congdanh68
12-09-2007, 09:51 PM
CHƯƠNG THIÊN THỜI<o:p></o:p> <o:p></o:p>
Thê tài phát động bát phương hàm ngưỡng tình quan phụ mẫu hưng long tư hải tân <o:p></o:p>
triêm vũ trạch. Giải nghĩa : Lấy hào phụ mẫu làm mưa, tài động tức khắc chế được <o:p></o:p>
Thần vũ cho nên chủ là nắng.<o:p></o:p>
Ứng nãi thái hư phùng không tắc vũ tĩnh nang ngoại. Giải nghĩa : Chiêm thiên <o:p></o:p>
thời ứng lâm không thì mưa nắng tráo trở, nên cần phải dựa vào tác vụ Nhật thần <o:p></o:p>
để đoán.<o:p></o:p>
Thế rãi đại khôi thọ khắc chế tắc thiên biến phi thường. Giải nghĩa : Ứng là <o:p></o:p>
trời là thể của vạn vật, thế là đất là chủ của vạn vật. Nếu thế bị động hào khắc <o:p></o:p>
chế tức là có chuyện thay đổi phi thường.<o:p></o:p>
Nhật Thân chủ nhất Nhật chi âm tính. Giải nghĩa : Như hào phụ mẫu bị động hào, <o:p></o:p>
Nhật thần khắc chế thì trời không mưa, nếu hào phụ mẫu động được Nhật thần sinh <o:p></o:p>
phò thì trời mưa to, tài hào động được Nhật thần sinh phò thì chủ nắng gắt vì <o:p></o:p>
vậy cho nên Nhật thần là chủ.<o:p></o:p>
Tử tôn quán chủ thiên chi Nhật Nguyệt. Giải nghĩa : Tương dương thì tử tôn là <o:p></o:p>
mặt trời, tương âm tử tôn là mặt trăng. Nếu tương vượng thì trăng thanh, tương <o:p></o:p>
suy thì trăng mờ. Bị khống phục thì mờ ảo, mây mù, mộ tuyệt thì an nuôi không <o:p></o:p>
thấy vì vậy cho nên mộ cần gặp xung, tuyệt thì cần gặp sinh phò.<o:p></o:p>
Nhược luôn phong vân, toàn bằng huynh đệ. Giải nghĩa : Lấy hào huynh đệ để xem <o:p></o:p>
về mây gió, vượng động hoặc suy hình để lấy đó mà luận mây gió to nhỏ hoặc mù ảm <o:p></o:p>
đạm. Nếu hỏi về gió Thuận nghịch thì không cần phải lấy hào huynh đệ mà ta lấy <o:p></o:p>
hào tử tôn làm gió Thuận, hào quan quỷ làm gió nghịch.<o:p></o:p>
Yếu trí lôi điền đảm khán quan hào. Giải nghĩa : Hào quan quỷ tại quẻ chấn <o:p></o:p>
động thì sấm vượng tướng, thì có sét, mà hóa tiến Thần cũng như vậy. Hoặc quẻ mà <o:p></o:p>
không có hào phụ mẫu thì sấm mà không mưa. Nếu hào phụ mẫu trực Nhật thì mưa mới <o:p></o:p>
có .<o:p></o:p>
Canh tùy tứ quý thôi tường ở đoạn. Giải nghĩa : Ở đoạn này giống đoạn văn trên <o:p></o:p>
mà nói mùa Đông thì không thể đoán có sấm được.<o:p></o:p>
Tu thôi Ngũ hành tham quyết. Giải nghĩa : Ngũ hành có thời vượng của nó. Mùa <o:p></o:p>
Xuân Đông thì băng tuyết mây mù. Mùa hè Thu thì nhiều sấm chớp buổi sáng tối.<o:p></o:p>
Thanh hoặc phòng quang vi yên vi lê. Giải nghĩa : Quẻ có triều nắng mà gặp <o:p></o:p>
quan quỷ động thì nhiều khói nặng nề, và có ác phong ám muội. Mùa Đông lạnh rét, <o:p></o:p>
mùa hè nắng gắt.<o:p></o:p>
