng của dân ta.

Cũng tại thành phố Hà Nội, có chùa Viên Minh, chùa sư nữ cạnh đền Hai Bà, có phố Đồng Nhân. Gọi tên thế nhưng chỗ này không phải là đất xã Đồng Nhân huyện Thanh Trì mà là đất thôn Hương Viên huyện Thọ Xương. Đền ở xã Đồng Nhân, gần sông, đất lở nên phải đem đền xây vào thôn Hương Viên, xa sông, cạnh đền xây chùa, do đền và chùa Hai Bà. Xã Đồng Nhân giao việc trông nom đền cho vị Sư bà trụ trì chùa Viên Minh; cho đến năm 1955 vẫn như thế. Cứ theo bia của chùa, viết năm Bảo Đại Nhâm Thân (1932) thì vị trụ trì chùa này là vị thứ sáu, sau năm vị Sư tổ, pháp danh các vị đều có chữ Đàm, như Đàm An...

Ở tỉnh Nam Định, xã Hổ Sơn, tổng Hổ sơn huyện Vụ Bản, có chùa tên là chùa Nộn Sơn, dựng từ đời nhà Trần. Đây là nơi trụ trì của Huyền Trân Công chúa. Công chúa sang Chiêm thành. tháng sáu năm Bính Ngọ (1306), lên thuyền về nước tháng 10 năm Đinh Mùi (1307), về đến nước tháng 8 năm Mậu Thân (1308), đến trụ trì tại chùa này. Khi mất công chúa được thờ trong chùa. Các vị tu trụ trì đều là sư nữ.

Ở Huế, có chùa Phúc Thành ở xã An Cựu, nơi trụ trì của bà Nguyễn Thị Ngọc Cầu, mẹ chúa Nguyễn Phúc Thuần, chúa bị nhà Tây Sơn giết, sau tôn là Duệ Tôn Hiếu Định Hoàng Đế. Khi chùa chạy vào Nam, bà Nguyễn Thị xuất gia, lập chùa Chúc Thanh, trụ trì ở đấy đến lúc chết, năm Gia Long thứ ba (Giáp Tý 1804), được hiệu là Thiệu Long giáo chủ, tặng phong là Tuệ Tĩnh Thánh Mẫu Nguyên Sư, nên chùa được gọi là chùa bà Nguyên Sư, tháp xây ở ngoà chùa. Chùa do các Ni trụ trì.

Trong Đại Nội, có chùa Hoành An, trong Ngự Uyển tại Tử Cấm Thánh, chùa nhỏ này là nơi các bà nội cung đến lễ Phật, Sa-di-ni ở đó đều là người có họ với hoàng gia.

Ở tỉnh Biên Hòa, phía Đông Nam huyện Long Thành, có núi, gọi là núi Bà Vãi, chữ Hán là Nữ Tăng Sơn, ở đây có am Vân Tĩnh của bà Lê Thị Lượng. Bà này sống trước triều Gia Long, góa chồng, xuất gia, lập am tu hành, nổi tiếng là đắc đạo. Am không còn, nhưng tên núi và tên người hãy còn. Đó là vài nơi tu viện do các Sa-di-ni trụ trì. Ở nước ta, từ trước tới nay, không thấy sách nào chép đến các chùa Sư nữ. Do đó, khó mà biết được tên họ các vị Ni trưởng, lai lịch của chùa, và pháp truyền thừa trong Ni giới. Mong rằng rồi sẽ tìm được nhiều tài liệu để nghiên cứu việc tu hành của các Ni thường đặt chữ đầu là đức Đàm, chắc là do tên Ma-ha-Ba-xà-ba-đề Cù-đàm-di (Prajapati Gausami), tên bà di mẫu của đức Thích Ca, hai chữ Cù-đàm, viết tắt còn chữ Đàm, bà di mẫu được Phật cho thụ giới.

Cứ bài nghiên cứu của ông Erik Zurcher, người Hà Lan viết năm 1988 về sách "Tỷ-khưu Ni Truyện", viết xong năm 517 Tây lịch, tác giả là Tăng Bảo Xướng, tu ở Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh) trong triều nhà Lương (502-556), thì số Tỷ-khưu ni và số Ni viện cũng đã có nhiều ở Trung Quốc đến lúc ấy, cả ở trung tâm miền Bắc la Lạc Dương và ở trung tâm miền Nam là Kiến Nghiệp. Ni viện xuất hiện trước hết ở Lạc Dương, rồi đến ở Kiến Nghiệp, vào khoảng giữa thế kỷ thứ tu, thời nhà Đông Tân. Có thể biết vài điều về Ni giới lúc ấy. Ở Lạc Dương, bốn vị Ni thuộc hai đời truyền thừa, là con gái nhà quan, cùng là vợ ông quan, không phải là dân thường. Vị Ni đầu tiên được Tăng người nước Cachemire đất Ấn Độ... độ cho làm Ni, cùng một lượt với 24 người nữ khác. Khi có Ni viện thành lập ở Kiến Nghiệp thì thấy rằng các Ni viện thành lập Kiến Nghiệp thi thấy các Ni viện đầu tiên đều được dựng lên, có sự bảo trợ của vị quyền thần ở trong triều nhà Đông Tấn. Qua triều nhà Tống (Lưu Dụ), vào năm 429, khi ở Kiến Nghiệp đã có hàng trăm Tỷ-khưu Ni, thì có một phái đoàn mấy chục Ni người Tích Lan, đi đến Quảng Châu bằng đường thủy. Vài năm sau, lại có một đoàn 11 vị Ni cũng từ Tích Lan sang. Tất cả các vị Ni người Tích Lan đều lên tu ở các Ni viện tại kinh đô Kiến Nghiệp, học Hán ngữ, Hán văn, để chỉ dẫn các Ni người Hán trong việc tu hành. Cử tác giả Zurcher nhận xét thì do sự giảng huấn của các Ni Tích Lan, từ bà dì của đức Phật, vậy là một phép truyền thừa chân chính.

