PDA

View Full Version : ThẾ GiỚi BÍ Ẩn


DaoKy
14-04-2005, 02:04 AM
THẾ GIỚI BÍ ẨN ( Đạo Thuật )

Con người chúng ta, từ thời tiền sử đến thời đại văn minh, luôn khát khao đi tìm những bí ẩn cõi vô hạn nằm phía sau cái hửu hạn cuộc sống chính mình! Một trăm năm cho một đời người, chúng ta hiểu biết được gì về tương lai? Về những bí ẩn của thế giới bên kia Do đo không ít những bậc tiền nhân trải qua những kinh nghiệm rồi truyền lại cho hậu sinh những kinh nghiệm quý báu nhầm khắc phục những sai lầm hậu quả.
Những học thuật hiện có, chưa đủ để chúng ta biết thêm những gì còn nằm phía sau cái hửu hạn đời ngườị. Trong Thiên Niên Kỷ Thứ 3 này sẽ phát triển mạnh về "Khoa học Cận Tâm Linh" Tức là Tiền Khoa Học Hiện Đạị. Trong Khoa Học cận Tâm Linh con người sẽ du hành trong chiều không gian năng lượng để học và nhận định những hiểu biết về Siêu Vật Lý mà 90% vật chất này có trong vũ tru..
KHẢ NĂNG CON NGƯỜỊ
Như các bạn đã biết, Con người cũng là Toàn Đồ Vũ trụ thu nhỏ, Vũ trụ lớn bên ngoài cũng có Năng lượng và có trí Tuệ như bản thân con ngườị. Do đó việc con người thu thập được các thông tin từ trường thông tin vũ trụ, cũng một chuyện rất bình thường nếu người ấy biết rèn luyện khả năng của mình.
Chúng ta cũng đã hiểu biết qua sách báo nói về trường năng lượng của con người như :
-Thấu thị nhìn xuyên suốt vật thể.
-Khí công, chửa bệnh từ xa
-Tiên Đóan mọi thời tương lai, quá khứ.
-Nhận định, phát minh, lý thuyết v.v.
-Biết chiều Không, Thời gian mớị
-Thần Giao Cách cảm, Chuyển dịch Tư Tưởng.
Rất còn nhiều khả năng của con ngưòi nếu chúng đi sâu để khám phá.
Nhưng có một điều đòi hỏi chúng ta muốn khám phá Những Thế Giới Bí ẩn, thì mình phải tự khám phá chính mình trước, vì khi mình đã biết mình thì tất nhiên sẽ biết về Đại Vũ Trụ bên ngoai
Khám Phá Bên trong Chúng ta đòi hỏi có phương pháp, hiểu biết cấu trúc những bản thể vô hình bên trong.v.v.
CÁC CƠ THỂ SIÊU HÌNH.
Như trong các giáo lý Tôn Giáo có nói về các thể siêu hình gồm trong Tinh, Khí, Thần như:
-Phách, Vía, Trí. Hồn v.v.
CON NGƯỜI TỪ ĐÂU ĐẾN?

Vũ Trụ quan trong các nền Tôn Giáo đều nói rằng :
-Chúng ta từ "Cái 1" mà "sinh ra" Cũng như vũ trụ quan Dịch Lý:
-Vô Cực Nhi Thái Cực, Sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi Sinh Tứ Tượng, Sinh Ngũ Hành, Bát Quái tác Vạn Thù...
Theo cổ Giáo Lý Thần Học cho rằng:- Khi bầu Vũ Trụ còn trơ chưa hình thành một vật gi, thì lúc ấy thị hiện ngôi I Vị Chúa Càn Khôn.
Trong Ý chí của Ngôi I liền Tam phân đa dạng hóa để thành lập một cơ thể tổng hợp hửu hình và vô hình. Nên nẩy sinh NgôiII và Ngoi IIỊ. Lúc bấy giờ Ngài dùng Thần Lực và ý chí để thúc đẩy các vật chất lưu hành tiền hoá 7 chu kỳ theo quy luật của Ngàị, tạo ra vô vàn hạt nguyên tử Âm, Dương nguyên sinh, mỗi hạt nguyên tử này tiếp nhận quang năng cũng như ý chí của Ngài( Đại Linh Quang Đại Vũ trụ) tạm gọi chúng là Tiên Thiên khí( Koilon), Do bị kích động nên các hạt Nguyên Sinh này biến thành vô số điểm chiếu sáng. Mỗi hạt nguyên sinh (Tiểu Linh Quang hay Tiểu Vũ trụ) có 7 bọt khí kết hợp 7 chu kỳ lại thành 7 hình xoắn ốc đi xuống thấp bên dưới, đó là công trình Ngài xây Dựng vật chất cõi trần. Trước khi tạo cõi Hống Trần này thì Thượng Đế đã tạo dựng 7 cõi siêu hình do kết hợp nhiều siêu vật chất.
-Cõi thứ 1 Tối Đại Niết Bàn( Danh tự nhà Phật) = 1 hạt nguyện sinh
-Cõi thừ 2 Đại Niết Bàn = 49 hạt NS
-Cõi thứ 3 Niết Bàn = 2.401 h. NS
-Cõi thứ 4 Bồ Đề( trực Giác) = 117.649 h. NS.
-Cõi thứ 5 Thượng Giới = 5.764.801 NS
-Cõi thứ 6 Trung Giới = 282.475.249 h. NS
-Cõi thứ 7 Hồng Trần = 13.841.287.201 h. NS
Càng hướng về Trung Tâm Vũ Trụ thì vật chất lại càng tinh vi hơn có tầng số cao hơn, số nguyên tử càng hạ thấp xuống và nhẹ đi, nó có tình cách là một hạt Nguyên Sinh trường tồn. Theo như bảng trên tính động đặc vật chất giảm lần từ cõi Tối Đại Niết bán đến cõi vật Lý của chúng ta, ( vấn đền này có liên quan đến du hành Vũ Trụ). Các Nguyên Tử trong các cõi đã được hình thành, thì từng nhóm 2,3,4 kết hợp lại để hình thành các cảnh giới tâm linh như trong Tôn Giáo Phật đã nói đến, cảnh giới càng cao thì các nguyên tử càng giản đơn của chính nó, càng xuống thấp thì cấu hợp của nó càng phức tạp đa dạng về chất hình thể, Cuộc sống bắt đầu từ hình dáng đơn giản dần dần kết hợp cộng sinh sẽ cho ra đới những thế hệ kế tiếp có cấu hợp phực tạp, cho đến hình thể các loài Cây cỏ, Cầm Thúvà loài người như hiện naỵ
Các tinh hoa Nguyên Tử Trường Tồn (Chân Thần) từ trên cõi cao thâm nhập vào các địa cầu để tiến hoá từ giai đoạn Kim Thạch, Thảo Mộc, cầm thú, loài ngừơi,rồi đến các "chân Linh" tiến hoá cao cấp như Thần Thánh Tiên Phật, sau thời có mặt con người xuất hiện trên mặt đất đ'o là Bát Hồn tiến hoá cho đến khi nào Chân Thần hợp nhất c`ung với Thượng Đế.(Tiểu Linh quang hiệp với Đại Linh Quang).
Khi một hồn Cầm thú sẳn sàn nhân thể hoá tiến lên dạng người phải học được Nhân Tính và thoái hoá thú tính trong tiềm ngã cho đến khi nào hoàn toàn lột hết bản năng thú tính thì gọi là "Chân Nhân", và từ đây "Chân Nhân" sẽ học được những con đường tiến nhanh để trở thành Phật, Tiên, thánh, Thần.
Khi Ý Chí Thượng Đế Tạo Lập Vũ trụ Trong số nguyên tử trường tồn chưa đủ đáp ứng tính chất 4 chiều thời gian, nên Ngài tạo thêm các Nguyên tử Ảo gồm 90% trong toàn vũ trụ để thị hiện các giai đoạn tiến hoá vật chất trong các cõi như : Thành, trụ, Hoạị Diệt
Cho nên trong thân xác hửu vi có "Chân Thần" không bị hạn chế sự hiểu biết về Ngã và Đại Ngã trong vạn Pháp.
Những công trình tạo dựng toàn hệ thống vũ trụ rất là Trí Tuệ nhưng nếu chúng ta không nhìn biết thì ắt chúng ta bảo rằng vũ trụ vô trí! Nên Linh hồn con người được dựng nên như một hình ảnh của Thượng Đế, Ngài gọi chúng ta là "Con" và xưng danh là "Thầy" Những lúc Ngài tá Điển Quang để dạy Đạo đều Xưng Là : " Thầy Là Các Con, các con là Thầy"...
Đến lúc nào đó chúng ta sẽ trở nên bất tử sau khi tu luyện khai mở luồn Hoả Xà KUNDALINI tạo Quyền năng hội nhập vào môi trường tinh khiếtVũ trụ Thượng Đế, Chính nó sẽ khám phá Đấng thiêng liêng trong bản thể của nó.
Như vậy chúng ta từ đâu tới, khi chết sẽ đi về đâu ? Điều này đã có đáp án, các bạn tự suy gẩm nhé!

THỂ VÍẠ

Thể Vía của con người bằng siêu vật chất, mắt trần chúng ta không nhìn thấy nó, tuy nhiên các hành giả rèn luyện "Chơn Thân" còn gọi là " Nhị xác Thân" có thể thấy được nó qua sự thị hiện của ánh hào quang cơ thể, nó cũng giống như dạng thân xác hửu vi, nó biểu thị tâm tình con người qua màu sắc hào quang như : Giận dử, thương yêu, ham muốn, dục lạc v.v. Nó cũng là cầu nối trí thức và đầu óc .
Mỗi con người chúng ta đều có, đang dùng nó nhưng chúng ta ít người tìm hiểu và không hình dung sự hiện diện của nó, do đó chúng ta không thể kiểm soát được nó.
Lại khác hơn đối với "Chân Linh"...
Còn tiếp

DaoKy
14-04-2005, 02:11 AM
là ánh Tiểu Linh Quang là Chủ Nhân Ông của thể xác, còn cái Phách của con người cấu hợp bẳng 7 chất thanh khí người ta chưa biết đặt nó là tên gì chỉ gọi nó từ 1 đến 7, nó rung động mãi không ngừng bởi các tư tưởng của não làm phát sinh những sóng cộng hưởng lan toả khắp trong không gian, cái Phách là thân xác thứ hai tạm gọi thân xác bằng siêu chất và phát toả hào quang. Bởi tánh chất của nó bằng siêu chất nên nó có thể đi xuyên suốt qua các vật thể cứng rắn, nên có thể một vong linh nào trong cõi Trung Giới có thể ngồi choáng ngay chổ của một người đang ngồi mà người bình thường không có năng khiếu ngoại cảm mà cả hai không thể hiểu biết được đã ngồi trùng lập lên nhau! Vì sự hoạt động của đôi bên hoàn toàn không trùng lấp tư tưởng lẩn nhau nên không thể nhận biết.
Có những con người có khiếu ngoại cảm tự dưng cảm ứng được có một dạng siêu chất đang ở bên cạnh, và lúc ấy người có khiếu ngoại cảm liền có sự phản ứng do sự truyền dẫn những rung động bên trong cái Phách.
CÁI VÍA.
Là một sợi dây liên lạc giửa Chân Linh và cái Phách, một sự truyền dẫn bởi tư tưởng do các giác quan thân xác nên cái Vía sẽ thể biểu hiện tính chất Tinh cảm, ham muốn, từ cái cao cả nhất cho đến những cái thấp. Nhờ như thế mà Chân Linh được học hỏi và đúc kết kinh nghiệm cảm giác:
Thí dụ :Cái đau khổ như thế nào, và nổi vui mừng và sung sướng ra sao! tất cả những thứ ấy nếu như chúng ta hời hợt sẽ nghĩ rằng do khối óc? nếu như có một người nào khai khiếu mở được Đệ Tam Nhãn sẽ nhìn thấy Tất cả màu sắc là do tình cảm mà biểu lộ Thí dụ :
-Người có tính thâm trầm hiểm ác có vái Vía màu đen xám.
-Người có tánh hay quạo, ích kỷ nhỏ nhặt thì cái Vía cò màu nâu đen
-Khi giận dử anh lên ánh sáng màu đỏ nhạt, khi nổi khổ đau thì ánh sáng màu bầm tím đậm, khi vui mừng ánh sáng màu xanh da trời nhạt, khi hạnh phúc thì loé lên màu vàng hoàng kim.v.v. Do đó mỗi tính nết tình cảm con người đều bộc lộ trong cái ánh hào quan của Vía.
Đối với người chưa tiến hoá về Tâm Thức thì cái Vía như một đám mây mờ chứa đầy dục vọng, chu vi ánh sáng của vía không phát xa thân xác, phần trên trán ngay LX 6 hiện ẩn những đốm sáng hoặc tối không hình dáng nhất định khi hình bầu dục có khi hình bầu dục tròn sáng hay hình mờ nhạt xám bầu dục hình răng cưa.
Riêng người tiến hoá Tâm Linh thì ánh sáng được phát phía sau huyệt Ngọc Chẩm phóng về phía trước, ánh sáng màu vàng nhạt hay đậm rực rở tuỳ theo đẳng cấp Tâm Linh, vì LX6 và huyệt Ngoc Chẩm đã thông.
Về hình dáng cái vía nếu như xác thịt bị mất mất một chi tay hoặc chân thì trong lúc những thời gian đầu cái vía nó vẫn còn đầy đủ chi nó chưa mất theo thân xác, tuy nhiên thời gian sao cái thân xác vô hình ấy nó tự định dạng lại bản thân nó như thân xác hửu vi.
Khác hơn cái Vía con người đồ vật như chiếc bàn, cái ghế v.v. Cũng có nhị xác thể nhưng khi nó bị gảy bể thì phần nhị xác thể cũng theo đó mà huỷ hoại cũng như bản thể hửu vi.
CÁI TRÍ.
Sau khi các hạt nguyên tử ảo kết hợp để làm thành thân xác hửu vi, thì tại nơi trung tâm "Chân Thần" hạt nguyên tử trường tồn đang thúc đẩy định hình cái Trí bằng chất Thượng Thanh Khí( Chất khi cõi Bồ Đề hay còn gọi là Trực Giác).
Chân Thần trên cõi Niết Bàn xuống thấp phải mượn các lớp áo siêu chất trong 7 cõi dưới tức là cõi Trực Giác để thành cái TRÍ nơi đây, Tư Tưởng hình thành cõi này cảm tinh ĐẠI ĐỒNG. đi xuống đến cõi Thượng trí thì thành hình Ý thức ĐẠI ĐỒNG, đi xuống dưới nửa là cõi Hạ trí hình thành Tư Tưởng CÁ NHÂN, Xuống nửa đến cõi Trung Giới thành hình NHÂN TÍNH, xuống nửa đến cõi Hạ Giới hình thành THÚ TÍNH, xuống nửa là cõi HỒNG TRẦN là nơi đa tạp hổn độn có đầy các cõi TRÍ thâm nhập ở nơi đây, tuy nhiên Cái trí cõi nào thì nó theo cõi ấy hoặc huân tập để hoá hay là thoái hoá...

Tất cả những hình ảnh của cảnh giới bên ngoài cũng ảnh hưởng đến cái Trí! Nó cho chúng ta thấy biết thực tại những hàng động và những biến động trong mọi cảnh giới rồi chuyển đến Chân Thần nhưng cũng còn có qua một bộ lọc tinh vi ta tạm gọi là "Bộ lưới lọc sóng dao đô.ng Chân Thần". Lưới lọc này nó chỉ cho phép những thông tin có sóng mang tính chất " Cao thượng" mới hội nhập cùng nó! Tuy rằng có sự chọn lựa ở nguyên tính Chân Thần phụ thuộc vào những tư tưởng và hành động Cao thượng mới được Chân Thần đáp ứng, bằng cách từ bên trong Chân Thần rung động thật nhanh và nhẹ nhàng làm cho chúng ta biết cảm giác sung sướng, hạnh phúc khi vừa làm một việc tốt cho mọi nhân sanh .
Những ảnh hưởng ở Thể xác,Phách, Vía, Trí sẽ cho chúng ta biết về thế giới hiện hửu, sự phát triển tâm thức trong mọi con người, bởi những phán ứng chọn lựa theo dục tánh như Thương Ghét, Lấy bỏ, sợ hải v.v.
NƠi cõi Thượng Trung Giới của Thú Tánh nó cũng đáp ứng được mọi biến đổi ngoại cảnh để hạ trí làm theo bản năng. Thí Dụ: Khi Trời mưa to lụt lội thì đàn kiến rời tổ ở nơi thấp tìm đến chổ cao ráo, khi động đất thì các loài thú có tính nhạy bén như những loài Hưu, Nai, Voi, Khỉ v.v. chúng hoảng loạn lên chạy cầu sống, di chuyển hằng loạt sang vùng an toàn khác! Những điều này chúng ta cũng có thể biết được với điều kiện không "lao tâm" theo nhiều ở ngoại giới, thì sẽ nhận chân được như tất cả loài thú cầm có đặt tính "Biết" vừa nói trên. Vì thế cái trí, Từ hạ trí đến Bồ Đề Trí đều có thể hiểu biết những cơ bản bảo tồnn cuộc sống ( hay còn gọi là bản năng)
Ngược lại Thượng trí ở con người cầu đạt nhằm hiểu biết vũ trụ Nhưng vì xen lẫn giao thoa giửa Hạ Trí và Thượng Trínên nó dể bị huân tập những cái trước mắt nên sau đó trở nên quen dần nhục cảm biến sinh ra Lòng tôn sùng, Biên kiến, Thiện cảm nhuộm màu của tánh chất phàm ngã do đó cái Thượng Trí bị ngăn ngại không thể nào thăng hoá về cõi của nó, cho đến một lúc nào đó nó nhận chân thì tất cả mọi huân tập sẽ rời rả rồi thăng hoá! Đây cũng là một cách học hỏi ở của Chân Thần ở cõi Trần!

THIÊN NHÃN

Những phần học hỏi trong cõi Trần chúng có khả năng sắp xếp những ý nghỉ hổn tạp trở nên Logic hoàn chỉnh để sáng tạo hoặc hành động theo nhu cầu trong sự sống.
Theo nhận định của cái Trí thì chúng ta cũng biết dựa vào năng lực này huân tu để trở về cõi Trực Giác Bồ Đề Trí, nơi đây chúng ta có thể rèn luyện nhờ năng lực bản thể và một Phần của Trí Trực Giác để có được Thiên Nhãn. Thiên Nhãn là chúng ta không còn nhìn thấy ở phía trước (LX6 gọi Thần Nhãn) nửạ, cái thấy bây giờ là cái trí trực Giác và Nguyên t'inh Chân Thần thí dụ : Một người Đạt Đạo như Bồ Đề Đạt Mạ khi liểu ngộ Pháp Nguyên thì thấy Ánh sáng và cảnh giới ở trên giửa đầu . Đó là Ngài Đạt Ma khai được Thiên Nhãn Thông, hoặc khi thuyếp pháp Đức Thế Tôn từ trong Đại Định đi ra Ngài Phóng một luồng hào quang trên đảnh đến ba ngàn thế giới các Tăng chúng thấy trong cảnh giới hiện ra Đức Quán Thế Âm đảnh lễ Đức Phật và giải thích về phép tu" Nhĩ căn Viên Thông" của Ngài !!!
Những Thần Thông đó của Đức Phật, đều dựa trên phương pháp Khai Đảnh Phóng Hào Quang trong "Thiên Nhãn" Sau này vị kế thừa "CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG" của Phật là Ngài Ma Ha ca Diếp rồi truyền đến mãi đến vị Tổ thứ 28 là Bồ Đề Đạt Mạ Đạt Mạ đem những tuyệt hảo chánh pháp truyền đến Trung Hoa cho đến Lục Tổ Huệ năng thì xem như Chánh Pháp không còn truyền về phần "CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG" này nửa, trừ một vài vị có căn duyên cao, nhưng nguồn Pháp này bị bế lại...