Vũ nhi ngộ phước vi điện vi hồng (cầu vồng). Giải nghĩa : Quẻ có triều mà tử <o:p></o:p>
tôn động thì có chớp điện cầu vồng cho nên tử tôn chủ về cầu vồng ngũ sắc và <o:p></o:p>
chớp. Nếu thấy có tượng đó thì ta cũng lấy đây mà suy ra.<o:p></o:p>
Ứng trực tử tôn bịch lạc vô hà tỷ chi bàn điền. Giải nghĩa : Phàm hào tử tôn <o:p></o:p>
động thì ngày đó có nắng to đẹp, hoặc hào tài lâm ứng động hóa cũng vậy.<o:p></o:p>
Thế lâm Thổ quỷ hoàn sa đa tán ngang ư thiên khôi. Giải nghĩa : Hào phụ mẫu <o:p></o:p>
hoặc hào phụ mẫu không, phục mà hào thế lâm Thổ quỷ động thì đó là trời rơi cát <o:p></o:p>
xuống. Đôi khi hào phụ xuất phục xuất không thì đó mới lộ ra có mưa.<o:p></o:p>
Tam hợp thành tài vân vũ na kham nhập quái. Giải nghĩa : Quẻ có tam hợp tài <o:p></o:p>
cục thì có mây ngũ sắc không mưa.<o:p></o:p>
Ngũ hương liên phụ tinh quái sát lâm không. Giải nghĩa : Ngũ hương tức là Ngũ <o:p></o:p>
hành duy chỉ lấy hào phụ làm mưa, hào tài làm kỵ sát, nếu như cầu nắng to thì <o:p></o:p>
tài hào lâm Tuần không.<o:p></o:p>
Tài hào quỷ âm tình vị dinh. Giải nghĩa : Tài chủ về trời trong sáng, quỷ chủ <o:p></o:p>
về trời âm u. Nếu như gặp tài hóa quỷ, quỷ hóa tài đều động thì chủ về trời âm u <o:p></o:p>
mà nắng.<o:p></o:p>
Phụ hào hóa huynh phong vũ phi thường :<o:p></o:p>
- Hào phụ là chủ mưa, hào huynh chủ gió, hai hào biến qua biến lại hoặc cùng <o:p></o:p>
động, đều chủ về trời mưa và gió (huynh biến phụ hay phụ biến huynh).<o:p></o:p>
- Như hào động hợp với phụ hào được hào quan đến xung động thì trước có sấm sau <o:p></o:p>
mưa. Nếu hào tài bị hào động đến hợp nếu được hào huynh đệ đến khắc hào động thì <o:p></o:p>
không có gió mà chẳng có mưa.<o:p></o:p>
Khảm tốn phó văn thứ Nhật tuyết hoa phi lục xuất. Hai quẻ Khảm tốn đó là chỉ <o:p></o:p>
nói về hào phụ hào huynh. Nếu như hai hào này động về mùa Đông khi ta chiêm thì <o:p></o:p>
có cơn gió và tuyết bay.<o:p></o:p>
Âm dương đó là nói về hai Thần quan, phụ : Như cầu mưa mà thấy quan phụ đều <o:p></o:p>
vượng động không bị xung hợp thương tổn thì đương nhiên ngày đó có mưa.<o:p></o:p>
Huynh Mộc hưng hệ tốn phong nhi bằng di hà kỳ tứ nể : Nếu gặp hào huynh đệ nằm <o:p></o:p>
ở Mộc tại cung tốn, vượng động hình khắc thế hào thì đương nhiên có tai nạn gió <o:p></o:p>
bão hoặc như phụ hào cũng vượng động thì chủ mưa giao nhau.<o:p></o:p>
Thế tài hào phát động Thuộc càn dương nhi Hạn, bạt hổ nhỉ hành hung. Thế hào <o:p></o:p>
tác phát động hoặc biến cung càn rồi lại gặp Nguyệt kiến, Nhật thần động hào <o:p></o:p>
sinh phò hợp trợ thì tất nhiên chủ có đại Hạn.<o:p></o:p>