Sách Tỷ-khưu có truyện của 65 vị Ni, thì trong 55 truyện, có đủ tên, gia thế. Cứ xem các họ ấy thì các vị Ni đều là con nhà quan, nhưng không phải là con cháu của các nhà cửu tộc Hào Môn, giai cấp quý tộc bậc nhất thời ấy, mà cũng không phải là con nhà bình dân.

Là con nhà quan, đã học phép lễ giáo, các vị Ni khi xuất gia cũng hay gặp trở ngại: cha mẹ đã hứa gả chồng, cha mẹ ngăn cấm.

Vào ở Ni viện, các Ni cũng có một cuộc sinh hoạt an nhàn: không có đi khất thực, ở viện có nhà bếp, nhà trai, làm bếp có vài Sa-di Ni, có cả thị kỳ. Xem ra Ni viện có ruộng, đất để thu hoa lợi; ruộng, đất do gia đình các Ni cấp cho, do các nhà quyền quý hay do vua ân thưởng. Các vị Ni được hưởng nhiều tài sản thì dùng tài sản đó để xây dựng thêm nhà trong Ni viện, có khi lập thêm Ni viện mới. Có vị Ni được một công chúa cấp đất, xây Ni viện mới, đem Ni viện cũ trao cho một vị Tăng. Các Ni dùng tài sản để tô tượng bằng đồng hay bằng đá, các bức tượng lớn, nhiều tượng còn đến nay: xem chữ khắc ở chân tượng, ta biết được tượng do vị Ni tên gì, đời nào đã cho tạc nên. Tìm ở Đôn Hoàng, trong các động, còn thấy các pho kinh, do các vị Ni cúng, pho kinh có khi gồm hàng trăm cuốn giấy, viết tay. Các Ni cũng tổ chức các "giảng hội" tụ tập Tăng-già để thuyết pháp, các Tăng, Ni, đến dự đều được tiếp đãi. Ngoài ra, các Ni cũng phát chẩn cho những người tàn tật, hay gặp nạn đói kém.

Các Ni, thường xuất thân từ các gia đình quyền quý nên đa số là người biết chữ, người có quyền quý nên đa số là người biết chữ, người có học. Chẳng thế mà cứ truyện chép thì có vị tuổi đã cao, mà mỗi ngày tụng thuộc lòng bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa, có vị tụng thuộc lòng trong năm ngày bộ kinh, tính ra có đến 45 vạn chữ. Thuộc nhiều kinh, hiểu nhiều kinh, các vị ấy cũng rất thông hiểu trong việc thuyết pháp. Có điều là truyện không nói đến có vị Ni vào đã tham dự vào việc dịch kinh, đã viết sách để giảng nghĩa các kinh điển.

Cứ truyện kể thì nhiều vị Ni, do Thiền quán mà trông thấy hiện ra các vị Phật, các vị Bồ Tát; có vị trước khi tịch, kể rằng mình đã trông thấy đường để đi đến Tịnh thổ của A Di Đà Phật. Khi tu hành, nhiều vị theo phép tu khổ hạnh, và khi tịch, có vị dùng phép tự thiêu.

Đại lược thì Ni giới bên Trung Quốc sinh hoạt và tu hành vào thế kỷ thứ năm như sách Tỷ-Khưu Ni truyện đã kể. Ni giới cũng rất đông: vào niên hiệu Khai Nguyên nhà Đường (713-741). Ở nước ta, có lẽ không có sự hiểm kê bao giờ, nhưng ta cũng có thể đoán là số ấy không nhỏ. Vua Thái Tổ nhà Lê bắt các Tăng đi thi, vua Thái Tổ nhà Tây Sơn bắt giảm số tăng ở trong nước, các lệnh đó tác động đến số Ni như thế nào, sử ta không chép. Nay chỉ mong còn tìm thấy ở các chùa các tài liệu may còn sót lại, thì mới có thể ước đoán một vài điều.