DaoKy
14-04-2005, 02:12 AM
CHÂN THẦN
Là chủ nhân Tiểu Linh quang, một Tiểu vũ trụ, nó không thị hiện bên ngoài như cái Phách, Vía,Trí của con ngườị Khi ánh linh quang hay còn gọi là hạt nguyên tử trường tồn xuống cõi thế gian nó phải mượn các lớp áo ở các cõi để bao bọc lấy chính bản thể của nó, từ cõi Tối Đại Niết Bàn xuống thì mượn chất thanh khí nơi đây để làm chiếc áo thứ nhất, rồi đến cõi Đại Niết Bàn bọc thêm một chiếc áo thanh khí thứ 2, đến cõi Niết bàn khoát thêm một lớp thứ 3 , đến cõi Bồ Đề thêm một lớp thứ 4, đến cõi Thượng Giới thì có lớp áo thứ 5, đến cõi Trung Giới thì thêm một lớp thứ 6 và thâm nhập vào trần thêm một lớp thứ 7 nguyên tử Ảo nửa tức là xác hủu thể. Qua 7 cõi thì Chân thần đã khoát lên bao bọc chân thể của nó thành 7 lớp, nên Chân Thần luôn bị tù hảm trong bảy lớp, do đó nnhững con người không rèn luyện cho bản thể không thể đả thông từ Chân Thần đến xác hửu vi thì Chân Thần luôn luôn bị tù hảm v`ao 4 bức tường kiên cố. (Ở trong bài này, phần sau cùng chúng ta sẽ cùng tham luận để hiểu biết về "tánh chất" và sự "khai phóng" một Chân Thần ra khỏi bản thể).Do vậy những bậc Chân Nhân luôn có ý thức Phụng sự thì trước tiên họ phải học hỏi đả thông tức là khai KUNDALINI qua các lớp thể hửu hình và siêu hình để cho Chân Thần hiển lộ dẫn dắt các Chân Nhân từ tư tưởng cho đến hành động một cách chính xác!
Khi Chân Thần hiển lộ, thì có nhiều sự nhiệm mầu đối với từng cá thể, thí dụ: -Họ sẽ được nghe dạy dổ, ở trong đầu óc, hoặc nghe ở tai(tùy theo năng khiếu ở một cơ quan nào)có khi nhận được thông tin từ Trường năng lượng cao ? Có thể Hành giả sẽ nghe lời dạy dổ của Đức Phật Tổ Như Lai, Hay các vị THần, Thánh, Tiên .v.v.( Điều này ngày xưa Đức Phật đã dạy: Dỉ âm, sắc kiến ngã (ấy là) hành Tà đạo ?. Vì trong Thuật Huyền Môn như Mật Giáo Ở Tây Tạng thì chỉ dạy cho các hàng căn cơ có quá trình thăng hoá tâm linh hướng về mục đích Phụng sự lợi tha Phật sợ các căn cơ thấp kém vọng tưởng cầu đạt Thần Thông nên Phật phải mượn những lời trên ngăn ngừa bớt đi lòng tham dục của những môn đệ chưa đủ căn duyên ! Một phương pháp khai phóng Chân Thể đòi hỏi chúng ta phải có đủ : Thiền, Tịnh, Mật. Trong Phương pháp đó có đầy dủ các phương tiện để giúp hành giả đạt mục đích tối hậụ. Trong giai đoạn đầu là nhờ lòng thiện tín đưa hành giả đi xuyên suốt thời gian hành rèn, khi đến cõi Bồ Đề thì Trực Giác khởi phát làm cho Hành Giả có Lục Thông, nhờ Phương tiện Lục Thông Hành giả vừa tu hành vừa hộ giúp cho nhân quần đạt những hiệu quả chắc chắn...
TIẾN HOÁ VỀ HỬU HÌNH.
...Quy luật tiến hoá của các siêu thể cũng như các vật chất hửu hình luôn gắng chặc chẻ vào nhau từ lúc còn là những sinh vật đơn bào, đa bào, cấu trúc Phức hợp.v.v. Qua các giai đọan và môi trường sống đều phải có sự hiệu chỉnh, thích nghi để tiến hoá cho đến thật hoàn chỉnh như hôm nay.
Trong các loài đều có bản năng sinh tồn mảnh liệt, truyền giống để tạo các thế hệ mai sau hoàn hảo hơn. Khi cấy trúc các loài trở nên hoàn hảo thì các cơ quan của loài đậng vật cũng phát triển nhằm thích nghi với môi trường và sinh sản nhưng không hao phí nhiều năng lượng duy trì sinh tồn cùng môi trường.
Do đó khi dư thừa Năng lượng thì cấu trúc của cơ thể động vật cũng phát triển to lớn dần theo từng thế hệ...
Bằng chứng cho thấy : -Người Việt trưởng thành ở vào thập kỷ 50 của thế kỷ 19 chiều cao trung bình Nam là 1,55 met cân nặng 50 kg và Nữ 1,50 mét cân năng khoảng 45 kg. Hiện tại hôm nay thế kỷ 21 Nam có chiều cao trung bình 1,65 cân nặng 60 kg và Nữ có chiều cao trung bình 1.60 câng nặng 50kg, đó là những con số cho chúng ta thấy sự tiến hoá về hửu chất, ngoài ra về trí thức con người hiện nay cũng hơn người xưa rất nhiều...
Con người trong thời đại tiến hoá cao khoa học vật chất, cuộc sống đở vất vả trong việc mưu sinh, ít bệnh tật tuổi thọ kéo dài hơn những thế hệ trước. Nhưng không phải chỉ riêng về vật chất, mà còn phải tiến hoá về tinh thần lúc nào cũng song song. Như đã nói trên Chân Thần là "chủ nhân ông" của mỗi cơ thể vật chất.
Bầu vũ trụ thì các Thiên Thể cũng có tiến hoá hoặc hoại diệt thoái hoá, như những cuộc va chạm giửa những Thiên Hà lẫn nhau, cái nào tiến hoá thì tất vẫn còn xoay và vật chất bên trong nó càng lúc thu hút càng nhiều, còn Thiên Hà nào bị thoái hoá sẽ bắt đầu thay đổi các quỷ đạo và hổn loạn, những Thiên thể nhỏ bên trong nó gây ra cuộc va chạm kinh hồn, sau đó huỷ hoại thành những đám mây bụi Tinh Vân, lại bắt đầu cho sự sống của nó tiếp theo sẽ hình thành trở lại cụm Thiên Hà mới!
NGUYÊN LÝ CỦA CƠ TIẾN HOÁ
Tương đồng => Dị biệt
Vô Định => Xác Định
Tiến hoá thấp đơn giản => Tiến hoá cao phức tạp
Từ Bầu Hổn Độn => Hình thành Càn Khôn
Vô thường => &n bsp;Thường trụ
Hổn loạn => &nb sp;Trật tự
Chúng ta tạm hiểu như thế vì không có một bộ biên niên sử nào đáp ứng cho chúng hiểu biết từ thưở sơ khai cách đây hơn 4 tỷ năm; quá trình hình thành vạn vật như thế nào? Tuy nhiên quá trình tìm hiểu về sự sống khai nguyên của vạn vật các nhà khoa học lần mò để tìm về buổi binh minh của Quả đất...

DaoKy
14-04-2005, 02:17 AM
CÁC CÕI VÔ HÌNH

Thân Tứ đại tức là các nguyên tử ảo hình thành bao quanh nguyên tử trường tồn, phát triển các cơ năng để Nghe, Thấy, Cảm Nhận, Tư tưởng, sau đó Tâm Thức tổng hợp rồi Hình dung cho ta nhận biết cảnh giới sự vật bên ngoài thân. Nếu như trong 5 giác quan bi hiếm khuyết, tức chúng ta bị ngăn ngại hiểu biết ít hơn về mặt này và bị chậm lại sự hiểu biết. Khi chúng ta nghe, thấy một vật thì tất nhiên tai, mắt chúng ta cảm nhận dược sự rung động ánh sáng và Âm thanh tùy theo cường độ, rung dộng của Sóng mang. Thấp quá thì không còn nghe thấy, hoặc cao quá thi không thể nghe thấy, nó phải tương ứng với sự thu nhận của giác quan. Thí dụ :
-Tai chúng ta có thể nghe từ tầng số rung dộng Âm Thanh từ 32/s chu kỳ cho đến 4322/s chu kỳ là âm thanh UT khi sự rung dộng âm thanh càng cao thi trở thành Siêu âm tai không còn nghe được, 32.768/s chu kỳ trên tầng số ấy nó trở thành một xung năng .
-Mắt chúng ta có thể nhìn lên mặt trời nhận thấy quang phổ màu đỏ, cảm nhận được sức nóng của vạch phổ ấy và bên trong là màu vàng sáng, phần bên trong trung tâm ánh sáng tím trắng do các tia sáng tử ngoại tác động, (bởi việc phân hạch của các nguyên tử làm tăng năng lượng tạo buớc sóng ánh sáng tăng cao và bức xạ). Như vậy trong tia sáng mặt trời có màu hồng ngoại và tử ngoại mà mắt thường chúng ta bị giới hạn bởi bước sóng ánh sáng quá cao.
Một chùm tia sáng trắng khi qua một lăng kính thì chúng ta thấy được 7 tia màu có bước sóng phù hợp với Nhãn quan: Đỏ Cam, Vàng, Lam, Xanh lá Cây, Chàm, Tím, Trắng. Tuy nhiên không chỉ bao nhiêu tia màu ấy, còn có nhiều tia màu mà mắt thường chúng ta không nhìn thấy nên gọi đó là tia "Huyền Quang" chẳng hạn : Tia X, Tia Hồng Ngoại .v.v. Đó là những vật chất không thể thấy bằng mắt thường được. Cũng như thế trong vũ trụ cũng có đến 90% những vật chất "đen" như thế!
Chúng ta cũng hiểu vì sao chúng ta bị hạn chế trong việc tiếp xúc thế giới đen( Tức là thế giới không thể nào nhìn bằng mắt thường). Thường xung quanh chúng ta có rất nhiều vật chất, có các xung rung động thấp hoặc cao mà chúng ta không thể nào cảm nhận hoặc tiếp xúc, nó bí mật vì bởi con người chưa có khả năng ứng đáp với các xung rung động trong thế giới ấy. Chỉ có những con người rèn luyện được Thần Nhãn thi mới đủ khả năng ứng đáp cùng thế giới ấy và nó sẳn sàn hé mở cánh cửa bí mật cho chúng ta nghe, thấy, biết.
Một phần lớn những nhà tu hành, có Thần Nhãn nhìn trong một vài cảnh giới rất hạn hẹp lờ mờ thông tin hiểu biết không đầy đủ, không như các bậc tu luyện cao thâm có được Thiên Nhãn nhìn thấy xuyên suốt nhiều tầng của vũ trụ . Các tế bào thần kinh não và thị giác của những người này đã phát triển toàn diện đủ đáp ứng cùng với các xung năng lượng cao của vũ trụ, và nhìn thấy được các cõi vô hình...
CÁC CÕI VÔ HÌNH

...Tất cả vật chất toàn vũ trụ có 10% nhìn thấy và 90% vật chất đen không nhìn thấy đó là thế giới phi vật lý .Cấu trúc vũ trụ cũng được phân bố : Phần vật chất thấy được là phần lớp vỏ bọc ngoài vũ trụ. Phần vật chất đen phi vật lý và vô hình là nhân của nó, càng vào sâu bên trong có nhiều dạng năng lượng cao hơn. Hiện nay khoa học đã biết được dạng năng lượng cuả vật chất đen như Black hole nó sẳn sàn nuốt chửng những Thiên Hà to lớn và biến mất tăm vaò bụng của nó! Như vậy thế giới vật lý chỉ là phương tiện, và thân Phi vật lý vật chất đen vô hình là năng lượng cao cấp tinh vi.
Tuỳ theo các chiều không gian mà phân bố cấu tạo môi trường vật chất nơi ấy , co hai loai môi trường vật chất:
1-MÔI TRƯỜNG VẬT CHẤT KHÔNG ỔN ĐỊNH.
Bất kỳ môi trường vật chất năng lượng nào không được tạo khuông vững chắc , do không có tình cơ bản liên kết của các hạt vật chất năng lượng, vì các hạt thô tế không ổn định tính chất thờI hạn nên dể phân huỷ và biến dạng. Môi trường này đa số cũng giống như thế giớI vật lý của chúng ta, nó rất nhạy bén vớI tư duy ( Tư Tưởng ) và ý chí của con ngườI, khi ta tập trung ý chí có thể thay đổI nhanh chóng những cấu kết vật chất và dáng vẻ của nó theo tiềm thức hiện hành.
2-MÔI TRƯỜNG VẬT CHẤT NĂNG LƯỢNG ỔN ĐỊNH
Là một môi trường được tạo ra bằng năng lưc đạI đa số con ngườI, bởI những tư tưởng ý chí cùng theo một chiều hướng, nó được tạo khuông mẩu bền vững theo thờI gian, môi trường này cấu trúc dáng vẻ giống như thế giớI vật lý của chúng ta, như những ý chí niềm tin mang sắc thái bất di bất dịch như chúng ta tin tưởng rằng:
- Vũ trụ này là vũ trụ ý thức và trí tuệ, có một đấng tạo hoá luôn an bài sắp xếp Thiên Cơ nhằm thúc đẩy sự tiến hoá cho mọI chúng sanh trong toàn vũ trụ.
- Có các Tầng trờI, cung trờI ở cõi Thượng Thiên và Trung Thiên.v.v.
- Các cảnh giớI vật chất ánh sáng khi Du Hành bằng tâm linh.
- Các cảnh giớI Địa ngục khổ đau.
Những chiều Không gian này song song vớI thế giớI chúng ta, nhưng thực chất thân của nó là phi vật lý, cấu kết bằng những hạt năng lượng tinh vi nên nó được bền vững, thế giới này gần ta nhưng tầng số dao động cao, nếu chúng ta tập trung ý chí và tư tưởng để thay đổI cấu trúc dáng vẻ của nó, nhưng không thể nào thay đổI được , các chiều năng lượng càng đi sâu vào bên trong đến trung tâm thì các hạt có kết cấu bền vửng hơn các hạt năng lượng phi vật chất ở bên ngoài.
3-MÔI TRƯỜNG NĂNG LƯỢNG CAO CẤP
Môi trường vật chất này nằm gần trung tâm vũ trụ, nơi mà các đấng Thiêng Liêng đã tiến hoá cao cấp, các hạt vật chất nơi đây chỉ ròng các hạt vật chất năng lượng Ánh sáng mạnh mẻ như:
- Ánh sánh màu đỏ thắm của cõi A DI ĐÀ.
- Ánh sáng màu vàng huỳnh kim của cõi BỒ TÁT và các CHƯ PHẬT.
- Ánh sáng trắng xanh là cõi của các bậc ĐẠI LA THIÊN TIÊN
- Ánh sáng màu trắng tím là cõi Bạch Ngọc Kinh của Đức THƯỢNG ĐẾ
4-MÔI TRƯỜNG VẬT CHẤT TỰ NHIÊN.
Môi trường này thường là những nơi chưa tạo lập của vũ trụ, nơi đây chưa co hình dáng gì cả chỉ có các loạI hạt phi vật lý cấp thấp ánh sáng mờ ảo. Môi trường này đặc biệt rất nhạy bén vớI tư tưởng và ý chí con ngườI, tác động rất nhanh khi ta tập trung ý chí muốn thay đổI tạo khuông mẩu định hình cho nó.
Môi trường này thu thập tất cả thông tin của con ngườI từ thờI xa xưa, nó như một cuộn băng từ ghi chép tất cả hình ảnh âm thanh và mọI dử kiện rất tinh vi nó rất gần vớI chúng ta .
Do đó mọI tư tưởng và ý nghĩ của chúng ta luôn tác động tạo khuông mâủ cho các chiều không gian phi vật lý song song cùng thế giớI chúng ta, sự sáng tạo tư nhiên này có tính cách lưu chứa như một chiếc “hộp đen” khổng lồ cho từng cá nhân để làm khuông mẩu định hình trong kiếp mai sau của từng cá nhân. Đây là vùng dử liệu Nhân quả Luân hồi.
Chúng ta biết được bí ẩn của vũ trụ phi vật lý, nên hạn chế các tư tưởng tiêu cực, đồng thờI phát triển những tu tưởng tích cực lợI tha bác ái, yêu thương vi mọI ngườI chúng ta phục vụ vô điều kiện, thường xuyên kiểm soát tư tưởng và ý nghĩ , quán chiếu lạI nộI tâm của chúng ta và định khuông mẫu cho đờI sống kiếp mai sau!

DaoKy
14-04-2005, 02:18 AM
KHÔNG THỜI GIAN THEO KINH ĐIỂN

1-CÕI TRỜI VÔ SẮC:
-TrờI Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
-TrờI Vô Sở Hửu Xứ.
-TrờI Thức Vô Bbiên Xứ.
2-CÕI TRỜI HỬU SẮC.
-TrờI Sắc Cứu Cánh.
-TrờI Thiện NIệm.
-TrờiThiện Kiến.
-TrờI Vô Phiền.
-TrờI Vô Tưởng.
-TrờI Quảng Quả.
-TrờI Phước Sanh.
-TrờI Vô Tận.
3-CÕI TRỜI TAM THIỀN.
-TrờI ĐạI Tịnh.
-TrờI Vô Lượng Tịnh.
-TrờI Thiểu Tịnh.
4-CÕI TRỜI NHỊ THIỀN.
-TrờI Quang Âm ( cõi ánh sáng và âm thanh )
-TrờI Vô Lượng Quang ( Cõi TrờI đầy ánh sáng)
-TrờI Thiều Quang .
5-CÕI TRỜI SƠ THIỀN.( Bao gồm 6 tầng TrờI cõi Dục GiớI )
-TrờI ĐạI Phạm.
-TrờI Phạm Thụ.
-TrờI Phạm Chúng.
-TrờI Đâu Suất (1 ngày TrờI bằng 400 năm thế gian)
-Trời Dạ Ma ( 1 ngày Trời bằng 200 năm thế gian).
-Trời Đạo Lợi (1 ngày trời bằng 100 năm thế gian )
-Trời Tứ Thiên Vương ( 1 ngày trời bằng 50 năm TG)
6-CÕI TRUNG THIÊN THẾ GIỚI.
-Cõi Phước Địa (Nơi hưởng phước của các chân linh sau khi rời cõi Hồng Trần.
-Cõi Dương Quang.( Cõi ánh sáng Trung Thiên Thế Giới khi các Chân Linh chỉ còn hạt Nguyên Tử Trường Tồn Dương )
-Cõi Âm Quang.(Cõi ánh sáng lờ mờ của Trung Thiên Thế Giới. Khi chân Linh chỉ con hạt Nguyên Tử Trường Tồn Âm)
-Cõi U MInh. Tương đương với Địa Ngục Vô Gián( Cõi này hoàn toàn tối mịch không có áng sáng vì cặp Nguyên Tử Âm Dương Trường Tồn Đã mất, Nếu có chuyển sanh thì chuyển sanh vào ác đạo; Ngạ Quỷ, Súc Sanh, Côn Trùng.v.v.
Nhưng nếu may mắn gặp được Chánh Pháp trong thời Tam Kỳ Phổ Độ sẽ được thăng hoá chuyển sinh trở lại kiếp người, nghèo hèn ngu tối, sau đó mới gặp Đạo tu hành để thăng hoá tâm linh...
7-CÕI HỒNG TRẦN.
-Là nơi để tất cả Chúng Sanh học hỏi thăng hoá tâm linh, cũng là nơi trả nhân quả cùng nhau... LUẬT NHÂN QUẢ LUÂN HỒI.
Con người có nhiều Trí thức thì càng có Đức tin, đối với những người này họ nhận định rất nhạy bén, họ có thể thấy được những định luật của vũ trụ. Tuy rằng Luật Nhân Quả Luân Hồi là vô hình vô tướng, nhưng họ cũng đã đủ kinh nghiệm nhận thấy, biết, những định luật bất biến trong vũ trụ, để chúng ta làm chủ lấy chúng, cải biến định luật này cho nhân thân, sẽ không phải nô lệ định luật này mãi mãi...
Có một số người họ nghĩ rằng :-Những định Luật Nhân Quả chỉ tác động khi có những hành động hửu hình, còn tư tưởng không thể nào có luật Nhân Quả! Như thế chúng ta lại ngộ nhận về Luật Nhân Quả Luân Hồi! Vì trước tiên có hành động thì con người phải tư Tưởng trước rồi sau mới hành động, thì chính lúc đó tư tưởng của chúng ta đã ghi âm thanh và hình ảnh lên môi trường thiên nhiên mà DaoKy đã nói bên trên, chúng ta nào biết những cái âm thầm, không thấy, không phản kháng và nó chỉ làm nhiệm vụ như một cái máy!
Nhờ sự hiểu biết, khám phá về Tiểu và Đại vũ trụ chúng làm quen với những từ ngữ "Năng lượng vũ trụ, Định Luật Vũ Trụ, Luật Hấp dẫn Vũ Trụ, Con người cũng là Năng Lượng, Hay là con người và vũ trụ là toàn đồ năng lượng.v.v." Những từ ngữ nói trên chỉ cái chung nhất của vũ trụ ý thức, khi đã biết vũ trụ là ý thức thì khi con người xử dụng năng lượng bộ não phóng vào không gian những luồng sóng não thì ắt những môi trường thiên nhiên sẽ bị nhiểm, tức là ghi nhớ lại giống như chúng ta sử dụng máy ghi hình hay ghi âm vậy. Cả cuộc đời sống con người như cái máy biến thế năng lượng vũ trụ đi ngang qua họ và chính họ sẽ có những tư tưởng hay hành động Thiệc hay ác nhờ năng lượng của vũ trụ.
Luật Nhân Quả Luân Hồi là một chuổi dài của Nhân Và Quả. nó chẳng những cho thế giới hửu hình mà còn ảnh hưởng đến những thế giới vô hình. những tác động của luồng sóng não sẽ gây tác động hệ quả đến thế giới vô hình ( vật Chất đen )thí dụ như: - Chúng ta tư tưởng ham cầu hưởng dục lạc, làm kích động các vong linh quá vãng có những tư tưởng nhu cầu dục lạc như chúng ta, họ sẽ tiếp cận xúi dục chúng ta để hưởng thụ những dư vị mà họ đã từng biết qua.
Dục cảm thuộc về cõi Trung Giới,Tư Tưởng thì ở cõi Thượng Giới, hoạt động thể xác thì ở cõi Hồng trần. Tất cả năng lượng để hoạt động những tư tưởng và hành động này đều từ vũ trụ, chúng ta chỉ là một cái máy biến thế hấp thu rồi phát tán ra ngoài rồi duyên theo ngoại vật. Nhưng có một điều chúng ta không xử dụng năng lực này đúng mục đích để tiến hoá trong cõi trần, mà lại vô minh chỉ biết sử dụng cho nhu cầu tham dục vị kỷ!
Trong khi đó, ít người hiểu rằng chúng ta là toàn đồ trong vũ trụ, thì chúng ta cũng là một phần tử của bộ máy Trời, đôi lúc làm cản trở bộ máy trời, tức là làm cản trở luật tiến hoá vũ trụ! Chúng ta cũng biết nếu ta thuận theo Thiên Cơ tức là Tiến hoá, còn đi ngược lại tức là cản trở bước tiến hoá có nghỉa là thoái hoá, thì việc gì sẽ xảy đến với chúng ta ? Những điều gì xảy đến tức là luật Nhân Quả một định luật bất biến! Những điều làm cản trở tiến hoá sẽ trở thành " Nghiệp" là cái hạt "nhân" đợi ngày kết "quả". Nếu như chúng ta hoàn toàn là khách quan nhìn thấy định luật của Nhân Quả rất tế vi và đúng đắn vô cùng.
Trong Đại Vũ Trụ có Tiểu Vũ Trụ và ngược lại,nên chúng sanh như một hành khách đi trên con tàu có tên là "vũ trụ" để vượt đại dương Không Thời gian bao la, trong cuộc hành trình này phụ thuộc vào kỷ thuật con tàu và hiện tượng cảnh giới! Muốn vựơt qua Đại Dương an toàn phải hội đủ nhân duyên : Thuyền trưởng đầy đủ kinh nghiệm cũng chưa đủ, mà phải có thuỷ thủ đoàn một lòng, kỷ thuật, động cơ vỏ tàu chắc chắn, khi gặp giông bảo tất cả tích cực giúp đở nhau. Một chân lý không sai khác từ một vũ trụ rộng lớn đến con tàu vuợt đại dương và bản thân con người. Nên sự hiểu biết về Nhân Quả tức là biết vũ trụ và Tâm linh dẫn dắt chúng ta đi đến mục đích là "Chân lý bất biến" . Vũ Trụ cũng có nhân qủa của nó vì là Vũ Trụ ý thức và con người cũng có nhân quả, nếu đã có nhân quả thì việc vay trả đó chính là quy luật công bằng của vũ trụ.
Nguyên Nghiệp Nhân Quả của vũ trụ là cơ tiến hoá chuyển những luồng sinh lực vào các vật thể hành tinh Địa Cầu, nó phải qua các thời kỳ : Sinh, Trụ, Hoại, Diệt. Con Người và Vũ Trụ đều trải nghiệm đời mình bằng khoảng Không Thời gian hửu hạn chính là cái "giả tướng" để cầu đạt sự thănh hoá hội nhập cội nguồn vũ trụ chính là "Chân tướng" vậy !
-Only Hunman being we have great latent potential in MInds but such potentinal is eclipsed by our anger, declusion, ignorance, craving selfishness and many other mental defislements.
-Chỉ có con người chúng ta mới có khả năng trí tuệ tiềm ẩn to lớn trong đầu óc chúng ta, những tiềm lực ấy bị che mờ bởi nóng giận giả tưởng, ngu si, tham dục vị kỷ và nhiều thói xấu tâm thần nhơ bẩn khác!(thế là chúng đã tác nghiệp do thiếu trí tuệ).
hay là lời đơn gian hơn :-reap what you sow ! ( gieo gì thì gặt nấy! )
Con người hay các loài chúng sanh sanh khác, đều phải chịu nhận lấy trách nhiệm về việc nghĩ tưởng và hành động của chính mình. Không phải là các Đấng Thần Linh, hay Đấng Hoá Công quy định cho việc thưởng phạt kiếp sống của con người, mà chính con người là một Thượng Đế tối cao của chính họ. Họ muốn làm chũ cuộc đời của họ hoặc là họ làm mất quyền tự chủ, họ muốn hạnh phúc hay đau khổ, hoàn toàn bởi họ chứ không do một ai khác có thể can thiệp vào nhân quả của họ. Nhân Quả là một nền cơ bản Đạo Đức nhân bản cao cả trong khi đó giá tri con người mãi mãi được nâng cao không có giới hạn trong vũ trụ ....