Lục phong ngự thiên kỳ viên xà hưng chấn quái : Chấn là tượng rồng nếu gặp <o:p></o:p>
thanh long hoặc hào Thìn ở cung đó mà được vượng động thì tất nhiên có rồng xuất <o:p></o:p>
hiện, nếu theo hào phụ hóa Thìn thì mưa trước rồng hiện sau hoặc ngược lại, <o:p></o:p>
trường hợp phụ hào yên tĩnh hoặc lâm không, phục, tuy rồng hiện mà không có mưa <o:p></o:p>
và nếu hóa tài cũng vậy.<o:p></o:p>
Ngũ lôi khu điền cai lộc không tiến. Thì đó là chớp, như hào quỷ ở nhi động <o:p></o:p>
thì đương nhiên ta đoán có ngũ lôi khu điền (sấm chớp liên tục) mà ở cung ly thì <o:p></o:p>
có cái tượng có móng sắc (cầu vồng) hoặc ở hào Hỏa có hào quan quỷ ta cũng đoán <o:p></o:p>
vậy.<o:p></o:p>
Thổ tình y phụ vân hành vũ thí chi thiên Mộc đức phò Thân Nhật ổn phong hào <o:p></o:p>
chi cảnh : Thổ chủ về mây, phụ chủ về mưa cho nên Thổ lâm phụ động thì có tượng <o:p></o:p>
mây mưa rơi. Mộc chủ về nắng cho nên hào Mộc lâm tài động thì có cảnh chủ gió <o:p></o:p>
mát.<o:p></o:p>
Bàn tình bàn vũ quái trung tài phụ đồng hương : thế tài phụ mẫu đều động tất <o:p></o:p>
nhiên ngoài đó chủ nửa nắng nửa mưa thì nên lấy phụ hào không hay bất không, <o:p></o:p>
nóng nên thì nên xem kỹ hào phục hay không phục từ đó mà biết được Dụng thần lại <o:p></o:p>
cả kèm luôn coi cả Nguyên thần, vì vậy nên đựơc nói rằng phụ không tài phục thì <o:p></o:p>
phải nghiên cứu kỹ hào Nguyên thần, ta luận về trước sau thì động làm trước biến <o:p></o:p>
sau, cùng động thì lấy vượng làm trước suy làm sau.<o:p></o:p>
Mẫu hóa tử tôn vũ hậu trường hồng đái đống, đệ liên phước đức vân trong Nhật <o:p></o:p>
Nguyệt xuất hiện thử : Mặt trời, mặt trăng, lẹm, vồng trời đều Thuộc về hào tử <o:p></o:p>
tôn. Nếu gặp hào phụ hóa xuất tất nhiên sau khi mưa thì ta thấy lẹm. Nếu huynh <o:p></o:p>
hóa xuất thì trong mây thấy mặt trời.<o:p></o:p>
Phụ trì Nguyệt kiến tất nhiên âm vũ liên tuần : nếu muốn xem được trời nắng mà <o:p></o:p>
được Nguyệt kiến phò không có tài hào, tử tôn động thì mưa liên miên suốt tuần <o:p></o:p>
lễ.<o:p></o:p>
Huynh tao tương sanh nghị định cuồng phong lụy Nhật : Thần trường sinh là manh <o:p></o:p>
nha của sự khởi đầu của mọi sự việc như hào phụ gặp thì mưa suốt ngày. Nếu hào <o:p></o:p>
huynh gặp thì gió suốt ngày. Nếu hào quan gặp thì mây mù không tan. Tài hào gặp <o:p></o:p>
thì đừng mong mưa nên chờ đến ngày mộ tuyệt thì mới mưa, lúc đó mưa rơi ngừng <o:p></o:p>
gió thì hết, mây mù tan trời sáng sũa trở lại.<o:p></o:p>
Phụ tài vô tư hàn liễu Thủ trường : Quan quỷ phụ mẫu vô khí mà tài hào động <o:p></o:p>