DaoKy
14-04-2005, 02:21 AM
LUÂN HỒI.
Con người từ chối Minh Triết bởi vì lòng tham lam ích kỷ và hận thù họ làm theo dục vọng điên cuồng, nên trong những lớp áo khí thể vô hình bao bọc thân xác càng lúc càng dầy nặng trược không thể nào thăng hoá, nên họ chưa biết những điều gì bên trên, một cõi hạnh phúc chân thật của những chân linh đã tiến hoá. Mọi hàng động và tư tưởng càng nhiều tham dục, tất nhiên con người bị trói buộc vào vòng quay Luân Hồi không thể nào thoát khỏi định luật Nhân Quả. Theo triết lý của Ấn Độ Giáo thì những người tự gây lấy "Nghiệp"(Karma sanchita) tất nhiên phải chiêu cảm để Nghiệp dẫn đến con đường trả "Quả", trong giai đoạn trả "Quả" con người lại vô tình tạo thêm "Nghiệp" mới gọi là "Nghiệp vị lai" (Kriyamana), tới đây chúng ta cũng có thể hình dung về nhân quả đã lưu chuyễn qua nhiều thân và nhiều giai đọan thời gian, con đường nhân quả đã chằng chéo phức tạp, thay vì phải trả xong nghiệp xưa trong một kiếp thì chúng ta vừa trả quả, lại vừa vay thêm nợ mới, và cứ thế chồng chất từ đời này đến kiếp nọ, càng lúc Nhân Quả biến tướng phức tạp và chính chân linh người này phải lưu chuyển theo để thọ "Quả" tuy rằng trong một kiếp khác với một thân xác mới! Cũng có thể nói "Nhân Nghiệp" của tên A kiếp trước lưu chuyển theo chân linh mà đầu thai trở nên tên B và chính tên B này phải lảnh lấy "Quả Nghiệp" của A lúc trước, trong lúc trả Quả thì tên B này cũng tạo ra "Nghiệp Vị Lai". Nghiệp lại chồng lấy Nghiệp, và biến tướng của Nhân Quả mỗi lúc càng nặng nề càng sai biệt. Tuy nhiên không phải lúc nào con người cũng nghĩ tưởng hàng động ác nặng trược, cũng có lúc họ nảy sinh những tư tưởng cao thương, hành động tốt, tất cả những thứ Thanh và Trược này đều được ghi vào "Hộp Đen" khổng lồ trong vũ trụ, để định hình cho kiếp sau mỗi chân linh. Trong quan niệm về cõi vô hình người TQ họ cho đó là hai vị : Nam Tào Và Bắc Đẩu Tinh Quân ghi chép việc lành dử của con người ở thế gian. Chúng ta có thể nhận định các tư tưởng và hành động tốt xấu sẽ định hình con người trong kiếp tương lai:

TRONG KIẾP QUÁ KHỨ; ĐỊNH HÌNH ; KIẾP TƯƠNG LAI.
-Hành động phụng sự = &nb sp; -Có hoàn cảnh tốt
-Hành động bất hảo = -Có hoàn cảnh xấu.
-Kỳ vọng và Tham vọng = & nbsp; -Tạo khả năng
-Kinh nghiệm sống = -Sáng suốt Minh triết
-Sự khổ đau &nbs p; = -Tâm thức Đạo Đức
-Ý chí Phụng sự &nbs p; = -Năn g kiếu tâm linh.
-Làm đau khổ kẻ khác = - Bản thân sẽ bị ngược đải
-Thất hứa với người =& nbsp; -Mất niềm hy vọng.
-Giết người &n bsp; = -Làm súc vật bị người giết hại .v.v.

CON NGƯỜI GIEO QUẢ GÌ SẼ GẶT LẤY QUẢ ẤY!!!
Những hành động và tư tuởng tại tiền Trần có sức hấp dẩn Nghiệp, sau khi chết thì chính những lực hấp dẫn này đưa các chân linh đến các cảnh giới vô hình để chờ và chuẩn bị cho kiếp lai sinh, nên họ lọt vào các cảnh giới như đã nói bên trên. Nếu hành động và tư tưởng đều Ác thì họ mất hoàn toàn chân tánh, hai hạt Âm Dương Quang bị bao bọc bởi trọng trược nên Chân linh ấy thấy cảnh giới tối đen ngày cũng như đêm, ấy là Địa Ngục Vô Gián! Nơi đây chân linh phải nhìn thấy lại bằng hình ảnh tội lổi, ký ức phát ra liên tục không gián đọan một giây phút nào của "nghiệp" trong kiếp trước. Đó là một hình phạt xám hối nghiệp xưa...
Đáng lẻ ra DaoKy sẽ viết phần THIỀN, TỊNH, MẬT, vào phần cuối của bài này, nhưng vì nhu cầu của các vị nên DaoKy xin viết lên đốt bỏ giai đọan vậy!
Kính thưa quý vị!
Trong các Tôn Giáo chia làm Ba khối lập trường như sau:
1- Tôn Giáo căn cứ theo đức tin Cúng kiến lễ lạc cầu giải thoát.
2- Tôn Giáo căn cứ theo sự thanh tịnh, và tin tưởng vào sự giải thoát là niềm tin mảnh liệt.
3- Tôn Giáo căn cứ Đức tin vào sự Cúng kiến lễ lạc và Thanh tịnh tinh thần cũng cầu giải thoát.
Cả ba trường phái này với mục đích như nhau không sai khác, nhưng có điều đạt được phần tối hậu của việc tu trì giải thoát được hay không đó là một chuyện đáng nói.
Việc thanh tịnh tinh thần cần phải có, khi thanh tịnh tất nhiên con người sẽ có trí tuệ, không cho những tư tưởng sai lầm là chân lý. Nếu chỉ có đức tin không có trí tuệ thì chúng ta dể bị vướn vào hoài nghi, ngộ nhận những phương pháp giả tướng trong việc tu trì rốt cuộc bỏ cả cuộc đời mà không thể đạt được giải thoát.
Có người chỉ mới đọc vài cuốn sách về Đạo Lý, về Thiền hay chỉ biết Thiền qua sách vở, rồi tự cho mình có đầy kinh nghiệm, mang kinh nghiệm này đi dạy lại kẻ khác!!! Kinh nghiệm của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hay tất cả các bậc đạo sư khác chỉ cho chúng ta thấy được mặt trăng, mặt trăng ấy chính là chân lý, và bổn phận chúng ta phải đi đến chân lý bằng tự lực và bằng kinh nghiệm xương máu của mình ,chứ không phải bằng những kinh nghiệm viết trong kinh điển của các bậc Đạo sư!
Kính thưa quý vị! Cánh cổng Thiền nửa kín nửa hở,không kín hết mà cũng không hở hết! mặc dù nó chỉ là phương tiện cho con người đi tới sự giác ngộ. Ngày xưa trong thời Trung Cổ các vị Đạo sư truyền pháp theo căn cơ từng đệ tử chứ không phải truyền hết cho tất cả mọi người, nên Đức Phật cũng phải diệu dụng tám vạn bốn nghìn pháp môn mà độ chúng, tuỳ theo nhân duyên và căn cơ của chúng sanh.
Sau khi trao Khẩu Quyết cho đệ tử rồi, thì hành giả phải hành trì mãi khi nào đạt ấn chứng thì mới có thể gọi là đắc pháp, chỉ đắc pháp thôi chứ chưa đắc Đạo quý vị nhớ rỏ chổ này.
Khi truyền khẩu Quyết cho Đệ tử, các Ngài cũng không hề nói rỏ những kinh nghiệm ấn chứng của mình cho đệ tử biết là vì sao ? Là vì các bậc Đạo sư sợ: Nếu nói ra ấn chứng thì cũng như chúng ta đây, không tu mà biết thì chuyện này rất lạ? Hoặc giả phóng đại những kinh nghiệm của những hành giả đi trước, thố lộ thông tin trong lúc vị đó ấn chứng! Vì muốn ngăn chận những lời nói phiếm luật xem vô tội vạ này mà các bậc Đạo sư đưa ra câu nói :
-Một tất lông rùa nặng chín cân.
Rùa làm gì có lông mà một tất lông nặng đến chín cân? (ý nói là ảo thôi !)
Hoặc nói trấn áp kẻ thố lộ ấn chứng :
-Ngưoi bị ám chướng rồi đó!
Thế là khi bị Tổ hay Thầy quở trách, hành giả không hiểu thâm ý từ ấy khi đạt được ấn chứng cũng không hề dám thố lộ ra, hoặc giả có thấy biết thì cũng không còn chấp vào thấy biết ấy nửa! Và cũng từ đây xem vấn đề này là tối kỵ
không ai dám nói kinh nghiệm ấy ra nửa! Vì nếu nói ra những kẻ không tu lại biết, kẻ không từng trải nghiệm lại hiểu quá trình Tu Thiền và những cảnh giới Thiền, đó là chướng ngại cho những kẻ ấy suốt đời không thể nào tu Thiền được bởi những tư tưởng đầy "hiểu biết mà không cần hành Thiền" của những kẻ ham bàn chuyện phiếm và kẻ nào nghe thì bị "thuốc" chết ngay lúc ấy!
Khi tu tất cả cái gì cũng phải hành, phải trải nghiệm và quán tưởng từ không đến có từ có đến không mới liểu nghĩa vạn pháp, thí dụ :
-Trước mặt chúng ta thấy có "Cái Bàn" thì phải thấy cái "Không Bàn" rồi đi đến cái "Hoại Bàn"!
Thấy như thế mới gọi là thấy tường tận, mới có kinh nghiệm, chứ nghe người nói rồi ta cứ nghe theo, trong khi trí tuệ không có vì không trải nghiệm thì gọi đó là " Mê Tín" vì niềm tin mà không có hành trì không kinh nghiệm thì làm thế nào gọi là chứng ?
Ngày xưa khi Đức Thích ca Mâu Ni giáo pháp cho các tăng chúng Ngài dạy:
BA PHƯƠNG PHÁP ĐƠN GIẢN (THREE SIMPLE METHODS)
-Bố Thí, Trì Giới, Thiền Định. ( Dana, Sila,Bhavana )
Ba phương pháp này rất đơn giản mà chúng ta gọi là Phật
Pháp:
-Bố thí tức từ bỏ mọi mọi sự tham luyến, đóng góp hay hy sanh giúp ích làm lợi cho cộng đồng, việc Bố thí không có ẩn ý vọng cầu báo đáp.
-Giới là rào chắn không để chúng ta bị ô nhiểm bởi những hành động do Tham dục lôi kéo, nhằm nâng cao đức hạnh của người tu lên mãi không giới hạng.
-Thiền định nhằm Thanh tịnh tâm để tăng trưởng trí tuệ, co trí tuệ thì nhận chân được vạn pháp, không còn ngộ nhận trong bất kỳ cảnh giới nào và công việc độ sanh sau này trí tuệ giúp hành giả làm việc chính xác hơn mà không còn bị dính mắc vào nhân quả...

DaoKy
14-04-2005, 02:24 AM
Ý NGHĨA CỦA VIỆC HÀNH THIỀN:

Pháp Ðạo là một thể loại hình tý týởng nhằm cụ thể hoá trong quá trình tu luyện tạo nãng lực cho Thân Tâm, nó có ý nghĩa thay thế và loại trừ những nghiệp týởng trọng trýợc, thay vào ðó bằng những tý týởng trong sạch lợi tha, vong ngã, vả lại pháp nào cũng lấy tý týởng làm gốc, sự giao cảm nào mà chãng do tý týởng ? Khi chúng ta thực hành pháp tức là tập trung phát huy những niệm týởng ấy, cũng chính nhờ vào nãng lực này mà các nghiệp Tham sân si dần dần ðýợc thãng hoá, giải thoát mọi sự ràng buộc của tham dục thế trần, nhý giòng nýớc tẩy rửa bợn nhõ và từ ðây nãng lực kết tựu khai mở phần trí tuệ cao cấp.
Khi ðã thấy tất cả các pháp ðều là huyển hoặc là giả týớng, thì bấy giờ hành giả sẽ nhìn cảnh giới chân thật chung quanh một cách minh triết không còn bị lầm lạc. Tâm lý hành giả sẽ thấy nhàm chán mọi hiện týợng ðối ðải của nhị nguyên, không còn bị kích thích bởi những tý týởng dục vọng, tâm trở nên bình thản sinh lòng thân thiện yêu thýõng tất cả mọi chúng sanh rồi phát hạnh nguyện ðộ sanh, hành giả sẽ giúp chúng sanh một cách chân thật, ðồng thời bản thân của hành giả có ðầy ðủ nãng lực và trí huệ thị hiện qua những công hạnh nhý tất cả chý Phật Tiên. Ðó là “ Kim Thân Thị Hiện “. Ðạo không có gì huyển hoặc mà là chân thiện mỹ nó là tính cách ðể hiệp nhất cùng Thýợng Ðế vậy !

2-/ TOẠ THIÊN.

Toạ thiền không phải là môn thể dục, cũng không phải cách tạo ra khổ hạnh hay là một phýõng pháp kỷ luật hay là hành xác thân, nhằm ðể tạo một ðẳng cấp trong tôn giáo, không phải toạ thiền ðể trở nên một cái gì, hay chính hành giả có vọng týởng trở nên Thần Thánh Tiên Phật, mà ðiều này chính hành giả cũng chẳng hiểu biết sáng suốt !
Toạ thiền là sự khai mỡ cánh cổng lớn ði vào cõi giải thoát mọi sự buộc ràng thân tâm, nhận biết thế nào là tự tại, thế nào là sự bình yên tâm trí . Toạ thiện là thâu liễm tinh tuý nãng lực và ðạt trí huệ ðể sau cùng ði ðến sự sáng suốt giác ngộ, vì sự giác ngộ không phức tạp, không vọng týởng, không phiền nảo mà là trực chỉ tạo nãng lực ðể “ Kiến Tánh” trở thành sự kiện vĩnh cửu rộng khắp càn khôn , một nguyên lý bất biến, một trí tuệ tốt thýợng hay còn gọi là “ Tâm Hý “.
Toạ thiền trong sự im lặng cùng với những ðức hạnh của nó thì sẽ ðýa hành giả ðạt nãng khiếu:
-Tinh thần sáng suốt nhạy bén hõn trýớc.
-Mở cánh cửa của thế giới mới, do sự hiểu biết hõn.
-Hiểu rỏ ngôn ngữ thông tin của tạo hoá vũ trụ.
-Khám phá ðýợc tiểu vũ trụ trong ta, nghe ðýợc tiếng nói bên trong.
-Trực giác có cõ hội chấp cánh bay.
-Thấy rỏ những cảnh giới xung quanh một cách chân thật hõn.
-Sự an lạc sau khi nắm rỏ quy luật sinh tử vũ trụ.
-Khả nãng tự tại không còn bị ràng buộc .
-Giác ngộ sự giải thoát.
3-/ TAM BỬU HAY THỐNG TAM TÀI.
Phýõng pháp tu luyện chỉ xoay quanh ba món báu ðó là TINH, KHÍ, THẦN.
-Tinh là tinh ba khí huyết trong châu thân.
-Khí là Hạo nhiên chi khí trong Tam Tài (Trời, Ðất, Ngýời.)
-Thần là sự cảm ứng của Thân Tâm.
Sự rèn luyện kết hợp ðýợc ba thành phần ấy ðúc kết nên một thể vật chất siêu tế vi , có thể tạm gọi là Pháp Thân.

4-/ HÀNH CÔNG

Khi ðã chuẩn trang býớc vào hành công có ba ðiều cãn bản là :
-Ðiều Thân: là thân thể ðýợc tắm gội mát mẻ, ngồi ngay ngắn, tý thế oai nghiêm, mắt khép hờ, không cãng thẳng sống lýng phải thẳng gốc với mặt bồ ðoàn hay ghế 90 ðộ.
-Ðiều Tức : Là hõi thở nhẹ nhàn ra vô ổn ðịnh không nhanh không chậm.
-Ðiều Tâm: Là tập trung tý týởng thanh lọc các tạp niệm ( buông bỏ những niệm týởng khác chỉ biết hiện tại ðang hành công những bài pháp nguyên ).
Khi vận hành Tinh Khí Thần nhằm quy hiệp Aâm Dýõng ( hai mạch Nhâm và Ðốc )sinh dòng ðiện nội thể. Sau giờ hành công ðến giai ðọan thiền quán nội thể ( Mật Tâm ). Một pháp ðầy ðủ gồm 3 ðiểm quan trọng : Thiền, Tịnh, Mật nhằm tãng trýởng công lực khi khai mở và liên kết các trung tâm khí lực hay những huyệt vị thân thể của con ngýời chia làm ba phần trong ðõn ðạo gọi tên nhý sau:
-Tiền Tam Ðiền = H ậu Tam Quan.

Thýợng Ðiền = & nbsp; Ngọc Chẩm Quan
Trung Ðiền = & nbsp; Giáp Tích Quan
Hạ Ðiền &n bsp; = Vĩ Lý Quan

THÝỢNG ÐIỀN

7-/-Bách Hội (Mạch Ðốc) còn gọi là Nê Hoàn . Từ mí tóc trán ðo ra sau 5 thốn. Õû trên ðỉnh sọ, chức nãng của nó có liên quan ðến xúc cảm, chu kỳ tính dục, nó ðiều khiển nảo sau và thính giác, sự thãng bằng, nhận thức ánh sáng bằng mắt và bằng da.
5-/-Ngọc Chẩm là phần của Tiểu Não từ trung tâm huyệt Bách Hội ðo xuống phía sau 7 thốn ðó là huyệt, phần não bộ này ðiều khiển hô hấp, nhịp tim và một số chức nãng liên quan ðến hệ thần kinh phản ứng. Khi ðến Ngọc Chẩm tạo ra nhiều hiệu quả , hành giả sẽ có những phát hiện các cảnh giới hồn nhiên và sáng tạo. Nõi ðây là một khu lýu trử ðiển quang thuần khiết, nõi ðây còn ðýợc gọi là “Sinh Tử Huyền Quan Thýợng “
6-/-Huê Quang (Mạch Ðốc) còn gọi là Huyệt Aán Ðýờng, nõi ðây chính là Tuyến Yên các nhà Ðõn Ðạo gọi là Ngọc Ðảnh tức là Chảo Ngọc, nội tuyến có nhiệm vụ ðiều hoà sự phát triển tuyến sinh dục, tuyến thýợng thận, tuyến giáp trạng.
Nó ðiều khiển não trýớc, là cõ quan hiển thị hình ảnh của trí huệ, và thị giác, là nõi ngự trị của tình thýõng và lòng trắc ần, cãn bằng các trạng thái của cõ thể, ý thức thời gian.
4-/-Giáp Tích Quan (Mạch Ðốc) nằm trên Tuyến Thýợng Thận kích thích chất tuỷ trong não tạo ra những phãn ứng miễn dịch cho cõ thể, nó ðiều khiển tuyến thýợng thận quân bình Natri và ðýờng trong máu. Làm hýng phấn những cõ thể bạc nhýợc, làm trẻ lại quả tim bệnh hoạn. ( Không nên tập trung quá nhiều vào nõi ðây vào buổi chiều sẽ làm khó ngủ ).
2-/-Vĩ Lý Quan (Mạch Ðốc nằm ngang rốn ở cột sống hay còn gọi là Mệnh môn là cánh cửa của “cuộc sống”. Huyệt này phát ra Thận khí , thận trái là Aâm , Thận phải là Dýõng. Vĩ Lý nằm chính giửa hai quả thận tạo quân bình khí lực, nõi ðây là “Lò luyện ðan” và chảo là “Ngọc Ðảnh” là phần “Chiết Khảm Ðiền Ly” của bản thể.
1-/-Trýờng Cýờng (Mạch Ðốc) là cánh cửa sinh tử vì nó cho khí vào tuỷ sống lên não ðến hệ thần kinh trung ýõng, nõi ðây tập trung nhiều dây thần kinh của các bộ phận trong thân thể nên trong ðõn ðạo gọi nó là “Sinh Tử Huyền Quan Hạ” . trong phần khai thông Tiểu Châu Thiên, nó dẩn các tinh lực từ Huyệt Hội Aâm sang nuôi dýởng các tế bào và thanh lọc các cõ quan, làm khí vận hành lên tuyến trên. Có hai ống bõm khí quan trọng một là nõi xýõng cụt, hai là nõi ðáy hộp sọ ( Ngọc Chẩm ) cho nên gọi chúng là ( Thýợng Hạ Sinh Tử Huyền Quan ). Làm tuần hoàn máu nhiều hõn, lýợng Oxy càng tãng cung cấp cho não bộ tạo cho cõ thểâ thêm sinh lực.
1-/-Hội Aâm ( Mạch Nhâm ) nó nằm dýới thân giửa lổ tiểu và lổ ðại, nõi chấm dứt nhiều dây thần kinh và mạch máu, nên thýờng có khuynh hýớng bị mất khí nõi ðây, tất cả sinh lực ðýợc khuyếch ðại rồi theo dòng bắn sang Trýờng Cýờng theo cột sống mà lên ðỉnh ðầu rồi xuống giửa hai chân mày ( huyệt Huê Quang ) và rồi lại tuần hoàn ðến Nhâm Mạch nhý trýớc.
2-/-Hạ Ðõn Ðiền, Thần Khuyết ( Nhâm Mạch ) còn gọi huyệt Khí Hải dýới rốn 3 thốn nõi ðây tích chứa khí lực khi hấp thu vào và nén khí ðể dẫn khí ði theo ý muốn của Hành Giả, trong ðõn ðạo xem nõi ðây là “gốc rể” của cõ thể. chúng mang những chất sống còn ði khắp nõi bản thể nhu cầu. Nõi ðây là nõi ðõn dýợc ðýợc hình thành trong giai ðọan ðầu, sau ðó dần chuyễn lên Trung Ðiền và sau cùng là Thýợng Ðiền ðiểm cuối thành tựu ðõn ðạo.
3-/-Trung Ðiền, Trung Khuyết ( Nhâm Mạch ) còn gọi là huyệt Chiên Trung là trung tâm của tim mang ðến tình thýõng khi hành thiền ðến ðây sẽ phát ra ánh sáng xanh dýõng nhý một ngôi sao rất ðẹp, làm mạnh cõ tim nãng lực thiết yếu cho sự vận hành tuần hoàn máu trong cõ thể, làm Phổi hấp thu nhịp nhàng, khí sẽ tràn ngập nõi ðây làm hành giả cảm thấy dễ chịu vì “Tâm bào lạc” thu hút khí mạnh, nhýng không nên tập trung quá lâu sẽ làm khó thở.
4-/-Toàn Cõ ( Nhâm Mạch ) còn gọi là Yết Hầu nõi ðây là Tuyến Giáp Trạng và cũng liên hệ các tuyến khác, khi vạch ðýờng khí từ Huê Quang qua nóc giọng xuống Toàn Cõ . . . tạo những hoá chất cần thiết cho cõ thể.
5-/-Lýởi ( Nhâm Mạch ) là cõ quan cầu nối liền giửa hai mạch Nhâm và Ðốc gọi là Thýợng Thýớc Kều .Ðặt ðầu lýởi lên vòm họng ta có` ba vị thế : Ngoài cùng sau 2 rãng cửa ðó là “ Gió”, kế ðó chính giửa nóc giọng là vị thế của “ Lửa “ trong cùng là “ Nýớc “, nên vì thế lúc mới bắt ðầu hành công hành giả ðể lýởi ở vị thế “ Nýớc “ ðể có tân dịch chảy ra. Khí chảy trong mạch kín nối liền Nhâm Ðốc ( các hài nhi cũng co lýởi nhý thế trong lúc nằm ngủ ).