vượng thì chủ là Hạn hán. Tử tôn thê tài vô khí mà phụ mẫu vượng động thì trời <o:p></o:p>
làm lụt khi gặp nó ta rất sợ cho nên hật Nguyệt đến sanh phò thì lụt lớn, Hạn <o:p></o:p>
hán thì cây khô. Như phụ tài hai hào tuy động nhưng được khắc chế mà không có sự <o:p></o:p>
phụ trợ thì có lúc lụt lúc Hạn không chừng.<o:p></o:p>
Phước đức đãi hình Nhật Nguyệt tất thực : Tử tôn mà bị hình hóa quan quỷ hợc <o:p></o:p>
hào quan quỷ động đến khăc Hại, hoặc hào phụ cớ đằng xà đến khắc Hại đểu chủ <o:p></o:p>
Nhật Nguyệt thực. Nếu hào dương tức mặt trời bị thực, hào âm thì mặt trăng bị <o:p></o:p>
thực.<o:p></o:p>
Vũ khiêm thê vi chi phùng Xuân : Nếu coi về trời mưa mà hào tài âm động, tức <o:p></o:p>
phụ mẫu chịu sự âm thương thì mưa chưa hy vọng thấy được.<o:p></o:p>
Tình lợi phụ hào chi nhập mộ : Hào phụ mà nhập mộ lại không có Nhật thần động <o:p></o:p>
hào xung khai mộ khố thì mưa ngừng.<o:p></o:p>
Tử phục tài phi thiềm Hạ bao phu do ngường uất : Tài hào chủ về nắng không chủ <o:p></o:p>
về mặt trời được, hào tử tôn xuất hiện động vượng tướng khi đó mới thấy mặt <o:p></o:p>
trời. Nếu như không có tử tôn thì tài hào không có gốc tức quan quỷ sẽ chuyên <o:p></o:p>
quyền cho nên không phải là triệu chứng nắng.<o:p></o:p>
Phụ suy quan vượng môn tiền hành khách thương xu thư : Lấy mưa lấy phụ làm chủ <o:p></o:p>
mà được hào quan vượng tướng thì có mưa như phụ hào lâm không thì trời không mưa <o:p></o:p>
nhưng có mây kín (chủ trương thành ra phải đợi hào phụ xuất không và gặp xung <o:p></o:p>
thì mới mưa được). Như phụ suy tài vượng thì nắng nhiều mưa ít, phụ vượng tài <o:p></o:p>
suy thì mưa nhiều nắng ít.<o:p></o:p>
Đa vu đa yến hào, thượng tài quan giai động : Hào tài mà động chủ nắng, hào <o:p></o:p>
quỷ động chủ âm u, quan vượng tài suy thì ngày đó mù nhiều có mưa nhỏ, quỷ suy <o:p></o:p>
tài vượng có mây mù trong chốc lát lại nắng.<o:p></o:p>
Thân trực đồng nhân, tùy tình nhi Nhật lung hãm nhiệt. Thế trì phước đức tống <o:p></o:p>
vũ nhi lôi cổ tàn thanh : Phàm huynh trì thế động thì đó là khắc tài. Nếu như <o:p></o:p>
tài hào vượng tướng thì bầu trời chẳng được sáng sũa. Tử tôn trì thế động thì sẽ <o:p></o:p>
khắc quan, nếu quan động thì có mưa mà không có tiếng sấm.<o:p></o:p>
Phụ không tài phục ta cứu phụ hào khắc Nhật Thủ kỳ đương minh chiêm pháp : Như <o:p></o:p>
chiêm về mưa thì phụ hào là Dụng thần, quan quỷ là Nguyên thần. Như chiêm về <o:p></o:p>
trời nắng thì ta lấy thê tài hào làm Dụng thần và tử tôn làm Nguyên thần. Như <o:p></o:p>
Dụng thần bị không phục, suy vượng động, tĩnh, mộ tuyệt hợp xung Nguyệt phá thì <o:p></o:p>
ta lấy phép đoán như về bệnh và Thuốc. <o:p></o:p>
Thê tài phát động bát phương hàm ngưỡng tình quan phụ mẫu hưng long tư hải tân <o:p></o:p>
triêm vũ trạch. Giải nghĩa : Lấy hào phụ mẫu làm mưa, tài động tức khắc chế được <o:p></o:p>
Thần vũ cho nên chủ là nắng.<o:p></o:p>
Ứng nãi thái hư phùng không tắc vũ tĩnh nang ngoại. Giải nghĩa : Chiêm thiên <o:p></o:p>
thời ứng lâm không thì mưa nắng tráo trở, nên cần phải dựa vào tác vụ Nhật thần <o:p></o:p>
để đoán.<o:p></o:p>
Thế rãi đại khôi thọ khắc chế tắc thiên biến phi thường. Giải nghĩa : Ứng là <o:p></o:p>
trời là thể của vạn vật, thế là đất là chủ của vạn vật. Nếu thế bị động hào khắc <o:p></o:p>
chế tức là có chuyện thay đổi phi thường.<o:p></o:p>
Nhật Thân chủ nhất Nhật chi âm tính. Giải nghĩa : Như hào phụ mẫu bị động hào, <o:p></o:p>
Nhật thần khắc chế thì trời không mưa, nếu hào phụ mẫu động được Nhật thần sinh <o:p></o:p>
phò thì trời mưa to, tài hào động được Nhật thần sinh phò thì chủ nắng gắt vì <o:p></o:p>
vậy cho nên Nhật thần là chủ.<o:p></o:p>
Tử tôn quán chủ thiên chi Nhật Nguyệt. Giải nghĩa : Tương dương thì tử tôn là <o:p></o:p>
mặt trời, tương âm tử tôn là mặt trăng. Nếu tương vượng thì trăng thanh, tương <o:p></o:p>
suy thì trăng mờ. Bị khống phục thì mờ ảo, mây mù, mộ tuyệt thì an nuôi không <o:p></o:p>
thấy vì vậy cho nên mộ cần gặp xung, tuyệt thì cần gặp sinh phò.<o:p></o:p>
Nhược luôn phong vân, toàn bằng huynh đệ. Giải nghĩa : Lấy hào huynh đệ để xem <o:p></o:p>
về mây gió, vượng động hoặc suy hình để lấy đó mà luận mây gió to nhỏ hoặc mù ảm <o:p></o:p>
đạm. Nếu hỏi về gió Thuận nghịch thì không cần phải lấy hào huynh đệ mà ta lấy <o:p></o:p>
hào tử tôn làm gió Thuận, hào quan quỷ làm gió nghịch.<o:p></o:p>
Yếu trí lôi điền đảm khán quan hào. Giải nghĩa : Hào quan quỷ tại quẻ chấn <o:p></o:p>
động thì sấm vượng tướng, thì có sét, mà hóa tiến Thần cũng như vậy. Hoặc quẻ mà <o:p></o:p>
không có hào phụ mẫu thì sấm mà không mưa. Nếu hào phụ mẫu trực Nhật thì mưa mới <o:p></o:p>
có .<o:p></o:p>
Canh tùy tứ quý thôi tường ở đoạn. Giải nghĩa : Ở đoạn này giống đoạn văn trên <o:p></o:p>
mà nói mùa Đông thì không thể đoán có sấm được.<o:p></o:p>
Tu thôi Ngũ hành tham quyết. Giải nghĩa : Ngũ hành có thời vượng của nó. Mùa <o:p></o:p>
Xuân Đông thì băng tuyết mây mù. Mùa hè Thu thì nhiều sấm chớp buổi sáng tối.<o:p></o:p>
Thanh hoặc phòng quang vi yên vi lê. Giải nghĩa : Quẻ có triều nắng mà gặp <o:p></o:p>
quan quỷ động thì nhiều khói nặng nề, và có ác phong ám muội. Mùa Đông lạnh rét, <o:p></o:p>
mùa hè nắng gắt.<o:p></o:p>