VẬN HÀNH TIỂU CHÂU THIÊN

1-/ Tựu Thần tại Huê Quang hít vô dẫn khí xuống Ðốc giọng co lýởi ở vị thế “Nýớc” (nối Thýợng Thýớc Kiều) rồi dẫn khí xuống Trung Khuyết ðến Thần Khuyết ( Hạ Ðõn Ðiền ) rồi nhíu hậu môn ( nối Hạ Thýớc Kiều) qua Vĩ Lý rồi lên Giáp Tích chia khí làm 2 ra hai tay ra hai ngón cái rồi thở ra. Hít vào dẫn khí từ 2 ngón tay cái vào lại Giáp Tích rồi dẫn lên Ngọc Chẫm , ðến Nê Hoàn rồi xuống Huê Quang thở ra
2-/ Tựu Thần nõi Huê Quang hít vô dẫn khí lên Nê Hoàn rồi xuống Ngọc Chẫm dẫn xuống Giáp Tích phân khí làm 2 ra hai tay ra hai ngón tay cái rồi thở nhẹ ra. Hít vào dẫn khí ðến Giáp Tích rồi dẫn xuống Vĩ Lý (nhíu hậu môn ) dẫn sang Hạ Ðõn Ðiền lên Trung Khuyết lên Yết Hầu ðến Huyệt Thừa Týõng dýới môi thở ra bằng miệng. Xong một vòng Tiểu Châu Thiên.

VẬN HÀNH ÐẠI CHÂU THIÊN THUẬN

1- Ðịnh Thần nõi Huê Quang hít khí từ mũi xuống Nhân Trung co lýởi ở vị thế “ Nýớc “, khí vận hành xuyên ðốc giọng xuống Toàn Cõ (Yết Hầu ), rồi ði qua Chiên Trung xuống Thần Khuyết (Khí Hải), khí hội tựu nõi Hội Aâm ðáy xýõng chậu rồi khí phân làm 2 ði xuống phía trong của ðôi chân ðến huyệt Dũng Tuyền ( nõi ðây là khởi ðiểm của Kinh Thận lấy khí của ðất lên bàn chân ), rồi dẫn khí lên ðầu ngón chân cái sau ðó thở nhẹ ra.
2- Hít vô cảm thấy luồn khí mát lạnh ði vào 2 ngón chân cái dẫn khí ấy ði theo bên ngoài 2 chân lên huyệt Trýờng Cýờng qua huyệt Vĩ Lý rồi lên Giáp Tích ( Tích Trung ) lại chia hai ðýờng khí vào phía trong cánh tay rồi ra ngón tay cái thở ra. Hít vào từ 2 ngón tay cái dẫn ðến Giáp Tích nhý trýớc rồi sau ðo ù dẫn lên Ngọc Chẫm khí ði xuyên qua Nê Hoàn xuống Huê Quang thở ra. (kết thúc một vòng Ðại Châu Thiên).
Tiếp theo mời các bạn tham khảo một vài bài luận của các bậc Tiên Nhân:

KIM TIÊN CHỨNG LUẬN

Lời týạ I

Sách kinh của Tiên Phật nhiều vô số, bậc sõ học làm sao thông suốt hết. Chý ðồng Ðạo thýõng ðời phát tâm cầu Chánh ðạo cũng khõng biết cửa vào!
Ðã không Chân sý lại ít bí kinh, nên Tu sĩ lầm theo khổ hạnh tịch diệt, và bị rõi vào tà thuật. Tình trạng này khắp nõi ðều có. Do ðó nên lòng ta bùi ngùi, mới phát lên ý chí chuẩn cứu. Nhờ ðĩ chẳng bao lâu ta ðýợc gặp Chân truyền thực dụng, chẳng ðợi khẩu truyền diện thọ mới minh. Dĩ là Kim Tiên chứng luận, là Huệ mạng kinh.
Tiếp sau kỷ thuật một nhà ấn lóat, muốn góp phần phát huy Chân truyền, nên ðến gặp ta ðể xin lời tựa, và ðề nghị phân ra ðiều mục, cùng góp phần tham nghị.
Ta nghĩ sức mình có hạn, sao dám luận bàn về cõ ảo diệu của Phật Tiên.
Chứng Luận và Huệ mạng thật là một loại Chân kinh thuần ðốc, ði sâu vào Tánh Mạng.
Tiến tới một tấc ðýợc một tấc, tiến lên một thýớc ðýợc một thýớc.
Tâm noi theo, sức thực hành, ðều chân thực tế.
lòng ta vô cùng hoan hỷ. Là con ðýờng tu luyện, ngày nay ðýợc rõ ràng và rất tốt ðẹp.
Hoa Dýõng Thiền sý cách nay chýa lâu, lại thýờng cùng môn ðệ trong nhóm "Quỳnh Ngọc", ngao du nõi các danh sõn thắng cảnh, nếu ngýời có duyên ắt sớm chiều cũng ðýợc gặp. Há ðâu phải hý vô cao viễn, chỉ khen ngợi mà chẳng ðýợc học sao.
Nếu ðýợc Chứng luận mà chẳng ðýợc Huệ mạng, thì sẽ có sự sai lầm ở Ðại Châu thiên. Còn nếu ðýợc Huệ mạng mà chẳng ðýợc Chứng luận, thì Tiểu Châu Thiên không rõ thấu.
Nay hai kinh hiệp ðính, Tiên Thích giúp nhau ðýợc rõ ràng, cụ thể là một viên ngọc Bích tuyệt mỹ.
Theo dõi từng lời này, ðều là lấy Mạng làm Thể, lấy Tánh làm Dụng, lấy Dýợc làm Kinh, lấy Hoả làm Vỹ.
Mạng tại nhất thời, tánh ở bình nhật. Kinh tại thân ta, vĩ tại tâm ta, Kinh vĩ hiệp thì Thân Tâm thái. Thời nhật tu tánh Mạng tồn. Chẳng mýợn ở ngýời, vì trọn nõi ta ðều ðủ, ðều bẩm thụ nõi trời. Theo dĩ mà nắm lấy cõ vận chuyển của Trời ðể làm tín phù.
Trýớc lấy phần Nhõn ðạo ðể sửa trị lấy mình. Gốc tự sanh thành, vốn vẫn chýa từng mãy lông gắng gýợng.
Vã lại tình ðời nồng thắm thì mãi mê, nên chẳng biết: Mạng quý nghịch, Tánh quý thuận, dýợc ðể bảo trì Tánh Mạng, Hỏa ðể chiến thối quần Âm.
Nếu chẳng biết Mạng lấy gì ðắc Dýợc. Nếu không biết Tánh lấy gì ðắc Hỏa.
Trong nhiều thiên có nói, ðó là Nguyên tinh, Nguyên khí, Nguyên thần, và hội hiệp ngýng tập. Cùng các thuyết: Tiền hậu thãng giáng, thâu phản, huân chýng, cần phải ðáo ðể cứu xét.
Thể Dýợc, hành Hỏa hầu, quan ðộ, cần phải xýõng minh ðến cùng tột.
Tổ sý còn vẽ hai bức ðồ hình Nhâm Ðốc lục quy, cho tu sĩ nýõng theo ðó ðể luyện thành Chõn ðõn chí bửu.
Chân kinh này sáng tợ nhý ðèn lớn. Trí tuệ chẳng cần hõn Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiên cũng có thể tâm lĩnh Thần hội.
Còn luận về phần áo lý, thì lời lời tợ nhý Chân kim rực sáng, rọi khắp bảy tầng Vãn ðạo, còn ở thýờng thiệt, thì tiết tiết ðều nêu rõ Thiên nhõn nhất lý, nhất khí.
Tham khảo thật thuần thục hai quyển kinh này, tợ nhý ðã ðọc hết sách nõi chốn Lýõng hồn phúc ðịa.
Một loại Chân kinh ðại nhất, theo ðúng với chính ðạo. Nếu ai ðýợc thấu triệt khác gì Chân hồn ngao du nõi Tây thiên Bồng ðảo.
Tám trãm Ðịa Tiên, ba ngàn Phật sống, chẳng hó trùng phùng diện kiến.
Giờ ðây chỉ cần xem ở ngýời tu luyện siêng nãng hay giải ðải mà thôi.
Các ngýõi muốn gặp phần công ðức, tốt hõn là nên phổ biến rộng rãi hai quyển kinh này, khỏi cần thêm lời phụ ngữ.

Nguyên Niên Ðạo Quang, nãm Bính Ngọ, tiết Mạnh Ðõng, ngày vọng, tỉnh Mân, Trung Chánh Thanh Sõn nhõn, Lýõng Tịnh


LỜI TỰA II

Nền Chánh ðạo ðã bị thất truyền từ lâu!
Từ khi Thế Tôn khai hóa, trí ngu ðồng ðộ, nhýng Tánh Mạng lại riêng truyền.
Về tánh thì xuyển phát, khai mê mà tiệm tu. Về Mạng thì theo linh giải mà chứng quả.
Từ Tây Thiên 28 Tổ, ðến Ðông ðộ sáu ðời, ðều dùng huệ ðãng Tâm khẩu thọ thọ. Tất cả ðều lấy Tánh ðạo và Huệ mạng kiêm tu.
Từ Lục Tổ về sau, tánh pháp thì rộng truyền, còn Huệ mạng lại trong diễn bí. Ngýời thông minh thì ðýợc tý phụ mật ngữ, rồi riêng tu mà výợt lên ngôi Tổ, nên gọi: "Giáo ngoại biệt truyền."
Ngày nay ngýời tu học, không ðắc ðýợc cái Chân chỉ của Huệ mạng, nên chỉ xuyển dýõng tánh pháp, cuối cùng Tánh cũng chẳng ðýợc Chân, lại là thức tánh, tợ nhý mụi mê che khuất, khiến bị sai ngoa, tiếp nhận sai lầm, hoặc lấy Linh giác làm Chân tánh, hoặc lấy Chánh niệm làm Chân tánh. Chạy theo sai quấy, mê mờ lẽ Chân. Mất cả Chân chỉ của Nhý Lai, nên bị manh tu hạt luyện! Thân cãn không ðuợc kiên cố, ðể thành Chân thể của Nhý Lai. Mãi bị hạ lậu, nên mắc sai lầm về chuyển kiếp, mê thất.
còn chi nói ðến ngýời tọa niệm!
Chỉ có Hoa Dýõng Thiền sý, ðýợc thông suốt về cõ tiêu tức, lại ðýợc Chân sý trao truyền Chân chỉ, hội ðồng Tiên Thích, thổ lộ Huệ mạng Chân truyền, tiết lậu minh tinh của Chân Tánh, cứu vớt mê vọng, khai thông trí huệ. Khiến cho những ngýời ngộ ðýợc lập tức thành Phật ở hiện kiếp, khỏi ðoạ tha sinh.
Còn phải tu luyện pháp nào, môn nào, bậc nào?
Phýõng pháp tu luyện này rất giản dị. Chỉ vì ngýời quá mê nên chẳng minh. Chánh lý song tu, và phân biệt Giáo týớng. Chỉ có bậc Trí huệ mới tham thấu nguồn gốc Tánh Mạng, rồi dung hội Pháp Môn và chẳng phân bỉ thử.
Tại Thích giáo, nếu có duyên gặp ðuợc bậc Chân Tiên, mà ðắc ðýợc Chân chỉ Tánh Mạng, tu thành Chân tánh mạng, tức Chân Tiên ðó là Phật.
Tại tiền, nếu có duyên gặp ðýợc Chân tãng rồi ðắc ðýợc Chân chỉ của Tánh Mạng, tu thành Chân tánh thì Chân Tãng cũng là Chân Tiên.
Tiên Thích vốn cùng một Pháp, ðại thì ðồng, tiểu thì khác, vốn thanh tinh tự nhiên.
Giác Výõng, Nhý Lai, Bồ tát là do Ngọc Ðế tự xýng. Ðại Tiên, Phật Tiên. Chứng Kim Tiên cũng do Thế Tôn tự mệnh.
Một ðýờng bằng phẳng, nào có phân biệt hà bỉ, hà thử.
Chỉ vì ta thích theo tông Chân giác, nên mới lội núi, bãng sông, ðến khấu cầu Tịnh Lâm trí thức, không còn ðiều chi thiếu sót. Cuối cùng cũng chỉ là ðề công án, là tham cứu thoại ðầu, là ðả thất, và ðàm luận tọa thiền. Trải qua vài mýõi nãm ðều thành hý thọ!
Chỉ vì không gặp ðýợc Chân sý Huệ mạng nên quên ãn, mất ngủ, niệm niệm không dừng, nên cảm ðến trời xanh.
Ðến nãm Tân Hợi. May ðýợc gặp Thiền sý. Thiền sý thấy ta tâm chí khổ thiết, mới khải Thị tâm can, quyết phá nghi vọng cho ta. Thiền sý tuy có ý muốn chỉ truyền, nhýng lại chýa lộ .
Ta nghĩ Chánh pháp này quá quan trọng, hay là ðiều cấm bí của chý Phật, chứ chẳng phải Thầy ta chẳng từ bi. Nên mới thành tâm phàn hýõng lập thệ, khẩn cầu chí thiết mới ðýợc quyết phá cãn do. Một lời của thầy ban, ta liền ngộ tồn Chân ý.
Nguyên lai cái ðạo thành Phật tác Tổ, ðều ở trong cõ ðộng tịnh thuận nghịch. Có gì khó ðâu.
Bởi thiền sý 30 nãm dý, ðã khổ chí tầm Ðạo, nay mới từ bi chép ra kinh này. Phật xýa chẳng lộ, chính nay mới lộ.Tổ xýa chýa truyền, chính nay mới truyền.
Ðem Huệ mạng, Thọ mạng, Phật Tánh, Chân Tánh, hồ lẫn nhau rồi mới nêu ra.
Là nguyện cho ngýời thành bậc Chánh giác výợt lên Phật ðịa.
Cũng chẳng muốn ðể cho ngýời ðời sau phiền nhọc.
Còn làm cho cha mẹ ngýời kia ðýợc thành tựu, công há nhỏ sao?
Nguyên Niên Càn Long nãm Tân Hợi, tháng Trùng Dýõng, am Linh Ðài, tãng Diệu Ngộ cẩn tự.

LỜI TỰA III

Ðại ðạo vốn không phải ở lời nói. Nếu dùng lời nói ðể giải thích thì bị dễ rõi vào lầm chấp .
Cho nên, ngýời hiểu ðýợc rõ ràng thì rất ít mà những ngýời lầm lẫn nói ra những lời thất tuyền thì nhiều! Há sao họ không bị lạc vào ngõ hẻm.
Cổ nhân xảo dụ nhiều danh từ khác nhau, nên hậu học tìm mãi mà chẳng thấy. Chẳng chỉ riêng một việc khó, là dòm ngó vào cửa Ðại Ðạo, lại còn ở ví dụ mà chấp danh, hay bị mất cả cãn nguyên Tánh Mạng.
Thấy tình trạng ðó mà Tâm ta ðâm lo nghĩ, mới phát Tâm lấy kinh ðể ðộ ngýời và giải thích thẳng.
Chỉ có Hoa Dýõng Thiền sý, từ thuở nhỏ ðã hiếu học, lại còn bẩm thụ ðuợc linh cãn, nuôi chí vài mýõi nãm mà lòng không dụng ðộ tha. Khổ chí chẳng hề giải ðải, mới ðuợc chân chỉ của Hồng và Xung Hý hai vị Chân nhân, mới trýớc tác ra kinh này. Thật là một phýõng tiện tốt ðể gọt sạch da lông, tồn lýu lại cốt tủy, ðem những dị danh xýa tảo trừ rửa sạch, và trực thuyết Tiểu Châu thiên, lập bàn hạ thủ công phu, phát huy những gì tiền Thánh chýa phát, khải thị những gì mà Chý tổ chýa khải. Khiến cho những ngýời khổ chí hiếu Ðạo ðýợc thãng ðýờng rồi lại nhập thất, và sau ðýợc siêu thãng lên bỉ ngạn, phục hýờn vô cực, há chẳng sung sýớng sao?
Sách này tuy xuất phát từ một ngýời trýớc tác, mà là quy tắc cho vạn thế sý giáo.
Ðọc hết quyển này, khác nào ðýợc chiếu từ Thuyền của Tiên Phật sắp chở ngýời qua bên kia bờ Giác.
Một phýõng án tu luyện ðõn giản mà vắn tắt.
Thật là ðiều hạnh phúc cho muôn ðời.
Ngýời thông suốt ðýợc quyển kinh này rồi thì có gì là chẳng hiểu, và sẽ ðýợc thốt nhiên quán thông, ðức tin từ ðây cũng sẽ ðến tột.
Ta từ thuở nhỏ rất mộ ðạo, ðã sýu tập quần thý nhýng chýa ðýợc ngộ nhập.
Ðến nãm Canh tuất mùa xuân, may gặp ðýợc Thiền sý, chỉ trao nửa lời, và trao cho ta quyển này.
Ta mở ra ðọc hết, tự nhiên Tâm mục minh thông, chẳng ngờ tay muá chân quõ, tẩm thấm vậy nhý giá tan nõi trong, ðiều lý thú tợ nhý gần miệng trao truyền.
Phần luận về công pháp của Tiểu Châu thiên, chẳng hề xen lẫn một chữ. Chân ý thì quán suốt cốt tủy của chân kinh. Lão sý còn chẳng tự lấy ðó làm phải, và sợ ngýời ðời sau nghi hoặc mà không ðýợc triệt giải, nên phải dẫn chứng chánh vãn ở trýớc ðể làm bằng. Thật là một quyển sách rất ðộc ðáo, làm sáng tỏ phần thực tế của Chân nhất.
Chẳng trừ sự sai quấy của bàng môn, thật là bậc công thần của Tiên Phật. Có ai dám nói: Chẳng phải.
Trýớc có 5 ðiều khái nhiên xuất phát từ trực thuyết. Sau vài ðiều cũng trong xác thực.
Thiên Phong Hỏa Kinh, là tập họp những bài chánh vãn dụng công theo thứ tự của chý Thánh, rồi mới cýớc chú.
Thiên Tổng Thuyết tiết lộ hết Thiên cõ, khiến cho ngýời hạ thủ ðiều dýợc, và công phu Thể thủ chẳng bị lỗi lầm vì trì tảo.
Lý ðảnh, Hỏa hầu cũng ðều phát minh, và vẽ ðồ hình nói về khiếu diệu hạ thủ, và thể thủ huân chýng cũng ở trong ðó.
Thuyết cố mạng, mục ðích khải thị cho ngýời: Tánh mạng chẳng ðýợc giây phút lìa.
Bài Phú ca, làm sáng tỏ chỗ sở ðắc của Chân ý, và Ðại Tiểu Châu Thiên cũng có ở trong ðó.
Tâm dụng có vẻ khó khãn, là tiết lộ với thái ðộ bình thản và không là chí muốn cho các Tu sĩ ðồng thành Chánh giác.
Sách này chẳng những có ích lợi ðuõng thời, mà cả giúp cho vạn thế hậu học, nếu có duyên gặp ðýợc, khác nào mây tan lộ rõ Thái Dýõng, há chẳng hân hoan và tán thýởng sao?
Ta lấy làm xấu hỗ vì tài nãng ví nhý dùng ống quảng dịm Trời, chỉ mong ðẹp lòng các chý sĩ, ðạt thành chí nguyện chứng công.
Vì lẽ ðĩ nên viết ra bài tựa này.

Thời Càn Long, nãm Canh Tuất Hồng Ðô hậu học Võ hà Ðạo nhân Cao Song Cảnh cẩn tự.

NGHĨA LỆ

Ðinh Tuất Sõn Nhõn tham ðỉnh.