Vũ nhi ngộ phước vi điện vi hồng (cầu vồng). Giải nghĩa : Quẻ có triều mà tử <o:p></o:p>
tôn động thì có chớp điện cầu vồng cho nên tử tôn chủ về cầu vồng ngũ sắc và <o:p></o:p>
chớp. Nếu thấy có tượng đó thì ta cũng lấy đây mà suy ra.<o:p></o:p>
Ứng trực tử tôn bịch lạc vô hà tỷ chi bàn điền. Giải nghĩa : Phàm hào tử tôn <o:p></o:p>
động thì ngày đó có nắng to đẹp, hoặc hào tài lâm ứng động hóa cũng vậy.<o:p></o:p>
Thế lâm Thổ quỷ hoàn sa đa tán ngang ư thiên khôi. Giải nghĩa : Hào phụ mẫu <o:p></o:p>
hoặc hào phụ mẫu không, phục mà hào thế lâm Thổ quỷ động thì đó là trời rơi cát <o:p></o:p>
xuống. Đôi khi hào phụ xuất phục xuất không thì đó mới lộ ra có mưa.<o:p></o:p>
Tam hợp thành tài vân vũ na kham nhập quái. Giải nghĩa : Quẻ có tam hợp tài <o:p></o:p>
cục thì có mây ngũ sắc không mưa.<o:p></o:p>
Ngũ hương liên phụ tinh quái sát lâm không. Giải nghĩa : Ngũ hương tức là Ngũ <o:p></o:p>
hành duy chỉ lấy hào phụ làm mưa, hào tài làm kỵ sát, nếu như cầu nắng to thì <o:p></o:p>
tài hào lâm Tuần không.<o:p></o:p>
Tài hào quỷ âm tình vị dinh. Giải nghĩa : Tài chủ về trời trong sáng, quỷ chủ <o:p></o:p>
về trời âm u. Nếu như gặp tài hóa quỷ, quỷ hóa tài đều động thì chủ về trời âm u <o:p></o:p>
mà nắng.<o:p></o:p>
Phụ hào hóa huynh phong vũ phi thường :<o:p></o:p>
- Hào phụ là chủ mưa, hào huynh chủ gió, hai hào biến qua biến lại hoặc cùng <o:p></o:p>
động, đều chủ về trời mưa và gió (huynh biến phụ hay phụ biến huynh).<o:p></o:p>
- Như hào động hợp với phụ hào được hào quan đến xung động thì trước có sấm sau <o:p></o:p>
mưa. Nếu hào tài bị hào động đến hợp nếu được hào huynh đệ đến khắc hào động thì <o:p></o:p>
không có gió mà chẳng có mưa.<o:p></o:p>
Khảm tốn phó văn thứ Nhật tuyết hoa phi lục xuất. Hai quẻ Khảm tốn đó là chỉ <o:p></o:p>
nói về hào phụ hào huynh. Nếu như hai hào này động về mùa Đông khi ta chiêm thì <o:p></o:p>
có cơn gió và tuyết bay.<o:p></o:p>
Âm dương đó là nói về hai Thần quan, phụ : Như cầu mưa mà thấy quan phụ đều <o:p></o:p>
vượng động không bị xung hợp thương tổn thì đương nhiên ngày đó có mưa.<o:p></o:p>
Huynh Mộc hưng hệ tốn phong nhi bằng di hà kỳ tứ nể : Nếu gặp hào huynh đệ nằm <o:p></o:p>
ở Mộc tại cung tốn, vượng động hình khắc thế hào thì đương nhiên có tai nạn gió <o:p></o:p>
bão hoặc như phụ hào cũng vượng động thì chủ mưa giao nhau.<o:p></o:p>
Thế tài hào phát động Thuộc càn dương nhi Hạn, bạt hổ nhỉ hành hung. Thế hào <o:p></o:p>
tác phát động hoặc biến cung càn rồi lại gặp Nguyệt kiến, Nhật thần động hào <o:p></o:p>
sinh phò hợp trợ thì tất nhiên chủ có đại Hạn.<o:p></o:p>