Trong những ngýời Trùng Sang Chứng luận, có ðề nghị tu chỉnh tự, ðể lại cho ðời sau. Nhýng Ðõn kinh chẳng phải dựa vào vãn tự mà thấy Chân ý của Thánh nhân, hà tất phải thêm búa rìu. Vã lại mỗi khi ðến chỗ ngật khẩn, thì cổ Thánh nói ði nói lại ba bốn lần.
Còn trùng ngõn, phục cú, có chỗ nào chýa ðýợc xýõng minh chính là ðể chờ hậu học theo ðó mà ngộ nhập, hà tất phải biến dịch nguyên vãn, ðể làm thức ãn khai khẩu cho ngýời, khiến cho ðợc giả bồi hồi quá khứ.
Nếu muốn ra công tao nhã vãn chýõng thì ðýõng thời chý môn "Quỳnh ngọc", danh liệt thông Nho, chẳng khó nhuận sắc.
Nay quyển này ðều chiếu theo cựu bản, tuy có chỗ bị lầm lẫn nhýng vẫn ðể y, không hề canh cải.
Chứng luận một quyển, là bí quyết tồn Chân. Bình nhật nếu ðã hạ thủ Luyện tâm, tức nên ðiều Dýợc. Tình cờ nếu ðýợc gặp thời chí, cũng chýa nên vội hành công theo Tứ tự quyết, mà chỉ: Ngýng Thần nhập Khí huyệt, tức tức qui cãn.
Lúc nầy không ðảnh khí, không Hỏa hầu, dýợc vật có trong ðó. Trong tám chữ, nếu ðiều hành ðã lâu thì Thần minh thanh tráng, mới có thể hành công theo Tứ tự quyết (Hấp, Ðễ, Tốt, Bế), rồi lần lần vận tam bách thãng giáng Diệu Châu. Nhý ðã ðýợc Nguyên quan hiện nõi Ðảnh khí thì tự thấy rõ Chính Tý thời lai, trong ngồi phù ứng. Lúc bấy giờ mới có thể nói Dýợc, nói Hỏa nói Ðảnh.
Chỗ ðã bị hý hao, thì có công phu Trúc cõ.
Trong quyển nầy ðã phân tách từng ðệ từng thiên là chủ trýõng hoằng dýõng quảng duyệt. Chỉ vì sợ Tu Sĩ lãng xao nên phải nêu lên.
Phàm tạo Ðõn, dýỡng Xá lợi, phải nên tuân theo thứ ðệ cong phu, chớ nên phân biệt rời rạc.
Từ xýa ðến nay, về Lý về Pháp của kinh thý, ðều bao gồm giải thích, ðầu cuối lãn xãn phiền phức, danh mục thảy ðều khác lạ. Chánh vãn và thí dụ thì cặp nhau mà giải thích, nên khó phân thứ ðệ, hóa nên mờ mắt. Do ðó nên các Hiền sĩ ngày xýa có lời than: “Chẳng biết theo chổ nào mà hạ thủ!”
Có ngýời thõng minh nhạy bén, thì výợt ra ngồi quy củ chuẩn thằng, nên có cái lo tẩu lậu. Là do cái lỗi chẳng tuân theo thứ ðệ.
Ta ðã từng quán tập chân kinh, chia ra mýời tiết, kết thành một khối, nếu rành cýõng lĩnh, chép ðủ tỏa vị, khẩu quyết theo từng tiết, kết thành guồng máy, tên gọi: Nhập thất. Lại chia từng khoản hành công, tuần tự tiệm tiến, chẳng hề lấn býớc.
Huệ mạng một quyển, từ xýa ðến nay ít truyền, nay lại phổ biến cộng ðồng, tức là thiêu mất bến Trời.
Nếu Tu sĩ nào dụng công nghiêm túc, nhất ðịnh sẽ có chứng nghiệm, vì có Long Thần hộ.
Có ðýợc quyển kinh này là do hai nhà Tãng là Vân Du và Ngộ Minh, nãm xýa thýờng ðến tỉnh Mân Ðoan tọa bảy ngày ðêm chẳng ãn, chẳng ngủ. Rồi một ngày kia bỏ cả hành trang mà ra ði. Výõng Tử ðến kịp và xin ðýợc quyển kinh này, ðýợc Thích Tử và các ðồng môn quý trọng, vì thấy rất bổ ích cho công phu Thiền Ðịnh, nên chẳng sợ khiển trách, cứ theo lẽ công bình mà phát tâm quản bá.
Ngày nay Thích giáo gần nhý quên mất hạt giống Bồ ðề cuả Nhý Lai ðã lâu. Còn ðạo Huệ mạng lại ít Sý Thầy nói ðến.
Sở dĩ mệnh danh hai chữ này, mục ðích chính là ðể ðánh thức ngýời tu học.
Nếu ðýợc kinh này mà ðọc, khác nào trong ðêm tối gặp ðýợc Thần ðãng. Có ðýợc kinh này phải nên trân trọng.
Thù ðồ mà ðồng nguyên. Tam giáo chung một nguồn. Tam nguyên cùng một cội. Nam Bắc sao chia hai nẽo?
Có duyên sẽ ðýợc gặp, nhập thất ắt có ngày.
Tất cả ðều chỉ cầu, một Tiên Thiên Chân khí, cùng một biển Càn Kim, cùng chủ trýõng khuếch sung Tánh Mạng song tu. Nội ngoại nhất quán chủ yếu là ðến chỗ cùng tột mà thõi.
Huệ mạng thâu quang hóa khí, nếu chẳng phải Kim dịch thì lấy vật gì?
Cho ðến Chứng Luận, khác gì túy trúc Huỳnh hoa, lập tức nội tiếp chýa hề buông bỏ.
Thanh tịnh vun bồi, không hề chống ðối.
Muốn học ðạo, phải học Chân ðạo, Chân ðạo nếu bất thành cũng nên ðýợc ngýời có nhân phẩm cao thýợng, và có thể trýờng sinh bất lão.
Còn học giả ðạo, chẳng những ðýợc hồi ðầu theo nẽo dại, mà cuối cùng có thể mất ði kiếp làm ngýời.
Nếu quyết tâm theo học Chân ðạo, tự nhiên biết Tánh biết Mạng, ðắc Dýợc ðắc Hỏa. Gặp cõ duyên có thể kết Ðõn thành Xá lợi.
Còn học giả ðạo dù cho biết Tánh biết Mạng, ðắc Dýợc ðắc Hỏa, cuối cùng cũng chẳng thành công.
Vô niệm hay khắc chế niệm ðều tại nhất Tâm.
Công phu chính yếu của Nho bao gồm Tam giáo, Thánh nhân lâm phàm chẳng ðổi lời ta.
Cho nên công phu học vấn về: Siêu phàm nhập Thánh là: "Ðệ nhất yếu khắc kỷ khử tự, tiêm hào vụ tận. Sở vi tổn chí hựu tổn, nhất chí ý võ, thân vị Thuần dýõng, tâm dĩ Thuần dýõng. Thân chõn vị phản thiên chân dĩ phản. Tại Dục võ dục, cý trần xuất trần. Xứ xứ bồi Thổ sanh kim.
Thời thời thiên Diên ích Hống, tự nhiên Chân sý ám trung ðiểm ðầu, nhi nhất ðán hốt nhiên quán thông."
Huống chi nõi kinh này, chỉ bày ðã rõ hạ thủ cũng dễ, dầu không Tài, Lữ, Ðịa, một mình cũng áo thể tu luyện ðýợc. Tạm mýợn của Hậu Thiên ðể sống, mà chờ nãm tháng.
Giữ ðýợc chiếc thuyền lại, cuối cùng cũng ðýợc výợt qua bể khổ.
Ðýợc kinh này khác gì ðýợc nýớc Cực lạc hiện ở thân ta, trong gối có bí quyết.
Chỗ hkó khãn là việc: khắc kỷ khử tý.
Sự tôn trọng nền Chánh ðạo là do ðó.
Bảo phát tử nói: Muốn luyện ðõn trýớc phải học Y. thật là phýõng tiện thiện dụ.
Muốn luyện ðõn trýớc phải học về quan, về kinh, về mạch khắp cả Châu thân. Cùng hiểu rõ về ðạo lộ âm dýõng khí huyết. Cùng diệu phýõng của tạo hóa thõng nhau.
Trong sách Nội kinh có vẽ týợng bằng ðồng, ðều ðầy ðủ kinh huyệt.
Pháp luyện Ðõn cũng khõng có bí quyết nào khác. Cũng chỉ có ba: Dýợc vật, Hỏa hầu, Ðảnh khí mà thôi.
Ba vật ấy có Chân có Giả, có Hậu có Tiên.
Thân ngýời ðã bị phá, thì phải tá giả phục Chân, cầu Tiên nõi Hậu.
Thiên kinh vạn luận cũng chỉ phân tách thật rõ ràng ba việc này.
Ðộc giả giữ ðiều ðó ðể cầu nõi trong ba việc, phân biệt Chân nghĩa của Tiên Thiên và Hậu Thiên, cùng giả tá Chân nguyên, thì mi mục cýõng lĩnh tự thanh.
Tu sĩ tu luyện qúy trọng ở vong ngôn, thủ nhất. Nhất ðây chẳng phải là hý danh, mà là thái cực, là nguyên quan, thánh nhân ẩn ngôn nói: Huyền quan nhất khiếu. Gọi là Bảo Nhất. Tu hành Huỳnh ðình ở trong Nhất.
Ngýời tráng kiện thì Nhất này linh. Ngýời ðã suy nhýợc thì Nhất này bị che khuất.
Diên Hống ðều theo Nhất này mà sinh.
Thủ cực tịnh nõi hý võ, thì một khí Tiên Thiên từ hý vô lại.
Mýợn cái hình của Nhất mà luyện cái khí của Nhất. Ðắc ðýợc Nhất thì vạn sự cũng hồn tất. Ðều ám chỉ Nhất là Nguyên quan.
Nguyên quan khẩu quyết trọn ðủ ở ðây.
Ngýời chẳng ôm ấp lấy một niệm này, ðể thủ tụ thành Chân là: Dĩ Hỏa luyện dýợc nhi kết Ðõn, dĩ Thần ngự Khí nhi thành Ðạo.
Cho nên Phong hỏa kinh gọi ðạo này chí giản, chí dị. Chỉ là giáng Chân hỏa ðầu nhập vào khí huyệt.
Thần khí giao hiệp ðýợc lâu, tức siêu nhiên xuất hiện. Nhất này nếu gặp lúc dýõng sinh thì khai, dýõng tán thì liễm.
Thiên cõ mới bắt ðầu phát ðộng, dùng Chân ý trụ tại Tổ khiếu mà chờ. Chờ cho nguyên tinh triền ðộng thì dẫn về bản sở.
Trong thời chánh khai, là lúc Cửu hầu dụng công, là thời Nhị hầu thể Mâu ni.
Ðiều dýợc Ðồ thuyết nói: Khí phát tắc thành khiếu. Cõ tức (dừng) tắc diếu man (mờ mịt).
Lại còn nói: Hỏa tức là dýợc, dýợc tức là hỏa, Dýợc hỏa tức ðảnh khí. Theo chi Lýu là ba, theo nguồn cội chỉ có một.
Một là khiếu này, là Yển nguyệt Lý, là mậu kỷ Thổ, là Tây Nam hýõng. Tên tuy khác nhau, nhýng cũng chỉ là Cốc thần. Cốc thần là cãn cội của trời ðất, là Tổ của hô hấp vãng lai, là tông của âm dýõng hạp tịch, là ðại quan khiếu tu luyện.
Muốn thấy ðýợc khiếu này ngày ngày phải dụng công ðến cực tịnh. Chỉ có Dýợc Lý Hỏa hầu mới là Chân ðích. Cýớp lấy Thiên cõ ðoạt quyền Tạo hóa, hóa sinh các cõi Trời, khai minh ba cõi Ta bà, ðều tại chỗ này. Vô hạn Tiên giới ðều theo từng cấp này mà lên.
Các sách nói về nguyên quan có trên trãm tên, ðều chẳng khiến trực chỉ nguyên ủy.
Nay ðýợc lời Thầy dạy rõ, nên chép thẳng ra ðây, ðể ðýợc dung thông Chân ý với Hoa dýõng Thiền sý, và thuyết Ðiều dýợc, cùng tham chiếu ý chỉ vong ngôn thủ Nhất.
Chỗ rất thích nghi của chánh Ðạo là trýớc phải lo luyện kỷ.
Luyện kỷ trong Chứng luận ðã nêu hết những gì trọng yếu phải luyện. Còn những chỗ khác thì xýõng thuyết Chân ngôn rất rõ.
Chỗ tối nghi là cõ tiếp mạng cấp thiết.
Chứng luận, Huệ mạng mở ðầu ðã nói rõ về thủ thuật. Còn bao nhiêu nữa thì khác gì kim tứ bửu lục (hộp vàng chứa vật báu), nhý Tu thân chánh ấn cũng nói thẳng về chỗ Chân, nhý Tiếp mạng thể dýợc thì không quên lão nói.
Tóm lại, ðều lấy hào cửu Nhị làm ðích, gọi là nhị hầu thể Mâu ni.
Có dýợc thì phải quy nõi về ðảnh. Ðảnh này ở dýới rún một tấc hai phân. Lấy ngýời bằng ðồng của y khoa ðặt nằm ngữa mà ðo. Ðó là thuyết “Tiền thất hậu tam”.
Thýớc ðo thì dùng ngón tay giữa của ngýời cần ðo. Lóng giữa của ngón giữa là một tấc.
Vị trí của khiếu này cao hay thấp là tùy theo ngýời lớn hay bé.
Thuốc ðã ðýa vào ðảnh phải lo phong cố.
Phong là ðóng kín các cửa khẩu. Cố là làm cho thận bền cố, tức vô lậu.
Bên ngoại ðạo dùng loại muối bùn bít kín cái hỏa tiêu tức là Châu thiên, cần phải theo ðúng quy tắc tỉ mỉ, ðể vận hành theo cõ tuần hýờn tấn thối.
Huệ mạng có Lục hầu ðồ, ðã tiết tân Thiên cõ.
Còn các phần khác thì Ngũ Thủ Dýõng Chân Nhân ðã chú thích nõi hai kinh. Lời lẽ biện biệt tinh vi, chúng ta cần nên trịnh trọng. Còn về cõ diệu dụng nhuận dý ở Mộc dục, cũng là trọng yếu.
Nhâm ðốc hai mạch là ðýờng ðạo lộ của Thủy Hỏa. Chỉ có Hoa Dýõng Thiền Sý mới xuyển nổi về Chân ðồ này.
Theo trong kinh thì chýa giải phẩu minh bạch.
Nhýng cũng chẳng nên chấp ðồ mà hại y, mới là ðắt quyết. Ðó là quan tiết khả thủ khẩn yếu.
Còn nhý pháp Quá quan mới là rất bí mật.
Các pháp khác thì phẩm Tiên Phật hiệp tông có nói rõ. Nếu lúc bình nhật giữ Tâm cho thật thuần nhiên, thì lúc lâm thời ít có việc ðáng tiếc.
Lúc này trãm khiếu trong thân ðều mở, ðau ðớn tợ nhý dao cắt, ngàn âm tà ðều chấn ðộng tạo thành âm thanh. Cõ thể tợ nhý rối loạn. Tâm khả chủ trì trong lúc hổn ðộn. Tợ nhý muốn chết.
Nguyên châu ðã có nõi trong, nên phải làm thế nào ðể Châu khỏi thuận ðýờng mà ra.
Tất phải công phu và lập công ðức cho lýỡng tồn.
Cả sáng ðến tối, Thần linh hằng hổ trợ mới có thể khởi hành Thất nhật ðại công.
Chỉ riêng hỏa hầu cổ nhân có nhiều phân biệt.
Còn bình nhật hỏa hầu là lúc dùng cái Lửa mà không lửa, dùng cái Hầu mà không Hầu, ít có nói ðến, tu sĩ cần phải phân ðịnh.
Trong thân ta có Tí Ngọ, Mẹo, Dậu là ngôi tứ chánh. Trong ðó có hai giờ Mộc dục tức là tắm rửa rất chí yếu. Lấy Diên Hống, Vãn,Võ làm bí cõ.
Qua ðýợc bảy ngày này mới quét sạch ðýợc quần âm. Chỉ có một cuộc chiến mà thiên hạ thái bình, chứng phẩm, Nhõn Tiên. Cĩ thể gọi là ðã thành Chánh quả.
Chánh Thanh Sõn nhõn lại ghi tựa.

DaoKy
14-04-2005, 02:28 AM
KIM TIÊN CHỨNG LUẬN

Mục lục
~ o ~
1.Tựa luyện ðõn.
2.Chánh ðạo thiển thuyết
3.Luyện kỷ trực luận.
4.Tiểu châu Thiên Dýợc vật trực luận.
5.Tiểu châu Thiên ðảnh khí trực luận.
6.Phong hỏa kinh.
7.Hiệu nghiệm thuyết.
8.Tổng thuyết.
9.Ðồ thức.
10. Ðồ thuyết.
11.Cố mạng thuyết.
12. Phong hỏa luyện tinh phú.
13. Thiền cõ phú.
14. Diệu quyết ca.
15. Luận Ðạo ðức xung hịa.
16.Hỏa hầu thứ tự.
17. Nhâm ðốc nhị mạch ðồ
18. Quyết nghị
19. Nguy hiểm thuyết.
20. Hậu nguy hiểm thuyết.




1- TỰA LUYỆN ÐÕN


Hoa Dýõng viết : Dục tu ðại ðạo giả lý võ biệt quyết, võ phi Thần khí nhi dĩ. Tiên tu cùng kỳ Tạo hóa, cứu kỳ thanh trýợt, tắc tinh sanh phýõng khả thám nhiếp. Thứ sát kỳ hõ hấp, minh kỳ tiết tự, tắc thần ngýng phýõng tự luyến hấp, nhiên hậu khả thi, khả thọ, nhi tinh khả hóa.
Thần là Nguyên thần trong Tâm. khí là Nguyên khí trong Thận. Lúc luyện Tinh thì khí ở trong tinh. Tinh Khí vốn là một vật. Cho nên Tào Tổ sý nói: Ðại Ðạo giản dị, chỉ có Thần với Khí mà thôi. Tu sĩ cần phải biết rành cái Ðạo Thần Khí, tức là cái Ðạo tánh Mạng âm dýõng, cho nên nói: Lý vô biệt quyết, chỉ có Thần khí mà thôi.
Tạo Hóa: Là sanh cõ trong thân ta. Ngýời do cõ này mà sanh hình. Tiên phật do cõ này mà thành Ðạo.
Tu sĩ trýớc phải hiểu cho tận cùng cõ Tạo hóa này mới có thể hạ thủ.

Thanh : Là không còn tuớng nhõn, ngã, thiên, ðịa, hồn nhiên, nguyên vẹn nhý thuở Thái hý mờ mờ hỗn ðộn. Lúc bấy giờ một dịng khí Tiên Thiên chýa phát. Ta phải hý tâm mà chờ, cho ðến lúc tinh cực thì có Nguyên khí phát ðộng. Nguyên khí này rất thanh.
Trýợc : Là do tu sĩ khởi tâm tồn týởng tý Lự, kiến vãn tri giác, mà sau ðĩ khí vi dýõng mới ðộng và sanh ra trýợc khí.
Hõ hấp : Là nĩi về cõ vận chuyển của Chân khí phát xuất từ nõi của Tốn. Dụng công thì có thứ tự chuyển biến, chẳng phải chỉ có một. Nhý lúc tinh sanh thì phải dùng cõ hô hấp ðể nhiếp tinh. Lúc Dýợc sinh thì dùng hô hấp ðể thể dýợc. Lúc dýợc ðã quy Lý thì dùng hô hấp ðể phong cố, lúc khởi hỏa thì dùng hô hấp ðể khởi. Lúc Mộc dục thì dùng hô hấp ðể tắm rửa. Cho nên gọi: Tiết tự.
Thần ðã ngýng nhập khí huyệt, thì Thần tự nhiên Luyến Khí.
Thi: Là khí Hậu Thiên, còn gọi là mẫu khí.
Thọ: Là khí Tiên Thiên, còn gọi là khí con.
Tử khí ðã thọ mẫu khí, thì Tinh tự hóa Khí.
Nếu chẳng minh cõ tiêu tức của Mẫu khí, thì tử khí tán phát ra ngoại cảnh, nên tinh khõng thể nào hóa ra Khí ðýợc.
"Dự kiến thế nhân diệt tri Dýõng sinh, nhi luyện tinh bất trụ, Kim Ðõn bất thành giả, giai nhân bất tri kỳ tự nhiên nhi nhiên, dĩ hỗn thể hỗn luyện chi quá dả. Thả quan cổ thõ chi sở tát dụ danh Lý Ðảnh, ðạo lộ, tắc nhõn bị Lý ðảnh, ðạo lộ chi sở hoặc. Du danh Diên Hống Dýợc vật, tắc nhõn nhõn bị diên Hống Dýợc vật chi sở ngộ. Cố quả ðạo dũ hiển, Nhi Chân ðạo dũ hối! Thế nhõn dụ nhi hoặc nhõn cuống nhõn giả chúng hỉ.
Do thử quan chi: Trí giả ðắc Sý nhi minh, ngu giả bị sý nhi ngộ, giai nhân bất ngõ quần thý giản dị chi diệu, nhi chánh thất Chánh Lý."
Ta thấy ngýời ðời học Ðạo cũng biết dýõng sinh, nhýng luyện Tinh cũng khõng trụ, cũng bị tẩu lậu mãi, nhý vậy làm sao thành Kim ðõn ðýợc. Lý do là chẳng biết quy luật tự nhiên nhý nhiên của Thiền công, nên Thể dýợc, Luyện dýợc lộn xộn.
Dýợc sản thì có thời. Phong cố thì có Lý, Châu Thiên có ðộ số. Nhýng ðều chẳng biết nên dụng công lộn xộn, Thể chẳng ra Thể, luyện không ra luyện. Chẳng biết lúc nào Dýợc sản. Chẳng biết Lý ở chỗ nào ðể Phong. Chẳng biết Châu Thiên ðộ số là bao nhiêu. Chẳng biết lúc nào dụng vãn, lúc nào dụng Võ, lúc nào Vãn Võ kiêm dụng v.v…
Cổ thý có ví dụ Lý ðảnh, là cõ sở luyện tinh hóa khí. Phýõng sĩ mýợn ðó mà nói: Nữ ðảnh mà nói Thiêu luyện. Sõ học vì chýa ðắc Chân truyền nên tin theo mà bị lầm lẫn!. Tu sĩ, dù cho cổ Chân chí cũng không tránh ðýợc sự ngộ nhận.
Ðạo lộ: Là hai ðýờng mạch âm dýõng. Nhâm Ðốc trong ngýời, dùng ðể Thể nội dýợc, ðể ðiều hiệp âm dýõng, ðể luyện trýờng sinh, ðể vận Châu Thiên, ðể nối liền hai mạch. Chủ yếu là khai thông con ðýờng này ðể dẫn Xá lợi quá quan.
Dẫn Khí:

Ðốc mạch khởi hành vào giờ Tí, bắt ðầu từ huyệt Ngân xỉ lên Sõn cãn, lên Thiên môn, ra ngọc Chẩm, xuống Giáp tích, rồi xuống Trýờng cýờng là chấm dứt cõ hiển hành của ðốc mạch, theo ðýờng rỗng của cột sống. Ðến ðây thì nó vi hành vào con ðýờng bên trong.
Nhâm mạch khởi hành vào giờ Ngọ, bắt ðầu từ huyệt Hội âm lên quang nguyên, lên Thập Nhị trùng lầu, lên Thừa týõng, ðến Ngân xỉ, rồi trở xuống theo ðýờng trong mà về ngôi cũ.