Lục phong ngự thiên kỳ viên xà hưng chấn quái : Chấn là tượng rồng nếu gặp <o:p></o:p>
thanh long hoặc hào Thìn ở cung đó mà được vượng động thì tất nhiên có rồng xuất <o:p></o:p>
hiện, nếu theo hào phụ hóa Thìn thì mưa trước rồng hiện sau hoặc ngược lại, <o:p></o:p>
trường hợp phụ hào yên tĩnh hoặc lâm không, phục, tuy rồng hiện mà không có mưa <o:p></o:p>
và nếu hóa tài cũng vậy.<o:p></o:p>
Ngũ lôi khu điền cai lộc không tiến. Thì đó là chớp, như hào quỷ ở nhi động <o:p></o:p>
thì đương nhiên ta đoán có ngũ lôi khu điền (sấm chớp liên tục) mà ở cung ly thì <o:p></o:p>
có cái tượng có móng sắc (cầu vồng) hoặc ở hào Hỏa có hào quan quỷ ta cũng đoán <o:p></o:p>
vậy.<o:p></o:p>
Thổ tình y phụ vân hành vũ thí chi thiên Mộc đức phò Thân Nhật ổn phong hào <o:p></o:p>
chi cảnh : Thổ chủ về mây, phụ chủ về mưa cho nên Thổ lâm phụ động thì có tượng <o:p></o:p>
mây mưa rơi. Mộc chủ về nắng cho nên hào Mộc lâm tài động thì có cảnh chủ gió <o:p></o:p>
mát.<o:p></o:p>
Bàn tình bàn vũ quái trung tài phụ đồng hương : thế tài phụ mẫu đều động tất <o:p></o:p>
nhiên ngoài đó chủ nửa nắng nửa mưa thì nên lấy phụ hào không hay bất không, <o:p></o:p>
nóng nên thì nên xem kỹ hào phục hay không phục từ đó mà biết được Dụng thần lại <o:p></o:p>
cả kèm luôn coi cả Nguyên thần, vì vậy nên đựơc nói rằng phụ không tài phục thì <o:p></o:p>
phải nghiên cứu kỹ hào Nguyên thần, ta luận về trước sau thì động làm trước biến <o:p></o:p>
sau, cùng động thì lấy vượng làm trước suy làm sau.<o:p></o:p>
Mẫu hóa tử tôn vũ hậu trường hồng đái đống, đệ liên phước đức vân trong Nhật <o:p></o:p>
Nguyệt xuất hiện thử : Mặt trời, mặt trăng, lẹm, vồng trời đều Thuộc về hào tử <o:p></o:p>
tôn. Nếu gặp hào phụ hóa xuất tất nhiên sau khi mưa thì ta thấy lẹm. Nếu huynh <o:p></o:p>
hóa xuất thì trong mây thấy mặt trời.<o:p></o:p>
Phụ trì Nguyệt kiến tất nhiên âm vũ liên tuần : nếu muốn xem được trời nắng mà <o:p></o:p>
được Nguyệt kiến phò không có tài hào, tử tôn động thì mưa liên miên suốt tuần <o:p></o:p>
lễ.<o:p></o:p>
Huynh tao tương sanh nghị định cuồng phong lụy Nhật : Thần trường sinh là manh <o:p></o:p>
nha của sự khởi đầu của mọi sự việc như hào phụ gặp thì mưa suốt ngày. Nếu hào <o:p></o:p>
huynh gặp thì gió suốt ngày. Nếu hào quan gặp thì mây mù không tan. Tài hào gặp <o:p></o:p>
thì đừng mong mưa nên chờ đến ngày mộ tuyệt thì mới mưa, lúc đó mưa rơi ngừng <o:p></o:p>
gió thì hết, mây mù tan trời sáng sũa trở lại.<o:p></o:p>
Phụ tài vô tư hàn liễu Thủ trường : Quan quỷ phụ mẫu vô khí mà tài hào động <o:p></o:p>
vượng thì chủ là Hạn hán. Tử tôn thê tài vô khí mà phụ mẫu vượng động thì trời <o:p></o:p>