Chúng ta nên biết: Hai mạch này vận hành nhý trên ðã nói, là vận hành theo cõ vận chuyển của âm dýõng Hậu Thiên nên con ngýời có sanh tử.
Hai mạch vận hành nhý trên là tà cõ, nên Thủy Hỏa ðều tà. Do ðó Càn cung bị tà thủy ô nhiễm gây cho trí tuệ con ngýời bị mất dần dần!.
Còn Tà hỏa thì xuống thiêu ðốt tạng thận, làm cho tuổi thọ con ngýời dần dần giảm thiểu!
Thánh nhân vì thýõng ngýời mới dạy: Phải nghịch chuyển Hà xa, là dạy ta con ðýờng vận Châu Thiên, mục ðích cao tột là ðạt chứng chánh quả trýờng sinh bất tử.
Nghịch chuyển hà xa còn gọi là cõ vận chuyển của Trung Thiên giáo phát.
Thể thủ do cõ nghịch chuyển mà vận.
Châu thiên do cõ nghịch hành mà chuyển.
Suốt thõng ðýợc lý này, pháp này, thì Kim ðõn sẽ thành.
Cổ nhân luyện ðõn, lấy Diên Hống thí dụ cho thần khí, lấy ðýợc vật ví dụ cho Nguyên tinh.
Cũng do ví dụ ðó mà có nhiều ngýời bị ngộ nhận!.
Ngýời mê nghe nói Diên hống bèn lấy phàm diên phàm hống thiêu luyện làm dýợc vật, rồi cho ngýời uống, gọi ðó là thuốc trýờng sinh, cầu phú quý!
Có ngýời bị phá gia, bị tán mạng, thật tội nghiệp!
Các kinh sách tuy có nhiều danh từ thí dụ, nhýng xét về cội nguồn cũng chỉ có; tâm với Thận, Thần và khí mà thôi.
Những kẻ có tà tâm mới lấy dụ ðể làm dụ, gọi là mê dẫn mê. Sở dĩ trong thế giới hiện nay có vô số ngýời mê, nên mới có nhiều tà sý nổi lên dựng thành tà ðạo. Tà ðạo vốn có nhiều pháp thuật khá hấp dẫn, khá lôi cuốn ðuợc số ðông ngýời theo.
Tà ðạo càng thịnh hành bao nhiêu thì Thánh ðạo càng bị mờ tối bấy nhiêu.
Tà ðạo hay ngoại ðạo, chẳng phải chuyên chú mê hoặc Lừa ðời, mà còn cái lầm ở chấp thiên.
Thí dụ: nhý chuyên tánh chuyên dýõng, mà bỏ mạng bỏ âm. Cõ dýõng hay cõ âm ðều bất thành vạn vật.
Vậy thì Thánh ðạo há ðýợc thành sao?.
Con ngýời sống ở thế giới này quan trọng hõn hết là giác ngộ hay không giác ngộ.
Giác ngộ là ngýời trí. Chẳng giác ngộ là kẻ ngu.
Chủ yếu của trí là biết ðýợc lẽ sõng Chân lý của con ngýời.Thí dụ nhý khi mình lỡ phạm phải ðiều lầm lỗi, thì biết và lập tức ðổi liền. Phât, Thánh, Thần, Tiên cũng theo phýõng pháp này.
Có một chủ ðích rất quan trọng của ðời ngýời là phải học, phải tu. Tu học thì phải có Chân sý.
Ngýời gặp ðýợc Chân sý chẳng chỉ là có Trí, mà phải có Túc duyên, có Thiện cãn, có Chí lớn.
Chỉ có bậc Chân sý mới hýớng dẩn cho ta hiểu rành Chánh lý, Chánh pháp và Chánh ðạo, mới giúp ta chánh quả trýờng sinh bất tử.
Còn những ngýời, cũng chẳng chỉ là ngu, mà chẳng có Túc duyên, chẳng có Thiên cãn, chẳng có chí lớn, nên phải lầm gặp tà sý! Lại còn một nguyên nhân là chẳng hiểu chỗ chí diệu giản dị của quần thý, nên không tầm ra Chánh lý. Có lời nói: Có ngýời ðọc hết nãm xe sách, mà còn có một chữ nhất không hiểu ðýợc hết Chân ý.
"-Cố dý dục chánh nhi trực luận. Phú Thiên ðạo giả nguyên hồ Tiên thiên chi Thần Khí. Luyện Tinh giả tắc Khí tại hồ kỳ trung. Luyện hình giả tắc Thần tại hồ kỳ nội. Luyện thời tất minh kỳ Hỏa. Dụng Hỏa tất kiêm kỳ phong. Tồn hồ kỳ Thành, nhập hồ kỳ Khiếu, hiệp hồ Tự nhiên. Nhýợc nãng nhý thử, y thời nhi luyện, tắc Dýợc vật tự nhiên sanh hỉ. Sanh cảnh du kỳ thục lộ hữu chi. Nhýợc bất khởi hỏa quy Lý, nan miễn tẩu thất chi hoạn dã. Nhiên Dýợc vật ký qui Lý, hựu ðýõng tốc khởi Hỏa bứt hành kỳ Châu Thiên. Thoảng bất minh kỳ Hỏa hầu chi tinh vi, tuy hữu Dýợc nhi Dýợc bất nãng thành Ðõn. Bất tri Thái thýợc chi Tiều tức. Bất minh thãng giáng chi pháp ðộ.
Bất thức Mộc dục chi hầu. Bất hiểu quy Cãn chi sở. Nhý thử không luyện, hà ðắc thành kỳ ðạo xả."

Thần là nguyên Thần, Khí là nguyên Khí.
Tiên thiên: Là thời Vô cực, thời Hồng mông vị phán, thái cực chýa chia. Tức là trýớc cõ hổn loạn trời ðất.
Nguyên thần và Nguyên khí là hai thành phần thuộc lãnh vực, thuộc tinh thần của Tiên Thiên.
Tiên Thiên trong lãnh vực Thần khí, cụ thể Thần là Chân ý, Khí là Chân dýợc.
Chân ý là kết quả của Cùng lý. Chân dýợc là kết quả của công phu Ðiều dýợc.
Nếu chýa ðạt ðýợc kết quả Cùng lý thì không có Chân ý. Chân ý là vị Chân sý trong ngýời của ta.
Có ðýợc Chân sý, có ðýợc Chân dýợc, thì lo gì Chánh quả không thành.
Tinh là do khí thuận hóa. Khí là do Tinh nghịch luyện. Có ðýợc Chân tinh là do tâm cực tịnh mà Thận ðộng nên sinh ra, còn gọi là Chõn ðõn. Còn nếu Tâm và Thận ðều ðộng thì sinh ảo ðõn.
Có Tinh và có Khí, là do ở cõ thuận hóa và nghịch luyện. Tinh với khí là một. Cũng nhý nýớc và hõi nýớc vốn không hai. Nýớc bốc lên thành khí, khí ngýng tụ lại thành nýớc. Còn nýớc và Tinh thì còn lậu. Tinh và nýớc ðã tận huân hóa, thì lấy ðâu mà lậu. Thánh nhân dạy ta dùng Chân hỏa ðể huân hóa thành phần Tinh cho trọn vẹn, thì thành Sõ chứng.
Luyện hình là luyện thành phần Khí ðã hóa ra hữu hình, hay Khí này có mang phần âm. Tức là luyện phần hữu hình ðó thành vô hình, và luyện phần âm ðó trở nên dýõng và thành Thuần dýõng.
Sở dĩ thành phần Khí này hóa ra hữu hình là do Thần thuận hóa theo cõ biến hóa âm dýõng của Hậu Thiên. Thần vốn thuộc dýõng. Khí vốn thuộc âm. Trong âm có dýõng. Nhý vậy thì trong Thần cũng có Khí, trong khí cũng có Thần.
Luyện thần: là cái thời kỳ hạ thủ công phu. Thí dụ nhý thời Thể thủ có bốn thời: Là thời Thể thủ, thời huân chýn, thời Phong cố và thời vận hành.
Còn vận Châu Thiên thì có thời Hành thời Trụ, thời Khởi thời Chỉ.
Thời Châu Thiên còn chia ra Ðại châu Thiên và thời Tiểu Châu Thiên.
Thời còn có thời Tịnh chiếu, thời Mộc dục. Tóm lại mỗi một công phu trong cõ Tiền ðịnh ðều có thời. Chủ yếu là Chân thời, là thời nội bất ðộng mà ngoại ðộng.
Thời còn có Thời hýợt Tí thời cố ðịnh, và huợt tí thời bất ðịnh.
Mỗi một thời công phu có cõ dụng Hỏa khác nhau. Thí dụ nhý thời Tiểu Châu Thiên, có vãn hỏa và Võ hỏa, có Vãn Võ ðõn dụng, có Vãn hỏa kiêm dụng.
Hỏa còn có Quân hỏa, Týớng hỏa và Dân hỏa. Lại Còn có Chân hỏa, tà hỏa.
Có Chân hỏa mới huân hóa tất cả các phần âm trong ngýời hóa ra dýõng, rồi huân hóa cho thành Thuần dýõng, thì thành Ðạo, Dịch lý gọi: Càn Càn bất tức.
Thành phần Hỏa ðĩnh một vai trò trọng yếu trong công phu Thiền ðịnh, nên Tu sĩ cần phải Cùng lý ở Hỏa. Chẳng nên xem thýờng sẽ có nguy cõ.
Dùng Hỏa phải có cõ tiêu tức Tốn phong. Thí dụ nhý ngýời thợ rèn dùng hai ống bể ðể tạo ra gió, quạt thổi cho lửa bùng lên.
Công phu dùng Hỏa ở ðây phải dùng khí hõ hấp làm gió, lửa và gió bức Chân khí vận chuyển. Nhýng dùng cõ hô hấp trong công phu Thiền ðịnh, Chân ý không ðýợc nghĩ về hô hấp, nếu nghĩ ðến thì mắc Týớng hữu vi.
Công phu Thiền ðịnh phải ðặt trọn lòng Chí thành. Tu sĩ phải trọn ðời giữ ðức chí thành. Tức là trong lòng không còn một hào li hý ngụỵ, thì công phu tu luyện mới mong thành công.
Thần phải thýờng trụ nõi Tổ khiếu. Lâu ngày thì Thái cực hiện, gọi là Huyền quan xuất hiện.
Ðức Lão Tử nói: Cốc Thần bất tử. Là nói về chỗ này, chỗ nhập hồ kỳ Khiếu.
Dịch Lý cĩ nĩi: Vô cực Nhi thái cực. Là nói về Tổ khiếu Huyền quan xuất hiện nõi cung

KIM TIÊN CHỨNG LUÂN CHỨNG

Học cũng chẳng ðúng pháp ðộ của Hỏa, ðâu ðýợc thành Ðõn, cho nên phải hiểu rõ tất cả.
Thái thýợc là cõ hô hấp vãng lai. Cổ nhân thí dụ Tốn phong. Thãng giáng do ðây mà vận. Chẳng ðýợc gío này thì vận chuyển không ðúng pháp.
Tiểu Châu Thiên ðều nýõng theo Tốn Phong của Thái thýợc, ðể làm quyền bĩnh cho Kim ðõn.
Thãng giáng là cõ vận hành cho Châu Thiên có ðộ số. Thýờng thýờng ngýời tu học chẳng biết ðộ số của thãng giáng nên Ðõn không kết.
Mộc dục là cõ sanh sát của Mẹo Dậu, cho nên Ðình tức cũng là hầu Mộc dục.
Quy cãn là quy về khí huyệt, về bản vị.
Không luyện là chẳng hiểu rõ Chân quyết của Chánh ðạo. Chánh ðạo là ðạo Tánh mạng.
Không luyện là chỉ tu Tánh mà không luyện Mạng, do ðó nên có lời nói: Hiền khổ tịnh không hay ngột tọa ngoan không. Tu cĩ tu cũng vô ích.
Ðại phàm lâm cõ chi thời tất tu sýớng minh kỳ Thần, mãnh dũng kỳ chí, lập ðinh Thiên tâm chi chủ tể, bồi hồi bức tấu chi vận chuyển, nội cổ Thác thýợc chi tiêu tức, ngoại y ðẩu bỉnh chi tuần hồn. Nhý thử Thần Khí týõng y nhi hành, týõng y nhi trụ, Tắc Châu Thiên chi tạo hĩa võ bất nghi.

Thời: Càn Long Canh Tuất xuân, Truyền Lô Liễu Hoa Dýõng Tự, ý Quán thành chi, Khiết Výõng cổ miếu trung.
Lâm cõ chi thời: Là ðến lúc hạ thủ cõng phu, nhý Thể thủ, huân chýng… Tối kỵ hôn mê tán loạn.
Lúc lâm thời hạ thủ công phu, tinh thần phải tinh tấn và dũng mãnh. Tự mình tu, tự mình thành, không thể nýõng tha hay nhờ ngýời khác tu giùm. Lập tâm kiên cố nhý kim cýõng mới výợt qua 81 cõ khảo thí.

Thiên tâm là Trung huỳnh, ở chính trung của trời ðất. Còn một tên nữa là Thiên can, là ðẩu bỉnh. Tại nõi trời là Thiên tâm, ở nõi ngýời là Chân ý. Trung can nếu thất Chân ý, cũng nhý thân bị mất quân.

Bức tấu: Là Chân ý bồi hồi vãng lai, tợ nhý trục xe chuyển vận. Lão Tử gọi: Tam thập lục, cọng nhất cốc.
Thác thýợc: Là thí dụ cõ hô hấp, tợ nhý hai ống bể của thợ rèn. Trong cõ thác thýợc có cõ vi vi hô hấp, gọi là Tiêu tức. Châu Thiên Hỏa hầu ðều nuõng theo Chân tức, lấy hô hấp

THÍCH NGHĨA CHÍNH VÃN

Tu theo Ðại ðạo, nhớ một bí quyết: Chỉ có Thần Khí mà thôi.
Trýớc phải hiểu về cõ tạo hóa và biết có ðục có trong, thì Tinh sanh mới có thể hạ công Thể thủ.
Tiếp ðến phải minh về cõ hô hấp, lại phải suốt thông ở tiết tự công phu, thì Thần ngýng Khí mới tự luyến hấp.
Sau ðó hai khí Tiên Thiên và Hậu Thiên phải khế hợp, thì tinh mới hóa thành Khí.
Ta thấy ngýời ðời cũng biết dýõng sinh, nhýng luyện Tinh mà Tinh chẳng trụ, Kim ðõn chẳng thành, ðều do chẳng biết quy luật Tự nhiên phải nhý vậy. Cũng ðều do cái lỗi Thể lầm Luyện lộn!
Còn về cổ thý, vốn ðã tạo ra nhiều tên thí dụ, nhý Lý ðảnh, nhý Ðạo lộ, rồi có kẻ mýợn Lý ðảnh, ðạo lộ mà mê hoặc ngýời. Thí dụ Hống, Diên, Dýợc vật, cũng có kẻ mýợn ðó mà phĩnh phờ ngýời.
Cho nên hễ giả ðạo càng sáng, thì Chân ðạo càng tối.
Ngýời ðời mýợn thí dụ mà mê hoặc ngýời, lôi cuốn kẻ mê ðể trục lợi ðồ danh, kể ra cũng vô số!
Theo ðó mà quán xét: Bậc Trí thì ðýợc gặp, Chân sý thì hiểu rành Chánh ðạo.
Còn kẻ mê si, phải gặp tà sý, mà bị lỗi lầm. Ðều do chẳng hiểu ðýợc phần dạ lý của quần thý giản dị mà phải mất ði phần Chánh lý.
Cho nên chính ta muốn nói thẳng lên, gọi là Trực luận.
Tiên ðạo nguyên cõ là Tiên Thiên Thần Khí. Lúc luyện Tinh thì khí ở trong Tinh. Lúc luyện hình Khí thì Thần ở trong hình khí.
Lúc luyện phải rành về Hỏa, dùng Hỏa phải dùng lấy Gió.
Chủ yếu là phải bảo tồn ðức Chí thành, mới có thể quy nhập về Tổ khiếu, và khế hạp với luật Tự nhiên.
Nếu ðýợc nhý vậy, rồi nýõng theo thời mà luyện thì Chân dýợc tự nhiên phát sinh.
Chân dýợc ðã sinh, Tu sĩ phải nhớ nó có con ðýờng thực lộ. Nếu chẳng khởi Chân hỏa mà ðýa nó về Lý, thì khởi khỏi có cái lo tẩu thất.
Lúc Chân dýợc ðã quy Lý, phải nên gấp khởi Chân hỏa, mà bức hành Châu Thiên. Thoảng nhý chẳng minh tận tinh vi của Hỏa hầu, tuy có Chân dýợc cũng chẳng tận tinh vi của Hỏa hầu, tuy có Chân dýợc cũng chẳng thành Kim ðõn. Chẳng biết cõ Thác Thýợc và Tiêu tức Chẳng minh pháp ðộ thãng giáng! Chẳng biết rành hầu Mộc dục! Chẳng hiểu chổ sở tại ðể quy cãn.
Nếu nhý vậy thì phải bị không luyện, làm sao thành ðạo ðýợc.
Ðại phàm lúc lâm cõ, tất nên thõ sýớng ở Thần, dũng mãnh ở Chí. Lập ðịnh Chân ý ( Thiên Tâm) làm chủ tể.
Luận hành cõ vận chuyển nhý trục xe. Trong thì cổ vũ cõ Tiêu tức của Thái Thýợc. Ngồi thì nýõng theo chuổi Sao mà tuần hồn. Ðýợc nhý vậy thì Thần khí nýõng nhau mà hành, nýõng nhau mà trụ, làm sao cõ Tạo hóa chẳng ðýợc khế nghi./.

DaoKy
14-04-2005, 02:29 AM
CHÁNH ÐẠO THIỂN THUYẾT
Tận Ngôn Tiểu Châu Thiên

Hoa Dýõng viết : Tiên ðạo luyện Nguyên tinh vi ðõn. Phục thực tắc xuất thần hiển hóa, thế gian vô bất hỉ nhi nguyện cầu.
Nại hà Thiên cõ bí mật, học giả vị tất cùng kỳ cãn nguyên, cố ða tại trung ðồ nhi phế. Sở dỉ dý kim thiển thuyết, sử học giả khái nhi chứng chi.
Phù, tinh vi vạn vật chi mỹ, tức dýỡng thân lập mạng chi chí bửu.
Nhý tinh dĩ bại giả dĩ tinh nhi bổ Tinh, bảo nhi hýờn sõ, sở vị ðắc sinh chi do.
Vị bại giả, tức dĩ thử nhi siêu thốt, dýỡng thai hĩa Thần tắc diệu dị vi, dị tu, dị thành chi quả.
Tiên cõ về hạ thủ luyện Ðõn, tức là nguyện nguyên Tinh trong Thận. Tinh sung mãn thì khí tự phát sinh, và luyện cho khí này trở thành Nguyên khí. Lại luyện cái Nguyên khí này ðể bồi bổ Chân khí Tiên thiên. Bổ cho ðến khi nào Chân khí ðýợc sung túc thì sanh cõ bất ðộng.
Sanh cõ bất ðộng còn gọi là Tru bạch hổ (Nam) hay Trãm xích long (Nữ), hay gọi Lặt dýõng quan. Là quả Sõ chứng Trýờng sinh bất tử của phẩm Nhõn Tiên
Phục thực: Còn gọi là Quá quan Phục thực. Quá quan là ði qua ba cửa Tam quan và Thiên mÔn quan, Thýợng Thýớc kiều quan, Thập nhị trùng quan.
Phục thực: Tuy nói Xá lợi về Trung ðõn ðiền, mà có pháp kiêm ðiền, nên có Hạ ðõn ðiền, chỗ cũ của Xá lợi thành, nên gọi Phục thực.
Quá quan phục thực là một pháp môn rất bí mật. Chỉ truyền cho hàng Thýợng cãn.
Sau mýời tháng hồi thai tại Trung Ðiền viên mản có tên ví dụ là Ngọc Mâu ni rồi lên Thýợng ðiền ðể luyện xuất Thần hiển hóa, biến thiên ức hóa thân. Ngýời thế gian nào lại không thích.
Thiên cõ bí mật : Là thời dýõng ðọng trong thân ta, còn gọi là Huợt Tí thời. Là cõ tâm mật của Tiên Chân Thýợng Thánh, chẳng chép ra tre lụa, nên Tu sĩ làm sao Cùng lý ðến tận cãn nguyên, cho nên nữa ðýờng phải bỏ cuộc.
Tinh là vật tối mỹ cuả con ngýời và vạn vật. Ngýời còn tinh này thì sống và là ðiều kiện phải có thể býớc lên bậc Thýợng thừa. Ngýời ðã khánh kiệt Tinh này thì xem nhý ðã chết ði một kiếp ngýời, nên muốn býớc lên bậc Thýợng thừa phải chờ kiếp sau!
Tinh này là cãn nguyên của Tánh Mạng.
Cổ nhân có nói: Lýu ðắc dýõng tinh Thần Tiên hiện thành. Há chẳng báu sao?
Các thành phần Tinh ðã hao tán, phải dùng pháp bổ tinh mà hổ trợ.
Hán Chung Ly Chân Nhân nói: Vãn niên tu trì, Tiên luận cứu hộ.
Vị bại là Chân ðồng, thì Tinh mãn Khí túc, nên khõng cần phải trúc cõ bổ Tinh, Cứ hạ thủ trong một thời gian ngắn là kết Xá lợi.Nhýợc dĩ Thần thử Tinh, do Tự nhiên chi Tạo hóa, tắc Nhõn ðạo tồn. Nhýợc dĩ Thần nghịch thử Tinh, tu Tự nhiên chi Tạo hoá, tắc Tiên ðạo thành. Cố: Tinh giả nải thị nhập tử nhập sanh chi quan tỏa. Kỳ danh tuy nhiên xýng chi viết: Tinh. Ky lý bổn tự võ hình.
Nhân tịnh trung ðộng nhi ngõn chi viết: Nguyên tinh. Ðýõng kỳ vị ðộng chi tiền, hồn nhiên khõng tịch, thị chi bất kiến, thính chi võ thinh, diệt phi Tinh dã, diệt phi vật dã.
Vô khả danh nhi danh, cố danh chi viết: Tiên Thiên. Dịch viết: Vô cực thời dã.
Tự thời tắc Thần tịch, Cõ tích, vạn vật quy cãn. Thử chánh vị chi hý cực tinh ðốc.
Tinh trung hoảng hốt, ngẫu hiểu dung hội chi diệu ý, tiện khả danh nhi hữu kỳ danh, cố danh chi viết: Ðạo. Dịch viết: Thái cực thời dã.

Ngýời ðời gặp lúc tinh sanh, chẳng biết tu luyện, là không biết cách thu nó về, nên thuận theo cõ Tạo hóa, là nam nữ giao cấu rồi sanh ngýời, nên gọi Thần thuận thử tinh.
Tu sĩ nhờ có bậc Chân sý chỉ truyền pháp Thể thủ, biết cõ Tạo hóa của tinh này, biết nghịch quy Khí huyệt, rồi dùng Chân hỏa hà huyệt cho tinh hóa thành khí, mà thốt thai ðể thành Tiên hóa Phật. Theo ðó mà ðắc, là do tinh nghịch cảnh hóa.
Tinh là cãn do phân Thánh phân phàm.
Còn tinh thì sống. Tinh kiệt thì chết, nên gọi: Quan tỏa. Tinh này trýớc khi chýa ðộng, trong ấy vốn hý vô, có tinh ðâu mà gọi tên. nhân ðýợc tích cực, dýõng theo tinh mà phát ðộng, nên gọi tên là Nguyên tinh.
Trong lúc chýa ðộng là thời Hồng mông chýa chia. Huyền môn gọi là Tiên thiên. Thích gia gọi là oai âm. Nho gia gọi là Vô cực. Tổng thuộc hý vô nên khí cũng không.
Lúc bấy giờ là thời Hồng mông vị phán vốn một khối, chẳng thấy týớng của: Thiên , Ðịa, Nhõn, Ngã, nhý mùa Ðông, vạn vật Quy cãn, dýõng khí tiềm tàng, nên gọi Cõ tức lại có khí sinh.
Hoảng hốt là trạng thái âm dýõng mới bắt ðầu biến hóa, gọi là Thiên cõ gần manh nha chứ chýa thiệt ðộng. Thiệu Khýõng Tiết Tiên Sinh nói:
Hoảng hốt âm dýõng sõ biến hóa.
Nhân õn Thiên Ðịa sa hồi triền.
Thái cực khí gần phát ðộng thì khí Nguyên dýõng (Nguyên khí) sắp phát sinh. Sau khi khí này sinh rồi thì chuyển thành trạng thái hồi truyền và có Nguyên tinh phát sinh. Thể thủ là thể cái Tinh này.
Thời Vô cực chýa có gì cả nên làm gì có danh. Trong con ngýời gọi là cung Vô cực tức là Tử cung. Khi một ðiểm dýõng tinh của cha ðiểm vào cung này gọi là Vô cực nhi Thái cực.
Còn luận về ngýời tu luyện thì Vô cực là Cốc Thần, Thái cực là Huyền quan Tổ khiếu.
Luận về vũ trụ bên ngồi, thì vô cực là cảnh ðại hý phong, còn Thái cực là Tử vi tinh.
Từ khi Thái cực hiện ra là có danh, tức Thái cực là Thái Cực Thánh Hoàng là Thýợng Ðế, là Ðức chúa trời, là Ðạo.
Nhân thử Cõ nhất manh viết: Nguyên khí, Khí ký dĩ manh nhi hậu triền ðộng viết: Nguyên tinh. Tu Tiên tác Phật chi tạo hóa, tùng thử nhi hạ thủ. Nhýợc phù trần niệm kiêm phỉ, tất hóa dâm tinh thuận dýõng quan nhi xuất.
Tu sĩ chánh ðýõng thử thời, chánh niệm vi chủ, dĩ Thần ngự Khí, sử hô hấp chi khí lýu luyến Nguyên tinh, khả vi hýờn nguyên chi ðạo. Chân tinh ký ðắc hýờn nguyên, sử kỳ Thần Khí hỗn hợp lýỡng bất týõng li. Sử kỳ nhi vật dung hóa, hiệp nhi vi nhất. Nhý Dịch sở vị: Thiên ðịa, nhân õn, vạn vật hóa sinh. Nhiên hậu Tiên Thiên Chân nhất chi khí, nhýng cựu tùng khiếu trung phát xuất, nhi vi Kim ðõn chi chủ tể. Sở dĩ cổ vân: Vị hữu bất giao cấu, nhi khả nãng thành tạo hóa giả hồ?

Ðoạn vãn này Thiền sý ðã tiếp tận Thiên cõ, tu sĩ cần phải cùng lý ðể ứng dụng cho cõ Thiền ðịnh. Thánh nhân có nói: Nhýợc vô chí tu Tiên tu Phật, hà nãng tham cứu Thiên cõ.
Chỉ có hàng Tu sĩ phát tâm chứng quả Vô thýợng Chánh ðẳng Chánh giác, mới quyết tâm tham cứu Thiên cõ.
Thiên cõ là khí Chân dýõng trong ngýời phát ðộng. Chân dýõng khí bắt ðầu phát ðộng gọi là Cõ nhất manh. Thì có Chân khí phát sinh.
Chân khí sau khi ðã sinh và bắt ðầu triền ðộng thì có Chân tinh phát sinh.
Lúc khí Chân dýõng bắt ðầu manh nha, ta lập tức hồi quan phản chiếu, ngýng Thần Tại Tổ khiếu mà chờ. Chờ ðến khi Chân tinh phát sinh thì lập tức thu nhiếp quy Lý.
Tất cả Phật Thánh Thần Tiên ðýợc chứng quả Vô thýợng Chánh ðẳng Chánh giác, ðều dụng công thể thủ Chân tinh này. Nếu bỏ Chân tinh này thì vạn vô nhất thành.
Chân khí triền ðộng rồi sinh Chân tinh này, là thuốc không già không non, ðúng là Chân ðýợc nên thể nhập quy Lý.
Thời gian dụng công Thể thủ, phải giữ cho Tâm thật hý tinh, nếu có trần niệm dấy lên, tất sẽ hóa thành dâm tinh, thuận theo ðýờng Thục lộ mà ra.
Công phu Luyện kỹ còn gọi là Trúc cõ. Là xây nền ðắp móng cho thật kiên cố, là Luyện kỹ thật thuần thục, là luyện tâm ðã thuần nhất.
Tu luyện ðýợc nhý vậy mới có Chân dýợc, mới biết dùng Chánh niệm làm chủ cho công phu thể thủ, mới dụng công dĩ Thần ngự Khí ðúng pháp, và mới làm cho Chân khí trong cõ Tiêu tức lýu luyến Chân tinh. Có ðýợc nhý vậy mới ðúng cái ðạo hýờn nguyên, là Thể dýợc quy Lý.
Chân tinh khi ðã quy Lý, tự nhiên có sự huyền diệu, nhý Vô cực mà có Thái cực. Nếu nhý không có Chân tinh, thì Lý này không có huyền diệu gì cả. Cũng nhý Vô cực mà khõng có Thái cực, thì Vô cực này khõng có cõ linh diệu biến hóa.
Nhờ có cõ linh diệu của Lý này mà Thần với Khí trộn trạo nhau, tợ nhý Thủy ngân với chì hòa lẫn nhau khiến nên hai thành phần không hề lià nhau, dung hòa làm một.
Khí của trời, khí của ðất nếu chẳng giao mhau thì không thể nào sanh ra vạn vật, và vạn vật cũng không thể nào nối tiếp sự sống còn.
Nhý trong một ngày ðêm khõng có hai giờ Tuất, Hợi Thái cực thì vạn vật sẽ khõng co cõ Tạo hóa tiếp nối sự sống còn trong ngày mai.
Trong một tháng có 5 ngày, từ 26 ðến 30 âm lịch, trong một nãm có 2 tháng Tuất Hợi, trong một ðại nguyên 129.600 có hai hội Tuất Hợi… Là thời gian Thái cực tạo nên cõ Tạo hóa tiếp nối sự sống cón.
Con ngýời mới bắt chýớc theo ðĩ mà dụng công Thiền ðịnh, là tạo nên trạng thái Thái cực miên miên mà Cốc thần bất tử, mà siêu phàm nhập Thánh.
Thái cực miên miên tại Cốc thần, thì có Tiên Thiên Chân nhất từ trong Cốc phát xuất và làm chủ tể của Kim ðõn.
Cho nên Cổ nhân có nói: Nếu chẳng có cõ giao cấu thì làm sao có cõ Tạo hóa?
Cõ giao cấu ðĩ là: Thái dýõng nhập Thái âm, là Tây trạch nữ xuống kết cấu với chàng Ðông xá lang, là: Thủy tắc Hống ðầu Diên quật, trung tắc Diên nhập Hống gia.
Phù ký tri thử khí chi sanh cõ, tức khả dĩ hành hỏa bổ khí nhi luyện ðõn. Cố hữu biện thời thể thủ Châu Thiên chi biện thời hầu.
Cổ vân: Thời chí Thần tri. Chánh ngõn thử dýợc sản Tiên Thiên Chân khí.
Tu sĩ tu ðýõng thử thời, tu dụng ngýng Thần hiệp Khí chi phát, thâu phĩ ý bản cung, tắc thị vi ngã sở hữu chi diệu dýợc. Dýợc khí ký thừa thọ dĩ quy Lý, tu ðýõng bồi hồi ý Tý Ngọ, vận ðộng thân trung chi triền cõ, hựu tất tu giả hõ hấp chi khí, nhi xuy khý chi, phýõng ðắc Càn Khõn ý Nguyên quan hiệp nhi vi nhất, tuần hýờn ý câu quản.
Cố Thần khí thừa hõ hấp chi nãng, tài ðắc týõng y ðồng hành nhi bất ngoại du.
Thả khí chi hành trụ, hựu phạ hữu thải quá bất cập chi tệ. Cố tất y Châu Thiên chi hạn pháp. Ngõn thập nhị thời nhý nhất nhật nhất Châu. Cố Khõn hý vân: Tí hành tam thập lục, tích ðắc dýõng hào nhất bách bát thập số. Ngọ hành nhì thập tứ, hiệp ðắc âm hào nhất bách nhị thập số. Ngoại kiêm Mẹo Dậu chi pháp. Trung ðồ hành Mộc dục hồn thành Châu Thiên. Sở dĩ cổ vân: Khí hữu hành trụ khởi chỉ ða thiểu chi hạn pháp.

Ðoạn vãn này Tiên gia gọi là Châu Thiên vận. Thích gia gọi: Pháp luân thýờng chuyển. Nho gia gọi là Hành ðình.
Châu Thiên vận cĩ ðịnh kỳ là từ thời cõng phu. Có bất ðịnh kỳ là sanh cõ của Chân khí.
Cả hai thời kỳ dụng công Châu Thiên vận ðều nhằm mục ðích hành hỏa bổ khí. Hỏa có ðặt tính là dýõng, nên hành hỏa là lấy dýõng khí ðể bồi bổ cho dýõng khí, rồi dụng công huân chýn cho dýõng này hóa thành Thuần dýõng. Vậy hành hỏa cũng là công phu Càn Càn bất tức của Dịch lý, cùng công phu Tấn dýõng hỏa ðể dýỡng hỏa, ðể bổ hỏa của Tiên gia.
Tiên gia còn có Bổ âm võ song pháp môn. Pháp này dùng Kim dịch ðể tạo Kim ðõn.
Thể thủ Chân dýợc phải phân biệt lúc nào Thuốc già lúc nào Thuốc non. Thuốc già non ðều chẳng kết Ðõn, nên phải hái thuốc cho ðúng. Thuốc ðúng là lúc Chân khí triền ðộng mà sanh Chân tinh. Chỉ có Chân tinh này mới là Chân dýợc, mới thể thủ quy Lý.
Tu sĩ nếu chẳng biện thời, tất nhiên Chân dýợc sẽ bị tẫu thất.
Châu Thiên hầu có 5 Thời hầu. Thời hầu của giờ Tý và giờ Ngọ, thì vận hành là chính Mộc dục là phụ. Thời hầu của giờ Mẹo và giờ Dậu, thì Mộc dục là chính vận hành là phụ. Còn một Thời hầu nữa là Thời hầu Thể dýợc.
Sanh cõ có sanh cõ của Trung Thiên là Chân dýợc phát sinh. Còn sanh cõ của Hậu Thiên là Tâm khởi niệm và Thận lậu tinh. Hai cõ sanh này nên diệt trừ.
Thời chí Thần trị: Thánh nhân có nói: Bất phạ niệm khỉ, Chỉ khủng giác trì.
Thời chí là lúc thân tinh phát sanh, Thần phải biết ðể thu nhiếp qui Lý. Nếu chẳng biết thì tinh lậu!
Tu sĩ phải biết lúc Chân tinh sanh, liền dùng pháp ngýng thần nhập khí huyệt ðể thâu thủ về bản cung, ðó là một loại thuốc linh diệu sở hữu của ta.
Thuốc ðã qui Lý phải dùng Chân hỏa mà huân chýn, dùng Chân ý mà phong cố, dùng bồi hồi mà vận hành.
Triền cõ: Là cõ tiêu tức nõi ðýờng Huỳnh ðạo. Là cõ vận chuyển âm dýõng trong thân ta. Là cõ tuần hồn cuả nhâm Ðốc ðạo lộ .
Châu thiên triền cõ tuy là vận hành Chân tức, còn gọi là Trung thiên vận, nhýng trong ðĩ vốn cõ sở hô hấp Hậu thiên ðể hổ trợ và dung hố thành Tiên Thiên Chân khí: Nhờ mýợn khí hõ hấp ðể xuy ðộng cõ Tiêu tức mới bức trục ðýợc khí Chân dýõng thõng hành nõi ðýờng ðạo lộ âm dýõng, ðể thõng ðạt với Càn Khôn mà làm ðại tổng khiếu nõi thân ta.
Tử Dýõng Chân nhân nói: Nhất Khổng Nguyên quan khiếu. Càn Khôn cọng hiệp thành.
Thần hành thì Khí hành. Thần trụ thì Khí trụ, mà tạo ra cõ týõng y. Thần khí còn phải nýõng theo nãng lực của hô hấp, mới ðúng với cõ khắc lậu mà chẳng bị ngoại trì. Vậy hõ hấp cũng là quyền bĩnh của Thần khí.
Châu thiên vận phải ðúng hạn số. Nếu thái quá thì có thể bị Tẩu hỏa nhập ma. Nếu bất cập thì Chõn ðõn chẳng kết.
Châu Thiên hạn số là 384 châu.
Tí: 180 châu. Ngọ :120 châu. Mẹo: 48 châu. Dậu:36 châu.
Thời gian 180 châu ðộ 20 phút. Cứ theo ðó mà phân cho 3 giờ kia, cộng với thời gian Tịch chiếu mỗi giờ là 2 tiếng ðồng hồ, chẳng ðýợc nhanh, cũng không ðýợc chậm. Chẳng ðýợc mạnh mà cũng không ðýợc yếu. Tấn mạnh thì Thýợng bộ bệnh. Thối mạnh thì hạ bộ bệnh. Tức là phi Vãn phi Võ.
Bạch Ngọc Thiềm Chân nhân có nói : Khỏi tại Hý Nguy, Chỉ tại Hý Nguy.
Tu sĩ nên chú ý: Ðõn kinh óo phân giờ âm giờ dýõng. Nhýng lúc cõng phu thì không phân âm dýõng.
Học giả bất khả bất sát.
Phù ký ðắc châu Thiên chi diệu dụng, tích lũy ðộng khí, thời lai thời luyện, bổ hồn Chân khí, tắc Tinh khiếu bất lậu, tiện khả vị chi Trýờng sinh.
Nhý hữu Tinh khí lậu giả, tắc vị cập chứng bất tử chi quả. Tất gia tinh tu, dĩ Nguyên tinh tận phải hýờn Chân khí, nhi ngoại hình diệc võ manh ðộng chi cõ, tắc thị danh vi Ðại dýợc thành, Tiện khả tác Ðại châu Thiên chi công pháp.
Tích lũy ðộng khí: Tích lũy ðộng khí ở trong Chân ðộng mới là Chân tinh. Chân ðộng là nội bất ðộng mà ngoại ðộng. Chân tinh ðã sanh thì, lập tức thu về Lý rồi huân hóa cho thành Chân khí.
Cứ nhý vậy mà Thể mà Luyện mãi thì Chân khí nõi bản cung ðýợc sung mãn. Lâu ngày sẽ thành Ðại dýợc.
Trong mỗi thời Thể Chân dýợc, nên vận vài mýõi Châu Thiên, vận cho ðến khi nào ngoại thận (Dýõng Vật) rút vào thấy nhẹ nhõm mới thõi.
Lý Chân Nhân nói: Dýõng quan nhất bế, cá cá Trýờng sinh.
Còn lậu tinh tức còn phàm phu tục tử.
Tinh không còn lậu, là Chân nhân bất tử.
Ngýời ðời cũng co số khõng lậu tinh, cũng có số chýa kinh quá Hỏa pháp mà cũng chẳng lậu. Ðó chẳng phải là Chân nhân vô lậu, mà là phàm phu tinh kiệt. Chớ nên ngộ nhận là tu chứng.
Chẳng có tinh thì ngoại Thận không cữ ðộng.
Có tinh và nhờ Luyện tinh mà nhý ý bỗng không cữ, mới là Ðõn thành.
Nếu còn một ý vi manh, tất chýa chứng quả.Tất phải gia công huân luyện.
Lúc Ðại dýợc thành, lập tức dùng pháp Quá quan phục thực ðýa Xá lợi về Trung ðiền, phối hợp với hạ ðiền ðể dụng công phu mýời tháng hồi thai, gọi là thời Ðại Châu Thiên. Thời hầu này phải tuyệt dứt Võ hỏa, mà chỉ dùng Vãn hỏa mà thôi.

DaoKy
14-04-2005, 02:31 AM
THÍCH NGHĨA CHÍNH VÃN

Hoa Dýõng Thiền sý nói: Chủ ðích của Tiên ðạo là thu Nhiếp Chân tinh quy Lý, ðể huân luyện cho thành Kim ðõn.
Tiếp theo cõng phu trên là Quá quan phục thực, mýời tháng nuôi dýỡng "Thánh Thai", rồi ba nãm luyện xuất Thần Hiển hóa, biến thiên ức hóa thân, ngýời trong thế gian có ai là chẳng nguyện cầu.
Nhýng về Thiên cõ bí mật, học giả khởi cùng ðến tận cãn nguyên, nên có nhiều ngýời nữa ðýờng bỏ cuộc! Cũng vì lẽ ðó nên nay ta mới nói hết, ðể cho học giả tiếp thu trọn vẹn mà chứng quả. Chủ yếu là tinh. Tinh là thành phần rất quý của vạn vật, là vật chí bửu ðể dýỡng thân lập mạng. Nếu nhý ngýời nào tinh ðã bị bại, thì phải lấy tinh ðể bổ tinh ðể bảo mạng và ðýợc trở lại nhý thời thõ ấu. Ðó là cái hýớng luyện ðắc Trýờng sinh.
Còn ngýời nào Tinh chýa bại, thì lấy Tinh khí ðó mà tu mà luyện, mà ðoạt cõ Siêu thoát, mà dýỡng thai, mà hóa Thần, ðó là cách dễ tu, dễ làm, dể làm Chánh quả.
Nếu Thần ði thuận theo cõ tinh sanh, rồi nýõng theo lý tự nhiên của tạo hóa, mà thành tồn Nhõn ðạo.
Còn nếu Thần mà ði nghịch lại cõ tinh sanh này, mà tu theo Tự nhiên của tạo hóa, thì Tiên ðạo thành. Cho nên gọi: Tinh là cửa quan ải nhập tử nhập sanh.
Tên nó tuy gọi là Chân tinh nhýng trong Chân tinh ấy vốn tự võ hình, chỉ nhân cõ ðộng trong tịnh mà nói là Chân tinh.
Trýớc khi khí Chân dýõng chýa ðộng vốn hồn nhiên khõng tịch, nên ngĩng xem cũng khõng thấy hình sắc, nên lòng nghe cũng chẳng thấy âm thanh.
Cũng chẳng phải là Tinh, cũng khõng phải là vật. Chẳng biết gọi danh gì mà lại có danh, cho nên gọi là Tiên Thiên. Dịch gọi: Vô cực chi thời.
Lúc bấy giờ thì Thần vốn tịch tịnh, chẳng có cõ ðộng, vạn vật ðều quy cãn. Ðó là cảnh trí Trí hý cực thủ tịnh ðốc của Thái cực.
Trong trạng thái Thái cực có cõ hoảng hốt, tợ nhý ngýời nữa thức nữa ngủ, tình cờ có cái diệu ý dung hội, nên mới mệnh danh mà nay có danh, cho nên gýợng gọi là Ðạo. Dịch gọi là thời của Thái cực.
Nhân ở khí Chân dýõng mống khởi, mà gọi là Chân khí. Chân khí lại mống khởi và triền ðộng, mà có Chân tinh. Ðó là cõ Tạo hóa, tu Tiên tác Phật cũng theo ðây mà hạ thủ công phu.
Nếu nhý trần niệm cùng dấy lên, tức hóa dâm tinh, thuận dýõng quan( Niệu Ðạo) mà ra! Chính lúc này Tu sĩ phải lấy chánh niệm làm chủ, lấy Thần ðể chế ngự Khí, dùng khí Hõ hấp mà lýu luyến Nguyên tinh. óo thể gọi ðó là cái ðạo hýờn nguyên.
Thâu thủ lấy cái Thần Khí hổn hợp, là lúc hai thành phần ðó chẳng lià nhau, mà dung hoà hiệp làm một, nhý Dịch gọi: Thiên ðịa nhân õn vạn vật hóa sanh.
Sau ðó, khí Chân nhất của Tiên Thiên còn Lýu tồn lại rồi từ trong khiếu phát ra, và làm chủ tể cho Kim ðõn. Cho nên Cổ nhân mới nói: Chýa có ngýời nào chýa dùng pháp giao cấu, mà thành cõ Tạo hóa.
Ðã biết về sinh cõ của Chân khí, liền nên hành hỏa bổ khí mà luyện ðõn, cho nên mới có sự phân biệt về hầu Thể thủ Châu Thiên.
Cổ nhân nói: Thời chí Thần tri. Chính là lời nói: Chân dýợc sinh Tiên Thiên Chân khí.
Tu sĩ ðúng lúc này, nên dùng pháp ngýng Thần hiệp Khí mà thu gởi về bản cung, ðó là diệu dýợc sở hữu của ta.
Chân dýợc, Chân khí ðã thừa thọ quy Lý, nên dùng cõ thãng giáng nhý Tý Ngọ, mà vận ðộng triền cõ trong thân ta. Lại còn phải mýợn cái khí hõ hấp ðể thổi lùa, thì Càn Khôn mới Nguyên quan mới hiệp làm một, và tuần hồn nõi ðạo lộ Tào khê. Cho nên Thần khí thuận theo khí hô hấp, mới nýõng nhau vận hành, mà không bị ngoại du.
Chân khí lúc hành lúc trụ, còn sợ cái tệ thái quá và bất cập. Cho nên phải theo ðúng hạn số của Châu Thiên. Châu Thiên hạn số là ví nhý 12 trong một ngày ðêm.
Khôn Hý Thiền sý nói: Tý thời vận 36 hệ tích dýõng hào thành 36 x 5: 180 châu. Ngọ thời vận 24 hiệp tích với âm hào thành 24 x 5: 120 châu.
Còn phải kiêm gồm pháp Mộc dục, mới hồn thành Châu Thiên..
Cho nên cổ nhân có nói: Chân khí cĩ hành trụ, khởi chỉ, và hạn số ớo nhiều ít.
Học giả cần phải xét cho thật kỹ.
Ðã ðắc ðýợc cõ diệu dụng của Châu Thiên, là tích lũy Chân khí trong cõ ðộng của khí Chân dýõng, hễ thời lại thì theo thời ðó mà luyện, ðể bổ hồn Chân khí, thì Tinh khiếu bất lậu, cũng có thể ðạt ðýợc trýờng sinh.
Nếu nhý tinh khiếu còn lậu, là chýa chứng ðýợc quả bất tử.
Tất cần phải gia công tinh tu, luyện Nguyên tinh trở thành Nguyên khí, mà ngoại hình khõng có cõ ðộng, tức là Ðại dýợc thành, và có thể tiến lên cõng pháp Ðại Châu Thiên.