làm lụt khi gặp nó ta rất sợ cho nên hật Nguyệt đến sanh phò thì lụt lớn, Hạn <o:p></o:p>
hán thì cây khô. Như phụ tài hai hào tuy động nhưng được khắc chế mà không có sự <o:p></o:p>
phụ trợ thì có lúc lụt lúc Hạn không chừng.<o:p></o:p>
Phước đức đãi hình Nhật Nguyệt tất thực : Tử tôn mà bị hình hóa quan quỷ hợc <o:p></o:p>
hào quan quỷ động đến khăc Hại, hoặc hào phụ cớ đằng xà đến khắc Hại đểu chủ <o:p></o:p>
Nhật Nguyệt thực. Nếu hào dương tức mặt trời bị thực, hào âm thì mặt trăng bị <o:p></o:p>
thực.<o:p></o:p>
Vũ khiêm thê vi chi phùng Xuân : Nếu coi về trời mưa mà hào tài âm động, tức <o:p></o:p>
phụ mẫu chịu sự âm thương thì mưa chưa hy vọng thấy được.<o:p></o:p>
Tình lợi phụ hào chi nhập mộ : Hào phụ mà nhập mộ lại không có Nhật thần động <o:p></o:p>
hào xung khai mộ khố thì mưa ngừng.<o:p></o:p>
Tử phục tài phi thiềm Hạ bao phu do ngường uất : Tài hào chủ về nắng không chủ <o:p></o:p>
về mặt trời được, hào tử tôn xuất hiện động vượng tướng khi đó mới thấy mặt <o:p></o:p>
trời. Nếu như không có tử tôn thì tài hào không có gốc tức quan quỷ sẽ chuyên <o:p></o:p>
quyền cho nên không phải là triệu chứng nắng.<o:p></o:p>
Phụ suy quan vượng môn tiền hành khách thương xu thư : Lấy mưa lấy phụ làm chủ <o:p></o:p>
mà được hào quan vượng tướng thì có mưa như phụ hào lâm không thì trời không mưa <o:p></o:p>
nhưng có mây kín (chủ trương thành ra phải đợi hào phụ xuất không và gặp xung <o:p></o:p>
thì mới mưa được). Như phụ suy tài vượng thì nắng nhiều mưa ít, phụ vượng tài <o:p></o:p>
suy thì mưa nhiều nắng ít.<o:p></o:p>
Đa vu đa yến hào, thượng tài quan giai động : Hào tài mà động chủ nắng, hào <o:p></o:p>
quỷ động chủ âm u, quan vượng tài suy thì ngày đó mù nhiều có mưa nhỏ, quỷ suy <o:p></o:p>
tài vượng có mây mù trong chốc lát lại nắng.<o:p></o:p>
Thân trực đồng nhân, tùy tình nhi Nhật lung hãm nhiệt. Thế trì phước đức tống <o:p></o:p>
vũ nhi lôi cổ tàn thanh : Phàm huynh trì thế động thì đó là khắc tài. Nếu như <o:p></o:p>
tài hào vượng tướng thì bầu trời chẳng được sáng sũa. Tử tôn trì thế động thì sẽ <o:p></o:p>
khắc quan, nếu quan động thì có mưa mà không có tiếng sấm.<o:p></o:p>
Phụ không tài phục ta cứu phụ hào khắc Nhật Thủ kỳ đương minh chiêm pháp : Như <o:p></o:p>
chiêm về mưa thì phụ hào là Dụng thần, quan quỷ là Nguyên thần. Như chiêm về <o:p></o:p>
trời nắng thì ta lấy thê tài hào làm Dụng thần và tử tôn làm Nguyên thần. Như <o:p></o:p>
Dụng thần bị không phục, suy vượng động, tĩnh, mộ tuyệt hợp xung Nguyệt phá thì <o:p></o:p>
ta lấy phép đoán như về bệnh và Thuốc. <o:p></o:p>