3. LUYỆN KỶ TRỰC LUẬN

Hoa Dýõng viết: Tích nhật Lữ Tổ vân: Thất phản ðõn thành tại nhân Tiên tu luyện kỷ ðải thời.
Cái kỷ giả tức bản lai linh giác. Ðõng giả vi ý, tịnh giả vi Tảnh, diệu dụng vi Thần. Kim ðõn Thần tuy hữu quy nhất, tắc hữu, song phát chi chỉ. Tiên nhật bất luyện kỷ hýờn hý, tắc lâm thời thục cảnh nan vong, Thần kỳ Khí tán, an nãng ðạt Tạo hĩa chi cõ, hýờn ngã Thần nhất nhi vi Kim ðõn sanh phát chi bản.

Kỷ là Chân niệm trong Tâm ta. Nếu muốn thành Kim ðõn, trýớc nhất phải lo Luyện kỷ
Nếu Luyện kỷ chýa ðýợc thuần thục, làm sao Luyện Chân tinh hĩa thành Chân khí ðýợc, Chân khí hýờn làm Chõn thần.
Thất là con số Thiên thất thành chi. Trýớc lấy Hỏa nhập vào trong Thủy, gọi là Phản. Sau lấy Thủy thãng lên Hỏa gọi là hýờn.
Ðải: Là hầu , là chờ, là một tiết tự cõng phu. Nếu hữu tâm mà chờ tức bị thuộc vào cấu trệ, mà Chân Khí lại chẳng sinh. Nếu võ Tâm mà chờ thì bị lạc vào nẽo ngoan khõng, gây ra lỗi lầm Chân cõ. ốo là hữu võ ðều lýởng thất!
Nhý vậy phải làm sao?
Lại có hýờn ở võ, mà nội linh tợ nhý hữu. Cho nên thiên Ly Tảo viễn du nĩi: Võ hýợt (hời hợt) nhi hồn (hồn nhiên) hề, bỉ týợng (gần) tự nhiên. Nhất khí khổng (thõng suốt), Thần hề, ý trung dạ (ðêm) tồn. Hý dĩ ðãi chi hề, võ vi chi Tiên.
Các thành phần này trýớc khi chýa phát, vốn hồn nhiên trống khõng. Lặng lẽ nhý thái hý, nên làm gì có danh mục, nhân cõ manh nha mà nói Thần, ý và Tánh.
Lúc luyện Ðõn, trýớc phải võ vi, tịch nhiên bất ðộng, hồn nhiên khõng khõng lộng lộng, chẳng hề có niệm hữu võ. Chờ ðến lúc cõ ðộng, phát Chân ý mà Thể thủ.
Lúc vận Châu Thiên lại lập Chánh niệm, chủ ðẩu tiêu và cán triền cõ Tiêu tức của hai khí nõi thác thýợc, Thần lại theo Chân khí mà tuần hýờn.
Hýờn hý: Là thuần hồ dĩ tịnh, tịnh ðể hóa, thảy khõng hình tích, trở lại hồng mông, phục quy Vô cực.
Ðó là bản lai Tánh thể.
Lâm thời: Là ðến lúc Chân dýợc sản.
Nếu trýớc Luyện kỷ chýa ðýợc thuần thục, thì trong thời gian Thể dýợc, luyện dýợc ắt có cái niệm phân hóa, và Thần chẳng ðýợc chủ trýõng, khí phải bị tán phát.
Ðoạt: Là thâu thủ, là cýớp lấy. Tạo hóa: Là khí dýõng sinh. Thần thất: Là Hạ ðõn ðiền.
Thần thất có ba cái nồi luyện kim, lấy Hạ ðiền làm chủ. Cho nên Thần khí khởi hành cũng tại ðó, quy tàng cũng ở ðó, nên gọi là Thần thất.
Thần thất là nhà u linh của Thần khí ở.
Sanh phát: Có hai nguyên nhân tạo nên cõ sanh phát. Sanh phát là khí Chân dýõng phát sanh ra Chân khí.
Nguyên nhân thứ nhất: Là do hiện týợng Thái cực tự nhiên là giờ Tý thì có Chân khí phát sinh.
Nguyên nhân thứ hai: Là do tu sĩ dụng cõng Thiền ðịnh ðến trạng thái Thái cực, thì cũng có Chân khí phát sinh.
Ðó là cãn bản của cõng phu luyện ðõn.
Cố Cổ nhân Luyện kỷ giả: Tịch ðạm trực thiệp, Thuần nhất bất nhị, dĩ tịnh nhi hồn, dỉ hý nhi linh. Thýờng phiêu phiêu hồ, tuỳ xứ tùy duyên nhi an chỉ. Bất cứu kỳ sở tại. Bất cầu kỳ vị chí, Bất hỉ kỳ hiện tại. Tĩnh tĩnh tịch tịch. Tịch tịch tĩnh tĩnh. Hình thể bất câu bất trệ. Hý linh giả bất hữu bất võ. Bất sinh tha nghi. Liễu triệt nhất Tâm, trực nhập ý Võ vi chi hĩa cảnh Thử nải trí giả Thýợng cãn chi luyện pháp.

Tịch ðạm trực thiệp: Tâm lặng lẻ thanh hý, cýõng nghị, có sức dũng mảnh thẳng tiến trên ðýờng tu học.
Thuần nhất bất nhị: Tâm chẳng cịn cái niệm hữu võ, thiện ác, hay bất cứ một ðối týợng nào.
Tịnh nhi hồn: Là trạng thái Thái cực, tợ nhý cảnh hồng mõng chýa chia, nhý ngýời nữa tỉnh nữa mê.
Hý nhi linh: Suốt cả ngày ðêm, cao hõn là nãm tháng, tâm ðịa hồn tồn trống rỗng, nhờ ðó mà ðýợc sáng suốt linh diệu, nên gọi: Tâm hý linh bất muội.
Thýờng phiêu phiêu: Tâm chẳng dính mắc một ðiểm hình tích, âm thinh sắc týớng hữu vi. Cho ðến Tứ Týớng cũng hồn tồn khõng mắc vào Tâm.
Tùy xứ tùy duyên nhi an chỉ: Tâm hằng thýờng còn ðạo Trung, chẳng hề thiên chấp. Ðây cũng là trạng thái của Tu sĩ ðã khắc kỷ ðến trình ðộ cao tột Ðịa Thiên Thái, là Tâm là Tánh của bậc Chân nhân.
Bất cứu kỳ sở tại: Tâm ðã trống rỗng nhý cỏi Thái hý, thì tất cả những gì hiện tại cũng hóa thành hý khõng, nên còn có gì mà suy mà xét.
Bất cầu kỳ vị chí: Lịng ðã dứt sạch cái duyên trần tục, ðã cắt ðứt dây luyến ái phàm tình, phú quý vinh hoa xem nhý mây khói, danh và lợi coi nhý chiếc dép rách, nhõn dục chẳng còn, thì cầu ở týõng lai cái gì.
Bất hỉ kỳ hiện tại: Lòng ðã rữa sạch mùi trần, nên những gì ðã có nhý giàu sang tột ðỉnh, cũng tợ nhý một giấc chiêm bao. Có gì mà mừng.
Tịch tịch tĩnh tĩnh: Là hiện týợng tịnh trýớc mà ðộng sau, tịch trýớc mà chiếu sau, ðó là cõng phu Thiền ðịnh ở trạng thái tự nhiên, nhý lúc Chân tinh chýa sinh.
Tĩnh tĩnh tịch tịch: Là lúc Chân tinh ðã sinh, nên Tu sĩ trýớc phải lập tức “Hồi quang phản chiếu” Là chiếu là tĩnh trýớc. sau ðó mới “Tịnh Ðịnh”
Hình thể bất câu bất trệ: Cõng phu Thiền ðịnh tối kỵ: Thân Tâm lao lục. Nếu lao lực thì phải bị hôn trầm, khiến cho giờ công phu vô hiệu.
Hý linh bất hữu bất vô: Tâm ðã ðạt ðýợc hý linh bất muội, thì còn gì là hữu, còn gì là vô.
Bất sinh tha nghi: Chỉ có cõng phu học vấn ðã ðạt ðến Cùng lý rồi, thì tất cả ðều biết, nên tất cả cũng chẳng có gì là nghi ngờ nữa .
Liễu triệt nhất tâm: Tâm này ðã ðýợc Linh giác trọn vẹn, ðã thýợng thõng Thiên vãn, hạ ðạt Ðịa lý, trung quán nhõn sự. Tợ nhý Thái dýõng treo giữa hý khõng, mýời phýõng sáng chói.
Trực nhập hóa cảnh Vô vi: Cảnh này là cảnh tự nhiên Vô cực. Chẳng có cảnh nào bằng. Tu sĩ ðã ðạt ðýợc tất cả những gì về cổ nhân luyện kỷ nhý trên ðã nói, thì tâm hồn ðã ðạt ðến cảnh Trí Tự nhiên võ cực, là vô cùng cao tột.
Tâm hồn ðã ðạt ðýợc cảnh trí Tự nhiên võ cực, có khác gì bậc Chân Nhân ðã khắc kỷ ðến trạng thái Ðịa Thiên Thái.
Lời Thốn từ của quỷ:… Nội dýõng nhi ngoại âm. Nội kiện nhi ngoại thuận. Nội cýõng nhi ngoại nhu.
Tức ngồi Tánh thì Thuần âm, thì thuận, thì nhu. Còn nội tâm thì Thuần dýõng, thì kiện, thì cýõng.
Luyện ðýợc Tâm Tánh nhý quỷ Thái là phýõng Luyện kỷ ðã cao tột, nhý phần Luyện kỷ của bậc Trí giả Thýợng cãn ðã nói ở trên.
Nhýợc phù trung hạ chi lýu tất vị nhiên.
Ðýõng vị luyện chi Tiên, mỗi bị Thức thần sở quyền, bất giác hiện Tạo hóa chi cõ nhi thuận hóa, dục luyện tinh giả bất ðắc kỳ tinh trụ, dục luyện khí giả bất ðắc kỳ khí lai.
Cổ Vân: Bất hiệp hý võ bất ðắc Tiên. Cái vị thử dả. Cố dụng Tiệm pháp nhi luyện chi. Thả vị luyện giả ðoạn dục, li ái, bất khỉ tà kiến, phùng ðại ma nhi bất loạn giả, viết: Luyện, Vị ngộ, khổ hạnh cần cầu lệ chí, cửu nhi bất thối giả, viết: Luyện, Hý tâm lợi nhõn, bất chấp vãn tự, cung nghinh nhi ai khẩn gia,û viết: Luyện. Nhãn tuy kiến sắc nhi nội bất thọ nạp giả, viết: Luyện. Nhỉ tuy vãn thinh nhi nội bất thọ âm giả viết: Luyện. Thần tuy cảm giao nhi nội bất khỉ tý giả viết: Luyện. Kiến vật nội tĩnh nhi bất mê giả viết: Luyện. Nhật dụng bình thýờng nhý nhý, nhi tiên Luyện kỷ thuần thục tắc ðiều dýợc nhi ðắc kỳ sở ðiều, biện Chân thời tắc ðắc kỳ Chân thời, vận Châu Thiên thủy chung nhý pháp thãng giáng.
Kỷ hữu bất ðắc kỳ tiên luyện, tắc thi pháp chi tế bị cựu tập sở lộng, thát loạn tiết tự.
Cố bất ðắc chung kỳ hầu.

Thuộc hàng trung hạ là hạng ngýời hồn tồn chýa hề Luyện kỷ, chứ chýa phải là hàng trung hạ của thế tục.
Còn những ngýời ðã býớc vào Tiên ðạo thì khõng cịn phân biệt ðẳng cấp.
Lúc ngýời chýa Luyện kỷ, chýa ra công Cầu lý ðến Cùng lý tức chýa có Chân ý, tợ nhý chýa có Chân sý ðiều hành, nên bị Thức thần, tức là Thần tý lự dụng sự. Thần này vốn thuộc âm, tức là tâm âm Li Hỏa Hậu Thiên.
Bất giác nhiệm Tạo hóa chi cõ nhi thuận hóa.
Ngýời ðời, mỗi khi khí Chân dýõng sõ ðộng trong ngýời, vì chẳng biết phýõng tu luyện, nên hành theo Thế pháp mà thành tồn Nhõn ðạo. Lại cón có lúc khõng vì giao cấu mà tinh khí cũng bị hao tán. Cớ sao chẳng biết lúc khí Chân dýõng phát ðộng, lại chẳng biết pháp Thể thủ qui Lý, nên ðành phải thuận theo cõ thuận hóa.
Luyện tinh bất ðắc kỳ tinh trụ: Luyện tinh tức là luyện Chân tinh hóa thành Chân khí. Có ngýời khõng biết Chân tinh, nên phải lấy ảo tinh ðể luyện, nhý vậy làm sao hóa thành Chân khí ðýợc, nên Chân tinh cũng khõng trụ ðýợc.
Luyện khí bất ðắc kỳ khí lai: Luyện khí tức là luyện Chân khí hóa thành Chõn thần. Có nhiều ngýời cũng khõng biết Chân khí là gì, nên phải dùng trýợc khí ðể luyện, nên làm sao hóa thành Chõn thần ðýợc, và Chân khí cũng khõng lại.
Bất hiệp hý vô bất ðắc Tiên: Luyện cho Tâm thật trống khõng, mới có thể luyện thành Chõn ðõn, mới có thể ðắc Tiên vị.
Tiệm pháp: Là pháp tu lần lần từng cấp, là tu từ thấp lên cao, từ cạn ðến sâu.
Luyện là ðoạn sạch lòng tham, lòng dục, ðoạn cho ðến còn một, rồi một ðến khõng. Cắt ðứt lòng luyến ái tục tình, nhý luyến ái thê tử, luyến ái cõng danh phú quý, luyến ái sự nghiệp. Cắt và ðoạn sạch hai lòng ái và dục, là Luyện kỷ ðã có lực.
Tà kiến: Tình cờ mắt trõng thấy cảnh sắc kỳ dị, hoặc thấy hào quang, hoặc thấy trong hào quang có hiện ra Thần vật, hoặc bình nhật chýa thấy mà nay mới thấy, ðó là ngoại ma. Nếu tin theo ðó thì bị ma dụ. Gọi là: Thiên ma, tà ma, yêu ma, mắt thấy hoặc Tâm thấy, hoặc mắt chẳng thấy mà tâm thấy, ðó là âm ma. Thấy mà lòng mừng ý ðẹp, lại còn ham thích trõng thấy, ðó là dính mắc với ma. Thấy mà tự chẳng thấy, nghe mà tự chẳng nghe, biết mà tự chẳng biết. Cứ nýõng theo mà chánh niệm: Ta với ma chẳng týõng can.
Bất loạn: Thủy, hỏa, ðao binh , kiếp sát, ðả mạ, mà Tâm chẳng hề loạn ðộng.
Chý ma cũng chẳng sợ sệt loạn tâm.
Chýa ðắc quyết phải lập Chân chí cầu Chân sý.
Trong thế gian này, phú quý vinh hoa, thê tử ðều có ðịnh phận, nhýng Ðại Ðạo thì chẳng phải nhý vậy, chỉ có khổ chí mà ðắc. Cổ nhân có nói: Có chí thì nên.
Thành cõng trong sự tu hành, chẳng phải lúc sanh ra ðã có phận ðịnh.
Ngýời ðời học Ðạo chẳng ngộâ Ðắc Chân truyền, là do Tâm còn giả dối. Lại còn gây chýớng ngại cho ngýời Chân tu. Cho nên họ chẳng bao giờ ðýợc thành cõng.
Nếu ðuợc Tâm hý và khẩn thiết, chấp ðệ tử lễ, hành ðệ tử sự, há chẳng ðắc sao.
Ngýời ðã luyện ðýợc tai, mắt và Thần, tức là Chân luyện.
Kiến vật bất mê: Là ðối cảnh võ Tâm, kiến vật nhi tâm bất ðộng.
Nhật dụng bình thýờng… :Luyện kỷ ðã thuần thục, sau ðó mới có thể luyện Chõn ðõn. Výõng Trùng Duõng nói: Trạm nhiên bất ðộng, hõn hõn mặc mặc, võ ti hào niệm týởng. Thử do Luyện kỷ thuần thục nhi ðắc.
Thiêu Khýõng Tiết nói: Tý Lự vi khởi, quỷ thần mạc tri, bất do hồ ngã, cánh do hồ thùy?
Tắc ðiều dýợc…: Ðiều dýợc tức là luyện cho Chân tinh hóa thành Chân khí.
Chân thời: Là Tâm chẳng ðộng mà Thận ðộng, ðó là Chân thời, tức Chân cõ và có Chân dýợc sản.
Vận châu Thiên…: Châu Thiên là Cõ vãng hành và phản phục. Thãng giáng thì có cõng phu Tấn thối. Luyện kỷ ðã thuần thục thì khõng có hôn trầm tán loạn.
Cựu tập: Là các thời quen từ lâu ðã tiềm tàng trong ngýời. Nếu luyện kỷ ðã thuần thục thì cựu tập biến mất, khõng cịn gây bát loạn Quân tâm.
Thát loạn tiết tự: Cũng là do Luyện kỷ chýa thuần, rồi hoặc biết thể thủ mà khõng biết Huân chýn, hay khõng biết Phong cố, Vận hành. Lại biết thãng mà khõng biết giáng, hoặc biết thãng mà khõng biết Mộc dục, hoặc biết Tiên Thiên khí mà chẳng biết Hậu thiên khí, hoặc khí hành mà Thần chẳng hành, hoặc biết Châu Thiên mà chẳng biết quy cãn.
Tây Výõng Mẫu nói:
Thinh sắc bất chỉ, Thần bất thanh.
Tý lự bất chỉ, Tâm bất ninh
Tâm bất ninh hề, Thần bất linh
Thần bất linh hề, Ðạo bất thành.
Luyện kỷ giả tại ý cần, nhýợc bất cần tắc Ðạo diêu dả. Tích nhật Lữ Tổ bị Chánh Dýõng Õng thập thí, chánh niệm nghi bất nghi. Hựu Khýu tổ thọ bá nạn ý Trùng Dýõng, Khổ chí nhi bất giải. Bí Trýờng Phịng thịnh tọa, ngẫu thị ðại thạch trụy ðĩnh bất kinh bất ðộng. Thử ðắc Luyện kỷ ðịnh tâm chi hiển án dả. Tinh thý dĩ cáo ðồng chí.

Chủ yếu của cõ Luyện kỷ là siêng nãng, chuyên cần từng phút từng giờ, nếu buõng lung giải ðải, thì sẽ có cái lo về Chõn ðõn tẫu tiết.
Xýa Lữ Tổ bị Chánh Dýõng Õng mýời phen khảo thí, hằng ðýa ma lại thử thách, mà tâm chẳng hề nghi ðộng, vẫn kiên quyết ðộc lập Chánh niệm.
Sau 64 tuổi theo Chánh Dýõng Õng tu luyện. Cuối cùng ðýợc thành chánh quả.
Khýu tổ lúc mới ðến gặp Výõng Trùng Dýõng. Výõng tổ bảo Khýu ãn cháo lõng. Khýu tự biết mình phúc nhỏ, nên khổ hạnh bảy nãm, liên tục gặp ma nạn, phải qua hai phen tử ma, hai lần phi thạch ðánh gẫy ba xýõng sýờn. Lại tự hiểm tử ba phen, gánh chịu nhiều ma nạn, khổ chí mà chẳng ðộng tâm, tự nãng quyết liệt tinh tu.
Khýu Trýờng Xuân ðýõng tịnh tọa, tình cờ thấy một khối ðá lớn rõi xuống ðầu, nhýng Tâm chẳng kinh chẳng ðộng.
Cũng nhý xýa ðức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ngồi dýới cây Bồ ðề, Ma výõng Ba tuần lãnh ba vạn ma chúng, dùng binh qua dọa Phật, mà chẳng ðộng, dùng ma nữ dâm sự dụ phật, cũng chẳng ðộng. Phật vẫn ngồi, ngồi mãi thật kiên cýờng vững chắc. Ngài tự nghĩ: Ta quyết ðịnh ngồi mãi nõi ðây cho ðến ngày thành Phật.
Còn tiếp....